1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Nghiên cứu xây dựng chuỗi cung ứng sản phẩm gạo xuất khẩu của các tỉnh khu vực tây bắc

76 327 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn nghiên cứu gồm 04 chương, bố cục như sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận về chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng xuất khẩu và chuỗi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ

CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ

CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN TIẾN DŨNG

XÁC NHẬN CỦA

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

TS Nguyễn Tiến Dũng

XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ CHẤM LUẬN VĂN

PGS.TS Hà Văn Hội

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam kết luận văn này do chính tôi thực hiện Tên đề tài tôi lựa chọn chưa được thực hiện, nghiên cứu bởi bất cứ tác giả nào trước đây Toàn bộ thông tin, dữ liệu và nội dung trình bày trong luận văn không vi phạm bản quyền hoặc sao chép bất hợp pháp dưới bất cứ hình thức nào Bằng cam kết này, tôi xin chịu trách nhiệm với những vi phạm của mình nếu có

Người cam đoan

Vũ Bảo Chung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Tiến Dũng đã hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này Xin cảm ơn các Thầy, Cô giảng viên đã tham gia đào tạo lớp cao học K24/ QH-2015-E KTQT và các bạn cùng lớp đã giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học và luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn điều phối viên Chương trình của Khoa, các Thầy,

Cô phòng Đào tạo đã giúp đỡ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

và nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn./

Trang 5

TÓM TẮT

Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận mô hình chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu

khu vực Tây Bắc Phân tích đánh giá thực trạng xuất khẩu và chuỗi cung ứng gạo

các tỉnh khu vực Tây Bắc Đề xuất mô hình chuỗi cung ứng cho gạo xuất khẩu và

các chính sách và giải pháp để phát triển chuỗi cung ứng sản phẩm gạo xuất khẩu

cho khu vực Tây Bắc

Luận văn nghiên cứu gồm 04 chương, bố cục như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng xuất khẩu và chuỗi cung ứng gạo của các tỉnh khu vực

Tây Bắc trong thời gian qua

Chương 4: Kiến nghị về mô hình chuỗi cung ứng sản phẩm gạo xuất khẩu

Bạn bổ sung thêm kế hoạch nghiên cứu

Trang 6

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG GẠO XUẤT KHẨU 3

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài 3

1.2 Cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng 7

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 7

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng 14

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Quy trình nghiên cứu 17

2.2 Đề tài sử dụng cả các nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp 18

2.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp 18

2.2.2 Phương pháp thống kê 18

2.2.3 Phương pháp xử lý dữ liệu 19

2.3 Kỹ thuật sử dụng và công cụ sử dụng 20

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU VÀ CÁC CHUỖI CUNG ỨNG GẠO XUẤT KHẨU CỦA CÁC TỈNH KHU VỰC TÂY BẮC 21

3.1 Khái quát về khu vực Tây Bắc 21

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên khu vực Tây Bắc 21

3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội khu vực Tây Bắc trong những năm qua 22

3.2 Thực trạng xuất khẩu gạo của các tỉnh khu vực Tây Bắc 22 3.3 Phân tích thực trạng chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của các tỉnh khu

Trang 7

vực Tây Bắc hiện nay 26

3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến các chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của các tỉnh khu vực Tây Bắc 30

3.4.1 Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô 30

3.4.2 Các nhân tố thuộc nội bộ chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của các tỉnh khu vực Tây Bắc 36

3.5 Đánh giá chung thực trạng chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của các tỉnh khu vực Tây Bắc hiện nay 42

3.5.1 Những thành công 42

3.5.2 Những hạn chế 42

CHƯƠNG 4: KIẾN NGHỊ XÂY DỰNG CHUỖI CUNG ỨNG GẠO XUẤT KHẨU CHO CÁC TỈNH KHU VỰC TÂY BẮC 45

4.1 Đề xuất mô hình và chính sách phát triển mô hình chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của các tỉnh khu vực Tây Bắc 45

4.1.1 Đề xuất mô hình SC sản phẩm gạo xuất khẩu cho các tỉnh khu vực Tây Bắc 45

4.1.2 Một số hàm ý chính sách phát triển mô hình chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu cho các tỉnh khu vực Tây Bắc 47

4.2 Một số kiến nghị để vận hành và phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của các tỉnh khu vực Tây Bắc 59

4.2.1 Kiến nghị với các Bộ 59

4.3.2 Kiến nghị với Hiệp hội, ngành nghề 60

KẾT LUẬN 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 8

11 Hazard Analysis và Critical

Trang 9

STT Ký hiệu Nguyên nghĩa

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

7 Hình 3.3 Khái quát quy trình thu mua, chế biến, cung cấp

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Khu vực Tây Bắc - phạm vi chỉ đạo trực tiếp của Ban Chỉ đạo Tây Bắc gồm

12 tỉnh (Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Phú Thọ, Tuyên Quang) và 21 huyện phía tây của hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An Đây cũng là địa bàn sinh sống của trên 11,6 triệu người thuộc hơn 30 dân tộc anh em, trong đó khoảng 63% là đồng bào các dân tộc thiểu số Khu vực Tây Bắc giàu có tiềm năng, với lợi thế phát triển nông, lâm nghiệp, thủy điện, khoáng sản, du lịch và kinh tế cửa khẩu Đây là nơi có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên thiết yếu đối với sự phát triển bền vững của Vùng và của cả nước Tây Bắc là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng của đất nước Hiện nay các tỉnh thuộc khu vực Tây Bắc đã có những sự quan tâm, chú trọng đến việc xây dựng các chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của địa phương mình Tuy nhiên, các địa phương còn khá lúng túng trong việc triển khai xây dựng và vận hành chuỗi cung ứng cả về mặt cơ chế, chính sách, tài chính và con người Vấn đề chính sách nhằm phát triển chuỗi cung ứng sản phẩm gạo xuất khẩu chưa thực sự nhắm trúng và lượng hóa hết các rủi ro có thể gặp phải, mới chỉ mang tính đối phó đối với từng thời kỳ, chưa có tính chiến lược lâu dài; vấn đề xây dựng quy hoạch vùng cung ứng, sản xuất, chế biến, thương mại đối với sản phẩm lúa gạo vùng Tây Bắc thực sự đang bị bỏ ngỏ; cơ chế phối hợp giữa nhà nước, nhà nông và các tác nhân khác trong chuỗi giá trị là chưa hiệu quả, đôi khi còn làm hạn chế sự phát triển của chuỗi; việc nhận diện và đánh giá các rủi ro trong chuỗi giá trị gạo nhằm chủ động đối phó và tận dụng thời cơ chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và khoa học

Với gạo đã xuất khẩu, quá trình vừa qua dễ nhận thấy còn tồn tại nhiều vấn đề: tính hiệu quả thấp, tính chuyên nghiệp không cao từ khâu tổ chức sản xuất đến khâu tổ chức tiêu thụ Hiện chủ yếu xuất khẩu theo con đường tiểu ngạch qua biên giới, không có các hỗ trợ nên thường bị ép giá, còn hiện tượng tranh mua, tranh bán ảnh hưởng đến quyền lợi của bà con nông dân, doanh nghiệp và cả sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Vì vậy việc nghiên cứu xây dựng chuỗi cung ứng sản phẩm gạo xuất khẩu

Trang 13

của các tỉnh khu vực Tây Bắc có ý nghĩa vô cùng quan trọng thực hiện mục tiêu

phát triển bền vững khu vực Tây Bắc nước ta

2 Mục tiêu của đề tài

- Xây dựng khung phân tích mô hình chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu khu vực

Tây Bắc

- Đề xuất mô hình chuỗi cung ứng cho gạo xuất khẩu khu vực Tây Bắc

- Đề xuất các chính sách để phát triển chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu cho

khu vực Tây Bắc

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Những vấn đề lý luận về khung phân tích chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu

(những loại gạo được trồng tại khu vực Tây Bắc); những vấn đề thực tiễn và các

yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng và vận hành chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về mặt không gian: đề tài tập trung nghiên cứu các chuỗi cung ứng gạo

chủ lực của một số tỉnh có thế mạnh trong sản xuất các sản phẩm gạo của khu vực

Tây Bắc cụ thể là: Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Cao

Bằng và Hà Giang

- Về mặt thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng, thực

trạng xuất khẩu gạo, chuỗi cung ứng các gạo khu vực Tây Bắc từ năm 2013 đến

2015

4 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, danh mục các bảng biểu, kết luận, tài liệu tham khảo và

phụ lục đề tài được kết cấu thành 4 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng xuất khẩu và chuỗi cung ứng gạo của các tỉnh khu vực

