1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số vấn đề cơ bản của lý luận văn học việt nam thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay

93 352 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến thời điểm hiện nay việc nghiên cứu, nhận xét đánh giá các vấn đề như: Mối quan hệ giữa văn học và chính trị, văn học và hiện thực, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, tính dân

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Từ 1986 đến nay, lý luận văn học ở Việt Nam đạt nhiều thành tựu đáng

kể, góp phần thúc đẩy, định hướng cho sáng tác và nghiên cứu phê bình văn học Lý luận đổi mới khẳng định nhiều vấn đề quan trọng có giá trị đặt nền tảng cho việc hình thành, hướng tới phát triển một nền lý luận mang tính dân tộc và tính hiện đại 1.2 Vận động cùng sự đổi mới của nền văn học nước nhà, nhiều vấn đề lý luận quen thuộc dần dần được xem xét, nhận thức lại với một phương pháp khoa học, một thái độ khách quan hơn Chúng thoát dần những thiên kiến chính trị, những quan niệm giai cấp, dân tộc hẹp hòi để đưa ra những tiêu chí mới, giá trị mới Quá trình đổi mới tư duy xung quanh những vấn đề lý luận trên diễn ra như thế nào? Tác động của chúng đối với thực tiễn văn học và cuộc sống xã hội ra sao? Đồng thời, thành tựu nổi bật của lý luận văn học thời kỳ đổi mới là đã mở rộng giao lưu, tiếp thu, sáng tạo và ứng dụng vào thực tiễn những lý thuyết của văn học nước ngoài (đặc biệt là lý luận văn học phương Tây hiện đại) vào Việt Nam Điều này đã làm diện mạo lý luận, phê bình văn học nước nhà những năm qua khởi sắc thế nào?

Đó là những vấn đề hiện nay còn nhiều chỗ cần được làm sáng tỏ hơn

1.3 Sau bao thăng trầm bởi nhiều biến đổi của lịch sử, lý luận văn học Việt Nam đương đại đang đứng trước những yêu cầu ngày một gay gắt của quá trình hội nhập sâu với văn học thế giới Hàng loạt câu hỏi về các vấn đề lý luận tiếp tục được đặt ra, đòi hỏi tìm lời giải đáp Trong bối cảnh như thế, nghiên cứu về một giai đoạn giao thời sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn đối sánh để tìm ra quy luật vận động của lý luận văn học dân tộc trong tiến trình hiện đại hóa và hội nhập toàn cầu, góp phần trả lời những câu hỏi của hiện tại, từng bước đổi mới, phát triển nền lý luận văn học nước nhà

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về lý luận văn học ở Việt Nam từ 1986 đến nay

Sau mỗi chặng đường phát triển (5 năm, 15 năm, 20 năm) lý luận văn học thời kỳ đổi mới luôn là đối tượng quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Trong khoảng từ 1994 đến nay, có trên hai chục công trình liên quan ở dạng tổng thuật, bài báo, khảo cứu, công trình nghiên cứu, ý kiến trao đổi Có thể chia thành hai loại tư liệu sau:

Trang 2

Một là những nghiên cứu mang tính chất đánh giá khái quát sau mỗi chặng

đường phát triển của lý luận của các tác giả: Trần Đình Sử; Phương Lựu, Phong Lê, Nguyễn Văn Long, Trịnh Bá Đĩnh,…

Hai là những nghiên cứu về các vấn đề cụ thể của lý luận đổi mới mà sau

mỗi chặng đường phát triển cần phải xem xét, nghiên cứu để đưa ra những kết luận đánh giá khoa học Cho đến thời điểm hiện nay việc nghiên cứu, nhận xét đánh giá các vấn đề như: Mối quan hệ giữa văn học và chính trị, văn học và hiện thực, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, tính dân tộc và tính hiện đại trong văn học nghệ thuật, tiếp thu lý luận văn học nước ngoài,… chủ yếu chỉ xuất hiện lẻ tẻ, rải rác đan cài

ít nhiều trong các bài viết, các công trình nghiên cứu của các tác giả: Phương Lựu, Phong Lê, Hoàng Trinh, Phạm Vĩnh Cư, Hà Minh Đức, Trần Đình Sử, Nguyễn Văn Hạnh, Lưu Văn Bổng, Phan Trọng Thưởng, Trương Đăng Dung, Nguyễn Đăng Điệp,

Đỗ Lai Thúy, Trần Ngọc Vương, Lã Nguyên, Vương Trí Nhàn, Trịnh Bá Đĩnh, Lộc Phương Thủy, Nguyễn Nghĩa Trọng, Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Duy Bắc, Nguyễn Văn Dân; Nguyễn Văn Long; Lê Thành Nghị…

Bước sang giai đoạn đầu của thế kỷ XXI này, các vấn đề của lý luận văn học thời kỳ đổi mới còn được quan tâm trong các tham luận có giá trị học thuật tại các hội thảo do Hội đồng Lý luận, Phê bình văn học nghệ thuật Trung ương tổ chức:

Hội thảo Lý luận, Phê bình văn học nghệ thuật tại Tam Đảo (tháng 8/2003); Hội thảo Phát huy thành tựu đổi mới, sáng tạo nhiều tác phẩm chất lượng cao tại Đồ Sơn

(tháng 10/2006); Hội thảo Tính dân tộc và tính hiện đại trong văn học nghệ thuật tại Hội An (tháng 8/2009); Hội thảo Văn học nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước

hôm nay tại Đà Lạt (tháng 7/2010)

Dù chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên sâu, nhưng lịch sử nghiên cứu về lý luận văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay đã đạt được những kết quả rất đáng trân trọng và có một số điểm đáng lưu ý: Thứ nhất, thành tựu được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm là lý luận văn học đổi mới đã nêu cao tinh thần phê phán những vấn đề lý luận không còn phù hợp với thời đại mới, thậm chí là sai lầm của giai đoạn trước và tiếp thu bổ sung thêm vào

hệ thống khái niệm những giá trị lý luận vốn có từ di sản lý luận văn học dân tộc và tinh hoa lý luận văn học nước ngoài, đặc biệt là lý luận hiện đại phương Tây

Thứ hai, nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống nhất quan điểm đánh giá: Đổi mới không còn là phương diện của lịch sử mà đã trở thành mục tiêu của văn

Trang 3

học nói chung và lý luận văn học nói riêng, là nhân tố quan trọng cấu tạo lại hệ giá trị của hệ thống lý thuyết văn học ở Việt Nam Mặc dù quá trình đổi mới có những bước thăng trầm, còn tình trạng phân tán, mâu thuẫn, bất cập, chưa đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của xã hội nhưng lý luận văn học thời kỳ này thực sự đạt được những thành tựu không nhỏ, có những bước tiến đáng kể so với giai đoạn trước và góp phần làm chuyển biến ý thức nghệ thuật, hình thành những quan niệm văn học mới, thúc đẩy sáng tác và nghiên cứu phê bình văn học đương đại

2.2 Những nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài

2.2.1 Những công trình mang tính chất tổng thuật thông tin và sưu tầm tư liệu

Công trình Về một số vấn đề lý luận văn nghệ cơ bản đang được tranh luận

qua công cuộc đổi mới (1987 - 1992) do Lê Bá Hán chủ biên và Đời sống văn nghệ thời đầu đổi mới do Lại Nguyên Ân và Nguyễn Thị Bình sưu tập có giá trị về mặt tư

liệu thông tin, giúp người đọc có thể hình dung ít nhiều diện mạo đời sống văn nghệ và

lý luận văn học ở Việt Nam thời đầu đổi mới, từ giữa những năm 1980 đến giữa những năm 1990

2.2.2 Những nghiên cứu về các vấn đề của lý luận văn học từ 1986 đến nay

Nhiều vấn đề cụ thể của lý luận đổi mới được đề cập đến trong các nghiên

cứu như: Lý luận, phê bình văn học Việt Nam 1986 - 2000 (2005) và Hai mươi

năm lý luận, phê bình, nghiên cứu văn học - Thành tựu và suy ngẫm (2006) của

Trần Đình Sử; Mấy mươi năm tiến bước của lý luận văn học Việt Nam (2006) của Phương Lựu, Lý luận văn học trước yêu cầu đổi mới và phát triển (2004) của Phan Trọng Thưởng; Lý luận văn học - con đường nào cho sự phát triển (2005) của Nguyễn Đăng Điệp; Một số vấn đề lý luận văn học - nghệ thuật nhìn từ sự nghiệp

đổi mới (2006) của Phong Lê; Lý luận, phê bình từ “phản tư” đến hội nhập (2010)

có thay đổi về phương diện nhận thức (các cuộc thảo luận đã chỉ ra được phần nào

Trang 4

giới hạn của lý luận phản ánh được vận dụng một cách dung tục trong thực tế, những tranh luận về vấn đề chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đều nhận thấy những điểm bất cập, thậm chí sai lầm ở mức độ khác nhau trong lý thuyết về phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa trước đây, đòi hỏi có sự cải tiến, đổi mới, hoàn thiện, thay đổi)

- Khẳng định vai trò quan trọng của việc tiếp thu và vận dụng sáng tạo lý luận văn học nước ngoài ở Việt Nam, từ đó các nhà nghiên cứu ghi nhận sự đổi mới của

hệ thống khái niệm lý luận, nghiên cứu phê bình văn học dưới ánh sáng của lý luận đổi mới

Có thể thấy nhiều vấn đề lý luận trong từng quãng thời gian đã được đề cập đến ở những mức độ khác nhau.Chúng tôi coi những kiến giải trên là cơ sở quan trọng để có thể tiếp nối, đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu sâu sắc, toàn diện, hệ thống hơn

về Lý luận văn học Việt Nam từ 1986 đến nay (một số vấn đề cơ bản)

3 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu những nguyên nhân trực tiếp tác động đến đổi mới lý luận văn học Việt Nam giai đoạn 1986 đến nay, khái quát những nét lớn về diện mạo của lý luận văn học giai đoạn này dưới sự tác động của những quy luật phát triển văn học

- Chỉ rõ quá trình vận động tư duy của một số vấn đề lý luận văn học cơ bản được quan tâm tranh luận, bàn bạc nhiều trong thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay

- Nêu bật thành tựu đáng được ghi nhận nhất của lý luận văn học đổi mới: tiếp thu sáng tạo lý luận văn học hiện đại phương Tây để phát triển, hiện đại hóa lý luận văn học Việt Nam

4 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài là mảng lý luận văn học Việt Nam (từ 1986 đến nay) đặt trong bối cảnh đổi mới của văn học dân tộc nói chung Mảng lý luận này bao gồm những công trình nghiên cứu về lý luận văn học, các chuyên luận (có giá trị học thuật) của các tác giả Việt Nam được công bố trong thời kỳ đổi mới Đồng thời, để đánh giá thành tựu tiếp thu lý luận văn học hiện đại thế giới nhằm phát triển lý luận văn học dân tộc, chúng tôi cũng cố gắng hướng đến bao quát những công trình dịch và giới thiệu lý luận văn học nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là những khuynh hướng ảnh hưởng rõ rệt tới lý luận văn học Việt Nam giai

Trang 5

đoạn này như: thi pháp học, phân tâm học, văn hóa học, tự sự học, ký hiệu học, cấu trúc luận…

4.2. Từ đối tượng và phạm vi nghiên cứu nói trên, nhiệm vụ chính của công trình là:

- Khảo sát cụ thể diễn biến đổi mới của tư duy lý luận qua hai hoạt động chính: nghiên cứu xây dựng hệ thống lý thuyết và ứng dụng trong thực tiễn

- Phân tích, so sánh chỉ rõ sự khác biệt của những vấn đề lý luận văn học cơ bản trước và sau thời kỳ đổi mới

- Chỉ rõ những tác động của lý luận văn học hiện đại nước ngoài đối với lý luận, nghiên cứu phê bình văn học và trên cơ sở đó bước đầu khái quát bài học kinh nghiệm và quy luật phát triển của lý luận văn học Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Để có thể tiếp cận đối tượng nghiên cứu một cách thấu đáo, toàn diện chúng tôi sử dụng hai phương pháp chính là: Phương pháp thực chứng-lịch sử; Phương pháp hệ thống Trong phạm vi nhất định, khi xem xét các vấn đề lý luận văn học từ góc nhìn văn hóa học chúng tôi cũng chú ý đến phương pháp tổng hợp liên ngành

để hướng đến cái nhìn hệ thống, biện chứng hơn về đối tượng nghiên cứu

6 Đóng góp mới của đề tài

6.1 Về lý luận

- Hệ thống và kiến giải những nguyên nhân cơ bản tác động đến sự đổi mới

lý luận văn học Việt Nam (từ 1986 đến nay) Từ đó cố gắng có cái nhìn khái quát đối với diện mạo của lý luận, khẳng định quá trình đổi mới của lý luận văn học Việt Nam giai đoạn này mang tính tất yếu khách quan của lịch sử, văn hóa, xã hội và sự vận động nội tại của tiến trình văn học Việt Nam

- Chỉ ra sự vận động đổi mới tư duy xung quanh một số vấn đề lý luận văn học cơ bản được tranh luận nhiều trong thời kỳ đổi mới, chúng tôi hy vọng đóng góp tiếng nói thẩm định về các vấn đề lý luận văn học còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau mà chưa có ý kiến cuối cùng

- Nghiên cứu việc kế thừa di sản lý luận văn học dân tộc, tiếp thu lý luận văn học nước ngoài, đề tài làm sáng tỏ hơn một đặc thù quan trọng của tiến trình hiện đại hóa lý luận văn học Việt Nam: Bên cạnh tinh thần phát huy chỗ mạnh vốn có

Trang 6

của lý luận mác xít, lý luận truyền thống phương Đông, để nâng cao chất lượng học thuật, lý luận nước ta cần thiết phải tiếp thu có chọn lọc thành tựu của lý luận hiện đại phương Tây Trên cơ sở đó mới có thể xây dựng một nền lý luận có hiệu lực thực tiễn, tham gia các cuộc đối thoại văn học của mọi thời đại và hội nhập với văn học nhân loại

6.2 Về thực tiễn

Công trình này góp phần cung cấp một tài liệu tham khảo có giá trị cho những ai quan tâm nghiên cứu, giảng dạy văn học và lý luận văn học thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến nay)

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo nội dung

đề tài gồm ba chương: Chương 1: Đổi mới lý luận văn học Việt Nam sau 1986: nguyên nhân, diện mạo; Chương 2: Vận động tư duy xung quanh một số vấn đề lý luận văn học cơ bản; Chương 3: Tiếp thu lý luận văn học hiện đại thế giới (từ

1986 đến nay)

Trang 7

Chương 1

ĐỔI MỚI LÝ LUẬN VĂN HỌC VIỆT NAM SAU 1986:

NGUYÊN NHÂN, DIỆN MẠO

1.1 Những nguyên nhân cơ bản tác động trực tiếp đến đổi mới lý luận

1.1.1 Tâm thế đồng thuận và khát vọng hướng về đổi mới của toàn xã hội - Sự vận động cùng chiều với thế giới hiện đại

Từ sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, dân tộc Việt Nam bước sang một giai đoạn phát triển mới của lịch sử Tuy vậy trong khoảng thời gian mười năm sau chiến tranh (1975 - 1985) người Việt Nam vẫn phải tiếp tục sống trong sự “khép kín”, không giao lưu rộng với các nước trên thế giới và buộc phải chấp nhận những

gì tù túng của cơ chế quan liêu bao cấp (sinh ra bởi hoàn cảnh lịch sử đặc biệt) trên mọi phương diện xã hội: từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, văn học nghệ thuật…

