Quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục .... Quy định của pháp luật Việt
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THỊ HƯƠNG GIANG
KIểM SáT Và THựC HàNH QUYềN CÔNG Tố TRONG GIAI ĐOạN ĐIềU TRA CáC Vụ áN XÂM PHạM TìNH DụC
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Nam Định)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THỊ HƯƠNG GIANG
KIểM SáT Và THựC HàNH QUYềN CÔNG Tố TRONG GIAI ĐOạN ĐIềU TRA CáC Vụ áN XÂM PHạM TìNH DụC
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Nam Định)
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
ĐỖ THỊ HƯƠNG GIANG
Trang 4QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM TÌNH DỤC 6
điều tra và các tội phạm xâm phạm tình dục 6
1.1.1 Khái niệm kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra 6 1.1.2 Khái niệm và những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội phạm tình
dục trong Bộ luật hình sự Việt Nam 14
và thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục 18
1.2.1 Khái niệm, vai trò, ý nghĩa hoạt động kiểm sát và thực hành quyền
công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục 18 1.2.2 Đặc điểm của thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp
trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục 21 1.2.3 Nội dung thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp
trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục 23
Kết luận Chương 1 27 Chương 2: PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH 28
Trang 52.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động thực hành quyền
công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các
vụ án xâm phạm tình dục 28
2.1.1 Quy định của pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến trước năm 2003 về
hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục 28 2.1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động kiểm sát và thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm tình dục theo
Bộ Luật tố tụng hình sự 2003 32 2.1.3 Quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động kiểm sát và thực hành
quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm tình dục theo
Bộ Luật tố tụng hình sự 2015 48
quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Nam Định 49
2.2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội, cơ cấu tổ chức, đội ngũ cán bộ của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định và tình hình tội phạm về xâm phạm tình dục ở tỉnh Nam Định 49 2.2.2 Tình hình hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền
công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Nam Định 59 2.2.3 Nhận xét, đánh giá 67
Kết luận Chương 2 79 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG
TÁC KIỂM SÁT VÀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH 80
hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Nam Định 80
3.1.1 Dự báo về tội phạm tình dục trong thời gian tới 80
Trang 63.1.2 Yêu cầu đặt ra đối với công tác điều tra, thực hành quyền công tố và
kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm
phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Nam Định 81
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Nam Định 83
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm xâm phạm tình dục 83
3.2.2 Giải pháp tiếp tục hoàn thiện và triển khai pháp luật tố tụng về thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra 84
3.2.3 Nâng cao hiệu quả công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục 89
Kết luận Chương 3 98
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: số vụ án hình sự đã xảy ra từ năm 2011- 2015 trên địa
Bảng 2.2: Số vụ án và bị can phạm tội xâm phạm tình dục trên
Bảng 2.3: Số vụ và người phạm tội bị khởi tố theo từng tội xâm
phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Nam Định từ năm
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Viện kiểm sát nhân dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập trên cơ sở Hiến pháp năm 1959 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 Vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện thông qua các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói chung, nguyên tắc
tổ chức, hoạt động của VKSND nói riêng, đóng một vai trò rất quan trọng trong việc duy trì trật tự pháp luật, bảo vệ chế độ Xác định được tầm quan trọng nên từ khi thành lập Ngành đến nay, việc tăng cường trách nhiệm, nâng cao chất lượng công tố của VKSND trong quá trình điều tra là chủ trương nhất quán, xuyên suốt cuả Đảng và Nhà nước ta trong suốt hơn 50 năm qua
Các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp trong những năm gần đây có những chủ trương hết sức quan trọng về trách nhiệm công tố của VKS trong giai đoạn điều tra Nghị quyết số 08 - NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về
“Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đã nhấn mạnh:
VKS các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi phát hiện
có dấu hiệu tội phạm xảy ra và diễn ra trong suốt quá trình tố tụng nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời các trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ [6]
Nghị quyết 49 - NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về “Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020” đặt ra nội dung “Tăng cường trách nhiệm công tố
trong hoạt động điều tra” [7]; Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X của
Đảng xác định: “Cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ lấy cải cách hoạt động xét
xử làm trọng tâm; thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra” [8] Tại Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Bảo đảm tốt hơn các
điều kiện để VKSND thực hiện hiệu quả các chức năng thực hành quyền công tố và
Trang 10Những năm vừa qua, trên địa bàn Nam Định tình hình tội phạm nói chung, tội xâm phạm tình dục nói riêng có diễn biến phức tạp, theo chiều hướng gia tăng về
số lượng và tính chất nghiêm trọng gây ra những hậu quả lớn không những đối với nạn nhân mà còn cho xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động tố tụng giải quyết vụ án đã chỉ ra: Vai trò, quyền hạn, trách nhiệm của VKS trong hoạt động THQCT và KSĐT còn nhiều hạn chế … dẫn đến hiện tượng bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, chưa phát hiện, uốn nắn kịp thời các vi phạm trong hoạt động điều tra đối với loại tội phạm này Vì vậy, tăng cường hiệu quả kiểm sát và THQCT trong giai đoạn điều tra của VKSND về loại tội phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Nam Định có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay
Chính vì lý do trên học viên chọn đề tài: “Kiểm sát và thực hành quyền công
tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục (trên cơ sở thực tiễn địa bàn
tỉnh Nam Định)” làm luận văn thạc sỹ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Ở nước ta hiện nay, liên quan đến hoạt động THQCT và KSĐT, tác giả cũng
đã tiếp cận, tham khảo được một số công trình nghiên cứu sau:
- “Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn
điều tra” của Lê Hữu Thể (chủ biên), Nhà xuất bản tư pháp, 2005;
Trang 113
- Luận án tiến sĩ Luật học “Quyền công tố ở Việt Nam” của Lê Thị tuyết
Hoa; Hà Nội, năm 2002;
- Luận văn thạc sỹ luật học của các tác giả như: Nguyễn Hải Phong (1999)
“Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự Việt Nam”; Nguyễn Hiệp
Phố (1999), “Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra hình sự”
Về vấn đề các tội phạm về xâm phạm tình dục có thể kể đến các công trình nghiên cứu như sau: Luận văn thạc sỹ luật học (2014) của Nguyễn Minh Hương:
“Các tội xâm hại tình dục trẻ em trong luật hình sự Việt Nam”