Tây Bắc trong thời gian qua

Chương 4: Kiến nghị về mô hình chuỗi cung ứng sản phẩm gạo xuất khẩu

Bạn bổ sung thêm kế hoạch nghiên cứu

Trang 14

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG GẠO

XUẤT KHẨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài

Từ thế kỷ XX, nhất là từ cuối thế kỷ XX đến nay, những vấn đề về phát triển bền vững và xây dựng các chuỗi cung ứng sản phẩm xuất khẩu để phát triển bền vững các khu vực thu hút được nhiều nghiên cứu của các học giả Thuật ngữ Supply Chain Management (SCM) vẫn còn khá mới mẻ đối với phần lớn các công ty, mặc

dù nó đang trở thành “mốt thời thượng” trong các hoạt động kinh doanh hiện đại SCM là một giai đoạn phát triển của lĩnh vực Logistic (hậu cần) Uỷ ban kinh tế và

xã hội châu Á Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and

the Pacific - ESCAP) ghi nhận Logistics đã phát triển qua 3 giai đoạn: Giai đoạn 1:

Phân phối (Distribution); Giai đoạn 2: Hệ thống Logistics ; Giai đoạn 3: Quản trị chuỗi cung ứng (SCM) Theo ESCAP thì đây là khái niệm mang tính chiến lược

về quản trị chuỗi quan hệ từ nhà cung cấp nguyên liệu - đơn vị sản xuất - đến người tiêu dùng Khái niệm SCM chú trọng việc phát triển các mối quan hệ với đối tác, kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất với nhà cung cấp, người tiêu dùng và các bên liên quan như các công ty vận tải, kho bãi, giao nhận và các công ty công nghệ thông tin

Đoàn Thị Hồng Vân và cộng sự (2011), “Nghiên cứu chuỗi cung ứng và giải pháp để các doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu”, Đề tài KHCN cấp Bộ mã số B2008-09-51 Công trình đã nghiên cứu về mặt lý thuyết

và thực tiễn về chuỗi cung ứng, các yếu tố cấu thành nên chuỗi cung ứng Đề tài cũng đã chỉ ra xu thế và lợi ích của việc tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu Bằng thực tiễn khảo sát đã cho thấy những cơ hội và yếu tố giúp Việt Nam có thể tham gia tốt chuỗi cung ứng toàn cầu đối với một số ngành hàng trong đó đặc biệt là các sản phẩm nông nghiệp Đề tài cũng đã chỉ ra những yếu kém và khó khăn đối với Việt Nam khi tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu Từ đó nhóm tác giả gợi ý một số các chính sách nhằm nâng cao vị thế cũng như giải pháp nhằm đưa một số ngành hàng Việt Nam hòa nhập vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Trang 15

Nghiên cứu của John Humphrey, 2006, Working paper “Global value chains

in the agrifood sector” form Research Project “Global Value Chains and Production

Networks: Prospects for Upgrading by Developing Countries” of United Nations Industrial Development Organization Công trình này tạo ra một khung phân tích mối liên kết (hệ) giữa các công ty trong lĩnh vực kinh doanh nông nghiệp toàn cầu, đặt nông nghiệp sản xuất và chế biến trong nông nghiệp ở các quốc gia đang phát triển trong bối cảnh năng động của các hệ thống kinh doanh nông nghiệp nông sản toàn cầu rộng lớn Quan điểm chuỗi giá trị đã nêu bật các vấn đề của hệ thống hóa kiến thức về chuỗi giá trị, năng lực nhà cung cấp, các chiến lược để giảm chi phí quản lý, sự không cân đối quyền lực, và tập trung Những vấn đề này chịu ảnh hưởng bởi hai xu hướng chính trong chuỗi giá trị kinh doanh nông nghiệp là tầm quan trọng ngày càng tăng của các tiêu chuẩn và sự gia tăng tính tập trung trong quản lý là hai kết quả nghiên cứu chính của nghiên cứu này

Báo cáo dự án nghiên cứu của United Nations Industrial Development

Organization, 2009, Agro-value chain analysis and development The UNIDO

Approach” Báo cáo này mô tả cách tiếp cận phân tích chuỗi giá trị nông nghiệp

được sử dụng như một công cụ phương pháp luận để đạt được một sự hiểu biết đầy

đủ của cấu trúc và chức năng của chuỗi giá trị và do đó nhận dạng và thiết kế các giải pháp can thiệp tốt hơn đối với phát triển nông nghiệp Ngoài ra, nó cung cấp cho độc giả các ví dụ được lựa chọn về kinh nghiệm của UNIDO trong hỗ trợ sự phát triển của chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhà hoạch định chính sách tập trung ngày càng nhiều vào sự phát triển của nông nghiệp với trọng tâm nhấn mạnh và sự thúc đẩy chuỗi giá trị nông nghiệp hiệu quả như một phương tiện để mở rộng hơn nữa vai trò chủ đạo của nông nghiệp trong phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo

Nghiên cứu về chuỗi cung ứng gạo của Guyana thực hiện bởi World Bank,

2011, “Guyana Rice Supply Chain Risk Assessment” Nghiên cứu này đánh giá các

rủi ro đối với chuỗi cung ứng gạo của Guyana bằng mô hình đánh giá chuỗi cung ứng nông nghiệp của World Bank (2010) gồm 6 bước: chuẩn bị đánh giá thực

Trang 16

nghiệm, đánh giá thực nghiệm sơ bộ, khảo sát thực nghiệm và phỏng vấn các bên liên quan, phỏng vấn các bên liên quan lần cuối và tổng kết, đưa ra đánh giá và đề xuất, công bố kết quả Công trình đã cung cấp thông tin tổng quan về ngành gạo cũng như cấu trúc chuỗi cung ứng gạo của quốc gia này Những khó khăn cản trở đối với chuỗi cung ứng gạo của Guyana đã được đề cập đến trong công trình này như nguồn tài chính và chi phí vận chuyển cao Các rủi ro được phân tích được chia làm 3 nhóm chính: rủi ro liên quan đến sản xuất, rủi ro liên quan đến thị trường, và rủi ro về chi phí vận chuyển

Báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 2002 về chuỗi giá trị gạo ở Campuchia

đã phân tích các dữ liệu thứ cấp, đi thực tế và phỏng vấn trực tiếp các tác nhân tham gia vào tất cả các khâu của chuỗi giá trị lúa gạo Báo cáo trình bày kết quả nghiên cứu chuỗi giá trị gạo ở Campuchia:

 Đánh giá thực tế (trở ngại, chi phí, hiệu quả và chất lượng) của các thị trường gạo và chuỗi giá trị ngành gạo ở Campuchia thông qua việc trình bày các vấn đề và đưa ra các giải pháp, chiến lược và thực tế để nâng cao sự cạnh tranh của ngành gạo

 Tập trung phân tích các chính sách, chiến lược và tình hình thực tế có lợi ích như thế nào đối với nhóm dân số nghèo hơn tham gia vào chuỗi giá trị lúa gạo như người nông dân

 Tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến chất lượng và quảng bá sản phẩm trên thị trường quốc tế mang tính chiến lược để tăng giá trị gia tăng nội địa Kết quả nghiên cứu cho thấy cần nâng cao sản lượng ngành lúa gạo

 Campuchia có tiềm năng xuất khẩu nhiều loại gạo có chất lượng cao

 Campuchia thiếu cơ sở hạ tầng và các định chế để phát triển ngành lúa gạo Trong khi đó các cơ quan nhà nước giữ vai trò quyết định trong việc xây dựng cơ sở

hạ tầng và hệ thống tưới tiêu

 Lúa gạo xuất khẩu tập trung vào vụ Đông Xuân, vụ Thu Đông chủ yếu phục

vụ cho tiêu thụ trong nước

 Các chính sách khuyến khích sản xuất lúa gạo cần được kết hợp với các

Trang 17

chính sách đa dạng hoá mùa vụ để giảm bớt đói nghèo ở vùng nông thôn

Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Sơn (2011) đã phân tích chuỗi giá trị lúa gạo của đồng bằng sông Cửu Long qua các khâu đầu vào (giống, phân bón, thuốc trừ sâu…) đến khâu sản xuất (nông dân, câu lạc bộ nông dân), khâu thu gom (thương lái, hàng xáo), khâu chế biến (nhà máy xay xát, lau bóng) và khâu thương mại (bán sỉ/lẻ trong nước và xuất khẩu); Kết quả nghiên cứu của các tác giả nói trên được tổng hợp lại như sau:

1, Hoạt động chuỗi giá trị lúa gạo ở ĐBSCL còn qua nhiều khâu trung gian, điều này dẫn đến quản lý chuỗi cung ứng yếu kém từ đầu vào đến đầu ra cũng như quản lý chất lượng từ đầu ra trở về đầu vào

2, Đối với chuỗi giá trị lúa gạo xuất khẩu, tính toán kinh tế chuỗi mới chỉ dừng lại ở công ty xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam, ít nhất 3 tác nhân khác (công ty nhập khẩu, bán sỉ và bán lẻ ở nước ngoài) không thể tính toán được => Xuất khẩu càng nhiều lúa gạo đồng nghĩa với việc xuất khẩu tài nguyên quốc gia (lao động, chất xám, độ mầu mỡ đất, ô nhiễm môi trường, ) mà người sản xuất trực tiếp hưởng lợi rất ít so với các tác nhân thương mại ở nước ngoài, đặc biệt là người trồng lúa

3, Còn nhiều khó khăn trong hậu cần của toàn chuỗi giá trị lúa gạo (lệ thuộc nhiều vào thương lái nhưng đối tượng này không có kho bãi dự trữ, công suất tầu ghe thấp, bảo quản còn hạn chế, ảnh hưởng chất lượng lúa gạo)

4, Có 7 rủi ro liên quan đến chuỗi giá trị lúa gạo (thời tiết, thảm họa, sinh học

& ô nhiễm, biến động thị trường, chính sách & thể chế, hậu cần, do quản lý của tác nhân),trong đó rủi ro về mặt thị trường (chủ yếu là giá cả) tác động lớn nhất đến tất

cả các tác nhân trong các chuỗi ngành hàng, rủi ro này được quản lý tốt hơn đối với công ty xuất khẩu và công ty lau bóng so với các tác nhân khác trong chuỗi Riêng tác động của chính sách thì nông dân là người gánh vác lớn nhất từ tất cả các chính sách chất lượng, tín dụng, xuất khẩu, thuế, khuyến nông, thủy lợi và môi trường

Đi sâu vào nghiên cứu lúa gạo của một tỉnh (Kiên Giang), các tác giả Nguyễn Thị Trâm Anh và Bạch Ngọc Vân (2012) Dựa trên mô hình ValueLinks của GTZ và

Trang 18

phỏng vấn trực tiếp 150 đại diện các tác nhân tham gia chuỗi giá trị xuất khẩu gạo tỉnh Kiên Giang bao gồm cung cấp đầu vào, sản xuất, thu mua, chế biến, marketing

và bán hàng Nghiên cứu này đã: 1, Tìm hiểu chuỗi giá trị gạo xuất khẩu tỉnh Kiên Giang; 2, Phân tích những điểm mạnh và điểm yếu trong quá trình phát triển xuất khẩu gạo ở Kiên Giang theo mô hình chuỗi giá trị; 3, Đề xuất tổ chức lại hệ thống sản xuất theo mô hình chuỗi giá trị Các kết luận rút ra từ nghiên cứu bao gồm:

1, Kiên Giang là một tỉnh có lợi thế và tiềm năng phát triển xuất khẩu gạo

Để phát triển bền vững ngành hang này thì liên kết dọc và ngang

2, Giữa các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị xuất khẩu gạo là xu thế tất yếu khách quan trong bối cảnh hội nhập kinh tế:

Liên kết dọc: Điều kiện cần và đủ để thực hiện hợp tác dọc là phải có vai trò đầu tầu của các doanh nghiệp xuất khẩu và sự tham gia của các tác nhân khác như ngân hang, Viện nghiên cứu, tổ chức Nhà nước Việc liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị gạo xuất khẩu được thực hiện thông qua hợp đồng

Liên kết ngang: Liên kết giữa các nông dân, liên kết giữa các thương lái, liên kết giữa các doanh nghiệp đầu mối xuất khẩu gạo

Muốn liên kết thành công, vai trò của các cơ quan hữu quan rất quan trọng thông qua việc ban hành khung pháp lý về hợp đồng và các tiêu chuẩn liên quan đến toàn bộ hoạt động của chuỗi nhằm đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, không ảnh hưởng đến môi trường và trách nhiệm xã hội cho người tiêu dung Như vậy đã có khá nhiều các nghiên cứu trong và ngoài nước của các nhà khoa học về mô hình chuỗi cung ứng, chuỗi cung ứng xuất khẩu và chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về mô hình chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của các tỉnh vùng Tây Bắc Các nghiên cứu trước sẽ là cơ sở để

đề tài tiếp thu và tiếp tục nghiên cứu với đặc thù của các tỉnh Vùng Tây Bắc

1.2 Cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

Trong vòng hơn ba thập kỷ gần đây, khái niệm và lý luận về quản trị kinh

Trang 19

doanh đã và đang trải qua nhiều thay đổi và phát triển Nhiều cách thức làm kinh doanh trước đây đã bị thách thức và nhiều ý tưởng, tiếp cận mới đã và đang được kiến tạo và không nghi ngờ chuỗi cung ứng (Supply Chain - từ đây viết tắt là SC ), quản trị chuỗi cung ứng (Supply Chain Management - từ đây viết tắt là SCM ) là một trong những tiếp cận quản trị mới được nổi lên và phát triển nhanh chóng ở tất

cả các ngành kinh doanh trên thế giới

1.2.1.1 Chuỗi cung ư ́ ng và mô hình chuỗi cung ứng

Những khái niệm khác nhau về chuỗi cung ứng trên đều cho thấy một SC có

2 đặc điểm chung sau:

Thứ nhất, SC bao gồm tập hợp các tổ chức - các thành viên liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng về một sản phẩm hoặc dịch vụ

Thứ hai, các khâu chính của một chuỗi bao gồm: cung cấp, sản xuất, phân phối và thu hồi Các thành viên tham gia vào các khâu này phải liên kết với nhau nhằm thỏa mãn tối ưu nhu cầu của người tiêu dùng cuối cùng mục tiêu

Theo đối tượng, khách thể và mục đích nghiên cứu cùng nội hàm của SC, trong đề tài này SC được hiểu là “một nhóm các doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp,

hộ sản xuất - kinh doanh cùng tham gia và được giao kết với nhau qua đó làm gia tăng giá trị cho một nguồn các dòng ch ảy đầu vào được chuyển hóa từ nguyên gốc đầu tiên của chúng đến các sản phẩm hoặc dịch vụ cuối cùng theo yêu cầu của các NTD cuối cùng đã được xác định” Một cách trực giác, có thể hình dung 1 SC như

là một dạng thức tương đồng của “m ột chuỗi xích”, trong chúng các “mắt xích” là các doanh nghiệp, tổ chức, hộ sản xuất kinh doanh tham gia và chúng được giao kết trong một quá trình làm gia tăng giá trị (xem hình 1.1) Đường kết nối về phía thượng nguồn dòng vật chất là nhà cung cấp của nhà cung cấp, và về phía hạ nguồn dòng vật chất là các khách hàng - nhà phân phối (bán buôn, bán lẻ, XK)

Trang 20

Hình 1.1 Mô hình chuỗi cung ứng căn bản

số mọi người và ngay cả nhiều nhà nghiên cứu sẽ trả lời là có bởi NTD đưa ra thông tin về nhu cầu, cung cấp phần thưởng tài chính, … Tuy nhiên xét về thực chất và đây cũng là điểm khác biệt giữa 1 SC và một kênh marketing thì NTD cuối cùng không phải là các thành tố của SC, 1 SC chỉ kéo dài từ các nhà cung cấp các nguyên liệu thô nhất đầu tiên đến các nhà bán lẻ (nếu đó là mắt xích cuối cùng trong SC trước NTD cuối cùng) NTD cuối cùng đối với mô ̣t SC là y ếu tố quan trọng nhất của tất cả những yếu tố quản trị có liên quan Mỗi thứ trong SC đều được định hướng bởi nhu cầu và mong muốn của NTD cuối cùng Các nội dung của SCM bao gồm các tiếp cận, các hoạt động cũng như các chiến lược đều hướng tới việc cung ứng các sản phẩm và dịch vụ để thỏa mãn NTD cuối cùng Bởi vậy, có thể nói rằng SCM nên là, đã và đang luôn là quản trị được tập trung vào khách hàng Điều này