Từ cuối những năm 80 trở đi đến nay, tình hình xã hội đã bắt đầu biến đổi Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (năm 1986) như một cái mốc quan trọng xoay chuyển tình thế của đất nước: từ hệ thống nhà nước bao cấp, quan liêu chuyển sang thực hành dân chủ hóa xã hội, phát huy nhân tố sáng tạo của mỗi cá nhân, quyền cá nhân của con người được tôn trọng Từ thế “khép kín” chuyển sang

“mở cửa”, giao lưu với tất cả các dân tộc trên thế giới, kể cả những quốc gia đã từng

là kẻ thù dân tộc “không đội trời chung” một thời Mở rộng giao lưu quốc tế là cơ hội để mở rộng tầm nhìn của người Việt Và đặc biệt ở thế kỷ XX, thế giới đã trải qua nhiều biến động thăng trầm, nhưng những bước tiến của nhân loại trong mọi lĩnh vực của đời sống đã được khẳng định Nhân loại đã và đang tiến vào thế kỷ XXI, mà như dự đoán của các nhà nghiên cứu xã hội, đây là thế kỷ nhân văn Trong

xu thế vận động của toàn cầu, Việt Nam trở thành một mắt xích không thể thiếu

Sự thức tỉnh trước thực trạng nghèo nàn, lạc hậu, dân trí phong bế của người Việt Nam sau thời gian chiến tranh kéo dài đã mang lại cho đời sống dân tộc một luồng sinh khí mới Đội ngũ trí thức, giới văn nghệ sĩ là lực lượng tiên phong trong công cuộc đổi mới bởi họ là những người nhanh nhạy trong việc nắm bắt tinh thần mới của thời đại Tiếng nói của họ chính là tiếng nói đại diện cho khát vọng hướng

về văn minh, tiến bộ, phá thế khép kín để được cùng nhân loại tiến bước tới tương lai tươi sáng, dẫu biết rằng cuộc hành trình hướng về phía trước lần này là một thử thách lịch sử quá lớn lao và mới mẻ, nhiều gian khó, thử thách

Như vậy, nhìn từ một bối cảnh rộng lớn có thể thấy công cuộc đổi mới văn học nói chung và lý luận văn học nói riêng ở nước ta là một cuộc cách mạng “vận động cùng chiều với thế giới” [144, tr.13] Cuộc cách mạng này mang tính tất yếu

Trang 8

của lịch sử, và chính vì vậy nó đã phát triển bởi sức mạnh đồng thuận của toàn xã hội trong một thời điểm lịch sử có nhiều cơ hội thuận lợi chưa từng thấy đối với dân tộc Việt Nam

1.1.2 Sự phát triển của sáng tác văn học

Bắt đầu từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX, văn học Việt Nam chuyển từ

tư duy nghệ thuật mang khuynh hướng sử thi là chủ yếu sang tư duy nghệ thuật mang tính thế sự - đời tư Văn học thời kỳ này đã và đang vận động theo xu hướng

từng bước xác định thêm các giá trị mới bên cạnh các giá trị cũ Sự vận động này

của văn học đổi mới đã đặt ra cho lý luận nhiều vấn đề cần giải quyết, trong đó có một số bình diện cơ bản sau đây:

Ở bình diện ý thức nghệ thuật:

Đó là sự biến đổi quan trọng của các quan niệm về vai trò, vị trí, chức năng của văn học, về nhà văn và quan niệm về hiện thực Những mặt trái của xã hội xã hội chủ nghĩa được phơi bày Trong rất nhiều tác phẩm đặc biệt ở các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, hiện thực nghệ thuật hiện lên đa chiều, có cái như cuộc sống vốn có, nhìn thấy trong đời thực, có cái không thể nhìn thấy, hoặc chưa thấy xuất hiện trong đời thực, nó chỉ là ý niệm của nhà văn, là hiện thực “siêu hiện thực” Vậy phải cắt nghĩa thế nào đây nếu chỉ quan niệm rằng “văn học là tấm gương phản ánh hiện thực” một cách thuần túy, đơn giản?

Ở bình diện nghệ thuật sáng tác:

Nở rộ các phong cách, bút pháp, cá tính sáng tạo của nhà văn được phát huy cao độ Chưa bao giờ văn học Việt Nam lại có sự đa dạng về các phương diện nghệ

thuật như thời kỳ này như: Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người; Đổi mới

về phương thức biểu hiện; Đổi mới về cách xây dựng nhân vật văn học; Đổi mới về nghệ thuật kết cấu tác phẩm; Đổi mới về phương thức trần thuật; Đổi mới về ngôn ngữ,…(1) Khi thế giới bước vào một thời kỳ hội nhập, giao lưu và trao đổi văn học, văn hóa đa phương, đa dạng thì trong đời sống sáng tác văn học, đã xuất hiện nhiều những hiện tượng văn học khác lạ, góp phần phá vỡ không khí trầm mặc, ngưng đọng của văn học Việt Nam sau chiến tranh Không khí đổi mới trong sáng tác là một thách thức đối với lý luận, hệ thống lý luận trước đây không thể bao chứa, giải thích nổi những hiện tượng văn học mới của nước nhà Sự phát triển của thực tiễn sáng tác, đã đánh thức tư duy lý luận, cần có cách nhìn và quan niệm mới trên nhiều phương diện cơ bản, phải tìm cách trả lời những vấn đề cấp bách mà sáng tác đặt ra Hơn bao giờ hết, tính cách mạng của thực tiễn sáng tác đòi hỏi lý luận cần có sự

(1) Xin xem thêm: Cao Thị Hồng (2009), “Một số nguyên nhân cơ bản tác động đến đổi mới lý luận văn học

Việt Nam”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Thái Nguyên, (61), tr.11-17

Trang 9

tổng kết, đúc rút, điều chỉnh và bổ sung để đổi mới nếu không muốn lạc hậu so với thực tiễn

1.1.3 Đổi mới đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam được quán triệt bởi tư tưởng văn nghệ Marx-Lenin Trong thời kỳ đổi mới Đảng đã nhận thức lại toàn diện hơn, khắc phục những hạn chế lịch sử của đường lối chỉ đạo trước đây để linh hoạt điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh của thời đại mới Đây là cơ sở quan trọng, quyết định hướng đi của lý luận văn học ở Việt Nam Sự “cởi trói” (từ dùng của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh) của Đảng và chính sách Nhà nước đối với văn học nghệ thuật trong suốt thời kỳ đổi mới đã liên tục được cụ thể hóa trong các văn

kiện, nghị quyết Xuyên suốt thời kỳ đổi mới, Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị (khóa VI), Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) Về xây dựng và phát triển nền văn hóa

Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, và mới đây nhất là Nghị quyết số 23

(16/6/2008) của Bộ chính trị về Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật

trong thời kỳ mới là những dấu mốc đánh dấu bước ngoặt về tư duy trong chiến

lược lãnh đạo văn hoá văn nghệ của Đảng Trước đây, tư tưởng lãnh đạo văn nghệ của Đảng chủ yếu quán triệt tinh thần đề phòng việc các văn nghệ sĩ sáng tác chệch hướng phục vụ công tác chính trị Đến thời đổi mới, tư tưởng chỉ đạo chủ yếu là tạo điều kiện cho văn nghệ phát triển phong phú và đa dạng, khuyến khích sự tìm tòi thể nghiệm, nâng cao chất lượng toàn diện nền văn học nghệ thuật, đưa văn học

nước nhà tiến lên bước phát triển mới Dân chủ hóa trên mọi mặt của đời sống xã

hội được xem là một thành tựu lớn của công cuộc đổi mới do Đảng ta phát động từ

1986 đến nay Tư duy dân chủ với tinh thần cốt lõi “nhìn thẳng vào sự thật” thực sự trở thành động lực thúc đẩy tiến trình đổi mới hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực văn học nghệ thuật nói chung, lý luận và phê bình nói riêng

1.1.4 Những ảnh hưởng của phong trào đổi mới trong văn nghệ của Liên Xô và Trung Quốc

1.1.4.1 Ảnh hưởng của phong trào “cải tổ” văn nghệ ở Liên Xô

Công cuộc đổi mới ở Liên Xô diễn ra bắt đầu vào năm 1985 đã tác động mạnh đến giới trí thức, giới văn nghệ sĩ của Việt Nam Tiếp nhận những vấn đề mới

mẻ trong công cuộc cải tổ của Liên Xô, tinh thần chung của giới trí thức, văn nghệ

sĩ Việt Nam là đồng tình với tư tưởng đổi mới, tinh thần dân chủ, tự phê của giới lý luận phê bình văn học Liên Xô Những vấn đề gì của lý luận văn học Liên Xô được xem xét lại trong thời kỳ “cải tổ” được quan tâm giới thiệu và có ảnh hưởng đến tư tưởng học thuật của các nhà nghiên cứu lý luận Việt Nam?

Trang 10

Thứ nhất, các nhà nghiên cứu lý luận Liên Xô đánh giá lại lý luận văn học Xô-viết và dần đi đến thống nhất quan điểm chung là: Lý luận văn học Xô-viết còn

bị gò ép, chật chội Đã đến lúc phải xem xét và phục hồi lại các vấn đề lý luận, các khuynh hướng nghệ thuật trước đây bị đánh giá không đúng Đây là một tinh thần đổi mới mang tính khoa học, khách quan, nghiêm túc Họ mong muốn đặt đúng vị trí những gì đáng được tôn vinh và loại bỏ những gì không còn phù hợp, thậm chí là lực cản đối với sự tiến bộ của một nền văn học Thứ hai,đó là việc các nhà nghiên cứu nhìn nhận lại phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, ngọn cờ của nền văn học vô sản Các nhà nghiên cứu cho rằng khái niệm hiện thực xã hội chủ nghĩa bị hiểu chung chung, sáo mòn, cần phải cụ thể hóa nó trong từng thời kỳ khác nhau, chẳng hạn tính đảng cộng sản, tính lạc quan phải được nghiên cứu thêm và hiểu theo những cách mới Thứ ba, vấn đề “tính hiện thực của phản ánh” đã được giới thiệu ở Việt Nam và thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn Ý kiến của các nhà lý luận Xô-viết cho rằng cái mới của văn học đương đại là phải thể hiện được mặt trái của đời sống xã hội chủ nghĩa

Công cuộc “cải tổ” văn học nghệ thuật nói chung và lý luận văn học nói riêng của các nhà nghiên cứu khoa học nhân văn Xô-Viết đã giúp các nhà nghiên cứu lý luận phê bình Việt Nam có thêm kinh nghiệm học thuật để vận dụng trong công cuộc đổi mới văn học ở Việt Nam

1.1.4.2 Ảnh hưởng của tinh thần “cải cách mở cửa” của văn nghệ Trung Quốc

Đại hội văn nghệ Trung Quốc lần thứ tư họp vào tháng 10 - 1979 đã mở ra một giai đoạn mới cho văn nghệ ở quê hương của chủ nghĩa Mao và “cách mạng

văn hóa” Nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình trong bài phát biểu Tình hình và nhiệm vụ

trước mắt tuyên bố: Thứ nhất, “không tiếp tục” sử dụng nguyên lý “văn học phụ

thuộc chính trị” nữa, vì thực tế cho thấy nó chỉ là căn cứ để can thiệp thô bạo vào văn nghệ, “lợi ít, hại nhiều”[144, tr.23]; Thứ hai, giải phóng tư tưởng, mở cửa cải cách, tiến theo thời đại, sáng tạo cái mới Từ lời tuyên bố của ông Đặng Tiểu Bình,

lý luận văn học Trung Quốc có thêm động lực thúc đẩy và đã đạt được những thành tựu đáng kể trong thời kỳ đổi mới

Vấn đề gì của học thuật lý luận Trung Quốc có ảnh hưởng tới Việt Nam? Trước hết là tinh thần “phản tư” Theo nhà phê bình Trương Nhẫn (1988) “phản tư” (réflexion) “là quy luật của văn học, là đòi hỏi bên trong của văn học luôn luôn phải

tự nhìn lại mình và lịch sử, truyền thống, luôn đổi thay hệ quy chiếu của mình để nhìn nhận hiện thực sâu sắc hơn” [144, tr.28] Ở giai đoạn “phản tư”, lý luận văn nghệ Trung Quốc diễn ra cuộc thanh toán chủ nghĩa tả khuynh trong văn học, nổi lên hàng đầu là quan hệ văn học và chính trị, đòi hỏi bức xúc nhất là tháo gỡ những

Trang 11

quan niệm chính trị thiển cận như vòng kim cô thít chặt toàn bộ đời sống, trong đó

có văn nghệ

Nhìn lại giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới ở nước ta, mô hình “phản tư” cũng được triển khai sôi nổi và đạt được một số thành tựu nhất định trong việc phát triển tư duy lý luận văn học lên một cấp độ mới Hành trình đổi mới lý luận văn học của đất nước ta đi sau Trung Quốc, và tất nhiên chúng ta còn phải thực sự cởi mở, cầu thị để tiếp thu, đối thoại với những thành tựu của nước bạn

1.2 Nhận thức mới về vị trí, đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu của

lý luận văn học từ tầm nhìn hiện đại

1.2.1 Lý luận văn học - một khoa học về nghệ thuật ngôn từ

Trước đổi mới, để phục vụ cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và cuộc chiến tranh chống ngoại xâm ba mươi năm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quan niệm văn học là vũ khí cách mạng đã chi phối toàn bộ các đặc điểm, tính chất của tiến trình văn học Quan niệm này càng thể hiện rõ rệt hơn trong lĩnh vực

lý luận và phê bình văn học Lý luận và phê bình văn học trong văn học cách mạng Việt Nam giữ một vai trò quan trọng Đây được coi là một lĩnh vực nhạy bén nhất, trực tiếp nhất để tuyên truyền các quan điểm văn nghệ cách mạng, để đập tan các luận điệu phản cách mạng, để định hướng cho sáng tác Trong điều kiện khắc nghiệt của chiến tranh, lý luận mácxit và phê bình xã hội học mácxit trở thành chân lý tuyệt đối Mọi tư tưởng “phi mácxit”, “phi vô sản”, trái với đường lối văn nghệ của Đảng đều bị phê phán và loại trừ Đó là sự chuyên chính tất yếu để thống nhất tư tưởng, xây dựng nền văn nghệ yêu nước, cách mạng góp phần đắc lực cho sự nghiệp giải phóng đất nước đi đến thành công, thống nhất Tổ quốc

Nhưng bởi quan niệm văn học là vũ khí nên lý luận và phê bình văn học mácxit không phải là một ngành khoa học mà cũng không phải là nghệ thuật Đảng

Cộng sản coi lý luận và phê bình văn nghệ là một công tác của Đảng, “là một

phương thức chỉ đạo cụ thể của Đảng trong lĩnh vực văn nghệ” [160, tr.418] chính

vì thế lý luận văn học (cũng như sáng tác và phê bình) được xem là có vai trò rất thiêng liêng, quan trọng trong việc định hướng tuyên truyền tư tưởng chính trị Tất nhiên, coi văn hóa văn nghệ là một công tác tức là đã nhấn mạnh tính chất hành chính, tính chất quan phương, tính chất chính trị còn vai trò khoa học, tính học thuật của lý luận văn học không được chú ý đúng mức Thậm chí, có lúc người ta còn

“nhầm lẫn” đánh đồng đường lối lý luận văn nghệ của Đảng với lý luận văn học

Đường lối của Đảng về văn học nghệ thuật là hết sức quan trọng và cần thiết vì nó mang tính định hướng và gắn với thực tiễn phát triển của văn học Nhưng thời đổi mới cùng với sự phát triển của khoa học các nhà nghiên cứu đã nhận thấy lý luận

