Hoàn thiện pháp luật nói chung, hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nói riêng cần đảm bảo phù hợp với cá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ HẠNH
HìNH PHạT ĐốI VớI NGƯờI ch-a THàNH NIÊN PHạM TộI
(trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Nam Định)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ HẠNH
HìNH PHạT ĐốI VớI NGƯờI ch-a THàNH NIÊN PHạM TộI
(trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Nam Định)
Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và Tố tụng hỡnh sự
Mó số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC CHÍ
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Thị Hạnh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 7
1.1 Khái niệm hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội 7
1.1.1 Khái niệm, mục đích, đặc điểm của hình phạt 7
1.1.2 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội 11
1.2 Đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của việc quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự 17
1.2.1 Đặc điểm của hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự 17
1.2.2 Vai trò, ý nghĩa của việc quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự 23
1.3 Hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự một số nước trên thế giới 27
1.3.1 Hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Trung Quốc 28
1.3.2 Hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Thái Lan 29
1.3.3 Trong pháp luật hình sự Nhật Bản 31
1.3.4 Pháp luật Cộng hòa Pháp về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội 32
1.3.5 Trong pháp luật hình sự Hoa Kỳ 34
Chương 2: PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 36
2.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội 36
Trang 52.1.1 Quy định của pháp luật về hình phạt đối với người chưa thành
niên phạm tội trước năm 1999 36 2.1.2 Qui định về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
theo pháp luật hình sự hiện hành 48 2.1.3 Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về hình phạt đối với
người chưa thành niên phạm tội 63
2.2 Thực tiễn áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên
phạm tội 68
2.2.1 Tình hình áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên trên
địa bàn tỉnh Nam Định giai đoạn 2011 - 2015 68 2.2.2 Đánh giá nguyên nhân dẫn đến việc người chưa thành niên phạm tội 75
Chương 3: TIẾP TỤC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI
PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 79 3.1 Cơ sở của việc hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng
cao hiệu quả việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội 79
3.1.1 Việc hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp
dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần dựa trên các cơ sở lý luận của khoa học luật hình sự đảm bảo khách quan, thuyết phục với tư duy pháp lý mới, tiến bộ và dân chủ 80 3.1.2 Việc hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả việc
áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội phải đáp ứng được các đòi hỏi cấp bách của thực tiễn xã hội nói chung, cũng như thực tiễn đấu tranh chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện nói riêng 81 3.1.3 Hoàn thiện pháp luật nói chung, hoàn thiện pháp luật và các giải
pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nói riêng cần đảm bảo phù hợp với các nguyên tắc và quy phạm được thừa nhận chung trong pháp luật hình sự quốc tế, kế thừa những thành tựu tiên tiến của khoa học pháp lý hình sự thế giới 84
Trang 63.1.4 Việc hoàn thiện quy định pháp luật và các giải pháp nâng cao
hiệu quả việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần đảm bảo sự kế thừa các giá trị pháp luật truyền thống của dân tộc 86 3.1.5 Và cuối cùng, việc hoàn thiện quy định pháp luật và các giải
pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần được tiến hành một cách đồng bộ với việc cải cách hệ thống tư pháp hình sự, đổi mới pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự nước ta 87
3.2 Hoàn thiện pháp luật hình sự về hình phạt đối với người
chưa thành niên phạm tội 88
3.2.1 Vấn đề trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi 89 3.2.2 Về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội 90 3.2.3 Hoàn thiện quy định về các chế tài áp dụng đối với người chưa
thành niên phạm tội 90 3.2.4 Sửa đổi quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm
nhiều tội 91 3.2.5 Bổ sung quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị
phạm tội, phạm tội chưa đạt; Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án 93 3.2.6 Một số nội dung cần bổ sung để hoàn thiện pháp luật hình sự về
hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội 95
3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng hình phạt đối
với người chưa thành niên phạm tội 99
3.3.1 Xác định chính xác các nguyên nhân, điều kiện dẫn đến việc
người chưa thành niên phạm tội Từ đó có các biện pháp cụ thể tác động vào các nguyên nhân đó để giảm thiểu, phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội 100 3.3.2 Tiếp tục thực hiện các đề án, chương trình hành động về bảo vệ,
chăm sóc, giáo dục trẻ em 102
Trang 73.3.3 Tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho các cơ
quan tiến hành tố tụng về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trên cơ sở đó đảm bảo quyền của người chưa thành niên trong tố tụng hình sự 104 3.3.4 Đẩy mạnh, đổi mới việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật toàn dân để nâng cao trình độ dân trí pháp lý, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật 106
KẾT LUẬN 109 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Tình hình người chưa thành niên phạm tội bị đưa ra
xét xử sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Nam Định (giai đoạn
Biểu đồ 2.2 Nguyên nhân phạm tội vị thành niên 75
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội là giai đoạn cuối cùng, quan trọng trong các thủ tục tố tụng áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội Vì đây là giai đoạn quyết định người chưa thành niên sẽ bị áp dụng hình phạt nào đối với tội phạm do mình thực hiện Luật hình sự Việt Nam đã quy định hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, phân hóa trách nhiệm hình sự, cá thể hóa hình phạt, đặc biệt là thể hiện được chính sách nhân đạo đối với người chưa thành niên tạo hành lang pháp lý đảm bảo cho quá trình phát hiện nhanh chóng, chính xác, xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không cho người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm, trốn tránh pháp luật, cản trở đến quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự
Thực tiễn áp dụng bên cạnh ưu điểm trong việc cụ thể hóa chính sách hình sự nhân đạo của Đảng và Nhà nước trong đường lối xử lý người chưa thành niên phạm tội để có thể răn đe, cảm hóa, giáo dục họ trở thành những công dân tốt cho xã hội thì còn có hạn chế: việc luật không quy định cụ thể các tội mà người chưa thành niên phạm phải sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt trong trường hợp người chưa thành niên phạm nhiều tội dẫn đến việc áp dụng không thống nhất ở mỗi địa phương, thậm chí áp dụng tùy tiện các quy định này Tồn tại thực trạng đó do nhiều nguyên nhân: trong
đó nguyên nhân khách quan là pháp luật hình sự chưa có quy định cụ thể, ngoài ra nguyên nhân chủ quan là do ý chí của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình vận dụng pháp luật trong thực tiễn tố tụng
Bên cạnh đó, bảo đảm quyền con người nhất quyền của người chưa thành niên là yêu cầu quan trọng để có thể cụ thể hóa tinh thần các công ước
Trang 10mà Việt Nam đã gia nhập hoặc phê chuẩn: Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước quyền trẻ em Đây cũng là yêu cầu cải cách tư pháp mà Đảng ta