Nhà Sản Xuất

Các nhà phân phối

Nhà bán lẻ

Người tiêu dùng cuối cùng

Cung ứng giá tri ̣

Nhu cầu từ khách hàng

Trang 21

phản ánh đặc trưng điển hình “định hướng khách hàng của SC”f

Hình 1.2 Cấu hình SC theo chiều ngang và chiều dọc

(Nguồn: D M Lambert và cộng sự, 1998)

Mối giao kết dạng quản lý quy trình Mối giao kết dạng giám sát Không phải giao kết dạng quản lý quy trình Mối giao kết dạng không phải thành viên

DN tâm điểm Các thành viên trong chuỗi Các DN không phải thành viên (2) Cấu hình SC: là dạng thức bên trong của một tổ chức, bao gồm sự sắp xếp các thành viên và mối giao kết giữa các thành viên này Như vậy cấu hình SC phản ánh chiều dài, chiều rộng của chuỗi, các thành viên tham gia vào chuỗi và mối giao kết giữa các thành viên này Sự sắp xếp các thành viên theo cấp chức năng cho phép nhận diện thành viên tâm điểm (Focal member) của chuỗi (hình 1.2)

Trang 22

(3) Cấu trú c các dòng ch ảy trong SC: trong nghiên cứu này để phù hợp với

đă ̣c điểm và điều kiện kinh doanh gạo nước ta, chúng tôi vận dụng mô hình của D

Lu (2011) gồm 4 dòng chảy:dòng vật chất; dòng thông tin; dòng tài chính; dòng thương mại

1.2.1.2 Quản trị chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu

Có thể nêu một số khái niệm SCM điển hình sau:

Umeda và Jone (1998): SCM được hiểu là quản trị nguyên liệu, các dòng thông tin giữa các hoạt động trong chuỗi như nhà cung cấp, nhà sản xuất và trung tâm phân phối

Mentzer và cộng sự (2001) định nghĩa SCM là một hệ thống, sự hợp tác mang tính chiến lược của các chức năng kinh doanh có tính truyền thống và các sách lược kết hợp nội bộ các chức năng kinh doanh ở một DN thành viên cũng như trên toàn chuỗi nhằm cải thiện việc thực hiện trong dài hạn của các DN nói riêng và toàn chuỗi nói chung

D Simchi-Levi và P Kamilsky đưa ra một định nghĩa về SCM là một tệp các tiếp cận được vận dụng để tích hợp có liệu năng các nhà cung cấp, sản xuất, kho hàng và cửa hàng để hàng hóa được sản xuất và phân phối đúng số lượng, đúng địa điểm, đúng thời gian, nhằm tối thiểu hóa chi phí toàn hệ thống và thỏa mãn các yêu cầu mức dịch vụ

D Lu (2011) lại đưa ra một định nghĩa ngắn gọn, khái quát cao nhưng phản ánh đúng thực chất của SCM xét một cách đơn giản và đến cùng chính là quản trị kinh doanh với bất kỳ những gì trong bối cảnh riêng biệt của nó được thừa nhận, thông qua bởi các thành viên giao kết với nhau từ triển vọng của SC có liên quan

Từ các khái niệm trên về SCM cho phép rút ra 1 khái niệm SCM gạo xuất khẩu xuất phát từ thực chất và đặc điểm của SC gạo xuất khẩu ở Việt Nam nêu trên như sau: “SCM thực chất là quản trị kinh doanh của các thành viên trong bối cảnh giao kết với nhau trong hệ thống lấy tiêu điểm SC gạo xuất khẩu xác định và được hiểu là một quá trình hoạch định, triển khai và kiểm soát các yếu tố cấu hình, quan

hệ và phối kết chuỗi cung ứng liên quan nhằm thỏa mãn cao hơn các khách hàng và

Trang 23

qua đó mang lại hiệu quả cao và bền vững hơn các mục tiêu chiến lược kinh doanh của mỗi thành viên và toàn SC trong dài hạn”

Khái niệm trên chắc chắn đã đưa cho SCM một thực chất có tính phổ quát và phổ biến Nhưng điều đó không có nghĩa rằng không có khả năng nhận dạng có tính khác biệt của bản thân SCM Có thể nhận dạng các thành tố khái niệm rất h ữu ích trong thực hành của SCM Theo đó, bất kỳ một thực hành và hoạt động SCM nào đều được thành công bằng 3 thành tố có tính khái niệm sau: cấu hình SC; quan hệ SC; điều phối SC (xem hình 1.4) Trong đó, cấu hình SC là thành tố về 1 SC được kết cấu từ tất cả các thành viên của nó ra sao Quan hệ SC là thành tố về quan hệ các thành viên với nhau dọc theo SC Các kiểu và mức độ quan hệ được xác định bởi nội dung các trao đổi có tính tổ chức với nhau Điều phối SC bao hàm sự điều phối hoạt động các thành viên với nhau bên trong 1 SC

Hình 1.3 Mô hình khái niệm quản trị chuỗi cung ứng

- Tính linh hoạt cao

Xuất khẩu trực tiếp

- Tiếp xúc trực tiếp với thị trường

- Kiểm soát được sản phẩm, giá

- Nỗ lực bán hàng tốt hơn

Hạn chế

- Mất những cơ hội tiềm năng

- Không thể kiểm soát được

- Thiếu liên hệ trực tiếp với thị

trường

- Cần đầu tư cho các tổ chức bán

- Bị ràng buộc với thị trường nước ngoài

Trang 24

XK là phương thức đầu tiên và phổ biến nhất để xâm nhập thị trường quốc

tế Trong một số ngành, nơi mà ở đó còn phát huy lợi thế của sản xuất quy mô lớn, hoặc có một số giới hạn người mua ở thị trường nước ngoài, thì sản xuất có thể được tập trung ở một số khu vực hoặc một số địa phương nhất định và sau đó XK cho thị trường khác XK có thể được tổ chức theo nhiều cách thức khác nhau phụ thuộc vào số lượng và loại hình các trung gian thương mại Để thiết lập các kênh

XK, công ty cần phải quyết định các chức năng mà các trung gian đảm nhiệm và chức năng nào là do công ty đảm nhiệm Thông thường XK có 2 dạng chủ yếu: XK gián tiếp và XK trực tiếp (bảng 1.1)

a Xuất khẩu tiểu ngạch

Khái niệm “buôn bán tiểu ngạch” hay “mậu dịch tiểu ngạch” hay “XNK tiểu ngạch” lần đầu tiên xuất hiện trong văn kiện chính thức của Việt Nam vào năm 1954 trong Nghị định thư về việc mở mậu dịch tiểu ngạch biên giới Việt - Trung ký ngày 07/7/1954 giữa Chính phủ hai nước Việt Nam và Trung Quốc tại Bắc Kinh Năm

1955, tại Bắc Kinh, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là CHXHCN Việt Nam) và Chính phủ nước CHND Trung Hoa ký Nghị định thư về việc mậu dịch tiểu ngạch ở biên giới hai nước, thay thế Nghị định thư năm 1954, có hiệu lực từ ngày 7/7/1955 Căn cứ Nghị định thư này, ngày 24/9/1955, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ký ban hành Điều lệ quản lý mậu dịch tiểu ngạch nhân dân biên giới trong khu vực biên giới Việt - Trung số 587-TTg Đây có thể nói là văn bản pháp lý đầu tiên của Việt Nam quy định về buôn bán tiểu ngạch Tuy nhiên, quy định về “XNK tiểu ngạch” chỉ được áp dụng phổ biến tại Việt Nam trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX Ngày 8/8/1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 143/1998/QĐ-TTg về bãi bỏ chế độ thuế XNK tiểu ngạch quy định tại Quyết định số 115/HĐBT ngày 9/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng, áp dụng chế độ thuế hàng hóa XNK chính ngạch đối với hàng hóa XNK tiểu ngạch để thống nhất chế độ thu thuế

Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động XNK, gia công và đại lý mua bán hàng hóa với nước ngoài đã quy định chung là mua bán hàng hóa qua biên giới trên bộ

Trang 25

Như vậy, XNK tiểu ngạch có nghĩa là hoạt động XNK với kim ngạch nhỏ Nhưng

để xác định thế nào là kim ngạch nhỏ thì trong các quy định của Trung Quốc và Việt Nam trước đây đều không có một mức độ rõ ràng Mặc dù vậy, trước đây cả Việt Nam và Trung Quốc lại thường áp dụng về phạm vi địa lý: cho phép các DN hoặc hộ kinh doanh và cư dân biên giới trong phạm vi 20km từ biên giới hoặc là trong phạm vi xã/thị trấn/huyện biên giới được tham gia hoạt động kinh doanh XNK tiểu ngạch

Nhìn chung, các nước đều coi XNK tiểu ngạch hàng hóa qua biên giới đất liền là hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa của các DN và cư dân được tiến hàng trực tiếp tại khu vực biên giới đất liền giữa hai nước Đây là hình thức kinh tế mậu dịch được diễn ra tại khu vực biên giới đất liền của các nước láng giềng, là hình thái

mở đầu của mậu dịch quốc tế và là bộ phận quan trọng trong hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi nước Mặc dù vậy, đa số các nước đều không dùng khái niệm XNK tiểu ngạch mà thay vào đó là dùng khái niệm thương mại biên giới, buôn bán biên giới “frontier traffic”theo quy định tại Điều XXIV Hiệp định chung về Thuế quan

và Thương mại (GATT) và tại Điều 25 Quy chế Tối huệ quốc

Trong hoạt động XNK tiểu ngạch sản phẩm nông lâm qua biên giới thường

áp dụng các phương thức kinh doanh như sau: Phương pháp XNK tiểu ngạch trực tiếp; (2) Phương thức mua bán qua trung gian; (3) Phương thức kinh doanh tái XK qua biên giới; (4) Phương thức kinh doanh đối lưu; (5) Phương thức gia công quốc tế; (6) Phương thức đấu thầu quốc tế của các địa phương hai bên biên giới; (7) Phương thức mua bán tại hội chợ và triển lãm tại khu kinh tế cửa khẩu biên giới; (8) Phương thức kinh doanh tại chợ biên giới

1.2.2 Các yếu tố ảnh hươ ̉ng đến chuỗi cung ứng

1.2.2.1 Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô

- Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế: Trong xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế đã tạo ra sự tự do hóa thương mại và đầu tư với sự di chuyển dễ dàng của hàng hóa, vốn, lao động trong một quốc gia, khu vực và trên toàn thế giới Từ đó, đã tạo điều kiện cho việc phân công lao động trở nên sâu sắc và hiệu quả hơn Hơn thế

Trang 26

nữa, trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng trở nên khốc liệt, cần phải nâng cao lợi thế cạnh tranh thông qua lợi thế về chi phí và lợi thế khác biệt Như vậy, yếu

tố toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế có ảnh hưởng quan trọng đến việc hình thành chuỗi cung ứng gạo XK Ngoài ra, với sự cạnh tranh như hiện nay đã đặt ra thách thức cho chuỗi cung ứng gạo XK phải nhanh hơn trong việc đưa sản phẩm ra thị trường cùng với tỷ lệ cao hơn về sự sẵn sàng sản phẩm cho người tiêu dùng lựa chọn

- Chính sách của nhà nước: tăng cường thể chế cho phát triển nông nghiệp nói chung và trong sản xuất gạo XK nói riêng theo định hướng thị trường như: tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tài chính cung cấp đa dạng loại hình cho vay, bảo hiểm và các dịch vụ khác trong nông nghiệp, tăng cường vai trò và năng lực của hiệp hội nông dân, hiệp hội ngành hàng; hỗ trợ phát triển hợp đồng gạo giữa nông dân với doanh nghiệp, phát triển các loại hình giao dịch thị trường hiện đại sẽ thúc đẩy chuỗi cung ứng gạo XK được mở rộng hơn và phát triển một cách bền vững

- Sự phát triển của KH-CN: đã tạo ra những cơ hội và những thách thức to lớn cho chuỗi cung ứng trong đó có chuỗi cung ứng gạo XK Yếu tố này tác động đến tất cả các giai đoạn của chuỗi cung ứng, từ giai đoạn cung cấp (giống, vật tư), sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến cho đến phân phối xuất khẩu gạo Bên cạnh

đó, yếu tố CNTT và truyền thông cũng phát triển mạnh mẽ tạo điều kiện cho chuỗi cung ứng hoạt động có hiệu quả và ngày càng phát triển

- Điều kiện tự nhiên: Các yếu tố thuộc về tự nhiên như: đất đai, khí hậu, nguồn nước, thiên tai, sâu bệnh… là những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của Việt Nam Như yếu tố đất đai, khí hậu, nguồn nước sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc sản xuất, nó quyết định mức độ thuận lợi hay khó khăn cho sản xuất, ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng và đặc tính nổi trội của gạo xuất khẩu Cùng với đó, các điều kiện bất lợi của tự nhiên cũng làm ảnh hưởng lớn tới quá trình vận chuyển, dự trữ gạo xuất khẩu

1.2.2.2 Những yếu tố nội bộ chuỗi cung ứng

Để hình thành và phát triển một chuỗi cung ứng nói chung và chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu nói riêng nhất thiết phải có sự gia nhập của các thành viên vào

Trang 27

chuỗi Với đặc điểm của chuỗi cung ứng là các thành viên trong chuỗi hoàn toàn tự

do trong việc quyết định gia nhập hoặc rời bỏ chuỗi, do đó khi nghiên cứu các nhân

tố thuộc nội bộ chuỗi ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển chuỗi chính

là các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng gia nhập bền vững vào chuỗi của các thành viên này

- Nhận thức về SC và lợi ích của việc gia nhập chuỗi: Nhận thức của những thành viên tham gia vào chuỗi đóng vai trò quan trọng với việc hình thành và phát triển SCgạo XK Khi các thành viên hiểu biết về chuỗi cung ứng, tầm quan trọng của chuỗi và sự cần thiết phải gia nhập chuỗi khi đó họ sẽ tự nguyện gia nhập và hình thành chuỗi Trên cơ sở đó họ sẽ dễ dàng đáp ứng những yêu cầu của chuỗi về

số lượng Trên cơ sở đó họ sẽ dễ dàng đáp ứng những yêu cầu của chuỗi về chất lượng, chủng loại, số lượng, thời gian giao hàng… khi đó sẽ đảm bảo cho chuỗi tồn tại và phát triển bền vững

- Niềm tin chiến lược giữa các thành viên trong chuỗi: Trong hoạt động của

SC, niềm tin giữa các thành viên ảnh hưởng rất lớn đến quan hệ giữa các thành viên trong SCgạo XK Khi có sự tin tưởng các DNCB mới sẵn sàng đầu tư cho các nhà sản xuất và ngược lại các nhà sản xuất mới thực hiện các yêu cầu của DNCB trong quá trình sản xuất hay có niềm tin thì các doanh nghiệp hoặc các hộ sẽ sẵn sàng thực hiện theo những cam kết đã đưa ra và khi đó sẽ trở thành thành viên trong chuỗi

- Độ tin cậy của cam kết giữa các thành viên: Cam kết là trung tâm của tất cả các quan hệ giữa các thành viên trong chuỗi Các thành viên trong chuỗi khi đã có các cam kết rõ ràng sẽ làm cho mối quan hệ trong chuỗi sẽ trở lên bền vững hơn Khi thực hiện cam kết các thành viên trong chuỗi cần phải chấp nhận chịu ảnh hưởng của thành viên khác với mục đích nhận được lợi ích từ họ

Trang 28

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Quy trình nghiên cứu

Sau khi khảo sát tài liệu và phát hiện ra khoảng trống nghiên cứu của luận

văn, tôi đã tiến hành xây dựng quy trình nghiên cứu của luận văn Việc phân tích và