Như vậy, qua đánh giá khái quát chủ yếu các công trình nghiên cứu và bài viết mang tính khái quát, toàn diện về chức năng THQCT và KSĐT của ngành kiểm sát nhân dân mà chưa có nhiều chuyên khảo nghiên cứu về THQCT và KSĐT các
loại tội cụ thể Điều này càng khẳng định thêm ý nghĩa khi chọn đề tài của tác giả
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu và góp phần làm sáng tỏ hơn một số vấn đề lý luận về hoạt động kiểm sát và thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra của VKSND, thực tiễn áp dụng đối với các vụ án xâm phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Nam Định nói riêng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt
động THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm tình dục
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Nghiên cứu những quy định cụ thể về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong hoạt động THQCT và KSHĐTP trong giai đoạn điều tra, đặc biệt là các vụ án về xâm phạm tình dục
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn hoạt động THQCT và KSHĐTP trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Nam Định, đồng thời phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất những quan điểm, phương hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong hoạt động THQCT và KSHĐTP trong
Trang 124
giai đoạn điều tra, đặc biệt là trong việc THQCT và KSHĐTP trong giai đoạn điều
tra các vụ án xâm phạm tình dục
3.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Trong khuôn khổ chuyên ngành luật hình sự và tố tụng hình sự, luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động kiểm sát và THQCT trong giai đoạn điều tra đối với các
vụ án xâm phạm tình dục
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài xác định phạm vi nghiên cứu là hoạt động kiểm sát và THQCT các
vụ án xâm phạm tình dục trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2015 trên địa bàn
tỉnh Nam Định
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
Cơ sở lý luận của luận văn là học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm và tư tưởng chỉ đạo của Đảng cộng sản Việt Nam về đổi mới toàn diện đất nước về cải cách tư pháp nói chung và tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nói riêng
- Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống
kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề
tương ứng được nghiên cứu trong luận văn
5 Những điểm mới đóng góp của luận văn
Luận văn đã khảo cứu chuyên sâu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động kiểm sát và THQCT trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục
Luận văn đánh giá kết quả, phân tích những hạn chế trong hoạt động của VKSND khi kiểm sát và THQCT trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục, thông qua đó đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của VKSND trong hoạt
động THQCT và KSĐT các vụ án xâm phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Nam Định
Trang 135
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Kết quả của luận văn góp phần làm sáng tỏ, phong phú thêm lý luận về hoạt động của VKSND khi THQCT và KSHĐTP trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục, góp phần xây dựng, hoàn thiện các tri thức của khoa học luật hình
sự, luật tố tụng hình sự và khoa học điều tra hình sự
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các
cơ quan điều điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kiểm sát và thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục
Chương 2: Pháp luật và thực tiễn hoạt động thực hành công tố và kiểm sát
hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Nam Định
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát và thực
hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục trên địa bàn tỉnh Nam Định
Trang 141.1 Khái quát về kiểm sát và thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra và các tội phạm xâm phạm tình dục
1.1.1 Khái niệm kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
1.1.1.1 Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
a Khái niệm quyền công tố
Để hiểu rõ về thực hành quyền công tố, trước hết cần tìm hiểu: Quyền công
tố là một hoạt động tố tụng vì lợi ích công cộng đối với người phạm tội đã được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của xã hội loài người Quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất của Nhà nước, là một bộ phận cấu thành và không thể tách rời khỏi công quyền Quyền công tố có trong tất cả các kiểu Nhà nước, nó ra đời, tồn tại và mất đi cùng với Nhà nước và pháp luật Khi mới có Nhà nước, quyền công tố chỉ giới hạn trong phạm vi rất hẹp để bảo vệ các lợi ích của giai cấp thống trị Cùng với sự phát triển của xã hội, nhận thức về lợi ích công và lợi ích tư, về trách nhiệm của Nhà nước đối với xã hội và cá nhân ngày càng có những thay đổi Lợi ích cá nhân liên quan đến lợi ích công, tác động qua lại với nhau, chính vì vậy, cần có sự can thiệp của Nhà nước vào đời sống cá nhân Từ đó vai trò của công tố càng được đề cao trong xã hội
Ở nước ta, về mặt lập pháp, thuật ngữ “Thực hành quyền công tố” được ghi nhận lần đầu tiên trong Hiến pháp 1980 khi đề cập đến chức năng, nhiệm vụ của VKSND Từ đó đến nay, trong khoa học và trong thực tiễn có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về khái niệm cũng như các vấn đề có liên quan: Đối tượng, phạm
vi, nội dung, chủ thể thực hành của quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố nhưng chưa có quan điểm nào được các cơ quan có thẩm quyền chính thức
Trang 157
công nhận và cũng chưa có một văn bản nào của cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn một cách chính thức các vấn đề này
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì “Công tố” có nghĩa là “điều tra, truy tố, buộc
tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Toà án” [51, tr 453]
Theo từ điển luật học định nghĩa về “quyền công tố” như sau: “Quyền công
tố là quyền buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội” [41, tr 188]
Trong giới nghiên cứu khoa học, có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều quan
điểm khác nhau như:
Quan điểm thứ nhất: Đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động kiểm
sát việc tuân theo pháp luật của VKSND (trước khi Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001) Quan điểm này xuất phát từ chức năng của VKSND để xem xét quyền công tố, theo đó tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là THQCT Điều này có nghĩa ngay cả khi VKS kiến nghị yêu cầu cơ quan nhà nước sửa chữa những vi phạm trên lĩnh vực hành chính, kinh tế xã hội cũng là THQCT Quan điểm này cho rằng: Công tố không phải là chức năng độc lập của VKS mà chỉ là hình thức để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật [35, tr 85-87] Theo tôi khái niệm quyền công tố theo quan điểm trên là chưa chính xác vì đã đánh đồng quyền công tố với quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật đồng thời cũng không phù hợp với các quy định của Hiến pháp và các luật Theo quy định của pháp luật nước ta trước khi Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi thì VKS có hai chức năng: Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và chức năng THQCT Hai chức năng này có một số nội dung đan xen, liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau, nhưng về nội dung và phạm vi áp dụng thì giữa chúng vấn có sự độc lập với nhau
Vì vậy không thể đồng nhất hai chức năng THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp
luật của VKS
Quan điểm thứ hai: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS truy
tố kẻ phạm tội ra trước Toà án, thực hiện sự buộc tội tại phiên toà (THQCT) Quan điểm này cho rằng việc thực hiện quyền công tố chỉ diễn ra trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự Quan điểm này thu hẹp khái niệm, nội dung cũng như phạm vi của