Trang 12

văn học có vị trí tương đối độc lập trong hệ thống các khoa học văn học, xác định rõ

lý luận văn học là một chuyên ngành riêng biệt nằm trong khoa học văn học, có đối

tượng, đặc trưng và phương pháp nghiên cứu riêng Như vậy khái niệm lý luận văn

học được hiểu theo nghĩa khá hẹp và xác định - đây là một khoa học về nghệ thuật

ngôn từ (2), là “khoa học văn học, khoa học nhân văn chứ không phải một cái gì khác, có thể gần gũi với nó, thí dụ đường lối văn hóa - văn nghệ của Đảng” [199, tr.178] Việc khẳng định rõ vị trí của lý luận đã nâng cao tính khoa học của lý luận văn học, ngăn chặn xu hướng đầu cơ chính trị trong nghiên cứu văn học, loại trừ tính quyền uy tuyệt đối, tột cùng, duy nhất của một chân lý nào đó, loại trừ dần lối

tư duy cơ giới, chỉ được thế này, không được thế kia vốn đã là một trong những nguyên nhân kìm hãm bước tiến của văn học nói chung và lý luận văn học nói riêng Quan niệm lý luận văn học như là một bộ phận của khoa học về nghệ thuật ngôn từ

có nghĩa coi lý luận là một bộ phận hữu cơ của mỹ học triết học, được hiểu như là khoa học về cái đẹp và về những phương cách làm ra cái đẹp trong nghệ thuật Xác định rõ lý luận văn học là một chuyên ngành riêng biệt nằm trong khoa học văn học không có nghĩa tách rời lý luận khỏi các phân ngành nghiên cứu khác

Là một phân ngành trong khoa văn học, lý luận văn học đương nhiên có liên hệ chặt chẽ với các phân ngành khác như văn học sử, phê bình văn học, phương pháp luận nghiên cứu văn học Các phân ngành này có thể hỗ trợ, bổ sung cho nhau trong quá trình nghiên cứu cùng một đối tượng

1.2.2 Đối tượng, nhiệm vụ, bản chất, phương pháp nghiên cứu của lý luận văn học

Lý luận văn học lấy phương diện cấu trúc, những đặc điểm rất chung của văn học, hoặc những đặc điểm của hiện tượng văn học phát triển đến mức điển hình làm

đối tượng chủ yếu Lý luận văn học có nhiệm vụ khái quát về bản chất, đặc trưng,

cấu tạo, quy luật tồn tại và phát triển của văn học Bản chất của lý luận văn học suy

đến cùng là việc phát hiện ra các quy luật khách quan và chủ quan đang tồn tại bên ngoài và ngay trong thế giới tâm hồn của mỗi con người, từ đó sử dụng chúng một cách hiệu quả vào các mục tiêu sáng tạo và nghiên cứu văn học nghệ thuật, phát hiện

(1) Các nhà nghiên cứu cũng lưu ý thêm: “Lý luận văn học là một bộ môn khoa học, cũng giống như Ngữ âm học, Tu từ học, Văn bản học, Hình học, Giải tích học v.v Với tư cách là một khoa học, Lý luận văn học cũng như tất cả các khoa học khác, chứa đựng những khái niệm, thuật ngữ xác định, có đối tượng nghiên cứu riêng, được giảng dạy tương đối thống nhất ở các nước khác nhau trên thế giới Theo nghĩa đó, không thể

có Lý luận văn học Việt Nam hay Lý luận văn học Pháp, Lý luận văn học Nga, Lý luận văn học Mỹ mà chỉ

có Lý luận văn học ở Việt Nam, Lý luận văn học ở Pháp, ở Nga, ở Mỹ… Lâu nay trong thực tiễn ngôn ngữ,

khi nói Lý luận văn học Pháp, Lý luận văn học Trung Quốc thường là người ta hiểu theo nghĩa thứ hai, tức là tình hình Lý luận văn học, những khuynh hướng nghiên cứu lý luận văn học ở Pháp, ở Trung Quốc trong giai đoạn nào đó, chứ ít khi hiểu đó là một ngành khoa học, một bộ môn khoa học riêng của Pháp, kiểu Pháp hay riêng của Trung Quốc, kiểu Trung Quốc hoặc giả hiểu theo nghĩa đó là một nền Lý luận văn học thống nhất, độc đáo, mang đậm sắc thái địa phương, dân tộc”[185]

Trang 13

ra các quy luật của nghệ thuật văn chương, giúp nghệ sĩ sáng tạo theo đúng quy luật của nghệ thuật văn chương Xác định rõ đối tượng, nhiệm vụ, bản chất của lý luận

văn học, các nhà nghiên cứu cho rằng lý luận cần phải vận dụng tất cả các phương

pháp nghiên cứu cụ thể như biện chứng- lịch sử, cấu trúc, phân tâm, kí hiệu, loại

hình, thống kê,… để nghiên cứu văn học, xác định sự tồn tại của nó, chỉ ra tính đặc thù, quy luật vận động của văn học

1.3 Khái quát diện mạo lý luận văn học đổi mới

Sau giai đoạn chuyển động có tính chất quá độ, mang nhiều yếu tố dự báo (1975 - 1985), lý luận văn học ở Việt Nam bắt đầu đổi mới rõ hơn từ sau năm 1986

So với trước, lý luận văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới mang những nét đặc trưng chưa từng thấy Quan sát tiến trình đổi mới (tạm thời chia thời gian có tính ước lệ)(3)

qua hai giai đoạn: 1/ Từ 1986 đến 1995; 2/ Từ 1996 về sau, có thể khái quát diện mạo lý luận với một số nét tiêu biểu sau đây:

1.3.1 Đề cao tinh thần biện giải, xới lật, mạnh mẽ phê phán các giáo điều lý luận

xơ cứng, phiến diện

Tinh thần biện giải, xới lật đó là sự tự phê phán, tự phản tỉnh đối với những

mô thức hóa của lý luận văn học, không còn thích ứng với yêu cầu phát triển của sáng tác văn học nghệ thuật, thậm chí chính nó là nguyên nhân gây nên sự trì trệ của

nền văn học Tinh thần này cũng đồng thời thể hiện ở việc khôi phục, trả lại giá trị

đích thực cho những hiện tượng văn học đã bị đánh giá không đúng với những

phẩm chất vốn có của nó Trên tinh thần phê phán khách quan khoa học với cái cũ,

lý luận đưa ra những đề xuất khoa học mới

Tinh thần biện giải, xới lật của lý luận văn học thời đổi mới thể hiện rõ nét ở

bình diện ý thức hệ Đó là việc nhìn nhận lại các vấn đề lý luận quen thuộc như: tư

tưởng văn nghệ mácxit; Lý luận văn học xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Về tư tưởng văn nghệ mácxit, phương châm là vừa kiên trì tư tưởng Marx - Lenin, vừa phải có những đối sách mới mẻ, linh hoạt để thích ứng với hoàn cảnh mới Những ngày đầu đổi mới quan điểm nhận thức về vấn đề này đã được nêu rất rõ ràng: “Cái thần của chủ nghĩa Marx không phải là giáo điều mà là tinh thần phê phán và tinh thần cách mạng của nó” [4] Mặc dù không dễ dàng đi đến thống nhất quan điểm nhưng lý luận đổi mới đã dần dần nhận thức được: “Không phải các tác gia kinh điển đã khám phá hết chân lý của nghệ thuật” [93, tr.215] và: “Lý luận văn học mácxít hoàn toàn không phải chỉ có ý kiến của K.Marx, F.Engels, Lenin” [93, tr.168] “Các nhà

(3) Chúng tôi đồng ý với Phương Lựu khi ông cho rằng: “Cũng như văn học nói chung không phải đợi đến sau Đại hội VI mới đổi mới, mà đã có những chuyển động trước đó, thì lý luận văn học cũng vậy”[97, tr.56] Ý kiến này cho thấy muốn xem xét một cách thật đầy đủ quá trình đổi mới thì phải tính từ sau 1975 và trên thực tế đến nay đổi mới văn học ở Việt Nam đã đi được chặng đường ngót 35 năm

Trang 14

kinh điển của chủ nghĩa Marx chưa bao giờ coi học thuyết của mình là bất biến mà cần phải có sự bổ sung phù hợp để lý luận mácxit thực sự là một thực thể sống động

và phát triển một cách tự nhiên, hợp quy luật” [199, tr.272] Hoặc: “Di sản của các

vị kinh điển chủ nghĩa Marx không phải là cuốn cẩm nang có thể mở ra tra cứu tất

cả các vấn đề mỹ học ở mọi thời đại” [199, tr.304] “Quan điểm biến chủ nghĩa Marx thành thế giới quan quan phương đã biến tư tưởng của Marx vốn là một phương pháp tư duy sống động thành những giáo điều, biến một tư tưởng thấm nhuần tinh thần thực tiễn thành huyền thoại” [128, tr.17]

Những ý kiến trên của các nhà nghiên cứu cho thấy tư duy lý luận đổi mới đã

coi lý luận văn nghệ macxit vừa như một thành tựu trí tuệ của nhân loại, vừa như là

đối tượng để nghiên cứu, tiếp nhận,bổ sung và phát triển, nó hoàn toàn không phải

là loại lý luận duy nhất hàm chứa chân lý bất biến của văn học nghệ thuật như

nhiều năm trước đây chúng ta đã nghĩ Đây không phải là vấn đề “xem nhẹ” hoặc

“làm sai lệch”, “hạ bệ thần tượng” mà chính là sự tôn vinh, phát huy lý luận văn nghệ mácxit trong cái nhìn biện chứng, khoa học và đúng đắn nhất, là nhận thức quan trọng trong sự vận động đổi mới ý thức hệ của lý luận văn học Việt Nam thời

kỳ đổi mới

Trong lý luận văn nghệ mácxit, lý luận phản ánh có ý nghĩa hàng đầu để giải

thích về nghệ thuật, chính vì thế phương diện này đã được giới lý luận đặc biệt quan tâm chú ý Bên cạnh việc tranh luận, nhiều bài nghiên cứu đi sâu tìm hiểu thêm vấn

đề lý luận phản ánh trong nghệ thuật của các nhà nghiên cứu được công bố: Văn học với

hiện thực dưới ánh sáng phản ánh luận Marx-Lenin [93, tr.32-48] của Phương Lựu;

Về đặc trưng của phản ánh nghệ thuật trong mỹ học của Ch.Caudwell và G.Lukacs

[190, tr.175-199] của Trương Đăng Dung; Phương diện chủ quan của phản ánh và

đặc trưng của văn nghệ [144, tr.35-50] của Trần Đình Sử, Các nhà lý luận nhận

thức phản ánh luận là cơ sở nền tảng chứ không phải là duy nhất Từ đó, khẳng

định phản ánh luận của Lenin vẫn mang những ý nghĩa to lớn nhưng đồng thời chỉ

rõ nhược điểm của lý luận văn nghệ Việt Nam trong mấy chục năm qua là đã vận

dụng tư tưởng của Lenin vào thực tiễn văn học quá máy móc, áp dụng phản ánh luận vào văn học một cách cứng nhắc không làm rõ những khâu trung gian Và đây

chính là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến nhiều giới hạn đối với sự phát triển của nền văn học nghệ thuật nước nhà nói chung và lý luận văn học nói riêng Từ việc xem xét lại cách hiểu và vận dụng phản ánh luận Lenin, hàng loạt các vấn đề liên quan đến phản ánh luận (như mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa,…) dần dần được tháo gỡ và bổ sung, hình thành nên những cách hiểu, quan niệm khác trước

Trang 15

Nhìn chung, thời gian từ 1986 đến 1995 đánh dấu một bước chuyển quan trọng

của tư duy lý luận văn học Việt Nam: từ tâm thế thụ động, luôn chịu ảnh hưởng, phụ

thuộc vào lý luận văn học Xô - viết một cách thiếu linh hoạt, thiếu cái nhìn phê phán khách quan, nay chuyển sang tâm thế chủ động tự phê phán và đề xuất sáng tạo những quan niệm lý luận mới có giá trị thực tiễn Chính từ tâm thế mới này, lý luận

văn học nước nhà tiếp tục từng bước, bền bỉ hướng đến những kết tinh mới ở hành trình phía trước

1.3.2 Tiếp tục kế thừa di sản lý luận văn học dân tộc, mở rộng biên độ tiếp nhận những điểm khả thủ của lý luận văn học thế giới

1.3.2.1 Nghiên cứu di sản lý luận văn học dân tộc từ trung đại đến hiện đại

Một trong những biểu hiện đáng ghi nhận của phong trào đổi mới lý luận trên bình diện “nội sinh” là đã quan tâm nghiên cứu, phát huy di sản lý luận văn học dân tộc từ trung đại đến hết thế kỷ XX

Thời trung đại ở nước ta, những quan niệm văn học xuất hiện lẻ tẻ trong các lời bạt, lời bình, lời tựa, tồn tại dưới dạng cổ Hán ngữ Mặc dù không thành hệ thống nhưng đây cũng là di sản vô cùng quý báu Để kế thừa, khai thác phần di sản này thì công việc sưu tầm, dịch thuật, chú thích là có ý nghĩa tiên quyết Trước đổi

mới đã có một số nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này: Quan niệm văn học của

một số nhà nho Việt Nam của Nguyễn Đức Vân (Văn học số 12/1963), Từ trong di sản của nhiều tác giả (Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1981), Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam của Phương Lựu (Nxb Giáo dục,Hà Nội, 1985) Đây là những

công trình đặt cơ sở cho công việc này được tiếp tục triển khai sâu rộng hơn sau

1986 trở đi Từ sau đổi mới xuất hiện thêm các công trình Người xa bàn về văn chương của Đỗ Văn Hỷ sưu tầm (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993), Lê Quý Đôn trên

tiến trình ý thức văn học dân tộc của Đinh Thị Minh Hằng (Nxb Khoa học xã hội,

Hà Nội,1996), Thơ trong con mắt của người xưa chuyên luận của Phạm Quang Trung (Nxb.Hội Nhà văn, Hà Nội,1999), Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học

trung đại Việt Nam của Phương Lựu (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1977),… Những công

trình sưu tầm, nghiên cứu trên đã góp phần quan trọng xác lập hệ thống quan niệm trong văn học trung đại Việt Nam

Song song với việc khai thác kế thừa quan niệm văn học thời trung đại, là việc sưu tầm, nghiên cứu thành tựu lý luận văn học thế kỷ XX Theo thống kê của chúng tôi, kể từ năm 1995 đến nay đã có khoảng hơn chục công trình sưu tầm, biên soạn lý luận phê bình (phê bình tất nhiên có liên quan đến lý luận) được công bố Các

nhà nghiên cứu tập trung vào mảng lý luận văn học trước và sau năm 1945: Tuyển tập

Trang 16

Phê bình, Nghiên cứu văn học Việt Nam 1900 - 1945, (Nxb.Văn học, Hà Nội, 1998)

do Nguyễn Ngọc Thiện chủ biên; Lan Khai - Tác phẩm nghiên cứu lý luận phê bình

văn học do Trần Mạnh Tiến chủ biên, (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003); Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX, 2 tập, do Nguyễn Ngọc Thiện tuyển chọn (Nxb Lao Động,

Hà Nội, 2003); Phạm Quỳnh - Luận giải văn học và triết học do Trịnh Bá Đĩnh tuyển chọn (Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003); Bộ tùng thư: Văn học Việt Nam

thế kỷ XX Quyển Năm, Lý luận- phê bình đầu thế kỷ XX; Lý luận - phê bình 1945- 1975 các tập từ II đến X ( Nxb Văn học, ấn hành từ 2005 đến 2009) do Nguyễn Ngọc

