1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu ứng dụng cây xoan neem và chế phẩm vineem 1500EC trong phòng trừ sâu brevicoryne brassicae và myzus persicae hại rau họ hoa thập tự tại thái nguyên năm 2009 – 2010

68 401 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả này không những có ý nghĩa khoa học rất lớn, mà còn mở ra một hướng nghiên cứu mới trong canh tác rau ở Việt Nam theo hướng nông nghiệp hữu cơ; hạn chế sử dụng hóa chất bảo vệ th

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

BÁO CÁO KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ

MÃ SỐ: B2009-TN03-25

TÊN ĐỀ TÀI:

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÂY XOAN NEEM VÀ

CHẾ PHẨM VINEEM 1500EC TRONG PHÒNG TRỪ SÂU

HỌ HOA THẬP TỰ TẠI THÁI NGUYÊN NĂM 2009 – 2010

CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI: Ths Bùi Lan Anh

Thái Nguyên – 2010

Trang 2

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÂY XOAN NEEM VÀ

CHẾ PHẨM VINEEM 1500EC TRONG PHÒNG TRỪ SÂU

HỌ HOA THẬP TỰ TẠI THÁI NGUYÊN NĂM 2009 – 2010

Mã số : B2009-TN03-25 Chủ trì: Ths Bùi Lan Anh Tel : 0956.883.999 Email : lyanh.bui@gmail.com

Cơ quan chủ trì đề tài: Bộ giáo dục và đào tạo

Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện:

1 PGS.TS Nguyễn Thế Hùng Thời gian thực hiện: 2009 – 2010

1 Mục tiêu:

1.1 Xác định được phổ ký chủ, diễn biến sâu (Brevicoryne brassicae, Myzus persicae) hại rau bắp cải

Trang 3

1.2 Xác định được tác dụng (gây ngán, xua đuổi, tiêu diệt) sâu (Brevicoryne brassicae, Myzus persicae) hại rau họ hoa thập tự của quả xoan Neem

1.3 Xác định được hiệu quả trừ sâu (Brevicoryne brassicae, Myzus persicae) hại rau họ hoa thập tự của dung dịch ngâm quả, lá xoan Neem và chế phẩm Vineem 1500EC

1.4 Xác định được ảnh hưởng của việc sử dụng dung dịch ngâm quả, lá xoan Neem và chế phẩm Vineem 1500EC đến năng suất bắp cải

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Đánh giá hiện trạng sản xuất rau tại Thái Nguyên năm 2009 - 2010

2.2 Điều tra diễn biến sâu Brevicoryne brassicae, Myzus persicae hại rau

2.5 Nghiên cứu xác định ảnh hưởng của việc sử dụng dung dịch ngâm quả,

lá xoan Neem và chế phẩm Vineem 1500EC đến năng suất bắp cải

3 Kết quả chính đạt được

Đề tài là một hướng nghiên cứu mới trong việc phòng trừ sâu Brevicoryne brassicae, Myzus persicae hại rau họ hoa thập tự nói chung và rau bắp cải nói riêng theo hướng nông nghiệp hữu cơ và kết quả thu được là rất khả quan Hiệu lực của dung dịch ngâm lá, quả xoan Neem và của chế phẩm Vineem 1500EC đạt cao

Trang 4

nhất đối với sâu Brevicoryne brassicae, Myzus persicae hại bắp cải sau phun 7

ngày Trong đó, hiệu lực trừ rệp cao nhất là chế phẩm Vineem 1500EC, đạt 88,3%; tiếp đó đến dung dịch ngâm quả xoan, đạt 80,6% (thấp hơn so với chế phẩm Vineem 1500EC 7,7%) và đều cao hơn dung dịch ngâm lá xoan ở mức độ tin cậy 99%

Hiệu lực trừ rệp của chế phẩm Vineem 1500EC đạt 88,3% , cao hơn hiệu lực của dung dịch ngâm quả xoan 7,7% ở mức độ tin cậy 95%

Điều đó chứng tỏ phương pháp sử dụng dung dịch ngâm lá và quả xoan

Neem có hiệu quả diệt trừ sâu Brevicoryne brassicae, Myzus persicae cao, đồng

thời phương pháp này đơn giản, dễ thực hiện Kết quả này không những có ý nghĩa khoa học rất lớn, mà còn mở ra một hướng nghiên cứu mới trong canh tác rau ở Việt Nam theo hướng nông nghiệp hữu cơ; hạn chế sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật; không gây ô nhiễm môi trường; không ảnh hưởng đến sức khỏe con người, những loài có ích; không có dư lượng hóa chất tồn dư trong sản phẩm; không gây hiện tượng nhờn thuốc, kháng thuốc của sâu hại Phương pháp này đơn giản, dễ làm, sẵn có cho nên người nông dân có thể chủ động trong việc trừ sâu hại nói

chung và Brevicoryne brassicae, Myzus persicae nói riêng

Trang 5

SUMMARY

Project title: Researching result of applying the mash Neem leaf, seed

Neem and Vineem 1500EC production for preventing cruciferous vegetables (Brassicaceae ) aphids (Brevicoryne brassicae, Myzus

persicae) in 2009 - 2010 in Thai Nguyen

Code number: B2009-TN03-25

Coordination: M.Sc Bui Lan Anh

Implenenting institution: Ministry of Education and Training

Cooperating institution (members): Dr Nguyen The Hung

Duration: 2009 - 2010

1 Objectives

1.1 Determine the movement of the gabbage aphids (Brevicoryne brassicae, Myzus persicae)

1.2 Determine the effects (chase, exterminate) of the mash leaf and seed

Neem to cruciferous vegetables aphids

1.3 Determining the effect of eradecating cruciferous vegetables aphids

(Brevicoryne brassicae, Myzus persicae) of the mash leaf and seed Neem, Vineem

1500EC production

1.4 Assessing the impact of using the mash leaf and seed Neem, Vineem 1500EC production on the cabbage yield

2 Main contents

Trang 6

2.1 Assessing the situation of Thai Nguyen vegetable production in 2009 -

leaf anf seed mash

2.4 Researching and examining the effect of eradecating cruciferous vegetables aphids (Brevicoryne brassicae, Myzus persicae) of Neem leaf, seed

mash and Vineem 1500EC production

2.5 Researching to determine the influence of using the Neem leaf and seed mash, Vineem 1500EC production on the cabbage yield

The effect of mash leaf Neem and seed Neem, Vineem 1500EC production

reached the highest proportion for cabbage aphids Brevicoryne brassicae, Myzus persicae after 7 - injection – days In particular, the highest effect of Brevicoryne brassicae, Myzus persicae elimination was Vineem 1500EC production, reaching 88,3%, after by the Neem seeds , reaching 80,6% ; higher than the leaf mash at 99% level of significance

Trang 7

The effect of gabbage aphids of Vineem 1500EC production obtained at 88,3%, higher than the Neem seed mash 7.7% at 99% level of significance

It is improved that the method of using Neem leaf and seed mash is quite simple and specially easy for farmers to implement This result is not only has great scientific significance, but also opens a new potentally research direction in the cultivation of vegetables in Vietnam towards the organic agriculture On the other hand, by this method the farmers can take the initiative in excluding harmful

Brevicoryne brassicae, Myzus persicae to protect crops, also not to pollute the environment or to affect the human health Concretely, these species are useful without residues of chemical residual in products