Trang 168
quyền công tố (hoạt động khởi tố, điều tra không đề cập đến chức năng này) [46, tr.19] Về lý luận cũng như trên thực tế, hoạt động THQCT của VKS tại Toà án chỉ
là một bộ phận trong nhiều hoạt động thực hiện chức năng THQCT của VKS
Quan điểm thứ ba: Quyền công tố là quyền của VKS thay mặt Nhà nước bảo
vệ lợi ích công, do vậy quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự
mà có trong lĩnh vực tố tụng dân sự, hành chính [35, tr 84-87] Quan điểm này đã
mở rộng khái niệm, nội dung, phạm vi quyền công tố, đồng nhất quyền công tố với quyền năng khác của VKS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, dân sự, hành chính… Những người theo quan điểm này cho rằng quyền công tố xuất hiện từ khi
có Nhà nước và pháp luật được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự, cùng với sự phát triển của xã hội, các ngành luật, quyền công tố được mở rộng sang lĩnh vực tố tụng dân sự và lĩnh vực tư pháp khác nhằm đảm bảo mọi hành
vi vi phạm pháp luật đều bị phát hiện, điều tra, xử lý theo pháp luật, không để lọt tội phạm Quan điểm này có thể coi là quan điểm phổ biến trong ngành kiểm sát, đã được đưa vào giáo trình giảng dạy của trường Đại học kiểm sát Hà Nội và thường xuyên được nhắc đến trong các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ và các báo cáo tổng kết thực tiễn của ngành kiểm sát Theo tôi, quan điểm này quá mở rộng cả khái niệm, nội dung và phạm vi của quyền công tố, đã đồng nhất quyền công tố với các quyền năng khác của VKS trong quá trình kiểm sát các hoạt động tư pháp (giải
quyết các vụ án dân sự, hành chính, kinh tế và lao động…)
Quan điểm thứ tư: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các cơ
quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội [46, tr.10] Đó là hoạt động tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên và những người khác được pháp luật quy định có trách nhiệm xác định kẻ phạm tội, cũng như các căn cứ để kết tội và áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội Theo quan điểm này thì chủ thể thực hành quyền công tố không chỉ có ở VKS mà còn có ở các
cơ quan tiến hành tố tụng khác (cơ quan điều tra, toà án, thi hành án) Quan điểm này
đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên tắc tố tụng hình sự, đã xoá nhòa
ranh giới giữa các chức năng buộc tội và chức năng xét xử trong tố tụng hình sự
Trang 179
Quan điểm thứ năm: Quyền công tố là sự cáo buộc của Nhà nước đối với các
cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật, bao gồm vi phạm Luật hành chính, Luật dân
sự, Luật kinh tế, luật hình sự và quyền công tố là quyền của Nhà nước thực hiện sự cáo buộc đó[ 46, tr.11] Theo quan điểm này, quyền công tố chỉ thuộc về Nhà nước, Nhà nước không thể không thực hiện quyền công tố khi chính Nhà nước là người ban hành pháp luật, có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật và đồng thời là chủ thể tham gia vào nhiều quan hệ pháp luật khác nhau Như vậy, quyền công tố được thực hiện trong tất cả các quá trình giải quyết các vi phạm pháp luật: Tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động, tố tụng hành chính Sự tồn tại quyền công
tố trong các hoạt động tố tụng nêu trên là do nhu cầu khách quan, vì Nhà nước không thể không thực hiện quyền lực của mình trong việc giải quyết các vi phạm pháp luật và sự hiện diện công tố như một điều kiện bảo đảm tính hiệu quả của việc giải quyết các vi phạm pháp luật của cơ quan tài phán Do đó quyền công tố được thể hiện ở nhiều phương diện như quyền khởi tố vụ án dân sự, hành chính, kinh tế, lao động, hình sự và tham gia tố tụng ở bất cứ giai đoạn nào khi thấy cần thiết… Theo tôi, quan điểm này không phù hợp với thực tế vì trong lĩnh vực dân sự, hành chính, kinh tế, lao động phải tôn trọng nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự Chỉ khi nào cần thiết (theo quy định tố tụng từng lĩnh vực) thì VKS mới tham gia theo thẩm quyền
Những quan điểm nêu trên về quyền công tố, mỗi quan điểm trong số đó đều
có những hạt nhân hợp lý của nó nhưng cũng đều bộc lộ những bất cập: Hoặc là coi quyền công tố chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự dẫn đến việc xem nhẹ bản chất của quyền công tố như là hoạt động độc lập của VKSND; hoặc là đánh đồng quyền công tố với các chức năng kiếm sát việc tuân theo pháp luật của VKS, dẫn đến mở rộng quyền công tố sang các lĩnh vực khác ngoài tố tụng hình sự như dân sự, hành chính, kinh tế, lao động; hoặc là quá thu hẹp phạm vi quyền công tố, coi quyền công
tố là quyền của VKS truy tố kẻ phạm tội ra Toà án và thực hiện việc buộc tội tại phiên toà hình sự sơ thẩm
Trang 1810
Như vậy, có thể hiểu:
Quyền công tố: là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền công tố được thực hiện bởi một cơ quan nhất định (ở nước ta là Viện kiểm sát), có trách nhiệm đảm bảo việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra trước Toà án bằng bản Cáo trạng và bảo vệ sự buộc tội tại phiên toà Vì vậy, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự, với đối tượng là tội phạm và người phạm tội [12, tr 40]
Quan điểm này đã thể hiện bản chất của quyền công tố, thứ nhất nó phù hợp với truyền thống nghiên cứu lịch sử nhà nước và pháp luật về quyền công tố
“Quyền công tố là quyền của Nhà nước, nhân danh Nhà nước buộc tội đối với người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự Quan điểm này cũng phù hợp với quy định của pháp luật Nhà nước ta qua các thời kỳ khác nhau về quyền công tố như: Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước ta đều khẳng định VKSND thực hành quyền công tố…”
Như vậy, từ những nội dung trình bày trên, tác giả đi đến kết luận: Quyền công tố ở Việt Nam là quyền của Nhà nước giao cho VKS thực hiện các quyền năng theo quy định của pháp luật nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, trên cơ sở bảo đảm việc thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội
Với nhận thức quyền công tố như đã nêu trên, theo tôi đối tượng của quyền công tố chỉ là tội phạm và người phạm tội Bởi vì, trong bất kỳ xã hội nào cũng vậy, tội phạm luôn là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm hoặc đe doạ xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích Nhà nước, đến an ninh chung của
xã hội Khi có tội phạm xảy ra, Nhà nước (thông qua các cơ quan tiến hành tố tụng gánh những hậu quả bất lợi do các chế tài luật hình sự đặt ra Đây là những chế tài nghiêm khắc nhằm trừng trị người phạm tội, giáo dục họ và những người khác ý thức tuân thủ pháp luật
Đối với nội dung quyền công tố, tác giả đồng tình với quan điểm cho rằng: nội dung của quyền công tố chính là sự buộc tội đối với người đã thực hiện tội phạm
Trang 1911
Phạm vi quyền công tố bắt đầu khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi
bản án có hiệu lực pháp luật
b Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra:
THQCT ở giai đoạn điều tra là một bộ phận cấu thành hoạt động THQCT của VKSND Bởi vậy, trước tiên chúng ta làm rõ khái niệm THQCT nói chung Như phân tích trên, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước truy cứu TNHS đối với người có hành vi phạm tội, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình
sự, phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm xảy ra, tiếp diễn từ khởi tố, điều tra, truy tố bị can ra Toà, tranh tụng tại phiên toà và kết thúc bằng một bản án