Thiện chủ biên; Bộ tuyển Trương Tửu: phê bình văn học do Nguyễn Hữu Sơn và Trịnh Bá Đĩnh tuyển chọn (Nxb.Lao Động, Hà Nội, 2007); Bộ tư liệu Mười thế kỷ

bàn luận về văn chương - Từ TK X đến nửa đầu thế kỷ XX, 3 tập (Nxb Giáo dục,

Hà Nội, 2007) do các tác giả Phan Trọng Thưởng, Vũ Thanh, Trần Nho Thìn, Nguyễn Cừ biên soạn

Điều đáng lưu ý ở việc sưu tầm là các nhà nghiên cứu không chỉ chú ý đến những tác giả đã được khẳng định trên văn đàn như Hải Triều, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, mà còn giới thiệu thêm nhiều tên tuổi và công trình có phần lạ lẫm

và hầu như ít ai biết đến như Cao Văn Chánh, Hoàng Duy Từ, Trúc Hà, trân trọng những giá trị lý luận có thể còn rất sơ lược, giản đơn, nhưng nó đã được manh

nha ở nước ta từ thời trước cách mạng Nghệ thuật với văn hóa của Lê Quang Lộc,

Văn chương nữ giới của Nguyễn Đồng Khang, Vấn đề nữ lưu và văn học của

Nguyễn Thị Kiêm Qua các công trình sưu tầm, các nhà nghiên cứu lý luận thời đổi mới đã góp phần lưu giữ những thành tựu quan trọng của lý luận văn học dân tộc trong thế kỷ XX, đồng thời mang lại sự đánh giá công bằng cho hàng loạt các nhà nghiên cứu phê bình trước đây bị định kiến lâu dài do quan niệm hẹp hòi, ngộ nhận một thời như: Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Lan Khai, Trương Tửu Nguyễn Bách Khoa,

Ở mảng lý luận văn học sau 1945, công việc sưu tầm biên soạn tư liệu đi theo tinh thần chọn lọc các tác giả Tuy vậy có thể thấy qua các bộ sách hội ngộ khá đầy đủ gương mặt của hàng trăm các tác giả đã và đang góp phần tham gia vào nghiên cứu

lý luận phê bình văn học từ 1945 đến nay

Việc sưu tầm, biên soạn tư liệu là công việc khoa học đòi hỏi một sự cẩn trọng, chu đáo và công phu Mặc dù đến nay còn nhiều khoảng trống chưa thể lấp đầy nhưng lý luận văn học thời kỳ đổi mới đã đạt được những thành tựu nhất định ở mảng này, những bộ sách sưu tầm, biên soạn đã kịp thời bổ sung, phát triển nâng cao những thành tựu lý luận vốn có, góp phần trang bị cho người nghiên cứu những kiến thức không thể thiếu về lịch sử chuyên ngành lý luận văn học ở Việt Nam

Trang 17

Bên cạnh việc sưu tầm tư liệu, vấn đề nghiên cứu chuyên sâu lý luận văn học dân tộc thế kỷ XX cũng được quan tâm chú ý Có thể kể đến một số công trình có

giá trị học thuật đã được công bố như sau: Tác gia nghiên cứu lý luận phê bình văn

học 1945 - 1975 của Ban Lý luận Viện Văn học (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,

1986); Nhìn lại nửa thế kỷ lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (1936 -

1986) của Phương Lựu (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999); Lý luận phê bình văn học

Việt Nam đầu thế kỷ XX của Trần Mạnh Tiến (Nxb Giáo dục Hà Nội, 2002); Lịch sử phê bình văn học Việt Nam giai đoạn 1900 - 1945 của Trần Thị Việt Trung

(Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2002); Phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ

XX của Nguyễn Thị Thanh Xuân (Nxb Đại học Quốc gia, TP Hồ Chí Minh, 2004);

Lý luận phê bình văn học thế kỷ XX của Trần Đình Sử (Trong Văn học Việt Nam thế

kỷ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004) do Phan Cự Đệ chủ biên, Lược khảo 34 tác giả lý luận, phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX (Trong Lý luận, phê bình đời sống văn chương, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2010) của Nguyễn Ngọc Thiện…

Lý luận văn học Việt Nam thế kỷ XX có ý nghĩa đặt nền móng cho việc xây dựng và phát triển nền lý luận hiện đại ở những giai đoạn tiếp theo Những công trình nghiên cứu về di sản lý luận văn học dân tộc được ra mắt ở thời kỳ đổi mới đã góp phần phác họa diện mạo lý luận nước nhà một thế kỷ qua Dưới sự thẩm định khoa học và khách quan của các nhà nghiên cứu, thành tựu và hạn chế của lý luận văn học giai đoạn này để lại những bài học kinh nghiệm sâu sắc cho việc hiện đại hóa lý luận văn học nước nhà trong những chặng đường kế tiếp

1.3.2.2 Nghiên cứu giới thiệu lý luận văn học nước ngoài

Từ những năm 90 trở đi quan điểm đa dạng hóa, đa phương hóa đã tạo nên một sự phong phú trong nghiên cứu, dịch thuật, trong giới thiệu các công trình lý luận của nước ngoài vào Việt Nam

Về lý luận văn học cổ điển phương Đông, tuy chưa nhiều nhưng các nhà

nghiên cứu, dịch thuật đã chú ý tới việc dịch và giới thiệu tư liệu gốc như Tùy viên

thi thoại của Viên Mai do Nguyễn Đức Vân dịch (Nxb Giáo dục, Hà Nội,1999); Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp do Phan Ngọc dịch (Nxb Văn học, Hà Nội, 1997)

Xuất hiện một số nghiên cứu có tính chuyên luận: Tinh hoa lý luận cổ điển Trung Quốc của Phương Lựu (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1989), Thi pháp học cổ điển Ấn Độ của

Phan Thu Hiền (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006),

Thành tựu đặc biệt hơn cả là việc nghiên cứu, giới thiệu và dịch lý luận văn

học hiện đại phương Tây Mảng sách nghiên cứu có: Các vấn đề khoa học của văn

Trang 18

học (1990) do Trương Đăng Dung chủ biên; Từ kí hiệu học đến thi pháp học (1992)

của Hoàng Trinh (1992); Triết học và mỹ học phương Tây hiện đại (1992) của Nguyễn Hào Hải chủ biên; Tìm hiểu lý luận văn học phương Tây hiện đại (1995) và

Mười trường phái lý luận văn học phương Tây đương đại (1998) của Phương Lựu;

Từ văn bản đến tác phẩm văn học (1988) của Trương Đăng Dung; Nghiên cứu văn học, lý luận và ứng dụng (1988) của Nguyễn Văn Dân v.v Bên cạnh các sách

nghiên cứu là mảng sách dịch lý luận văn học với mục đích giới thiệu nguyên gốc

các thành tựu lý luận văn học nước ngoài: Alain Robbe - Grillet và sự đổi mới tiểu

thuyết (Lê Phong Tuyết giới thiệu và dịch, 1993); Phê bình văn học Pháp thế kỉ XX

(Lộc Phương Thủy chủ biên, 1995); Phê bình, bình luận văn học London, Twain, Hemingway (Vũ Tiến Quỳnh, 1995); Octavio Paz: Thơ văn và tiểu luận (Nguyễn Trung Đức dịch, 1998);

M.Kundera: Nghệ thuật tiểu thuyết (Nguyên Ngọc dịch, 1998), J P.Sartre: Văn học

là gì (Nguyên Ngọc dịch, 1999) v.v Chỉ trong vài năm đầu thế kỉ XXI, số sách

nghiên cứu giới thiệu các thành tựu lý luận văn học thế giới tăng mạnh: Văn học so

sánh, lý luận và ứng dụng (Lưu Văn Bổng chủ biên, 2000), Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỉ XX (Phương Lựu, 2001); Chủ nghĩa cấu trúc và thuyết hiện sinh (Trần Thiện Đạo, 2001) v.v Mảng sách biên soạn đã thực sự là các tư liệu bổ ích cho các nhà lý luận Tác giả biên soạn Đỗ Lai Thúy đã cho xuất bản hàng loạt

sách: Phân tâm học và văn học nghệ thuật (2000), Nghệ thuật như là thủ pháp (2000), Phân tâm học và văn hóa tâm linh (2002), Phân tâm học và tình yêu (2003),

Sự đỏng đảnh của phương pháp (2004), Phân tâm học và tính cách dân tộc (2007);

Nhiều tác giả: Văn học hậu hiện đại thế giới - Những vấn đề lý thuyết (2003) v.v ; Đặc biệt sách dịch: M.Kundera: Tiểu luận (Nguyên Ngọc dịch, 2000); Văn học phi

lí (Nguyễn Văn Dân giới thiệu và dịch cùng người khác, 2001); Chủ nghĩa cấu trúc

và văn học (Trịnh Bá Đĩnh giới thiệu và dịch, 2002); Phê bình lý luận văn học Anh -

Mỹ (Lê Huy Bắc chủ biên, 2002), Plin và Tzurganova: Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu - Hoa Kỳ thế kỉ XX (Đào Tuấn Ảnh,

Trần Hồng Vân và Lại Nguyên Ân dịch, 2003); Văn học so sánh, nghiên cứu và

dịch thuật (Khoa ngữ văn, và báo chí thành phố Hồ Chí Minh, 2003); J.M Lotman: Cấu trúc văn bản nghệ thuật (2004) do Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thu Thủy

dịch; Kate Hamburger: Logic học về các thể loại văn học (2004) do Trần Ngọc Vương

và Vũ Hoàng Địch dịch; Chủ nghĩa Marx và phê bình văn học (2008) của Terry Eagleton

do Lê Nguyên Long Dịch; Lý luận văn học (2009) của R.Wellek và A.Warren do Nguyễn Mạnh Cường dịch, Thi pháp của nền văn học Nga cổ (2010) của

D.S.Likhachev do Phan Ngọc dịch v.v

Trang 19

Như vậy, vượt qua giới hạn của chính mình, lý luận văn học thời kỳ đổi mới

đã đi từ phong bế đến hội nhập, mạnh dạn phiên dịch, giới thiệu những lý thuyết văn học trước nay bị xem là vùng cấm Một số tác giả triết học và mỹ học phương Tây như G.W.Hegel, I.Kant, M.Heidegger, J.P.Sartre, R.Barthes, M.Kundera, thậm chí có những tác giả trước đây bị lên án gay gắt như G.Lukacs (bị coi là đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa xét lại) cũng được trân trọng giới thiệu lại như là những nhà lý luận với những quan điểm đáng được quan tâm, tham khảo Song cũng cần thấy, sự hội nhập với thế giới của lý luận văn học đương đại Việt Nam thật ra không quay lưng lại với lý luận văn học Xô - viết Nếu trước đây chúng ta chỉ thiên về những thành tựu có tính chất chính thống thì nay quan tâm đến cả những thành tựu lý luận vốn trước đây không được coi trọng, (thậm chí bị phê phán) bởi những công trình này được viết không hoàn toàn theo tinh thần mácxit, đến đổi mới, “cải tổ”, nó được nhìn nhận lại, trở thành di sản quý báu không những của Nga mà còn là của thế giới Đó là hai công trình quan trọng của M.Bakhtin – một trong những nhà nghiên cứu lý luận văn học được coi là lớn nhất thế kỷ XX:

Lý luận và thi pháp tiểu thuyết do Phạm Vĩnh Cư dịch (Trường viết văn Nguyễn Du,

Hà Nội, 1992), Những vấn đề về thi pháp Dostoevsky do Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân,

Vương Trí Nhàn dịch (Nxb Giáo dục, Hà Nội,1993) Tư tưởng khoa học mới mẻ trong các công trình khoa học này đã tác động mạnh đến giới lý luận Việt Nam Nhiều quan điểm của M.Bakhtin như coi thể loại là nhân vật chính của lịch sử văn học, cách nhìn về vai trò lễ hội Carnaval trong chuyên khảo về F.Rabelais, vấn đề

“tính đa thanh” của tiểu thuyết,… đã được giới nghiên cứu nước ta hưởng ứng, vận dụng Những tư tưởng lý luận của phương Tây (đặc biệt là của Âu - Mỹ) trở lại với Việt Nam trong tinh thần cầu thị học hỏi và đối thoại, đã nhen nhóm, kích thích những tìm tòi, sáng tạo mới

Có thể nói mặc dù việc tiếp thu lý luận văn học phương Tây còn có những điểm hạn chế (4) nhưng ở thời hội nhập sự cởi mở và đa dạng của lý luận đã được

tôn trọng và khích lệ, nó đã làm cho đời sống của lý luận văn học Việt Nam khởi

sắc và đó chính là tiền đề quan trọng bậc nhất để công cuộc hiện hóa lý luận văn

học Việt Nam tiến vào thế kỷ XXI với hy vọng cập nhật được mặt bằng của lý luận văn học thế giới

(1) Về việc giới thiệu và dịch thuật lý luận văn học nước ngoài Lộc Phương Thủy cho rằng: “Hiện nay, việc giới thiệu nghiên cứu tư tưởng học thuật nước ngoài tuy đã có khởi sắc, đã có những gợi ý phần nào cho lý luận nước nhà, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu (…) việc giới thiệu, dịch thuật các tác phẩm học thuật nước ngoài ở Việt Nam còn chưa được bao nhiêu”[199, tr.638-639] Về việc tiếp thu, ứng dụng Trần Đình Sử nêu nhận xét: “Nhiều lí luận vừa mới nhập khẩu vẫn còn “nguyên đai nguyên kiện” như là

“của người khác”, chưa được Việt hoá, còn để ngổn ngang như những thứ “phôi” chưa được cắt gọt, mài giũa

để trở thành đồ dùng Nhiều người nhìn chúng bằng con mắt xa lạ Có những người “sính Tây”, chủ trương một thứ học Tây “thuần tuý”, như thứ hàng còn nguyên cả chữ “made in ” như thế mới sang”[150]

Trang 20

Tiểu kết

1 Hệ thống lại những nguyên nhân cơ bản có ít nhiều tác động đến tiến trình

phát triển của lý luận văn học giai đoạn từ 1986 đến nay, chúng tôi cho rằng những đổi mới của lý luận văn học Việt Nam đã và đang đi theo đúng dòng chảy của văn học nhân loại và dân tộc một cách khách quan, phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử văn hóa xã hội

2 Từ tầm nhìn hiện đại, xác định rõ lý luận văn học là một chuyên ngành

riêng biệt nằm trong khoa học văn học, là khoa học của nghệ thuật ngôn từ đã khiến

bản thân lý luận ngày càng ý thức sâu sắc vai trò của mình đối với sự phát triển của văn hóa nói chung và đời sống văn học nói riêng Có thể khẳng định rằng ngót hai

mươi lăm năm qua lý luận văn học Việt Nam đã có sự vận động mau lẹ, hướng đến

sự thay đổi mở rộng hệ quy chiếu để dần từng bước tiến đến xây dựng một mô hình

lý thuyết mới thay thế mô hình lý thuyết quen thuộc nhưng bất cập và bất lực khi phải đối diện giải quyết những vấn đề mới phát sinh trong tiến trình phát triển của đời sống sáng tác văn học ở thời đại mới Trên hành trình đổi mới lý luận văn học

Việt Nam bước đầu đã đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần giải quyết những vấn đề mà thực tiễn sáng tác cũng như phê bình văn học đặt ra

