1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ theo cấu trúc trạng thái rừng trên núi đá vôi ở khu bảo tồn thiên nhiên thần sa – phượng hoàng, tỉnh thái nguyên

75 271 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 820,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam là một trong những nước thực hiện công ước ĐDSH đó và đã thành lập một hệ thống các khu rừng đặc dụng RĐD nhằm bảo tồn có hiệu quả các loài động thực vật và các hệ sinh thái có

Trang 1

Phần 1 MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Sự sống trên trái đất tồn tại được là nhờ các nhân tố cơ bản như: không khí mà chúng ta thở, đất đai để chúng ta trồng trọt, thức ăn mà chúng ta ăn, giọt nước mà chúng ta uống,… tất cả đều có được, hoặc được duy trì nhờ có đa dạng sinh học (ĐDSH) ĐDSH là nguồn tài nguyên quí giá nhất, bởi vì nó là cơ sở của

sự sống còn, thịnh vượng và tiến hoá bền vững của loài người trên hành tinh xanh của chúng ta Mối đe dọa lớn nhất cho sự tiến hoá bền vững của xã hội loài người là mối đe doạ về suy giảm ĐDSH dẫn đến rối loạn cơ chế điều chỉnh chức năng hệ thống của chúng ĐDSH được thể hiện ở 3 mức độ: đa dạng loài, đa dạng nguồn gen và đa dạng các hệ sinh thái (HST), đặc biệt là các hệ sinh thái rừng (HSTR) Nhưng hiện nay với sự khai thác quá mức và không khoa học, diện tích rừng đang bị suy giảm nghiêm trọng kéo theo suy giảm ĐDSH Và vì thế, con người đã, đang và sẽ phải đứng trước một thử thách, đó là sự gia tăng mất mát về ĐDSH dẫn đến làm mất trạng thái cân bằng của môi trường kéo theo những thảm họa như: lũ lụt, hạn hán, gió bão, cháy rừng, môi trường sống bị ô nhiễm nặng nề, ngày càng xuất hiện nhiều căn bệnh hiểm nghèo… Tất cả các thảm họa đó là hậu quả một cách trực tiếp hay gián tiếp của việc mất ĐDSH Chính vì thấy được tầm quan trọng to lớn đó mà nhiều quốc gia trên thế giới đã tham gia ký công ước quốc tế về vấn đề bảo tồn ĐDSH được thông qua tại hội nghị thượng đỉnh ở Rio de Janeiro (Braxin, 1992) Việt Nam là một trong những nước thực hiện công ước ĐDSH đó và đã thành lập một hệ thống các khu rừng đặc dụng (RĐD) nhằm bảo tồn có hiệu quả các loài động thực vật và các hệ sinh thái có tầm quan trọng Việt Nam được coi là một trong những trung tâm ĐDSH của vùng Đông Nam Á Từ kết quả nghiên cứu về khoa học cơ bản trên lãnh thổ Việt Nam, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đều nhận định rằng Việt Nam là một trong 10 quốc gia ở Châu Á và một trong 16 quốc gia trên thế giới có tính đa ĐDSH cao do có sự kết hợp của nhiều yếu tố

Tuy nhiên, tài nguyên rừng Việt Nam đã bị suy thoái nghiêm trọng do rất nhiều các nguyên nhân khác nhau như: chiến tranh, nhu cầu lâm sản ngày càng tăng, việc chuyển đổi hệ thống canh tác sang đất nông nghiệp, đặc biệt là việc khai thác không đúng kế hoạch Vào đầu những năm 1920, hầu như toàn bộ miền núi được che phủ bởi rừng Theo tài liệu mà Maurand P công bố trong công trình

“Lâm nghiệp Đông Dương” thì đến năm 1943 rừng nước ta vẫn còn khoảng 14,3 triệu ha rừng tự nhiên với độ che phủ 43,7% diện tích lãnh thổ Quá trình mất rừng xảy ra liên tục từ năm 1943 đến đầu những năm 1990, đặc biệt từ năm

Trang 2

1976-1990 diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh, chỉ trong 14 năm diện tích rừng bị giảm lên tới 2,7 triệu ha, bình quân mỗi năm mất gần 190 ngàn ha (1,7%/năm) và tốc độ mất rừng giảm xuống đến mức thấp nhất là 9,2 triệu ha (độ che phủ 27,8%) vào năm 1990 [9] Việc mất rừng, độ che phủ giảm, đất đai bị thoái hóa

do xói mòn, rửa trôi, sông hồ bị bồi lấp, môi trường bị thay đổi, hạn hán lũ lụt gia tăng, ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống của nhiều vùng dân cư Mất rừng còn đồng nghĩa với sự mất đi nhiều nguồn gen động, thực vật

Từ năm 1993, các chương trình quốc gia lớn như 327 và 661 đã đẩy mạnh việc phủ xanh, tái trồng rừng và cải thiện công tác quản lý rừng, góp phần làm xoay chuyển chiều hướng tiêu cực đó Theo thống kê chính thức năm 2007, diện tích rừng là 12,8 triệu ha (độ che phủ 38,2%) Tính đến tháng 12 năm 2009 diện tích rừng Việt Nam đã tăng lên 12.899.434 ha với độ che phủ 39,1%, trong đó diện tích rừng đặc dụng là 1.992.316 ha [9] Hơn hai phần ba diện tích rừng của Việt Nam là rừng nghèo hoặc rừng đang phục hồi, trong khi đó rừng giàu và rừng kín chỉ chiếm 3,4% (năm 2000) và 4,6% (năm 2004) tổng diện tích rừng Hầu như không còn các khu rừng ở các vùng thấp với tính đa dạng còn nguyên vẹn Các cơ hội để phục hồi hoàn toàn đang giảm đi nhanh chóng vì các vùng rừng giàu đã bị chia cắt và cô lập thành những mảnh nhỏ [2]

Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng (KBTTN) được thành lập theo Quyết định số 3841/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, ngày

01 tháng 12 năm 1999 với diện tích là 11.280 ha Khu vực này có hệ sinh thái rừng núi đá độc đáo, có tính ĐDSH phong phú với nhiều nguồn gen động thực vật quý hiếm và nhiều hệ sinh thái chuẩn của vùng núi đá Năm 2006, thực hiện Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày 05 tháng 12 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát 3 loại rừng, Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng – huyện Võ Nhai – tỉnh Thái Nguyên được quy hoạch theo ranh giới mới trên địa bàn 6 xã và 1 thị trấn gồm: Đình Cả, Phú Thượng, Thượng Nung, Thần Sa, Sảng Mộc, Vũ Chấn, Nghinh Tường, với tổng diện tích tự nhiên là 18.858,9 ha và đã được Ủy ban nhân tỉnh Thái Nguyên phê duyệt tại Quyết định số 1563/QĐ-UB ngày 08 tháng 8 năm

2007 Trong đó rừng tự nhiên là 17.639 ha; rừng trồng 197,3 ha; diện tích không

có rừng trên 1.000 ha do Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng trực tiếp quản lý và bảo vệ Đặc biệt ở Thần Sa, đã phát hiện quần thể Chò xanh (tập đoàn này mới chỉ thấy ở Vườn quốc gia Cúc Phương) Là vùng quy hoạch rừng trên núi đá vôi, nên khu rừng đặc dụng có địa hình phức tạp và hiểm trở, xa dân cư, giao thông liên lạc khó khăn Diện tích rừng lớn, khoảng giữa hai khu vực cách xa nhau, đan xen với rừng phòng hộ, rừng sản xuất và các làng bản

Trang 3

Cuộc sống của đại đa số đồng bào dân tộc miền núi, nơi số hộ nghèo chiếm tới 67,2% lại gắn bó với rừng Ở một số nơi, do tập quán và điều kiện sống đã làm ảnh hưởng đến rừng, kể cả việc tự do khai thác lâm sản vào rừng tự nhiên, tự do săn bắn [30]

Núi đá vôi là hệ sinh thái rất đặc biệt của nước ta, nó chứa đựng một

nguồn tài nguyên sinh học vô cùng quí giá Nằm trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam, Thần Sa – Phượng Hoàng là một đơn vị địa lý sinh vật có ý nghĩa

vô cùng quan trọng đối với sự sống còn của cộng đồng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường sinh thái Tuy nhiên trong thực tế nguồn tài nguyên rừng ở đây đang bị tác động mạnh bởi sức ép dân sinh, kinh tế của dân cư quanh vùng Chính vì vậy, công tác bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo vệ vốn gen quí cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác đã được tỉnh Thái Nguyên rất quan tâm Trong những năm qua, Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa

đã có một số cuộc điều tra, đánh giá tài nguyên rừng, bước đầu cũng đã đánh giá được giá trị, tiềm năng và ý nghĩa của một khu bảo tồn; Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa đã có một số công trình nghiên cứu về thảm thực vật rừng, nhưng phần lớn các công trình này mới chỉ tập trung vào việc thống kê, phát hiện các loài hiện có, mà ít có công trình nào tiếp cận nghiên cứu các đối tượng rừng theo xu thế hiện đại, nhất là nghiên cứu về đa dạng sinh học theo phương pháp toán sinh học Để đánh giá được mức độ đa dạng, phong phú của hệ thực vật tại Thần Sa cần phải có những nguồn thông tin khoa học và chính xác về chúng, đặc biệt là các thông tin định lượng trong nghiên cứu đa dạng sinh học

Để bảo tồn được tính đa dạng các loài thực vật, đặc biệt là các loài đặc hữu, các loài quí hiếm có nguy cơ bị tiêu diệt cao cần phải có những hiểu biết sâu hơn cấu trúc thành phần loài, mối quan hệ của các thành phần thực vật với các yếu tố môi trường, nghĩa là phải biết được các loài thực vật sống ở đâu? Trong các điều kiện nào? Sự phát sinh và sinh trưởng của chúng được chi phối bởi các nhân tố nào? Cấu trúc tổ thành loài trong một quần xã thực vật thể hiện mối quan

hệ tồn tại mang tính qui luật giữa chúng với nhau và giữa chúng với các nhân tố sinh thái môi trường và đó cũng là cơ sở vững chắc cho phân chia thảm thực vật

và cho công việc bảo tồn Đó cũng là lý do chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ theo cấu trúc trạng thái rừng trên núi đá vôi

ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên”

1.2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm xác định được một số đặc điểm cấu trúc rừng thông qua đó để thấy được tính đa dạng của khu hệ thực vật thân gỗ ở Khu bảo tồn thiên nhiên

Trang 4

Thần Sa - Phượng Hoàng Trên cơ sở đó đề xuất được một số giải pháp nhằm bảo tồn tính đa dạng thực vật thân gỗ, đặc biệt là những loài quý hiếm, có giá trị ở khu vực

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

1.3.1 Mục tiêu tổng quát

Góp phần bổ sung những kiến thức về đa dạng sinh học cho trạng thái rừng trên núi đá vôi ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng

1.3.2 Mục tiêu cụ thể

- Xác định được tính đa dạng của các kiểu thảm thực vật, đa dạng thực vật thân

gỗ theo tổ thành loài, các chỉ số đa dạng sinh học

- Đánh giá được một số tác động tiêu cực của người dân đến tài nguyên rừng ở khu bảo tồn

- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển các loài thực vật thân gỗ

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa khoa học

Bổ sung những hiểu biết về đặc điểm cấu trúc, tái sinh của thảm thực vật thân

gỗ làm cơ sở khoa học cho các giải pháp lâm sinh phục hồi rừng tự nhiên ở khu vực nghiên cứu Thông qua nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc để đánh giá mức độ đa dạng thực vật thân gỗ, trên cơ sở đó bảo tồn một số loài thực vật quý hiếm

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc và tái sinh để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp quản lý và sử dụng tài nguyên rừng trên núi đá vôi một cách hợp lý

Trang 5

Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Có thể coi, thuật ngữ "đa dạng sinh học" (Biodiversity hay biological diversity) lần đầu tiên được Norse and McManus (1980) định nghĩa, bao hàm hai khái niệm có liên quan với nhau là: đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật)

Có lẽ do thế giới sự sống chủ yếu được xem xét ở khía cạnh các loài, nên

thuật ngữ ĐDSH thường được dùng như một từ đồng nghĩa của "đa dạng loài", đặc biệt là "sự phong phú về loài", thuật ngữ dùng để chỉ số lượng loài trong một

vùng hoặc một nơi cư trú ĐDSH toàn cầu thường được hiểu là số lượng các loài thuộc các nhóm phân loài khác nhau trên toàn cầu Ước tính đến thời điểm này

đã có khoảng 1,7 triệu loài đã được xác định; còn tổng số loài tồn tại trên trái đất vào khoảng từ 5 triệu đến gần 100 triệu Theo ước tính của công tác bảo tồn, có khoảng 12,5 triệu loài trên trái đất Nếu xét trên khái niệm số lượng loài đơn thuần, thì sự sống trên trái đất chủ yếu bao gồm côn trùng và vi sinh vật [43]

Đa dạng sinh học có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, trong đời sống vật chất và tinh thần của con người, trong việc duy trì các chu trình tuần hoàn tự nhiên và sự cân bằng sinh thái Đó là cơ sở của sự sống còn, thịnh vượng và bền vững của loài người cũng như của trái đất nói chung Thế nhưng con người đã và đang khai thác nguồn tài nguyên này một cách quá mức, đặc biệt ở vùng nhiệt đới, dẫn tới sự suy thoái các hệ sinh thái làm nghèo kiệt nguồn đa dạng sinh học, thậm chí hủy diệt nguồn tài nguyên quý giá

đó để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của mình.[4]