đã đề ra tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020 Ngoài ra, nghiên cứu, hoàn thiện quy định về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cũng là một nhiệm vụ cấp thiết để xây dựng pháp luật hình sự công bằng, nhân đạo, dân chủ, văn minh trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trên cơ sở đó có kế hoạch đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên trên địa bàn tỉnh Nam Định Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả đã
chọn đề tài "Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội (Trên cơ sở
thực tiễn địa bàn tỉnh Nam Định)" làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề người chưa thành niên phạm tội là vấn đề không còn mới mẻ nhưng chưa được nhiều nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam nghiên cứu, tiếp cận theo những góc độ khác nhau Ở Việt Nam, trong những năm gần đây
đã có một số bài viết đề cập đến như:
- Hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền của người chưa thành niên
phạm tội ở Việt Nam hiện nay Luận văn thạc sĩ luật học năm 2003 Tác giả:
Vũ Thị Thu Quyên - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội;
- Thực trạng và giải pháp phòng chống vi phạm pháp luật của người
chưa thành niên Tác giả: Đinh Xuân Nam Nghiên cứu lập pháp Năm 2008;
- Quyết định hình phạt trong trường hợp người chưa thành niên phạm
nhiều tội - Tác giả: Phạm Văn Thiệu (Tòa án nhân dân tối cao);
- Người chưa thành niên phạm tội - Các biện pháp hạn chế - Tác giả:
Bùi Thị Chinh Phương đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật, năm 2015;
- Có nên tăng mức phạt tù đối với tội phạm chưa thành niên? Tác giả:
Thạc sĩ Trần Đức Thìn - Nguyên hiệu trưởng trường Đại học Luật Hà Nội đăng trên báo điện tử vov.vn của Đài Tiếng nói Việt Nam;
Trang 11Các bài viết này mới chỉ khai thác được một số khía cạnh về tình hình người chưa thành niên phạm tội, một số giải pháp trước thực trạng tội phạm
do người chưa thành niên thực hiện ngày càng nhiều trên phạm vi cả nước Còn những nghiên cứu có tính chất hệ thống, đầy đủ về lý luận và thực tiễn, những nguyên nhân, phương hướng, giải pháp hoàn thiện về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, biện pháp nhằm giảm thiểu tình trạng người chưa thành niên phạm tội trên cả nước nói chung cũng như trên địa bàn tỉnh Nam Định nói riêng chưa được tác giả nào quan tâm nghiên cứu Điều đó cho thấy yêu cầu nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự có liên quan đến hình phạt đối với người chưa thành niên tại chương X “Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội”
Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và chương XXXII
"Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên" BLTTHS năm 2003 cũng như các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành là hoàn toàn có giá trị khoa học
và rất thiết thực Làm được điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội Qua đó đáp ứng mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác xét xử vụ án hình sự mà Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách
tư pháp đến năm 2020 đề ra Đặc biệt phù hợp với tinh thần Luật bảo vệ và chăm sóc, giáo dục trẻ em cũng như tinh thần Công ước quốc tế về quyền trẻ em
mà Việt Nam là một trong những quốc gia phê chuẩn sớm nhất (Công ước được thông qua theo Nghị quyết số 44-25 ngày 20/11/1989 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, Việt Nam phê chuẩn ngày 20/02/1990) Theo đó, vấn đề này cần tiếp tục được nghiên cứu, để có thể đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế tình trạng người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Nam Định Và nếu phù hợp, có thể làm tiêu chí, làm cơ sở, kinh nghiệm áp dụng cho các địa phương khác trong phạm vi cả nước
Trang 123 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu của đề tài: Đánh giá tình hình tội phạm do
người chưa thành niên thực hiện, nguyên nhân, điều kiện? Thực trạng áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Nam Định của các cơ quan có thẩm quyền, tổng kết, đánh giá nguyên nhân dẫn đến việc người chưa thành niên phạm các tội đó Từ đó đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thực hiện thông qua việc phổ biến giáo dục kiến thức pháp luật, ý thức thực hiện pháp luật cho người chưa thành niên nhằm đạt được mục đích chủ yếu trong xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội: giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội
* Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu làm rõ nhận thức chung về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội của các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh Nam Định
- Khảo sát, đánh giá việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự của các cơ quan có thẩm quyền
- Rút ra những kết quả đạt được, những tồn tại, vướng mắc trong luật tố tụng hình sự Việt Nam và việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý
luận và thực tiễn dưới góc độ khoa học pháp lý nhằm hoàn thiện việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Nam Định nói riêng so với cả nước
Trang 13* Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình người chưa
thành niên phạm tội và việc áp dụng hình phạt pháp đối với người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Nam Định trong thời gian 5 năm gần đây nhất Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác đấu tranh phòng chống tội phạm
và các tội phạm do người chưa thành niên thực hiện cùng với chính sách hình
sự của Nhà nước đối với người chưa thành niên phạm tội Đồng thời, trên cơ
sở những thành tựu đạt được của các khoa học như Luật quốc tế, Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Xã hội học,
* Phương pháp nghiên cứu: Quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã kết
hợp nhiều phương pháp: phân tích, so sánh, tổng hợp, khảo sát thực tế, tham khảo ý kiến của các cán bộ làm công tác nghiên cứu, đồng nghiệp hoạt động thực tiễn, tham khảo các tài liệu về tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới để đánh giá, so sánh việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
6 Những vấn đề mới của đề tài
Làm rõ những lý luận về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Nam Định Do tính chất nhân đạo của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội nên tác giả chủ trương tìm hiểu trong số các hình phạt được áp dụng theo quy định thì thực tiễn trên địa bàn tỉnh Nam Định người chưa thành niên thường thực hiện những tội, nhóm tội nào? Tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội? Nguyên nhân nào dẫn tới hành vi phạm tội
Trang 14của họ? Tương ứng với việc áp dụng hình phạt nào là phổ biến? Hiệu quả của nó ra sao? Đồng thời, đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc đấu tranh phòng chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện theo quy định của Bộ luật hình sự và các giải pháp được đưa ra để thực hiện tốt hơn các quy định đó Xa hơn nữa có những giải pháp cụ thể nhằm hạn chế tội phạm do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn nói riêng, cả nước nói chung
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự, tố tụng hình sự về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội Đồng thời nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, nâng cao niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và cơ quan thực thi pháp luật nói riêng Ngoài ra, đề tài còn
có thể dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu cho những người quan tâm, các nhà hoạch định chính sách đối với đối tượng người chưa thành niên
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hình phạt đối với người chưa thành
niên phạm tội
Chương 2: Qui định của pháp luật và thực tiễn áp dụng hình phạt đối
