Công văn số 854/BTNMT-KH, ngày 18/5/2014 của Bộ Tài nguyên & Môi trường hướng dẫn xây dựng kế hoạch bảo vệ môi trường BVMT năm 2015 của các Bộ , ngành, để triển khai thực hiện nhiệm vụ b
Trang 1MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
II NỘI DUNG 2 1 Cơ sở lý luận 3
2 Thực trạng 3
2.1 Thực trạng chung 3 2.2 Thuận lợi 3
2.3 Khó khăn 4
2.4 Kết quả khảo sát đầu năm 4
3 Các biện pháp thực hiện 6
Biện pháp 1: Xây dựng chỉ đạo điểm ở 2 lớp MGL và 2 trườngmầm non 6 Biện pháp 2: Linh hoạt sáng tạo về nội dung và phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động cho trẻ 11 Biện pháp 3: Từ các lớp điểm được xây dựng thành công, chúng tôi đã nhân diện rộng trong toàn huyện 14 Biện pháp 4: Làm tốt công tác phối hợp với phụ huynh và các đoàn thể xã hội 15 4 Kết quả đạt được 16 III Kết luận và kiến nghị 18
1 Kết luận 18
Trang 2I MỞ ĐẦU:
1 Lý do chọn đề tài:
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất bao quanh con người Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người và sự phát triển kinh tế văn hoá của đất nước, của nhân loại Bảo vệ môi trường là một trong những
hoạt động nhằm giữ cho môi trường xanh, sạch đẹp
Hiện nay vấn đề ô nhiễm MT đang diễn ra ở tất cả các nước trên thế giới, vấn đề ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe con người, làm mất đi vẻ đẹp của các thành phố lớn, những miền quê, những vùng núi xa xôi và
khắp mọi nơi trên cả nước
Thực tế cho thấy, môi trường trên thế giới và ở Việt Nam đang bị ô nhiễm đây là một nỗi đau nhức nhối trong toàn xã hội, môi trường bị huỷ hoại nghiêm trọng, gây nên sự mất cân bằng sinh thái, sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống Theo báo cáo của WHO được công bố mới đây mỗi năm trên thế gioái có khoảng 12,6 triệu chế do ô nhiễm môi trường Ở Việt Nam đã có những làng gọi là làng ung thư do nguồn nước trong một xã có 20 em học sinh bị viêm cầu thận do sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm Ung thư do ô nhiễm môi trường không chỉ là bệnh của những người có tuổi mà đã len lõi và ăn sâu vào
thế hệ trẻ
Tài nguyên đất, nước ngọt, đa dạng sinh học đang bị suy thoái; MT ô nhiễm
do công nghiệp và đô thị hoá; Hệ thống giao thông cấp thoát nước kém; Khói bụi, tiếng ồn, rác thải quá tải Một trong những nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng trên là do sự thiếu hiểu biết, thiếu ý thức của con người Vì vậy hiểu biết về môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường trở thành vấn đề cấp bách, có tính chiến lược toàn cầu và là vấn đề có tính xã hội sâu sắc, cần được giáo dục cho con người ngay
từ tuổi thơ
GDBVMT là quá trình giáo dục có mục đích, thông qua các hoạt động giáo dục nhằm làm cho con người trong cộng đồng quan tâm đến các vấn đề của MT, có
sự hiểu biết về MT, có thái độ, kỹ năng và hành vi tốt trong việc BVMT
GDBVMT cho trẻ 5-6 tuổi ở các lớp MGL được sử dụng lồng ghép trong các hoạt động sẽ mang lại hiệu quả rất cao
Nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non, là người phụ trách chuyên môn Mẫu giáo ở phòng Giáo dục tôi trăn trở với tình hình thực tế ở địa phương mong muốn tìm ra một số biện pháp chỉ đạo đạt hiệu quả, phù hợp với đặc điểm GDMN khu vực nông thôn Tôi xin mạnh dạn trao
đổi cùng các bạn đồng nghiệp đề tài “Một số biện pháp chỉ đạo giáo dục Bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi trên địa bàn huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa” làm
đề tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một số biện pháp nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non
Trang 3Giáo viên có những kinh nghiệm trong việc giáo dục trẻ mầm non có ý thức bảo vệ môi trường, từ đó hình thành cho trẻ ý thức tốt về bảo vệ môi trường
3 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp chỉ đạo “Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5-6 tuổi” thông qua các hoạt động trên địa bàn huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi áp dụng một số biện pháp sau
Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra giáo dục
Phương pháp quan sát thực hành sư phạm
từ ngày 01/01/2015 thay thế cho Luật bảo vệ môi trường năm 2005 (1) và rất nhiều
các văn bản pháp quy khác về luật bảo vệ môi trường Công văn số