Cho đến thời điểm năm 1982, các nhà sinh vật đã biết được tất cả khoảng 1,4 triệu loài sinh vật, chưa đạt 5-10% tổng số các loài ước lượng có trong sinh quyển (Parker 1982, trong A.Pitterle 1993) Như vậy là đại đa số các loài sinh vật chưa được con người biết đến và đang có nguy cơ biến mất trước khi con người biết đến vai trò của chúng đối với sự sống Vùng có ĐDSH giàu nhất là vùng nhiệt đới, trong khi đó thì rừng nhiệt đới (nơi sống chính của đại đa số sinh vật) đang bị mất đi với tốc độ 11,3 triệu ha/năm (kéo theo từ 20-50% số loài có nguy cơ biến mất) Các rừng rậm nhiệt đới có hơn một nửa số loài của thế giới, mặc dù chỉ chiếm 7% diện tích đất liền của trái đất Độ phong phú loài tương đối của quần xã sinh vật rừng nhiệt đới thay đổi nhóm loài, và các kiến thức khoa học về độ phong phú loài của một số bậc phân loại vẫn còn giới hạn [43]

Trang 6

Thông tin đầy đủ nhất hiện có về rừng nhiệt đới là các thông tin về các loài thực vật Vùng tân nhiệt đới (trung và nam Mỹ) ước tính có khoảng 86.000 loài thực vật có mạch, vùng nhiệt đới và nửa khô hạn châu Phi có 30.000 loài, vùng Madagascar có 8200 loài, vùng nhiệt đới châu Á bao gồm cả New Guinea

và vùng nhiệt đới Australia có khoảng 45.000 loài Xét chung, vùng nhiệt đới chiếm 2/3 con số ước tính 250.000 loài thực vật có mạch của thế giới Theo số liệu của Alwyn Gentry, Norman Myers ước tính rằng 2/3 số loài thực vật nhiệt đới được tìm thấy ở các rừng nhiệt đới ẩm (các rừng rậm rụng lá và thường xanh) Như vậy, khoảng 45% các loài thực vật mạch gỗ của thế giới được tìm thấy trong các rừng rậm nhiệt đới [43]

Trong tự nhiên mối quan hệ giữa các loài là vấn đề rất phức tạp, trong rừng tự nhiên hỗn loài, sự đa dạng làm phong phú thêm về cơ cấu mạng lưới thức

ăn Một số tác giả sau khi nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng, sự phong phú của loài đã làm tăng tính ổn định về mặt sinh thái cho quần xã sinh vật sinh trưởng, phát triển và lúc đó lượng sinh khối trên một đơn vị diện tích là tối đa Trước đây, khi nghiên cứu sự phong phú về loài, các nhà khoa học chỉ mới dừng lại ở mức độ định tính, mô tả Các nghiên cứu mới đây nhất đã sử dụng một số chỉ số nhằm đánh giá mức độ phong phú đa dạng của tổ thành thực vật: Chỉ số

Simpson, Hàm số liên kết Shannon - Weaver (H'), chỉ số hợp lý

Khu hệ thực vật là nhóm nhân tố tham gia vào quá trình phát sinh các kiểu thảm thực vật Trong thực tế có nhiều trường hợp, tuy điều kiện khí hậu và đất hoàn toàn giống nhau nhưng lại xuất hiện những kiểu thảm thực vật khác nhau về tổ thành loài cây Giải thích điều này phải dựa vào nhóm nhân tố khu hệ thực vật Theo quan điểm địa lí thực vật thì khu hệ thực vật ở một vùng bao gồm các thành phần thực vật bản địa đặc hữu (kể cả đặc hữu cổ và đặc hữu mới) và các thực vật ngoại lai từ các luồng thực vật di cư từ nơi khác đến Tuỳ theo điều kiện địa hình, hình thức phát tán của thực vật (nhờ gió, nước v.v…) và khả năng thích nghi của thực vật mà tỉ lệ tham gia của các loài thực vật ngoại lai vào khu hệ thực vật địa phương khác nhau Sự tham gia của các luồng thực vật di cư đã hình thành nên những kiểu thảm thực vật

có thành phần loài cây khác với các kiểu thảm thực vật khí hậu Khu hệ thực vật Việt Nam, ngoài thành phần bản địa đặc hữu còn có các thành phần di cư bao gồm

ba luồng thực vật di cư chính và một số nhân tố di cư khác

- Luồng thực vật di cư từ Malaixia - Indônêxia: Đại diện cho luồng di cư này là các loài cây thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) xuất phát từ trung tâm phát sinh ở đảo Bocneo Colani đã tìm thấy gỗ hoá thạch và dấu vết lá của rừng dầu ở lưu vực sông Đa Hưng, miền nam Việt Nam Điều này chứng tỏ những loài cây họ

Trang 7

Dầu đã di cư đến Việt Nam từ kỉ đệ tam Những loài cây trong họ Dầu bao gồm

cả những loài cây thường xanh và một số loài cây rụng lá để thích nghi với những vùng khô hạn, hình thành nên rừng thưa cây họ Dầu, điển hình là rừng khộp ở Đắc Lắc, Gia Lai v.v…

- Luồng thực vật di cư từ vùng ôn đới theo độ vĩ (Vân Nam- Quí Châu) và vùng đai ôn đới núi vừa thuộc dãy núi Himalaya: Luồng thực vật di cư này bao gồm

các loài cây lá kim của ngành phụ hạt trần (Gymnospermae) như Pinus merkusii, Pinus kesiya, Keteleeria davidiana, Fokienia hodginsii, Libocedrus macrolepis, Tsuga yunnanensis, Abies pindrow, Cryptomeria japonica v.v Ngoài ra còn có

các loài cây lá rộng, rụng lá trong mùa đông thuộc họ Dẻ (Fagaceae), họ Hoa (Betulaceae), họ Thích (Aceraceae), họ Ô liu (Oleaceae), họ Óc chó (Juglandaceae), họ Đỗ quyên (Ericaceae), họ Chú nem (Vacciniaceae) Các loài cây thuộc luồng di cư này thường xuất hiện chủ yếu ở vùng núi cao và núi vừa

- Luồng thực vật di cư từ vùng khô hạn của Ấn Độ - Myanma: Đại diện cho luồng di cư này là họ Bàng (Combretaceae) trong đó phần lớn các loài thuộc các chi Terminalia, Anogeissus, Finetia, Combretum có đặc điểm rụng lá trong mùa

khô Ngoài ra còn có những loài cây rụng lá như Tếch (Tectona grandis), Lõi thọ (Gmelina arborea) trong họ Verbenaceae, Tung (Tetrameles nudiflora) trong họ Datiscaceae, Săng lẻ hay Bằng lăng (Largerstroemia sp) trong họ Lythraceae, Gạo (Cossampinus malabaricus) trong họ Bombacaceae v.v…Các loài thực vật

thuộc luồng di cư này di cư vào vùng núi cao ở Tây Bắc Việt Nam và dọc theo dãy Trường Sơn đi đến các cao nguyên ở Tây Nguyên Theo Thái Văn Trừng (1978, 1999), ước lượng thành phần các nhân tố bản địa và ngoại lai trong khu hệ thực vật Việt Nam như sau:

Nhân tố bản địa đặc hữu: (Khu hệ Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa) 50%

Nhân tố di cư: Từ khu hệ thực vật Malaixia - Indonexia 15%

(Không kể các loài cây nhập nội)

Thành phần khu hệ thực vật trên đây đã làm tăng tính đa dạng về loài và hệ sinh thái cho thảm thực vật rừng Việt Nam [43]

Trang 8

Phân loại thảm thực vật rừng của Thái Văn Trừng được tiến hành trên quan

điểm sinh thái phát sinh quần thể, tức là sự hình thành những kiểu thảm thực vật,

những xã hợp thực vật dưới tác động của những nhóm nhân tố sinh thái trong hoàn cảnh bên ngoài quần thể

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

2.2.1.1 Nghiên cứu về đa dạng sinh học

Trước nguy cơ mất ĐDSH một cách nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan đã ra đời Công ước RAMSAR, Iran (1971), Công ước (CITES, 1972), Công ước Paris (1972), Công ước bảo vệ các loài ĐVHD di cư, Born (1979), công ước ĐDSH (1992)

So sánh số loài cây gỗ có D1.3 >2,5cm trong một ô tiêu chuẩn có diện tích 0,1 ha thì ở vùng Địa Trung Hải (24 -136 loài) tương tự như trong rừng khô nhiệt đới và rừng mưa bán thường xanh (41-125 loài); trong rừng mưa thường xanh nhiệt đới số loài cao hơn nhiều (118-136 loài) (Mooney, 1992) Số loài bình quân trong rừng ôn đới khoảng 21- 48 loài Sự đa dạng về loài của rừng mưa nhiệt đới được diễn đạt bằng công thức Shannon-Weaver (1971) như là một thông số so sánh mật độ tham gia của mỗi loài với H = 6,0 (cực đại có thể 6,2 = 97%) lớn gấp

10 lần so với rừng lá rộng ôn đới (0,6) Thông số này giảm dần từ vùng nhiệt đới đến hai cực và phụ thuộc vào các lục địa khác nhau Theo lý thuyết ốc đảo của Mac Arthur-Wilson (1971) thì số lượng loài tương tự bằng căn bậc bốn của diện tích ốc đảo (Công thức tính nhanh: diện tích tăng lên 10 lần có nghĩa là số loài tăng lên gấp đôi) Ngược lại, diện tích bị thu hẹp lại có nghĩa là một số loài tương ứng sẽ bị tiêu diệt hoặc phải đấu tranh để tồn tại (Wilson, 1992)

Danh sách các loài có tên trong sách đỏ ngày càng tăng lên, có nghĩa là các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng ngày càng nhiều mà nguyên nhân không có gì khác hơn là các hoạt động sống của con người Khi so sánh các dạng sử dụng đất khác nhau (chẳng hạn nông nghiệp, du lịch, giao thông, v.v ) thì lâm nghiệp đứng hàng thứ 2 (sau nông nghiệp) như là nguyên nhân của việc suy giảm, trong khi cách đây một phần tư thế kỷ (1981) còn xếp ở vị trí thứ 6 (sau nông nghiệp,

du lịch, khai thác vật liệu, đô thị hoá và thuỷ lợi) (Sukopp, 1981- dẫn theo Pitterle, A 1993)

Theo một đánh giá mới về rừng nhiệt đới ở Tây Nam Trung Quốc, diện tích che phủ của rừng mưa nhiệt đới ở phía Nam Vân Nam đã giảm 67% trong vòng 30 năm qua, chủ yếu là do việc thành lập các đồn điền cao su Rừng mưa nhiệt đới ở Nam Vân Nam là một kiểu rừng mưa nhiệt đới châu Á, thường có độ

Trang 9

cao so với mặt biển lên đến 1000m Những khu rừng ở Nam Vân Nam đã đóng góp hơn 3600 loài thực vật có hạt, chiếm 75% lượng phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á Rừng mưa nhiệt đới khác với các kiểu rừng mưa trên đất thấp ở chỗ có các cây rụng lá trong tầng tán, ít loài chồi lớn trên mặt đất và thực vật bì sinh, nhưng rất phong phú các loại dây leo và các cây lá kim Những khác biệt này là

do rừng mưa nhiệt đới bị ảnh hưởng bởi sự khô theo mùa và nền nhiệt độ tương đối thấp so với khu vực cùng vĩ độ và cao độ tương ứng Mặc dù có tầm quan trọng sinh học như vậy nhưng độ che phủ của các khu rừng ở Nam Vân Nam vẫn

bị giảm từ 10,9% xuống còn 3,6% trong vòng 30 năm qua, do việc chuyển đổi ruộng lúa tự cung tự cấp sang các đồn điền cao su của nhóm người Dai - nhóm dân tộc có mối liên hệ gần với người Thái ở Thái Lan [Theo ThienNhien.Net ngày 20/3/2008]

2.2.1.2 Các nghiên cứu liên quan đến thảm thực vật rừng trên núi đá vôi

Để góp phần xây dựng những nguyên lý, và đề cập đến nhiều biện pháp

kỹ thuật về kinh doanh rừng mưa nhiệt đới đã có nhiều tác giả nước ngoài như: Richard (1960) với công trình Rừng mưa nhiệt đới; Catinot (1965) với công trình Lâm sinh học nhiệt đới; G Baur (1970) với tác phẩm Cơ sở sinh thái của kinh doanh rừng mưa, Lampard (1989) với công trình Lâm sinh học nhiệt đới , các công trình nghiên cứu này đã chỉ ra rằng rừng nhiệt đới rất đa dạng phong phú về thành phần loài Sự đa dạng trong thành phần loài của thảm thực vật rừng phụ thuộc vào quá trình tái sinh tự nhiên

Viện Lâm nghiệp Quảng Tây và Quảng Đông (Trung Quốc) đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài cây trên núi đá vôi như: Tông dù, Mắc rạc (Dầu choòng), Xoan nhừ, Lát hoa, Nghiến, trong thời kỳ 1985-1998 Những nghiên cứu đó đã được tổng kết sơ bộ sau nhiều hội thảo khoa học ở Học viện Lâm nghiệp Bắc Kinh với sự tham gia của nhiều nhà khoa học lâm nghiệp đầu ngành của nước này và những hướng dẫn tạm thời về kỹ thuật phục hồi rừng trên núi đá vôi đã được xây dựng Tuy nhiên, những nguyên lý về phục hồi và phát triển rừng trên núi đá vôi chưa được tổng kết một cách có hệ thống nên việc áp dụng những hướng dẫn này cho nhiều quốc gia khác, trong đó có Việt Nam còn khiêm tốn

và đang trong giai đoạn thử nghiệm (Dẫn theo Bùi Thế Đồi, 2001)