đánh giá thực trạng nợ xấu tại Công ty từ đó đưa ra giải pháp xử lý nợ xấu tại Công

ty sẽ được thực hiện như sau:

Hình 2.1: Khung Logic nghiên cứu của luận văn

Khảo sát tài liệu

Khoảng trống nghiên cứu

Vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu xây dựng chuỗi cung ứng sản phẩm gạo xuất khẩu của các tỉnh khu vực Tây Bắc

Kiến nghị và giải pháp

để vận hành chuỗi cung ứng

Xây dựng chuỗi cung ứng

Phân tích cơ sở lý luận

về chuỗi cung ứng gạo

xuất khẩu của các tỉnh

khu vức TB

Phân tích thực trạng xuất khẩu và các CC ứng gạo XK của các tỉnh khu vực TB

Giải pháp và kiến nghị xây dựng CC ứng gạo xuất khẩu cho các tỉnh

TB

Thu thập và xử lý

số liệu

Áp dụng các phương pháp nghiên cứu định tính

Xác định khung phân tích

Comment [H4]: Cần bổ sung vào chương này

một số nội dung đã trình bầy trong chương 1 Chương này nên bắt đầu với khung phân tích, mô hình nghiên cứu (mô hình mà bản sử dụng), các phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu tính toán; cuối cùng là nguồn số liệu

Comment [H5]: Chương này cần trình bầy khái

quát về cuộc khảo sát trong chương 3 Lưu ý không trình bầy các phương pháp mình không sử dụng trong chương 3

Trang 29

2.2 Đề tài sử dụng cả các nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp

Công tác thu thập dữ liệu được thực hiện qua các phương pháp nghiên cứu tại bàn, nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Cụ thể, các phương pháp này bao gồm:

2.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp

Đề tài tiến hành tổng quan kết quả các công trình nghiên cứu, tài liệu khoa học đã công bố trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề nghiên cứu

Trên cơ sở tổng hợp phân tích một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước để rút ra những vấn đề thực tiễn về mô hình chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu Ở đây, đề tài sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh đối chiếu nhằm phân tích, so sánh các mô hình chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của Việt Nam nói chung và khu vực Tây Bắc nói riêng với một số quốc gia trên thế giới, so sánh, phân tích những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân

Phương pháp nghiên cứu tài liệu dùng để nghiên cứu cơ sở lý luận, văn bản

có liên quan, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, thu thập và phân tích

dữ liệu thứ cấp

Dữ liệu thứ cấp giúp luận văn xác định và hình thành các giả thiết về các giải pháp cho vấn đề Dữ liệu thứ cấp bao gồm các loại tạp chí và báo cáo khoa học trong ngành, ngoài ngành, các tác phẩm khoa học (là công trình đủ hoàn thiện về lý thuyết, có giá trị cao về các luận cứ lý thuyết nhưng không mang tính thời sự), thông tin đại chúng (gồm các bản tin, báo chí, chương trình phát thanh, truyền hình…) được sưu tầm qua mạng internet, trong các trường học, các hiệu sách, từ người quen biết… có liên quan trực tiếp hay gián tiếp về vấn đề nợ xấu trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế

2.2.2 Phương pháp thống kê

Thống kê là một hệ thống các phương pháp (thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu và tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu) nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và ra quyết định

Luận văn sử dụng các số liệu thống kê thứ cấp từ nhiều nguồn khác nhau để

Trang 30

phân tích

2.2.3 Phương pháp xử lý dữ liệu

* Phương pháp thống kê mô tả

Thống kê là phương pháp khoa học dùng để thu thập, tóm tắt, trình bày và phân tích dữ liệu Các nghiên cứu mô tả có một giá trị thực tiễn hết sức to lớn Thống kê mô tả là các phương pháp liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán và mô tả các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát đối tượng nghiên cứu

Thống kê mô tả được luận văn sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu mà nhà nghiên cứu thu thập được bởi các cách thức khác nhau Kỹ thuật được sử dụng như sau:

- Biểu diễn dữ liệu thành các bảng số liệu tóm tắt về dữ liệu

- Thống kê tóm tắt (dưới dạng các giá trị thống kê đơn nhất) mô tả dữ liệu

* Phương pháp so sánh

So sánh là một thao tác nghiên cứu được dùng trong nhiều ngành khoa học khác nhau Vai trò quan trọng ít hay nhiều của thao tác nghiên cứu này là tùy thuộc vào đặc điểm bản chất của đối tượng nghiên cứu, và do đó vào nhiệm vụ của ngành khoa học nghiên cứu đối tượng ấy Phương pháp này chủ yếu được sử dụng để so sánh các dữ liệu đã thu thập được trong quá trình nghiên cứu

* Phương pháp suy luận

Suy luận là hình thức của tư duy nhằm rút ra phán đoán mới từ một hay nhiều phán đoán đã có Nếu như phán đoán là sự liên hệ giữa các khái niệm, thì suy luận là sự liên hệ giữa các phán đoán Suy luận là quá trình đi đến một phán đoán mới từ những phán đoán cho trước

Luận văn sử dụng hai phương pháp suy luận là suy luận diễn dịch và suy luận quy nạp Suy luận diễn dịch và suy luận quy nạp có những đặc điểm khác nhau nhưng chúng bổ sung cho nhau

Suy luận diễn dịch, theo logic học truyền thống, là hình thức lập luận đi từ cái chung đến cái riêng Theo logic học hiện đại, suy luận diễn dịch là suy luận tuân

Trang 31

theo những quy tắc logic nhất định, trong đó, kết luận đã được bao hàm một cách tiềm tàng ở những tiền đề, nên nó tất yếu được rút ra từ đó, như vậy, nếu tiền đề xuất phát đúng thì kết luận cũng phải đúng

Suy luận quy nạp là hình thức lập luận đi từ cái riêng lẻ đến cái phổ biến

2.3 Kỹ thuật sử dụng và công cụ sử dụng

Về kỹ thuật phân tích, các kỹ thuật chính được sử dụng bao gồm:

- Kỹ thuật phân tích dữ liệu định tính thông thường trên cơ sở tập hợp các ý chính nổi bật qua các cuộc phỏng vấn theo từng chủ đề

- Kỹ thuật phân tích số liệu điều tra: kỹ thuật phân tích thông thường như thống kê mô tả nhằm nêu ra bức tranh tổng thể và đa chiều về hiện trạng mô hình chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của các tỉnh khu vực Tây Bắc

- Kỹ thuật phân tích đa nhân tố để xác định các yếu tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng đến mô hình chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của các tỉnh khu vực Tây Bắc

Về mặt công cụ phân tích và nghiên cứu, các công cụ chính sẽ được sử dụng

là phần mềm máy tính chuyên dụng SPSS

Trang 32

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU VÀ CÁC CHUỖI CUNG ỨNG GẠO XUẤT KHẨU CỦA CÁC TỈNH KHU VỰC TÂY BẮC

3.1 Khái quát về khu vực Tây Bắc

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên khu vực Tây Bắc

Tây Bắc là vùng miền núi phía Tây của miền BắcViệt Nam, có chung đường biên giới với Lào và Trung Quốc Vùng này có khi được gọi là Tây Bắc Bắc Bộ và

là một trong 3 tiểu vùng của Bắc Bộ Việt Nam (2 tiểu vùng kia là Vùng Đông

Bình Phía Bắc là những dãy núi cao, phân định biên giới Việt - Trung… Phía Tây

và Tây Nam là các dãy núi cao kế tiếp nhau, phân định biên giới Việt - Lào Phía Đông và Đông Nam là dãy Hoàng Liên Sơn cao nhất Việt Nam và Đông Dương với đỉnh Phanxipan (3.143 m), giáp với Đông Bắc và một phần đồng bằng sông Hồng Phía Nam giáp với Bắc Trung Bộ

Khu vực Tây Bắc - phạm vi chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Tây Bắc, gồm 12 tỉnh: Hoà Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn và các huyện phía Tây của tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An Đây là những địa bàn thuộc vùng núi cao, biên giới, địa hình hiểm trở phức tạp; có vị trí chiến lược quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại Toàn vùng có tổng diện tích tự nhiên 109.416 km2, chiếm 1/3 diện tích cả nước; có 2.478 xã, phường, thị trấn (trong đó có 1.258 xã đặc biệt khó khăn và 233 xã biên giới với tổng chiều dài hơn 2.551 km đường biên giới với nước CHDCND Lào và Trung Quốc) Dân số trên 10.576 ngàn người, có hơn

