1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG CẢNH BÁO SỚM TẠI VIỆT NAM

65 545 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Nhằm Thúc Đẩy Việc Xây Dựng Hệ Thống Cảnh Báo Sớm Tại Việt Nam
Tác giả Lê Thị Mỹ Hạnh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 534 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại NCEIF, cảnh báo sớm cũng rất được chú trọng nghiên cứu và phát triển, trong đó những nền tảng cơ bản đang được xây dựng như: Hệ thống thông tin dùng cho cảnh báo sớm kinh tế, hình thành đội ngũ nhân lực cảnh báo sớm kinh tế (Nhóm cảnh báo sớm kinh tế-xã hội), phát triển các công cụ cảnh báo sớm... và đã đạt được một số thành công bước đầu

Trang 1

MỤC LỤC Trang

MỤC LỤC 1

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4

LỜI NÓI ĐẦU 6

CHƯƠNG I 10

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẢNH BÁO SỚM KINH TẾ 10

I Khủng hoảng kinh tế 10

1 Khái niệm 10

2 Hậu quả của các cuộc khủng hoảng kinh tế 11

II Cảnh báo sớm kinh tế 12

1 Khái niệm Cảnh báo sớm kinh tế 13

2 Vai trò và nội dung của công tác cảnh báo sớm kinh tế 13

2.1 Vai trò 13

2.2 Nội dung cảnh báo 14

3 Phân biệt cảnh báo sớm kinh tế và dự báo kinh tế 15

4 Một số phương pháp Cảnh báo sớm kinh tế 17

4.1 Nhóm Mô hình phi tham số (Mô hình theo cách tiếp cận dấu hiệu) 17

4.2 Nhóm Mô hình tham số 18

4.3 Sử dụng Chỉ số chu kỳ kinh tế trong cảnh báo sớm kinh tế 19

4.4 Phương pháp chuyên gia (cảnh báo sớm định tính) 21

5 Các điều kiện để xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm kinh tế 23

Trang 2

CHƯƠNG II - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CẢNH BÁO SỚM KINH TẾ TẠI VIỆT

NAM 26

I Sự cần thiết phải tiến hành công tác cảnh báo sớm kinh tế ở Việt Nam 26

1 Sự cần thiết của cảnh báo sớm đối với công tác hoạch định chính sách 26

2 Sự cần thiết của công tác cảnh báo sớm đối với doanh nghiệp 29

3 Sự cần thiết của công tác cảnh báo sớm đối với một số đối tượng khác ( nhà đầu tư trong và ngoài nước, nhà tài trợ, cộng đồng…) 31

II Hệ thống cảnh báo sớm kinh tế ở Việt Nam 31

1 Tổng quan về công tác cảnh báo sớm tại Việt Nam 31

2.Công tác cảnh báo sớm tại NCEIF 39

3 Những mặt được và chưa được trong công tác cảnh báo sớm kinh tế hiện nay 46

3.1 Mặt được 46

3.2.Tồn tại 46

CHƯƠNG III - MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG CẢNH BÁO SỚM TẠI VIỆT NAM 49

I Quan điểm định hướng của Chính phủ về xây dựng hệ thống cảnh báo sớm 49

II Giải pháp về phía Chính phủ 50

1 Hoạt động cảnh báo sớm được tiến hành với sự tham gia của nhiều cơ quan, ban ngành 50

2 Hình thành một cơ quan đầu mối về công tác cảnh báo sớm 50

3 Hình thành nguồn thông tin có chất lượng 52

4 Đào tạo nguồn nhân lực 53

5 Lựa chọn phương pháp và mô hình cảnh báo thích hợp 54

Trang 3

III Một số giải pháp thúc đẩy công tác cảnh báo sớm kinh tế tại Trung tâm Thông tin và

Dự báo kinh tế-xã hội Quốc gia (NCEIF) 56

1 Đưa NCEIF ( Bộ Kế hoạch và Đầu tư) lên làm cơ quan đầu mối về cảnh báo sớm kinh tế 56 2 Hoàn thiện và bổ sung hệ thống cơ sở dữ liệu hiện có tại Trung tâm 57

3 Tăng cường hợp tác với các đơn vị trong và ngoài nước 57

4 Đào tạo nhân lực 58

5 Phát triển các mô hình và công cụ cảnh báo sớm 59

5.1 Tự xây dựng 60

5.2 Phối hợp với các tổ chức quốc tế (Hàn Quốc, Mỹ, châu Âu ), các cơ quan khác trong nước trong việc phát triển những mô hình, phần mềm cảnh báo sớm tại Trung tâm 61

KẾT LUẬN 62

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng phát triển châu Á

AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

APEC Diễn đàn kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

BOK Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc

CCBCC Trung tâm điều phối và Hợp tác Kinh doanh Trung Quốc

CDIC Tổng công ty bảo hiểm trung ương Đài loan (Trung Quốc)

CIEM Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế trung ương

CPI Chỉ số giá tiêu dùng

EWS Hệ thống cảnh báo sớm kinh tế

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FSS Cơ quan Dịch vụ Giám sát tài chính Hàn Quốc

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

GSO Tổng cục thống kê

IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

KCIF Trung tâm tài chính quốc tế Hàn Quốc

KDB Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc

KDI Viện phát triển Hàn Quốc

KIPF Viện Tài chính công Hàn Quốc

KOICA Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc

MOFE Bộ Tài chính và Kinh tế Hàn Quốc

MPI Bộ Kế hoạch và Đầu tư

NCEIF Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội Quốc gia

NHNN Ngân hàng Nhà nước

NHTW Ngân hàng trung ương

SIC Trung tâm Thông tin Quốc gia Trung Quốc

WB Ngân hàng thế giới

Trang 5

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi mạnh mẽ từ nền kinh tế kế hoạch hóatập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là quá trình nớilỏng và từng bước tự do hoá cơ chế quản lý kinh tế, từ chỗ nhà nước quản lý bằng cácbiện pháp hành chính sang quản lý điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, bằng cơ chếchính sách và bằng các công cụ kinh tế Nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thànhtựu: Tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm liên tục, đời sống nhân dân được cải thiện,

vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế… Tuy nhiên, đi đôivới những mặt tích cực, kinh tế thị trường cũng bộc lộ không ít những mặt tiêu cực (lạmphát tăng cao, mất cân đối vĩ mô, nhập siêu lớn,khoảng cách giàu nghèo nới rộng…) vànếu không được quản lý tốt, những hạn chế này sẽ cản trở đà phát triển của kinh tế nướcta

Việt Nam cũng đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Việchấp thu và sử dụng những nguồn ngoại lực đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển củakinh tế Việt Nam thời gian qua (thể hiện qua tốc độ tăng trưởng kinh tế, tốc độ gia tăngcủa kim ngạch xuất, nhập khẩu; lượng vốn FDI vào Việt Nam…) Tuy nhiên, hội nhậpkinh tế quốc tế thông qua những mối liên hệ về thương mại, đầu tư, vốn… cũng tạo rakhông ít thách thức: Tăng nguy cơ phụ thuộc vào thị trường bên ngoài, vào nguồn vốnbên ngoài; Chịu ảnh hưởng của những biến động kinh tế thế giới Hội nhập kinh tế quốc

tế cũng làm tăng nguy cơ xảy ra khủng hoảng do Việt Nam là nền kinh tế nhỏ, dễ chịuảnh hưởng dây chuyền từ khủng hoảng kinh tế thế giới và khu vực

Để phát hiện, ngăn ngừa và chủ động đối phó, hạn chế tối đa những bất lợi, thiệthại cho nền kinh tế khi có suy thoái hay khủng hoảng kinh tế xảy ra thì việc tạo lập vàduy trì một hệ thống kiểm soát và cảnh báo từ xa (cảnh báo sớm) đối với những nguy cơ

Trang 7

gây mất ổn định, những rủi ro tiềm ẩn trong nền kinh tế… có vai trò rất quan trọng.Nhiều nước trên thế giới, gồm cả những nước phát triển và đang phát triển, đã dành nhiềunguồn lực cho công tác này và coi đây là chìa khóa đảm bảo sự ổn định trong phát triểnkinh tế Việc xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm cho Việt Nam xét trong bối cảnhchung là rất cần thiết, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.