với người chưa thành niên phạm tội
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả
việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
1.1 Khái niệm hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Để có thể đưa ra được khái niệm hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội chúng ta cần xuất phát từ khái niệm hình phạt cũng như khái niệm người chưa thành niên phạm tội:
1.1.1 Khái niệm, mục đích, đặc điểm của hình phạt
1.1.1.1 Khái niệm hình phạt
Hình phạt theo Các Mác không phải là một cái gì khác ngoài phương tiện tự vệ của xã hội chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó Với tính cách là hình thức phổ biến và chủ yếu nhất của trách nhiệm hình sự hình phạt luôn hàm chứa yếu tố trừng trị và luôn động chạm trực tiếp đến quyền và lợi ích của người phạm tội Mặt khác nhìn từ yêu cầu phòng ngừa tội phạm, hình phạt phải hàm chứa cả yếu tố giáo dục người phạm tội Theo đó, trong phạm vi luận văn này người viết chỉ đề cập đến hình phạt với tính cách là hình thức phổ biến và chủ yếu nhất của trách nhiệm hình sự, được quy định trong pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự chứ không với tư cách là các biện pháp cưỡng chế đối với người vi phạm các quy phạm xã hội hay các quy phạm pháp luật khác (luật hành chính, luật dân sự, )
Khi nghiên cứu khái niệm hình phạt trong luật hình sự, chúng ta cần xem xét khái niệm này trong cả hai lĩnh vực thể hiện của nó: trong lý luận luật hình sự và pháp luật hình sự thực định
Trong khoa học luật hình sự nước ngoài cũng như khoa học luật hình
sự Việt Nam từ trước đến nay, xung quanh khái niệm hình phạt còn nhiều ý kiến khác nhau mà chưa có được quan điểm thống nhất:
Trang 16Trong khoa học luật hình sự Liên Xô (trước đây) và Liên bang Nga hiện nay có một số quan điểm về hình phạt như: là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Tòa án nhân danh Nhà nước áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm nhằm mục đích ngăn ngừa chung và ngăn ngừa riêng
(Natasev A.E, Xtruchkôv H.A, Bêlaev N.A); là sự trừng trị, tức là gây cho
người có tội những sự đau đớn và những sự tước đoạt do luật định mà người
đó phải chịu (Đementrev X.I); là một trong các biện pháp đấu tranh chống tội phạm mà nội dung của nó là kết hợp thuyết phục vơi cưỡng chế (Karpetx I.I)
Tương tự, trong khoa học luật hình sự Việt Nam cũng tồn tại một số quan điểm khác nhau coi hình phạt là: biện pháp cưỡng chế rất nghiêm khắc của Nhà nước được quy định trong luật hình sự do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và mục đích nhất định với mục đích cải tạo giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
(GS.TS Đỗ Ngọc Quang); “biện pháp cưỡng chế Nhà nước được luật hình sự
quy định và do Tòa án áp dụng có nội dung tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội nhằm trừng trị, giáo dục họ, cũng như nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm”
(PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa và TS Lê Thị Sơn); biện pháp cưỡng chế do Tòa
án quyết định trong bản án đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm
và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích do pháp
luật quy định đối với người bị kết án (PGS.TS Võ Khánh Vinh) [3, tr 673]
Trong pháp luật hình sự của Việt Nam từ sau cuộc Cách mạng tháng Tám đến trước năm 1999 thì khái niệm hình phạt chưa được quy định trong luật Hình phạt được quy định lần đầu tiên tại Điều 26 Bộ luật hình sự năm
1999: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước
nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt
Trang 17được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Tòa án quyết định” Trước đó,
khái niệm về hình phạt chỉ được xem xét dưới góc độ khoa học Nên việc ghi nhận một khái niệm hình phạt, đối trọng lại với khái niệm về tội phạm (hai đối tượng quan trọng nhất của Luật hình sự) là một tư duy tiến bộ trong công tác lập pháp Khái niệm về hình phạt được quy định tại Điều 26 Bộ luật hình
sự hiện hành đã nêu đầy đủ nội dung, bản chất của hình phạt Bộ luật hình sự năm 2015 được Quốc hội thông qua ngày 27/11/2015 tiếp tục ghi nhận khái niệm về hình phạt tại Điều 30:
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của người, pháp nhân thương mại đó [28, Điều 30]
Trên cơ sở có tiếp thu những yếu tố cốt lõi trong khái niệm về hình phạt được quy định tại Điều 26 Bộ luật hình sự năm 1999 với việc sắp xếp lại câu
từ cho hợp lý Việc quy định thêm áp dụng hình phạt đối với cả pháp nhân thương mại là một thay đổi lớn trong quan niệm về đối tượng áp dụng hình phạt từ xưa đến nay vốn chỉ áp dụng đối với cá nhân
1.1.1.2 Mục đích của hình phạt
Hình phạt là một phần tất yếu của pháp luật hình sự, hình phạt xuất hiện, tồn tại cùng với sự tồn tại của luật hình sự Cùng với trách nhiệm hình
sự, hình phạt là một trong hai phạm trù cơ bản, bao trùm nhất của luật hình sự
từ khi ra đời đến nay
Luật hình sự cổ đại cũng như trong pháp luật hình sự phong kiến thì mục đích chủ yếu của hình phạt là trừng trị người phạm tội, răn đe người phạm tội và người khác không phạm các tội mà luật hình sự quy định Tuy nhiên, Quốc triều hình luật thời nhà Lê - tinh hoa của luật hình thời phong
Trang 18kiến Việt Nam thì yếu tố đức trị kết hợp với pháp trị được thể hiện rõ nét Theo đó, mục đích giáo dục đã được các nhà làm luật thời Lê đưa vào bộ hình luật này Chính điều đó mà giá trị của bộ luật này còn tồn tại mãi đến tận ngày nay
Và sau này, luật hình sự hiện đại thì mục đích chủ yếu của hình phạt không chỉ nhằm trừng trị, răn đe mà mục đích giáo dục đã được thể hiện rõ nét, tồn tại song song với mục đích trừng trị Mục đích của hình phạt cũng đã được luật hóa bằng việc lần đầu tiên ghi nhận tại Điều 20 Bộ luật hình sự năm
1985, và sau này là điều 27 Bộ luật hình sự năm 1999:
Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa
họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
Trong khoa học luật hình sự, theo GS.TSKH Lê Văn Cảm thì khi nghiên cứu về mục đích của hình phạt, chúng ta phải nghiên cứu mục đích về mặt hình thức và mục đích về mặt nội dung Cụ thể:
Về mặt hình thức, mục đích của hình phạt là kết quả cuối cùng mà Nhà nước mong muốn đạt được bằng việc áp dụng hình phạt do nhà làm luật quy định trong pháp luật hình sự
Còn về mặt nội dung, hình phạt có bốn mục đích sau: 1) Góp phần phục hồi lại công lý - sự công bằng xã hội; 2) Cải tạo và giáo dục những người bị kết
án, đồng thời ngăn ngừa họ phạm tội mới; 3) Góp phần giáo dục các thành viên khác trong xã hội ý thức tôn trọng, tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật; 4) Hỗ trợ cho cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm
1.1.1.3 Đặc điểm của hình phạt
Khoa học luật hình sự Việt Nam [3, tr.675] thừa nhận hình phạt có sáu đặc điểm cơ bản sau:
Trang 19Thứ nhất, hình phạt là biện pháp cưỡng chế về hình sự nghiêm khắc
nhất so với tất cả các biện pháp cưỡng chế về hình sự khác của Nhà nước mà việc áp dụng nó đối với người bị kết án sẽ đưa đến hậu quả pháp lý là người
đó bị coi là có án tích;
Thứ hai, với tính chất là một dạng của trách nhiệm hình sự và một hình
thức để thực hiện trách nhiệm hình sự, hình phạt chỉ xuất hiện khi có sự việc phạm tội;
Thứ ba, hình phạt chỉ có thể Tòa án- cơ quan tư pháp hình sự duy nhất có
thẩm quyền áp dụng đối với người bị kết án trong bản án có hiệu lực pháp luật;
Thứ tư, hình phạt nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, tự do của người bị
kết án (được ghi nhận cụ thể trong pháp luật hình sự và được thể hiện rõ ràng trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án);
Thứ năm, hình phạt phải và chỉ được quy định trong pháp luật hình sự,
đồng thời được Tòa án áp dụng theo một trình tự đặc biệt do luật tố tụng hình
sự quy định;