có hiệu lực pháp luật (hoặc khi có một căn cứ làm triệt tiêu quyền công tố theo quy định của pháp luật) Để thực hiện được quyền công tố đó, Nhà nước ban hành pháp luật quy định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố Cơ quan nào được Nhà nước giao thực hiện các quyền năng pháp lý này để phát hiện tội phạm và truy cứu TNHS đối với người phạm tội được gọi là cơ quan có trách nhiệm THQCT Ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định của Hiến pháp, pháp luật và thực tiễn thì từ trước đến nay quyền này được giao cho duy nhất là hệ thống cơ quan VKS Vậy chủ thể THQCT ở nước ta là VKSND
Từ những nhận thức nêu trên, tôi đồng tình với quan điểm cho rằng: “Thực
hành quyền công tố là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” [46, tr.27]
Trang 20Qua các nội dung đã phân tích ở trên có thể khái niệm: THQCT trong giai đoạn điều tra là việc VKS sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi khởi tố và kết thúc khi VKS quyết định truy tố bị can ra trước Tòa
án để xét xử hoặc khi vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS
1.1.1.2 Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra
a) Hoạt động tư pháp
Cơ quan tư pháp ở nước ta bao gồm: cơ quan điều tra, VKS, Tòa án và cơ quan thi hành án Vậy hoạt động tư pháp phải được tiến hành bởi các cơ quan tư pháp Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là tất cả mọi hoạt động do cơ quan tư pháp tiến hành đều là hoạt động tư pháp mà chỉ là hoạt động tư pháp nếu hoạt động
đó gắn liền với việc giải quyết một vụ án, một tranh chấp cụ thể Như vậy, hoạt động tư pháp phải hội tụ đủ hai yếu tố: Hoạt động đó phải do các cơ quan tư pháp thực hiện trong quá trình tố tụng, được điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng, mục đích của hoạt động là nhằm đảm bảo việc giải quyết một vụ án hình sự, vụ tranh chấp cụ
thể một cách có căn cứ, đúng pháp luật
b) Kiểm sát hoạt động tư pháp
Theo quy định của pháp luật, VKSND thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp bằng các công tác khác nhau gắn liền với các lĩnh vực khác nhau bao gồm kiểm sát các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và tố tụng tư pháp khác trong lĩnh vực giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động Gắn liền với TTHS là các khâu công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của cơ quan điều tra- kiểm sát
Trang 21Đối tượng của hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự
là hành vi xử sự trong hoạt động tố tụng của các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng hình sự
Phạm vi của hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự: Như đã phân tích ở trên Quyền công tố được phát động thì mặc nhiên phát sinh hoạt động của các chủ thể tiến hành tố tụng trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ và áp dụng pháp luật để bổ trợ cho hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Nói một cách khác hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự bắt đầu khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm và chấm dứt khi kết thúc các
hoạt động tố tụng và mục đích của tố tụng hình sự đã đạt được
c) Kiểm sát điều tra
Như đã phân tích ở trên, kiểm sát điều tra là một bộ phận cấu thành của kiểm sát hoạt động tư pháp Phạm vi của kiểm sát điều tra chỉ ở giai đoạn điều tra, nó bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi VKS xử lý vụ án và bị can (Quyết định truy
tố hoặc đình chỉ điều tra vụ án, bị can)
Theo tôi có thể đưa ra khái niệm: Kiểm sát điều tra các vụ án hình sự là hoạt
động của VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể tham gia quan
hệ pháp luật tố tụng hình sự phát sinh trong giai đoạn điều tra, nhằm đảm bảo cho quá trình điều tra vụ án được thực hiện đúng quy định của pháp luật
1.1.1.3 Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra
Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành thì VKSND có chức
Trang 2214
năng THQCT và KSHĐTP Những biện pháp mà VKS trực tiếp quyết định và chịu trách nhiệm thì thuộc nội dung của THQCT, còn các biện pháp mà VKS không trực tiếp quyết định mà chỉ thực hiện việc kiến nghị, kháng nghị và yêu cầu các cơ quan
tư pháp khác khắc phục các vi phạm trong hoạt động tư pháp thì được hiểu là nội dung của hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp [40, tr.14] Mặt khác, hai chức năng này có mối quan hệ mật thiết với nhau, chỉ có một số hoạt động mang tính độc lập tương đối, còn lại phần nhiều chúng đan xen nhau và hỗ trợ qua lại với nhau Tùy từng giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố và các giai đoạn tố tụng, các chức năng này thể hiện ở những mức độ và phạm vi khác nhau với các nội dung khác nhau nhưng dù ở giai đoạn nào thì chúng cũng thể hiện mối quan hệ gắn bó hữu cơ, đan xen nhau, tác động qua lại và bổ sung một cách tích cực cho nhau
Trong giai đoạn điều tra, mối quan hệ giữa THQCT và KSĐT bắt đầu từ thời điểm vụ án hình sự được khởi tố, trong suốt quá trình điều tra cho đến khi cơ quan điều tra bản án kết luận điều tra đề nghị truy tố (hoặc cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra) Mục đích của THQCT trong giai đoạn điều tra là nhằm chứng minh tội phạm
và xác định người phạm tội, còn mục đích của KSĐT là nhằm đảm bảo cho các hoạt động điều tra được đúng đắn, khách quan theo quy định của pháp luật Hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra tạo tiền đề cho KSĐT Mặt khác, làm tốt hoạt động KSĐT là bảo đảm để phát huy hiệu lực, hiệu quả chức năng THQCT
1.1.2 Khái niệm và những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội phạm tình dục trong Bộ luật hình sự Việt Nam
Các tội phạm về tình dục là những hành vi mang tính nguy hiểm rất cao, người phạm tội bằng hành vi của mình xâm hại đến quyền tự do về tình dục và quyền bất khả xâm phạm về tình dục đã được pháp luật bảo vệ hay chính là quyền
tự do về thân thể, danh dự nhân phẩm của một con người cụ thể Người thực hiện hành vi phạm tội đó là nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh lý của mình nhưng nhu cầu ấy trái với ý muốn của người bị hại (người bị xâm hại) Vì thế, hành vi ấy đã vi phạm đến các quyền cơ bản của con người và cách cư xử của một cá nhân trong một môi
Trang 23áp dụng hình phạt và các chế tài hình sự khác mới thực sự có ý nghĩa trừng trị, giáo dục và cải tạo, làm cho họ có ý thức và trách nhiệm hơn đối với sức khỏe của người khác trước khi thực hiện một xử sự cụ thể nào đấy Mặt khác thì các loại tội phạm tình dục này do những người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện Trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam, năng lực trách nhiệm hình sự được hiểu là khả năng của một người nhận thức cũng như điều khiển được hành vi của mình khi tham gia các quan hệ xã hội Còn độ tuổi do luật định đối với người phạm các tội phạm tình dục được xác định tùy thuộc vào từng tội phạm xâm phạm tình dục con người cụ thể Có trường hợp từ 18 tuổi trở lên, có trường hợp 16 tuổi trở lên, có trường hợp đủ 14 tuổi trở lên Tùy theo dấu hiệu pháp
lý đặc trưng của các tội phạm tình dục cụ thể mà BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định các tội phạm tình dục đó là:
- Tội hiếp dâm (Điều 111)
- Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112)
- Tội cưỡng dâm (Điều 113)
- Tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114)
- Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115)
- Tội dâm ô với trẻ em (Điều 116)
- Tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256)
Từ sự phân tích về các đặc điểm chủ yếu của nhóm tội phạm tình dục của
Trang 24Khách thể nữa mà pháp luật bảo vệ đối với các tội này là quyền được tôn trọng về danh dự, nhân phẩm của con người Đó là giá trị của mỗi cá nhân đã được
xã hội nhìn nhận và coi trọng, việc hành vi xâm phạm đến tình dục chính là hành vi coi thường phẩm giá, danh dự của một con người Hành vi ấy có thể gây ra một hậu quả rất xấu đến danh dự, nhân phẩm của người bị hạn, có thể làm cho mọi người xung quanh xa lánh, khinh rẻ, để lại những tin đồn xấu mà biết rằng người đó cũng chỉ là người bị hại, có khi còn không nhận được sự cảm thông của gia đình, bạn bè, chồng, con, những người mà coi là thân thiết với họ.Vì thế, đây được coi là khách thể quan trọng nhất được Luật hình sự bảo vệ
Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi phạm tội khách quan nguy hiểm cho xã hội của các tội phạm tình dục đều thể hiện dưới dạng hành vi hành động Người phạm tội đã trực tiếp bằng hành vi của mình xâm hại đến người bị hại nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh lý của mình
Trang 2517
Có thể là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác để giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ (đối với tội Hiếp dâm – Điều 111, tội Hiếp dâm trẻ em – Điều 112); hành vi dùng mọi thủ đoạn người khác lệ thuộc vào mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách để họ phải miễn cưỡng giao cấu với mình (đối với tội Cưỡng dâm – Điều 113, tội cưỡng dâm trẻ em - Điều 114); hành vi của người đã thành niên giao cấu với trẻ em (từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi) có sự thuận tình của các em (đối với tội Giao cấu với trẻ em - Điều 115); hành vi sờ, mó, hôn hít… bộ phận sinh dục trẻ
em và hành vi bắt trẻ em làm những việc đồi bại đối với mình (đối với tội Dâm ô đối với trẻ em – Điều 116); hành vi mua dâm người chưa thành niên (đối với tội Mua dâm người chưa thành niên - Điều 256) [40,tr.102-124]
Hậu quả của tội phạm: Các tội phạm tình dục là các tội có cấu thành hình thức, tức là chỉ cần người phạm tội thực hiện hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội (giao cấu, dâm ô) là tội phạm được coi là hoàn thành, có nghĩa không cần người phạm tội thỏa mãn về mặt sinh lý Tuy nhiên trong thực tiễn hậu quả của các tội phạm này có thể gây ra là nghiêm trọng như gây đau đớn về mặt thể xác, tinh thần, gây chết người, gây thương tích, dẫn đến nạn nhân có thai, tự sát hoặc khủng hoảng về tinh thần hay bắt gặp ở nạn nhân như sự sợ hãi, mặc cảm, xa lánh mọi người [1, tr.45] Những hậu quả
đó tùy từng tội được coi là tình tiết tăng nặng định khung hoặc tình tiết tặng TNHS quy định tại Khoản 1 Điều 48 BLHS
Mặt chủ quan của tội phạm
Các tội phạm tình dục đều được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức được hành vi nguy hiểm do mình gây ra là xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục của người khác, song vẫn cố ý thực hiện hành
vi phạm tội của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh lý của bản thân mà không cần quan tâm đến thái độ của người bị hại
Động cơ phạm tội của các tội này đều xuất phát từ động cơ cá nhân của bản thân người phạm tội Đó là sự ham muốn, sự mong muốn thỏa mãn nhu cầu sinh lý Động cơ này xuất phát từ trong bản chất con người của mỗi cá nhân và từ đó thúc đẩy cá nhân đến hành vi phạm tội
Trang 2618
Mục đích phạm tội: chính là sự mong muốn thực hiện hành vi giao cấu hoặc
có thể không giao cấu với nạn nhân nhưng nhằm để thỏa mãn nhu cầu sinh lý của bản thân đó chính là mục đích cuối cùng mà mỗi cá nhân phạm tội hướng đến
Chủ thể của tội phạm
Các tội phạm tình dục quy định trong BLHS Việt nam năm 1999 là người có
đủ năng lực TNHS và đạt độ tuổi theo quy định Trong 7 tội quy định về tội phạm tình dục có đến 5 tội trong thực tiễn xét xử đòi hỏi các chủ thể ấy phải là chủ thể đặc biệt nghĩa là nam giới (nữ giới chỉ đóng vai trò đồng phạm giúp sức, xúi giục,
tổ chức) từ Điều 111 đến Điều 115
- Độ tuổi: Từ Điều 111 đến Điều 114 là các tội quy định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cao, có thể là các tội đặc biệt nghiêm trọng cho nên người phạm tội có thể là từ đủ 14 tuổi trở lên Điều 256 (đủ 14 tuổi đối với Khoản 3, đủ 16 tuổi đối với Khoản 1) Còn đối với Điều 115, Điều 116 chủ thể phải là người đã thành niên (đủ 18 tuổi trở lên)
1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa, nội dung hoạt động kiểm sát và thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục
1.2.1 Khái niệm, vai trò, ý nghĩa hoạt động kiểm sát và thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục
Từ các phân tích về THQCT, KSHĐTP trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự nói chung và mối quan hệ giữa hai hoạt động này, theo tác giả có thể rút ra khái niệm, phạm vi và nội dung THQCT và KSHĐTP trong giai đoạn điều tra các
vụ án xâm phạm tình dục như sau:
THQCT và KSHĐTP trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục
là việc VKS sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố
và kiểm sát hoạt động tư pháp để truy cứu TNHS đối với người phạm tội xâm hại tình dục và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng, được thực hiện từ khi khởi tố vụ
án xâm phạm tình dục và kết thúc khi cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự,
Trang 2719
bảo đảm mọi hành vi phạm tội về xâm phạm tình dục đều phải được xử lý kịp thời; xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội
-Vai trò hoạt động THQCT và KSHĐTP trong giai đoạn điều tra các vụ án
xâm phạm tình dục:
Thứ nhất: Bảo đảm mọi hành vi phạm tội về xâm phạm tình dục đều phải
được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố các bị can phạm tội xâm phạm tình dục ra trước Tòa án để xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để
lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội
Thứ hai: Trong thời gian gần đây, các hành vi xâm hại phụ nữ và trẻ em có
chiều hướng gia tăng và có diễn biến phức tạp chủ yếu tập trung vào nhóm tội xâm hại tình dục như: Hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em, cưỡng dâm, dưỡng dâm trẻ em, giao cấu với trẻ em hoặc dâm ô vớ trẻ em làm ảnh hưởng đến tình hình trị an xã hội.Vì vậy, THQCT và KSHĐTP trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục là những hoạt động rất quan trọng góp phần tích cực trong đấu tranh phòng chống và
đẩy lùi các loại tội phạm xâm phạm tình dục này
- Ý nghĩa: Hoạt động THQCT và KSHĐTP trong giai đoạn điều tra các vụ án
xâm phạm tình dục nhằm đảm bảo:
Thứ nhất: Mọi hành vi phạm tội xâm phạm tình dục đều phải được khởi tố,
điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội
Để thực hiện tốt, VKS phải tăng cường chức năng THQCT và KSHĐTP ngay từ khâu kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác và kiến nghị khởi tố, coi đây
là một trọng tâm của hoạt động THQCT và KSĐT án hình sự Vì nó là nguồn căn
cứ để kịp thời phát hiện hành vi phạm tội xảy ra, quyết định việc khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự Đảm bảo mọi tội phạm về xâm phạm tình dục được phát hiện đều bị xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật, kiên quyết chống bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội
Thứ hai: Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn
Trang 2820
chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự
và nhân phẩm một cách trái pháp luật
Như chúng ta đã biết bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình
sự nói chung và việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do theo quy định của Luật tố tụng hình sự nói riêng là nơi các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được áp dụng phổ biến nhất, vì vậy nó có liên quan chặt chẽ đến quyền con người và đây cũng chính là nơi quyền con người dễ bị xâm hại nhất Vì vậy cần thiết phải có thiết chế kiểm tra, giám sát hoạt động liên quan đến việc hạn chế một
số quyền công dân từ những người, những cơ quan có trách nhiệm này, để quyền con người luôn luôn được bảo đảm Một trong những thiết chế quan trọng, đó là hoạt động THQCT và KSĐT VKSND có trách nhiệm phê chuẩn Quyết định khởi