Tại Việt Nam, công tác cảnh báo sớm vẫn là vấn đề khá mới mẻ và chưa đượcnghiên cứu nhiều Việc nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về cảnh báo sớm kinh tế, cácphương pháp và mô hình cảnh báo sớm, cũng như những bước tiến hành để xây dựng một

hệ thống cảnh báo sớm kinh tế cũng mới chỉ được thực hiện ở một số ít nơi, chưa toàn diện

và ít được công bố Theo đó, rất cần phải có những nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này,đồng thời, việc học hỏi kinh nghiệm của nhiều nước đi trước trong việc thực hiện công táccảnh báo sớm kinh tế là rất cần thiết

Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Lí luận và thực trạng công tác cảnh báo sớm kinh tế tại Việt Nam”

2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Trong nước: Đã có một vài nghiên cứu về công tác cảnh báo sớm, cụ thể là đi sâu

vào tìm hiểu một số công cụ và phương pháp cảnh báo sớm kinh tế Có thể kể ra một số

nghiên cứu tiêu biểu gồm: Đề tài Ứng dụng mô hình phi tham số vĩ mô cho Việt Nam

(NCEIF); Dự án khu vực của EADN về các chỉ số và phân tích tính dễ tổn thương của

cán cân thanh toán trong nền kinh tế (CIEM); Đề tài Phân tích chu kỳ tăng trưởng và dự báo ngắn hạn sử dụng chỉ số chu kỳ - Kinh nghiệm quốc tế và khả năng áp dụng cho Việt Nam (CIEM); Nghiên cứu Xây dựng mô hình dự báo khủng hoảng tài chính (phương

pháp tham số); và một số các bài phân tích, bài báo khác

Tuy nhiên, đây mới chỉ là những nghiên cứu cơ bản ban đầu, chưa toàn diện Hiệnnay vẫn còn thiếu những nghiên cứu hệ thống, sát thực về công tác này, đặc biệt là nhữngnghiên cứu có tính ứng dụng, cảnh báo sớm cho nền kinh tế Việt Nam

Ngoài nước: Nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, đặc biệt là nhiều nền kinh

Trang 8

tế đang phát triển và đang chuyển đổi, đã có những nghiên cứu và thực hiện tốt công táccảnh báo sớm kinh tế (xét cả về bộ máy cảnh báo sớm, hệ thống cảnh báo sớm, mô hìnhcảnh báo sớm và phương pháp cảnh báo sớm…).

Một số nghiên cứu tiêu biểu về cảnh báo sớm kinh tế trên bình diện quốc tế gồm:Các nghiên cứu của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), các nghiên cứu của Ngân hàng phát triểnchâu Á (ADB), nghiên cứu Chỉ số chu kỳ tại Mỹ, Trung Quốc, nghiên cứu áp dụngphương pháp tham số và phi tham số tại một số quốc gia đang phát triển (Inđônêxia,Philipin, Thái Lan…) Các nghiên cứu nói chung đã đạt được một số thành tựu đáng ghinhận trong việc làm rõ những vấn đề lý luận, đồng thời áp dụng vào trong thực tế cảnhbáo sớm Đây là những kinh nghiệm rất quý báu mà Việt Nam, một nước đi sau có thểhọc tập

3 Câu hỏi nghiên cứu

“ Qua tìm hiểu sơ bộ, tôi được biết công tác cảnh báo sớm kinh tế (ở đây hiểu theonghĩa hẹp là cảnh báo sớm khủng hoảng kinh tế) là một lĩnh vực rất mới mẻ đối với ViệtNam Thông qua đề tài này tôi muốn tìm hiểu thế nào là cảnh báo sớm, các vấn đề lí luậnliên quan đến cảnh báo sớm và thực trạng công tác cảnh báo sớm tại Việt Nam Trên cơ

sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm tạiViệt Nam”

4 Phương pháp nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: công tác cảnh báo sớm kinh tế (ở đây hiểu theo nghĩa hẹp

là cảnh báo sớm khủng hoảng kinh tế)

Trang 9

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 phần:

Phần I - Lý luận chung về cảnh báo sớm kinh tế

Phần II - Thực trạng công tác cảnh báo sớm kinh tế tại Việt Nam

Phần III - Một số giải pháp nhằm thúc đẩy việc xây dựng hệ thống cảnh báo

sớm tại Việt Nam

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Th.s Vũ Cương và các anh chị tạiBan Tổng hợp- Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội Quốc gia- Bộ Kế Hoạch

Và Đầu Tư đã giúp tôi hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp Do khối lượng kiếnthức có hạn nên bài viết còn nhiều khiếm khuyết, tôi mong được sự quan tâm và góp ýcủa thầy cô và các bạn

Trang 10

(1) Khủng hoảng kinh tế là sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng hơn suy thoái trong chu kỳ kinh tế 1

Trong đó, suy thoái kinh tế (economic recession) được định nghĩa là sự suy giảmcủa Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thực trong một thời gian nhất định Tuy nhiên, ngàynay cũng có nhiều quan điểm khác nhau về suy thoái kinh tế, và thực tế, nó không chỉ là

sự sụt giảm tăng trưởng trong một thời gian nhất định, mà nó còn là suy giảm hiệu quả,hay khả năng hoạt động của nền kinh tế

(2) Khủng hoảng kinh tế là tình trạng nền kinh tế trải qua sự sụt giảm đột ngột gây nên bởi khủng hoảng tài chính

Đặc trưng của khủng hoảng là sự sụt giảm GDP, giảm nhanh tính thanh khoản vàthường đi kèm với việc giá cả tăng/giảm (tùy thuộc vào tình trạng lạm phát/giảm phát)

Trang 11

Khủng hoảng kinh tế có thể có hai dạng là suy thoái (recession) hoặc khủng hoảng kinh

tế (depression).2

- Suy thoái kinh tế là thời kỳ giảm sút về kinh tế nói chung và thường được tính là

sự giảm sút GDP 6 tháng liên tiếp (hay 2 quý liên tiếp) Đặc trưng của suy thoái kinh tế làmức thất nghiệp cao, giá bán lẻ giảm, mức lương đình trệ Suy thoái kinh tế ít khi kéo dàihơn 1 năm và có những tác động nhẹ hơn so với khủng hoảng kinh tế

- Khủng hoảng kinh tế là điểm thấp nhất trong chu kỳ kinh tế với đặc trưng của

giai đoạn này là (1) sức mua sụt giảm, (2) thất nghiệp cao, (3) cung vượt quá cầu, (4) giá

cả giảm mạnh, (5) mức lương giảm, hoặc lương tăng chậm hơn so với bình thường, và (6)thiếu niềm tin vào tương lai Khủng hoảng kinh tế gây ra sự sụt giảm mạnh các hoạt độngkinh tế và có thể kéo dài nhiều năm

(3) Khủng hoảng kinh tế là trạng thái nền kinh tế trong dài hạn có mức thất nghiệp cao, mức giá thấp và mức độ trao đổi thương mại và đầu tư thấp. 3

Qua các định nghĩa kể trên, có thể thấy, khái niệm khủng hoảng kinh tế không chỉđơn giản là sự sụt giảm mạnh mẽ chỉ tiêu GDP, mà là kết quả tích hợp của nhiều yếu tốgây bất ổn đối với nền kinh tế Nói chung nhất, có thể định nghĩa khủng hoảng như sau:

Khủng hoảng kinh tế là sự rối loạn, mất cân bằng, mất ổn định của hệ thống kinh

tế quốc gia, làm cho hệ thống kinh tế mất khả năng phát triển vững chắc trong một thời gian nhất định Sự mất ổn định, mất khả năng phát triển vững chắc có thể xảy ra trên thị trường tài chính, tiền tệ và cả trên thị trường sản xuất hàng hoá và dịch vụ.