Trang 8

PHẦN 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rau họ hoa thập tự, có vai trò quan trọng đối với đời sống hàng ngày của nhân dân ta Họ này có thành phần khá phong phú như: rau cải xanh, cải bắp, su hào, giữ vai trò quan trọng trong vụ đông xuân So với năng suất rau của nhiều nước trên thế giới thì năng suất rau ở nước ta còn thấp, một trong những nguyên nhân chủ yếu là do sâu bệnh hại Theo thống kê chưa đầy đủ, hàng năm sâu hại

làm giảm năng suất rau 15 – 20% Trong các loài sâu hại cải thì rệp (Brevicoryne brasicae và Myzus persicae) là một trong những đối tượng gây hại nguy hiểm vì

rệp không chỉ chích hút nhựa cây, gây tổn thương cho cây, mà rệp còn là môi giới

(vật chủ trung gian) truyền 17 loại bệnh virus cho cây như: Cauliflower Mosaic Virus (CaMV), Turnip Mosaic Virus (TuMV), Turnip mild yellows Virus (BWYR), (Frische, R., Karl E., Lehmann W., und Proeseler G., 1972; Heinz Dubnik, 1991; Hill, 1983; Hoffmann & Schmutterer, 1999) Đây là một loại bệnh cực kỳ nguy hiểm nhất đối với cây trồng nói chung và rau họ hoa thập tự nói riêng,

vì khi cây bị bệnh không có biện pháp nào để trừ, lúc đó chỉ có nhổ bỏ cây bị bệnh sau đó vệ sinh ngay vùng cây bị bệnh để bệnh khỏi lan truyền sang diện rộng Cho nên, để phòng ngừa bệnh virus hại rau họ hoa thập tự, việc quan trọng là phải diệt trừ môi giới truyền bệnh virus đó là rệp

Cây bắp cải bị rệp hại Triệu chứng cải bị rệp

hại

Triệu chứng cải bị rệp

hại

Trang 9

Ngoài ra, rệp còn bài tiết chất dịch mật để kiến đến ăn, sau khi kiến ăn xong, dịch mật do rệp tiết ra vẫn còn dính bám trên bề mặt lá, cành non, tạo điều kiện

cho nấm muội đen (Capnodium sp) phát triển, bao bọc mặt lá cây làm cản trở khả

năng quang hợp của lá, làm cho cây chậm lớn, giảm năng suất, chất lượng rau

Triệu chứng cải bị rệp

hại

Rệp hại Bệnh virus (TuMV)

Bệnh virus (BMYV) Bệnh virus (BMYV) Bệnh virus (TuMV)

Bệnh virus (CaMV) Bệnh virus (TuMV) Nấm Capnodium sp bắt

đầu xâm nhập và gây hại

Ở những nước phát triển như: Mỹ, Đức, Thụy Sỹ, Thụy Điển, Pháp, Nhật,

để phòng trừ rệp hại cải, có nhiều biện pháp như: Sử dụng thiên địch như: Bọ rùa

Trang 10

chữ nhân Coclinella repanda, bọ rùa 4 vạch, Chilomenes quadriplahiata, bọ rùa 6 vạch Chilomenes sexmaemlatu, bọ rùa 2 đốm đỏ Coelophora liplagiata, bọ rùa 8 vạch Synharmonia octomaculuta và ấu trùng ruồi Sirphus sp, bọ mắt vàng Chrysopa carnae; các chế phẩm sinh học (chế phẩm có nguồn gốc từ virus, vi khuẩn, nấm); thuốc trừ sâu thảo mộc, Đặc biệt không sử dụng thuốc hóa học phun cho rau vì nó là cây trồng có chu kỳ sinh trưởng ngắn (Hoffmann & Schmutterer, 1999; Horn D J., 1983; Hommes M, 1983 & 1984)

Nấm muội đen (Capnodium sp) hại bắp cải

Ở Việt Nam, người nông dân không áp dụng biện pháp phòng trừ rệp

(Brevicoryne brasicae và Myzus persicae) hại rau họ hoa thập tự như trên, theo họ

thuốc hóa học vừa rẻ tiền hơn so với các chế phẩm sinh học và thiên địch, lại vừa

có hiệu quả nhanh Việc sử dụng thiên địch để phòng trừ rệp ở nước ta hiện nay có

lẽ mới chỉ có ý nghĩa trong nghiên cứu, còn việc ứng dụng những loài thiên địch này ngoài thực tế sản xuất thì chưa có ý nghĩa, vì phần lớn nông dân không chấp nhận do giá thành thiên địch quá cao Theo Ths Nguyễn Quang Cường, Phòng Côn trùng thực nghiệm, Viện sinh thái & Tài nguyên sinh vật, để phòng trừ rệp, muội trên rau, quả, cần thả thiên địch với mật độ 1,5 con/m2, tương đương 300 con thiên địch/1 sào rau, trung bình thiên địch có giá 2.500 – 3.500đ/con Như vậy, cần

Trang 11

chi phí khoảng 900.000đ/1 sào, trong khi nếu sử dụng thuốc trừ sâu hóa học, chỉ cần vài chục nghìn là đủ cho mấy sào rau Mặt khác, việc sử dụng thiên địch trong

phòng trừ sâu hại rau nói chung, rệp (Brevicoryne brasicae và Myzus persicae) nói

riêng chỉ phát huy được hiệu quả khi tất cả các ruộng sản xuất rau cùng áp dụng biện pháp này hay các biện pháp sinh học khác và tuyệt đối không được sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật Như vậy, biện pháp này chỉ áp dụng được ở Việt Nam khi Chính Phủ có chính sách hỗ trợ nông dân để họ đồng tâm nhất trí áp dụng Đồng thời, các viện nghiên cứu và các cơ quan chuyên sâu phải nghiên cứu được quy trình nhân nuôi, sản xuất thiên địch theo dây truyền công nghiệp để vừa giảm giá thành, vừa sản xuất được với số lượng lớn

Hiện nay, nước ta là một nước đang phát triển, nền kinh tế của nông dân còn nghèo nàn, cho nên đối với họ biện pháp hóa học vẫn giữ vai trò chủ đạo trong việc phòng trừ dịch hại, bảo vệ năng suất cây trồng Mặc dù biết được những tác hại của thuốc hóa học, nhưng người nông dân vẫn chưa tìm ra được biện pháp khác (vừa rẻ tiền lại vừa có hiệu quả phòng trừ sâu hại cao) để thay thế cho việc dùng

thuốc hóa học Trước tình hình đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên

cứu ứng dụng cây xoan Neem và chế phẩm Vineem 1500EC trong phòng trừ sâu Brevicoryne brassicae và Myzus persicae hại rau họ hoa thập tự tại Thái Nguyên năm 2009 – 2010“

Mục đích của nghiên cứu này nhằm:

1.1 Xác định được phổ ký chủ của Brevicoryne brassicae, Myzus persicae

trên rau họ hoa thập tự,

1.2 Xác định được diễn biến Brevicoryne brassicae, Myzus persicae hại rau

bắp cải

Trang 12

1.3 Xác định được tác dụng (xua đuổi, tiêu diệt) Brevicoryne brassicae, Myzus persicae hại rau họ hoa thập tự của lá, hạt xoan Neem

1.4 Xác định được hiệu quả trừ Brevicoryne brassicae, Myzus persicae hại

rau họ hoa thập tự của dung dịch ngâm quả, lá xoan Neem và chế phẩm Vineem 1500EC

1.5 Xác định được ảnh hưởng của việc sử dụng dung dịch ngâm quả, lá xoan Neem và chế phẩm Vineem 1500EC đến năng suất bắp cải

Trang 13

PHẦN 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

2.1.1 Lịch sử nghiên cứu về cây xoan Neem

2.1.1.1 Đặc điểm cây xoan Neem (Azadirachta indica A.Juss)

Trang 14

Cây xoan chịu hạn (cây Neem) thuộc họ Đào hoa tâm (Mahogaing) nhóm gỗ

gụ, mọc tự nhiên ở Ấn Độ, Myanmar, Tây Phi, Nam Mỹ và Úc

Neem là loài cây ưa sáng, mọc nhanh, chịu được khí hậu khắc nghiệt Trong 5 năm đầu cây đạt chiều cao 10 – 15m, thân thẳng, tán lá dài rũ xuống, có vỏ dày và

xớ chắc chắn Rễ cây ăn rất sâu vào đất và đặc biệt khi bị tổn hại, nó tạo ra những chồi bên cắm vào đất Những chồi bên này đặc biệt có khuynh hướng được tạo ra rất nhiều trong những vùng đất khô