Trang 21

Chương 2 VẬN ĐỘNG TƯ DUY XUNG QUANH MỘT SỐ VẤN ĐỀ

LÝ LUẬN VĂN HỌC CƠ BẢN

Thời kỳ đổi mới có rất nhiều vấn đề lý luận văn học ở Việt Nam vận động hướng đến sự nhận thức, bổ sung cái mới, phát triển cái hợp lý vốn đã được khẳng định Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi chọn 2 vấn đề lý luận cơ bản để khảo sát, phân tích với mục đích làm rõ quá trình vận động tư duy của chúng theo quy luật của

sự phát triển văn học nói chung và lý luận văn học nói riêng, từ đó góp tiếng nói thẩm

định về các vấn đề lý luận văn học còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau: 1/Mối quan hệ

giữa văn học và hiện thực; 2/ Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa

2.1 Văn học và hiện thực

2.1.1 Quan niệm về hiện thực trước 1986

Trước thời kỳ đổi mới, được kiến tạo chủ yếu từ cội nguồn là triết học, mỹ học Marx - Lenin, nên lý luận văn học ở Việt Nam (cũng giống như lý luận văn học

Xô - Viết) đã coi văn học là một hình thái ý thức đặc thù phản ánh tồn tại xã hội và

có khả năng cải tạo xã hội, văn học là “tấm gương” phản ánh hiện thực đời sống Quan điểm chỉ đạo của Đảng lúc này là văn nghệ phải luôn bám sát tình hình thời

sự để nhìn nhận và phản ánh hiện thực cách mạng “Văn nghệ là vũ khí sắc bén của giai cấp công nhân, của Đảng trong cuộc đấu tranh để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra; Văn nghệ phản ánh hiện thực khách quan một cách cao đẹp, góp phần cải tạo hiện thực đó theo một lý tưởng nhất định” [197, tr.99]

Từ định hướng đó, các tác phẩm văn học ra đời vào thời kỳ này luôn luôn hướng đến những tấm gương chiến đấu, hy sinh vì lý tưởng cao cả của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, xây dựng những hình tượng điển hình, tượng trưng cho “con người mới” vươn lên làm chủ xã hội, làm chủ tương lai Văn học đề cao tính giáo

dục, giáo hóa gắn liền với các hoạt động chính trị thực tiễn Hiện thực - đó là công

cuộc kháng chiến “trường kỳ, gian khổ”, là các chiến dịch lớn trên khắp các miền từ Việt Bắc đến Trị Thiên, khu Năm, Nam Bộ, là đời sống của đồng bào ở hậu phương

và các vùng địch hậu Cả một thế hệ nhà văn tự nguyện đưa tác phẩm đến với đời sống nhân dân, biến tác phẩm thành phương tiện giáo dục tuyên truyền Sự tiếp nhận của đông đảo nhân dân là thước đo hiệu quả của văn học, tính hiện thực được quy định và gắn bó với yêu cầu và trình độ tiếp nhận của nhân dân, đó là một dạng hiện thực phù hợp với trình độ tiếp nhận chung ở thời kỳ ấy

Do xuất phát từ việc quan niệm về đặc thù và chức năng của văn học giản đơn như vậy nên trong một thời gian kéo dài mấy chục năm kháng chiến, nhiều thế

hệ những người cầm bút sáng tác, nghiên cứu, phê bình văn học, và bạn đọc - chủ

Trang 22

thể tiếp nhận văn học cho rằng nhiệm vụ chủ yếu của văn học là thể hiện cuộc sống sao cho chân thật, hùng hồn, phản ánh hiện thực như những gì đã và đang diễn ra Hiện thực là cái “dâng sẵn, đón chờ”, chỉ chờ đợi nhà văn "phản ánh", sao chép vào tác phẩm Hiện thực trong tác phẩm và hiện thực ngoài cuộc sống là một, đó là cái

mà người ta phải sờ tận tay, nhìn tận mắt Nếu hiện thực ngoài cuộc sống không giống với hiện thực trong tác phẩm thì tác phẩm không được tán dương, không được cộng đồng thừa nhận Dùng nghệ thuật để minh họa tư tưởng, đồng nhất văn học với báo chí, lịch sử Văn học chỉ được xem như “tên hề đồng lóc cóc chạy theo đời sống” (Nguyễn Đình Thi) Nhà văn nào có ý vượt thoát khỏi cái khung định sẵn, xây dựng hình tượng bằng trí tưởng tượng đôi chút lập tức bị phê phán: “xây dựng bằng trí tưởng tượng tùy tiện của tác giả hơn là bằng sự quan sát nghiên cứu nghiêm túc hiện thực của đời sống ” [134, tr.219] Một thị hiếu đơn giản chế ngự trong tâm lý cộng đồng: thích đối chiếu hiện thực trong tác phẩm nghệ thuật với hiện thực ngoài cuộc sống Và tai hại hơn, quan niệm này đã trở thành một cái “chuẩn” để đánh giá giá trị đích thực của tác phẩm và bản lĩnh, tài năng của nhà văn Mặt khác, do bị chính trị chi phối nên văn nghệ nghiêng về phản ánh hiện thực theo quan điểm chính trị chủ đạo, vì thế thường “một chiều” [16], “phải đạo” [58], thiếu sâu sắc, độc đáo

2.1.2 Quan niệm về hiện thực sau 1986

2.1.2.1 Hiện thực trong văn học - hiện thực đa diện, nhiều chiều

Thực ra, không phải đợi đến thời kỳ đổi mới mà ngay từ giai đoạn giao thời (1975 - 1985), một số cây bút lão luyện trưởng thành từ hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc đã bắt đầu nhận thấy lực cản của cách quan niệm xơ cứng về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực khiến ngòi bút không thể nào cất cánh Với vốn trải nghiệm dày dạn từ cuộc sống, những nhà văn này nhìn đời bằng con mắt tinh tường, từng trải, họ bộc lộ nỗi buồn thấm thía, day dứt của người cầm bút khi không được tận cùng trải lòng mình trên trang viết bởi cách quan niệm quá đơn giản

về hiện thực trong nghệ thuật

Trước hết, đó là nhà văn Nguyễn Minh Châu - “người mở đường đầy tài hoa

và tinh anh” [106] của sự nghiệp đổi mới văn học nước nhà Bên cạnh các tác phẩm

mà ở đó hiện thực được nhà văn kiến tạo vượt qua hiện thực giới hạn trong đời sống

chính trị như: Người đàn bà trên chiến tàu tốc hành; Cỏ lau; Khách ở quê ra; Mảnh

đất tình yêu; Phiên chợ Giát,… là hàng loạt các bài phê bình, tiểu luận: Viết về chiến tranh (1978); Các nhà văn quân đội và đề tài chiến tranh (1979); Nhà văn, nhân vật, bạn đọc; Văn học và cách mạng; Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn học minh họa (1987), v.v Nguyễn Minh Châu “điềm đạm, thận trọng, nhưng

triệt để và quyết liệt” [84, tr.89] từng bước bộc lộ khá rõ quan điểm sáng tác của mình dựa trên cảm hứng tôn trọng hiện thực, khám phá bề sâu hiện thực sinh động

Trang 23

và toàn vẹn, tái hiện “những chặng đường mà dân tộc ta trải qua phải tuân theo những quy luật phát triển của cách mạng và chiến tranh, nghĩa là khúc khuỷu, quanh

co trước khi đi đến thắng lợi cuối cùng” [17, tr.65]

Năm 1978, đất nước vừa đi qua cuộc chiến tranh gian khổ, khốc liệt, những trang viết về chiến tranh còn nóng hổi, không khí hân hoan chiến thắng vẫn là âm hưởng chủ đạo Nhưng Nguyễn Minh Châu với trái tim nghệ sĩ đầy nhạy cảm đã bắt đầu trăn trở, lo lắng, bắt đầu nhận thấy có điều gì bất ổn của những trang viết mà

chính ông và đồng đội đã từng sống chết vì nó Trong tiểu luận Viết về chiến tranh

ông băn khoăn:

Nhìn lại những tác phẩm viết về chiến tranh của ta, các nhân vật thường khi có khuynh hướng được mô tả một chiều, thường là quá tốt, chưa thực Hình như tất cả những mặt tính cách đa dạng phải phơi bày trong đời sống thực thì lại có thể tạm thời giấu mình trên trang sách Vì ý thức cổ động kháng chiến một phần, một phần khác có phải do quan niệm

sơ lược về nhân vật anh hùng?

[17, tr.50]

Những trăn trở của Nguyễn Minh Châu cho thấy ông đã bước đầu nhận ra sự

hạn chế của khuynh hướng sáng tác mô phỏng thực tế, sự thụ động của nghệ sĩ là do

tình trạng “bao cấp” về tư tưởng mà ra Chính phong trào viết người thực, việc thực, viết truyện các anh hùng đã trói buộc những người cầm bút, mục đích ghi lại sự kiện một cách đầy đủ, chính xác đã khiến họ cho ra đời những “bộ đồng phục tinh thần” Con người trong nhiều tác phẩm được xây dựng với hành động giống nhau, nhạt nhoà, đơn điệu Họ chỉ là những nhân vật nhằm “minh hoạ” cho một quan niệm đạo đức, cho đường lối chính trị… đó là những con người thiếu cá tính, những con người không có khuôn mặt của riêng mình Thái độ hoài nghi khoa học đầy trách nhiệm với nghề của Nguyễn Minh Châu chính là khởi đầu cho một cách nhìn mới về hiện thực Ông nhận thức sâu sắc rằng chiến tranh đã đi qua, trong cuộc sống đời thường muôn mặt, con người trở về với cái bản chất người thực sự như nó vốn có, do vậy văn chương để phụng sự được con người cũng cần phải khác trước Lịch sử đã sang trang, quan niệm về cuộc sống và con người không còn đơn giản nữa Hiện thực với những chiều dài lịch sử khác nhau cần được phản ánh một cách

đa diện, nhiều chiều mà trung tâm của nó là con người thời đại với những số phận

cụ thể, những tính cách phong phú Con người và số phận của con người trong cõi nhân sinh đầy những “mảnh vỡ” này không thể chỉ có cái tốt, cái lý tưởng xa vời như trong sử thi, nó cần được soi chiếu từ nhiều góc độ trong đời thường với những mặt đối lập nhau và luôn song hành bên nhau, thậm chí gắn chặt nhau: tốt và xấu,

Trang 24

được và mất, cao thượng và thấp hèn, thiện và ác Nếu nhà văn chỉ nói cái tốt, cái được, cái cao thượng, cái thiện thì cũng chỉ nói lên được một phần sự thật mà thôi

Tuyên ngôn nghệ thuật Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh

hoạ của Nguyễn Minh Châu đã đưa ra một quyết định dứt khoát: đoạn tuyệt với lối

văn minh hoạ Nhà văn đã trăn trở cùng với trang giấy trước đèn để rồi trung thực

và can đảm viết:

Cũng phải nói thật với nhau rằng: mấy chục năm qua, tự do sáng tác chỉ có đối với lối viết minh hoạ, văn học minh hoạ, với những cây bút chỉ quen với công việc cài hoa, kết lá, vờn mây cho những khuôn khổ đã

có sẵn mà chúng ta quy cho đấy đã là tất cả hiện thực đời sống đa dạng

và rộng lớn Nhà văn chỉ được giao phó công việc như một cán bộ truyền đạt đường lối chính sách bằng hình tượng văn học sinh động, và do nhiều

lý do… từ đấy rồi trở thành thói quen Thói quen của một người vốn quen

đi trong một hành lang hẹp, vừa hẹp vừa thấp

Nguyễn Minh Châu đã không ngần ngại chỉ ra những quan niệm ấu trĩ về sự ràng buộc giữa văn học nghệ thuật và chính trị để sinh ra thứ văn chương “minh họa” Đành rằng trong một hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử dân tộc, hiện thực bao trùm và bức xúc nhất là hiện thực của đời sống chính trị xã hội với hai nội dung chính là cuộc chiến tranh vệ quốc và công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa Nhưng nhiều nhà văn từ chỗ tự ý thức hướng tới những đề tài trung tâm của đời sống chính

trị xã hội tới chỗ coi phạm vi hiện thực ấy là đối tượng phản ánh duy nhất trong

sáng tác của mình Quan niệm có phần hạn hẹp về hiện thực lâu dần đã đã ảnh hưởng tới cảm quan thẩm mỹ, chuẩn mực định giá, cảm thụ văn chương

Xuất phát từ những trải nghiệm quý giá trong lộ trình văn học nhọc nhằn ba mươi năm cầm bút, Nguyễn Minh Châu đã nỗ lực bứt thoát, vượt mình để đi đến một bước tiến quan trọng trong tư duy nghệ thuật Ông là một trong những nhà văn sớm nhận thấy sự hạn chế của khuynh hướng sáng mô phỏng thực tế và chỉ ra rằng

chỉ có phản ánh hiện thực trong cái nhìn đa diện, nhiều chiều thì văn học mới cắt nghĩa được một cách biện chứng, chân thật đầy đủ về con người và cuộc sống

Bên cạnh Nguyễn Minh Châu, thời điểm những năm đầu đổi mới nhiều nhà văn Việt Nam - những người từng: “Nhìn về dân tộc và con người trong quầng sáng

sử thi, phủ lên nhân vật những vẻ đẹp mang tính huyền thoại” [40, tr.132] và nhiều nhà nghiên cứu khác cũng nhanh chóng đổi mới cách nhìn Họ trực tiếp bày tỏ ít

Trang 25

nhiều những suy nghĩ, trăn trở xung quanh vấn đề văn học và hiện thực: Trước hết

là đổi mới cách nhìn của Hoàng Ngọc Hiến (Văn nghệ 17/1/1987); Nhìn thẳng vào

sự thật, nói đúng sự thật sẽ có nhiều tác phẩm hay của Nguyễn Tuân (Văn nghệ, số 3

và 4 ra ngày 17/1/1987); Điều quan trọng lúc này là trung thực và trung thực của

Lê Lựu (Văn nghệ số 27, ngày 4/7/1987); Đổi mới tư duy, khẳng định sự thật trong

văn học nghệ thuật của Nguyễn Văn Hạnh (Văn nghệ số 33, ngày 15/8/1987); Tiếng nói của văn học của Huy Phương (Văn nghệ số 37, ngày 12/ 9/ 1987), Đề cương đề dẫn thảo luận ở Hội nghị đảng viên bàn về sáng tác văn học của Nguyên Ngọc (Tạp chí

Langbiang, số 3/1988), Vẻ đẹp của nỗi đau buồn trong thơ của Hồng Nhu (Văn nghệ

số 3&4&5, ngày 23/1/1988), Cuộc hành trình đi vào sáng tạo của Hoàng Yến (Văn

nghệ số 11, ngày 12/3/1988),… Dù cách diễn đạt khác nhau nhưng tất cả đều có chung nhận thức: cuộc sống đời thường sau chiến tranh, các thang giá trị mang tính chuẩn mực xã hội có nhiều đảo lộn, thay đổi, điều này đòi hỏi văn học phải giải quyết bằng cách nhìn mới, sắc sảo, năng động Cần phải bình tĩnh, trung thực tái hiện hiện thực cuộc sống từ nhiều góc nhìn, nhiều thang bậc giá trị trước đòi hỏi ngày càng cao của đời sống xã hội đối với văn học Văn học phải lấy con người làm đối tượng khảo sát thay cho các sự kiện đời sống Quy luật thuộc về bản chất của văn học là đào sâu, khám phá bản chất tâm hồn con người Văn học phải là nơi để con người gửi gắm những suy tư, khát vọng của mình Và chỉ có như vậy văn học mới giúp người đọc nhìn rõ bản chất của hiện thực với những mảng màu pha trộn đen trắng, thật giả của cuộc sống đa sự, phong phú, phức tạp Đó cũng là con đường duy nhất để văn học tìm đến những giá trị vĩnh hằng