2 Hậu quả của các cuộc khủng hoảng kinh tế

Lịch sử kinh tế thế giới đã chứng kiến rất nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế cũngnhư khủng hoảng tài chính - tiền tệ Chỉ trong giai đoạn 15 năm 1980-1995 đã có 65 cuộckhủng hoảng ngân hàng xảy ra tại các nước đang phát triển với tổng chi phí để cứu trợ

2 Định nghĩa theo www.businessdictionary.com

Trang 12

cho hệ thống ngân hàng các nước này lên tới 250 tỷ USD và chi phí khắc phục hậu quảchiếm tới 10% GDP

Hậu quả khủng hoảng để lại bao gồm:

* Sự suy giảm về kinh tế:

1 Tỷ giá hối đoái tăng mạnh, ngoài tầm kiểm soát (đồng nội tệ mất giá trầmtrọng)

2 Phá sản hàng loạt các ngân hàng, công ty tài chính

3 Phá sản hàng loạt các doanh nghiệp

4 Thất nghiệp gia tăng nhanh

5 Tăng trưởng giảm sút nhanh chóng

6 Và một số hậu quả khác như: lạm phát cao, nợ nước ngoài lớn, nhập siêu tăngmạnh, lãi suất cho vay cao

II Cảnh báo sớm kinh tế

Xu thế toàn cầu hoá ngày càng tăng đã và đang thách thức tất cả các hệ thống kinh

tế - tài chính tại các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển, các mối quan tâm

về củng cố kinh tế và quản lý rủi ro của các nước cũng ngày càng gia tăng Vì thế công

Trang 13

tác Cảnh báo sớm khủng hoảng kinh tế được nhiều nước đặc biệt chú ý và coi đây là chìakhoá đảm bảo sự ổn định trong phát triển kinh tế Cho đến nay, hệ thống Cảnh báo sớmkinh tế (EWS) được áp dụng tại nhiều nước và tỏ ra là một công cụ hữu ích cho việc quản

lý và điều hành nền kinh tế của các quốc gia này Tuy nhiên, Cảnh báo sớm kinh tế tạicác nước khác nhau có những sự khác biệt, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước

Vì vậy, để áp dụng hệ thống này cần có sự thống nhất về cách hiểu, vai trò và nội dungcủa nó trong nền kinh tế

1 Khái niệm Cảnh báo sớm kinh tế

“Cảnh báo sớm kinh tế” là việc thu thập, theo dõi, tổng hợp và phân tích các thông

tin, chỉ số kinh tế, từ đó đưa ra các tín hiệu cảnh báo kịp thời các nguy cơ khủng hoảng cóthể xảy ra với nền kinh tế và đề xuất các giải pháp để ngăn chặn và hạn chế tối đa nhữngtác động bất lợi cho nền kinh tế đất nước

Trong khái niệm trên có một thuật ngữ cần phải làm rõ, đó là thế nào là “sớm” và bao lâu thì được gọi là “sớm” Thuật ngữ “sớm” là khái niệm chỉ khoảng thời gian mà hệ

thống cảnh báo phát ra tín hiệu cảnh báo trước khi bắt đầu một cuộc khủng hoảng Thôngthường khoảng thời gian này là 24 tháng trở lại Tuy nhiên, tùy các ngành, lĩnh vực khác

nhau, khái niệm “sớm” có thể có sự khác biệt Ví dụ: theo Goldstein, Kaminsky, và Reinhart (2000), “sớm” trong khủng hoảng tiền tệ là khoảng thời gian 1-24 tháng, còn đối với khủng hoảng ngân hàng, họ chấp nhận yêu cầu thấp hơn về định nghĩa “sớm”, cụ

thể là hoặc từ 1-12 tháng trước trước khi khủng hoảng xảy ra hoặc chậm nhất là đến 12tháng sau khi khủng hoảng bắt đầu Có 2 lý do giải thích cho vấn đề này, thứ nhất, cáccuộc khủng hoảng ngân hàng thường kéo dài 4-5 năm và thứ hai, đỉnh điểm của khủnghoảng ngân hàng thường diễn ra vài năm sau khi nó bắt đầu Tức là vẫn có ích trong việcđạt được một tín hiệu cảnh báo sớm ngay cả khi một cuộc khủng hoảng đã bắt đầu

2 Vai trò và nội dung của công tác cảnh báo sớm kinh tế

2.1 Vai trò

Hệ thống cảnh báo sớm là công cụ quan trọng trong việc giám sát và xác định

Trang 14

những dấu hiệu gây bất ổn cho nền kinh tế, các nguyên nhân và điều kiện của sự bất ổn

đó Hệ thống cảnh báo sớm hỗ trợ Chính phủ trong việc kiểm soát những tác động bất lợiđối với nền kinh tế, từ đó đưa ra những chính sách cũng như các biện pháp thích hợptrong quá trình quản lý, điều hành, nhằm duy trì sự phát triển ổn định của nền kinh tế Cụthể:

(1) Cảnh báo sự yếu kém của các chính sách kinh tế, cũng như việc vận hành cácchính sách

(2) Cảnh báo những hoạt động yếu kém, tồn tại trong nền kinh tế như trong hoạtđộng đầu tư, xuất khẩu, nhập khẩu… đặc biệt là hoạt động của thị trường tài chính, của

hệ thống ngân hàng;

(3) Cảnh báo những biến động bất ổn trong quan hệ kinh tế đối ngoại

2.2 Nội dung cảnh báo

- Phát hiện những khía cạnh dễ bị tổn thương và những dấu hiệu khủng hoảngtrong giai đoạn mới phát sinh

- Gợi ý, đề xuất các giải pháp ứng phó nhằm ngăn chặn hoặc giảm thiểu các rủi ro,tổn thất khi có khủng hoảng xảy ra

- Cung cấp một khung khổ hữu ích cho việc nghiên cứu các cuộc khủng hoảng vànhững nhân tố gây nên khủng hoảng

Một số lưu ý

Mặc dù cảnh báo sớm kinh tế rất có ý nghĩa, đóng vai trò lớn trong việc nhận địnhtình hình, đề xuất giải pháp trong quản lý và điều hành nền kinh tế, nhưng đồng thời cũngtồn tại một số mặt trái, ví dụ kết quả cảnh báo sớm có thể bị lợi dụng để đầu cơ, thao túngthị trường… Theo đó, cần quan tâm, lưu ý đến mức độ và phạm vi công bố kết quả cảnhbáo sớm kinh tế (việc công bố và sử dụng thông tin, kết quả cảnh báo sớm cần được quyđịnh chặt chẽ) Phạm vi công bố kết quả cảnh báo sớm có thể: (1) chỉ giới hạn trong giớinghiên cứu, (2) gửi kết quả đến các nhà quản lý và điều hành kinh tế hoặc (3) rộng nhất là

Trang 15

công bố rộng rãi và công khai

3 Phân biệt cảnh báo sớm kinh tế và dự báo kinh tế

Cảnh báo và dự báo kinh tế vĩ mô là hai công tác có mối quan hệ chặt chẽ, gópphần tham mưu cho việc điều hành của chính phủ trong việc ra các quyết định quản lí vàcác chính sách vĩ mô Tuy nhiên, có nhiều người chưa hiểu rõ sự khác biệt giữa dự báo vàcảnh báo kinh tế

* Giống nhau :

+ Đều nói về tương lai

+ đều có chung đối tượng là theo dõi nền kinh tế

+ Các phương pháp cảnh báo sớm kinh tế và dự báo kinh tế đều dựa trên căn cứ khoa học+ Đều là một trong những công cụ giám sát của Chính phủ

* Khác nhau:

Chuyên đề tiến hành phân biệt cảnh báo sớm và dự báo kinh tế dựa trên 6 tiêu chí:Đối tượng, phạm vi; mục đích, vai trò; thông tin, số liệu; phương pháp ứng dụng; cáchoạt động; khoảng thời gian dự báo, cảnh báo

Trang 16

Bảng 1: Phân biệt cảnh báo sớm kinh tế và dự báo kinh tế

1 Đối tượng,

phạm vi

- Theo dõi nền kinh tế và tiếnhành dự báo trên các chỉ tiêukinh tế vĩ mô nhất định

- Các vấn đề kinh tế - xã hội

- Theo dõi nền kinh tế, đặc biệttrong những lĩnh vực nhạy cảm,thực hiện cảnh báo khi phát hiện

ra các dấu hiệu bất ổn trong bất

kỳ lĩnh vực nào của nền kinh tế

2 Mục đích, vai

trò - Chỉ ra xu hướng phát triển - Chỉ rõ tình trạng của nền kinhtế, các dấu hiệu bất ổn, nguyên

nhân của tình trạng đó, để cónhững biện pháp kịp thời ngănchặn hoặc kiềm chế các rủi ro,tổn thất