Thứ sáu, hình phạt chỉ mang tính chất cá nhân (Đặc điểm này không
còn phù hợp với quy định về hình phạt trong Bộ luật hình sự năm 2015 khi Điều 30 ghi nhận hình phạt áp dụng đối với cá nhân và cả pháp nhân thương mại)
1.1.2 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội
1.1.2.1 Khái niệm người chưa thành niên
Thuật ngữ người chưa thành niên được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học khác nhau như xã hội học, tâm lý học, giáo dục học, Tuy nhiên, thuật ngữ này được sử dụng chưa thống nhất, tùy từng góc độ, từng lĩnh vực mà được hiểu khác nhau Cụ thể:
Theo nhà tâm lý học G Stanley Hall, thời kỳ chưa thành niên là thời kỳ quá độ tuổi trẻ em chuyển lên người lớn và là thời kỳ gắn liền với những xung
Trang 20đột, xáo trộn tâm trạng, nó cũng được quan niệm đồng nghĩa với tuổi đang lớn, đang trưởng thành [13]
Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp Quốc về áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) không đưa ra khái niệm về người chưa thành niên mà chỉ đưa ra thuật ngữ “người ít tuổi” Theo đó người chưa thành niên là người ít tuổi (Quy tắc 2.1 mục a) Trong Công ước quốc tế
về quyền trẻ em năm 1989 thì “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa
là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [10, Điều 1] Như vậy,
pháp luật quốc tế đã thừa nhận hai khái niệm người chưa thành niên và Trẻ
em là một bởi nội hàm của hai khái niệm này trùng nhau hoàn toàn trên cơ sở quy định về độ tuổi dưới 18
Ở Việt Nam, theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm người chưa thành niên
được hiểu: “Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn
diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ về quyền và nghĩa
vụ công dân” [17, tr 1114] Tuy nhiên, quy định người chưa thành niên như
vậy thì quả thật không thể xác định được đâu là người chưa thành niên trong
cơ cấu dân số của một quốc gia và việc xây dựng, áp dụng các quy định của pháp luật đối với người chưa thành niên lại càng khó khăn hơn Còn trong pháp luật Việt Nam thì khái niệm người chưa thành niên chưa được ghi nhận
mà chỉ có khái niệm trẻ em Theo đó, “Trẻ em quy định trong Luật này là
công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [30, Điều 1]
Căn cứ các quy định nêu trên của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam chúng ta thấy có sự khác nhau trong quy định về giới hạn độ tuổi là người chưa thành niên (trẻ em): Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định trẻ
em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi Còn pháp luật quốc tế (Công ước quốc
tế về quyền trẻ em) thì quy định rõ trẻ em là những người dưới 18 tuổi Trong
Trang 21khi đó Việt Nam là một trong số những nước sớm phê chuẩn công ước này Chính bởi sự “vênh” này mà Dự thảo Luật sửa đổi bổ sung của luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em lấy tên là Luật Trẻ em đăng trên trang Dự thảo online, mục Dự thảo luật tại Điều 1 có quy định ngắn gọn như sau: “Trẻ em là người dưới 18 tuổi” (Dự thảo trình cho ý kiến tại phiên họp thứ 45 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 13) Sự thay đổi này là cần thiết một khi chúng
ta đã phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em Tuy nhiên, ngày 05/4/2016, với 89,88% số phiếu tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật trẻ em với bố cục: 7 chương, 106 điều Trong đó giữ nguyên độ tuổi quy định: “Trẻ
em là người dưới 16 tuổi” như luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Như vậy độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi sẽ không được coi là trẻ em như quy định của pháp luật quốc tế Điều này không mâu thuẫn với các quy định của Luật Giáo dục, Bộ luật Hình sự năm 2015 hay Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 với những chương quy định giành cho những người phạm tội dưới
18 tuổi Luật Trẻ em sẽ có hiệu lực thi hành và thay thế Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em kể từ ngày 01/7/2017
Bộ luật hình sự năm 2015 được Quốc hội thông qua ngày 27/11/2015 quy định tại chương XII: những quy định đối với người dưới mười tám tuổi phạm tội (thay vì “Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội như Bộ luật hình sự năm 1999, chương X) Sự thay đổi về tên chương trong Bộ luật hình sự lần này có ý nghĩa: chỉ rõ chương này là những quy định áp dụng đối với người dưới 18 tuổi thay vì người chưa thành niên - một khái niệm chưa được pháp luật quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam ghi nhận chính thức
Từ những phân tích trên ta có thể đưa ra một khái niệm khoa học về
người chưa thành niên: “Người chưa thành niên là người dưới mười tám tuổi,
chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa
có đầy đủ về quyền và nghĩa vụ công dân”
Trang 22Khái niệm này phù hợp với tinh thần của pháp luật quốc tế cũng như những quy định của pháp luật Việt Nam trong các bộ luật: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Lao động, Luật xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác Nó cũng phản ánh được đặc điểm về tâm sinh lý cũng như khả năng nhận thức của lứa tuổi này
1.1.2.2 Người chưa thành niên phạm tội
Người chưa thành niên phạm tội là trẻ em có hành vi vi phạm pháp luật hình sự (Điều 40, Công ước quốc tế về quyền trẻ em) Điều 37 Công ước này còn đề cập đến khái niệm trẻ em bị tước quyền tự do Khái niệm này có thể được hiểu là người chưa thành niên phạm tội bị tước tự do Ngoài ra, Ủy ban nhân quyền của Liên hợp quốc hoặc các tổ chức quốc tế khác cũng thường sử dụng khái niệm: trẻ em vi phạm pháp luật, người chưa thành niên vi phạm pháp luật Theo UNICEF, người chưa thành niên làm trái pháp luật là những người dưới 18 tuổi phải làm việc với hệ thống tư pháp do bị nghi ngờ hay bị cáo buộc là phạm tội Như vậy, khái niệm người chưa thành niên vi phạm pháp luật có nội hàm rộng hơn khái niệm người chưa thành niên phạm tội (bao hàm) bởi vi phạm pháp luật bao gồm: vi phạm pháp luật hình sự, vi phạm pháp luật hành chính, vi phạm pháp luật dân sự, Trong đó vi phạm pháp luật hình sự có thể phải chịu hậu quả pháp lý nặng hơn cả: bị truy cứu trách nhiệm hình sự, phải chịu hình phạt
Ở Việt Nam, thuật ngữ người chưa thành niên phạm tội được sử dụng rộng rãi trong cả khoa học luật hình sự cũng như trong pháp luật hình sự thực định Bộ luật hình sự năm 1985 lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ này, và quy định tại chương VII: Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội
Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) tiếp tục quy định vấn
đề người chưa thành niên tại riêng một chương (chương X: Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội) Bộ luật Tố tụng hình sự cũng quy
Trang 23định một chương riêng giành cho các thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên (chương XXXII) Bộ luật hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cùng được Quốc hội thông qua ngày 27/11/2015 cũng giành một chương riêng
để quy định về vấn đề người chưa thành niên phạm tội: chương XII Bộ luật hình sự: Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và chương XXVIII Bộ luật Tố tụng hình sự - Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi Tuy rằng tên chương đã thay đổi (những quy đinh đối với người dưới 18 tuổi thay vì những quy định đối với người chưa thành niên và nội dung có một số điểm mới nhưng về bản chất thì đây đều là những quy định thể hiện sự nhân đạo của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội và việc thay đổi này là để đảm bảo sự tương thích về mặt nội dung cũng như về mặt thuật ngữ đối với những quy định của pháp luật quốc tế về trẻ em mà Việt Nam đã phê chuẩn hoặc gia nhập hay phù hợp với tinh thần của luật Trẻ em năm 2016 Từ