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

2.2.2.1 Các nghiên cứu liên quan đến ĐDSH

Theo ước tính gần đây nhất thì có đến 12 định nghĩa khác nhau về ĐDSH (Gaston and Spicer, 1998) Tuy nhiên trong số này thì định nghĩa được sử dụng trong Công ước đa dạng sinh học (1992) được coi là "toàn diện và đầy đủ nhất" xét về mặt

Trang 10

khái niệm Trong thực tế thuật ngữ đa dạng sinh học được dùng lần đầu tiên vào năm

1988 và sau khi Công ước Đa dạng sinh học được ký kết (5/6/1992) thì nó đã được dùng phổ biến hơn

Trong Công ước về đa dạng sinh học, thuật ngữ đa dạng sinh học được dùng

để chỉ sự phong phú và đa dạng của giới sinh vật từ mọi nguồn trên trái đất, nó bao

gồm sự đa dạng trong cùng một loài, giữa các loài và sự đa dạng hệ sinh thái

(Gaston and Spicer, 1998) Như vậy đa dạng sinh học là toàn bộ các dạng sống trên trái đất, bao gồm tất cả các nguồn tài nguyên di truyền, các loài, các hệ sinh thái và các tổ hợp sinh thái Đa dạng sinh học thường được thể hiện ở 3 cấp độ: đa dạng trong loài (đa dạng di truyền), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái)

“Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dưới nước khác, và mọi tổ thợp sinh thái mà chúng tạo nên; Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng

di truyền), giữa các loài và các hệ sinh thái” – Công ước đa dạng sinh học, 1992 Việt Nam có khoảng 12.000 loài thực vật có mạch, trong đó đã định tên đuợc khoảng 7.000 loài thực vật bậc cao, 800 loài rêu và 600 loài nấm Tính đặc hữu của

hệ thực vật rất cao, có ít nhất là 40% số loài đặc hữu, không có họ thực vật đặc hữu, nhưng có tới 3% số chi thực vật đặc hữu Các khu vực: Hoàng Liên Sơn, Tây

Nguyên, Bắc và Trung Trường Sơn được coi là trung tâm các loài đặc hữu.[12]

Phan Kế Lộc (1998) đã kiểm kê và ghi nhận đến nay trong hệ thực vật Việt Nam đã biết được 9.653 loài thực vật bậc cao có mạch mọc tự nhiên, thuộc 2.011 chi và 291 họ Nếu kể cả khoảng 733 loài cây trồng đã được nhập nội thì tổng số loài thực vật bậc cao có mạch biết được ở Việt Nam đã lên tới 10.386 loài, thuộc 2.257 chi và 305 họ, chiếm khoảng 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ của toàn thế giới Cũng do điều kiện khí hậu và địa hình đa dạng, đặc thù nên hệ thực vật nước ta có thành phần loài khá phong phú mang cả yếu tố của thực vật nhiệt đới ẩm Indonesia – Malaisia, yếu tố của thực vật nhiệt đới gió mùa, thực vật ôn đới nam Trung Hoa và các yếu tố của thực vật Ấn Độ - Trung và Nam Tiểu

Á [ Dẫn theo Ngô Xuân Hải, 2010]

Như chúng ta đã biết, tính đa dạng sinh học của một hệ sinh thái tiêu biểu hay một vùng lãnh thổ nào đó đều được biểu hiện trong các phạm trù khác nhau Trước hết là sự đa dạng các taxon (ngành, lớp, họ, chi, loài…); sau đó là sự đa dạng trong cấu trúc của hệ sinh thái, mối quan hệ tương hỗ giữa các quần hệ, quần xã, tạo nên sự cân bằng sinh thái bền vững, tồn tại một cách tự nhiên; và cuối cùng là vai trò của con người tác động vào sự đa dạng đó để duy trì, phát

Trang 11

triển, phá vỡ, huỷ hoại sự cân bằng đó Việt Nam nằm ở Đông Nam bán đảo Đông Dương có phần đất liền rộng khoảng 330.000 km2, với bờ biển dài khoảng 3.200km, phần nội thuỷ và lãnh hải gần với bờ biển rộng khoảng hơn 22.600km

Ba phần tư diện tích của cả nước là đồi núi với đỉnh núi cao nhất là Phan Xi Păng 3.143 m ở phía Tây Bắc Nơi đây các dãy núi cao được hình thành do sự kéo dài của dãy núi Hymalaya Mặc dù có những tổn thất quan trọng về diện tích rừng trong một thời kỳ kéo dài nhiều thế kỷ nhưng hệ thực vật nước ta vô cùng phong phú và đa dạng về chủng loại… Điều đặc biệt là hệ thực vật nước ta giàu những loài cây gỗ, cây bụi, dây leo gỗ…và rất nhiều đại diện cổ tồn tại từ kỷ đệ tam Theo dự đoán của các nhà thực vật học (Takhtajan, Phạm Hoàng Hộ, Phan Kế Lộc) số loài ít nhất sẽ lên đến 12.000 loài thực vật bậc cao, trong đó có khoảng 2.300 loài được sử dụng làm nguồn lương thực, thực phẩm, làm thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc, lấy gỗ, lấy tinh dầu, dầu béo và nhiều loại nguyên liệu khác (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997), mặt khác hệ thực vật Việt Nam có mức độ đặc hữu cao Tuy rằng hệ thực vật Việt Nam không có các họ đặc hữu mà chỉ có các chi đặc hữu chiếm khoảng 3% nhưng số loài đặc hữu chiếm đến khoảng 20%, tập trung ở 4 khu vực chính: núi Hoàng Liên Sơn, Ngọc Linh, cao nguyên Lâm Viên

ở Việt Nam vào khoảng 13.766 loài, chiếm khoảng 6,3% so với toàn cầu [2]

Những nghiên cứu về nguy cơ suy giảm ĐDSH và các biện pháp bảo tồn cũng đã được chú ý ngày càng nhiều ở Việt Nam Trước năm 1975, ở cả hai miền

đã xây dựng được nhiều khu rừng cấm Sau giải phóng 1975, nhà nước đã quan tâm xây dựng các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia để bảo vệ tính ĐDSH Số lượng các khu bảo tồn và vườn quốc gia đã tăng từ 49 khu năm 1975

Trang 12

lên 73 khu năm 1980 và năm 2005 đã lên tới 128 khu với tổng diện tích gần 2 triệu ha

Hiện nay, đã có nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam đã được tiến hành và công bố dưới các hình thức khác nhau, sau đây chúng tôi chỉ điểm qua một vài công trình chủ yếu: Nguyễn Hoàng Nghĩa (1997, 1999) đã đề cập rất chi tiết đến bảo tồn nguồn gen cây rừng; Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) với “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” đã cung cấp các phương pháp nghiên cứu đa dạng sinh vật và cách nhận biết nhanh các các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam; Hàng loạt các nghiên cứu, điều tra, đánh giá sự phong phú của tài nguyên sinh vật phục vụ cho việc qui hoạch, xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên

đã được tiến hành; Với sự giúp đỡ của các dự án quốc tế do các tổ chức như IUCN, WWF, Bird Life, UNDP… nhiều nghiên cứu chuyên đề về ĐDSH cũng đã được tiến hành ở các Vườn quốc gia; Nhiều luận án tiến sĩ cũng đã được hoàn thành liên quan đến vấn đề nghiên cứu bảo tồn ĐDSH, Cao Thị Lý (2007) với luận án: “Nghiên cứu bảo tồn ĐDSH: những vấn đề liên quan đến quản lý tổng hợp tài nguyên rừng ở một số khu bảo tồn thiên nhiên vùng Tây Nguyên” đã đề cập đến một hệ thống phương pháp tiếp cận kết hợp kỹ thuật với xã hội để nghiên cứu giám sát trong quản lý, bảo tồn tài nguyên rừng và đã đề xuất hai giải pháp cụ thể phục vụ quản lý tài nguyên rừng nhằm giải quyết hài hoà hai mục tiêu: sinh kế của dân cư vùng đệm và quản lý bền vững tài nguyên bảo tồn Ngô Tiến Dũng (2007) với luận án: “Tính đa dạng thực vật của VQG Yok Đôn, tỉnh Đak Lak” đã mô tả sự biến đổi thảm thực vật thông qua điều tra theo tuyến với 5 kiểu thảm, 21 ưu hợp và

4 kiểu trảng và hoàn thiện danh lục thực vật của VQG Yok Đôn với 129 họ, 478 chi, 858 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó tác giả đã bổ sung 21 họ, 188 chi

và 292 loài

Về mặt địa sinh học, Việt Nam là giao điểm của các hệ động thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc và Inđônêxia – Malaysia Cùng với các yếu tố địa lý, địa hình, khí hậu thủy văn đã tạo cho nơi đây trở

thành một trong những khu vực có tính đa dạng sinh học cao của thế giới (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2002 – Báo cáo quốc gia về các khu bảo tồn và phát triển kinh tế) ĐDSH có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự

nhiên và cân bằng sinh thái Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của loài người và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất Theo ước tính Việt Nam có khoảng 15.000 loài thực vật có mạch Hiện nay đã xác định tên được 11.373 loài thực vật bậc cao, 793 loài rêu và hơn 600 loài nấm Để bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là các vùng có tính ĐDSH cao, nơi phân bố các loài quý hiếm, Chính

Trang 13

phủ Việt Nam đã cho thành lập một hệ thống các Khu rừng đặc dụng bao gồm Vườn quốc gia, Khu dự trữ thiên nhiên, Khu bảo tồn loài/sinh cảnh, Khu bảo vệ cảnh quan được phân bố trên hầu khắp các vùng sinh thái, gồm 127 khu Cần phải hoàn thiện hệ thống chính sách, luật pháp, nâng cao ý thức và năng lực bảo tồn, huy động được sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo tồn (Dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên) [13]

Nguyễn Gia Lâm (2003), nghiên cứu về Đa dạng sinh học tài nguyên rừng Bình Định cho biết hiện có khoảng 155 họ, 1.625 loài, trong đó thực vật hạt kín hai lá mầm 113 họ, 1.162 loài; thực vật hạt kín 1 lá mầm 22 họ, 141 loài; ngành hạt trần có 6 họ, 286 loài, quyết thực vật 14 họ, 36 loài, số loài thực vật làm thuốc có 282 loài, cây có công dụng đặc biệt có 41 loài Thực vật Bình Định mang tính đặc trưng, có rất nhiều loài cây quý hiếm như Lát, Cà te, Giáng hương,

Gụ, Trắc, Thông tre.[20]

Vườn quốc gia Yok Đôn đặc trưng cho hệ sinh thái rừng khộp, kết quả điều tra thống kê được 566 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 290 chi và 108 họ Hệ cây gỗ ở đây khá phong phú và đa dạng Sự phân bố của các taxon trong ngành là không đồng đều, trong đó ngành hạt kín có số loài nhiều nhất 559 loài chiếm 98,8%

và ít nhất là ngành hạt trần có 1 loài chiếm 0,1% Tuy nhiên tác giả cũng so sánh với

hệ thực vật ở Pù Mát, Cúc Phương, Sa Pa thì thấy mức độ đa dạng của hệ cây gỗ Yok Đôn thấp hơn Điều đó cũng phù hợp với thực tế điều kiện khí hậu Yok Đôn khô, không thích hợp.Hệ thống phân loại thảm thực vật Yok Đôn gồm: Kiểu rừng kín thường xanh, kiểu rừng thưa nửa rụng lá, kiểu rừng thưa cây lá rộng rụng lá (rừng khộp), phân quần xã này rất đặc trưng, độc đáo, bao trùm nhất Vườn quốc gia, với chủ yếu cây họ dầu, cấu trúc đơn giản về tầng thứ, nghèo về thành phần loài, mật độ cây thấp [14]

Bằng phương pháp điều tra theo tuyến song song và phóng xạ, lập các ô tiêu chuẩn, tính đa dạng thực vật Vườn quốc gia Cúc Phương, Nguyễn Bá Thụ đã đưa ra

số liệu tổng số loài thực vật bậc cao là 1.944 loài thuộc 912 chi, 219 họ, 86 bộ của 7 ngành thực vật, trong đó có 98 loài quý hiếm So với tổng số loài thực vật bậc cao của Việt Nam (11.374 loài kể cả ngành Rêu), số loài thực vật bậc cao của Cúc Phương chiếm 17,27% Tác giả cũng đã đưa ra được sự đa dạng về các quần xã thực vật của

hệ thực vật Cúc Phương, có 19 quần xã thực vật đã được phân loại, mô tả và lần đầu tiên được thể hiện trên bản đồ [34]

Kết quả nghiên cứu đa dạng thực vật thuộc dự án ICBG tại Cúc Phương đã

bổ sung thêm 119 loài thực vật mới cho Cúc Phương (so với danh lục năm 1997),

phát hiện được 2 chi thực vật mới cho Việt Nam là Nyctocalos thuộc họ Núc nác

Trang 14

(Bignoniacea) và chi Gardneria thuộc họ Mã tiền (Loganiaceae) Đặc biệt đã phát

hiện một chi mới và loài mới cho khoa học là Vietorchis aurea Averyanov thuộc họ

Lan (Orchidaceae) Phát hiện được 45 điểm đa dạng thực vật tại khu vực Cúc Phương [7]