3 Thông tin, số

liệu

- Chủ yếu theo năm, tính cậpnhật, và chi tiết không yêu cầucao như dữ liệu cho cảnh báo

- Thông tin, dữ liệu cho cảnhbáo yêu cầu tính cập nhật, chitiết và chính xác, phản ánh đúngtình trạng của nền kinh tế tạimỗi thời điểm

4 Phương pháp - Các phương pháp dự báo xu

thế, các mô hình kinh tế lượngvới các kích cỡ khác nhau

- Sử dụng phương pháp tiếp cậndấu hiệu, kinh tế lượng

Quy mô mô hình nhỏ và nhạycảm với các biến động bênngoài

5 Khoảng thời

gian dự báo và

cảnh báo

- Dự báo cả trong ngắn hạn,trung hạn và dài hạn - Chủ yếu là ngắn hạn và trunghạn, hoặc ngay lập tức khi có

bất kỳ biến động nào

6 Các hoạt động - Tiến hành phân tích, dự báo

trên một số khía cạnh nhất địnhcủa nền kinh tế, để chỉ ra xu thếphát triển

- Theo dõi, giám sát liên tụchoạt động của nền kinh tế, theodõi tình trạng của nền kinh tế, từ

đó đưa ra các cảnh báo khi nềnkinh tế vượt khỏi ngưỡng antoàn

* Mối quan hệ giữa cảnh báo và dự báo

Cảnh báo xét cho cùng chính là dự báo Nhưng cảnh báo thường đưa ra những khuyếnnghị trong ngắn hạn cho Chính phủ mang ý nghĩa tiêu cực Còn dự báo chỉ ra xu hướngtrong dài hạn mang cả ý nghĩa tích cực và tiêu cực Tuy nhiên do tầm quan trọng của

Trang 17

cảnh báo ngày càng tăng nên người ta tách cảnh báo ra làm bộ phận riêng biệt.

4 Một số phương pháp Cảnh báo sớm kinh tế

Các phương pháp Cảnh báo sớm kinh tế khác nhau được hình thành dựa trên cáccách tiếp cận khác nhau, giữa chúng có những sự khác biệt nhất định Cụ thể:

4.1 Nhóm Mô hình phi tham số (Mô hình theo cách tiếp cận dấu hiệu)

Nhóm mô hình này tiếp cận dựa trên cơ sở quan sát những thay đổi của một số chỉ

số vào lúc chúng phát tín hiệu – khi vượt qua các ngưỡng giá trị nhất định Kaminsky vàđồng sự (1998) đã phát triển cách tiếp cận dấu hiệu, trong đó gồm một mô hình trong đóchứa tập hợp các đại lượng (biến số) kinh tế có tần số xuất hiện lớn trong một giai đoạn

cụ thể; mỗi đại lượng được so sánh với một chỉ số khủng hoảng tương ứng Vì vậy, khimột trong các biến này thay đổi lệch so với mức bình thường, vượt ra khỏi một ngưỡnggiá trị cụ thể, nó phát đi các tín hiệu nhị phân về khả năng xảy ra một cuộc khủng hoảng

Cách tiếp cận tín hiệu để xây dựng một mô hình phi tham số liên quan đến 5 bướcsau:

(1) - Xác định thời gian xảy ra các tình huống khủng hoảng trong quá khứ

(2)- Lựa chọn các chỉ tiêu xảy ra khủng hoảng

(3)- Xác định các ngưỡng giá trị cho các chỉ số dự báo được lựa chọn

(4)- Xây dựng các chỉ số tổng hợp

(5)- Và cuối cùng, dự báo khủng hoảng

*Đánh giá ưu nhược điểm của mô hình

Ưu điểm:

- Sử dụng mô hình phi tham số , khi dự báo về khả năng xảy ra khủng hoảng thì

mô hình này có khả năng dự báo khá chính xác

- Với các nước đang phát triển như Việt Nam , nền kinh tế phát triển chưa cao ,công tác thống kê cũng chưa được phát triển như nước khác , do đó nếu sử dụng các mô

Trang 18

hình đòi hỏi mẫu quan sát lớn , độ chính xác cao là rất khó khăn Trong khi đó mô hìnhphi tham số không yêu cầu mẫu quan sát lớn , rất thích hợp cho nền Kinh tế Việt Nam

- Có thể xem xét một số lượng khá lớn biến giải thích trong mô hình, theo đó sẽkhả năng phản ánh đầy đủ hơn những biến động về kinh tế tác động đến khả năng xảy rakhủng hoảng

- Việc sử dụng ngưỡng để xác định dấu hiệu khủng hoảng đôi khi dẫn đến “hiệntượng mất thông tin”, vì một đại lượng có thể vượt ngưỡng với một giá trị rất lớn hoặcmột giá trị rất nhỏ nhưng mô hình thì chỉ đưa ra một dấu hiệu duy nhất, chứ không xemxét cụ thể mức độ biến động của đại lượng đó

4.2 Nhóm Mô hình tham số

Mô hình này ước lượng xác suất xảy ra khủng hoảng bằng cách sử dụng cácphương pháp kinh tế lượng trên cơ sở các biến lựa chọn rời rạc, thường là phương pháplogit hoặc probit Mô hình được Frankel và Rose phát triển năm 1996 Những mô hìnhthuộc nhóm này có thể giúp xác định các nguyên nhân của khủng hoảng nhưng lại khôngphù hợp cho việc dự báo xác suất xảy ra khủng hoảng theo thời gian thực do tần suấtthấp Do tất cả các biến số được xem xét một cách đồng thời nên mô hình có khả năng đolường được mức độ tác động chính xác hơn và cho phép kiểm tra tầm quan trọng củatừng chỉ số Tuy nhiên, mô hình đòi hỏi mẫu quan sát lớn và lớn hơn khá nhiều so với môhình phi tham số Mặt khác, mô hình tham số dựa trên phương pháp hồi quy nên chỉ cóthể xem xét một số ít đại lượng kinh tế và khó có thể đánh giá được đại lượng nào làkhông phù hợp

Trang 19

* Đánh giá ưu nhược điểm của mô hình

- Mô hình tham số dựa trên phương pháp hồi quy nên chỉ có thể xem xét một số ítđại lượng kinh tế và khó có thể đánh giá được đại lượng nào là không phù hợp

4.3 Sử dụng Chỉ số chu kỳ kinh tế trong cảnh báo sớm kinh tế

Tìm hiểu về chỉ số chu kỳ kinh tế

Cách tiếp cận phân tích chỉ số kinh tế được Arthur F.Burn và Wesley C.Mitchell

đề cập lần đầu tiên vào những năm đầu của thế kỷ 20 và công bố năm 1946 Sau đó,nghiên cứu này đã trở thành nền tảng cơ bản cho phương pháp phân tích chu kỳ kinh tếcủa Cục nghiên cứu kinh tế quốc gia Mỹ (NBER) Đến nay, phương pháp phân tích chỉ

số kinh tế đã được điều chỉnh và mở rộng sử dụng ở nhiều cơ quan nghiên cứu tại Mỹ vànhiều nước trên thế giới

Trang 20

Chu kỳ kinh tế được hiểu là các giai đoạn thay thế lẫn nhau giữa thời kỳ đi lênhoặc đi xuống ở mức tuyệt đối cùng một lúc của nhiều hoạt động kinh tế Các hoạt độngkinh tế tổng thể trong nền kinh tế có thể được đặc trưng bởi các biến số sản lượng, việclàm, chi tiêu thực, thu nhập đầu tư, lạm phát và nhiều chỉ tiêu tài chính khác như các chỉ

số chứng khoán và cung tiền tệ Vì vậy, để phân tích, giám sát và theo dõi sự phát triểncủa nền kinh tế thông qua phân tích chu kỳ kinh tế, có thể quan sát sự biến động của cácchuỗi số theo thời gian của các biến số kinh tế quan trọng Các chuỗi số được lựa chọn

làm đơn vị đại diện đo lường hoạt động kinh tế tổng hợp gọi là chuỗi tham chiếu (reference series) Và chuỗi tham chiếu có thể chỉ là một biến số kinh tế đơn (như GDP), hoặc có thể là chỉ số kinh tế tổng hợp (composite index).