30 dân tộc cùng chung sống, đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm trên 63% dân số toàn vùng

Vùng có địa hình đa dạng, có quỹ đất chưa sử dụng còn lớn cùng với các vùng tiểu khí hậu nhiệt đới và ôn đới để phát triển đa dạng nông nghiệp cho phép phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi rất đa dạng và phong phú, trong đó có những loại cây đặc sản có giá trị kinh tế cao, có thể đảm bảo cung cấp đủ nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến nông lâm sản

Trang 33

3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội khu vực Tây Bắc trong những năm qua

Sau hơn 20 năm đổi mới, bức tranh kinh tế Tây Bắc nhìn chung đã có những khởi sắc mới trong các lĩnh vực Nông- lâm - ngư nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, đã hình thành một số vùng sản xuất hàng hoá tập trung như chè 86.000 ha, cây ăn quả 180.000 ha; phát triển chăn nuôi đại gia súc, cây dược liệu, mía đường bước đầu đã đưa cây cao su vào trồng ở Sơn La, Lai Châu, Điện Biên diện tích trên 20.000 ha Công nghiệp được quan tâm đầu tư phát triển, giá trị sản xuất hàng năm tăng 18%, tiềm năng lợi thế kinh tế như thủy điện, chế biến khoáng sản, kinh tế cửa khẩu, du lịch được khai thác Kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, nước sạch, điện, viễn thông được đầu tư xây dựng làm tăng năng lực mới cho sản xuất và nền kinh tế Các nguồn vốn đầu tư đã tập trung cải tạo nâng cấp 3.060 km quốc lộ như quốc lộ 1A, quốc lộ 2,3,6 và các tuyến vành đai quốc lộ 4, 279, 32 Đã

có 1.481/1.559 xã có đường ô tô tới trung tâm (chiếm 95%) và 72,6% số xã có bưu điện, 100% trung tâm huyện phủ sóng di động, 100% số xã có điện thoại Vốn đầu

tư tuy tăng trưởng nhanh, bình quân đạt 25,59% nhưng phân tích cho thấy, khả năng huy động nguồn lực tại chỗ của các tỉnh khu vực Tây Bắc còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu; phân bổ vốn đầu tư còn dàn trải, chưa tăng mạnh được năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Định hướng phát triển kinh tế dài hơi các tỉnh khu vực Tây Bắc là chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông - lâm nghiệp nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế về đất đai, khí hậu, lao động

Với các gạo đã xuất khẩu, quá trình vừa qua dễ nhận thấy còn tồn tại nhiều vấn đề: tính hiệu quả thấp, tính chuyên nghiệp không cao từ khâu tổ chức sản xuất đến khâu tổ chức tiêu thụ Hiện chủ yếu xuất khẩu theo con đường tiểu ngạch qua biên giới, không có các hỗ trợ nên thường bị ép giá, còn hiện tượng tranh mua, tranh bán ảnh hưởng đến quyền lợi của bà con nông dân, doanh nghiệp và cả sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

3.2 Thực trạng xuất khẩu gạo của các tỉnh khu vực Tây Bắc

Nhìn vào bảng thống kê tình hình sản xuất lúa gạo của các tỉnh Tây Bắc từ năm 2009 đến năm 2014 ở bảng 2.2 dưới đây, chúng ta có thể thấy rõ những sự thay

Trang 34

đổi tích cực rõ ràng trên nhiều chỉ tiêu khác nhau Theo đó, tổng diện tích trồng lúa

đã tăng từ 670 nghìn ha năm 2009 lên thành 689 nghìn ha năm 2014 tương ứng với tốc độ tăng 102,8%, song song với đó là năng suất lúa bình quân tăng từ 45,7 tạ/ha năm 2009 lên 52,3 tạ/ha năm 2014.Đối với lúa vụ đông xuân, diện tích lúa tăng dần qua các năm, với 240 nghìn ha năm 2009 lên 250 nghìn ha năm 2014, đồng thời, năng suất lúa bình quân cũng tăng từ 52,8 tạ/ha lên 56,1 tạ/ha Diện tích lúa mùa cũng tăng, dù mức độ tăng không lớn (từ 430 nghìn ha năm 2009 lên 439 nghìn ha năm 2014), trong khi đó, năng suất lúa cũng tăng đáng kể (từ 41,5 tạ/ha năm 2009 lên 44 tạ/ha năm 2014)

Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu về tình hình sản xuất lúa các tỉnh Tây Bắc

Diện tích lúa đông xuân (nghìn ha)

Năng suất lúa đông xuân (tạ/ha)

Diện tích lúa mùa (nghìn ha)

Năng suất lúa mùa (tạ/ha)

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)

Theo báo cáo của Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và PTNT), hiện nay, tỷ lệ lúa chất lượng ở các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc chiếm khoảng 30% trong tổng

số 690.000ha gieo cấy, trong đó vụ mùa có tỷ lệ lúa chất lượng cao hơn (khoảng 34%) Một số tỉnh có diện tích gieo cấy lúa chất lượng cao như Điện Biên (65%), Cao Bằng (trên 50%) Cơ cấu giống lúa chất lượng chủ yếu gồm: các giống lúa địa phương cổ truyền (tẻ nương Mộc Châu, nếp cẩm, Séng Cù, nếp Tú Lệ, Bao Thai…).Nhờ sản lượng lúa nước tăng nhanh mà hơn chục năm qua ở miền núi đã

Trang 35

giảm đáng kể áp lực khai thác đất dốc để trồng cây lương thực Nếu như trước kia lúa nương là nguồn lương thực chính thì ngày nay vai trò của lúa nương đã giảm đi đáng kể Diện tích lúa nương đã giảm mạnh ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc và năng suất lại không được cải thiện Huyện Mộc Châu diện tích lúa nương đã giảm

từ 3.100 ha năm 1990 xuống còn 1.540 ha năm 2002 và năng suất chỉ đạt trên dưới

1 tấn/ha Tương tự, diện tích lúa nương của Huyện Văn Yên - Yên Bái giảm từ 1202

ha xuống còn 1003 ha

Khí hậu vùng miền núi Tây Bắc là khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi, có mùa đông lạnh, phân hóa rõ rệt theo địa hình được thể hiện thông qua sự phân hóa của chế độ nhiệt, chế độ mưa ẩm Có thể nói với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phong phú, đa dạng, cho nên Tây Bắc có thể trồng được nhiều giống lúa đặc sản thơm, ngon, dẻo nổi tiếng như: Séng Cù, Bắc Thơm 1, Hương Thơm 1, ĐS1 (Lào Cai), DDS1, J01 thuộc dòng Japonica, HT1, KD18 (Yên Bái), Bắc Thơm Điện Biên Bên cạnh đó là điều kiện về kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, viễn thông trong những năm gần đây được đầu tư xây dựng làm tăng năng lực sản xuất cho ngành nông nghiệp nói riêng

Ở vùng Tây Bắc vẫn còn quá ít các doanh nghiệp có năng lực tiếp cận được trực tiếp với thị trường quốc tế Các địa phương cũng chưa tổ chức được các chương trình xúc tiến thương mại nhằm giới thiệu tiềm năng phát triển cây lúa

Khó khăn lớn nhất trong hoạt động sản xuất và xuất khẩu hiện nay của các doanh nghiệp chế biến là việc thiếu nguyên liệu đảm bảo chất lượng và tiêu chuẩn quốc tế Những doanh nghiệp không sở hữu và quản lý được vùng nguyên liệu đều

bị giảm năng lực sản xuất, cạnh tranh và biên lợi nhuận Những khó khăn tiếp theo trong hoạt động xuất khẩu đối với các doanh nghiệp vùng Tây Bắc là thiếu thông tin

về thị trường xuất khẩu và thiếu nhân sự chuyên nghiệp Bên cạnh đó, việc thiếu ngân sách dành cho hoạt động xúc tiến xuất khẩu cũng khiến hơn 1/3 số doanh nghiệp bị bó tay trước các cơ hội để quảng bá thương hiệu với khách hàng quốc tế Hiện việc xuất khẩu gạo vùng Tây Bắc chủ yếu thực hiện bằng con đường xuất tiểu ngạch sang Trung Quốc Gạo xuất tiểu ngạch sang Trung Quốc có giá rẻ