854/BTNMT-KH, ngày 18/5/2014 của Bộ Tài nguyên & Môi trường hướng dẫn xây dựng kế hoạch bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2015 của các Bộ , ngành, để triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong các cơ sở giáo dục và nhiệm vụ “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”, Bộ Giáo dục & Đào tạo hướng dẫn các sở giáo dục và đào tạo, các đại học, trường đại học và cao đẳng, các viện và trung tâm nghiên cứu trực thuộc Bộ (gọi tắt là các đơn vị) báo cáo đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường Đây là một việc hết sức quan trọng thể hiện quyết tâm lớn của Đảng ta trong việc tăng cường hơn nữa công tác BVMT, đẩy mạnh sự nghiệp BVMT một cách hài hoà cùng với phát triển nhanh kinh tế đất nước và giải quyết tốt các vấn đề xã hội đặt ra trong quá trình CNH,
HĐH (2)
Giáo dục mầm non nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, là cơ sở quan trọng đặt nền móng ban đầu cho việc hình thành nhân cách con người Việt Nam Giai đoạn từ 0 - 6 tuổi là giai đoạn rất quan trọng trong cuộc đời mỗi con người Trong giai đoạn này, trẻ phát triển rất nhanh về mặt thể chất, nhận thức, tình cảm Các mối quan hệ xã hội, những nét tính cách, phẩm chất và các năng lực chung,… nếu không được hình thành ở trẻ trong lứa tuổi này, thì khó có cơ hội hình thành ở lứa tuổi sau
GDBVMT ở trường Mầm non là cung cấp cho trẻ những hiểu biết ban đầu
về cơ thể, về môi trường sống của bản thân nói riêng và của con người nói chung, biết giữ gìn sức khoẻ bản thân, có hành vi ứng xử phù hợp để BVMT, sống thân thiện với MT, nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh về cơ thể và trí tuệ (Quyết
định số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng chính phủ)(3)
Trang 4GDBVMT cho trẻ ở trường MN hoàn toàn có thể thực hiện được, bởi lẽ giai đoạn từ 3-6 tuổi là giai đoạn đặc biệt nhạy cảm của đời người Chính trong giai đoạn này diễn ra sự phát triển mạnh mẽ về trí tuệ và thể chất, hình thành dồn dập các năng lực khác nhau, đặt nền móng cho những nét cá tính và các phẩm chất đạo đức của nhân cách Đây là thời kỳ quan trọng để hình thành cơ sở của thái độ đúng đắn với thế giới xung quanh (với thiên nhiên, đồ vật và con người)
Nội dung bảo vệ môi trường gồm có: Hoạt động học có mục đích; quan sát
có mục đích, hoạt động vận động và họat động tự do của trẻ Trẻ tham gia các hoạt động qua quan sát sẽ khêu gợi ở trẻ ý thức tự tìm hiểu và phát hiện những thay đổi trong cuộc sống hàng ngày, trong MT thiên nhiên, xã hội xung quanh, qua đó tích luỹ được nhiều kiến thức về môi trường sống, về xã hội
Khi tham gia các trò chơi vận động, trò chơi dân gian và sử dụng các trang thiết bị hoạt động, trẻ biết tận dụng MT để rèn luyện thể lực, từ đó trẻ có ý thức tốt trong việc bảo vệ sức khoẻ của bản thân Thông qua các hoạt động có thể lôi cuốn trẻ vào nhiều nội dung giáo dục phong phú, đặc biệt là nội dung GDBVMT cho trẻ
Một thực tế nữa là: Việc quản lý trẻ của giáo viên chưa tốt, trẻ MN rất hiếu động, sợ trẻ dễ tai nạn khi hoạt động, nhất là các hoạt động động như: HĐNT, hoạt động góc nên giáo viên ít cho trẻ cơ hội được hoạt động với thiên nhiên mà suốt ngày chỉ cho trẻ hoạt động loanh quanh trong bốn bức tường của lớp học
Môi trường trong ngoài lớp còn nghèo nàn, diện tích khuôn viên nhà trường còn chật hẹp, CSVC trang thiết bị còn thiếu nhiều, dẫn đến khó khăn cho giáo viên
khi lựa chọn các nội dung cho trẻ quan sát, vui chơi
2.2 Thuận lợi:
Đông Sơn là một huyện đồng bằng cận kề thành phố Thanh Hoá, là nơi sơn thuỷ hữu tình, tuy là huyện đồng bằng những có đủ núi, sông, đồng ruộng mênh mông, quang cảnh thiên nhiên đẹp, là huyện có tiềm năng phát triển kinh tế tương đối mạnh trong tỉnh 15/15 xã, thị trấn có trường mầm non
Có 141 lớp cả NT và MG, gồm 4238 cháu đạt tỉ lệ ra lớp là 82,4% 100% số trường tổ chức bán trú, 100% số trẻ mẫu giáo ăn ở bán trú
100% các trường đã có khu trung tâm, chỉ còn 01 trường có điểm lẻ, vì vậy công tác chỉ đạo tập trung và các nề nếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục có điều kiện thực hiện tốt
Trang 5CSVC, trang thiết bị trong những năm gần đây đã được quan tâm hơn Nhiều trường có sân chơi đảm bảo yêu cầu, có từ 05 loại đồ chơi ngoài trời, đảm bảo diện tích từ 3.500-7.000m2 trở lên, có ít nhất nhiều loại cây trong trường, có vườn thiên nhiên của bé, vườn cổ tích Có 14/16 trường chuẩn quốc gia, huyện có nhiều trường
có khuôn viên đẹp, bố trí các môi trường hoạt động ngoài lớp hợp lý, có nhiều cây xanh bóng mát, vườn cổ tích đẹp phù hợp với hoạt động của trẻ
85% các lớp mẫu giáo có môi trường hoạt động trong lớp đảm bảo yêu cầu theo hướng mở, linh hoạt Các thiết bị đồ dùng đồ chơi đầy đủ, đảm bảo phục vụ các hoạt động của trẻ
Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên mầm non đã được trẻ hoá, 100% có trình độ trên chuẩn Riêng giáo viên dạy lớp MGL là 70 cô, 100% đạt chuẩn trở lên 100% cán bộ quản lý có trình độ chuẩn trở lên và đã được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý Chế độ của giáo viên ngày càng được nâng cao, do đó giáo viên yên tâm công tác hơn
Phong trào Giáo dục ở Đông Sơn đều và mạnh ở tất cả các xã, thị trấn Phòng giáo dục nhiều năm liên tục xếp loại A và là một trong các huyện dẫn đầu toàn tỉnh
CBGV có trình độ chuẩn trở lên nhiều nhưng đa số trình độ đào tạo chắp vá nên năng lực chuyên môn còn hạn chế, hoạt động ngoài trời chưa được giáo viên chú trọng khai thác, thực hiện còn mang tính đối phó, nội dung còn nghèo nàn, đơn điệu không kích thích được hứng thú của trẻ chơi, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt
ra theo các chủ đề
2.4 Khảo sát chất lượng đầu năm:
Trước khi áp dụng các biện pháp tôi tiến hành khảo sát với kết quả như sau
* CSVC, trang thiết bị phục vụ tổ chức Hoạt động ngoài trời: Khảo sát
16 trường và 35 lớp MGL vào tháng 8 năm 2016
Trang 6Xếp loại trường Xếp loại lớp
TT Nội dung đánh giá
1 Số trường có từ 5 loại đồ chơi ngoài trời
2
Lớp có môi trường trong lớp sinh động,
phong phú theo hướng mở, linh hoạt, có
góc thiên nhiên, khám phá khoa học, góc
chơi cát nước các góc đặt ở vị trí phù
hợp với tính chất hoạt động của từng
góc Sắp xếp khoa học, thuận tiện với trẻ
khi sử dụng
3
Số lớp có nhiều loại đồ dùng, đồ chơi,
tranh ảnh do cô và trẻ sưu tầm, tự làm
bằng phế liệu và các nguyên vật liệu sẵn
có ở địa phương
* Cán bộ, giáo viên khi tổ chức các hoạt động trong ngày :
Khảo sát 16 cán bộ quản lý và 35 giáo viên trực tiếp dạy lớp MGL thông qua
dự giờ, trao đổi phỏng vấn, nghiên cứu hồ sơ sổ sách của cán bộ, giáo viên và quan sát môi trường hoạt động trong lớp học và ngoài lớp học:
2 Có kế hoạch, thực hiện nội dung bảo vệ
3
Nắm vững phương pháp hướng dẫn trẻ
thực hiện các hoạt động, kích thích được
tính tích cực hoạt động và sự say mê, sáng
tạo của trẻ trong khi tham gia hoạt động,
linh hoạt khi tổ chức
4
Có ý tưởng sáng tạo hay trong chỉ đạo
thực hiện (CBQL); trong việc thiết kế và
tổ chức Hoạt động ngoài trời (GV)
Tỷ lệ % 54,7 32,8 12,5 53,6 27,1 19,3
Trang 7* Đối với trẻ: Khảo sát 100 trẻ MG 5-6 tuổi qua việc trò chuyện, quan sát
khi trẻ tham gia các hoạt động:
T
T
Số lượng
động vật, thực vật và con người với MT sống, biết
yêu thương gần gũi những người quanh mình, biết
chăm sóc bảo vệ cây cối, bảo vệ con vật quanh nơi
mình ở
1.3 Trẻ có kiến thức đơn giản về ngành nghề, văn hoá,
2 Về kỹ năng-hành vi
2.1 Có thói quen sống gọn gàng ngăn nắp, vệ sinh cá
2.2 Ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường xung quanh
2.3 Có ý thức tiếc kiệm trong sinh hoạt, chia sẻ, hợp
2.4 Có phản ứng với hành vi của con người làm bẩn
3 Về thái độ- tình cảm
3.2 Tự hào, có ý thức giữ gìn bảo vệ danh lam thắng
3.2 Quan tâm đến những vấn đề của MT trường, lớp,
gia đình và tích cực tham gia vào các hoạt động
BVMT đơn giản vừa sức
Qua khảo sát với kết quả trên tôi nhận thấy kết quả tốt, khá chưa cao CSVC các trường được được đầu tư bổ xung tân trang; CBQL cũng như giáo viên chưa quan tâm chú trọng đến các nội dung BVMT, số trẻ đạt còn rất thấp, trẻ chưa có thói quen hành vi về BVMT, chính vì vậy tôi băn khoăn suy nghĩ tìm ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo lớn trên địa bàn huyện Đông Sơn
3 Các biện pháp thực hiện:
Biện pháp 1: Xây dựng chỉ đạo điểm 2 lớp MGL ở trường MN Đông Anh,
MN Đông Minh (Thời điểm tiến hành: từ tháng 08/2016 đến tháng 10/2016)
Trang 8Sau khi phân tích tình hình thực tế qua khảo sát, tôi xây dựng kế hoạch chỉ đạo điểm và tham mưu với lãnh đạo phòng Được lãnh đạo nhất trí, ủng hộ và tạo điều kiện tổ chức, tôi chọn 2 lớp điểm và 2 trường MN: Lớp cô Nguyễn Thị Vân ở trường MN Đông Anh và Lưu Thị Luật ở trường MN Đông Ninh
Họp với BGH và 2 giáo viên của 2 trường nêu ý tưởng, cùng xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện kế hoạch Sau đó hàng tuần tôi trực tiếp tham gia xây dựng và bồi dưỡng phương pháp tổ chức cho giáo viên
Sau những ngày miệt mài cùng phối hợp làm việc, chúng tôi đã rút ra được một số cách làm có hiệu quả như sau:
1.1 Bồi dưỡng CBGV triển khai cụ thể giáo dục BVMT vào kế hoạch các chủ đề, các hoạt động hàng ngày của trẻ:
Đối với kế hoạch tôi chỉ đạo cán bộ quản lý 2 trường và giáo viên 2 lớp MGL đánh giá đúng thực trạng của trường, lớp để lập kế hoạch chỉ đạo bảo vệ môi trường theo kế hoạch của phòng Giáo dục biên soạn sao cho vừa đáp ứng được mục đích yêu cầu của hoạt động vừa phù hợp với tình hình thực tế của trường, lớp mình Ngoài kế hoạch chung của nhà trường, mỗi lớp có 01 kế hoạch riêng dựa trên kế hoạch chung của nhà trường để triển khai thực hiện cụ thể hơn ở lớp mình
Ví dụ: Rà soát lại tình hình CSVC, trang thiết bị và các điều kiện thực hiện
bảo vệ môi trường và hoạt động ngoài trời cho trẻ ở 2 trường và 2 lớp thí điểm, đặt
ra kế hoạch bổ sung, tu sửa kịp thời ngay từ đầu năm học như: Trường đã có bao nhiêu loại cây, con? đồ chơi ngoài trời, các thiết bị luyện tập còn thiếu những gì? những gì cần sửa chữa? Những gì cần bổ xung mới? Môi trường trong lớp học được bố trí thế nào ở các góc? Còn môi trường ngoài lớp học thì bố trí ra sao? Các thiết bị trong lớp, góc thiên nhiên, cát nước đã đảm bảo yêu cầu chưa? cần bổ sung thêm gì? Những thiết bị nào nhà trường phải kiến nghị với địa phương, hội phụ huynh hỗ trợ? Những gì thuộc trách nhiệm nhà trường phải lo? Những gì giáo viên và trẻ có thể tự giải quyết.v.v
Ban giám hiệu đánh giá rà soát lại trình độ, năng lực và khả năng tổ chức hoạt động của giáo viên, tham khảo nguyện vọng, mong muốn của giáo viên để lựa chọn nội dung, hình thức bồi dưỡng, tập huấn mở rộng thêm các nội dung giáo dục BVMT cho giáo viên hiểu sâu hơn, nhấn mạnh những điểm chính, những yêu cầu
cơ bản khi thực hiện giáo dục BVMT để khắc sâu cho giáo viên Sao cho tất cả giáo viên đều nắm vững mục đích yêu cầu, nội dung, tầm quan trọng của giáo dục BVMT, nội dung các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, của ngành về BVMT Sau đó giao chỉ tiêu phấn đấu, đặt ra phương hướng nhiệm vụ cụ thể phù hợp với thực tiễn của trường, lớp, địa phương và năng lực của mỗi giáo viên Yêu cầu cán bộ, giáo viên đưa ra những giải pháp cơ bản để thực hiện kế hoạch
Đối với kế hoạch giáo dục theo các chủ đề: Khi đã có kế hoạch cả năm học cho việc thực hiện Giáo dục BVMT của nhà trường, các lớp phải đưa nội dung giáo dục BVMT cụ thể lồng ghép, tích hợp vào kế hoạch giáo dục tổng thể và kế hoạch từng chủ đề sao cho phù hợp nội dung chủ đề, đảm bảo tính lôgic, cung cấp kiến thức, kỹ năng cho trẻ phải từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, tăng dần yêu
Trang 9cầu để trẻ có sự cố gắng và mong muốn vươn lên Lưu ý chú trọng chỉ đạo thực hiện nội dung dung giáo dục BVMT nhưng không được làm mờ đi nội dung trọng tâm của mỗi hoạt động
Ví dụ 1: Chủ đề “Trường mầm non của bé”
Nội dung tích hợp lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào hoạt động:
Ở hoạt động ngoài trời: Quan sát quang cảnh và các khu vực trong trường
MN (sân chơi, vườn trường, bếp ăn, khu vệ sinh, lớp học, hệ thống cống rãnh ), công việc của các thành viên trong trường MN, phân biệt được MT sạch- bẩn ở trường mầm non, biết được sự vất vả của các cô và có mong muốn được giúp đỡ người lớn một số việc vừa sức, có ý thức giữ gìn vệ sinh để tiết kiệm công sức, thời gian Tiếc kiệm nước, điện trong sinh hoạt
- Chơi tự do theo ý thích và lao động tập thể: Góp phần xây dựng MT bằng một số hành vi phù hợp như:
+ Lau chùi, sắp xếp đồ dùng, đồ chơi gọn gàng, ngăn nắp Bảo vệ đồ dùng,
đồ chơi không làm hư hỏng
+ Lau bụi cho lá cây ở góc thiên nhiên, chăm sóc con vật nuôi và cây trồng ở trường mầm non
+ Cùng cô quét dọn sân trường, lớp học sạch sẽ, lau bụi cửa sổ, quét mạng nhện
+ Nhặt rác(lá cây khô, giấy vụn trong sân trường ), bỏ rác đúng nơi quy định Không vẽ bậy lên tường, không khạc nhỏ bừa bãi
- Chơi các trò chơi vận động, chơi với các thiết bị đồ chơi ngoài trời, biết bảo quản giữ gìn thiết bị , đồ chơi
Ví dụ 2: Chủ đề “ Gia đình của bé” :
Cho trẻ tìm hiểu một số đồ dùng trong gia đình, sau khi tiến hành các bước quan sát bằng vật thật trên lớp cô cho trẻ thăm quan khu bếp và quan sát đồ dùng, các khu vực trong gia đình, công việc của các thành viên trong gia đình Tổ chức cho trẻ đến thăm 1 số gia đình gần khu vực trường và đưa ra các nhận xét về MT của các gia đình này (bẩn hay sạch? Vì sao bẩn? )
- Có ý thức và biết mình cần tham gia giúp đỡ người thân trong gia đình những công việc vừa sức qua việc giải quyết các tình huống giả định do cô giáo hoặc bạn bè đặt ra như: Điều gì sẽ xảy ra nếu ra khỏi phòng không tắt điện? Nếu không khoá vòi nước sau khi sử dụng? Nếu không bỏ rác đúng vào thùng?