Cây Neem sau khi trồng khoảng 3- 5 năm cây cho trái, những bông hoa nhỏ, lưỡng tính, màu trắng nở thành từng chùm ở những nách lá Chúng có hương vị giống như mật và lôi cuốn được nhiều loài ong Trái Neem hình bầu dục, dài gần 2cm và có một lớp cơm mềm bao quanh hạt Khi chín có màu vàng hoặc vàng lục

và cơm có vị ngọt, cho trái nhiều nhất khi cây đạt tuổi 10 và sản lượng quả mỗi năm từ 20 – 50 kg trái trên cây Hạt neem có vỏ cứng và nhân (thường có hai hoặc

ba nhân), mỗi nhân nặng bằng khoảng nửa hạt Neem Nhân hạt chính là phần được

sử dụng làm thuốc trừ sâu thông thường hạt có nhiều dầu khó bảo quản Hạt dễ lấy làm giống nên chọn cây mẹ từ tuổi 6 trở lên

2.1.1.1.2 Đặc điểm sinh thái của cây xoan Neem

Neem là cây xanh quanh năm, ưa sáng, mọc nhanh, thân thẳng, cao khoảng 30m, đường kính thân cây đến 2,5 m, tán lá rộng, cành hơi rủ xuống che kín mặt đất, rễ ăn sâu xuống đất và phân bố rộng nên có thể chống chịu được với nơi có gió mạnh, khô hạn Do vậy giá trị thiết thực của cây Neem (xoan chịu hạn) là phủ xanh

và phòng hộ môi trường Cây có thể sống được khoảng 200 năm (Trung tâm khuyến nông, khuyến ngư Bình Thuận, 2009)

Cây Neem có thể mọc ở bất cứ chỗ nào ở các vùng Nhiệt đới Cây Neem thích hợp với loại đất cát cố định, đất tơi xốp, đất cát pha thoát nước, đặc biệt nơi

Trang 15

đất nghèo dinh dưỡng cây vẫn sinh trưởng và phát triển tốt; thích hợp với nơi có lượng mưa hàng năm từ 400 – 1.200 mm, thời tiết nóng, nhiệt độ có thể lên tới

50oC Nó mọc tốt ở độ cao từ mặt biển lên đến khoảng 1.000 m ở vùng gần xích đạo Cây không chịu được nơi mưa nhiều, ngập nước, đất không thoát nước, lạnh kéo dài

2.1.1.1.3 Công dụng cây xoan Neem

Cây Neem (Azadirachta indica Ajuss) có nguồn gốc từ Ấn Độ Người ta ví cây Neem như một “tặng vật“ mà thiên nhiên đã ưu ái dành cho những vùng đất

có khí hậu khắc nghiệt Toàn thân cây Neem là nguồn dược liệu quí, cây càng già thì dược tính càng cao, có thể bào chế để chữa nhiều chứng bệnh, giúp tăng cường sức khỏe cũng như làm thuốc bảo vệ thực vật, xua đuổi côn trùng Tuy nhiên cho đến khoảng giữa thế kỉ 20 các nghiên cứu đầu tiên về hóa hoc, hoạt tính sinh học

và dược học mới bắt đầu được tiến hành Qua những nghiên cứu này, người ta đã xác định được rằng chính các limonoid đóng vai trò quan trọng trong việc chữa trị bệnh Có hơn 135 limonoid đã được phân lập từ cây Neem, nhiều thí nghiệm, nhiều nghiên cứu được thực hiện và các nhà khoa học cũng đã tìm ra nhiều hoạt tính sinh học thú vị Những thí nghiệm này đã xác định, phân lập một lượng lớn hoạt tính sinh học từ những hợp chất này, bao gồm gây chán ăn ở côn trùng và ức chế sự phát triễn những đặc tính quan trọng nhất Mặc dù được biết đến nhiều nhất

là những tính chất chống côn trùng, nhưng một lượng lớn các nghiên cứu là về dược tính từ các limonoid này bao gồm một vài hoạt tính chống lại các chất gây ung thư ở động vật và người bị ung thư, chống nấm, chống vi khuẩn, chống virus

và chữa các bệnh thủy đậu, tiểu đường, loét dạ dày, lao, phong, (Downie A W.,

Vincent L St., Rao A R., Kempe C H., 1969; Rai & Sethi, 1972; Kausik Biswas,

Ishita Chattopadhyay, Ranajit K Banerjee and Uday Bandyopadhyay, 2002)

Trang 16

Lá cây Neem chiết xuất thành nhiều loại mỹ phẩm có giá trị Đặc biệt với chức năng thanh lọc khí hiếm có, đồng thời giữ được độ ẩm của đất, cây Neem được các chuyên gia nông nghiệp xem trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội những vùng khô hạn (Savitha Suri, 2010)

Tại Ấn Độ, sản phẩm từ cây Neem được sử dụng từ hơn hai thập kỷ Tất cả các bộ phận của cây Neem đều được sử dụng để làm thuốc (Biswas, 2002) Cây Neem được coi là thuốc trị bách bệnh (Chopra, R N., Nayer, S L and Chopra, I C.,

1956; Chopra, R N., Chopra, I C, Handa, K L and Kapur, L D., 1958; Kirtikar, K

R and Basu, B D., 1975; Chatterjee, A and Pakrashi, S (eds), 1994) như:

+ Dầu hạt Neem (Azadirachtin) được sử dụng làm thuốc tránh thai

(Deshpande, 1980; Schumutter, 1981; Sinha, 1984; Riar, SS., 1984; Rembold, 1985; Tewari, 1986; Gang, 1991 & 1993); làm xà phòng (xà phòng Margo), dầu gội đầu (Neem-Sunsan, Balms), kem điều trị mụn trứng cá, kem dưỡng da có tác dụng giữ ẩm, ngăn bức xạ mặt trời và tăng tính đàn hồi của da (Nguyễn Tiến Thắng, 2003)

+ Cành Neem có tác dụng chăm sóc răng miệng như: chống sâu răng; làm sạch răng, lợi; tăng thêm độ chắc, khỏe của răng mà hoàn toàn an toàn đối với con người Tại Ấn Độ, hàng ngày các thanh niên thường nhai cành Neem để vệ sinh răng miệng, cho nên cành Neem được bán ở hầu hết các siêu thị, các trung tâm thương mại (Lorenz, H.K.P., 1976; Elvin-Lewis, M., 1980)

+ Uống trà lá Neem chữa được bệnh cao huyết áp, tiểu đường (Bhide, NK et al., 1958a; Shukla, 1973; Luscombe & Taha, 1974; Murty, 1978; Pilai & Santhakunari, 1981; Chakraborty, T et al., 1984a; Chakraborty, T & Podder, G 1984b; Dixit, 1986; Bhargava, A.K., 1987; El-Hawary, Z.M & Kholief, T.S.,

1990); mệt tim, nhức mỏi các khớp và cơ thể, trợ gan, nhiễm trùng cơ thể (Pilai & Santhakunari, 1981); diệt giun sán v.v , đặc biệt giúp an thần chữa bệnh mất ngủ

Trang 17

(Debelmas & Hache, 1977; Pilai & Santhakunari, 1984; Singh, 1987), chữa bệnh sốt rét (Tella, 1977; Ekanem, 1978; Rochanakkij, 1985; Khalid, 1986; Abatan & Makinde, 1986; Obaseki & Jegede – Fadunsin, 1986; Iwu, 1986)

• Lá Neem có vai trò như một chất lọc máu, có tác dụng loại bỏ, phá vỡ và đào thải các chất độc hại, sản xuất protein để bảo vệ và tăng cường chức năng gan; uống trà lá Neem có tác dụng làm giảm lượng virus viêm gan B để bảo vệ gan (Nguyễn Tiến Thắng, 2003)

• Lá Neem có tác dụng kích thích cơ thể sản xuất chất chống oxy hóa và cung cấp chất chống oxy hóa cho cơ thể để chống bệnh ung thư (Fujiwara, 1982; Pettit, 1983)