Các chỉ số kinh tế biến động có quan hệ ổn định/vững chắc với những biến động

của chu kỳ kinh tế được coi là các chỉ số chu kỳ Các chỉ số này được phân loại dựa trên

cơ sở các chuỗi số tham chiếu hoặc trình tự thời gian tham chiếu thành: Chỉ số báo trước (Leading Indicator); chỉ số báo đồng thời (Coincindent Indicator); và chỉ số báo sau

(Lagging Indicator)

Cách tiếp cận phân tích chỉ số chu kỳ kinh tế giúp cung cấp thông tin về tình hìnhhoạt động của nền kinh tế; cung cấp thông tin, tín hiệu về thời điểm chuyển hướng pháttriển của nền kinh tế hay thời điểm đổi hướng của nền kinh tế; và trợ giúp dự báo sớm

Trang 21

khả năng tiến triển sắp tới của nền kinh tế Những thông tin này sẽ là cơ sở cho việc điềuhành nền kinh tế của chính phủ.

Quy trình xây dựng các chỉ số chu kỳ phục vụ phân tích chu kỳ kinh tế, dự báo ngắn hạn và cảnh báo kinh tế

Bước 1: Lựa chọn các chỉ số thích hợp làm đại diện cho hoạt động của nền kinh

tế

Bước 2: Lựa chọn các chỉ số kỳ vọng làm chỉ số dự đoán thời điểm đổi hướng

trong chu kỳ kinh tế

Bước 3: Xây dựng chỉ số báo trước, báo đồng thời, báo sau tổng hợp tương ứng

từ các chỉ số báo trước, báo đồng thời và báo sau đơn

Bước 4: Sử dụng chỉ số báo trước tổng hợp nhận dạng, phân tích chu kỳ kinh tế

và dự báo thời điểm đổi hướng của chu kỳ kinh tế.

* Đánh giá ưu nhược điểm của mô hình

4.4 Phương pháp chuyên gia (cảnh báo sớm định tính)

Trong cảnh báo sớm kinh tế, các ý kiến, nhận xét và đánh giá của các chuyên gialàyếu tố không thể thiếu , có vai trò rất quan trọng , những ý kiến này phục vụ kịp thời choviệc đề ra những chính sách mới và điều hành nền kinh tế Khác với các phương pháp mô

Trang 22

hình (cơ bản chỉ dựa vào chuỗi số liệu quá khứ, có độ trễ), nhận xét của các chuyên giathường dựa trên những biến động thực tế và đang diễn ra của nền kinh tế, hơn nữa còndựa trên cơ sở kinh nghiệm và khả năng phân tích của mỗi chuyên gia để dự báo và cảnhbáo tình hình Qua đó có thể thấy cảnh báo của các chuyên gia kinh tế có tính thời sự cao,phản ánh kịp thời nhiều vấn đề kinh tế , phải được quan tâm và coi trọng

Ý kiến của các chuyên gia cũng có vai trò rất nhất định trong việc giải thích cáckết quả do các mô hình cảnh báo sớm đưa ra Hệ thống cảnh báo sớm là một công cụ hữuích trong việc phát hiện ra những tổn thương nền kinh tế trong tương lai Tuy nhiên, việcphát hiện chỉ thực sự có ý nghĩa khi có được những phân tích, đánh giá về tổn thương đó.Kết quả của các mô hình cảnh báo chỉ thực sự có giá trị khi có được sự phân tích chấtlượng Do vậy, bên cạnh các kết quả định lượng của các mô hình, các ý kiến chuyên gia

về phân tích , đánh giá cũng giữ một vai trò quan trọng trong việc đưa ra các nhận địnhcảnh báo

*Đánh giá ưu nhược điểm của mô hình

- Phụ thuộc vào chất lượng chuyên gia

- Khó khăn trong việc tập hợp chuyên gia

- Khó khăn trong việc tổng hợp, xử lý ý kiến chuyên gia khi có nhiều ý kiến tráingược nhau hoặc phân tán

Trên thực tế, việc sử dụng kết hợp hai phương pháp định tính và định lượng sẽ chokết quả cảnh báo tốt hơn, có cơ sở và đáng tin cậy

Trang 23

Tóm lại, kết quả của các mô hình cảnh báo sớm sẽ đưa ra những cảnh báo khi nào

một cuộc khủng hoảng có những dấu hiệu, nguy cơ tiềm ẩn sẽ xảy ra, sẽ cho các quốc giabiết nền kinh tế của quốc gia đó có dễ bị tổn thương hay không, từ đó đưa ra các cảnh báo

để từ đó nhà hoạch định chính sách có các biện pháp phòng ngừa kịp thời để hạn chế haytránh tác động của cuộc khủng hoảng đó đến nền kinh tế Quá trình chạy mô hình và đưa

ra kết quả cũng như các vấn đề liên quan đều mang tính kỹ thuật khá nhiều, thậm chí cácchuyên gia kinh tế cũng sẽ phải mất một thời gian tương đối để có thể hiểu và vận dụngđược Hơn nữa, việc chạy mô hình cũng tồn tại nguy cơ là khó có thể đưa hết được cácyếu tố của nền kinh tế phản ánh vào mô hình, đồng thời có thể bị ảnh hưởng bởi tính chủquan của người xây dựng và phát triển mô hình Vì vậy, việc kết hợp nhuần nhuyễn cảphương pháp định tính và phương pháp định lượng trong cảnh báo sớm cũng là vấn đề rấtquan trọng nhằm đảm bảo đưa ra những cảnh báo có chất lượng, chính xác và phù hợpvới tình hình kinh tế

5 Các điều kiện để xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm kinh tế

Do mỗi quốc gia có đặc điểm kinh tế riêng biệt, giới hạn nguồn lực khác nhau trong việcthiết lập hệ thống cảnh báo sớm kinh tế nên thực tế rất khó có thể xây dựng một hệ thốngcảnh báo sớm hoàn chỉnh, chính xác, chắc chắn và phù hợp với mọi quốc gia Dưới đây lànhững điều kiện trong xây dựng và vận hành hệ thống cảnh báo sớm kinh tế:

(1) Hoạt động cảnh báo sớm được tiến hành với sự tham gia của nhiều cơ quan, ban ngành

Việc xây dựng và vận hành thành công hệ thống cảnh báo sớm ở một nước rất cần

có sự phối, kết hợp của nhiều cơ quan khác nhau, bao quát được nhiều lĩnh vực trong nềnkinh tế, đặc biệt là những lĩnh vực nhạy cảm như tài chính-ngân hàng Ngoài ra, cần có sựtham gia của các cơ quan thống kê quốc gia, các viện nghiên cứu cũng như cần có sự hỗ trợcủa các tổ chức quốc tế, đặc biệt cần tranh thủ sự giúp đỡ về vốn cũng như kinh nghiệmxây dựng hệ thống cảnh báo sớm của OECD, WB, IMF …

Trang 24

(2) Xây dựng, vận hành hệ thống cảnh báo sớm thường được giao cho một cơ quan chuyên trách tiến hành

Công tác cảnh báo sớm thường được giao cho một cơ quan chuyên trách làm đầumối trong việc phối, kết hợp các hoạt động để đảm bảo tính thống nhất trong điều hành vàhoạt động hiệu quả Cơ quan này tốt nhất là trực thuộc chính phủ và có thẩm quyền nhấtđịnh trong việc thu thập số liệu, giám sát và theo dõi hệ thống tài chính-tiền tệ Đây là môhình đã phát huy hiệu quả tích cực tại Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc

(3) Xây dựng một hệ thống số liệu đầu vào thống nhất, chính xác và được cập nhật thường xuyên

Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm tại bất kỳ quốc gia nào thì việc đầu tiên là cần xácđịnh và cập nhật đầy đủ, chính xác số liệu của các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản, chỉ tiêu cơcấu và cách nhận biết những thay đổi bất thường của các chỉ tiêu này Chất lượng của hệthống số liệu đóng vai trò quyết định tới sự thành bại của các dự báo, cảnh báo kinh tế

Từ kinh nghiệm từ những nước đi trước, việc lựa chọn các chỉ tiêu sao cho vừa có

ý nghĩa kinh tế, vừa có ý nghĩa thống kê, đảm bảo chuỗi dữ liệu đủ dài cho phân tích, dựbáo và cảnh báo sẽ có vai trò quyết định trong sự thành công của công tác cảnh báosớm kinh tế

Nhiều nghiên cứu còn yêu cầu mô hình cảnh báo sớm cần thể hiện sự tác động qua lạigiữa các biến kinh tế vĩ mô, ảnh hưởng tới xã hội và chính trị Tuy nhiên, không nhất thiếtngay lập tức phải xây dựng hệ thống cảnh báo sớm cho cả nền kinh tế mà có thể xuất phát từmột ngành, một lĩnh vực làm cốt lõi sau mở rộng cho những ngành có ảnh hưởng lớn tới toànnền kinh tế đất nước

(4) Chất lượng nguồn nhân lực làm công tác cảnh báo sớm.