+ Ăn uống hợp vệ sinh để đảm bảo sức khoẻ: ăn chín uống sôi, không ăn thức ăn có mùi lạ, không uống nước ngọt pha nhiều phẩm màu
+ Thường xuyên quét dọn, giữ gìn nhà cửa, sân vườn sạch sẽ
+ Quần áo, đồ dùng trong gia đình sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp
+ Biết làm một số thao tác chăm sóc vật nuôi, cây trồng ở gia đình
+ Có ý thức phân loại rác thải trong gia đình như: gom thức ăn thừa của gia đình để chăn nuôi; gom một số phế liệu như chai lọ, hộp giấy để tái chế, để bán hoặc để làm đồ dùng đồ chơi, không chơi với những thứ độc hại như hoá chất
- Chơi vận động và chơi với thiết bị ngoài trời
Trang 10Ví dụ 3: Chủ đề “ Thế giới động vật”
- Hoạt động có chủ đích cho trẻ quan sát qua tranh ảnh, băng hình bày tỏ những hiểu biết theo kinh nghiệm của bản thân về các con vật gần gũi
- Chơi tự do theo ý thích và lao động tập thể:
+ Biết làm một số thao tác đơn giản để chăm sóc, bảo vệ con vật nuôi gần gũi
+ Biết một số việc con người không nên làm: không được giết hại các loài thú, không được chặt phá rừng vì sẽ làm cho động vật chết và biến mất vì không có nơi ở, phá rừng sẽ gây lũ lụt
+ Chơi vận động với các trò chơi về các con vật, bắt chước tạo dáng theo đặc điểm các con vật, hoặc chơi với thiết bị ngoài trời
Ví dụ 4: Chủ đề “ Tết và mùa xuân”
- Quan sát các hoạt động diễn ra trong ngày tết qua băng hình, tranh ảnh và thực tế ở địa phương Biết các hoạt động lễ hội truyền thống cần được lưu giữ ở địa phương Biết được mùa xuân là mùa lễ hội, mọi người đi lại trên đường nhiều hơn nên giao thông dễ ách tắc, đường phố dễ bụi bặm và ô nhiễm hơn; thực phẩm trong ngày tết cũng đa dạng, nhiều chủng loại hơn nên cần phải cẩn thận hơn trong ăn uống, sinh hoạt Có thể tổ chức cho trẻ đi dạo, đi thăm các khu vườn hoa, cây cảnh, khu sinh hoạt văn hoá gần khu vực gần trường để thấy được không khí chuẩn bị đón tết và vẻ đẹp của thiên nhiên vào mùa xuân
Chơi tự do, hoạt động tập thể:
+ Tập làm các loại thức ăn trong ngày tết, cắm hoa, tỉa quả, gói bánh trưng + Trồng cây nhân dịp đầu xuân
+ Đưa ra các giả định để trẻ tập giải quyết như: Vì sao cần tiết kiệm thức ăn trong ngày tết, không nên bỏ phí bánh kẹo, hoa quả và các thức ăn khác ? Nếu vứt rác bừa bãi, đại tiểu tiện tuỳ tiện, khạc nhổ nói to nơi công cộng thì điều gì sẽ xảy ra?MT sẽ như thế nào?
+ Không hái lộc đầu xuân bằng việc ngắt lá, bẻ cành
- Chơi các trò chơi dân gian thường diễn ra trong dịp tết
Ví dụ 5: Chủ đề “ Thế giới thực vật”:
- Quan sát các loại cây để biết được sự phong phú về chủng loại, màu sắc, ích lợi Biết tác dụng của cây xanh đối với đời sống con người
- Lao động tập thể:
+ Biết làm một số thao tác đơn giản để chăm sóc cây cối
+ Làm thí nghiệm và theo dõi quá trình phát triển của cây, biết trồng cây và chăm sóc chúng
- Chơi vận động: bắt chước các thao tác chăm sóc cây, tạo dáng
Tất cả các chủ đề trong năm học đều có thể lồng ghép nội dung dung giáo dục BVMT Cuối mỗi chủ đề, giáo viên tự đánh giá, ban giám hiệu kiểm tra, đánh giá, xếp loại, đưa ra nhận xét rút kinh nghiệm cụ thể cho từng lớp và đề ra các yêu cầu bổ sung cho chủ đề tiếp theo Cuối học kì, cuối năm học, giáo viên và ban giám hiệu đối chiếu kết quả đạt được với chỉ tiêu đặt ra để đánh giá xếp loại các lớp (giáo
Trang 11viên, trẻ) về việc thực hiện dung giáo dục BVMT, có động viên, khen thưởng hoặc
phê bình, trách phạt kịp thời (4, 5)
1.2- Chỉ đạo nhà trường và các lớp cải tạo, bổ sung, xây dựng môi trường trong và ngoài lớp học:
Tích cực tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh để sưu tầm các loại nguyên
vật liệu, đồ dùng phục vụ góc chơi như: gom sách vở cũ của học sinh Tiểu học, THCS hoặc các loại sách báo cũ…, các loại sách này có rất nhiều hình ảnh phù hợp, sử dụng cho việc làm sách của trẻ, góp phần bổ sung kiến thức về BVMT cho trẻ Cô giáo vệ sinh sạch sẽ các phế liệu, phân loại tranh ảnh, sách báo và đưa vào cho trẻ sử dụng
Đề nghị phụ huynh gom tặng các loại giá trưng bày sản phẩm, các phế liệu
để làm đồ dùng, đồ chơi và sửa thành các giá để cây cảnh, để dụng cụ chơi cát nước hoặc để các loại hạt giống, các chai nước cho trẻ làm thí nghiệm ở góc khám phá khoa học Sưu tầm các loại phế liệu, các nguyên vật liệu dễ tìm tại địa phương, các loại giấy dạ làm các giây treo nhiều hình thức, màu sắc xung quanh trường, các lớp học Làm biển tên cây bằng các hình thù các con vật, các hình ngộ nghĩnh
Cô giáo có thể dùng điện thoại để chụp ảnh lưu làm tư liệu cho trẻ quan sát Phát động phụ huynh tặng cây hoa, cây cảnh cho lớp, cho nhà trường, để tạo cảnh quan xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm đưa và các góc chơi hoặc trang trí tạo môi trường hoạt động trong và ngoài lớp cho trẻ