tố bị can và một số lệnh, quyết định quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền công dân như: Lệnh bắt khẩn cấp, quyết định Gia hạn tạm giữ, lệnh tạm giam của cơ quan điều tra, nếu xét thấy các lệnh, quyết định này không có căn cứ, trái pháp luật thì VKS không phê chuẩn hoặc ra quyết định hủy bỏ Thông qua hoạt động KSĐT đối với cơ quan điều tra đảm bảo cơ quan điều tra, thủ trưởng cơ quan điều tra, điều tra viên chấp hành đúng pháp luật, phát hiện xử lý kịp thời các vi phạm, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng
Thứ ba: Việc điều tra các tội phạm xâm phạm tình dục thực hiện đúng quy
định của pháp luật, khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật Những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra phải được phát hiện kịp thời, khắc phục và xử lý nghiêm minh
Trong hoạt động điều tra các vụ án xâm phạm tình dục, VKS áp dụng các quyền năng pháp lý để đảm bảo cho việc điều tra được thực hiện đúng quy định của pháp luật Qua công tác KSĐT, VKS phát hiện kịp thời các vi phạm pháp luật của cơ quan điều tra, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng từ
đó để ban hành ngay kiến nghị, yêu cầu các chủ thể khắc phục vi phạm, khôi
phục lại trật tự pháp luật
Thứ tư: Để việc truy tố các bị can phạm tội xâm phạm tình dục ra Tòa án để
Trang 2921
xét xử có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì ngay từ khi tiếp nhận tin báo, tố giác về các vụ việc có dấu hiệu của các tội xâm phạm tình dục VKS khẩn trương phối hợp với cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết vì đối với những loại tội phạm này, hiện trường không còn nguyên vẹn, các dấu vết cũng khó thu giữ, sao chụp… Từ đó để có căn cứ buộc tội chính xác, đúng người,
đúng tội, không bỏ lọt tội phạm và làm oan người bô tội
1.2.2 Đặc điểm của thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục
THQCT và KSHĐTP trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục nhìn chung cũng vẫn theo những trình tự, thủ tục cơ bản đối với những vụ án hình
sự khác Đó là những hoạt động có tính chất riêng biệt đối với hoạt động của VKS trong quá trình tố tụng Hoạt động THQCT và KSHĐTP trong giai đoạn điều tra các
vụ án xâm phạm tình dục có những đặc điểm cơ bản sau:
Một là, trong khi hoạt động điều tra có nhiệm vụ chứng minh toàn bộ sự việc phạm tội một cách khách quan, toàn diện, cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội thì hoạt động công tố nhằm thực thi quyền truy cứu TNHS, quyết định việc buộc tội, việc gỡ tội, quyết định việc hạn chế các quyền công dân như bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác, quyết định việc truy tố hoặc đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật Hoạt động THQCT đối với các vụ án xâm phạm tình dục chính là việc xác định có hay không việc giao cấu trái ý muốn hoặc được sự thuận tình giao cấu với trẻ em từ 13 đến dưới 16 tuổi hoặc hành vi sờ mó, kích dục… Từ đó đưa ra quyết định buộc tội, gỡ tội và áp dụng các biện pháp ngăn chặn kịp thời đối với tội phạm xâm phạm tình dục
Hai là, THQCT đối với các vụ án xâm phạm tình dục cũng giống như các trình tự, thủ tục đối với hoạt động THQCT đối với các tội phạm khác Hoạt động này bao gồm hành vi và các quyết định tố tụng mang tính chất công khai theo trình
tự, thủ tục, thẩm quyền tố tụng do pháp luật quy định Có quyết định công tố thể hiện dưới dạng văn bản của người có thẩm quyền như quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định khởi tố bị
Trang 30có quyền rút, hủy bỏ các quyết định công tố không có căn cứ và trái pháp luật của VKS cấp dưới và yêu cầu ra quyết định đúng pháp luật Điều này khác với tổ chức hoạt động điều tra, CQĐT cấp trên không có quyền rút, hủy bỏ các quyết định tố tụng của CQĐT cấp dưới
Bốn là, THQCT có đặc điểm khác với hoạt động KSĐT Tuy cùng một chủ thể tiến hành là VKS, nhưng THQCT nhằm bào việc buộc tội, gỡ tội, yêu cầu bắt, tạm giữ và áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác đối với người phạm tội, còn hoạt động KSĐT hướng đến sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra, nếu phát hiện
có hành vi vi phạm pháp luật, VKS có quyền kiến nghị, yêu cầu các chủ thể chấm dứt vi phạm, khôi phục lại trật tự pháp luật bị vi phạm
Để thực hiện tốt hoạt động THQCT và KSHĐTP trong giai đoạn điều tra các tội phạm xâm phạm tình dục, bên cạnh việc nắm vững những đặc điểm cơ bản của công tác THQCT và KSĐT còn xác định được những đắc điểm riêng biệt của hoạt động này:
Thứ nhất: Đối với các vụ án xâm phạm tình dục, hiện trường vụ án thường là những nơi kín đáo, vắng vẻ, thường không có nhân chứng chứng kiến, chỉ có đối tượng phạm tội và nạn nhân Để thực hiện hoạt động THQCT và KSHĐTP tốt các loại tội phạm này ở giai đoạn điều tra thì VKS phải thực hiện tốt việc THQCT và KSHĐTP ngay khi kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố như kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, kiểm sát việc thu thập, bảo quản dấu vết đầy đủ, đúng quy định Từ kết quả đó mới THQCT có căn cứ và chính xác
Thứ hai: Đối với các vụ án xâm phạm tình dục, nạn nhân đa số là trẻ em khả năng nhận thức và điều khiển hành vi chưa đầy đủ Các em thường bị các đối tượng
Trang 3123
phạm tội dụ dỗ bằng tiền, vật chất, đe dọa để giao cấu và đe dọa không được nói với
ai nên thời điểm nạn nhân bị xâm hại tình dục xảy ra trong một thời gian, mới được cha mẹ, người thân phát hiện và trình báo Chứng cứ, dấu vết gần như không thu thập được vì vậy hoạt động THQCT và KSĐT phải chặt chẽ hơn Thông qua KSĐT
để Viện kiểm sát có những yêu cầu điều tra, kiến nghị kịp thời từ đó tạo điều kiện
để THQCT đảm bảo xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội
1.2.3 Nội dung thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục
1.2.3.1 Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
THQCT trong giai đoạn điều tra nói chung và điều tra các các vụ án về xâm phạm tình dục nói riêng nhằm truy cứu TNHS có căn cứ và hợp pháp, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện, xử lý theo pháp luật, không để lọt người, lọt tội, không làm oan người vô tội Để đạt được mục đích yêu cầu đó, pháp luật hiện hành quy định cho Viện kiểm sát khi THQCT trong hoạt động điều tra mà cụ thể là điều tra các tội phạm xâm phạm tình dục, hay nói cách khác nội dung THQCT là những biện pháp được pháp luật quy định mà Viện kiểm sát sử dụng để truy cứu TNHS đối với người phạm tội
+ Yêu cầu cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi
tố bị can
Ngay từ giai đoạn THQCT và KSHĐTP trong việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố, phát hiện thấy có dấu hiệu tội phạm mà cơ quan điều tra không ra quyết định khởi tố vụ án hoặc khởi tố vụ án chưa đúng tội, khởi tố thiếu tội thì Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố vụ án hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can
+ Hủy bỏ các quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án trái pháp luật; phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định; quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can
Trang 32+ Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn của cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật
+ Phê chuẩn, không phê chuẩn, hủy bỏ các quyết định tố tụng khác của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
+ Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện việc điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội; yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị can
Một trong những nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng của Viện kiểm sát khi THQCT trong giai đoạn điều tra là đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra Để đảm bảo hoạt động điều tra có kết quả thì VKS có vai trò