Công tác cảnh báo sớm kinh tế vừa mang tính khoa học chuyên sâu, vừa mangtính kinh nghiệm, nghệ thuật do đó người cán bộ thực hiện công tác này phải có trình độchuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn phong phú (các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực nàycũng cần phải có trình độ về toán, tin học, kiến thức về mô hình, đồng thời phải có nền

Trang 25

tảng vững chắc về kiến thức kinh tế nói chung cũng như chuyên sâu theo từng lĩnh vực).

(5) Lựa chọn phương pháp và mô hình cảnh báo thích hợp

Trong nghiên cứu và xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, dự báo khủng hoảng đượccoi là phần khó khăn nhất và khó có thể thay thế cho một chính sách quản lý hữu hiệu Môhình cảnh báo sớm luôn được thực hiện qua kiểm thử (kiểm tra sự tương thích của mô hìnhvới thực tế đã diễn ra) và dự báo ngoài mẫu (dự báo cho tương lai khi không có thông tinthực tế) Thực tế, tại nhiều quốc gia, kết quả kiểm thử của mô hình dự báo có ý nghĩa đầy

đủ về thống kê và kinh tế, tức là, dự báo kiểm thử đã có tác dụng mang lại thông tin sosánh với một điểm chuẩn của ước đoán ngẫu nhiên hoàn chỉnh Tuy nhiên, kết quả dự báongoài mẫu còn nghèo nàn và không rõ ràng, không đem lại nhiều thông tin cho ngườinghiên cứu và quản lý Những kết quả nghiên cứu về hệ thống cảnh báo sớm còn chưa đủ

độ chính xác để có thể trở thành một công cụ chống lại khủng hoảng nhưng các mô hìnhcảnh báo sớm có ý nghĩa đóng góp cho việc phân tích những tổn thương trong nền kinh tế,đặt trong mối quan hệ với các phương pháp giám sát truyền thống và các chỉ tiêu khác

Việc lựa chọn phương pháp mà mô hình cảnh báo sớm cần xem xét đến điều kiệnthực tế của từng nước (điều kiện về số liệu, điều kiện về phần mềm, về nguồn nhân lực ).Trong thực tế, các nước đang phát triển do yếu về mặt số liệu nên thường lựa chọn cácphương pháp không yêu cầu cao về mặt số liệu như mô hình tham số (áp dụng nếu cóchuỗi số liệu đủ dài), hoặc cũng có thể sử dụng mô hình phi tham số trong khi các nướcphát triển có thể sử dụng chỉ số chu kỳ kinh tế hoặc mô hình tham số trong cảnh báo (dohai phương pháp này yêu cầu cao hơn về mặt số liệu thống kê đầu vào) Các nước pháttriển cũng có điều kiện hơn trong việc cảnh báo sớm theo ngành, theo lĩnh vực chuyên biệt

do hệ thống chỉ tiêu thống kê theo ngành hẹp tương đối đầy đủ, số liệu liên tục được cậpnhật và có độ chính xác cao

Trang 26

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CẢNH BÁO SỚM KINH TẾ TẠI VIỆT NAM

I Sự cần thiết phải tiến hành công tác cảnh báo sớm kinh tế ở Việt Nam

Hội nhập kinh tế quốc tế là bước đi quan trọng và là xu thế tất yếu, phù hợp với xuthế chung của thời đại Việt Nam cũng đang tích cực và chủ động hội nhập sâu, rộng vàonền kinh tế quốc tế Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích mà xu thế này đem lại thì rủi rocũng không nhỏ bởi Việt Nam là nền kinh tế nhỏ, mở, phụ thuộc nhiều vào những biếnđộng của kinh tế thế giới Bài toán đặt ra cho các nhà lãnh đạo là muốn đất nước pháttriển bền vững thì phải quản lý được những rủi ro có thể xảy đến, chủ động đưa ra biệnpháp ứng phó kịp thời, tối thiểu hoá tổn hại cho nền kinh tế, tránh những “cú sốc” của cáchiện tượng kinh tế, xã hội

Như trên đã phân tích, khủng hoảng kinh tế thường gây ra những ảnh hưởng lớn

và tiêu cực đối với tổng thể nền kinh tế trong một khoảng thời gian dài, cản trở đà pháttriển ổn định, kéo theo là những tác động xấu đến chính trị, xã hội Những biện phápmang tính đối phó nhằm hạn chế khủng hoảng, khắc phục hậu quả khi khủng hoảng đãxảy ra thường mang tính sự vụ, rất tốn kém và ít hiệu quả Vì vậy, việc tìm hiểu phươngthức nhằm phát hiện sớm khủng hoảng kinh tế và chủ động ngăn chặn nhằm hạn chế mức

độ ảnh hưởng ở mức thấp nhất luôn được đánh giá là cách làm hiệu quả, ít tốn kém vàđang được nhiều nước áp dụng Xét về hoàn cảnh thực tiễn của nền kinh tế Việt Nam,việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm kinh tế là rất cần thiết

1 Sự cần thiết của cảnh báo sớm đối với công tác hoạch định chính sách

Sau hơn hai thập kỷ kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới và chính sách mở cửa,nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể về tăng trưởng và phát triểnkinh tế, đặc biệt là những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng ngày càng tăng nhanh, tuy

Trang 27

nhiên Việt Nam cần cảnh giác trước những tác động xấu có thể đi kèm với tăng trưởngkinh tế cao4

Việt Nam đã và đang có nhiều cố gắng chủ động hội nhập tài chính thế giới vàtừng bước thực hiện tự do hoá tài chính Trước hết là việc thiết lập các mối quan hệ tàichính với các tổ chức tài chính - tiền tệ thế giới như: Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền

tệ quốc tế (IMF), thành viên chính thức của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN), tham gia các diễn đàn kinh tế: Diễn đàn kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương(APEC), Diễn đàn Á-Âu, tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) gần đâynhất là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Theo lộ trình hội nhập nhưvậy, chúng ta đã, đang và sẽ tiếp tục mở cửa thị trường ở hầu hết các lĩnh vực, trong đó

có lĩnh vực ngân hàng, tài chính

Những bước tiến của kinh tế Việt Nam thời gian qua là rất ấn tượng khi duy trì đàtăng trưởng ổn định, liên tục cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, theo đó, vị thế củaViệt Nam trên trường quốc tế cũng được tăng cường Tuy nhiên, theo cùng với quá trìnhphát triển, những bất ổn tự thân của nền kinh tế cũng dần bộc lộ, cụ thể:

- Thể chế pháp luật của Việt Nam vẫn đang trong quá trình xây dựng và hoànthiện, theo đó ở một số khía cạnh chưa thực sự phù hợp với thông lệ quốc tế, công táckiểm tra, giám sát và thực thi pháp luật cũng còn nhiều điểm yếu cần khắc phục…

- Môi trường đầu tư, kinh doanh tuy có được cải thiện đáng kể trong một số nămtrở lại đây nhưng vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu của nhiều nhà đầu tư và các doanhnghiệp trong và ngoài nước Mặc dù có nhiều lợi thế nhưng Việt Nam vẫn chưa phát huyđược tiềm năng và trở thành điểm đến hấp dẫn đối với luồng vốn FDI vào khu vực

- Từ cuối năm 2007 cho đến nay, nền kinh tế vĩ mô mang nhiều dấu hiệu bất ổn,thể hiện qua sự biến động mạnh của nhiều chỉ số vĩ mô như lạm phát, thâm hụt ngânsách, cán cân thương mại …