Tăng cường sử dụng và làm các loại đồ dùng, đồ chơi từ phế liệu, nguyên vật liệu sẵn có, gần gũi với cuộc sống của trẻ, giáo dục trẻ ý thức tiết kiệm trong
việc sử dụng nguyên vật liệu, giúp trẻ hiểu được rác thải cũng có thể tái sử dụng và như vậy sẽ tiếc kiệm được nguồn tài nguyên, tiết kiệm tiền bạc cũng như giảm
lượng rác thải ra môi trường
Ví dụ: Giáo viên cùng trẻ làm các loại đồ chơi từ phế liệu như: làm con cá,
cua, tôm từ vỏ sò, ngao, vỏ chai, hến và các vụn xốp thừa; dùng vỏ hộp sữa tươi làm các loại đồ chơi như ô tô, tàu hoả, máy bay , lõi giấy vệ sinh sơn màu làm thành các đốt thân cây tre, cây trúc, xốp và vải vụn có thể tạo thành nhiều loại quả cây như quả mướp, bí, nho để treo lên giàn cây ở góc thiên nhiên cho trẻ quan sát , nhồi các con vật từ trấu, len vụn, vải vụn , làm các đồ chơi với cát nước bằng các vỏ hộp nước rửa bát, nước xả vải, vỏ chai nước khoáng
Tăng cường xây dựng, cải tạo vườn thiên nhiên của bé: Phát động phụ huynh
cùng với nhà trường cải tạo các khoảng đất trống trong trường thành vườn cây với
đa dạng các loại cây như cây cảnh, cây ăn quả, cây bóng mát, cây rau Trong mỗi loại cũng đa dạng các loại như rau: rau ăn củ, rau ăn quả, rau ăn lá, rau thơm, rau
ăn sống, ăn chín mùa nào rau ấy Vườn cây tạo thành các luống, lối đi thuận tiện, phù hợp với trẻ khi quan sát, chăm sóc
Sắp xếp các góc, trang trí góc chơi theo dạng linh hoạt, dễ sử dụng, dễ thay đổi theo các chủ đề:
Năm học 2016-2017 là năm học thực hiện chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” ngay từ đầu năm học, tháng 8/2016 tôi phối hợp
Trang 12với lãnh đạo phòng Giáo dục tiến hành xây dựng kế hoạch và chỉ đạo các trường thực hiện trong tháng 8 và đầu tháng 9 Cuối tháng 9 phòng Giáo dục kiểm tra đánh giá và học tập rút kinh nghiệm tại trường mầm non Đông Anh
Tháng 10/2016 tổ chức cho cán bộ giáo viên cốt cán trong huyện rút kinh nghiệm, nhiều cách làm mới nhằm cải thiện môi trường trong và ngoài lớp, tạo điều kiện để tổ chức tốt các hoạt động cho trẻ Phương châm của chúng tôi là trang trí ít tốn kém nhưng phải mang lại hiệu quả sử dụng cao, làm một lần dùng được nhiều lần và có thể thay đổi với nhiều mục đích sử dụng
Ví dụ: Cũng là giàn cây của bé ở hiên chơi nhưng có lớp thì làm giàn mướp,
có lớp là giàn su su, giàn bầu, bí mỗi lớp một loại cây được làm từ xốp, vải vụn bọc xốp và hình thức trang trí phù hợp với loại cây đó Giàn cây được đan từ tre, nứa, cành cây tận dụng, vót nhẵn, sơn màu cho đẹp, treo cơ động có thể tháo lắp dễ dàng Sau mỗi chủ đề hoặc 1-2 tuần tuỳ theo ý đồ tổ chức của giáo viên, các lớp có thể đổi cho nhau để tạo sự mới lạ đối với trẻ, tạo cơ hội cho trẻ được tiếp xúc với
mô hình nhiều loại cây dây leo khác nhau Hoặc cùng một giàn cây có thể thay đổi các loại quả theo nhiều cách khác nhau
Tóm lại: Với nguồn kinh phí có hạn của các lớp MG khu vực nông thôn,
chúng tôi đã biết khai thác thế mạnh riêng của mình đó là: nguồn nguyên vật liệu, phế liệu dồi dào từ các gia đình trẻ, sẵn có ở địa phương, gần gũi đời sống của trẻ, khả năng sáng tạo của cô và sản phẩm của chính trẻ, làm tốt công tác tuyên truyền phối kết hợp trong xây dựng môi trường với phụ huynh
Với cách làm như vậy giáo viên đã huy động được phụ huynh tham gia cải tạo môi trường hoạt động trong và ngoài lớp cho trẻ, cô tiết kiệm được kinh phí và công sức, trẻ hào hứng, tích cực tham gia các hoạt động BVMT cùng cô và thích thú khi chơi với những đồ chơi do cha mẹ, cô giáo và chính mình làm ra Khi cả phụ huynh và trẻ vào cuộc thì hiểu biết, ý thức của phụ huynh, của trẻ về BVMT và
GDBVMT cũng được nâng lên (6)(Hình ảnh minh họa phần phụ lục)
Biện pháp 2: Linh hoạt sáng tạo về nội dung và phương pháp, hình thức
tổ chức cho trẻ trong mọi hoạt động:
Để nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ 5- 6 tuổi đi và chiều sâu có chất lượng thực trên trẻ, tôi đã quan tâm đến công tác chỉ đạo quản lý các trường, đặc biệt là quản lý chuyên môn về việc chỉ đạo giáo viên trong huyện cần phải linh hoạt sáng tạo về nôi dung và phương pháp, hình thức tổ chức cho trẻ trong mọi hoạt động cụ thể tôi đã chỉ đạo chuyên môn quan tâm đến những nội dung sau:
Trong khoảng thời gian 35-60 phút tổ chức các hoạt động trong ngày cho trẻ được thực hiện bằng các nội dung: Quan sát, thảo luận; trải nghiệm; lao động tập thể, nhóm và chơi tự do; chơi các trò chơi vận động, dân gian và sử dụng các thiết
Trang 13những tình huống có vấn đề xảy ra tại thời điểm quan sát và hứng thú, nhu cầu của trẻ