Phân tích tổ thành thực vật Vườn quốc gia Ba Vì cho thấy: thành phần loài

ở đai cao Ba Vì khá phong phú, có nhiều chi và loài thuộc các họ thực vật phân

bố chủ yếu ở á nhiệt đới và ôn đới Đã phát hiện có 417 loài, thuộc 323 chi, 136

họ thực vật bậc cao có mạch, trong đó ngành hạt kín chiếm chủ yếu với 377 loài

Có một số loài quý hiếm như: Bách xanh (Calocedus macrolepis), Phỉ (Cephalotaxus mannii), Thông tre (Podacapus neriifilius), Ba gạc (Rauwolfia vertieilata), Sến mật (Madhuca pasquieri), Vàng tâm (Manglietia conifera),

Trên vùng cao Ba Vì còn tồn tại hai kiểu chính: kiểu rừng kín thường xanh mưa

ẩm nhiệt đới núi thấp và kiểu rừng hỗn hợp cây lá rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp Kiểu rừng thứ nhất chiếm phần lớn diện tích khu vực nghiên cứu, là một phức hợp những loài ưu thế: Re vàng, Vàng tâm, Kháo lá to, Bản xe giả, Bời lời

Ba Vì, Trám trắng, Bạc tán, Dẻ đấu nứt, Vỏ mản, Tổ kén, Re lá bạc, Kiểu rừng thứ hai phân bố ở vị trí cao hơn và thể hiện qua sự hiện diện của một số loài cây hạt trần và họ đỗ quyên, rừng không có loài ưu thế rõ rệt [19]

Khi nghiên cứu về khả năng tái sinh phục hồi rừng vùng Đông Bắc Việt Nam, Phạm Quốc Hùng (2005), cho biết trong vùng Đông Bắc, trạng thái rừng IIa có nhiều dạng ưu hợp, tùy từng nơi sẽ có những loài hoặc nhóm loài ưu thế khác nhau, các loài tiên phong ưa sáng chiếm tỷ lệ lớn trong tổ thành Ở vùng có độ cao thấp, những loài

Dẻ, Thẩu tấu, Trám, Dung, Chẹo, Côm và Ba soi chiếm tỷ lệ cao trong lâm phần Ở nơi tương đối cao, từ 500-700 m, những loài có khả năng chịu lạnh chiếm ưu thế như: Cáng lò, Vối thuốc, Chân chim và Lòng trứng Trạng thái rừng IIb, bên cạnh những loài tiên phong ưa sáng đến định cư còn có những loài nửa chịu bóng sẽ là chủ nhân tương lai của bước diễn thế tiếp theo như Lim xanh, Trường, De, Trám và các loài Dẻ Một số loài chịu bóng dưới tán rừng cũng đã thấy xuất hiện trong lâm phần như Mạy tèo, Trâm và Cọc rào Và trạng thái rừng IIb ở xã Tuấn Đạo, Sơn Động, Bắc Giang có

28 loài cây gỗ thuộc 16 họ thực vật cùng sinh sống, trong đó, 2 loài ưu hợp là Lim xanh và Trám đã chiếm 50% tổng số cá thể trong lâm phần [18]

Đề tài do tác giả Trần Văn Con thực hiện nhằm xác định đặc điểm lâm học của rừng thứ sinh nghèo làm cơ sở đề xuất các tiêu chí lâm học cho rừng nghèo kiệt được cải tạo Tác giả tiến hành nghiên cứu đối với rừng sản xuất là rừng gỗ lá rộng thường xanh và nửa rụng lá qua việc xác định đặc điểm về tổ thành loài; trữ lượng và chất lượng của rừng tái sinh nghèo; khả năng phục hồi

Trang 15

bằng quá trình tái sinh tự nhiên của rừng thứ sinh nghèo Kết quả cho thấy, rừng

gỗ nghèo ở các vùng sinh thái khác nhau có sự khác nhau trong các chỉ tiêu lâm học Về đa dạng loài, sự khác nhau giữa các vùng sinh thái không lớn, biến thiên

từ 32-36 loài/ha Vùng duyên hải miền Trung (DHMT) có số loài bình quân cao nhất là 36 Mật độ cây ở tầng cao biến thiên từ 360 (BTB - Bắc Trung bộ) - 410 cây/ha (DHMT) Sự khác biệt rõ rệt nhất là ở chỉ tiêu trữ lượng rừng với biến thiên từ 58 -82 m3/ha, theo thứ tự thấp dần của các vùng sinh thái như sau: TN (Tây Nguyên)>ĐNB (Đông Nam Bộ) > BTB (Bắc Trung Bộ) > DHMT > TB (Tây Bắc) Khả năng phục hồi rừng thể hiện qua số cây tái sinh mục đích và cây

mẹ gieo giống biến động rất lớn từ 58-82% trên tất cả các vùng [11]

Như vậy có thể thấy nghiên cứu về đa dạng sinh học thực vật theo các taxon

đã được rất nhiều các tác giả tiến hành bằng nhiều phương pháp khác nhau và đã đưa ra được số liệu thống kê về thành phần loài thực vật ở các khu vực nghiên cứu Tuy nhiên, nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ ở trên núi đá vôi thì vẫn ít được nghiên cứu, đặc biệt là ở trạng thái rừng trên núi đá vôi ở một khu bảo tồn thiên nhiên mới được thành lập như Thần Sa – Phượng Hoàng

2.2.2.2 Các nghiên cứu về thảm thực vật rừng trên núi đá vôi ở Việt Nam

Hệ sinh thái núi đá vôi Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ có nguồn gốc phát sinh, phát triển trên nền đá mẹ là đá vôi, hình thành các kiểu thảm thực vật thường xanh, lá rộng, lá kim hoặc hỗn giao lá rộng, lá kim cùng với hệ động vật đặc thù mà không phải bất kỳ nơi nào cũng có Với diện tích 1.147.000 ha, hệ sinh thái núi đá vôi chiếm 6,1% tổng diện tích đất lâm nghiệp, nhưng trong đó chỉ có 396.200 ha rừng, còn lại là núi đá vôi với cây bụi, hay hoàn toàn trơ trọc Mặc dù diện tích rừng của hệ sinh thái núi đá vôi chỉ chiếm 34,4% tổng diện tích núi đá vôi, nhưng tại đây, thời gian qua các nhà khoa học đã phát hiện được nhiều loài động vật, thực vật quý hiếm, đặc hữu, trong đó đáng chú ý là có một

số là loài mới cho khoa học, đặc biệt còn có một chi mới Hệ sinh thái núi đá vôi không chỉ có đóng góp to lớn cho khoa học mà còn có những đóng góp đáng kể

về kinh tế Một số loài cây gỗ quý như Nghiến (Burretidendron tonkinense), Đinh (Markhamia stipulata), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Trai (Garcinia fagraeoides), Pơ mu (Fokienia hodginsii), Kim giao núi đá (Nageia fleuryi)…

chỉ có trên núi đá vôi Hệ sinh thái núi đá vôi còn là nơi có nhiều loài cây cảnh, phần lớn thuộc họ Lan (Orchidaceae), trong đó, đáng chú ý nhất là chi Lan hài (Paphiopedilum) [6]

Hệ thực vật vùng núi đá vôi mang tính chất pha trộn của nhiều luồng thực vật nhưng đặc trưng cơ bản là luồng thực vật bản địa Bắc Việt Nam - Nam Trung

Trang 16

Hoa, đồng thời cũng chịu nhiều ảnh hưởng của các luồng thực vật khác Thảm thực vật trên núi đá vôi Việt Nam phân bố không liên tục tập trung ở vành đai 300m – 1200m so với mặt nước biển

Hệ thống thảm thực vật núi đá vôi phân bố theo độ cao theo "Hệ sinh thái

rừng tự nhiên Việt Nam" - Cẩm nang ngành lâm nghiệp (2006) như sau: Rừng núi đá vôi ở đai thấp dưới 700m và rừng núi đá vôi ở đai cao 700 - 1.000m

Trần Ngũ Phương (1970) [24], khi đề cập đến rừng ở miền Bắc Việt Nam đã

xếp rừng trên núi đá vôi vào: (1) Đai rừng nhiệt đới mưa mùa với kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh núi đá vôi, kiểu này có 4 kiểu phụ thổ nhưỡng nguyên sinh

1-2 tầng cây gỗ, trong đó Nghiến là loài cây ưu thế; (2) Đai rừng á nhiệt đới mưa

mùa với kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đá vôi, kiểu này có 3 kiểu phụ một tầng, trong đó các loài Vân sam (Keteeleria calcarea), Hoàng đàn (Cupressus terulus) và Kim giao (Podocarpus latiofolia) chiếm ưu thế

Ngoài ra, Theo Nguyễn Bá Thụ (1995) [33], rừng trên núi đá vôi ở Cúc

Phương được xếp vào quần hệ phụ rừng rậm nhiệt đới thường xanh mưa mùa cây lá rộng trên đất thấp (dưới 500 m so với mặt nước biển) thoát nước phong hoá từ đá vôi và quần hệ phụ này bao gồm 6 quần xã, trong đó các loài cây chính tham gia

gồm Chò đãi, Sấu, Nhội, Vàng anh, Chò nhai, Mạy tèo, Sâng, Dẻ gai, Re đá, Côm lá lớn, Trường nhãn, Vải guốc, Mang cát, Hồng bì rừng và Ô rô

Trần Ngũ Phương (1970) chỉ tiến hành phân loại rừng trên núi đá vôi ở trạng thái nguyên sinh, nên ở kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh núi đá vôi Nghiến

(Burretidendron tonkinense), là loài cây luôn giữ vai trò ưu thế Trong thực tế,

phần lớn các diện tích rừng trên núi đá vôi hiện nay đã bị tác động, số lượng tầng và loài cây ưu thế ở các kiểu rừng này đã thay đổi

Hệ thống phân loại rừng của UNESCO (1973) khá chi tiết và dễ dàng vận dụng thích hợp cho việc phân loại thảm thực vật trong phạm vi một vùng khí hậu như phân loại thảm thực vật cho một Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên

Hệ thống phân loại thảm thực vật rừng của Thái Văn Trừng được xây dựng trên cơ sở học thuyết về hệ sinh thái của Tansley A.P (1935) và học thuyết sinh địa

quần học của Sucasev (1957) theo nguyên lý "sinh thái phát sinh thảm thực vật" Do

vậy, lý luận của phân loại này hoàn toàn chặt chẽ và đáp ứng được thực tiễn, vì khả năng áp dụng dễ dàng Để xác định một kiểu rừng chính, theo Thái Văn Trừng, chỉ cần dựa vào 4 tiêu chuẩn là dạng sống ưu thế, tàn che, hình thái sinh thái của lá và

trạng mùa của tán lá của tầng cây ưu thế sinh thái Mặt khác, hệ thống phân loại của

Thái Văn Trừng có thể áp dụng cho tất cả các loại thảm thực vật dù đó là rừng nguyên sinh hay rừng thứ sinh bị tác động, thậm chí là những khu rừng nhân tạo do

Trang 17

con người xây dựng Vì vậy, chúng tôi đã sử dụng các tiêu chuẩn phân loại rừng của Thái Văn Trừng để tiến hành xác định các kiểu phụ và các QXTV rừng ở khu vực nghiên cứu của đề tài

2.2.2.3 Các nghiên cứu liên quan đến ĐDSH trên núi đá vôi

Viện Điều tra - Quy hoạch rừng (1965) cùng với Viện sinh thái tài nguyên sinh vật, Viện Dược liệu, đã tiến hành nghiên cứu mức độ đa dạng sinh vật, công tác quản lý bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng trên núi đá vôi ở Cao Bằng và một số

địa phương khác (Dẫn theo Bùi Thế Đồi, 2001) [16]

Trong hai năm 1967 và 1968, Nguyễn Vạn Thường và đội 9 Lâm học - Viện Điều tra Quy hoạch (Bộ Lâm nghiệp) thực hiện điều tra chuyên đề rừng núi đá vôi tại một số khu vực thuộc tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Hoà Bình, Cao Bằng, Quảng Ninh Kết quả điều tra đã đưa ra nhận xét khái quát: sự biến đổi các đặc trưng lâm học của các quần hệ rừng trên núi đá vôi miền Bắc Việt Nam có sự sai khác rõ rệt về cấu trúc (ngay cả trong trạng thái rừng nguyên sinh) trên các dạng địa hình chủ yếu (Dẫn theo Bùi Thế Đồi, 2001) [16]

Báo cáo "Đặc điểm tự nhiên rừng núi đá vôi Na Hang, Tuyên Quang" đã đưa

ra số liệu về diện tích và trữ lượng tài nguyên rừng núi đá vôi đồng thời xác định các đặc điểm chủ yếu của một số loài cây trên núi đá vôi như Nghiến, Trai, Tre trinh, Đao, Báng, và tình hình sâu bệnh hại trong vùng Ngoài ra, báo cáo này còn đưa ra một số nhận định về tái sinh của Nghiến, Trai lý (Dẫn theo Bùi Thế Đồi, 2001) [16]

Hoàng Kim Ngũ (1990 -1998) đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và khả năng gây trồng các loài cây như Nghiến, Mạy sao, Trai lý, Hoàng đàn, Mắc rạc, Xoan nhừ, Mắc mật trên núi đá vôi ở Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn Tác giả đã xác định được một số đặc điểm sinh thái và đề xuất kỹ thuật gây trồng các loài cây này ở các địa phương trên Từ năm 1999 tác giả tiến hành gây trồng thử nghiệm các loài cây này trên đất đá vôi ở một số nơi khác ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn và các tỉnh vùng Tây Bắc Tuy nhiên, do còn đang trong thời gian thử nghiệm nên đây chỉ là những khẳng định ban đầu về khả năng thành công của các mô hình phục hồi rừng, đặc biệt là các mô hình ở vùng Tây Bắc (Dẫn theo Bùi Thế Đồi, 2001) [16]