Cách pha trà lá Neem: Ngày đầu: 5 lá; ngày hai: 7 lá; ngày ba: 10 lá; từ

ngày bốn trở đi: 15 lá/750ml nước sôi pha uống như trên Nên uống liên tục theo hướng dẫn trong 4 tuần Sau đó pha trà neem loãng 3-5 lá/1 lít uống hàng ngày để duy trì sức khỏe (Chống chỉ định cho phụ nữ có thai và trẻ em dưới 12 tuổi) (Tổ

chức nghiên cứu cây Neem, 2011: www.neemfoundation.org)

• Lá Neem có tác dụng chữa ngứa do dị ứng, mề đay, nhiễm trùng, mụn trứng

cá, lở loét ngứa,… bằng cách lấy 15 lá cho vào 300ml nước lã, đun sôi 10 phút Dùng nước này tắm, rửa nhiều lần trong ngày (Charles V and Charles SX, 1992)

+ Cành và lá neem được sử dụng để điều chế một loại cao dán dùng để trị các vết thương làm độc, mụt nhọt ghẻ làm mủ, các vết lỡ loét của bệnh phong cùi Người ta cũng điều chế dịch trích từ cành và lá Neem để trị nha chu, viêm lợi, sâu răng và cũng phối chế thành dạng kem mỹ phẩm thoa mặt, thoa ngoài da để trị các loại mụn, nấm ngứa, lang ben, hắc lào (Lorenz, H.K.P., 1976; Elvin-Lewis, M., 1980; Nguyễn Tiến Thắng, 2003)

Trang 18

+ Hoa, ngọn Neem là món ăn khoái khẩu của nhiều người Ấn Độ Hoa Neem dùng nấu súp, ngọn Neem thường sào ăn Nhìn chung hầu hết các món ăn từ Neem thường được dùng là các món khai vị trong bữa ăn cả người Ấn Độ (Nguyễn Tiến Thắng, 2003; www.neemfoundation.org)

+ Vỏ, rễ Neem có tác dụng hạ sốt vì, trong vỏ, rễ Neem có chất Nimibidin

có tác dụng hạ sốt (David, S.N., 1965; Narayan, D.S., 1969); có hiệu quả trong điều trị các bệnh về da như eczema, nhọt, viêm da asen, ghi loét, Herpes rộp môi, ghẻ và viêm da seborrhaeic, nó cũng có hiệu quả trong điều trị các bệnh ngoài da không rõ nguồn gốc, chẳng hạn như mụn cóc và gàu Chất chiết xuất từ vỏ cây có đặc tính mạnh lợi tiểu và chống viêm Nimbidin và natri nimbidinate chứa trong

vỏ cây Neem có khả năng diệt tinh trùng Vỏ cây Neem đã cho thấy hoạt động chống vi khuẩn chống lại nhiều vi khuẩn gram dương (Okpanyi và Ezeukwu, 1981; Khatak, 1985)

+ Neem trung hòa các chất dẫn xuất của gần 500 loài gây hại như: côn trùng,

bọ ve, bọ chét, và tuyến trùng Neem thường không giết các loài gây hại đó ngay lập tức, mà nó tiêu diệt các loài gây hại một cách từ từ, đồng thời nó có tác dụng kìm hãm, ức chế sinh trưởng các loài gây hại đó Các sản phẩm Neem có giá rẻ và không độc hại đến động vật bậc cao và hầu hết các côn trùng có ích (Khan, M and Wassilew, S W, 1987; Jacobson, M., 1995; Kraus, W., 1995; Ketkar, A Y and Ketkar, C M., 1995; Singh, R P., Chari, M S., Raheja, A K and Kraus, W.,1996)

Từ năm 1980, cây Neem đã nổi tiếng trên thế giới do từ cành, lá, hạt Neem các nhà hóa học đã ly trích được các hoạt chất nhóm Limonoid để điều chế một số thuốc có tác dụng tốt trị bệnh cho người, gia súc, gia cầm và thuốc bảo vệ thực vật rất có hiệu quả (Gang, 1981; Jacobson, 1990; Schmuttere, 1999)

Năm 1975, Bộ Nông nghiệp Mỹ đã xây dựng kế hoạch trồng cây Neem trên khắp nước Mỹ Từ năm 1985, Bộ Nông nghiệp Nhật Bản và Bộ Nông nghiệp

Trang 19

Trung Quốc cũng đã đưa cây Neem về trồng; đến nay họ cũng đã sản xuất được nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật và thuốc trị bệnh rất có hiệu quả (Nguyễn Tiến Thắng, 2003)

Ở Mỹ, người ta đã chứng minh dịch trích của lá Neem có thể ức chế hoạt động của enzym DNA polymerase do viêm gan siêu vi B sinh ra, có khả năng diệt virus AIDS Nhiều bằng sáng chế đã được cấp cho thuốc trị AIDS và thuốc kích thích hệ miễn dịch được điều chế từ cây Neem (Nguyễn Tiến Thắng, 2003)

Ở Đức, dịch trích từ cành và lá Neem được dùng để trị các vết loét bao tử, ung loét đường ruột và diệt được sên, lãi, một số ký sinh trùng đường ruột và ức chế sự bài tiết quá nhiều acid trong bao tử (Nguyễn Tiến Thắng, 2003)

Ở Haiti, cao cành và lá Neem được dùng để đắp lên vết sưng của bướu ác, ở các chỗ đau nhức do viêm cơ, viêm khớp, mục trĩ và ở chỗ rắn, rết cắn (Nguyễn Tiến Thắng, 2003)

Ở Nigeria, người ta dùng lá Neem nấu trà uống để trị bệnh sốt rét, kể cả sốt rét ác tính mà vi trùng đã kháng thuốc choloroquine Trà lá Neem còn được dùng

để lọc máu, trị bệnh cao huyết áp và rối loạn nhịp tim (Nguyễn Tiến Thắng, 2003)

Ở Nam Phi, dịch trích từ cành và lá Neem được dùng để diệt các ổ dịch bệnh dịch tả, dịch đậu mùa, dịch sốt xuất huyết, dịch toi gia cầm Ngoài ra nó còn diệt được các loại ve, bọ chét, chí, rận gia súc, gia cầm (Nguyễn Tiến Thắng, 2003)

Ở các vùng Nam Á, hoạt chất trong cành và lá Neem đã được chế biến thành thuốc viên bán ra thị trường trị bệnh tiểu đường do thiếu insulin, làm hạ đường huyết, giảm mỡ và cholesterol trong máu (Nguyễn Tiến Thắng, 2003)

Trang 20

Ngoài ra từ Neem người ta còn sản xuất ra các chế phẩm phòng trừ sâu hại như: Neem - Power, Neem - Vital, Neem - Oeil, của Đức; Bonide - Neem, Bon-Neem, K+Neem, của Ấn Độ (Nguyễn Tiến Thắng, 2003)

2.1.2 Tình hình sản xuất rau trên thế giới

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều chủng loại rau được gieo trồng, diện tích rau ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu về rau của người dân (Mai Phương Anh, Trần Văn Lài, Trần Khắc Thị, 1996) Năm 1961 - 1965, tổng lượng rau của thế giới là 200.234 tấn; từ năm 1971 - 1975 tổng lượng rau đạt 293.657 tấn và từ năm 1981 - 1985 là 392.060 tấn; đến năm 1996 tổng lượng rau đã lên đến 565.523 tấn Sản lượng rau trên thế giới tăng lên rất nhanh, điều đó chứng tỏ nhu cầu rau của con người ngày càng tăng Trên thế giới, những nước có sản lượng rau tăng nhanh nhất là Ý, năm 1961 đạt 9.859 nghìn tấn; đến năm 1996 sản lượng tăng đạt 13,555 nghìn tấn Ở Hà Lan, năm 1985 bình quân 84 kg/người/năm; đến năm 1990 đạt 202kg/người/năm Ở Canada, mức tiêu thụ rau bình quân là 70 kg/người/năm (Tạ T Thu Cúc, 2000)