Trẻ mầm non học bằng chơi, chơi bằng học, chính vì thế khi tổ chức các giờ hoạt động có mục đích giáo viên phải là người lựa chọn những nội dung phù hợp với chủ đề, linh hoạt trong từng lĩnh vực hoạt động, đồng thời biết lồng ghép tích hợp các nội dung BVMT vào các hoạt động một cách khoa học, hợp lý nhưng không ôm đồm
Tập trung khai thác GDBVMT với 05 lĩnh vực nội dung: Con người và môi trường; Con người và văn hoá xã hội; Con người và thế giới động-thực vật; Con người và hiện tượng thiên nhiên; Con người và tài nguyên
Lựa chọn nội dung quan sát cần phải có sự linh hoạt, có thể lựa chọn đa dạng các nội dung tuỳ theo điều kiện thực tế của lớp, trường mình Thường thì giáo viên chỉ chú ý cho trẻ quan sát cây, con Nhưng thực tế môi trường cây, con ở các trường còn ít, chưa đa dạng, nếu như ngày nào cũng chỉ quan sát mãi vài cây, con
ấy thì trẻ sẽ nhàm chán, kém hứng thú và không đạt được mục đích giáo dục đề ra
Vì vậy cần hướng dẫn giáo viên biết cách khai thác nhiều nội dung phong phú về thế giới xung quanh cho trẻ quan sát, tìm tòi, phát hiện, thảo luận và đưa ra các nhận xét và đề nghị của mình để BVMT
Ví dụ: Quan sát các hiện tượng thiên nhiên như: sấm, chớp, mưa; ánh nắng
và mặt trời vào buổi sáng, trưa, chiều; các loại gió khác nhau, sức mạnh của gió ở các thời điểm trong ngày Trẻ đưa ra nhận xét của mình về đặc điểm, cô gợi mở để trẻ thấy ích lợi và tác hại của chúng đến đời sống còn người và đưa ra các giả định khi gặp những hiện tượng ấy chúng ta cần làm gì? (biện pháp phòng tránh) Hoặc quan sát đất, nước, không khí đưa ra các nhận xét về đặc điểm, tác dụng của chúng đối với đời sống con người, nguyên nhân gây ô nhiễm, biện pháp bảo vệ
Linh hoạt trong việc xử lý tình huống, nêu vấn đề, đặt ra các câu hỏi, khai thác các giả định, giả thiết khi tổ chức cho trẻ quan sát
Có thể linh hoạt thay đổi kế hoạch cho trẻ quan sát bằng cách tận dụng các tình huống bỗng nhiên xuất hiện, gây nên sự chú ý đặc biệt cho trẻ Nếu biết tận dụng những tình huống như vậy sẽ tạo được hứng thú của trẻ và mang lại kết quả giáo dục cao, tạo được ấn tượng sâu sắc trong trẻ
Ví dụ: Khi trẻ đang dạo chơi, bỗng nhiên một cơn gió lớn làm lá rụng ào ào,
trẻ rất thích thú chạy theo bắt lá cây đang rơi Cô có thể đặt ra câu hỏi cho trẻ: Lá từ đâu rụng nhiều thế? Vì sao lá rụng? Sân trường khi lá rụng trông thế nào? Cần phải làm gì để sân trường sạch trở lại? Và sau đó có thể tổ chức cho trẻ lao động tập thể gom lá vào thùng rác
Cần tăng cường cho trẻ đi dạo chơi, thăm quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử ở địa phương, đi dã ngoại bằng cách phối hợp với phụ huynh để tổ
chức ít nhất mỗi tháng 1 lần, tạo điều kiện cho trẻ quan sát, trải nghiệm, tìm hiểu các sự vật, hiện tượng gần gũi của môi trường xung quanh và các hoạt động BVMT của con người
Trang 14Giáo viên, phụ huynh và cả trẻ cần thu thập thông tin, sưu tầm tranh ảnh, khai thác các thiết bị hiện đại hỗ trợ cho tổ chức hoạt động của trẻ
Ví dụ: Đối với những nơi khó có thể cho trẻ đến, cô có thể truy cập Intenet
thành nhưng đoạn clip cho trẻ quan sát Hoặc có thể sử dụng ngay những bức ảnh
do trẻ đem đến từ gia đình khi bố, mẹ hoặc gia đình trẻ đi tham quan du lịch và chụp được để làm tư liệu cho cả lớp quan sát Kể cả những bức tranh, ảnh sưu tầm
Để khắc phục tình trạng này, nhà trường cần lập kế hoạch cụ thể cho từng khối lớp được sử dụng, tránh ồ ạt cùng lúc Các giáo viên có thể phối hợp với nhau khi cho trẻ chơi: phân trẻ thành các nhóm để trẻ chơi theo ý thích của mình như: cháu nào đăng ký chơi trò chơi vận động cùng cô? cháu nào thích chơi với đu quay, cầu trượt? .chia các khu vực trong sân trường và mỗi giáo viên phụ trách một khu vực để bao quát tất cả trẻ chơi trong khu vực của mình dễ dàng hơn
Khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động lao động tập thể, nhóm bạn như:
Lao động chăm sóc vật nuôi, cây trồng, lao động vệ sinh môi trường, lao động tự phục vụ Thông qua các hoạt động này giúp trẻ hiểu đây là những việc làm tốt, có lợi cho môi trường, đáng khích lệ vì góp phần làm cho môi trường luôn xanh, sạch, đẹp Trẻ tự hào khi được đóng góp công sức của mình và được tự khẳng định mình Khi thấy được thành quả lao động của mình trẻ sẽ có ý thức giữ gìn, bảo vệ thành quả đó- chính là bảo vệ môi trường sống xung quanh trẻ
Tạo điều kiện để trẻ được thực hành, thí nghiệm, thực nghiệm đơn giản
Ví dụ: Tổ chức cho trẻ gieo hạt theo dõi sự lớn lên của cây, để biết cây cần gì
để lớn lên (nước, không khí, ánh sáng ), nếu không có ánh sáng (nước, không khí) cây sẽ thế nào?