4 Cảnh báo của các chuyên gia kinh tế thuộc Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA) tạiHội nghị quốc tế về Công tác dự báo kinh tế vĩ mô do Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế -

Trang 28

+ Lạm phát liên tục tăng cao, nếu năm 2007 chỉ số CPI tăng 12,63% thì con số lạmphát của năm 2008 lên đến 19,89% Giá các mặt hàng đều tăng mạnh, đặc biệt các mặthàng thiết yếu như lương thực thực phẩm, nguyên nhiên vật liệu ảnh hưởng tới đời sốngnhân dân và quá trình sản xuất

+ Cán cân thương mại thâm hụt ngày càng trầm trọng, năm 2006, thâm hụt thươngmại là 5,1 tỷ USD; năm 2007, thâm hụt thương mại đạt 14,1 tỷ USD và năm 2008 lên đến

18 tỷ USD (xuất khẩu 62,7 tỷ USD, nhập khẩu 82,7 tỷ USD)

+ Thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản thời giangần đây có nhiều biến động khó lường trước và khó quản lý Sự hình thành và vỡ bongbóng tài sản cũng tạo ra nhiều sự biến động lớn cả về kinh tế và xã hội không chỉ tronglĩnh vực tài chính mà còn lan rộng sang nhiều lĩnh vực kinh tế khác

Một số nguyên nhân của tình trạng này là do

+ Công tác hoạch định chính sách của Việt Nam chưa hoạt động hiệu quả khiếnkhả năng phát hiện những bất ổn của nền kinh tế kém, do vậy tác động dây chuyền khiếncông tác điều hành quản lý kinh tế vĩ mô còn chậm, phản ứng đối với những biến độngcủa nền kinh tế thiếu nhất quán

+ Trong một thời gian dài nước ta duy trì tốc độ tăng trưởng cao song chưa chú ýnhiều tới chất lượng tăng trưởng, đặc biệt chất lượng đời sống của nhân dân còn nhiềuyếu kém; định hướng phát triển ngành, đặc biệt tại các tập đoàn, tổng công ty còn nhiềusai sót ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư trong ngành kinh tế và của toàn xã hội còn thấp.Ngoài ra, công tác thu thập thông tin thị trường cũng như toàn bộ nền kinh tế còn chậm,thiếu chính xác và không mang tính hệ thống

Chính những yếu kém kể trên khiến cho nền kinh tế Việt Nam rất dễ chịu tác động

từ những biến động bên ngoài.Trong thời gian gần đây, cuộc khủng hoảng kinh tế toàncầu đã tác động đến một loạt các lĩnh vực chủ chốt của nền kinh tế như sản xuất kinh

Trang 29

doanh, lao động việc làm, thương mại xuất nhập khẩu, thu hút FDI, thị trường chứngkhoán, từ đó ảnh hưởng xấu đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.5

Thách thức lớn nhất đối với các chính phủ trong quá trình hoạch định chính sách

là sự hài hòa giữa mục đích ngắn hạn và trung hạn Muốn vậy, Việt Nam yêu cầu cấpbách phải nhanh chóng xây dựng hệ thống cảnh báo sớm - một công cụ nhằm cung cấpthông tin và từ đó đưa ra những biện pháp hữu hiệu trong việc giám sát nền kinh tế, ngănchặn khủng hoảng từ những dấu hiệu đầu tiên

2 Sự cần thiết của công tác cảnh báo sớm đối với doanh nghiệp

Khi nền kinh tế bị tác động nạn nhân dễ xác định nhất chính là các doanh ngiệp

Năm 2008, trước sự suy thoái của nền kinh tế thế giới và cuộc khủng hoảng tài chính toàncầu, lạm phát tăng cao…kinh tế Việt Nam cũng chịu tác động không ít và bắt đầu thực sựbước vào giai đoạn khó khăn Quý I năm 2008 với mục tiêu tăng trưởng GDP 9% nhưng

đã giảm còn 6,5%; biên độ giá của các mặt hàng dao động mạnh, lãi suất ngân hàng liêntục thay đổi, giá dầu giảm ở mức thấp nhất trong vòng 3 năm qua,…tất cả những biến đổi

đó tác động mạnh đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và doanh nghiệp nói riêng

Khủng hoảng kinh tế khiến lợi nhuận doanh nghiệp giảm Theo phân tích thị trường quốctế: Tăng trưởng GDP suy giảm 1% sẽ làm mức tăng trưởng doanh nghiệp giảm 4%, đốivới Việt Nam, do thị trường đang phát triển, mức độ tác động sẽ lớn hơn nhiều

Hầu hết các doanh nghiệp “tồn tại” được trong năm 2008 là do nguồn vốn huy động từ thịtrường chứng khoán trong năm 2007.Tuy nhiên tốc độ huy động vốn ngày càng suy giảm

5 Kinh tế Việt nam trong quý I/2009 tiếp tục chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới vàđang trên đà suy giảm: Tốc độ tăng trưởng quý I/2009 ước tính khoảng 3,1%, thấp hơn rất nhiều

so với quý I của các năm trước (Tốc độ tăng trưởng quý I/2008 đạt 7,4%; 2007 đạt 7,8% và 2006đạt 7,1%) Theo nhiều chuyên gia, việc kinh tế tăng trưởng thấp trong quý I sẽ là rào cản khôngnhỏ đối với việc đạt kế hoạch tăng trưởng kinh tế của cả năm 2009 như mục tiêu của Quốc Hội

đề ra (6,5%)

Do là nền kinh tế có độ mở lớn, khủng hoảng kinh tế toàn cầu được nhận định sẽ có tác động lớn

và sâu rộng tới nền kinh tế Việt Nam, không chỉ trong những tháng cuối năm 2008 và quý I/2009

mà cả những tháng tiếp theo

Nguồn: Ấn phẩm “Ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế thế giới đến kinh tế Việt Nam quý I/2009” –

Trang 30

và dự kiến sẽ còn tiếp tục giảm trong thời gian tới Đa số vốn huy động từ thị trườngchứng khoán trong năm 2008 đều từ những tháng đầu năm Những doanh nghiệp huyđộng được vốn trên thị trường chứng khoán vào năm 2008 đều là những doanh nghiệplớn Những doanh nghiệp vừa và nhỏ không huy động được các nguồn vốn khác sẽ gặpkhó khăn.

“Không nền kinh tế nào không bị tác động, chỉ nhiều hay ít, sớm hay muộn mà thôi, ViệtNam không phải là ngoại lệ; Điều đáng mừng là hệ thống tài chính Việt Nam không bịthiệt hại trực tiếp từ các vụ đổ vỡ ở các Ngân hàng trên thế giới, song lại chịu tác độngqua tỷ giá; hiện nay làng nghề, doanh ngiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn lớn, không ít laođộng đã nghỉ việc, doanh nghiệp tạm thời ngừng hoạt động; số vốn đầu tư của tư nhânđăng ký bắt đầu giảm xuống; năm 2008 làm cho doanh nghiệp vừa và nhỏ rất mệt mỏi,hết vốn, sang năm 2009 rất khó cầm cự được ” Tiến sĩ Lê Đăng Doanh – Viện nghiêncứu IDS nói

Đầu tư giảm, bất ổn gia tăng dẫn tới nguy cơ gây giảm phát và suy thoái toàn cầukéo dài Xu hướng này diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế nước ta vừa mới bắt đầu quátrình khôi phục sau "cơn" lạm phát cao kéo dài, sức còn yếu, gốc "bệnh" chưa được tẩytrừ Nhiều doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng sức cùng, lực kiệt lại phải đương đầuvới nhiều khó khăn nghiêm trọng hơn