đó tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các luật để đảm bảo được tính thống nhất, khả thi trong thực hiện pháp luật hình sự với các luật có liên quan mật thiết Như vậy, pháp luật hình sự Việt Nam thực định chưa đưa ra khái niệm người chưa thành niên phạm tội
Trong lĩnh vực khoa học luật hình sự, theo GS.TSKH Lê Văn Cảm và
TS Đỗ Thị Phượng thì:“người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14
tuổi đến dưới 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ, do hạn chế bởi các đặc điểm tâm sinh lý và đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm” [5] Quan niệm này
chủ yếu vẫn nhắc lại các quy định của pháp luật và đưa ra khái niệm trên cơ
sở độ tuổi của người chưa thành niên và tiếp cận ở góc độ hẹp - Tội phạm học
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay thì người phạm tội là “người
có đủ các dấu hiệu của chủ thể của tội phạm đã thực hiện hành vi được luật hình sự quy định là tội phạm” [44, tr 36] Như vậy người phạm tội có thể là
Trang 24người đã thành niên hoặc người chưa thành niên Ranh giới ngăn cách giữa người chưa thành niên phạm tội với người đã thành niên phạm tội là con số 18 Nếu người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội khi đã đủ 18 tuổi thì họ là người đã thành niên phạm tội và đương nhiên những quy định áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội không thể được áp dụng đối với họ Ngược lại, nếu người chưa thành niên phạm tội thực hiện tội phạm nghiêm trọng đến đâu thì họ cũng không thể bị áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình như đối với người đã thành niên phạm tội Theo quy định tại điều 12 Bộ luật hình sự năm 1999 (Tuổi chịu trách nhiệm hình sự) thì người chưa thành niên phạm tội chỉ bao gồm những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, đã cố ý hoặc vô ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm
Trên cơ sở những phân tích đã nêu, có thể hiểu người chưa thành niên
phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, có lỗi và phải chịu trách nhiệm hình sự
Từ khái niệm hình phạt và khái niệm người chưa thành niên phạm tội
đã trình bày bên trên, chúng ta có thể đúc rút được khái niệm hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội như sau:
Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật hình sự, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền và lợi ích của người đó khi họ cố ý hoặc vô
ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm
Khái niệm này đã thỏa mãn được nội hàm của ba khái niệm: hình phạt, người chưa thành niên và tội phạm Theo đó, Nhà nước - chủ thể đặt
ra hình phạt được quy định trong luật hình sự, Tòa án - cơ quan xét xử nhân danh Nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất
đó đối với những người chưa thành niên (người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18
Trang 25tuổi) khi họ cố ý hoặc vô ý thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội
mà luật hình sự coi là tội phạm
1.2 Đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của việc quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự
Để tìm hiểu đặc điểm, cũng như vai trò, ý nghĩa của việc quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự, chúng ta cần thống nhất với nhau trong cách hiểu về luật hình sự:
Theo GS TSKH Lê Văn Cảm thì:
Nói một cách ngắn gọn, luật hình sự là ngành luật quy định toàn bộ những vấn đề liên quan đến tội phạm, trách nhiệm hình sự
và hình phạt [3, tr 144]
Trong khoa học luật hình sự, thông thường luật hình sự được thể hiện trên ba lĩnh vực chính được thừa nhận chung sau đây: 1) Pháp luật hình sự thực định 2) Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự (trong đó thực tiễn xét xử
là dạng đặc trưng, chủ yếu và quan trọng nhất) 3) Khoa học (lý luận) luật hình sự Mỗi lĩnh vực thể hiện này đều có những đặc điểm đặc thù và góp phần quan trọng trong việc đưa các quy phạm pháp luật hình sự trừu tượng vào đời sống thực tế
1.2.1 Đặc điểm của hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự
Do những khác biệt về tâm sinh lý (sự chưa hoàn thiện về thể chất và tâm lý so với người đã thành niên) mà việc quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự có một số đặc điểm rõ nét sau:
Thứ nhất, việc quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự đã có từ rất sớm
Ngay từ thời phong kiến, điển hình là bộ Quốc triều hình luật - Bộ luật được đánh giá là kinh điển, là tinh hoa của hình luật Việt Nam thời kỳ phong kiến và đến ngày nay nó vẫn còn nhiều giá trị Việc quy định những hình phạt
Trang 26đối với người chưa thành niên phạm tội đã có quy định cụ thể: Điều 17 Quốc Triều Hình Luật quy định:
Khi còn bé nhỏ phạm tội đến khi lớn mới phát giác thì xử tội theo luật lúc còn nhỏ; hay Điều 457 quy định: Các con còn ở với cha mẹ mà đi ăn trộm, thì cha bị xử tội biếm, ăn cắp thì cha bị xử tội
đồ, nặng thì xử tăng thêm tội, và đều phải bồi thường thay cho con những tang vật ăn trộm hay ăn cướp Nếu con đã ở riêng, thì cha bị
xử tội phạt hay biếm; cha đã báo quan thì không phải tội, nhưng báo quan rồi mà để con ở nhà thì cũng bị xử như là chưa báo [34]
Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nhân dân miền Bắc đã phải nêu cao tinh thần “kháng chiến kiến quốc” - vừa chống thực dân Pháp để bảo vệ nhà nước non trẻ, vừa tích cực xây dựng đất nước Vào thời điểm ấy, công tác xây dựng pháp luật không phải là vấn đề cấp bách nhưng một số vấn đề về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội đã được
đề cập một cách gián tiếp trong các Sắc lệnh của Chủ tịch nước Hay trong các Báo cáo tổng kết mang tính chất hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn của ngành Tòa án khi nói về công tác xét xử vụ án do người chưa thành niên phạm tội cũng đã đề cập đến chính sách nhân đạo đối với người chưa thành niên phạm tội Đây là minh chứng khẳng định rằng, trong bộn bề công việc của chính quyền non trẻ nhưng với sự quan tâm của Nhà nước, các quy định của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội đã được ghi nhận cho
dù ở thời kỳ đầu còn tản mạn, chưa đầy đủ, chưa đáp ứng được đầy đủ các quyền con người, quyền công dân của người chưa thành niên phạm tội
Thứ hai, việc quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự được quy định chính thức, tập trung, chủ yếu trong Bộ luật hình sự
Trong ba lĩnh vực thể hiện nêu trên của luật hình sự thì pháp luật hình
sự thực định trong đó các quy phạm pháp luật trong Bộ luật hình sự là hình thức thể hiện chính thức, quan trọng nhất, trực tiếp, cụ thể nhất đường lối,
Trang 27chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Trước lần pháp điển hóa lần đầu tiên (Bộ luật hình sự năm 1985) Các quy phạm pháp luật về hình phạt đối với người chưa thành niên đã có từ rất sớm Từ thời kỳ phong kiến, việc quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội đã được đề cập đến trong một số bộ hình luật, điển hình
là Quốc triều hình luật (luật Hồng Đức), ví dụ tại các điều 17, điều 457 Sau Cách mạng tháng Tám thành công, các quy định này được đề cập một các tản mạn, không chính thức trong các Sắc lệnh của Chủ tịch nước hay các báo cáo tổng kết mang tính chất hướng dẫn nghiệp vụ của ngành Tòa án nói chung
Chỉ khi Bộ luật hình sự được pháp điển hóa lần đầu tiên năm 1985, những quy định về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội đã được quy định chính thức, tập trung tại chương VII: những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội (bao gồm 10 điều từ điều 57 đến điều 67) Đây là lần đầu tiên thuật ngữ người chưa thành niên được sử dụng chính thức trong