Cho đến nay, tình hình sản xuất rau trên thế giới không ngừng phát triển cả về diện tích và sản lượng thể hiện qua bảng 2.1:

Qua bảng 2.1 ta thấy: Tình hình sản xuất rau trên thế giới từ năm 2004 trở lại đây có nhiều biến động cả về diện tích, năng suất và sản lượng

- Về diện tích: Từ năm 2004 – 2007 diện tích trồng rau trên thế giới đã tăng lên nhanh chóng Năm 2004 diện tích trồng rau trên thế giới chỉ có 15.937.621 ha nhưng đến năm 2007 đã lên tới 17.022.433 ha Như vậy, chỉ sau 3 năm diện tích trồng rau trên thế giới đã tăng 1.084.812 ha (trung bình tăng 634.330,6 ha/năm) Qua đó ta thấy, cây rau chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp trên thế giới

Trang 21

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới qua các năm

Năm Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (tấn)

- Về sản lượng: Từ năm 2004 trở lại đây tuy năng suất rau không tăng nhưng

do diện tích tăng qua các năm nên sản lượng rau trên thế giới đã tăng rõ rệt, bình quân hàng năm tăng 6.307.889,4 tấn/năm Điều đó chứng tỏ, nghề trồng rau trên thế giới đang có xu hướng phát triển nhanh chóng, rau xanh trở thành nhu cầu thiết yếu và ngày càng tăng lên với đời sống của con người

Cây rau phân bố không đều giữa các nước và châu lục trên thế giới, qua tìm hiểu chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.2

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất rau ở một số khu vực trong năm 2007

Khu vực Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)

Trang 22

Qua bảng 2.2 ta thấy: Châu Á có diện tích trồng rau lớn nhất (13.719.615 ha), chiếm 80,54% diện tích rau của thế giới; diện tích trồng rau của châu Úc ít nhất (36.745 ha), chiếm 5,88% diện tích rau của thế giới

- Về năng suất: Châu Âu là châu lục có năng suất rau cao nhất thế giới và cao hơn năng suất bình quân của thế giới đạt 167,677 tạ/ha Đứng thứ hai là châu

Á có năng suất bình quân lớn hơn thế giới là 10,625 tạ/ha (155,018 tạ/ha), tiếp theo là châu Úc và châu Mĩ, thấp nhất là châu Phi có năng suất là 66,732 tạ/ha, thấp hơn năng suất trung bình của thế giới 2,16 lần

- Về sản lượng: Châu Úc có sản lượng rau thấp nhất đạt 534,730 và cao nhất

là châu Á với sản lượng 212.678.906 tấn rau, chiếm tới 85,47% sản lượng rau trên thế giới Trong đó, riêng Trung Quốc có sản lượng rau đạt 147.121.000, cao hơn rất nhiều so với Mỹ, Nhật, Pháp, Thái Lan, Việt Nam và nhiều nước khác Sau Trung Quốc là Ấn Độ có sản lượng rau đạt 29.117.400 tấn, Philippin đạt 4.500.000 tấn Bên cạnh sự gia tăng về năng suất và sản lượng thì chất lượng rau cũng được nhiều nước trên thế giới quan tâm, nhiều công nghệ tiên tiến ra đời và việc kiểm soát dư lượng hoá chất tồn đọng trong rau ngày càng được thực hiện triệt để hơn (Faostat, 2009)

2.1.3 Tình hình nghiên cứu về rệp hại rau họ hoa thập tự trên thế giới

Theo thống kê chưa đầy đủ, hàng năm sâu hại làm giảm năng suất rau 15 – 20% Trong các loài sâu hại cải thì rệp là một trong những đối tượng gây hại nguy hiểm vì rệp chích hút nhựa cây tạo thành những vết thâm đen nhỏ tại chỗ bị châm Khi cây bị hại nặng, lá cây phát triển không bình thường, quăn queo, vẹo sang một bên và dần dần úa vàng; ngọn rau rụt lại khó phát triển chiều cao, cây sinh trưởng còi cọc, thậm chí bị chết héo vàng Rệp hại làm giảm năng suất và phẩm chất rau một cách rõ rệt Ngoài gây hại trực tiếp, rệp còn là môi giới truyền 17 bệnh virus hại cây trồng như: Cauliflower Mosaic Virus (CaMV); Turnip Mosaic Virus

Trang 23

(TuMV); Turnip mild yellows Virus (BWYV), (Frische, 1972; Heinz, 1974; Hill,

1983; Dubnik, 1991; Hoffmann & Schmutterer, 1999)

Ngoài ra rệp còn bài tiết chất dịch mật để kiến đến ăn dịch mật do rệp tiết ra trên bề mặt lá, cành non, tạo điều kiện cho nấm muội đen phát triển, bao bọc mặt lá cây làm cản trở khả năng quang hợp của lá, làm cho cây chậm lớn, giảm năng suất, chất lượng

Trang 24

Theo Oahu (1907) rệp hại rau họ hoa thập tự (rau cải) gồm 3 loại chính:

Brevicoryne brassiae, Myzus persiae và Rhopalosiphum pseudobrassicae, những

loài rệp này có nguồn gốc ở Châu Âu và cho đến ngày nay thì nó có mặt ở hầu hết các nước trồng rau trên thế giới

Trong 3 loài rệp trên, rệp Brevicoryne brassicae có thể gây hại 51 loại cây, rệp Rhopalosiphum pseudobrassicae có thể phá 30 loại cây, còn rệp Myzus persicae có thể phá hại trên 300 loại cây trồng các loại

Ở những nước phát triển như: Mỹ, Đức, Thụy Sỹ, Thụy Điển, Pháp, Nhật,

để phòng trừ rệp hại cải, có nhiều biện pháp như: Sử dụng thiên địch như: Bọ rùa

chữ nhân (Coclinella repanda), bọ rùa 4 vạch (Chilomenes quadriplahiata), bọ rùa

6 vạch (Chilomenes sexmaemlatu), bọ rùa 2 đốm đỏ (Coelophora liplagiata), bọ rùa 8 vạch (Synharmonia octomaculuta) và ấu trùng ruồi Sirphus sp, bọ mắt vàng (Chrysopa carnae); các chế phẩm sinh học (chế phẩm có nguồn gốc từ virus, vi

khuẩn, nấm); thuốc trừ sâu thảo mộc, Đặc biệt không sử dụng thuốc hóa học phun cho rau vì nó là cây trồng có chu kỳ sinh trưởng ngắn

2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

2.2.1 Tình hình nghiên cứu về cây xoan Neem ở Việt Nam

Cây Neem (Azdirachta indica), thuộc họ xoan (Meliaceae) Do khả năng chịu

hạn, Neem có tên tiếng Việt là “Xoan chịu hạn” Năm 1981, Neem (Giống) đã được giáo sư Lâm Công Định nhập và trồng thử nghiệm ở tỉnh Ninh Thuận Đến đầu những năm 1990, việc trồng Neem đã phát triển mạnh Hiện tại, cây Neem đã được quy hoạch trồng thành rừng dọc theo vùng đất cát ven biển của tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận với diện tích trên 1.000 ha Cho đến nay, người ta đã tách chiết được trên 200 hoạt chất từ Neem Do có khả năng diệt và ức chế sự kháng thuốc của nhiều loại sâu hại, những nghiên cứu ứng dụng các hoạt chất tách chiết từ cây

Trang 25

Neem ở Việt Nam mới chủ yếu để sử dụng làm thuốc bảo vệ thực vật (Nguyễn Mạnh Hùng, 2011)

Từ năm 2002, Hiệp hội rau quả Đà Lạt đã phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu

Hóa sinh ứng dụng Tp Hồ Chí Minh, nghiên cứu thành công chất Azadinarachtin là hoạt chất Nortritecpenoid thuộc nhóm limonoid trong hạt, lá cành cây Neem và điều

chế ra được 3 loại thuốc BVTV là Neemcide 3000SP, Neemcide 3000ES để xua đuổi gây ngán ăn và diệt côn trùng phá hoại cây trồng và kho lương thực phẩm Công ty thuốc sát trùng Việt Nam (VIPESCO) cũng đã sản xuất và đánh giá hiệu quả tiêu diệt sâu hại của 2 chế phẩm trừ sâu 1500EC và 5000EC được sản xuất từ hạt xoan Neem , Hai chế phẩm này có tác dụng diệt trừ nhanh, mạnh đối với các loại sâu xanh, sâu cuốn lá nhỏ, nấm và vi khuẩn gây bệnh cho lúa và các loại cây trồng khác Đồng thời, hai chế phẩm trên còn phát huy hiệu quả tiêu diệt cao đối với cả nhện, côn trùng trích hút, nhưng lại ít độc hại với người và các động

vật máu nóng (LD50 qua miệng của Azadinarachtin với chuột là 5000mg/kg thể

trọng) Vì vậy, hai chế phẩm này có vai trò to lớn góp phần tạo dựng và thiết lập nên một nền nông nghiệp sạch, an toàn, ổn định và bền vững ở Việt Nam

Hiện nay, nhu cầu sử dụng những loại thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) này trong nông nghiệp rất lớn Ngoài sử dụng nguyên liệu là hạt cây Neem được trồng nhiều ở tỉnh Ninh Thuận, Công ty thuốc sát trùng Việt Nam (VIPESCO) còn nhập

khẩu hạt Neem từ một số nước trong khu vực để phục vụ sản xuất

Nhóm nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Ứng dụng Tp Hồ Chí Minh do GS,TS Trần Kim Quy chủ trì vừa công bố việc điều chế thành công và thử nghiệm hiệu lực của 3 nhóm thuốc BVTV mới được trích ly từ hạt và lá cây Neem (xoan chịu hạn) là: Limo 3000BR, Limo 3000ND và Limo 3000DD (dạng bột) Trong

đó, Limo 3000BR có khả năng diệt từ 80 – 90% mọt sau 21 ngày, Limo 3000ND

ức chế 100% sự nảy mầm của hạch nấm Sclerotium rolfsii gây bệnh lở cổ ở cây

Trang 26

sau 4 ngày và nhóm Limo 3000DD diệt trừ được 50 – 60% sâu tơ (Plutella xylostella) phá hoại cây trồng

Sau khi trích ly hoạt chất limonoid, bã thải của cây Neem được sử dụng làm phân bón hữu cơ khá tốt, với giá thành chỉ 220.000 đồng/tấn Ngoài ra loại phân bón này còn có tác dụng diệt kiến, mối, tuyến trùng trong đất; đồng thời góp phần làm giảm đáng kể sự thất thoát đạm trong đất do quá trình nitrat hóa của vi sinh vật Ngay sau khi kết quả nghiên cứu này được công bố, một thỏa thuận tác giả nhóm nghiên cứu, nông trường trồng cây Neem ở Ninh Thuận và Trung tâm nghiên cứu nông học Tp Hồ Chí Ming (nhà sản xuất) đã dược ký kết Dự kiến đầu năm 2007 sẽ tiến hành dự án sản xuất quy mô 50 tấn/năm

Cho đến nay, tổng diện tích cây Neem trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận khoảng 2.600 ha, với diện tích thu hoạch từ cây Neem trên 1.500 ha đã đạt sản lượng gồm: 4.000 tấn lá và 1.645 tấn hạt Dự kiến đến năm 2015, diện tích toàn tỉnh sẽ tăng lên 7.500 ha Các sản phẩm từ cây Neem với những đặc tính thân thiện môi trường, phục vụ phát triển nông nghiệp và đời sống theo hướng sinh thái bền vững Hiện nay, trong Khu công nghiệp Phước Nam, Du Long hoặc các cụm công nghiệp trong tỉnh đã tận dụng nguồn nguyên liệu từ cây Neem để chế tạo sản phẩm sinh học, thuốc trừ sâu, mỹ phẩm có chất lượng cao, phục vụ cho thị trường trong nước

và xuất khẩu với tổng số vốn 160 tỷ VNĐ (100% vốn đầu tư của nước ngoài)

2.2.2 Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam

Nước ta có lịch sử trồng rau từ lâu đời Ngay từ đời vua Hùng, người ta đã phát hiện thấy bầu, bí được trồng trong vườm gia đình Theo sổ sách ghi chép thì cây rau được nhập vào nước ta từ thế kỷ X Thế kỷ thứ XVIII, Lê Quý Đôn đã tổng kết các vùng phân bố rau trong cả nước Vào giữa thế kỷ IXX, nhân dân ta đã biết trồng cải trắng và cải bẹ đông dư Cuối thế kỷ IXX, nhân dân ta đã biết trồng cải

Trang 27

trắng và cải bẹ, đông dư Cuối thế kỷ IXX, nhân dân đã biết trồng rất nhiều loại rau

có nguồn gốc từ Châu Âu như: cải bắp, su hào, súp lơ, cà rốt, hành tây… Thế kỷ

XX ở nước ta hình thành và phát triển các vùng chuyên canh Mặc dù, nghề trồng rau ở nước ta ra đời từ rất sớm, trước cả nghề trồng lúa nước nhưng sản xuất rau còn manh mún, các chủng loại rau còn nghèo nàn, diện tích và sản lượng thấp so với tiềm năng đất đai, khí hậu Việt Nam (Tạ T Thu Cúc, 2000)

Theo Bùi Hoàn Hảo, Đào Thanh Vân, (2002): cho đến nay chúng ta có khoảng 70 loài thực vật được sử dụng làm rau hoặc chế biến thành rau Riêng rau trồng có hơn 30 loài trong đó có 15 loài là rau chủ lực Trong số này có hơn 80%

là rau ăn lá

Theo Trần Khắc Thi (2003), năm 1995 cả nước có diện tích trồng rau là 368,5 ha; sản lượng là 4.145,56 triệu tấn Nếu so với năm 1985 thì diện tích trồng rau tăng 46,4%, bình quân mỗi năm tăng 10.000 ha Diện tích trồng rau trong cả nước tính đến năm 2000 là 445.000 ha, tăng 261.090 ha, tăng khoảng 70% so với năm

1990 Bình quân hàng năm tăng 18,4% nghìn ha (mức trung bình 7% năm) Trong

đó, các tỉnh phía Bắc là 249.200 ha chiếm 56%, còn các tỉnh phía Nam là 196.000

ha, chiếm 44% diện tích canh tác

Theo số liệu thống kê của FAO (2006), những năm gần đây, diện tích rau của

ta ngày càng được mở rộng từ 494.500 ha năm 2001 lên 525.000 ha năm 2005, bình quân mỗi năm tăng 7.625 ha (tăng 1,5% năm)

Theo Phạm Thị Thuý (2006), năng suất rau xanh ở nước ta còn thấp và bấp bệnh Năm 1998, năng suất cao nhất cũng chỉ đạt 144,8 tạ/ha bằng 80% so với mức trung bình của toàn thế giới (xấp xỉ 80 tạ/ha) Nếu so với năm 1990 là 123,5 tạ thì năng suất bình quân trong cả nước trong 10 năm cũng chỉ tăng 11,5 tạ/ha Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, Đà Lạt là các tỉnh có năng suất rau cao hơn cả, nhưng cũng chỉ đạt năng suất bình quân ở mức 160 tạ/ha Năng suất trung

Trang 28

bình thấp nhất là ở các tỉnh miền trung, chỉ bằng một nửa so với năng suất trung bình cả nước Theo số liệu thống kê, những năm gần đây năng suất tương đối ổn định, năm 2005 đạt 125,714 tạ/ha (Faostat, 2006)

Sản lượng rau có chiều hướng gia tăng năm 2000 đạt hơn 6 triệu tấn, tăng 81% so với năm 1990, mức tăng sản lượng trung bình hàng năm từ 1990 – 2000 là xấp xỉ 260 ngàn tấn (Trần Khắc Thi, 2003) Do diện tích tăng nhanh làm cho sản lượng rau ở nước ta tăng đáng kể, từ 5.632.100 tấn năm 2000 tăng lên 6.600.000 tấn năm 2005 Như vậy, chỉ trong 4 năm sản lượng rau tăng 967.900 tấn, chủ yếu

từ hai vùng chuyên canh ven thành phố là vùng rau luân canh với cây lương thực (FAO, 2006)