Chinh những khó khăn trên đã khiến công tác cảnh báo sớm trở nên cần thiết đối vớicác doanh nghiệp Nếu có một hệ thống cảnh báo sớm tốt, doanh nghiệp sẽ ứng phó tốt

hơn trước những biến động bất thường của nền kinh tế Hệ thống cảnh báo sớm giúp các

doanh nghiệp cần có cái nhìn cận, không nên phóng tầm nhìn xa nữa (kế hoạch15 năm);theo dõi sát diễn biến của nền kinh tế, thường xuyên cập nhật thông tin thị trường cơ chếchính sách để tự cứu mình; quan điểm là kích cầu kèm chống suy giảm không phải xincho như trước Các doanh nghiệp nên họp lại với nhau để tìm cách giải quyết khó khăn.Những giải pháp cũ không phù hợp sẽ sửa đổi, vì vậy các doanh nghiệp nên mạnh dạnkiến nghị với chính quyền địa phương trình Chính phủ để giải quyết khó khăn

Trang 31

3 Sự cần thiết của công tác cảnh báo sớm đối với một số đối tượng khác ( nhà đầu tư trong và ngoài nước, nhà tài trợ, cộng đồng…)

Tình hình kinh tế suy thoái không chỉ tác động đến chính phủ hay doanh nghiệp

mà còn tác động đến toàn bộ các thành viên trong nền kinh tế từ đó ảnh hưởng lan tỏađến cả cộng đồng xã hội

Nền kinh tế biến động khiến rủi ro cao hơn, điều này khiến các nhà đầu tư trong vàngoài nước sẽ e dè trước các quyết định đầu tư Họ sẽ phân vân khi đầu tư không manglại lợi nhuận như mong muốn Các nhà tài trợ cũng vậy, chính bản thân họ cũng gặp khókhăn khi nền kinh tế không ổn định Luồng vốn đầu tư nước ngoài vàoViệt Nam sẽ sụtgiảm: Luồng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào các thị trường mới nổi dự kiến sẽ sụt giảmkhoảng 100 tỷ USD do hầu hết các nước đầu tư lớn đều rơi vào suy thoái, các doanhnghiệp nước ngoài không được hưởng lợi từ nguồn lãi suất ngắn hạn thấp ở Mỹ, dự kiếnnhà đầu tư nước ngoài sẽ tiếp tục bán ra trái phiếu do lo ngại rủi ro tăng lên

Hậu quả kinh tế sẽ kéo theo ảnh hưởng đến cộng đồng xã hội là điều tất yếu: do thu nhậpcủa người dân giảm và chính sách thu hẹp chi tiêu khiến nhu cầu tiêu dùng giảm, thấtnghiệp gia tăng…

Nếu có một hệ thống cảnh báo sớm tin cậy sẽ khiến các nhà đầu tư có niềm tin hơn khiquyết định đầu tư vào sản xuất kinh doanh

II Hệ thống cảnh báo sớm kinh tế ở Việt Nam

1 Tổng quan về công tác cảnh báo sớm tại Việt Nam

Đối với Việt Nam, kể từ sau khi gia nhập WTO, nước ta đã thực sự hội nhập sâurộng vào nền kinh tế thế giới, đặc biệt là vào hệ thống tài chính, ngân hàng toàn cầu KhiViệt Nam thực hiện các cam kết WTO về tài chính sẽ rất dễ xuất hiện những nguy cơ rủi

ro mà khó có thể kiểm soát được của các dòng vốn đầu tư nước ngoài vào hoặc ra khỏinước theo các hình thức gián tiếp Trong khi đó, kinh tế Việt Nam là một nền kinh tếđang chuyển đổi, còn nhiều yếu kém, bất ổn và dễ bị tổn thương trước những tác động

Trang 32

của kinh tế quốc tế Chính vì vậy, để đạt được mục tiêu phát triển nhanh và bền vững,Việt Nam cần phải kiểm soát, ngăn ngừa, hạn chế và ứng phó kịp thời trước những tácđộng bất lợi, những dấu hiệu của khủng hoảng kinh tế Do đó, đặt ra yêu cầu cần phảigiám sát và thu thập kinh tế vĩ mô để phân tích và đánh giá các chỉ số về cảnh báo sớm.Việc thiết lập và duy trì hệ thống cảnh báo sớm đối với nền kinh tế là nhu cầu cấp thiếttrong giai đoạn hiện nay

Tuy nhiên, công tác cảnh báo sớm kinh tế là một vấn đề khá mới mẻ và chưa đượchình thành ở nước ta Trong khu vực ASEAN, ngoại trừ Lào và Campuchia, Việt Nam lànước duy nhất chưa có hệ thống cảnh báo sớm kinh tế Việt Nam mới chỉ đang tham gia

ở cấp độ khu vực, bao gồm 4 quốc gia là: Malaixia, Inđônêxia, Thái Lan và Xingapo.Hàng năm, tổ chức này có báo cáo cảnh báo từ xa gọi là cảnh báo sớm, phân tích các cânđối, các chỉ số tài chính của khu vực và cung cấp cho mỗi nước thành viên, tuy nhiên báocáo này mới chỉ bó hẹp trong lĩnh vực tài chính và tại Việt Nam cũng không có cơ quanhay tổ chức chịu trách nhiệm tiếp nhận và xử lý các thông tin này

Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm kinh tế là vấn đề cấp thiết đối với nền kinh tếnước ta hiện nay, song thực tế, cảnh báo sớm vẫn là một lĩnh vực rất mới mẻ đối với ViệtNam Tuy nhiên, một dấu hiệu đáng mừng là công tác cảnh báo sớm đã bắt đầu thu hútđược sự quan tâm của Chính phủ, các cơ quan nghiên cứu và các nhà kinh tế

Ở trong nước, các hoạt động cảnh báo sớm tuy đã có nhưng lại được tiến hànhriêng rẽ, rời rạc, cụ thể:

a Về hệ thống tổ chức cảnh báo sớm

Hiện nay ở Việt Nam có nhiều cơ quan đã bắt đầu có sự quan tâm tới lĩnh vựccảnh báo sớm và cũng đã có những bước đi nhằm tìm hiểu, nghiên cứu và ứng dụng tronglĩnh vực này, ví dụ như Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Bộ Tài chính, Ủy ban giám sát tàichính quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các cơ quan nghiên cứu thuộc lĩnh vực kinh tế-

xã hội, tài chính ngân hàng

* Ngân hàng nhà nước:

Ngày đăng: 17/07/2013, 22:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. GS. TS Nguyễn Thiện Nhân, “Khủng hoảng kinh tế Châu Á 1997-1998 – Nguyên nhân, hậu quả và bài học”, 2002, KTPT Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khủng hoảng kinh tế Châu Á 1997-1998 – Nguyên nhân, hậu quả và bài học”
4. Ấn phẩm “Ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế thế giới đến kinh tế Việt Nam quý I/2009” - NCEIF Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế thế giới đến kinh tế Việt Nam quý I/2009”
5. Phan Thị Bích Nguyệt, “Xây dựng mô hình dự báo khủng hoảng tài chính”, Tạp chí Phát triển kinh tế (TP.HCM), 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xây dựng mô hình dự báo khủng hoảng tài chính”
6. Đinh Hiền Minh, Võ Trí Thành, Nguyễn An Dương và Trịnh Quang Long (CIEM), 2005, “Phân tích chu kỳ tăng trưởng và dự báo ngắn hạn sử dụng chỉ số chu kỳ - kinh nghiệm quốc tế và khả năng áp dụng cho Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phân tích chu kỳ tăng trưởng và dự báo ngắn hạn sử dụng chỉ số chu kỳ - kinh nghiệm quốc tế và khả năng áp dụng cho Việt Nam
7. Morris Goldstein, Graciera Kaminsky và Carmen Reinhart, 2000, “Assessing Financial Vunerability – An Early Warning System for Emerging Markets” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessing Financial Vunerability – An Early Warning System for Emerging Markets
8. Steven B. Kamin and Oliver D. Babson, September 1999, “The contribution of domestic and external factors to Latinh American devaluation crises: An early warning system approach”, International Finance Discussion Paper Sách, tạp chí
Tiêu đề: The contribution of domestic and external factors to Latinh American devaluation crises: An early warning system approach

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Phân biệt cảnh báo sớm kinh tế và dự báo kinh tế - GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG CẢNH BÁO SỚM TẠI VIỆT NAM
Bảng 1 Phân biệt cảnh báo sớm kinh tế và dự báo kinh tế (Trang 15)
3. Hình thành nguồn thông tin có chất lượng - GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG CẢNH BÁO SỚM TẠI VIỆT NAM
3. Hình thành nguồn thông tin có chất lượng (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w