Tại Phúc Sen, Cao Bằng, người dân địa phương (chủ yếu là người Nùng Inh) đã tiến hành trồng rừng trên đất đá vôi bằng loài Mắc rạc Kết quả cho thấy, khả năng thành rừng khi trồng loài cây này rất cao, góp phần che phủ những diện tích đất trống và cung cấp chất đốt cho bà con Đây được xem là những đóng góp quan trọng cho việc nghiên cứu phục hồi rừng trên núi đá vôi (Dẫn theo Bùi Thế Đồi, 2001) [16]

Trang 18

Tài nguyên và ĐDSH trên núi đá vôi là một nguồn tài nguyên quý giá và quan trọng đã tạo nên sự phong phú, đa dạng của các loài động thực vật cũng như các hệ sinh thái rừng của Việt Nam Theo số liệu thống kê tài nguyên rừng năm

2003 của Viện Điều tra quy hoạch rừng, diện tích rừng và đất rừng của Việt Nam

là 18.866.473 ha, diện tích núi đá là 1.012.625 ha, phần lớn diện tích trên là núi

đá vôi, chiếm gần 5,4% tổng diện tích đất lâm nghiệp cả nước Kết quả điều tra thành phần thực vật rừng trên núi đá tương đối phong phú Thực vật phát triển đa dạng về loài bao gồm các loài cây lá kim và các loài cây lá rộng Vùng Lạng Sơn

có 104 họ với 365 loài, vùng Tuyên Quang – Hà Giang có 149 họ và 967 loài, Vùng Tây Bắc – tây Thanh Hóa – Nghệ An có 149 họ với 1.049 loài, vùng Trường Sơn Bắc có 575 loài của 129 họ [15]

Đánh giá tính đa dạng thực vật trên núi đá vôi phía Đông bắc Khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên – Hữu Lũng – Lạng Sơn, Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự

đã điều tra trong diện tích khoảng 48 km2, và đã xác định được 554 loài, 334 chi,

124 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch là: Thông đất - Licopodiophyta, Cỏ tháp bút - Equisetophyta, Dương xỉ - Polypodiophyta, Thông nghiệp (Hạt trần) - Pinophyta (Gymnospermae), Mộc lan (Hạt kín) - Magnoliophyta (Angiospermae) [32]

Khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trên núi đá vôi tại ba địa phương ở miền Bắc Việt Nam tác giả Bùi Thế Đồi (2001) cho rằng: Trong tất cả các quần

xã thực vật rừng nghiên cứu ở ba địa phương, chỉ có <10 loài cây tham gia trong công thức tổ thành, cao nhất ở Tân Hoá - Quảng Bình và thấp nhất là ở Tự Do – Cao Bằng Các loài cây chính tham gia trong các QXTV rừng ở các địa phương khác nhau Tầng cây gỗ của các QXTV rừng ở Tân Hoá – Quảng Bình có chỉ số

đa dạng lớn hơn so với ở Đa Phúc – Hòa Bình và Tự Do – Cao Bằng Trong đó ở

Tự Do (Cao Bằng) thì Nghiến chiếm tỷ lệ tổ thành trên 20% [16]

Năm 2005, tổ chức WWF đã tiến hành điều tra khảo sát về đa dạng thực vật tại những khu rừng ở Trung Trường Sơn, đã tiến hành quan sát và mô tả các kiểu thảm thực vật chính và hệ thực vật dựa vào bộ 3.550 mẫu vật thuộc 1.517 số hiệu đã thu thập và dựa vào sự nghiên cứu thực vật ở các ô tiêu chuẩn, bao gồm các ô của các loài cây gỗ và cây không phải gỗ Trong quá trình khảo sát đã ghi nhận được 869 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 489 chi và 131 họ Trong số này có 64 loài đặc hữu địa phương, đặc hữu và gần đặc hữu, 15 loài có thể mới cho khoa học, và một số chi và loài ghi nhận mới cho hệ thực vật Việt Nam Hệ thực vật của tất cả các điểm nghiên cứu là điển hình cho hệ thực vật ở đất thấp của tiểu vùng địa lý thực vật Trung Trường Sơn Các loài thuộc yếu tố tại chỗ

Trang 19

(bản địa), yếu tố thường có sự phân bố hẹp, tạo thành phần lõi chủ yếu (ít nhất 60%) của hệ thực vật ở thảm thực vật nguyên sinh Kết quả nghiên cứu các ô cho thấy ít nhất 80% số loài cây gỗ trong tất cả các ô của vùng nghiên cứu, từ rừng nguyên sinh chưa bị tác động đến bị khai thác nặng giống nhau và chỉ gồm các

yếu tố tại chỗ Đó là các loài cây gỗ thường xanh lá rộng: Hopea pierrei, Parashorea stellata, Canarium spp., Sindora tonkinensis, Palaquium spp., Artocarpus spp., Pometia pinnata, Paviaesia anamense, [36]

2.2.2.4 Các nghiên cứu về đa dạng thực vật ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, Thái Nguyên

Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng huyện Võ Nhai (Thái Nguyên) là khu rừng đặc dụng, diện tích rừng tự nhiên là 11.220ha, nằm chủ yếu trên địa bàn hai xã Thần Sa, Phú Thượng và một phần ở địa bàn thị trấn Đình Cả,

có mục đích bảo tồn các hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi và bảo tồn các nguồn gen động thực vật, đặc biệt các loài quý hiếm và đặc hữu, bảo tồn khu di tích lịch

sử và danh thắng Thần Sa – Phượng Hoàng Trong 5 năm (1999-2004), ban quản

lý dự án đã thực hiện giao khoán bảo vệ rừng 3.299 ha, giao khoán khoanh nuôi rừng 4.655 ha và giao khoán khoanh nuôi có trồng bổ sung 100 ha Những diện tích trên đã được bảo vệ tương đối nghiêm ngặt, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng khai thác trái phép trên rừng núi đá Ngoài ra còn triển khai thực hiện mô hình thử nghiệm khoanh nuôi phục hồi rừng và trồng rừng trên núi đá vôi với diện tích 8 ha khoanh nuôi và 6 ha trồng mới [29]

Rừng trên núi đá vôi bao trùm phần lớn diện tích của Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng Ở đây có nhiều hang động là nơi cư trú, sinh sống của các loài thú và ưu thế là các loài cây Nghiến, Trai, Đinh, Chò chỉ, Mạy tèo, Ô rô, nổi bật là ưu hợp Nghiến + Ô rô Đặc biệt có loài Chò xanh sống thành quần thể ở độ cao 300-500m Rừng nhiệt đới trên núi đất ở độ cao dưới 700m: Hệ sinh thái này phân bố rải rác trong khu vực nghiên cứu, thảm thực vật ở đây chủ yếu là rừng phục hồi Trong Khu bảo tồn có 4 hệ sinh thái rừng khác nhau với 4 kiểu thảm thực vật chính và 6 kiểu phụ Chúng mang những nét đặc trưng cho hệ sinh thái và thảm thực vật vùng núi đá phía Bắc nước ta Đây là hệ sinh thái hết sức mỏng manh, kém bền vững Một khi hệ sinh thái rừng trên núi đá bị phá hủy thì rất khó phục hồi nguyên trạng Vì vậy, bảo vệ được hệ sinh thái rừng núi đá có ý nghĩa rất lớn

Năm 2008, Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Tây Bắc Bộ đã lập danh mục các loài thực vật ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng bao gồm 5 ngành, 191 họ, 1.635 loài thuộc 817chi Trong tổng số 191 họ ở khu vực

Trang 20

nghiên cứu có 55 họ chỉ có 1 loài, 42 họ có 2 – 3 loài 53 họ có 4 – 9 loài, 25 họ

có 10 – 19 loài, 17 họ có 20 loài [30]

Hiện tại, một số loài thực vật quý hiếm trong khu vực đang bị suy giảm về

số lượng cá thể nghiêm trọng và đang đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt Đó là các loài: Nghiến gân ba, Sến mật, Táu mật, Đặc biệt loài Lan hài Việt Nam coi như

đã bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên Qua đó thấy rằng, tài nguyên thực vật rừng đang ngày càng nghèo cả về số lượng và chất lượng [30]

Theo Ngô Xuân Hải và cs (2010), thành phần thực vật Thần Sa có 1.086 loài, thuộc 645 chi và 160 họ ở 5 ngành thực vật khác nhau Trong đó có 44 loài

có tên trong sách đỏ Việt Nam và có 22 loài có tên trong Nghị định

32/2006/NĐ-CP Số loài thực vật rừng ở đây diễn biến theo chiều hướng giảm về số lượng và chất lượng, đặc biệt một số cá thể quý hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng như: Nghiến, Song mật, Táu, Khu bảo tồn có tính đa dạng thực vật cao, cần được quản lý và bảo tồn [17]

Những kết quả vừa nêu mới chỉ là số liệu bước đầu, cần phải có những nghiên cứu sâu hơn để làm cơ sở cho công tác quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học đặc biệt là ở khu vực rừng trên núi đá vôi

2.2.3 Thảo luận và xác định vấn đề nghiên cứu của đề tài

Số lượng các công trình công bố liên quan đến ĐDSH cả trên thế giới và ở Việt Nam ngày càng gia tăng đã chứng tỏ tầm quan trọng của vấn đề bảo tồn ĐDSH đối với sự tiến hoá và sự phát triển bền vững của xã hội loài người Bảo tồn ĐDSH liên quan mật thiết đến việc sử dụng và quản lý tài nguyên rừng, đặc biệt là các hệ sinh thái rừng nhiệt đới, nơi được coi là trung tâm ĐDSH của thế giới Tuy nhiên, vấn đề bảo vệ rừng nhiệt đới cũng đồng nghĩa với sự hy sinh về sinh kế của nhiều cộng đồng cư dân nghèo trong các nước đang phát triển ở vùng nhiệt đới mà cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào nguồn tài nguyên rừng Do

đó, tiếp cận bảo tồn ĐDSH phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề xã hội - nhân văn nhằm gắn kết bảo tồn với phát triển bền vững Trên phạm vi toàn cầu, đây là trách nhiệm của các nước phát triển

Ở Việt Nam, bảo tồn ĐDSH đã được hoạch định một cách toàn diện, có kế hoạch hành động gắn với việc gia nhập các Công ước quốc tế Tuy nhiên cần phải quan tâm nhiều hơn đến việc giải quyết vấn đề sinh kế cho các cộng đồng người dân bản địa sống trong và gần rừng Trong hệ thống các Vườn quốc gia, việc qui hoạch và phát triển kinh tế xã hội vùng đệm để ổn định đời sống người dân là hết sức quan trọng

Trang 21

Để xây dựng các biện pháp quản lý tài nguyên rừng phù hợp và gắn kết được mục tiêu bảo tồn với phát triển kinh tế - xã hội bền vững, các kiến thức về

đa dạng hệ thực vật, về cấu trúc, động thái và khả năng phát triển tự nhiên của các loài là hết sức quan trọng Các nghiên cứu liên quan đến việc đánh giá sự đa dạng của hệ thực vật ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa đã thu được một số kết quả nhất định Bước đầu đã lập được danh mục các loài thực vật, trong đó xác định khu bảo tồn thiên nhiên là quan trọng nhất của các loài thực vật thuộc ngành hạt kín, tập trung tới 92% số loài, trong đó có một số loài phân bố hẹp, là những đối tượng quí hiếm được ghi nhận trong sách đỏ Việt Nam có nguy cơ tuyệt chủng; cần có những nghiên cứu sâu về khu phân bố, đặc trưng cấu trúc quần xã Các tác giả cũng đã khuyến nghị cần có các nghiên cứu sâu hơn để khẳng định tình trạng của tất cả các loài đã được ghi nhận tại Thần Sa - Phượng Hoàng và đồng thời đánh giá được khả năng tái sinh của các loài quan trọng Đa dạng thực vật là một lĩnh vực nghiên cứu rất rộng, các điều tra, đánh giá đã có ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng mới tập trung đánh giá đa dạng về taxon, tức là thống kê sự đa dạng về ngành thực vật, số chi, số họ và số loài; và việc thống kê này mới chỉ mang tính chất tổng quát, chưa mang ý nghĩa bảo tồn cao Và những nghiên cứu đề cập đến các chỉ số đa dạng loài và khả năng tái sinh của các loài có ý nghĩa bảo tồn trong các quần xã thì lại ít được đề cập Trong khuôn khổ của một đề tài cấp bộ với thời gian và nguồn lực có hạn, chúng tôi muốn góp một phần nhỏ để bổ sung vào kho tàng kiến thức về đa dạng hệ thực vật rừng ở Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa bằng một nghiên cứu trường hợp cụ thể, đó là: nghiên cứu tính đa dạng các loài cây gỗ ở trạng thái rừng trên núi đá vôi ở Khu bảo tồn để đánh giá tính đa dạng sinh học của chúng

2.3 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên

• Phía Bắc giáp huyện Na Rì, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

• Phía Đông giáp huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

• Phía Tây giáp huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

Trang 22

• Phía Nam giáp với huyện Võ Nhai và tỉnh Thái Nguyên

Phạm vi quy hoạch Khu bảo tồn nằm trong địa giới hành chính bao gồm một phần diện tích của của 6 xã và một thị trấn thuộc huyện Võ Nhai gồm: Thị trấn Đình Cả, xã Phú Thượng, xã Sảng Mộc, xã Thần Sa, xã Thượng Nung, xã Nghinh Tường, xã Vũ Chấn Với tổng diện tích đất quy hoạch vùng lõi khu rừng đặc dụng là 18.858,9 ha