là cơ quan được giao nhiệm vụ THQCT phải đề ra yêu cầu điều tra ngay từ khi có quyết định khởi tố vụ án và trong từng giai đoạn của quá trình điều tra, Kiểm sát viên được phân công THQCT và KSĐT phải bám sát việc điều tra vụ án của cơ quan điều tra để kịp thời đề ra các yêu cầu điều tra một cách cụ thể, toàn diện nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
+ Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để kiểm tra,
bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn các lệnh, quyết định của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà VKS đã yêu cầu nhưng không được khắc phục
Trong một số trường hợp cần thiết, để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Trang 3325
khi THQCT trong giai đoạn điều tra, VKS có thể trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS: Triệu tập và hỏi cung bị can, triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, tiến hành đối chất, thực nghiệm điều tra để củng cố chứng cứ và các tình tiết khác nhằm đánh giá một cách khách quan, toàn diện vụ án
+ Khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm
+ Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam, chuyển vụ
án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh
+ Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành quyền công tố
theo quy định của BLTTHS
1.2.3.2 Nội dung kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ
án xâm phạm tình dục
Như chúng ta đã biết, giai đoạn điều tra vụ án hình sự là bước của quá trình
tố tụng tiếp theo, trong đó cơ quan có thẩm quyền điều tra tiến hành áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự do BLTTHS quy định để chứng minh hành vi phạm tội đã xảy ra do ai thực hiện, tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội đó Đồng thời làm rõ động cơ mục đích, nguyên nhân và điều kiện phạm tội… trên cơ sở đó đảm bảo các chứng cứ để truy cứu TNHS đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Cơ quan điều tra áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng
cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ TNHS như: Hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, lấy lời khai người bị hại, đối chất, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn Các biện pháp này khi được áp dụng đều liên quan trực tiếp tới các quyền cơ bản của con người, của công dân nên đòi hỏi việc áp dụng phải tuân thủ đúng về trình tự cũng như thủ tục do BLTTHS quy định Do đó việc giám sát chặt chẽ đảm bảo quá trình điều tra các vụ án xâm phạm tình dục nói riêng được thực hiện đúng quy định của BLTTHS là trách nhiệm của VKS Hoạt động giám sát
Trang 3426
quá trình điều tra các vụ án xâm phạm tình dục là sự thể hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra nhằm đảm bảo cho các hoạt động điều tra của cơ quan điều tra được khách quan, toàn diện, việc áp dụng các biện pháp điều tra theo luật định phải có căn cứ và hợp pháp
Như vậy nội dung của hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra chính là nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi tiến hành KSĐT các vụ án xâm phạm tình dục
+ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra và lập hồ
sơ vụ án của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Có thể nói, kiểm sát việc khởi tố là chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án xâm phạm tình dục thông qua:
+ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra và lập hồ
sơ vụ án của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
+ Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng, yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật
+ Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra
+ Yêu cầu cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố điều tra khi cần thiết
+ Kiến nghị yêu cầu cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong việc khởi tố, điều tra
+ Yêu cầu thủ trưởng cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thay đổi Điều tra viên, cán bộ điều tra, xử lý nghiêm minh Điều tra viên, cán bộ điều tra vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng
+ Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật
Trang 3527
Kết luận Chương 1
Qua các vấn đề đã phân tích trong Chương 1, tác giả tập trung phân tích, luận giải những vấn đề lý luận cơ bản nhất về KSHĐTP và THQCT trong giai đoạn điều tra, trong đó làm rõ khái niệm, đặc điểm của KSHĐTP và THQCT, phân tích các quan điểm khác nhau về quyền công tố, THQCT, KSHĐTP của VKSND từ đó đưa ra quan điểm riêng về các khái niệm, phân tích các dấu hiệu, đặc điểm của các tội xâm phạm tình dục; đặc điểm, nội dung, vai trò của hoạt động THQCT và KSHĐTP trong giai đoạn điều tra các tội phạm xâm phạm tình dục của VKSND Từ đó đưa ra quan điểm của người nghiên cứu về các khái niệm này Mặc dù cho đến nay chưa đạt được sự thống nhất cao về những khái niệm này nhưng là những vấn đề rất được quan tâm trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Trong giai đoạn điều tra, với các quyền năng mà pháp luật giao cho, VKS đóng vai trò chủ đạo, quyết định và chịu trách nhiệm chính về cả quá trình điều tra tội phạm Vì vậy mỗi cá nhân, mỗi tập thể đơn vị trong toàn ngành kiểm sát trong đó
có nhận thức một cách thấu đáo các vấn đề lý luận có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của VKSND có vai trò rất quan trọng ảnh hưởng lớn đến chất lượng của công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ này
Trang 3628
Chương 2
PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƢ PHÁP TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM TÌNH DỤC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
2.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tƣ pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm
phạm tình dục
2.1.1 Quy định của pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến trước năm 2003
về hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm tình dục
Sau khi Cách mạng tháng Tám (năm 1945) thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời vào ngày 02/9/1945, hệ thống bộ máy Nhà nước và các thiết chế Nhà nước, hệ thống pháp luật được thiết lập Theo đó, Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra nhiều chủ trương, Chính phủ ban hành nhiều văn bản định hướng và đặt cơ sở pháp lý cho hoạt động tư pháp, trong đó có vai trò và vị trí của công tác công tố
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 09/01/1946, quy định cơ cấu tổ chức nhà nước nói chung và hệ thống các cơ quan
tư pháp nói riêng Tiếp theo một loạt các văn bản pháp luật quan trọng được ban hành như: Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946; Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946; Sắc lệnh số 51 ngày 20/7/1946; Sắc lệnh số 19 ngày 16/02/1947… quy định thành lập
hệ thống Tòa án nhân dân, trong đó Công tố viên là một tổ chức bên cạnh Tòa án và trực thuộc Bộ tư pháp quản lý Hệ thống Công tố ở Tòa thượng thẩm và Tòa án đệ nhị cấp do một Viện trưởng lý đứng đầu, lúc này Công tố viên chỉ có chức năng truy tố người phạm tội ra Tòa án để xét xử Cho nên trong giai đoạn lịch sử từ 1945 đến 1950 Công tố nằm trong hệ thống Tòa án
Đến năm 1958 thực hiện Nghị quyết của Quốc hội thông qua ngày 29/4/1958 trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm trong nước và học tập kinh nghiệm của Trung
Trang 3729
Quốc, thực hiện việc cải cách tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước nên Quốc Hội đã quyết định thành lập cơ quan Viện công tố trung ương và hệ thống viện công tố Từ thời điểm này, viện công tố tách khỏi hệ thống Tòa án, đặt Viện công tố Trung ương trực thuộc Hội đồng chính phủ, có trách nhiệm và quyền hạn như một Bộ Ngày 01/7/1959 Thủ tướng chính phủ đã ban hành Nghị định số 256/Ttg quy định nhiệm