2.1.2.2 Hiện thực trong văn học - trạng thái nhân sinh người nghệ sĩ cảm nhận và thể nghiệm

Tiến trình đổi mới ngày càng rộng và đi vào chiều sâu, vấn đề quan hệ giữa

văn học với hiện thực đã trở thành trọng tâm bàn luận sôi nổi Bài viết Về vấn đề

văn học phản ánh hiện thực [183, tr.34-52] của Lê Ngọc Trà đã thu hút được sự chú

ý của đông đảo bạn đọc Điểm quan trọng nhất Lê Ngọc Trà muốn nhấn mạnh đến

là phương diện thể hiện tư tưởng, tình cảm thái độ của con người trong văn học, phê phán lối đề cao hiện thực bên ngoài Lê Ngọc Trà cho rằng:“ Phản ánh hiện thực là thuộc tính chứ không phải là nhiệm vụ của văn học” [183, tr.39] Nhiều nhà nghiên cứu như Nguyễn Huệ Chi, Trương Đăng Dung, Lê Thành Nghị,… đã đồng tình với quan điểm này Có nghĩa là văn học cũng như toàn bộ các thành phần của văn hóa

và bản thân văn hóa như một chỉnh thể độc lập, đơn nhất đều phản ánh hiện thực

Trang 26

Phản ánh hiện thực là bản tính tự nhiên của văn hóa trong đó có văn học Như vậy nếu xét trên bình diện triết học, “văn học phản ánh hiện thực” là điều hiển nhiên

“Tất nhiên, hiện thực không tự dưng mà vào tác phẩm nhưng khi chúng đã thừa nhận lý thuyết phản ánh thì rõ ràng phản ánh hiện thực là một thuộc tính mà bất kỳ nghệ sĩ nào cũng có” [197, tr.192]

Xuất phát từ ý kiến của Lê Ngọc Trà: “Trên bình diện lý luận nghệ thuật (khác với bình diện lý luận phản ánh), văn học trước hết không phản ánh hiện thực

mà là sự nghiền ngẫm về hiện thực” [183, tr.43], các nhà nghiên cứu lý luận đã tiếp tục lý giải: “Văn học như vậy không phải nhằm mô tả hiện thực (nếu thế nó chỉ chạy theo hiện thực), không phải là “nghiền ngẫm về hiện thực” (nếu thế nó chỉ là

sự nhận thức thuần lí không khác gì khoa học), văn học đó là một cách sống với hiện thực Mỗi nghệ sĩ, đúng hơn, mỗi lối viết đề nghị một cách sống với hiện thực riêng” [42] Có nghĩa rằng hiện thực nghệ thuật không chỉ dừng lại ở chỗ phản ánh

“như thật”, phản ánh đầy đủ mà hiện thực nghệ thuật cần được sáng tạo ở những cấp độ khác nhau bởi người nghệ sĩ

Tiếp nhận những tư tưởng tiến bộ của lý luận văn học thế giới, Trương Đăng Dung khẳng định:

Luận điểm văn học phản hiện thực, tác phẩm là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan không đặt ra lý do gì để bàn cãi Nhưng quan niệm cứng nhắc về chủ nghĩa hiện thực, quá thiên lệch nhấn mạnh chức năng phản ánh hiện thực, xem việc mô tả hiện thực là mục đích của văn học nghệ thuật thì sẽ dẫn đến cách đánh giá nghệ thuật theo lối đối chiếu với hiện thực, coi nhẹ tư tưởng riêng của người nghệ sĩ Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx không làm thế

và chúng ta lại càng không nên làm thế Lịch sử phát triển của văn học nghệ thuật đích thực đã chứng minh rằng phản ánh nghệ thuật không loại trừ chủ thể

mà đặt điều kiện cho chủ thể bày tỏ về hiện thực một cách tập trung

Như vậy khác với trước, lý luận đổi mới cho rằng phương diện chủ quan của phản ánh nghệ thuật là điều cũng cần được nhấn mạnh trong xây dựng mô hình hiện thực Nếu chỉ tập trung chú ý và đề cao quá mức vấn đề phản ánh hiện thực thuần túy thì sẽ dẫn đến tình trạng coi nhẹ tính năng động của chủ thể sáng tạo, triệt tiêu

cá tính, phong cách của nhà văn

Trong Phương diện chủ quan của phản ánh và đặc trưng của văn nghệ [144,

tr.35-50] Trần Đình Sử cho rằng:

Trang 27

Cái hiện thực làm đối tượng cho sáng tạo nghệ thuật chính là cái trạng thái nhân sinh mà nghệ sĩ cảm nhận và thể nghiệm Nghệ sĩ chỉ phản ánh được cái hiện thực đó bằng cách sáng tạo một thế giới đời sống bằng tưởng tượng có thể gợi lại những cảm nhận và thể nghiệm mà chính nghệ sĩ đã trải qua Cảm nhận và thể nghiệm này mang tính quan niệm

[144, tr.42]

Đến đây có thể thấy nhận thức lý luận về hiện thực trong nghệ thuật được

khẳng định thêm những phương diện mới: thế giới nghệ thuật trong tác phẩm là kết

quả của quá trình người nghệ sĩ trăn trở tư duy, khám phá và cảm nhận đời sống để sáng tạo theo quy luật của cái đẹp Hiện thực ấy có thể là cái ước lệ chứ không nhất thiết phải trùng khít với hiện thực cuộc sống hiện đang diễn ra trước mắt Hiện thực

trong nghệ thuật là hiện thực do nhà văn “tự cảm thấy”(5) bằng sự nhạy bén của mình, hiện thực không chỉ tồn tại ở tầng hữu thức mà còn chìm ẩn tiềm tàng trong cõi vô thức, tiềm thức

Thực chất cảm niệm triết học về thực tại là ý thức “nghiền ngẫm” chiêm nghiệm cuộc sống của nhà văn Cảm niệm này nằm sâu trong kinh nghiệm sống và năng lực tư duy của chủ thể khi đối diện với thực tại Để tìm câu trả lời cho những câu hỏi lớn về hiện tại và tương lai: số phận con người sẽ ra sao, xã hội sẽ về đâu, cuộc sống sẽ ra sao, người viết phải có được những nhận thức sâu sắc, gan ruột từ cảnh ngộ cuộc sống, phải có phát hiện xương máu nào đó về thực tại, phải dốc lòng tìm kiếm những giá trị sự sống của muôn đời đang tiềm ẩn ngay trong thực tại này

Từ đó thế giới tinh thần của nhà văn bừng sáng, giúp anh ta nhìn thấy được bằng trực giác một thực tại thật hơn những gì đang tồn tại Hệ quy chiếu bên trong của chủ thể nghệ sĩ về thế giới hiện hữu xung quanh anh ta được hình thành Thế giới

đó là một thực tại không hẳn chỉ là những khái niệm khách quan thuần lý tính mà còn là những quan niệm chủ quan thấm đẫm cảm tính của chủ thể Nó tồn tại dưới dạng ý niệm đã được cảm xúc hóa, là thế giới “siêu hiện thực” Điều này lý giải vì sao văn học thời kỳ đổi mới ở nước ta các biện pháp tưởng tượng, kỳ ảo được sử dụng rất phổ biến Công thức miêu tả cuộc sống giống như thật không còn là chuẩn

(1) Cắt nghĩa về nguyên tắc tái hiện mô hình đời sống trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn

Đăng Điệp viết: “Hiện thực trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là thứ hiện thực tự cảm thấy (NĐĐ nhấn

mạnh) Vì được dựng lên theo nguyên tắc trò chơi và cấu tạo thế giới theo nguyên tắc tự cảm thấy nên các chi tiết truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp có sự xen cài giữa cái thực và cái ảo, giữa cái hữu lý và cái phi lý, giữa cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên ”[40, tr.159] Nhà nghiên cứu cũng cho rằng chính nguyên tắc trên đã làm “rối lòng” không ít những cách đọc đơn giản chỉ chực tìm cách đối chiếu xem văn học có giống cuộc đời hay không và cũng chính từ đây bộc lộ sự khác biệt giữa việc coi tác phẩm như một sản phẩm nghệ thuật ngôn từ

Trang 28

mực, con người được miêu tả với tất cả mọi cung bậc: xã hội, tự nhiên, bản năng, tâm linh, vô thức Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh,

Lê Lựu là những nhà văn sớm bắt kịp nguồn mạch tư duy mới mẻ này

Nhà triết học Đức Haidegger cho rằng thơ nói về cái “vô” “Vô” không phải

là không có gì mà là vô hạn Vô hạn là trạng thái tự do vượt lên cái hữu hạn, mà trạng thái ấy chỉ có thể có trong thế giới tinh thần Còn Ch.Caudwell thì cho rằng:

“Nghệ thuật phản ánh cái thế giới bên trong, cái nỗi niềm tâm sự của con người thông qua thế giới giả định như là ảo ảnh” [197, tr.189] Như vậy mục đích cuối cùng của văn học không chỉ nhằm mô tả hiện thực, cũng không phải chỉ dừng lại ở nghiền ngẫm hiện thực mà với vốn kinh nghiệm sống và với năng lực tư duy của

mình, người nghệ sĩ có thể tự sáng tạo nên một hiện thực nghệ thuật mang đầy cá

tính Tính chất về cái khả nhiên (cái có thể xảy ra) cho phép nghệ thuật có thể tưởng tượng, hư cấu, tạo ra những thế giới chưa từng có nhằm thể hiện quan niệm nhà văn

về cuộc sống, thể hiện những ý nghĩa của hiện thực được nhà văn phát hiện “Văn học nghệ thuật thời nào cũng là nơi nhà văn gửi gắm những suy tư, khát vọng của mình về kiếp người Như vậy, vấn đề ở đây không chỉ là sự phản ánh hiện thực mà còn là sự đối thoại và mong muốn về hiện thực của người nghệ sĩ” [52, tr.21] Văn học là nghệ thuật ngôn từ, đó là một chân lý hiển nhiên, F.Saussure - cha đẻ của lý thuyết ngôn ngữ hiện đại - đã khẳng định rằng chính ngôn ngữ cấu tạo nên những khái niệm giúp con người cảm nhận về thế giới hiện thực Vì vậy, ngôn ngữ mới là nhân tố căn bản cấu tạo hiện thực chứ không phải đóng vai trò ghi nhận hiện thực Sự vật được hình thành từ sự cảm nhận chủ quan của tri thức con người Xuất phát từ cảm nhận đó, tri thức con người sẽ có những hoạt động trừu tượng và liên tưởng để tạo ra một khái niệm về sự tồn tại của sự vật Và tiếp tục lại bằng sự liên tưởng, một thế giới hiện thực (hoặc có thể là không có thế giới nào) đã được cấu trúc hóa và ký hiệu hóa bằng ngôn ngữ hiện lên tùy theo sự cảm nhận và sự hình thành khái niệm riêng biệt trong tri thức của mỗi cá nhân

Như vậy, cùng với sự tiếp cận lý luận hiện đại thế giới, với tinh thần chọn lọc tiếp thu sáng tạo, quan niệm về hiện thực trong nghệ thuật được lý luận văn học đổi

mới bổ sung thêm cấp độ nhận thức mới: văn học nghệ thuật không chỉ phản ánh

hiện thực mà còn là đối thoại và mong muốn, dự báo về hiện thực

Bên cạnh đó, tư duy lý luận hiện đại còn cho rằng, ở phản ánh nghệ thuật nội dung và hình thức đều bình đẳng Phản ánh nghệ thuật không tách biệt nội dung và

Trang 29

hình thức, sự thống nhất giữa nội dung và hình thức là điều kiện cần và đủ để tạo nên hiệu quả thẩm mỹ Theo các nhà lý luận, quan hệ giữa lớp ý nghĩa lời văn cùng với lớp bề ngoài đối với lớp khách thể được biểu hiện là phạm vi thể hiện cái nhìn

và quan niệm nghệ thuật của nhà văn với thế giới Văn học phản ánh hiện thực bằng cấu trúc nội tại của nó, chứ không phải bằng sao chép Việc cắt nghĩa các tác phẩm văn học không đơn thuần chỉ trên bình diện bề mặt mà cần phải cắt nghĩa ở bình diện tầng sâu của tác phẩm - đó chính là phương diện hình thức mang tính quan niệm Từ đây, ý thức sáng tạo của chủ thể, quan niệm nghệ thuật, cá tính, phong cách của nhà văn là điều cần được quan tâm chứ không phải chỉ chú trọng cái được phản ánh

Nhìn chung, nếu trước đổi mới lý luận thường nhấn mạnh đến sự phụ thuộc, phục tùng của văn học đối với hiện thực thì sau đổi mới đã quan tâm thích đáng hơn

tới phương diện chủ thể sáng tạo - người nghệ sĩ Sự đổi thay này sẽ kéo theo nhiều

đổi thay khác đối với các yếu tố xung quanh chủ thể sáng tạo, trong đó phương diện chủ quan của phản ánh và tiếp nhận văn học là hai yếu tố quan trọng có những ảnh hưởng không nhỏ

2.1.2.3 Thế giới nghệ thuật - kết quả của tự do tư duy, tự do tâm hồn của nhà văn

và của bạn đọc

Trong thời đại mới, người cầm bút được quyền nói thật - đó là sự tự do bên ngoài, thứ tự do tạo thêm niềm tin và là động lực tạo hứng khởi, khích lệ người viết Nhưng tự do bên trong - tự do tư duy, tự do tâm hồn - đó mới là điều căn bản làm nên thành công sáng tạo Tự “cởi trói” cho tâm hồn mình, người viết phải dám làm

kẻ thám hiểm, theo đuổi đến cùng những tư tưởng chân chính của mình, dẫu có phải trả giá để vượt qua bao cản trở Bản lĩnh và năng lực của người sáng tạo thể hiện ở chỗ có dám hết mình trăn trở, hết mình suy nghĩ về vấn đề mình tâm đắc hay không Tác phẩm văn học phải là nơi thể hiện cách nhìn của nhà văn về cuộc sống - cuộc sống trong dòng chảy của thời gian vũ trụ không ngừng nghỉ, biến hình muôn màu sắc, đan chéo nhiều nỗi niềm nhân sinh, thế sự của cõi người Hiện thực ấy phải là cuộc sống với đầy đủ cung bậc có buồn có vui, có thiện có ác, có những trăn trở, đau đớn, dằn vặt rất thường tình của con người “Chân lý càng phức tạp và vĩ đại, lầm lạc của nhà văn càng lớn, nhưng nếu nghệ sĩ thực sự chân thành thì tác phẩm của anh ta sẽ toát lên hào quang và sự hấp dẫn của cái chết tử vì đạo” [183, tr.46]

Trang 30

Như vậy quan niệm mới về hiện thực đã tôn vinh vai trò của chủ thể sáng tạo, đồng thời cũng đưa ra lời nhắc nhở với chủ thể sáng tạo: cái tâm của người viết không đơn thuần chỉ là tình cảm nhân văn hay nhân đạo đối với cuộc đời này mà

còn là chiều sâu và sự mãnh liệt của tình cảm ấy Nhà văn phải tâm huyết, xả thân

vì nghề, đau đáu, trăn trở, dám lăn lóc, thăng trầm để sáng tạo Và chỉ có thoát khỏi những cảm xúc sáo mòn, giải phóng tư duy một cách thực sự thì mới mong có những trang viết để đời, những trang viết không bị cằn cỗi, thiếu sức sống