2.3.1.2 Địa hình

Nhìn chung, địa hình Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng bị chia cắt khá mạnh, do lịch sử kiến tạo địa chất và tạo sơn hình thành Chúng có đặc điểm chung là: núi đá có dốc lớn, bị chia cắt sâu Có 3 kiểu địa hình chính như sau:

+ Nhóm kiểu địa hình đồi núi thấp: Nhóm này chiếm điện tích khá lớn, có

độ cao dưới 800 m, là nơi hoạt động sản xuất lâm nghiệp vùng đệm của Khu bảo tồn

+ Kiểu địa hình núi đá vôi: Nhóm này chiếm hầu hết diện tích của Khu bảo tồn, chúng có kiểu kiến trúc dễ nhận biết, độ cao trung bình trên 800 m + Nhóm kiểu địa hình trũng nằm xen kẽ giữa núi đá vôi và núi đồi đất: Nhóm này có địa hình thấp, bằng phằng, ở giữa những dãy núi thường xuất hiện những con sông, suối và những cánh đồng lúa hoặc hoa màu của dân chúng thuộc vùng đệm Khu bảo tồn

2.3.1.3 Khí hậu

Khí hậu nóng ẩm, mưa mùa, khá lạnh về mùa đông, mặt khác do ảnh hưởng bởi hoàn cảnh địa lý, địa hình của dãy núi Bắc Sơn (bắt nguồn từ Bắc Sơn đến Võ Nhai, Đồng Hỷ) tạo ra kiểu khí hậu đặc sắc, khắc nghiệt hơn so với các vùng khác trong tỉnh, nóng nhiều về mùa hè, lạnh hơn và thường có sương muối vào mùa đông

Một năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau

Nhiệt độ không khí trung bình năm 22,30C; nhiệt độ không khí tối thấp trung bình năm 19,30C, nhiệt độ không khí tối cao trung bình năm 26,90C

Lượng mưa trung bình năm từ 1.400 mm đến 1.600 mm

2.3.1.4 Thuỷ văn

Đặc điểm nổi bật của hệ thống thuỷ văn trong Khu bảo tồn thiên nhiên là: Mật độ dòng chảy bề mặt thấp do điều kiện địa hình núi đá vôi, nhiều hang động Các-xtơ và suối ngầm

Trang 23

Dòng chảy tương đối hẹp, độ dốc dòng chảy tương đối lớn Có suối ngầm,

có sự xuất hiện đột ngột dòng chảy trên bè mặt tạo nên cảnh quan đẹp trong khu bảo tồn thiên nhiên

Lượng nước chảy thường xuyên quanh năm Tuy mưa mùa, tập trung song hầu như chưa xảy ra lũ ống, lũ quét, gây hậu quả lớn cho sản xuất và đời sống cho nhân dân

Điều kiện khí hậu cùng với đặc điểm địa hình địa mạo tạo nên những vùng

có tài nguyên động, thực vật rừng phong phú, đặc hữu và quý hiếm

2.3.1.5 Địa chất, thổ nhưỡng

Qua điều tra, đất đai tại khu bảo tồn gồm 2 loại chính:

- Nhóm đất màu nâu đỏ (feranit) trên núi đá vôi và những nơi dốc tụ chân núi đá: Loại đất này thường nằm kẹp giữa những dãy núi đá vôi, trên đất thường xuyên xuất hiện nhiều đá lộ đầu, nhưng đất có độ phì cao nên thường bị đồng bào phát nương làm rẫy Đất có thành phần cơ giới nặng, hơi chua (Ph=5,5-6,5), tầng B phát triển mạnh và có mầu đỏ tươi rất dễ nhận biết Trên những đất này đồng bào thường trồng ngô và các cây họ đậu các loại Đối với các cây ăn quả như: Mơ, Quýt, Cam, Na, Vải, Nhãn sinh trưởng tốt, cho sản lượng quả cao trên loại đất này

Xen kẽ loại đất đỏ có loại đất xám trên đá vôi với diện tích không lớn, nhưng độ phì cao hơn, hàm lượng mùn và tầng mùn lớn hơn, kết cấu đất đa phần

là hạt, trên loại đất này đồng bào thường trồng ngô, khoai sọ, cây trồng sinh trưởng rất tốt

- Loại đất đỏ vàng hoặc vàng xám trên phiến thạch sét và đá biến chất:

Đây là loại đất chiếm diện tích khá lớn, nó được phân bố ở các thôn: Mỏ

Gà, Cao Lầm, Cao Biền (xã Phú Thượng), thôn Hạ Sơn Tày, Hạ Sơn Dao (xã Thần Sa) Tầng đất của nó từ mỏng đến trung bình và dày Phân bố chủ yếu ở các vùng đồi núi đất có độ cao dưới 300 - 600m, loại đất này có thành phần cơ giới biến động khá mạnh nằm trong giới hạn từ cát pha đến thịt nặng nói chung, trên các loại đá biến chất có thành phần cơ giới nhẹ hơn so với trên đá phiến thạch sét, đất thuộc loại chua, kết cấu kém hơn loại đất trên Trong khu vực điều tra có

độ cao trên 600-700m vùng núi đất cũng xuất hiện loại đất này, nhưng loại đất này ở vùng cao, còn rừng già nên có lượng mùn nhiều hơn, tầng A1 phát triển hơn và mầu sẫm hơn, tầng B có hàm lượng mùn khá lớn, có nơi có cả tầng AB

Độ dày tầng đất thuộc loại trung bình, nhiều nơi có đá lẫn với hàm lượng khá lớn, đất thuộc loại chua

Trang 24

Trên loại đất này thường thấy còn có rừng che phủ hoặc rừng non đang phục hồi sau nương rẫy, có ít rừng trồng, xen vào đó có cả đồi trọc do rừng và đất rừng bị thoái hoá sau nương rẫy

Thành phần loài và tính đa dạng của hệ thực vật:

Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng là nơi giao thoa của nhiều luồng thực vật khác nhau, kết hợp điều kiện khí hậu và địa hình của khu vực đã tạo nên tính đa dạng, phong phú về thành phần loài thực vật ở đây Theo

số liệu tham khảo, kế thừa của Khu bảo tồn thì thành phần thực vật trong khu bảo tồn được tổng hợp trong bảng dưới đây:

Bảng 2.1 Thành phần thực vật trong KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng

(Nguồn: Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, 2008)

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ được tổng hợp ở bảng trên, thành phần thực vật ở khu bảo tồn lên tới 1.096 loài, 645 chi, 160 họ ở 5 ngành thực vật khác nhau Các loài cây điển hình trong khu vực là: Nghiến gân ba, Trai lý, Trai đại bao, Đẻn, Thị đá, Táo sạn nam bộ, Ô rô

Trang 25

Số họ có số lượng loài từ trung bình trở lên là 50 họ Trong khi đó số họ có

số loài đạt mức dưới trung bình là 110 họ, chiếm 68,7% tổng số họ thực vật Đặc biệt, số họ có 1 loài lên tới 33 họ đã chứng tỏ tính đa dạng về họ thực vật ở khu vực này Dùng cách đánh giá của tác giả Tolmachop A.L (1974) cũng đã khẳng định điều đó Theo Tolmachop A.L: Khu hệ thực vật có 10 họ có số loài nhiều nhất chiếm tỷ lệ < 50% tổng số loài được đánh giá là đa dạng về họ, còn trên 50% là không đa dạng về họ

(Nguồn: Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, 2008)

Hệ động vật trong khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng thuộc khu hệ động vật vùng Đông Bắc Việt Nam Đây là hệ động vật đặc trưng cho hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi Đa số các loài động vật ở đây có ưu thế là thích nghi với điều kiện địa hình hiểm trở, có khả năng vận động kiếm ăn tốt nơi địa hình phức tạp Tổng số loài động vật thống kê được 295 loài trong 93 họ, 30 bộ,

5 lớp Động vật có xương sống cho Khu bảo tồn thiên nhiên này

2.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội

2.3.2.1 Dân tộc

Trong khu vực có 6 dân tộc chính sinh sống là Tày, Dao, Nùng, Kinh, H'Mông, Cao Lan Dân tộc Tày có số dân đông nhất (với 8.720 người, chiếm 42,4 %), sau đó đến dân tộc Dao (4.816 người, chiếm 23,4%) và ít nhất là dân tộc Cao Lan có 21 người chỉ chiếm 0,1% Nhìn chung mỗi dân tộc có những nét văn hóa, phong tục tập quán sinh hoạt khác nhau, tập quán canh tác khác nhau Nhưng nhìn chung các dân tộc trên đều có tập quán canh tác lạc hậu, có đời sống còn phụ thuộc vào tài nguyên rừng, đây chính là vấn đề khó khăn trong việc quản

lý và bảo vệ rừng ở nơi đây

Trang 26

Bảng 2.3.Thành phần dân tộc sống trong khu vực

Số khẩu (người )

Tỉ lệ (%)

Mật độ (người/Km 2 )

(Nguồn: Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, 2008)

Số lượng nhân khẩu tập trung đông nhất ở 5 khu vực là Sảng Mộc, Nghinh Tường, Vũ Chấn, thị trấn Đình Cả của huyện Võ Nhai, chiếm 70,04% tổng số dân Xã có số dân ít nhất là Thượng Nung với 2.163 khẩu chiếm 10,52% Tuy vậy, sức ép của người dân từ xã này lên rừng cũng không hề nhỏ vì họ sống hoàn toàn trong khu bảo tồn Tính trung bình mỗi hộ gia đình có từ 5 đến 6 người Hiện tượng này đặc biệt phổ biến trong cộng đồng người dân tộc H’mông và

Trang 27

thường dẫn tới thiếu lương thực 3 tháng mỗi năm Lực lượng lao động và sự phân bố lao động trong 6 xã và 1 thị trấn thuộc KBT được thống kê tại bảng 2.5:

Bảng 2.5 Lao động và phân bố lao động các xã

(Nguồn: Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, 2008)

Kết quả điều tra có tới 85.7 % lực lượng lao động trong khu vực tham gia vào sản xuất nông nghiệp (trống lúa nước, ngô, thuốc lá, chè và các nông sản khác), chăn nuôi gia súc, gia cầm (trâu bò, lợn, gia súc lớn, gia cầm) và tham gia trồng rừng theo dự án 661 (trồng cây keo và cây lấy củi) Một số đi rừng lấy gỗ, củi và các lâm sản ngoài gỗ khác vào những lúc nông nhàn Do đặc thù là các xã vùng cao nên một số xã chỉ canh tác lúa 1 vụ/năm vì thiếu nguồn nước sản xuất như xã Thượng Nung, Thần Sa, Vũ Chấn, Sảng Mộc Ngoài ra phát triển cây thuốc lá như các xã Phú Thượng, TT Đình Cả, họ trồng một vụ lúa, một vụ trồng cây thuốc lá Ở đây thường dư thừa lao động, vì vậy cũng đang là sức ép lớn đến nguồn tài nguyên rừng vì cuộc sống mưu sinh Hiện tại, hội phụ nữ có được vay

3 tỉ đồng vốn tín dụng, số tiền vay này chủ yếu được dùng mua lợn và cây chè và cây keo con

2.3.2.3 Thực trạng phát triển kinh tế

Theo kết quả điều tra dân sinh kinh tế xã hội, đời sống của nhân dân trong khu vực còn ở mức thấp Tổng sản lượng lương thực bình quân năm đạt: 9.208,8 tấn Trung bình đạt 451 kg/người/năm Thu nhập bình quân đạt 3,5 triệu đồng/người/năm Số hộ nghèo trong khu vực là 1.735 hộ, chiếm 39% tổng số hộ Do cuộc sống khó khăn, người dân thường xuyên vào rừng kiếm củi, khai thác gỗ, lâm sản ngoài gỗ, để kiếm sống đã tác động xấu đến rừng Đây là một trong những nguyên nhân chính làm suy giảm giá trị của rừng cả về diện tích và chất lượng

* Sản xuất nông nghiệp:

Trang 28

Trồng trọt: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của các xã trong vùng chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng diện tích tự nhiên: chiếm 5,07%

Đất lúa và lúa màu tập trung ở các thung lũng lớn và tương đối bằng phẳng, nhiều nhất ở các xã Phú Thượng, Vũ Chấn, Thượng Nung, chiếm 48,74% tổng quỹ đất nông nghiệp Diện tích đất nông nghiệp còn lại là đất nương rẫy cố định, nương rẫy luân canh và diện tích đất vườn tạp Do thiếu vốn, điều kiện địa hình lại phức tạp, giao thông chưa thuận tiện, việc đầu tư về giống, vốn, kỹ thuật cũng như việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật gặp nhiều khó khăn đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất nông nghiệp Tình trạng sử dụng đất theo phương pháp cổ truyền, canh tác quảng canh còn khá phổ biến ở nhiều hộ gia đình Những điều đó

đã dẫn đến tình trạng đất nhanh bị bạc màu, năng suất cây trồng thấp Diện tích đất nương rẫy bị thoái hóa chiếm tỷ lệ khá cao Việc phát triển kinh tế vườn và xây dựng mô hình nông lâm kết hợp, kinh tế trang trại của địa phương còn nhiều hạn chế Một số hộ gia đình đã xây dựng mô hình vườn cây, ao cá, chuồng trại song vẫn còn manh mún, chưa tạo ra những mô hình nông lâm kết hợp có hiệu quả về kinh tế và môi trường, chưa tạo thành hàng hóa có giá trị cao