vụ và tổ chức Viện công tố Hệ thống viện công tố được thành lập bao gồm Viện công tố Trung ương, Viện công tố địa phương các cấp và Viện công tố quân sự các cấp Hệ thống viện công tố ở các địa phương được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc “song trùng” trực thuộc, vừa chịu sự lãnh đạo của Viện công tố cấp trên
về chuyên môn nghiệp vụ đồng thời vừa chịu sự lãnh đạo của ủy ban hành chính cùng cấp Viện công tố được tổ chức thành bốn cấp phù hợp với hệ thống Tòa án (Viện công tố Trung ương, viện công tố phúc thẩm được tổ chức theo vùng, viện công tố cấp tỉnh và Viện công tố cấp huyện) Viện công tố có chức năng nhiệm vụ: Điều tra và truy tố trước Tòa án những kẻ phạm tội, giám sát việc chấp hành luật pháp trong công tác điều tra, xét xử, thi hành các bản án về hình sự, dân sự giam giữ
và cải tạo, khởi tố và tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích Nhà nước và nhân dân [34, tr 16-17]
năm 1988
Đây là thời kỳ ghi nhận sự phát triển mạnh của hoạt động lập pháp và hành pháp với sự ra đời của nhiều đạo luật và các văn bản quy phạm pháp luật về tố tụng hình sự cũng như tạo ra nhiều sự thay đổi của mô hình tố tụng hình sự Việt Nam theo yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới trong đó quan trọng nhất là các văn bản như: Trên cơ sở hiến pháp 1959, viện kiểm sát nhân dân ra đời, theo đó Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 có hiệu lực đã quy định chức năng nhiệm
vụ tổ chức bộ máy của VKSND Do trong thời kỳ này do đặc điểm tình hình Nhà nước chưa thống nhất chức năng, nhiệm vụ cũng như mục đích hoạt động của VKS
có một số đặc điểm khác với thời kỳ sau VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật làm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế dân chủ nhân dân được giữ vững Mục đích của VKSND là bảo vệ chế độ dân chủ
Trang 3830
nhân dân, trật tự xã hội, tài sản công cộng và những quyền lợi hợp pháp của công dân, góp phần bảo đảm công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà được tiến hành thắng lợi Như vậy, Luật tổ chức VKSND năm 1960 chỉ quy định cho VKS một chức năng duy nhất là kiểm sát việc tuân theo pháp luật, việc truy tố trước Tòa án nhân dân những kẻ phạm pháp hình sự chỉ là cách thực hiện chức năng kiểm sát tuân thủ pháp luật Ở thời điểm này, trên phương diện lập pháp chưa có sự phân biệt rạch ròi các chức năng công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật
Hiến pháp 1980 ra đời, nước ta đổi tên thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lần đầu tiên hiến pháp quy định thực hành quyền công tố là chức năng của VKSND Điều 138 hiến pháp quy định:
VKSND tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng bổ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên Nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Như vậy, theo hiến pháp 1980 quy định thì VKSND vừa kiểm sát việc tuân theo pháp luật vừa thực hành quyền công tố Đây là bước phát triển mới số với hiến pháp 1959
Cùng với sự ra đời của Hiến pháp 1980 thì Luật tổ chức VKSND ra đời năm
1981 quy định nhiều điểm mới:
+ Đối với công tác kiểm sát chung, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
1981 quy định rõ hơn căn cứ pháp lý để tiến hành kiểm sát là tính phù hợp với hiến pháp, pháp luật (điều 6) Đồng thời Luật 1981 cụ thể hóa hơn các quyền hạn của VKSND trong công tác kiểm sát chung (Điều 7)
+ Trong công tác kiểm sát điều tra và mối quan hệ của VKS với cơ quan điều tra cũng được quy định cụ thể hơn, VKS tiến hành kiểm sát điều tra, nhằm bảo đảm
sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra và truy cứu TNHS có căn cứ, hợp pháp VKS chỉ trực tiếp khởi tố điều tra trong trường hợp xét thấy thật cần thiết
+ Luật tổ chức VKSND 1981 đã bổ sung một số quyền hạn của VKSND
Trang 3931
trong công tác kiểm sát xét xử dân sự như: tham gia các cuộc họp trù bị phiên tòa của TAND cùng cấp; yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ vụ án để thực hiện công tác kiểm sát xét xử… (Đ13)
+ Ngoài ra Luật tổ chức VKSND 1981 tách quy định về công tác kiểm sát việc chấp hành án ra khỏi công tác kiểm sát xét xử
c, Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa VIII (ngày 28/6/1988) bộ luật tố tụng hình
sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành Bộ luật
tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra, truy
tố xét xử và thi hành án hình sự, quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng và của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân
Bộ luật TTHS 1988 quy định, trong giai đoạn điều tra, ngay khi nhận được tố giác tin báo về tội phạm, CQĐT, VKS trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra xác minh nguồn tin và quyết định khởi tố hay không khởi tố hình sự Trong suốt quá trình điều tra, điều tra viên sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định
để thu thập chứng cứ Trong giai đoạn truy tố, khi nhận được hồ sơ vụ án và kết luận điều tra do CQĐT chuyển sang, VKS tiếp tục kiểm tra các chứng cứ có trong
hồ sơ vụ án và phải đưa ra một trong các quyết định sau: truy tố bị can trước tòa án bằng bản cáo trạng, trả hồ sơ để đều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án
Trong giai đoạn điều tra, VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm việc khởi tố vụ án hình sự có căn cứ và hợp pháp, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được điều tra xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm…kịp thời phát hiện những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra và đề ra biện pháp khắc phục xử lý nghiêm minh, bảo đảm việc truy cứu TNHS đối với bị can là có căn cứ và hợp pháp
Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dấn 1992 quy định Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ… thực hành quyền công tố và bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất VKSND được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất trong ngành do Viện trưởng lãnh đạo
Trang 4032
Hội nghị lần thứ tư ban chấp hành Trung ương khóa IX chỉ rõ “… cần sửa
đổi bổ sung chức năng nhiệm cụ của VKSND theo hướng VKSND chỉ thực hiện quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp” [9]
Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị ghi: “Viện kiểm sát
các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi
tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng …” [6]
Để thể chế những nội dung quan trọng của các Nghị quyết nêu trên về cải cách tư pháp Hiến pháp năm 1992 sửa đổi đã được điều chỉnh một bước về chức năng, nhiệm vụ của VKS Theo đó VKS thôi không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính kinh tế, xã hội, đồng thời nhấn mạnh việc tăng cường chức năng thực hành quyền công tố và ghi nhận chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp
Sau khi Hiến pháp năm 1992 sửa đổi thì Luật tổ chức VKSND năm 2002 đã
có bước phát triển tiến bộ, khẳng định rõ hai chức năng của VKS là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Để tạo điều kiện cho VKSND chủ động thực hành quyền công tố ngay từ dầu, Luật mới đã quy định trách nhiệm của VKSND trong việc tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm và thực hiện việc thống kê tội phạm Công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử đã được phân định rạch ròi và đầy đủ, chi tiết hơn
2.1.2 Quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động kiểm sát và thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm tình dục theo Bộ Luật tố tụng hình sự 2003
Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra xác vụ án xâm phạm tình dục là một dạng cụ thể của thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra xác vụ án hình sự nói chung BLTTHS năm 2003 (điều 112, 113) đã quy định cụ thể nhiệm vụ quyền hạn cũng là trách nhiệm của VKSND khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư
pháp trong giai đoạn điều tra