Từ những phân tích trên đây có thể thấy khi cái nhìn về hiện thực trong văn học nghệ thuật khoa học và khách quan hơn, vai trò của người sáng tác được nâng lên một tầm cao mới thì cũng là lúc xã hội kỳ vọng cao hơn về trách nhiệm của

người nghệ sĩ: nghệ sĩ phải là người luôn chủ động và có bản lĩnh đi đến cùng để

tìm kiếm và kiến tạo nên một thế giới hiện thực luôn luôn mới mẻ và hấp dẫn

Xét về phía người đọc tác phẩm cũng không thể không vượt qua sự hạn hẹp của tư duy khi tiếp nhận tác phẩm Chính vì thế, lý luận tiếp nhận ở Việt Nam đã nhanh chóng có những chuyển biến ban đầu đáng ghi nhận

Trước đây, người ta cho rằng đọc tác phẩm tức là đọc xem nhà văn đã "phản ánh hiện thực" ra sao, người đọc bị trói buộc vào việc phải so sánh trực tiếp hình tượng tác phẩm với nguyên mẫu ngoài cuộc đời xem hiện thực trong tác phẩm có giống y hệt, có “ngang tầm” hiện thực đang hiện diện hay không Như vậy, theo cách này thì tác phẩm chỉ được tiếp nhận hoàn toàn khi nào người đọc có thế giới nội tâm trùng với thế giới nội tâm của nhà văn Nhà văn có quyền chủ yếu trong việc định hướng cách hiểu của người đọc

Từ cách nhìn mới về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, tư duy lý luận hiện nay cho rằng tiếp nhận tác phẩm là cụ thể hóa, hiện thực hóa tác phẩm trong trí tưởng tượng, là đối thoại với tác giả trên mọi lĩnh vực Trong quá trình tiếp nhận, người đọc có thể gặp gỡ tác giả, cũng có thể “cách xa” với tác giả Bạn đọc và nhà

văn phải đồng sáng tạo, giữa người sáng tác tác phẩm và người đọc tác phẩm có vai trò bình đẳng như nhau Chính thế giới hiện thực đầy sáng tạo do nhà văn tái dựng

trong tác phẩm lại là thế giới mà người tiếp nhận cũng phải tiếp tục sáng tạo Tính

mơ hồ, đa nghĩa của tác phẩm tạo tiềm năng cho người đọc đồng sáng tạo, đồng tưởng tượng, bổ sung suy đoán Tác phẩm văn học “không phải là tượng đài kỷ niệm thể hiện tính chất phi thời gian trong hình thức độc thoại của nó” (H.R.Jauss),

mà là một đề án tiếp nhận cần được bổ sung và luôn tạo ra những khả năng bổ sung

Trang 31

thông qua tính chất của một mô hình nghệ thuật hàm chứa những tiềm năng thẩm

mỹ chờ đợi hoạt động đọc sáng tạo đậm sắc thái nhân cách của mỗi độc giả Vì thế, không những nhà văn mà chính người đọc cũng phải trau dồi vốn sống và kinh nghiệm sống mới có thể đọc đúng tác phẩm Cái khả năng, cái hiện thực “tự cảm thấy” ẩn chứa bao thông điệp, bao triết lý nhân sinh về cõi người, nếu bạn đọc không đủ “tầm đón đợi” để phát hiện ra thì nó mãi mãi chìm khuất trong tác phẩm Người đọc tìm đến văn học không phải để tiếp nhận những chân lý hiển nhiên đã rõ ràng mà tìm đến ở tác phẩm sự mời gọi đối thoại, kích thích suy nghĩ tìm chân lý đời sống

Tóm lại, sự vận động để đi đến một cách nhìn toàn diện, biện chứng hơn về

Văn học và hiện thực là một sự vận động không đơn giản Từ tầm nhìn hiện đại các

nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục đưa ra những cách luận giải mới Tuy nhiên, theo dòng chảy thời gian vấn đề ngày càng được khám phá sâu sắc hơn và liên tục được bổ sung những nhận thức có giá trị học thuật và thực tiễn Điều quan trọng nhất của

quá trình vận động tư duy là từ những nhận thức mới lý luận đã khẳng định được vị

trí của nhà văn đối với việc sáng tạo nghệ thuật, vai trò của chủ thể người đọc trong việc tiếp nhận tác phẩm, từ đó có những tác động không nhỏ đến nghiên cứu,

phê bình và thực tiễn sáng tác văn học

2.2 Vấn đề phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa

2.2.1 Tiếp thu phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trước 1986

Tồn tại xuyên suốt hơn nửa thế kỷ nguyên lý này luôn được đề cao là phương

pháp sáng tác tốt nhất, phù hợp nhất của nền văn học cách mạng vô sản Chủ nghĩa

hiện thực xã hội chủ nghĩa được coi là bước phát triển cao hơn của hiện thực phê

phán, một bước phát triển về chất trong tiến trình lịch sử văn học nhân loại

2.2.2 Những nhận thức mới xung quanh khái niệm phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa sau 1986

Thật ra ở Việt Nam, ngay sau mốc lịch sử 1975, hiện thực cuộc sống nảy sinh nhiều nhân tố mới đã tạo nên một sức ép đối với lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa Khoảng thời gian mười năm (1975 - 1985) được coi là giai đoạn “trở dạ” đầy đau đớn, văn học nước ta có những chuyển động rất phong phú và phức tạp Chính khuôn mặt đa dạng, phong phú của đời sống sáng tác khiến tính chất giáo điều,

Trang 32

đóng băng của lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa dần dần bộc lộ Lý thuyết về hiện thực xã hội chủ nghĩa đã tỏ ra không bao nổi thực tế phát triển của văn học Không

ai khác chính những người cầm bút với vốn trải nghiệm dạn dày từ sống và viết là những người đầu tiên nhận thấy giới hạn này Tuy vậy, phải đến thời điểm nhu cầu đổi mới đã bùng phát trên phạm vi toàn bộ hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, cộng thêm sự ảnh hưởng mạnh mẽ của phong trào “cải tổ” văn học ở Liên Xô, các nhà nghiên cứu lý luận, các văn nghệ sĩ Việt Nam mới cảm nhận rõ ý thức hệ vô sản

đã bước vào giai đoạn khủng hoảng, lý luận về phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa còn tồn tại nhiều điều cần phải xem xét, nghiên cứu lại

2.2.2.1 Vấn đề tên gọi: Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa

Khác với các vấn đề lý luận khác, vấn đề phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa được tranh luận ngay từ cái tên Các nhà nghiên cứu như Hoàng Ngọc Hiến, Đỗ Xuân Hà, Nguyễn Bá Thành, Phương Lựu, Nguyễn Văn Dân,… đều nhận

ra điều bất ổn trong cách gọi tên: Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa

- đó là một thuật ngữ mơ hồ “một vấn đề còn rất nhiều vấn đề, mà chủ yếu là vì nội hàm của khái niệm đã được giải thích một cách rất tùy tiện theo thiện cảm của các nhà lý luận mácxit qua các thời kỳ đối với chủ nghĩa xã hội và văn học xã hội chủ nghĩa” [160, tr.468] Có lẽ bắt đầu từ việc nhận ra sự bất hợp lý ngay từ cách gọi tên nên giai đoạn đổi mới đã xuất hiện những cách dùng từ, hoặc những ý kiến đưa ra gợi

ý về việc cần đổi cách gọi thuật ngữ phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa: “Chủ

nghĩa tả chân” (Nguyễn Văn Linh); “Chủ nghĩa hiện thực khoa học”, “Chủ nghĩa hiện thực hiện đại” (Đông La); “Chủ nghĩa hậu hiện thực xã hội chủ nghĩa”, “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa mới”, “Chủ nghĩa chân thực dân bản” (Phương Lựu)… 2.2.2.2 Những giới hạn xung quanh nội hàm khái niệm

Khảo sát các giáo trình giảng dạy ở Đại học được xuất bản và tái xuất bản

vào thời gian sau 1986 (Lý luận văn học do Hà Minh Đức chủ biên, Nxb Giáo dục,

Hà Nội, 1996, tái bản lần thứ ba; Lý luận văn học do Phương Lựu chủ biên, Nxb Giáo dục,

Hà Nội, 1997, tái bản lần thứ nhất; Lý luận văn học, tập 3, Tiến trình văn học, do

Phương Lựu chủ biên, Nxb ĐH Sư Phạm, Hà Nội, 2006) chúng tôi nhận thấy các giáo trình này đều vẫn chú trọng đến mục: Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa Những nguyên tắc sáng tác của phương pháp này vẫn được các giáo trình quán triệt đầy đủ và nhất quán Tuy nhiên, đã xuất hiện thêm những ý kiến nhìn nhận về sự lạc hậu và những mặt hạn chế xung quanh vấn đề lý luận này

Trang 33

Trong giáo trình Lý luận văn học do Hà Minh Đức chủ biên, phần do Đỗ Văn Khang

biên soạn đã viết:

Sự lạc hậu về lý luận biểu hiện ở chỗ một thời gian dài người ta đã đồng nhất phương pháp sáng tác với một số nguyên tắc cứng nhắc Văn học là tối kỵ khuôn mẫu, thế mà gần năm chục năm qua, người ta đã tóm lược phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa vào nguyên lý: “Phản ánh hiện thực trong

xu thế phát triển cách mạng của nó (…) Một thời gian dài, người ta cứ nghĩ rằng nói đến chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là nói đến sự phản ánh những

“xung động thẩm mỹ thuận chiều” và bài trừ sự phản ánh những “xung động thẩm mỹ nghịch chiều” Tất cả những quan niệm đơn giản và sai lầm về lý luận

đã hạn chế khả năng của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa

[44, tr.296]

Như vậy, quan điểm này cho rằng nguyên nhân khiến chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa không thể phát huy hết khả năng là bởi người vận dụng đã lạc hậu, hạn chế, chật chội trong cách hiểu và tiếp nhận lý thuyết phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, còn bản chất đích thực của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa không có gì sai, không có gì lạc hậu

Giáo trình Lý luận văn học, tập 3, Tiến trình văn học do Phương Lựu chủ biên đã dành hẳn một mục Những mặt hạn chế (trang 271) để bàn về hạn chế của

phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa Giáo trình viết: “Hiện thực xã hội chủ nghĩa mà then chốt là cái định nghĩa trong Điều lệ Hội Nhà văn Liên xô (1934)

là phiến diện không khái quát được hết ngay đối với phẩm chất thẩm mỹ của thơ văn cách mạng Nói nó gò bó cứng nhắc là vậy” [96, tr.280]

Quan điểm khác nhau của hai giáo trình trên cho thấy tư duy về vấn đề lý luận

nhạy cảm bậc nhất này ở nước ta đã có sự tiến triển rõ rệt Nếu ban đầu Đỗ Văn Khang cho rằng hạn chế của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa nằm ở cái bên ngoài,

ở nguyên nhân khách quan thì đến Phương Lựu đã mạnh dạn chỉ rõ nguyên nhân hạn chế của phương pháp này nằm ngay trong chính bản thân khái niệm

Đến cuối những năm 90 khi giới thiệu công trình nghiên cứu Nhìn lại nửa

thế kỷ lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (1936 - 1986), (Nxb Giáo dục,

Hà Nội, 1999) tác giả Phương Lựu một lần nữa lại khẳng định: “Trong định nghĩa gốc ở Điều lệ Hội Nhà văn Liên xô (1934), có khẳng định chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa vừa là phương pháp sáng tác, vừa là phương pháp phê bình, rõ ràng là không đúng” [95, tr.368]

Trang 34

Trong 150 thuật ngữ văn học, (Nxb ĐH Quốc gia, Hà Nội, 2004), Lại Nguyên Ân

viết:

Lần đầu tiên một số nguyên tắc về khuynh hướng nghệ thuật được đề lên như những chuẩn mực mang tính pháp quy, được coi là độc tôn trong toàn bộ đời sống của các nền văn học dân tộc ( ) Với chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, các nền văn học dân tộc trở nên chính trị hóa rõ rệt, nội dung văn học được ưu tiên cho việc diễn đạt đường lối chính trị của Đảng Cộng sản cầm quyền

[3, tr.92, 93]

Những ý kiến trên cho thấy tư duy lý luận đổi mới đã nhận ra hạn chế cơ bản

nhất của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa: đó là một thứ chủ nghĩa vốn đã tiềm ẩn trong bản thân nó sự đơn giản hóa, gò ép đối với sự phát triển bình thường của một nền văn học nghệ thuật Nó khiến văn học trở thành “công cụ” phục vụ cho

chính trị một cách dung tục

Việc nghiên cứu vấn đề phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa còn được đặt trong nghiên cứu tổng thể về hội nhập và giao lưu của văn học Việt Nam với

thế giới Trong công trình Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn học (Nxb Đại học

Quốc gia, Hà Nội, 2006), tác giả Nguyễn Bá Thành đã dành mục II.2 của chương II

với nhan đề Hội nhập và giao lưu với thế giới theo quan điểm macxit và tinh thần

xã hội chủ nghĩa (Giai đoạn 1945 - 1985) để bàn về Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa - một cuộc hội nhập theo ý thức hệ Khẳng định quá trình du

nhập khái niệm phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa vào Việt Nam là “một cuộc hội nhập theo ý thức hệ” [160, tr.445] có nghĩa là nhà nghiên cứu đã không đồng tình với quan niệm tồn tại dai dẳng trong nghiên cứu lý luận phê bình trước đây coi chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là kết quả của quá trình phát triển cao của chủ nghĩa hiện thực phê phán Nguyễn Bá Thành đã khơi sâu vấn đề mà vào thời điểm đầu những năm 80 của thế kỷ XX, một số nhà nghiên cứu (Nguyễn Xuân Nam, Đỗ Xuân Hà) đã bước đầu nhận thấy: quan niệm cho rằng chủ nghĩa hiện thực phê phán

là tiền đề trực tiếp của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là không toàn diện Và vào cuối những năm 80, Trương Đăng Dung cũng đã phủ định: “Tôi không đồng ý với

ý kiến cho rằng chủ nghĩa hiện thực tư sản thế kỷ XIX suy vong để nhường chỗ cho chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa Sự tiếp nối hay dứt bỏ các giá trị tinh thần không diễn ra đơn giản như vậy…” [196, tr 21]

Tiếp đó, Nguyễn Văn Dân trong bài viết với nhan đề Nhìn lại chủ nghĩa hiện

thực xã hội chủ nghĩa (2009) [24] cho rằng sở dĩ có quan niệm này là vì người ta đã

Trang 35

bị ám ảnh bởi hai chữ “hiện thực” trong hai thuật ngữ, theo ông muốn xác định được bản chất của một chủ nghĩa trong văn học nghệ thuật ta phải căn cứ vào cương lĩnh và mục tiêu của nó, vào các nguyên tắc hành động và tiêu chuẩn thẩm mỹ của

nó Trong trường hợp của chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, chúng có những điểm khác nhau rất cơ bản Cái khác nhau đầu tiên là trong khi chủ nghĩa hiện thực phê phán coi trọng nguyên tắc phê phán thì chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa coi trọng nguyên tắc khẳng định và xây dựng Với một phép

so sánh cụ thể một số đặc điểm giữa chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa cổ điển Pháp, ông kết luận: “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa giống với chủ nghĩa cổ điển Pháp thế kỷ XVIII hơn” [24]

Sở dĩ ông so sánh để đi đến kết luận như vậy bởi vì chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở giai đoạn phát triển cao (khi giai cấp vô sản đã nắm được chính quyền) và chủ nghĩa cổ điển Pháp đều chịu sự chi phối của tính quan phương Từ đó

có thể thấy chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa hiện thực phê phán