Các loài cây trồng chủ yếu là Lúa nước, Lúa nương, Ngô, Sắn Năng suất bình quân cho các loại cây trồng chính khá cao, năng suất lúa 1 vụ đạt 3,7 tấn/ha, Lúa 2 vụ: 4,5 tấn/ha, Ngô: 3,3 tấn/ha, Sắn: 3,1 tấn/ha Tổng sản lượng lương thực quy thóc của vùng 8.136,3 tấn, bình quân lương thực đạt 399 kg/người/năm Chăn nuôi

Tổng số lượng gia súc các loại trong khu vực là 21.759 con, gia cầm các loại là 107.783 con Bình quân mỗi hộ có: 1 con trâu; 0,5 con bò; 3 con lợn và 24 con gia cầm Phần lớn các loài gia súc gia cầm được chăn thả tự do Việc phòng chống dịch bệnh hàng năm chưa được chú ý Mô hình trang trại trong chăn nuôi chưa phát triển, chủ yếu vẫn là quy mô hộ gia đình và mang tính tự cung tự cấp, chưa có đầu tư vốn và khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất, đưa sản phẩm chăn nuôi trở thành hàng hoá Vì vậy, sản lượng đạt thấp, thu nhập từ chăn nuôi không cao

* Sản xuất lâm nghiệp

Trong KBT không có hoạt động sản xuất lâm nghiệp của lâm trường do

đó khai thác gỗ của nhân dân địa phương chủ yếu là thu hái lâm sản tự phát Trước đây lâm sản chính do người dân khai thác từ rừng chủ yếu là gỗ, các loài động vật, phục vụ làm nhà và nguồn thực phẩm, đôi khi trở thành hàng hóa Từ khi thành lập Ban quản lý khu bảo tồn thực hiện giao đất, giao rừng, lực lượng kiểm lâm đã cùng chính quyền địa phương và người dân tham gia vào các tổ

Trang 29

chức bảo vệ rừng thì hiện tượng khai thác gỗ và săn bắn thú rừng bừa bãi không còn xảy ra thường xuyên và công khai Hiện nay người dân chủ yếu thu hái nguồn lâm sản ngoài gỗ phục vụ nhu cầu tại chỗ, do vậy điều kiện sống rất thấp Các ngành kinh tế khác: Do điều kiện địa hình núi đá hiểm trở, giao thông

đi lại khó khăn, tiềm năng về khoáng sản hạn chế nên các ngành kinh tế khác ở địa phương khó có điều kiện phát triển Hiện tại chỉ có một số hộ gia đình kinh doanh buôn bán tạp hoá và ăn uống ở trung tâm huyện và các xã

2.3.2.4 Thực trạng cơ sở hạ tầng

Giao thông

Giao thông trong vùng chưa phát triển Toàn bộ hệ thống giao thông chỉ có gần 150 km đường ô tô Trong đó chỉ có 13 km đường nhựa, còn lại là đường cấp phối và đường đất Tất cả các xã trong vùng đều đã có đường ô tô đến được trung tâm xã Tuy nhiên chất lượng đường rất xấu nên việc đi lại rất khó khăn, đặc biệt là trong mùa mưa lũ Ngoài ra còn hàng trăm km đường mòn dân sinh trong các xã, thôn bản, mặt đường nhỏ hẹp, chất lượng xấu

Thủy lợi

Do địa hình trong khu vực phức tạp, chủ yếu là núi đá, bị chia cắt mạnh

nên đa phần các thửa ruộng nằm trong các thung lũng, diện tích nhỏ, việc đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi tưới tiêu rất khó khăn

Theo số liệu điều tra khảo sát các xã trong vùng, hệ thống kênh mương đã xây dựng được 17.610m, trong đó có 9.110m kênh mương cứng và 8.500m kênh mương đất Hiện nay, một số đoạn kênh mương đã xuống cấp và hiệu suất sử dụng các công trình này chưa cao Vì vậy chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất Thời gian tới cần kiểm tra, tu sửa, nâng cấp và xây dựng thêm hệ thống kênh mương để phục vụ sản xuất lương thực được hiệu quả

Điện nước sinh hoạt

Tất cả các xã trong khu vực đã có hệ thống điện lưới quốc gia Tuy nhiên, đường điện mới chỉ được kéo đến các trung tâm xã và một số thôn bản nằm ven đường giao thông chính của xã Các bản nằm xa trục đường chính vẫn chưa được

sử dụng điện Hiện tại, một số hộ sử dụng máy thủy điện nhỏ và máy nổ để phát điện sử dụng trong gia đình

Do điều kiện địa hình núi đá rất phức tạp nên chương trình nước sinh hoạt nông thôn đã được đầu tư xây dựng nhưng vẫn ở phạm vi hẹp Nhiều hộ gia đình vẫn phải tìm nguồn nước tự nhiên từ trong núi để phục vụ sinh hoạt hàng ngày

Y tế , giáo dục, văn hóa xã hội

- Y tế: Các xã trong khu vực đều đã xây dựng trạm y tế đặt ở trung tâm xã

Trang 30

Tại các trạm y tế các xã có 10 bác sỹ, 14 y sỹ, 7 y tá hoạt động khám chữa bệnh cho nhân dân trong vùng Ngoài ra còn có 70 cộng tác viên tham gia y tế cộng đồng, 9 y sỹ hoạt động y tế học đường Tuy lực lượng cán bộ y tế đã được tăng cường nhưng do đội ngũ cán bộ y tế chưa đồng đều, trình độ chuyên môn chưa cao, cơ sở vật chất và thuốc men còn thiếu nên công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân cũng như công tác tuyên truyền phòng chống dịch bệnh trong nhân dân còn hạn chế

- Giáo dục: Toàn bộ khu vực có 27 trường, 275 lớp với 4 cấp học: mầm non, tiểu học, phổ thông cơ sở và phổ thông trung học Các trường ở thị trấn và ở trung tâm các xã được xây dựng khá khang trang nên điều kiện học tập đã cơ bản đảm bảo việc dạy và học của giáo viên và học sinh Còn lại một số trường ở các thôn bản, nhất là các lớp tiểu học chưa được xây dựng kiên cố Cơ sở vật chất rất thiếu thốn Việc dạy và học của giáo viên và học sinh ở đây còn gặp nhiều khó khăn

2.3.2.5 Nhận xét

Dân cư sống trong khu vực là một yếu tố quan trọng đối với công tác bảo tồn Người dân trong khu vực chủ yếu là làm nông nghiệp (lao động nông nghiệp chiếm 85,7%) Sản phẩm nông nghiệp là nguồn thu nhập chính của người dân nơi đây Mặc dù vậy nhưng người dân lại rất thiếu đất để sản xuất vì đất có thể sản xuất nông nghiệp có ít, chỉ đạt 5,07% tổng diện tích tự nhiên Mặt khác, trình độ dân trí không cao, chất lượng lao động còn nhiều hạn chế Hoạt động sản xuất đã bước đầu áp dụng khoa học kỹ thuật song chưa đồng bộ Đa số các hộ gia đình vẫn canh tác theo lối truyền thống, nặng về khai thác bóc lột tài nguyên đất, tài nguyên rừng Do đó, đời sống của các dân tộc sống trong khu vực còn rất khó khăn Đây là một trong những nguyên nhân chính làm cho người dân vào rừng khai thác gỗ Như vậy, những đặc điểm về dân số, lao động và tập quán của các dân tộc trong khu vực đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương nói chung và công tác quản lý bảo vệ rừng nói riêng Trong thời gian tới cần nghiên cứu xây dựng các chương trình đầu tư, cơ chế chính sách và ưu tiên nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế

xã hội của địa phương

Địa bàn rộng, địa hình phức tạp, các cụm dân cư sống rải rác, nhiều thôn bản sống ở nơi cao xa Đó là những điều kiện bất lợi cho việc đầu tư xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng như cơ sở hạ tầng xã hội của khu vực Việc mở mới và nâng cấp các tuyến đường liên xã trong vùng sẽ là sự khởi đầu cho những đầu tư tiếp theo nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương

Trang 31

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng

Đề tài giới hạn đối tượng nghiên cứu là các loài cây gỗ ở các kiểu thảm thực vật rừng trên núi đá vôi, còn các loài thân thảo, dây leo, tre nứa, thân cau dừa,… không thuộc đối tượng nghiên cứu của đề tài này

3.2 Nội dung nghiên cứu

* Nghiên cứu sự đa dạng của các kiểu thảm thực vật khu vực nghiên cứu

* Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc các kiểu rừng trên núi đá vôi

- Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây cao các kiểu rừng

- Cấu trúc tầng thứ và độ tàn che các kiểu thảm thực vật rừng

- Mức độ thường gặp của các loài cây trong kiểu thảm thực vật rừng

- Một số chỉ tiêu đa dạng loài của tầng cây gỗ các kiểu thảm thực vật rừng

* Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên ở các kiểu thảm thực vật rừng trên núi đá vôi

- Tổ thành cây tái sinh

- Mật độ và tỷ lệ cây tái sinh triển vọng

- Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh

* Điều tra đánh giá những tác động của người dân đến tài nguyên rừng của khu bảo tồn

* Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển hệ thực vật thân gỗ

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp kế thừa các tài liệu sẵn có

- Đề tài kế thừa tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ở các xã nghiên cứu trong Khu bảo tồn để phân tích

- Kế thừa các tài liệu hiện có để hệ thống hoá các thông tin đã có liên quan đến nội dung của đề tài

3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu ở hiện trường

3.3.2.1 Điều tra tổng thể các thảm thực vật và xác định đối tượng nghiên cứu theo tuyến

Do không thể điều tra được toàn bộ diện tích trong khu vực nghiên cứu, nên để điều tra được một cách đầy đủ và đại diện, trên cơ sở tài liệu thu thập được về diện tích đất đai và bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng, bản đồ địa hình, chúng tôi tiến hành lập các tuyến điều tra, nhằm xác định phân bố của các đối tượng nghiên cứu, dự kiến địa điểm bố trí ô tiêu chuẩn Tuyến điều tra được xác

Trang 32

định đại diện cho khu vực nghiên cứu, đảm bảo bao quát toàn bộ các dạng địa hình và các quần xã thực vật rừng ở khu vực nghiên cứu Để điều tra tính đa dạng thực vật hướng tuyến được lập vuông góc và song song với đường đồng mức Do điều kiện thời gian và nhân lực có hạn nên đề tài chỉ thiết lập 3 tuyến điều tra, theo các đường mòn dẫn vào rừng, hoặc những chỗ địa hình có thể đi lại thuận tiện hơn

Trên tuyến, tiến hành ghi chép đặc điểm các kiểu thảm thực vật hoặc các sinh cảnh, thống kê các loài thực vật thân gỗ đã gặp và các tác động tự nhiên hay

do con người lên thảm thực vật Trong giám sát thảm thực vật, chọn các tuyến cố định và khu vực quan sát có chiều rộng nhất định, dọc theo 2 bên tuyến (để thống

kê và quan sát phân bố các loài cây gỗ, chúng tôi chọn khu vực có chiều rộng 20

- 40m dọc theo tuyến (mỗi bên 10-20m)

3.3.2.2 Điều tra thu thập số liệu trên ô tiêu chuẩn

Phương pháp điều tra theo ô thuận lợi hơn vì nó xác định rõ kích thước của khu vực điều tra, có thể tiến hành điều tra lặp lại và so sánh kết quả các lần điều tra để thấy sự biến động của thực vật và thảm thực vật Vì vậy, để tiến hành giám sát thảm thực vật, đề tài xây dựng các ô tiêu chuẩn dọc theo các tuyến điều tra

Việc lập ô tiêu chuẩn điều tra thực vật ở trên núi đá vôi là một việc làm hết sức khó khăn, với mỗi trạng thái rừng hoặc quần xã thực vật rừng khác nhau, đề tài tiến hành lập các ÔTC điển hình tạm thời và thu thập những thông tin theo phương pháp điều tra lâm học Khi tiến hành điều tra, do điều kiện địa hình tương đối khó khăn nên đề tài lập các ÔTC có diện tích 500 m2 (25 x 20 m), mỗi kiểu thảm thực vật rừng trên núi đá vôi đề tài lập 6 ô tiêu chuẩn Tổng số ÔTC đề tài lập là 24 ô Dùng GPS: xác định độ cao so với mặt biển và tọa độ của ô tiêu chuẩn

*Phương pháp điều tra tầng cây gỗ:

Trong các ÔTC mô tả các chỉ tiêu như vị trí, độ dốc, hướng phơi, độ cao, sau

đó xác định tên loài và các chỉ tiêu sinh trưởng của tầng cây cao, nếu loài nào chưa

rõ thì thu thập tiêu bản để giám định, kết quả điều tra ghi vào biểu 01

Biểu 01: Phiếu điều tra tầng cây cao

TT

Loài cây

D1.3 (cm)

Hvn (m)

Phẩm chất Tên phổ thông Tên địa

1

2

3

Trang 33

- Đường kính thân cây (D1,3, cm) được đo bằng thước kẹp kính với độ chính xác đến mm, đo theo hai hướng Đông Tây và Nam Bắc, sau đó tính trị số bình quân Hoặc dùng thước dây đo chu vi cây rồi tính ra đường kính 1.3

- Chiều cao vút ngọn (HVN, m) và chiều cao dưới cành (HDC, m) được đo bằng thước Blumeleiss với độ chính xác đến dm HVN của cây rừng được xác định từ gốc cây đến đỉnh sinh trưởng của cây, HDC được xác định từ gốc cây đến cành cây đầu tiên tham gia vào tán của cây rừng

- Đường kính tán lá (DT, m) được đo bằng thước dây có độ chính xác đến

dm, đo hình chiếu tán lá trên mặt phằng ngang theo hai hướng Đông Tây và Nam Bắc, sau đó tính trị số bình quân