Bộ luật Đến lần pháp điển hóa lần thứ hai tại Bộ luật hình sự năm 1999 và lần sửa đổi bổ sung Bộ luật hình sự năm 2009, những quy định về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội được đề cập đến tại chương X: Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội Và đến ngày 27/11/2015, Quốc hôi khóa XIII đã thông qua Bộ luật hình sự năm 2015, trong đó vấn đề hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định tại chương XII - Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Những quy định cụ thể về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
sẽ được người viết đề cập cụ thể tại chương 2 của luận văn này)
Thứ ba, việc quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự thể hiện tính nhân đạo sâu sắc trong đường lối, chính sách pháp luật của Nhà nước đối với vấn đề người chưa thành niên phạm tội
Một trong số những quan niệm chủ đạo của người Việt xưa là trọng già, quý trẻ Vì vậy, Quốc triều hình luật đã áp dụng một số chế độ riêng cho hai
Trang 28đối tượng này Chẳng hạn: người già trên 70 tuổi, trẻ em dưới 15 tuổi nếu phạm tội thì không được tra tấn (Điều 665) và nếu phạm tội từ lưu đày trở xuống thì cho chuộc tội bằng tiền; người từ 80 tuổi trở lên, trẻ em từ 10 tuổi trở xuống phạm tội phản nghịch, giết người đáng tội chết thì tâu lên vua để xét định, nếu ăn trộm và đánh người bị thương thì cho chuộc tội bằng tiền, nếu phạm các tội khác thì được tha; người trên 90 tuổi và trẻ em dưới 7 tuổi
dù phạm tội tử hình cũng không hành hình (Điều 16) Các nhà làm luật từ thời Hậu Lê đã ý thức được rằng trẻ em cũng cần được chăm sóc kĩ càng và giáo dục đặc biệt với 3 tiêu chí: không bạo lực; không đánh đập; giáo dục tốt Với
3 tiêu chí trên để người dân biết nhà nước rất quan tâm đến trẻ em bởi trẻ em
là tương lai của đất nước là rường cột của quê hương
Thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong bối cảnh đất nước vừa giành được độc lập nhưng lại đang ở trong tình thế phải đối mặt với thù trong giặc ngoài, công tác xây dựng pháp luật gặp rất nhiều khó khăn bởi nhiệm vụ cấp bách hơn cả là phải bảo vệ được thành quả cách mạng vừa giành được Tuy vậy, một số vấn đề về người chưa thành niên phạm tội đã được đề cập đến trong các Sắc lệnh của Chủ tịch nước, trong một số báo cáo
có tính chất hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn của ngành Tòa án khi nói đến công tác xét xử vụ án người chưa thành niên phạm tội có đề cập đến chính sách nhân đạo đối với người chưa thành niên phạm tội
Từ khi Bộ luật hình sự năm 1985 được thông qua, với lần pháp điển hóa lần đầu tiên này các quy định về người chưa thành niên phạm tội lần đầu tiên đã được ghi nhận tại chương VII, với những quy định cụ thể đầy tính nhân đạo:
- Về nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội (khoản 1- Điều 59) “Việc xử lý hành vi phạm tội của người chưa thành niên chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội”
Trang 29Tại khoản 3 điều 59: Chỉ đưa người chưa thành niên phạm tội ra xét xử
và áp dụng hình phạt đối với họ trong những trường hợp cần thiết, căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa
Tại khoản 4- Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình người chưa thành niên phạm tội Khi phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên
Không xử phạt tiền và không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội
- Các hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội chỉ bao gồm:
- Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự: người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
- Về hình phạt phạt tiền: Bộ luật hình sự năm 1999 quy định áp dụng hình thức phạt tiền đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu người
đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng (Trong khi Bộ luật hình sự 1985 không quy định) Mức phạt tiền không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định
Trang 30- Về giảm mức hình phạt đã tuyên: Điều 76 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) quy định cụ thể, nhiều trường hợp giảm hình phạt, miễn chấp hành phần hình phạt còn lại Trong khi điều 66 Bộ luật hình sự năm 1985 chưa quy định cụ thể như vậy
Những quy định trên đây về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội thể hiện chính sách hình sự nhân đạo của Nhà nước Việt Nam kể từ thời phong kiến cũng như hiện nay Trong đó đặc biệt quan tâm đến yếu tố giáo dục, cải tạo, giúp đỡ người chưa thành niên sửa chữa lỗi lầm, tạo nhiều điều kiện để họ tái hòa nhập với cộng đồng, làm lại cuộc đời, trở thành những công dân có ích cho xã hội
Thứ tư, hình phạt áp dụng đối với người người chưa thành niên bao giờ cũng ở mức thấp so với người đã thành niên
Có đặc điểm này là do: Bản thân người chưa thành niên là những người
mà thể chất và tinh thần chưa phát triển đến mức hoàn thiện như người đã thành niên Chính vì thế mà pháp luật chưa trao cho họ đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của một công dân Mặt khác, do suy nghĩ chưa chín chắn, còn nông cạn nên nhận thức về tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà họ thực hiện chưa cao
Do đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi từ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi như những “cây non” vẫn có thể uốn nắn được nên thay vì áp dụng các hình phạt như đối với người đã thành niên để trừng trị, răn đe họ thì pháp luật hình sự quy định nguyên tắc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội: ưu tiên áp dụng các biện pháp ngoài hình phạt (khiển trách, hòa giải tại cộng đồng, giáo dục tại xã phường thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng để có thể cảm hóa, giáo dục họ trở thành công dân có ích cho xã hội Chỉ khi nhận thấy những biện pháp này không đảm bảo hiệu quả giáo dục, phòng ngừa thì Tòa án mới quyết định áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội (Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015)
Trang 311.2.2 Vai trò, ý nghĩa của việc quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự
Việc quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự có vai trò, ý nghĩa rất lớn không chỉ trong công tác xây dựng pháp luật mà nó còn có giá trị to lớn trong công tác thi hành pháp luật, công tác nghiên cứu trong khoa học luật hình sự Cụ thể:
Thứ nhất, việc quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề người chưa thành niên phạm tội
Từ khi nước ta giành được độc lập cho đến nay, trải qua 70 năm lịch sử nhưng trong đó hơn nửa thời gian chúng ta vẫn phải đấu tranh để bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Bằng ấy thời gian, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là lực lượng tiên phong, lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Đảng đề ra chủ trương, đường lối, chính sách và Nhà nước cụ thể hóa những chủ trương, đường lối đó vào thực tiễn cuộc sống thông qua các quy phạm pháp luật cụ thể
Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý của người chưa thành niên, trên cơ
sở niềm tin vào khả năng cải tạo, giáo dục người chưa thành niên phạm tội, với chính sách nhân đạo của mình, Đảng và Nhà nước luôn mong muốn giúp
họ tích cực cải tạo, sửa chữa sai lầm để trở thành người có ích cho xã hội Chính sách này được cụ thể hóa tại điều 69 - Bộ luật hình sự năm 1999: trong mọi trường hợp, việc điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền phải xác định cho được khả năng nhận thức của họ về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, điều kiện gây ra tội phạm Nguyên tắc này thể hiện chính sách hình sự nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình xử lý người chưa thành niên phạm tội
Trang 32Thứ hai, việc quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự có vai trò và ý nghĩa bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên phạm tội
Quyền con người là những quyền tự nhiên của con người có được từ khi sinh ra và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ một chính thể nào Theo Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền của Liên hợp quốc thì con người có