“có tên gọi gần giống nhau nhưng thực chất chúng chỉ là hai người hàng xóm gần nhà xa ngõ” [24] Chủ nghĩa hiện thực phê phán và chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa thuộc chủ nghĩa hiện thực, chúng đã xuất hiện trong sự vận động của tiến trình văn học và đều có những vai trò nhất định trong sự phát triển của văn học Trong khi đó “người gần gũi nhất với chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa lại chính

là chủ nghĩa cổ điển thế kỷ XVII, thông qua khía cạnh chính trị hóa văn học ở cấp nhà nước của cả hai” [24] Tác giả tiếp tục đặt vấn đề: Chính trị hóa văn học ở cấp nhà nước sẽ có tác động gì đối với văn học? Ông đã chỉ ra hai mặt đối lập như sau:

“Ưu điểm của việc chính trị hóa văn học ở cấp nhà nước là nó có khả năng phát huy tác dụng xã hội của văn học ở mức tối đa và có hiệu quả thiết thực trong những giai đoạn lịch sử nhất định của một dân tộc Tuy nhiên nó lại có nhược điểm là nếu bị đẩy lên thành nguyên tắc tuyệt đối thì nó sẽ dẫn đến bệnh công thức, sơ lược, và làm cho văn học nghèo đi” [24]

Ý kiến trên cho thấy khi đặt lại vấn đề chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa

các nhà nghiên cứu lý luận đổi mới không phủ nhận việc chính trị hóa văn học khi

nó mang tính “hợp lý lịch sử”, nhưng cũng đúc kết bài học: nếu việc chính trị hóa văn học trở thành công thức, nguyên tắc giáo điều thì sẽ là một vật cản lớn đối với con đường phát triển của văn học nghệ thuật

Như vậy, đồng quan điểm với Trương Đăng Dung và Nguyễn Bá Thành, Nguyễn Văn Dân cũng khẳng định chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa không phải

Trang 36

là kết quả của quá trình phát triển cao của chủ nghĩa hiện thực phê phán như trước nay nhiều người thường quan niệm Việc các nhà nghiên cứu xem xét và lý giải lại tường tận hơn lịch sử du nhập chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa vào Việt Nam

là cơ sở để nhận thức thấu đáo hơn những hạn chế của khái niệm này

Năm 2008, trong nghiên cứu Chung quanh vấn đề phương pháp sáng tác

hiện nay, tiếp tục mổ xẻ tế bào gốc là định nghĩa về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ

nghĩa, Phương Lựu đã khái quát những “sai lầm” của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa thành năm điểm liên đới không thể tách rời nhau nhưng theo trình tự từ vĩ mô đến vi mô như sau: 1/Nhập nhằng giữa nghệ thuật và tuyên truyền giáo dục; 2/Cào bằng giữa văn học với các bộ môn nghệ thuật khác; 3/Cào bằng giữa sáng tác và nghiên cứu phê bình; 4/Cào bằng giữa các thể loại văn học; 5/ Phương thức, biện pháp nghệ thuật độc tôn, nhất loạt hóa [97, tr.101, 102, 103] Thiết nghĩ từ “nhập nhằng” và “cào bằng” mà tác giả Phương Lựu sử dụng ở

bài viết có dụng ý phê phán sự mập mờ, tối nghĩa trong các luận điểm của định

nghĩa về khái niệm chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa Chính vì không phân định rành mạch đâu là nghệ thuật, đâu là tuyên truyền nên dẫn đến ở Việt Nam nhận

thức coi văn học nghệ thuật là công cụ, là vũ khí tuyên truyền cho các chủ trương,

chính sách của Đảng và Nhà nước một cách trực diện, mang tính thời vụ và thô thiển Sự đánh đồng, thiếu rạch ròi giữa hai loại phương pháp sáng tác và nghiên cứu dẫn đến ngộ nhận chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa không những là phương pháp sáng tác tốt nhất mà còn là “một phương pháp phê bình tốt nhất”

Như vậy, một định nghĩa vốn mang tính chất “kinh điển” với những nguyên tắc tư tưởng - thẩm mỹ từng được coi là “khuôn vàng, thước ngọc” đến đây thực sự

đã “mất thiêng” bởi nó bộc lộ rõ những sai lầm không hề nhỏ, chính hạn chế của nó

đã trở thành lực cản trên con đường phát triển của văn học nghệ thuật

Cũng trong bài viết này, Phương Lựu nhấn mạnh: “Thật ra, trừ một vài phong cách cá biệt, còn nói chung, phê bình phải là khoa học Vậy thì làm gì có một phương pháp chung cho cả khoa học và nghệ thuật” [97, tr.102] Hệ thống những ý kiến tiếp nối nhau của Phương Lựu chung quanh định nghĩa về phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa trong suốt quá trình đổi mới, chúng tôi thấy sự vận động tư duy về vấn đề này của nhà nghiên cứu luôn nhất quán và ngày càng đào sâu, xới lật vấn đề trên tinh thần bám sát đời sống thực tiễn sáng tác Nhận thức mới của ông cho thấy cái định nghĩa vốn có về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa quả

Trang 37

là có nhiều điểm không thể dung nạp, câu chữ không rõ ràng, dễ gây hiểu lầm, không mang tính chuẩn xác của một thuật ngữ khoa học

Nếu Phương Lựu chỉ ra một cách rạch ròi những “sai lầm” của nội hàm khái

niệm phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa thì Phong Lê trong bài Vấn

đề hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam sau nửa thế kỷ - nhìn lại [76,

tr.95-100] đã phê phán những thiển cận, đơn giản, máy móc trong nhận thức và vận

dụng lý thuyết để rồi tạo nên một khoảng trống lớn trong nền văn học mới sau 1945

cho đến thập niên cuối thế kỷ XX

Suốt mấy chục năm trước đổi mới, trong thực tiễn sáng tác văn học, các văn nghệ sĩ Việt Nam đã tuân thủ yêu cầu: “Nắm vững phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa” [102, tr.49] để sáng tác và phê bình Chính vì phải “nắm vững” (tức là người cầm bút phải quán triệt các nguyên tắc miêu tả cái mới của đời sống là chủ yếu, con người mới phải là nhân vật trung tâm để khẳng định và ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc qua hai cuộc kháng chiến, chủ đề tư tưởng phải sáng rõ, việc phản ánh các biến cố của cộng đồng được chú trọng, các biến cố đời tư

bị xem như vặt vãnh, tầm thường), cho nên sự thật về những mất mát, đau thương, những khát vọng riêng tư, những nỗi lo âu, trăn trở về thế thái nhân tình, dường như

mờ nhạt, nếu không nói là vắng bóng trong những trang viết của các thế hệ nhà văn giai đoạn này Thực ra, trong xu thế phát triển của hiện thực, cuộc sống không thể lúc nào cũng theo một chiều đi lên và các kết thúc đều tốt đẹp, sáng sủa Những bất hạnh,

đổ vỡ, bi kịch,… có thể xảy ra và xảy ra bất cứ lúc nào Thế nhưng một thời gian quá dài chúng ta đã quá say sưa chủ quan trước một thực tế, mặc dù có thành tựu, nhưng cũng không ít sai lầm, thất bại, nhiều cái tốt nhưng không ít cái xấu đã nảy sinh

Phong Lê đã chỉ rõ căn bệnh ấu trĩ trong lối tư duy về phương pháp sáng tác:

Do quan niệm chật chội, cứng nhắc về nó ta đã biến nó thành một giáo điều, ta muốn văn học là hiện thực hơn thì nó càng xa hiện thực; và

vi phạm ngay cả quy luật của bản thân nghệ thuật, ta muốn nó là chân thật, là thuyết phục và hấp dẫn thì nó lại trở nên sơ lược và giả tạo

[76, tr.99]

Tính Đảng (thường được coi là linh hồn của các nguyên tắc sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa) bị hiểu theo sự quy hẹp, máy móc nên sự phê phán của xã hội đối với một số tác phẩm đề cập đến mặt trái, các mặt bi kịch và bế tắc của cuộc sống nhiều khi khá nặng nề, thậm chí quy chụp, bất công, oan uổng Lối phê bình

Trang 38

văn học nghệ thuật lấy tiêu chí chính trị làm chuẩn đã làm lu mờ giá trị nghệ thuật chân chính của tác phẩm, nhà văn tâm huyết, tài năng bỗng nhiên trở thành kẻ có tội với cộng đồng Nhấn mạnh nguyên tắc “sự phát triển cách mạng của hiện thực”, mặc dù Đảng luôn luôn quán triệt, nhắc nhở tinh thần phải tôn trọng quyền suy nghĩ

tự chủ và sáng tạo của nhà văn, phải “chân thật” trong miêu tả hiện thực,… nhưng trong thực tế sự chỉ đạo của các cấp cùng với hoạt động của giới phê bình đã khiến văn học bị kiểm soát khá nặng nề:

Phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa như thế không chỉ là một phương pháp thuần túy văn nghệ, mà về một phương diện nào đó, nó là một nguyên tắc tư duy có tính bắt buộc, một yêu cầu tư tưởng của Đảng Cộng sản đối với văn nghệ sĩ, một hệ thống các tiêu chí để theo dõi, kiểm soát tư tưởng đối với tác phẩm của các nhà văn

[160, tr.462]

Nó đã trở thành một cái “vòng kim cô” gò bó, kìm hãm sức sáng tạo của người cầm bút Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản nhất khiến nền văn học nước nhà trở nên nghèo nàn và đơn điệu

Đổi mới tư duy, nhận thức đầy đủ hơn về những giới hạn trong nội hàm định

nghĩa khái niệm phương pháp sáng tác xã hội chủ nghĩa, các nhà nghiên cứu lý luận

đi đến đề xuất mới, Hà Xuân Trường cho rằng:

Tính Đảng là định hướng chính trị, định hướng tư tưởng của một trào lưu, của một nền văn học Không nên mở rộng quá nội dung của phạm trù này đến mức coi nó như tất cả, quyết định tất cả, làm cho sáng tạo trở nên xơ cứng… Những khái niệm như “tính Đảng”, những cụm từ “văn nghệ phục vụ chính trị”

“văn nghệ phục vụ công nông binh” bản thân nó không có gì sai”, nhưng tất cả đều mang tính lịch sử cụ thể, áp dụng tràn lan, coi nó như là những nguyên tắc bất biến, những giáo lý đặt vào đâu cũng đúng là sai lầm (…) không nhất thiết nêu tính Đảng như một đặc điểm của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa

Trang 39

nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và những cản trở của nó đối với sự phát triển của

văn học, đến nay lý luận đổi mới cũng như thực tiễn đời sống văn học đã chứng tỏ

phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa không phải là phương pháp sáng tác tốt nhất như trước đây người ta vẫn thường quan niệm và nó lại càng không phải là phương pháp sáng tác duy nhất Một phương pháp sáng tác không mang

tính khu biệt và không được xác định rõ ràng về nội hàm thì không thể tốt nhất

“Bản thân chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đã tự phủ định, tự phá vỡ, hoặc tràn đầy ra ngoài nó, nếu không phải là tự đối lập với nó, bằng chứng là càng ngày, định nghĩa về nó càng mơ hồ” [34, tr.61] Nó đã, đang và tiếp tục mờ nhạt dần trong sáng tác của các thế hệ nhà văn sau từ 1975 trở đi, điều này chứng tỏ nó đã không còn ở ngôi vị là phương pháp độc tôn như trước Trên thực tế, mấy chục năm qua, vấn đề phương pháp sáng tác này hầu như đã ra khỏi lĩnh vực nghiên cứu và phê bình văn học Ngày nay thay vì bàn về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa người ta bàn nhiều đến các xu hướng sáng tác mới như hiện đại, hậu hiện đại - những xu hướng

đã, đang và sẽ được khẳng định trong đời sống văn học Việt Nam đương đại

Trong tiến trình vận động tư duy xung quanh vấn đề phương pháp sáng tác

hiện thực xã hội chủ nghĩa lý luận đổi mới đã không phủ định khái niệm phương

pháp sáng tác và phương pháp sáng hiện thực xã hội chủ nghĩa Mặc dù cho đến nay, việc xác định hệ thống tiêu chí và những yếu tố làm nên tổ chức bên trong của phương pháp sáng tác chưa hẳn đã nhất quán, với tư cách là một phạm trù mỹ học tính xác định về lý thuyết của khái niệm phương pháp còn chưa hoàn toàn định hình, nhưng trong thực tế có một số kiểu dạng phương pháp chung đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử văn học nhân loại: chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa hiện thực phê phán và phương pháp sáng tác hiện thực

xã hội chủ nghĩa thuộc chủ nghĩa hiện thực Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trên thực tế đã xuất hiện, đã tồn tại và cũng đã ghi dấu ấn sâu đậm trong tiến trình văn học thế giới cũng như ở Việt Nam Nhưng nó đã đặt dấu chấm hết khi thế giới

bước vào thiên niên kỷ mới bởi tính hợp lý lịch sử của nó đã trở nên lạc hậu với

thời đại hội nhập toàn cầu, một “thế giới phẳng” đang mở ra những quan hệ bình

đẳng, nhân văn và dân chủ thực sự

Trang 40

Nhà nghiên cứu Phương Lựu cho rằng không thể coi sự an bài của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là bước lùi “mà trái lại đã tiềm ẩn khả năng của một bước tiến” [97, tr.96] Bởi vì, sự tiến triển không chỉ là thêm được những điều mới

mẻ, đúng đắn, mà còn theo nghĩa lựa chọn loại bỏ những sai sót cũ, những gì tuy đúng đắn, phù hợp với điều kiện cũ nhưng trở nên lỗi thời, không phát huy được

vai trò trong môi trường xã hội mới Quan điểm này cho thấy tư duy lý luận đổi

mới đã coi vấn đề hiện thực xã hội chủ nghĩa vừa là thành tựu vừa là một hiện tượng để lật ngược vấn đề, khám phá ra những giá trị mới, chân lý mới Nguyên

tắc quá tôn thờ cái ổn định đến đây thực sự nhường chỗ cho tinh thần phản biện mạnh mẽ, rốt ráo hơn để xây dựng một cái nhìn khác cho phù hợp với điều kiện khách quan của lịch sử

Nhân loại đã trải qua nhiều hình thái ý thức xã hội, mỗi hình thái ý thức xã hội thay thế hình thái xã hội trước nó đều mang những tiến bộ mới nhưng đó là sự tiến bộ có tính kế thừa, đó là quy luật Từ đây, có thể thấy trong chiều sâu của sự vận động phát triển văn hóa nói chung và văn học (trong đó có lý luận văn học) nói riêng luôn ẩn chứa sự kế thừa mang tính biện chứng Khái niệm phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa cũng bình đẳng như bao khái niệm khác, ở trong nó bao hàm

cả mặt khả thủ và những mặt không khả thủ đối với đời sống văn học Chính vì lẽ

đó, khi đã thực hiện xong nhiệm vụ lịch sử, theo quy luật, tự nó dần dần nhường lại

“vũ đài” cho những khái niệm khác phù hợp hơn để đáp ứng nhu cầu ngày một khác trước của xã hội hiện đại, phát triển Cuối cùng, các nhà nghiên cứu lý luận Việt Nam đi đến thống nhất quan điểm:

Ngày nay, phải thấy rằng văn học của ta đang phát triển theo hướng thoát khỏi những nguyên tắc giáo điều về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa Người nghệ sĩ được mở rộng quyền tự do sáng tác, được tiếp thu mọi tinh hoa của văn học thế giới Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa không còn trở thành một sự bó buộc đối với nhà văn Song nó cũng không hoàn toàn lỗi thời Nó trở thành một trong những sự lựa chọn bình đẳng trong nhiều sự lựa chọn của nhà văn

[24]

Ngày đăng: 13/10/2017, 14:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w