Thí nghiệm lọc nước bẩn hoặc làm cho nước bị ô nhiễm để thấy được đặc tính của nước, nguyên nhân làm bẩn nước và có ý thức giữ gìn, bảo vệ, cải tạo và tiết kiệm nguồn nước sạch v.v
Kết hợp HĐNT với các nội dung giáo dục khác như: Tạo hình, âm nhạc,
đóng kịch giúp trẻ lĩnh hội kiến thức về BVMT nhẹ nhàng hơn, hứng thú hơn
Ví dụ: Khi tổ chức các trò chơi vận động có thể kết hợp với các bài hát hoặc
thơ về BVMT, giúp trẻ dễ nhớ, dễ thuộc, dễ hiểu
Hoặc ở hoạt động chơi tự do có thể cho trẻ vẽ về MT và các hoạt động BVMT theo ý thích của trẻ
Trang 15Cách làm trên cho thấy thông qua các hoạt động trong ngày có thể lồng
nhiều nội dung GDBVMT cho trẻ giúp trẻ lĩnh hội kiến thức về MT và BVMT một cách nhẹ nhàng, thực tế Tạo điều kiện cho trẻ trải nghiệm, khám phá và được góp sức mình vào việc BVMT Với những việc làm tuy đơn giản nhưng để lại cho trẻ dấu ấn mạnh mẽ và có thể theo trẻ trong suốt cuộc đời sau này Có thể linh hoạt, sáng tạo để lựa chọn nhiều nội dung, nhiêù hình thức tổ chức cáo hoạt động khác nhau để lồng ghép nội dung BVMT khi giáo viên nhận thức đúng tầm quan trọng
của hoạt động và thực sự tâm huyết với trẻ (7)
Biện pháp 3: Từ các lớp điểm được xây dựng thành công, chúng tôi đã nhân diện rộng trong toàn huyện (Thời điểm thực hiện: Từ tháng 11/2016 đến
tháng 5/2017 )
Cách nhân diện được thực hiện như sau:
Sau khi CBQL và giáo viên cốt cán các trường mầm non trong huyện được học tập rút kinh nghiệm về xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung, phòng Giáo dục giao nhiệm vụ cụ thể cho các trường về việc triển khai xây dựng MT trong và ngoài lớp học, về lựa chọn lớp điểm, về việc xây dựng kế hoạch tổ chức sinh hoạt chuyên môn hàng tháng, hàng tuần
Hàng tháng tổ chức cho giáo viên dạy lớp 5-6 tuổi trong huyện và BGH các trường đi dự giờ, sinh hoạt chuyên môn trao đổi kinh nghiệm tại các trường, lớp điểm Mỗi buổi sinh hoạt chuyên môn chúng tôi xây dựng chuyên sâu vào từng mảng nội dung để đảm bảo chất lượng
Tổ chức cho CBGV thảo luận, quán triệt tinh thần để người tổ chức hoạt động và người dự cùng trao đổi thẳng thắn những suy nghĩ của mình, tránh e dè, nể nang, hoặc tự ái Sau đó kết luận lại những ưu, nhược điểm cần rút kinh nghiệm của giờ họat động và kế hoạch triển khai tiếp theo khi về trường mình
Với cách làm này đã phát huy chính nội lực giáo viên, cán bộ phòng giáo dục không cần mất nhiều thời gian chuẩn bị nội dung bồi dưỡng mà sử dụng chính kinh nghiệm thực tế của giáo viên lớp điểm, người thực việc thực sẽ có sức thuyết phục cao hơn, giáo viên dễ hiểu hơn, hiệu quả hơn
Sau khi dự thực hành ở lớp điểm của huyện, yêu cầu mỗi trường xây dựng ít nhất 1 lớp điểm tại trường, xây dựng một số giờ mẫu và trao đổi, phổ biến kinh nghiệm về những việc mình đã làm cho đồng nghiệp cùng học tập rút kinh nghiệm
ít nhất 2-3 lần/tháng
Phòng giáo dục sắp xếp lịch, phân công cán bộ phòng cùng cán bộ cốt cán đi
dự ở cơ sở, tổ chức nhận xét, đánh giá rút kinh nghiệm với cơ sở, thống nhất về cách thực hiện tiếp theo trên cơ sở giờ mẫu của từng trường để phù hợp với một số đặc điểm riêng của trường đó
Như vậy, biện pháp này sử dụng với việc chỉ đạo xây dựng các hoạt động có
lồng ghép nội dung BVMT, đan xen phối hợp chỉ đạo nhiều nội dung với nhau vì vậy sau một thời gian ngắn đa số các trường, lớp không chỉ riêng độ tuổi 5-6 tuổi
và còn cả ở những độ tuổi khác đã có sự thay đổi về môi trường trong và ngoài lớp,