Đánh giá về thực trạng sản xuất rau ở nước ta trong thời gian qua, nhiều tác giả cho rằng: hiện nay sản lượng và năng suất rau ở nước ta còn thấp, qui mô còn phân tán, chất lượng không ổn định, phần lớn rau không đủ tiêu chuẩn khẩu tươi

và chế biến công nghiệp Mức tiêu thu nội địa còn thấp, chỉ số bình quân đầu người đạt 60 – 65kg/năm Sở dĩ có những hạn chế đó là do, việc quản lý, thiếu cải tiến kỹ thuật, canh tác chủ yếu thiên về năng suất, chưa chú trọng đến chất lượng sản phẩm cho nên rau tươi Việt Nam chưa đảm bảo an toàn cho người sử dụng Mặt khác, xuất khẩu rau còn quá ít, khả năng cạnh tranh trên thị trường Quốc tế kém Rau quả cảu ta tuy đa dạng và phong phú, nhưng sản xuất chưa gắn với thị trường, chất lượng thấp, bao bì mẫu mã chưa thích hợp, thị trường rau còn đơn điệu và nghèo nàn Hiện nay Việt Nam có 40 nước là thị trường xuất khẩu nhưng chúng ta lại không đủ điều kiện, mới chỉ xuất khẩu được khoảng 1 – 2% sản lượng rau nước ta không thể cạnh tranh được với thị trường Quốc tế mà ngay cả trong nước vì rau tươi của chúng ta đang bị các sản phẩm nhập khẩu lấn át (Cục chế biến Nông lâm sản và ngành nghề nông thôn, 2000; Đường Hồng Dật, 1971; Đường Hồng Dật, 2002; Nguyễn Văn Miện, Nguyễn trọng Hùng, Ngô Văn Công, 2001)

Trang 29

Thời gian qua, một số địa phương đã triển khai sản xuất rau an toàn, bước đầu đạt được một số thành tựu, điển hình là các thành phố như: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà lạt Tính đến năm 1999, diện tích trồng rau an toàn của cả nước đạt 1.082,5 ha, với sản lượng đạt khoảng 14.000 tấn/năm (Phạm Thị Thuỳ, 2005) Rau trồng chủng loại đa dạng và phong phú, đến nay đã có hơn 30 loại với 15 loại rau chủ lực Trong số đó có hơn 80% là rau ăn lá (Mai Phương Anh, Trần Văn lài, Trần Khắc Thi, 1996; Cục chế biến Nông lâm sản và ngành nghề nông thôn, 2000)

2.2.2.1 Giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế của cây rau

2.2.2.1.1 Giá trị dinh dưỡng của cây rau

Rau là thực phẩm không thể thay thế được trong bữa ăn hàng ngày của con người, trong thức ăn như: thức ăn từ động vật (thịt, tôm, cá,…) cung cấp chủ yếu các loại vitamin A, B, C, D, E các loại muối khoáng chất, chất xơ là những chất dinh dưỡng không thể thiếu được đối với các hoạt động sinh lý của cơ thể

Theo quan điểm của các nhà dinh dưỡng học, để đáp ứng cho sự bình thường mỗi người cần từ 250 – 300g rau xanh/ngày trong khi đó thống kê của Việt Nam mới cung cấp được 60g/người/ngày (Trần Khắc Thi – 2003), như vậy mới đáp ứng được 20 – 30% nhu cầu về rau

Hiện nay, trong khẩu phần ăn của con người, rau xanh cung cấp khoảng 90 – 99% nguồn vitamin A, 60 – 70% vitamin B2 và gần 100% viatmin C Vitamin giúp cho các hoạt động sinh lý trong cơ thể diễn ra một cách bình thường, mỗi loại vitamin có một chức năng khác nhau, nếu thiếu bất kỳ một loại vitamin nào sẽ gây rối loạn chức năng hoạt động sống của con người, ví dụ: nếu thiếu vitamin A sẽ bị bệnh quáng gà, hoặc mắt không có khả năng thích nghi với ánh sáng mờ, nếu bị nặng sẽ phát triển thành bệnh Xeropthlmia làm hỏng thị lực Thiếu vitamin B sẽ gậy mệt mỏi, kém ăn, cơ thể tê phù Thiếu vitamin C gây chảy máu chân răng,

Trang 30

chân tay mệt mỏi, cơ thể suy nhược Thiếu vitamin D làm cho trẻ em chậm lớn, còi xương,… Như vậy, nếu thiếu các loại vitamin sẽ làm giảm sức dẻo dai, giảm hiệu suất làm việc, dễ phát sinh bệnh tật Do đó, trong lao động, học tập và sinh hoạt hàng ngày, mỗi người phải cần một lượng vitamin nhất định (Bùi Bảo Hoàn & Đào Thanh Vân, 2000; Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, 2000)

Ngoài việc cung cấp viatmin rau còn cung cấp cho con người một lượng chất khoáng đáng kể như Ca, P, Na, K, Fe,… các chất này có nhiều tác dụng trong việc bồi bổ sức khoả, chống thiếu máu, tăng sự dẻo dai và sức chống đỡ bệnh tật, Các loại muối khoáng còn có tác dụng trung hoà độ chua do dạ dày tiết ra khi tiêu hoá thức ăn, làm tăng khả năng đồng hoá protein

Chất xơ trong rau giúp sự tiêu hoá được điều hoà, chống táo bón, giữ được cảm giác no Ngoài ra chất xơ ảnh hưởng có lợi đến hàm lượng cholesterol trong máu, do vậy ảnh hưởng tốt đến ảnh hưởng tốt đến huyết áp và tim, ngăn ngừa được sỏi mật và ung thư ruột Số lượng chất xơ có trong rau và giá trị năng lượng thấp

nó sẽ tác dụng ngăn ngừa bệnh béo phì (Trần Văn Lài, Lê Thị Hà, 2002)

2.2.2.1.2 Giá trị kinh tế của cây rau

Ngoài giá trị dinh dưỡng rất cao rau xanh còn là một cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế khá lớn cho người nông dân, Theo số liệu chính thức của tổng cục hải quan kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt nam tháng 6/2009 đạt 46,02 triệu USD tăng 30% sơ với tháng trước và tăng đến 73,8% so với tháng 6/2008 Tính chung 6 tháng đầu năm tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang các thị trường đạt 209.61 nghìn USD tăng 13,69% sơ với cùng kì năm 2008 (Tổng cục hải quan, 2009) Rau là nguyên liệu của các ngành công nghiệp thực phẩm như:

- Công nghiệp đồ hộp (dưa chuột, cà chua, ngô rau…)

Trang 31

- Công nghiệp bánh kẹo (bí xanh, cà rốt, khoai tây…)

- Công nghiệp sản xuất nước giải khát (cà chua, cà rốt…)

- Công nghiệp chế biến thuốc, dược liệu (tỏi, hành, rau, gia vị…)

- Làm hương liệu (hạt, mùi, ớt…)

Rau góp phần phát triển các ngành kinh tế khác như ngành chăn nuôi (rau là nguồn thức ăn cho ngành chăn nuôi)

Rau là cay trồng quan trọng trong ngành trồng trọt, được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau với lợi thể là thời gian sinh trưởng ngắn và có thể trồng được nhiều vụ trong năm, do vậy rau được coi là cây trồng chủ lực trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, xoá đói giảm nghèo cho nông dân Việt Nam Mặt khác, rau

có đặc điểm là kích thước nhỏ nên cây rau rất thích hợp trồng xen hay gối vụ với những cây trồng khác, như vậy trồng rau sẽ nâng cao sử dụng đất (Bùi Bảo Hoàn, Đào Thanh Vân, 2000) Trồng rau có hiệu quả hơn so với các cây trồng khác về khả năng khai thác năng suất/một đơn vị diện tích/một đơn vị thời gian, vì chũng

có đặc điểm là sinh trưởng và phát triển nhanh trong một thời gian ngắn Theo Cẩm nang trồng rau, cứ 1 ha khoai tây có thể cung cấp lượng calo nhiều hơn 1 – 1,5 lần trong 5 – 6 tháng, chỉ trong 20 – 30 ngày năng suất rau muống đạt tới 10 tấn/ha (Trần Văn Lài, Lê Thị Hà, 2002)