3 nhóm quyền cơ bản gồm: quyền dân sự; quyền chính trị; quyền kinh tế, xã hội và văn hóa Trên cơ sở pháp luật quốc tế về quyền con người, Việt Nam cũng đã thực hiện việc “nội luật hóa” chế định này trong đường lối, chính sách pháp luật của mình trong đó có việc bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên phạm tội:
“ Hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người” là phương hướng cải cách tư pháp đã được Bộ Chính trị đưa ra tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 cũng khẳng định: quyền con người được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Quyền con người chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự,
an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng
Việc quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự (thể hiện tập trung, chủ yếu nhất trong Bộ luật hình sự) với những quy định tuân thủ nghiêm chỉnh việc bảo vệ quyền con người từ pháp luật quốc tế cũng như chính sách hình sự của Đảng và Hiến pháp của nhà nước Cụ thể:
Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội
Trang 33Khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần hạn chế áp dụng hình phạt tù Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng
Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội [25, Điều 69, Khoản 5]
Thứ ba, việc quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự có vai trò ngăn ngừa sự vi phạm quyền của người chưa thành niên phạm tội từ các chủ thể tiến hành tố tụng có thẩm quyền
Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội phải dựa trên cơ sở pháp luật hình sự thực định, cụ thể là Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự Để đảm bảo quyền của người chưa thành niên trong quá trình xử lý hành vi phạm tội của họ đồng thời chống lại sự vi phạm quyền của người chưa thành niên từ phía cơ quan công quyền đòi hỏi phải xác định một cách khoa học về tổ chức, con người, quy trình, thủ tục cũng như những yêu cầu thiết yếu và những mối quan hệ giữa các chủ thể tiến hành tố tụng với nhau
Bộ luật hình sự năm 1999 (đã sửa đổi bổ sung năm 2009) và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 là những văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực quy định trực tiếp về hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội cũng như trình tự, thủ tục xử lý hành vi phạm tội do người chưa thành niên phạm tội thực hiện Cụ thể: những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội quy đinh tại chương X - Bộ luật hình sự năm 1999 đã sửa đổi, bổ sung năm 2009; Còn chương XXXII Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì quy định về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên Trên cơ sở những quy định này, những cơ quan tiến hành tố tụng (điều tra, viện kiểm sát,
Trang 34tòa án) và những người trực tiếp tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội do người chưa thành niên phạm tội phải tuân thủ đầy đủ những quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật trên Chính bởi những quy định cụ thể, chặt chẽ đó mà các cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành xử lý vụ án một cách kịp thời, khách quan, công tâm, không bỏ lọt tội phạm cũng như không làm oan người vô tội Việc quy định sự tham gia của người bào chữa, gia đình, nhà trường, tổ chức trong vụ án do người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội đảm bảo sự giám sát của gia đình, xã hội, của các tổ chức đối với việc thi hành pháp luật của các cơ quan tiến hành
tố tụng càng đảm bảo việc thực hiện nghiêm minh các quy định của pháp luật trong xử lý người chưa thành niên phạm tội, tránh sự vi phạm quyền của người chưa thành niên phạm tội từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng vì bất
Do người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất
và tinh thần, kinh nghiệm sống, khả năng nhận thức, còn nhiều hạn chế nhưng họ lại luôn muốn khẳng định mình và muốn được đánh giá như người lớn Đây cũng là đối tượng rất dễ bị kích động, rủ rê, lôi kéo vào hoạt động vi phạm pháp luật trong đó có việc thực hiện tội phạm Tuy nhiên, đây cũng là
“cây non” nên còn có thể uốn nắn, cải tạo, giáo dục để trở thành những người
có ích cho xã hội Chính bởi những đặc điểm này mà pháp luật hình sự quy định đường lối xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội mang đầy tính
Trang 35nhân đạo, đặc biệt quan tâm đến yếu tố giáo dục, cải tạo, giúp đỡ họ sửa chữa lỗi lầm, tạo nhiều điều kiện để họ tái hòa nhập với cộng đồng, có cơ hội “làm lại cuộc đời”, trở thành những công dân có ích cho xã hội
Việc quy định: “Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội” không chỉ thể hiện tính nhân đạo sâu sắc trong đường lối xử lý người chưa thành niên phạm tội: không bắt họ phải trả giá bằng hình phạt cao nhất, không tước đoạt mạng sống của họ dù họ có phạm tội nghiêm trọng đến mức nào mà là mở cho họ con đường sống, con đường hoàn lương sau thời gian cải tạo trong trại giam
Hay nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội: “Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội”
Do người chưa thành niên phạm tội khi đang còn ở giai đoạn mà thể chất và tinh thần đều chưa phát triển hoàn thiện Pháp luật quốc tế cũng như luật Bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 2004 đều gọi lứa tuổi dưới 18 là trẻ em Do đó, nếu áp dụng hình phạt như đối với người đã trưởng thành thì là điều bất bình đẳng, là vi phạm quyền con người Chính vì thế, việc quy định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự có vai trò,
ý nghĩa nhân văn sâu sắc là thế
1.3 Hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự một số nước trên thế giới
Người chưa thành niên phạm tội là một hiện tượng, một thực tế tồn tại
ở tất cả các quốc gia trên thế giới Một hoạt động mà các nước trên toàn cầu đang nỗ lực thực hiện là tìm mọi cách bảo đảm hệ thống pháp luật áp dụng đối với người chưa thành niên ở quốc gia mình phải tuân thủ theo đúng luật quốc tế về quyền con người Theo đó, từ năm 1989 khi Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua và các quốc gia phê
Trang 36chuẩn thì với tốc độ quốc tế hóa ngày càng cao, các nước trên thế giới đã và đang đưa những nguyên tắc quốc tế vào các luật và chính sách quốc gia Đi kèm với nó là việc tăng cường bảo vệ các quyền của trẻ em trong hoạt động của các cơ quan và chương trình của Liên hợp quốc
Cũng như ở Việt Nam, việc quy định hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật mỗi quốc gia đều tuân thủ pháp luật quốc tế về quyền con người, quyền trẻ em Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia việc quy định hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên trong luật hình sự là không giống nhau tùy thuộc vào những điều kiện tập quán, pháp luật của mỗi nước:
1.3.1 Hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Trung Quốc
Là quốc gia láng giềng, lại là nước có ảnh hưởng rất lớn đối với nước ta
về văn hóa từ hàng nghìn năm trước, những quy đinh về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với luật hình sự Việt Nam trong chính sách nhân đạo đối với người chưa thành niên, trong đó có chính sách rất độc đáo trong áp dụng hình phạt tử hình Cụ thể:
Điều 44 Bộ luật hình sự Trung Quốc năm 1979 quy định không áp dụng hình phạt tử hình đối với những người chưa đủ 18 tuổi vào thời điểm họ thực hiện hành vi phạm tội Tuy nhiên, người từ đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng vẫn có thể bị kết án tử hình và bản án này
sẽ được “treo” trong thời hạn hai năm Đây là quy định khá độc đáo, riêng có
ở Trung Quốc Với quy định này, người phạm tội có cơ hội sống Theo đó, nếu phạm nhân thực sự hối hận về hành vi phạm tội của mình thì khi hết hai năm, án tử hình sẽ được giảm xuống thành tù chung thân Nếu phạm nhân thực sự hối hận, lại lập được thành tích đáng ca ngợi, hình phạt sẽ được giảm