Trang 36

hơn nhiều so với gạo nhập khẩu chính ngạch cũng như gạo nội địa của họ Hiện nay Trung Quốc quản lý nhập khẩu gạo bằng hạn ngạch theo cam kết với Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Mỗi năm Trung Quốc cấp hạn ngạch nhập khẩu chính ngạch 520.000 tấn với thuế nhập khẩu thấp, chỉ 1% nhưng thuế GTGT khá cao (13%) Hằng năm Trung Quốc tổ chức đấu thầu hạn ngạch vào đầu năm Thông thường doanh nghiệp (DN) Trung Quốc muốn có hạn ngạch nhập khẩu bắt buộc phải tiêu thụ sản lượng gạo nội địa tương đương ở kho dự trữ quốc gia với giá sàn, cao hơn giá thị trường thế giới do nông dân Trung Quốc được trợ giá.DN Trung Quốc có hạn ngạch nhập khẩu nhưng không trực tiếp nhập khẩu có thể “bán” lại hạn ngạch cho DN khác nên nhìn chung chi phí gạo nhập khẩu bị đội lên, để không quá cạnh tranh với gạo nội địa

Do vậy, thương nhân Trung Quốc thích nhập khẩu tiểu ngạch gạo từ Việt Nam hơn do lợi nhuận lớn vì không mất nhiều chi phí Tuy vậy, với Việt Nam đây

là thị trường nhiều rủi ro, hàng hóa phải đi đêm, qua cửu vạn và bị phía Trung Quốc xếp vào dạng hàng nhập lậu Theo thống kê, hiện Trung Quốc là thị trường nhập gạo lớn nhất của Việt Nam, chiếm 35% tổng lượng gạo xuất khẩu chính ngạch Nếu tính thêm lượng gạo xuất tiểu ngạch có thể chiếm trên 50%

Một số mặt hàng xuất khẩu gạo của khu vực Tây Bắc được kể đến như: Séng

Cù, Bắc Thơm 1, Hương Thơm 1, ĐS1 (Lào Cai), DDS1, J01 thuộc dòng Japonica, HT1, KD18 (Yên Bái), Bắc Thơm Điện Biên

Các doanh nghiệp đó vừa có vùng nguyên liệu riêng của mình, vừa liên kết với nông dân địa phương để đảm bảo nguồn chè đầu vào ổn định cả về số lượng và chất lượng Họ đồng thời có mối quan hệ rộng rãi với nhà môi giới ở thị trường quốc tế, với doanh nghiệp đấu trộn ở quốc gia tiêu thụ gạo để có thể xuất hàng trực tiếp, giảm các khâu trung gian Hiện nay, các doanh nghiệp chè Tây Bắc nói riêng

và Việt Nam nói chung không bán gạo qua hệ thống đấu giá quốc tế vì nhiều lí do khác nhau, trong đó một phần do khối lượng bán ra không đủ lớn và do các nhà xuất khẩu đều có mối quan hệ lâu năm với bạn hàng quốc tế

Trang 37

3.3 Phân tích thực trạng chuỗi cung ứng gạo xuất khẩu của các tỉnh khu vực Tây Bắc hiện nay

Khu vực Tây Bắc cơ bản vẫn tập trung vào những loại cây chủ lực có lợi thế

là lúa, ngô, sắn và cây chè Trong đó sản xuất lúa là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu

vì sự an toàn lương thực của toàn vùng Tại khu vực này, mô hình SC gạo XK về cơ bản giống mô hình trong nghiên cứu về SC gạo XK Việt Nam của TS Nguyễn Văn Sơn (2013)

Theo đó có 2 mô hình XK gạo cơ bản:

Trong mô hình A (hình 3.1), các hộ nông dân nhỏ lẻ không trực tiếp cung cấp gạo cho DN, họ thường bán lúa gạo ở những khu chợ cóc hoặc bán cho hàng xáo (những người thu mua) Thông qua trung gian hoặc đại lí, lúa và gạo nguyên liệu được thu gom từ những đơn vị bán hàng nhỏ lẻ để cung cấp cho DN với số lượng lớn Việc thu mua trực tiếp từ OEMs nhỏ lẻ không có lợi đối với các DN chế biến gạo vì chi phí vận chuyển và chi phí đại lí rất cao DN thu mua gạo nguyên liệu (gạo xô) từ thương lái để tái chế ra gạo thành phẩm XK Theo mô hình này, phần lớn là cung ứng gạo cho các hợp đồng G2G và các thị trường có nhu cầu gạo phẩm cấp trung bình như Philippines, Indonesia, Cuba, Châu Phi… Qui cách gạo thường khó đảm bảo độ thuần chủng nên giá không cao

Hình 3.1 Mô hình A (Thu mua gạo - XK)

Hình 3.2 Mô hình B (Đầu tư vùng lúa chuyên canh - XK)

Mô hình B (hình 3.2) hiện là xu hướng chuyển dịch cơ bản của các DNXK gạo Việt Nam; trong đó DN xây dựng vùng lúa nguyên liệu đặc chủng để XK Theo

mô hình này, để bán lúa/gạo nguyên liệu trực tiếp cho DN chế biến lúa gạo, nông dân trồng lúa theo mô hình trang trại và mô hình hộ gia đình đều phải sử dụng những phương thức trồng lúa theo tiêu chuẩn của DN đưa ra

Trang 38

Việc thu gom lúa gạo của DN theo hai con đường, một là DN thu mua lúa, gạo trực tiếp từ những người nông dân, hai là thu mua thông qua thương lái Thương lái thu gom nguyên liệu từ các nhà sản xuất đơn lẻ, nông dân thuộc các vùng lúa chuyên canh, sau đó đem bán cho các DNXK theo các đơn hàng và mức giá thỏa thuận vào thời điểm mua Ước tính hàng năm, thương lái thu mua khoảng 90% sản lượng lúa từ nông dân (theo Hiệp hội lương thực Việt Nam) Thương lái có vai trò rất quan trọng trong việc thu mua lúa gạo, đặc biệt đối với những nông dân ở vùng sâu, vùng xa, giúp DN ổn định sản xuất Lúa/gạo nguyên liệu được giao đến các nhà máy của nhà XK, thanh toán bằng tiền mặt

Nguyên liệu đầu vào chủ yếu ở hai dạng: lúa và gạo nguyên liệu Đối với lúa, sau khi được thu mua sẽ được đưa trực tiếp vào nhà máy để xử lí Quy trình xử lí lúa gồm 5 bước: làm sạch lúa - nhằm loại bỏ rơm, cỏ dại, đất cát… ra khỏi lúa, xay xát - nhằm loại bỏ trấu, lau bóng - loại bỏ mầm và cám, đóng gói và lưu trữ Đối với gạo nguyên liệu, sau khi được lau bóng, tách hạt khác màu sẽ được phối trộn và đóng gói theo yêu cầu của nhà nhập khẩu

Lúa, gạo sau khi đã được xử lí hoàn tất sẽ được DN cung cấp trực tiếp đến hệ thống bán lẻ của công ty, những người mua hàng công nghiệp như các tổ chức nấu

ăn, khách sạn, nhà hàng, chuỗi thực phẩm… hoặc thông qua trung tâm phân phối để bán cho những người bán hàng nhỏ lẻ, những nhà bán lẻ không thuộc hệ thống của

DN Từ đó, những cửa hàng bán lẻ theo hệ thống, những khách hàng công nghiệp hoặc các nhà phân phối nhỏ lẻ có thể bán lại cho những nhà nhập khẩu hoặc những khách hàng cuối cùng là người tiêu thụ

a Khâu trồng trọt và thu hoạch lúa

Người sản xuất gạo là nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng và khối lượng sản phẩm của SC Qua khảo sát thực trạng tại tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Điện Biên, Sơn La thì chủ yếu là các hộ nông dân với qui mô diện tích canh tác nhỏ

lẻ Bên cạnh đó là một tỷ lệ nhỏ là các tổ nhóm, hợp tác xã sản xuất được liên kết sản xuất giữa các hộ nông dân trong cùng địa phương với nhau

Khí hậu vùng miền núi Tây Bắc là khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi, có

Ngày đăng: 13/10/2017, 16:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w