Theo Tô Thị Thu Hà và Nguyễn Văn Hiền (2005), tại vùng ven đô Hà Nội, thu nhập của việc trồng rau cao gấp 4 lần so với các cây lương thực, trong khi chi phí chỉ gấp 2 lần Điều này dẫn tới lãi thuần của cây rau cao hơn 14 lần so với cây lương thực

Cây rau đã góp phần cải thiện được đời sống của người nông dân trong những năm gần đây, góp phần xóa đói giảm nghèo, điển hình:

Trang 32

Ở Hưng Yên diện tích rau màu của huyện Yên Mỹ chỉ được trồng với diện tích nhỏ nhưng hiện nay cây rau đã trở thành cây trồng có giá trị kinh tế cao cho thu nhập 5 – 7 triệu đồng/sào (website - Hội nông dân Việt Nam)

Xã Xuân Bắc (huyện Xuân Lộc) tỉnh Đồng Nai là một vùng thuần nông, trước đây người dân sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nên đời sống hết sức khó khăn Vài năm gần đây, nhiều người nông dân đã chuyển diện tích trồng lúa sang trồng rau, đậu các loại năng suất 3,5 tấn/sào mang lại thu nhập cao hơn trồng lúa 6 – 7 lần (Theo báo Đồng Nai, 14/2/2008)

Người dân xóm 7 xã Yên Khánh (Ninh Bình) đã thành công trong phát triển rau trái vụ với gần 100 hộ tham gia, bình quân các hộ trong xã đều đạt thu nhập từ

20 – 30 triệu đồng nhờ trồng rau trái vụ (Báo Ninh Bình - điện từ/2009)

Như vậy, so với các cây trồng khác, cây rau là cây có giá trị kinh tế cao, cho thu nhập vượt trội so với lúa và một số loại cây trồng khác, điều này đã được thực tiễn chứng minh và công nhận

2.2.2.2 Hiện trạng sản xuất rau ở Việt Nam nói chung và ở Thái Nguyên nói riêng 2.2.2.2.1 Hiện trạng sản xuất rau ở Việt Nam

Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới có gió mùa, khí hậu nóng ẩm mưa nhiều là điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát sinh, phát triển, gây hại và diễn biến phức tạp Mặt khác, người dân chỉ vì lợi nhuận nên để phòng trừ sâu bệnh hại rau, người sản xuất đã sử dụng các hóa chất BVTV một cách bừa bãi, gây ô nhiễm môi trường; gây hiện tượng quen thuốc, nhờn thuốc của dịch hại; đồng thời tiêu diệt cả những loài có ích; dư lượng thuốc tồn dư trong sản phẩm cao, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến con người và phá hủy tài nguyên, môi trường trong hiện tại và tương lai

Trang 33

Mặc dù nghề trồng rau trong những năm vừa qua có những bước tiến đáng kể, nhưng mới tập trung ở khu vực chuyên canh ven thành phố, lượng hạt giống mới nhập về còn hạn chế chưa có một nền sản xuất lớn tập trung chưa đáp ứng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật tiên tíên vào sản xuất Do đó năng suất rau còn thấp, giá thành lại cao, chưa coi trọng quản lý kỹ thuật canh tác chủ yếu tập chung vào năng suất chưa chú trọng đến chất lượng sản phẩm do đó rau tươi ở Vịêt Nam chưa đảm bảo an toàn cho người sử dụng dẫn đến hạn chế rất nhiều cho xuất khẩu

* Phương hướng khắc phục

Để đảm bảo có rau sạch cung cấp cho thị trường, an toàn cho người sử dụng, môi trường sống và vật nuôi không bị ảnh hưởng thì đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải tìm ra các biện pháp kỹ thuật mới có thể đáp ứng nhu cầu sản xuất rau sạch

Vì thế hiện nay vấn đề về rau sạch được những người nghiên cứu người sản xuất,

và đông đảo người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn Như trồng rau trong nhà lưới, phương pháp luân canh, thuỷ canh, chọn và tạo giống rau chế biến rau trái vụ bước đầu các công nghệ sản xuất rau sạch (có hàm lượng nitrat dư lượng thuốc hoá học, kim loại nặng và sinh vật dưới ngưỡng cho phép), tập trung phát triển các giống tốt cho sản xuất Do đó để hạn chế khắc phục những nhược điểm khi dùng thuốc hoá học, xu hướng chung hiện nay trên thế giới cũng như ở nước ta nhiều tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu các loại ký sinh thiên địch, các loại thuốc có nguồn gốc thảo mộc, đặc biệt chú trọng đến các chế phẩm sinh học có nguồn gốc từ vi sinh vật, côn trùng như các chế phẩm Bt, virus và nấm ký sinh các loại côn trùng gây hại, bởi các chế phẩm trên không độc hại đối với người và gia súc giảm bớt hoặc giảm hoàn toàn thuốc hoá học giữ được quần thể sâu hại phát triển, sâu hại ở mức thấp nhất tránh bộc phát thành dịch, bảo vệ các côn trùng có ích…Bảo vệ được sức

Trang 34

khoẻ con người góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, lấy lại sự cân bằng trong

hệ sinh thái

2.2.2.2.2 Hiện trạng sản xuất rau ở Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010

Theo thống kê của cục thống kê Thái Nguyên từ năm 2006 - 2010, diện tích gieo trồng và sản lượng rau được thể hiện qua bảng sau:

Qua bảng 2.3 cho thấy từ năm 2006 đến nay (năm 2010) tình hình sản xuất rau

ở Thái Nguyên đã tăng theo hướng sản xuất hàng hóa Nhìn chung, toàn tỉnh về cả diện tích và sản lượng rau đều tăng lên, cụ thể vào năm 2006 diện tích rau toàn tỉnh

là 7.176 ha cho đến năm 2010 diện tích đạt 8.920 ha tăng 1,24 lần so với năm

2006 Về sản lượng năm 2006 đạt 8.523 tấn nhưng đến năm 2010 sản lượng đã đạt tới 139.635 tấn tăng 1,36 lần so với năm 2006 Tuy nhiên diện tích trồng rau ở các huyện còn có sự chênh lệch khá rõ ràng như ở huyện Đại Từ vào năm 2010 là vùng

có diện tích trồng rau lớn nhất là 2.417 ha gấp 8,33 lấn so với huyện trồng rau ít nhất là huyện Phú Lương chỉ đạt 290 ha (2010)

Riêng về huyện Đồng Hỷ đây cũng là một vùng trồng rau lớn của tỉnh Diện tích trồng rau của huyện đứng thứ 4 trong tỉnh (2010) chiếm 12% so với diện tích trồng rau toàn tỉnh Tuy nhiên, diện tích trồng rau của huyện qua các năm lại có xu hướng giảm xuống cụ thể năm 2008 diện tích trồng rau của huyện là 1270 ha nhưng đến năm 2010 diện tích chỉ còn 1.071 ha

Sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau nói riêng chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện thời tiết khí hậu, những biến động bất thường của tự nhiên như nhiệt

độ xuống quá thấp vào mùa đông, khô hạn kéo dài… làm ảnh hưởng sấu tới sản

xuất rau Thêm vào đó là sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng của địa phương, sử dụng

đất nông nghiệp vào các mục đích khác làm cho diện tích trồng rau giảm Tuy diện tích rau có giảm nhưng tổng sản lượng rau của huyện vẫn tương đối ổn định Có

Ngày đăng: 13/10/2017, 14:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w