*Phương pháp điều tra cây tái sinh:

Đo đếm cây tái sinh nhằm đánh giá diễn biến tự nhiên của rừng trong tương lai Cây tái sinh là những cây gỗ còn non, sống dưới tán rừng từ giai đoạn cây

mạ cho đến khi chúng bắt đầu tham gia vào tán rừng

Trên ÔTC, lập 5 ÔDB có diện tích 9m2 phân bố đều trên ÔTC Thống kê tất

cả cây tái sinh vào phiếu điều tra theo các chỉ tiêu:

- Tên loài cây tái sinh

- Đo chiều cao cây tái sinh bằng sào khắc vạch có độ chính xác đến cm

- Xác định nguồn gốc cây tái sinh

- Phân cấp chất lượng cây tái sinh:

+ Cây tốt là cây có thân thẳng, không cụt ngọn, sinh trưởng phát triển tốt, không sâu bệnh

+ Cây xấu là những cây cong queo, cụt ngọn, sinh trưởng phát triển kém, sâu bệnh, còn lại là những cây có chất lượng trung bình

Kết quả điều tra cây tái sinh được ghi vào biểu 02:

Biểu 02: Phiếu điều tra cây tái sinh

TT

ÔDB

Tên loài

Nguồn gốc TS

Chiều cao (cm) Chất lượng Tên phổ

thông

Tên địa phương 0-50 50-100 >100 Tốt TB Xấu

3.3.2.3 Thu hái và xử lý mẫu

Việc định loại tên loài thực vật là một việc hết sức khó khăn, đòi hỏi người điều tra phải có một kiến thức nhất định trong việc nhận biết cây rừng Chính vì

Trang 34

vậy ngoài việc xác định ngoài thực địa, sẽ đặt ký hiệu cho cây đồng thời thu hái mẫu, xử lý mẫu hoặc chụp ảnh để nhờ các chuyên gia về cây rừng định loại để có một danh lục thực vật khu vực nghiên cứu một cách chính xác và đầy đủ

3.3.2.4 Điều tra đánh giá những tác động của người dân tới khu bảo tồn

Sử dụng phương pháp điều tra nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) để thu thập, phân tích thông tin liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học tại khu bảo tồn, đặc biệt là những yếu tác động của người dân đến việc bảo tồn đa dạng sinh học

Các khu dân cư có thể ảnh hưởng đến các sinh cảnh của khu bảo tồn bằng nhiều cách: sử dụng các nguồn tài nguyên, chăn thả gia súc Mức độ tác động thường khác nhau ở những khu vực khác nhau, mức độ càng cao hơn đối với khu

vực càng gần khu dân cư, dọc các đường đi, đường mòn, hoặc gần nguồn nước

Việc liệt kê tác động của các khu dân cư lên khu bảo tồn là tương đối dễ nhưng việc đánh giá các tác động đó nhằm đưa ra các quyết định quản lý thoả đáng thì khó hơn Dưới đây là một kỹ thuật đơn giản cho phép thu thập nhanh các số liệu định lượng về mức độ tác động lên sinh cảnh hiện tại cũng như những thay đổi rộng lớn hơn theo thời gian Các số liệu thu được có thể chỉ ra những khu vực có tác động thấp cũng như cự ly ảnh hưởng của con người từ khu vực làng bản vào khu bảo tồn Thông tin này có thể sử dụng để thiết lập một hệ thống giám sát dài hạn và tích cực hơn nếu cần

Các con đường mòn dẫn vào rừng thường do người dân tạo nên khi vào khai thác tài nguyên của khu bảo tồn Vì vậy, một trong những cách đánh giá tác động của con người là đánh giá tác động dọc theo các đường mòn và điểm xuất phát từ trung tâm làng, đi theo đường mòn dẫn vào rừng được sử dụng nhiều nhất cho đến khi không còn tìm ra dấu vết tác động nữa Điều đó cho phép ta xác định toàn bộ phạm vi không gian của tác động

Tuyến khảo sát bắt đầu từ ngôi nhà cuối cùng của làng và cho điểm mức độ tác động theo các yếu tố sau ở mỗi điểm điều tra Khác với việc phân tích thực vật,

ở đây chỉ đánh giá nhanh tác động của con người Do vậy chỉ xem xét nhanh một diện tích khoảng 400 m2 (hình tròn bán kính 11,3 m) và đánh giá sơ bộ các loại tác động:

+ Chặt cây: tỷ lệ hoặc số lượng cây gỗ, cây bụi gỗ bị chặt hoặc cắt cành

+ Dấu vết động vật nuôi: số lượng hoặc số lần gặp phân của động vật nuôi + Đốt phát quang: kích thước khu vực bị đốt, trạng thái rừng, mức độ thiệt hại + Khai thác các loại lâm sản ngoài gỗ: cây cảnh, rau rừng, cây thuốc, động vật,

Trang 35

Biểu 03 Mẫu biểu ghi số liệu tác động của con người và vật nuôi

Ngày: Giờ bắt đầu: Kết thúc: Tờ số: của tờ: Người điều tra thứ nhất: Người điều tra khác: Người ghi: Tên khu vực: Tuyến điều tra: Thời tiết trước và khi điều tra:

Số lần đo Khoảng

cách (m) Chặt cây

Khai thác LSNG

Dấu vết vật nuôi ăn/phân

Đốt phát quang

Đặc điểm khác

- 2: Tác động nhiều, chưa gây thiệt hại lớn

- 3: Tác động nhiều, gây thiệt hại lớn và liên tục trong thời gian dài

Tính tổng “điểm tác động” cho mỗi tuyến trên mỗi “khoảng cách từ trung tâm làng” cho từng yếu tố và cho tất cả các yếu tố và thể hiện kết hợp trên biểu

đồ cột Tính giá trị trung bình số liệu của mỗi khoảng cách từ tất cả các tuyến của một làng

Trang 36

giá trị quan trọng (IVi%) của loài thông qua số cây hay tiết diện ngang của nó Theo

Daniel Marmillod giá trị IVi% có thể tính theo công thức sau:

Ni% là tỷ lệ phần trăm của số cây loài i so với tổng số cây trong OTC

Gi% là tỷ lệ phần trăm tiết diện ngang của loài i so với ΣG của OTC

Theo Daniel M., những loài cây có IVi% ≥ 5% mới thực sự có ý nghĩa về mặt sinh thái trong lâm phần Theo Thái Văn Trừng (1978), trong một lâm phần nhóm loài cây nào đó > 50% tổng số cá thể của tầng cây cao thì nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế Cần tính tổng IVi% của những loài có trị số này lớn hơn 5%, xếp từ cao xuống thấp và dừng lại khi tổng IVi% đạt 50%

Tổng tiết diện ngang được tính bằng công thức:

Gi(m2 /ha)=

000 10

) / ( 4

b Cấu trúc mật độ:

Cấu trúc mật độ là chỉ tiêu biểu thị số lượng cá thể của từng loài hoặc của tất

cả các loài tham gia trên một đơn vị diện tích (thường là 1 ha), phản ánh mức độ tận dụng không gian dinh dưỡng và vài trò của loài trong QXTV rừng

Công thức xác định mật độ như sau:

000.10

«

S

n ha N

Trong đó: n: Số lượng cá thể của loài hoặc tổng số cá thể trong ÔTC

Sô: Diện tích ÔTC (m2)

c Cấu trúc tầng và độ tàn che các QXTV rừng

Cấu trúc tầng là chỉ tiêu cấu trúc hình thái thể hiện sự sắp xếp không gian phân bố của thực vật theo chiều thẳng đứng Nghiên cứu cấu trúc được tiến hành thông qua các phẫu đồ rừng theo phương pháp của Richards và Davis (1934)

Độ tàn che được xác định bằng phương pháp điều tra điểm, công thức tính:

Trang 37

Trong đó: r là số cá thể của loài i trong QXTV rừng

R là tổng số cá thể điều tra của QXTV rừng

Nếu Mtg > 50%: Rất hay gặp Mtg = 25 - 50%: Thường gặp

Mtg < 25%: Ít gặp

e Chỉ số đa dạng về loài

Khi nghiên cứu tính đa dạng loài, các nhà khoa học đã sử dụng nhiều chỉ số

đa dạng Đề tài sử dụng một số phương pháp xác định chỉ số đa dạng loài sau:

P D

S là tổng số loài và N là tổng số cá thể điều tra

- Chỉ số đa dạng Shannon-Wiener (H’) được tính bằng công thức:

H’=-∑(pi)(lnpi) với i=1,2,…,s

S là tổng số loài và N là tổng số cá thể điều tra

3.3.3.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm tái sinh

a Tổ thành cây tái sinh

Xác định tỷ lệ tổ thành và hệ số tổ thành của từng loài được tính theo công thức:

ni

ni m

1 i

=

=

Nếu: ni ≥5% thì loài đó được tham gia vào công thức tổ thành

ni < 5% thì loài đó không được tham gia vào công thức tổ thành

Ngày đăng: 13/10/2017, 14:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Thành phần ĐV có xương sống KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ theo cấu trúc trạng thái rừng trên núi đá vôi ở khu bảo tồn thiên nhiên thần sa – phượng hoàng, tỉnh thái nguyên
Bảng 2.2. Thành phần ĐV có xương sống KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng (Trang 25)
Bảng 2.3.Thành phần dân tộc sống trong khu vực - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ theo cấu trúc trạng thái rừng trên núi đá vôi ở khu bảo tồn thiên nhiên thần sa – phượng hoàng, tỉnh thái nguyên
Bảng 2.3. Thành phần dân tộc sống trong khu vực (Trang 26)
Bảng 2.5. Lao động và phân bố lao động các xã - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ theo cấu trúc trạng thái rừng trên núi đá vôi ở khu bảo tồn thiên nhiên thần sa – phượng hoàng, tỉnh thái nguyên
Bảng 2.5. Lao động và phân bố lao động các xã (Trang 27)
Bảng 4.1: Các kiểu thảm thực vật trong khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ theo cấu trúc trạng thái rừng trên núi đá vôi ở khu bảo tồn thiên nhiên thần sa – phượng hoàng, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.1 Các kiểu thảm thực vật trong khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng (Trang 39)
Bảng 4.4: Tổ thành và mật độ của kiểu rừng thưa cây lá rộng nhiệt đới trên - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ theo cấu trúc trạng thái rừng trên núi đá vôi ở khu bảo tồn thiên nhiên thần sa – phượng hoàng, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.4 Tổ thành và mật độ của kiểu rừng thưa cây lá rộng nhiệt đới trên (Trang 45)
Bảng 4.5: Tổ thành và mật độ của kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ theo cấu trúc trạng thái rừng trên núi đá vôi ở khu bảo tồn thiên nhiên thần sa – phượng hoàng, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.5 Tổ thành và mật độ của kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt (Trang 46)
Bảng 4.7. Chỉ số đa dạng H '  và tỷ lệ hỗn loài - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ theo cấu trúc trạng thái rừng trên núi đá vôi ở khu bảo tồn thiên nhiên thần sa – phượng hoàng, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.7. Chỉ số đa dạng H ' và tỷ lệ hỗn loài (Trang 50)
Bảng 4.9. Tổ thành tái sinh ở các kiểu rừng ở KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ theo cấu trúc trạng thái rừng trên núi đá vôi ở khu bảo tồn thiên nhiên thần sa – phượng hoàng, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.9. Tổ thành tái sinh ở các kiểu rừng ở KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng (Trang 52)
Bảng 4.10. Mật độ tái sinh rừng và tỷ lệ cây tái sinh triển vọng - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ theo cấu trúc trạng thái rừng trên núi đá vôi ở khu bảo tồn thiên nhiên thần sa – phượng hoàng, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.10. Mật độ tái sinh rừng và tỷ lệ cây tái sinh triển vọng (Trang 53)
Bảng 4.11. Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh ở các kiểu rừng - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ theo cấu trúc trạng thái rừng trên núi đá vôi ở khu bảo tồn thiên nhiên thần sa – phượng hoàng, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.11. Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh ở các kiểu rừng (Trang 54)
Bảng 4.12. Số vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn khu  bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng từ năm 2009-2010 - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ theo cấu trúc trạng thái rừng trên núi đá vôi ở khu bảo tồn thiên nhiên thần sa – phượng hoàng, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.12. Số vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng từ năm 2009-2010 (Trang 56)
Bảng 4.14. Hiện trạng khai thác  gỗ của người dân ở khu bảo tồn - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ theo cấu trúc trạng thái rừng trên núi đá vôi ở khu bảo tồn thiên nhiên thần sa – phượng hoàng, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.14. Hiện trạng khai thác gỗ của người dân ở khu bảo tồn (Trang 58)
Bảng 4.15. Các loài cây được sử dụng làm thực phẩm - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ theo cấu trúc trạng thái rừng trên núi đá vôi ở khu bảo tồn thiên nhiên thần sa – phượng hoàng, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.15. Các loài cây được sử dụng làm thực phẩm (Trang 61)
Bảng 4.16. Các loài cây thường được người dân dùng làm củi đun - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ theo cấu trúc trạng thái rừng trên núi đá vôi ở khu bảo tồn thiên nhiên thần sa – phượng hoàng, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.16. Các loài cây thường được người dân dùng làm củi đun (Trang 62)
Bảng 4.17. Các loài cây được sử dụng làm thuốc - Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ theo cấu trúc trạng thái rừng trên núi đá vôi ở khu bảo tồn thiên nhiên thần sa – phượng hoàng, tỉnh thái nguyên
Bảng 4.17. Các loài cây được sử dụng làm thuốc (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w