Trang 37xuống tù có thời hạn với mức đa là 20 năm, tối thiểu là 15 năm tính từ sau khi hết hạn hai năm Trong trường hợp có bằng chứng cho thấy phạm nhân chống lại việc cải tạo một cách rõ ràng thì hình phạt tử hình sẽ được thực hiện với sự đồng ý của Tòa án nhân dân tối cao
Quy định độc đáo này vẫn được quy đinh trong Bộ luật hình sự Trung Quốc năm 1997 Tuy nhiên điều luật này không còn ý nghĩa đối với người chưa thành niên phạm tội bởi lẽ, điều 49 Bộ luật hình sự năm 1997 đã quy định cấm
áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa đủ 18 tuổi vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Sửa đổi này của pháp luật hình sự Trung Quốc phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế của Trung Quốc và cũng chính bởi lý do nước này đã phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em vào ngày 31/01/1992
Năm 2011 Trung Quốc sửa đổi luật hình sự, với bản sửa đổi lần VIII cho thấy một thay đổi trong quyết định lựa chọn giá trị của cơ quan lập pháp Trung Quốc Nếu như trước đây, luật hình sự nói chung và bản án tử hình nói riêng được sử dụng như một công cụ để duy trì trật tự xã hội, thì những sửa đổi năm
2011 dường như cho thấy cơ quan lập pháp Trung Quốc bắt đầu xem xét lại lựa chọn giá trị của mình khi ban hành luật, và chuyển đổi trọng tâm từ chỗ duy trì trật tự xã hội, sang đạt đến sự cân bằng giữa trật tự xã hội và quyền con người
Một điểm mới đáng chú ý trong bản sửa đổi VIII là sự khoan dung của pháp luật Trung Quốc đối với những người chưa thành niên: Điều 19 của luật sửa đổi quy định, người phạm tội dưới 18 tuổi tại thời điểm gây án và nhận án dưới 5 năm tù không có trách nhiệm khai báo với đơn vị liên quan về tiền án của mình khi đăng ký tòng quân hay đi xin việc
1.3.2 Hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Thái Lan
Ngày 28/01/1952 Thái Lan đã thành lập Tòa án người chưa thành niên trung ương Mục đích của việc thành lập tòa án giành riêng cho đối
Trang 38tượng người chưa thành niên bị nghi ngờ phạm tội là giành cho họ trình tự thủ tục tố tụng đặc biệt, với những biện pháp xử lý đặc biệt khi họ vi phạm pháp luật hình sự
Theo quy định tại Bộ luật hình sự Thái Lan (điều 72) thì một đứa trẻ chưa đến 7 tuổi cũng có thể bị áp dụng hình phạt vì những tội đã được pháp luật quy định Trẻ em từ 7 đến 14 tuổi nếu phạm tội cũng bị xét xử và có thể phải chịu hình phạt tù nhưng Tòa án người chưa thành niên sẽ quyết định biện pháp xử lý đặc biệt bằng cách đưa người chưa thành niên phạm tội vào một trường cải tạo hoặc gửi trẻ em đó cho một người hay một cơ quan nào mà Tòa
án thấy có khả năng thích hợp với việc cải tạo, giáo dục trẻ em đó (điều 74 Bộ luật hình sự Thái Lan) Người chưa thành niên từ 14 đến 17 tuổi có thể bị phạt
và được hưởng hình phạt đặc biệt Đối với những đối tượng này, trước khi xét
xử, tuyên án, Tòa án bao giờ cũng xem xét kỹ đến nhân thân, hoàn cảnh gia đình cũng như môi trường sống của người phạm tội
Pháp luật hình sự Thái Lan đã từng quy định áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội trên 17 tuổi Năm 2003, Thái Lan đã sửa đổi quy định này theo hướng cấm tuyên án tử hình hoặc tù chung thân đối với người chưa đủ 18 tuổi vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Mức phạt tù tối đa giành cho những đối tượng này là 50 năm tù Trong trường hợp
họ bị kết án tử hình hoặc tù chung thân thì hình phạt giành cho họ sẽ tự động giảm xuống còn 50 năm tù
Trong quá trình tiến hành tố tụng tại tòa án, việc bảo vệ quyền của người chưa thành niên được thực hiện nghiêm túc: Hội đồng xét xử người chưa thành niên gồm 2 thẩm phán 2 hội thẩm nhân dân, trong đó bắt buộc một hội thẩm phải là nữ Phiên tòa xét xử phải được xử kín; Chỉ có một số đối tượng sau mới được tham gia phiên tòa: người chưa thành niên với tư cách là
bị cáo, người bào chữa, cha mẹ hoặc người giám hộ, cán bộ tòa án, công tố
Trang 39viên, bị hai, nhân chứng, người phiên dịch, cán bộ công tác xã hội, người khác khi được Tòa cho phép Mục đích tố tụng đối với các đối tượng này là tạo cơ hội sửa chữa, thay đổi hành vi và mong muốn sau cùng là giúp họ trở thành những công dân tốt cho xã hội chứ không nhằm mục đích xử phạt người chưa thành niên như xử phạt người đã thành niên phạm tội
Như vậy, ngay từ rất sớm (năm 1952) pháp luật hình sự Thái Lan đã có những quy định tiến bộ vượt trội trong cả luật hình sự cũng như tố tụng hình
sự trong việc xử lý người chưa thành niên phạm tội với những quy định, trình
tự tố tụng hết sức nhân đạo Tuy nhiên, đối với những người chưa thành niên phạm tội rất nghiêm trọng thì vẫn có thể bị phạt tử hình hoặc tù chung thân (mặc dù án của họ sẽ tự động được giảm xuống còn 50 năm) trong khi Việt Nam không áp dụng hình phạt tử hình hoặc tù chung thân đối với người chưa thành niên phạm tội và dù họ phạm tội nghiêm trọng đến đâu thì mức hình phạt tù có thời hạn cao nhất mà họ phải chịu chỉ là 18 năm
1.3.3 Trong pháp luật hình sự Nhật Bản
Tuổi trưởng thành của người Nhật Bản theo quy định là 20 tuổi Như vậy thì dưới 20 tuổi được coi là người chưa thành niên Có lẽ đây là quốc gia duy nhất trên thế giới quy định tuổi trưởng thành đến tận 20 tuổi Ở Nhật Bản
có Luật người chưa thành niên Mục đích của Luật người chưa thành niên là không trừng phạt những người chưa thành niên phạm tội mà “giúp đỡ cho họ phát triển tốt, tiến hành những biện pháp bảo vệ để thay đổi tính cách của người chưa thành niên phạm tội và tạo ra môi trường giáo dục để điều chỉnh người chưa thành niên đã chót mắc phải sai lầm”
Tòa án gia đình ở Nhật Bản có chức năng giải quyết các vụ việc liên quan đến người dưới 20 tuổi Bộ luật Tố tụng hình sự của Nhật Bản quy định chức năng điều tra thuộc cảnh sát và cơ quan công tố Thời gian tạm giam chờ xét xử tối đa là 4 tuần Luật người chưa thành niên của Nhật Bản cho phép
Trang 40người chưa thành niên khi bị đưa ra xét xử tại Tòa án gia đình được phép có một hoặc hai người đại diện Người đại diện không nhất thiết phải là luật sư
mà có thể là giáo viên hoặc người làm công tác xã hội Luật không quy định trình tự tiến hành tố tụng cụ thể mà chỉ quy định chung chung rằng Tòa án gia đình phải tiến hành xét xử trên cơ sở “chân tình, có lợi” cho người chưa thành niên và “cần cố gắng để bảo vệ cho được những thuộc tính cao đẹp nhất của người chưa thành niên và để cho người chưa thành niên có niềm tin” và việc xét xử cần được tiến hành công khai
Mặc dù quy định những người dưới 20 tuổi là chưa thành niên nhưng Nhật Bản vẫn quy định người chưa thành niên ở độ tuổi 18, 19 vẫn có thể bị tuyên án tử hình: Tháng 4-2008, Tòa án Hiroshima đã tuyên án tử hình Takayuki Fukuda chỉ một tháng sau sinh nhật lần thứ 18 của anh này (tức là mới đang bước sang tuổi 19) Takayuki Fukuda đã hiếp dâm và giết chết một phụ nữ cùng đứa con nhỏ của chị Những quy định này của pháp luật Nhật Bản vẫn phù hợp với Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em và Công
ước về các quyền dân sự và chính trị mà Nhật Bản là thành viên
1.3.4 Pháp luật Cộng hòa Pháp về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Là một quốc gia gần trung tâm của châu Âu, cộng hòa Pháp cũng là nước có nền dân chủ phát triển vào loại sớm nhất châu lục này Ở Pháp, vấn
đề hình phạt đối với vấn đề người chưa thành niên phạm tội được quy định trong luật hình sự và luật tố tụng hình sự Chế định trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội luôn gắn liền với chế định thẩm phán vị thành niên - thẩm phán có thẩm quyền xét xử người chưa thành niên phạm tội Đầu thế kỷ XX (năm 1912), Tòa án vị thành niên đã được thành lập ở Pháp và đến năm 1940 chế định Thẩm phán vị thành niên đã được ghi nhận chính thức trong Bộ luật tố tụng hình sự Pháp Việc xét xử người chưa thành niên phạm