Một số vụ việc tố cáo chưa được giải quyết đúng pháp luật, vi phạm nghiêm trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tập thể, công dân, tổ chức và cá nhân như: Việc xử lý không ng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NGỌC ÁNH
THùC HIÖN PH¸P LUËT VÒ GI¶I QUYÕT Tè C¸O HµNH CHÝNH -
Tõ THùC TIÔN ñY BAN NH¢N D¢N THÞ X· PHóC Y£N,
TØNH VÜNH PHóC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NGỌC ÁNH
THùC HIÖN PH¸P LUËT VÒ GI¶I QUYÕT Tè C¸O HµNH CHÝNH -
Tõ THùC TIÔN ñY BAN NH¢N D¢N THÞ X· PHóC Y£N,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết lời cam đoan này để nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Ngọc Ánh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO HÀNH CHÍNH 7
1.1 Khái niệm tố cáo và pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính 7
1.1.1 Tố cáo và quyền tố cáo 7
1.1.2 Pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính 13
1.2 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính qua Hiến pháp và pháp luật Việt Nam 23
1.2.1 Pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính thời kỳ phong kiến 23
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1946 đến trước khi Hiến pháp năm 1980 được ban hành 24
1.2.3 Giai đoạn từ năm 1980 đến trước khi Luật Tố cáo năm 2011 được ban hành 27
1.2.4 Giai đoạn từ năm 2011 đến nay 29
1.3 Pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 30
1.3.1 Pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính của một số quốc gia trên thế giới 30
1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 35
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI
QUYẾT TỐ CÁO HÀNH CHÍNH TẠI ỦY BAN NHÂN
NHÂN THỊ XÃ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC 37
2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới hoạt động giải quyết tố cáo hành chính tại UBND thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 37
2.1.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 37
2.1.2 Tình hình tố cáo trên địa bàn thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 39
2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính tại UBND thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 40
2.2.1 Thực trạng thực hiện pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính tại UBND thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 40
2.2.2 Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính tại Ủy ban nhân dân thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 43
2.3 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tồn tại, hạn chế 49
2.3.1 Những tồn tại, hạn chế 49
2.3.2 Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế 54
Chương 3: PHƯƠNG HƯƠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN ỦY BAN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC 62
3.1 Phương hướng thực hiện pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính 62
3.1.1 Thực hiện pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính nhằm bảo vệ quyền con người 62
Trang 63.1.2 Thực hiện pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính nhằm nâng
cao trách nhiệm của cơ quan công quyền trong hoạt động giải
quyết tố cáo của công dân 64
3.2 Giải pháp nâng cao việc thực hiện pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính 66
3.2.1 Nhóm các giải pháp chung 66
3.2.2 Nhóm các giải pháp cụ thể cho địa phương 73
3.2.3 Các biện pháp khác 80
KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả giải quyết tô cáo trên địa bàn thị xã Phúc Yên
Bảng 2.2 Kết quả thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý
vi phạm hành chính trên địa bàn thị xã Phúc Yên 44
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Đảng và Nhà nước ta đã thường xuyên quan tâm đến các quyền cơ bản của công dân, trong đó có quyền khiếu nại, tố cáo Nhằm tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền làm chủ trong việc tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội; kiểm tra, giám sát hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức trong khi thi hành nhiệm vụ; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Đồng thời đề cao trách nhiệm của mỗi cấp, mỗi ngành phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, nâng cao tinh thần phục
vụ nhân dân, giải quyết đúng đắn, kịp thời đơn thư tố cáo của công dân
Thị xã Phúc Yên là một trong 09 huyện, thị của tỉnh Vĩnh Phúc, là địa bàn tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy Đảng, UBND thị xã luôn quan tâm và thường xuyên chỉ đạo đối với công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân theo quy định của pháp luật và coi đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên của chính quyền thị xã
Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung đã có những chuyển biến đáng kể, tuy nhiên, các vụ việc tố cáo trên địa bàn ngày càng có xu hướng tăng và phức tạp, đặc biệt là các đơn thư tố cáo vượt cấp Thị ủy - UBND thị xã Phúc Yên đã có nhiều cố gắng, quan tâm chỉ đạo giải quyết dứt điểm các vụ việc tố cáo hành chính nhưng vẫn chưa thực sự hiệu quả và chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn Một số vụ việc tố cáo chưa được giải quyết đúng pháp luật, vi phạm nghiêm trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tập thể, công dân, tổ chức và cá nhân như: Việc xử lý không nghiêm túc, có trường hợp bao che cho người bị tố cáo; nhiều tố cáo không
Trang 10được giải quyết đúng thời hạn quy định của pháp luật làm cho vụ việc tố cáo bị kéo dài Việc tổ chức thực hiện kết luận tố cáo ở nhiều nơi chưa được quan tâm đúng mức Việc tiếp nhận, xử lý đơn tố cáo nặc danh, mạo danh ở các địa phương còn khác nhau gây ra sự thiếu thống nhất trong việc áp dụng pháp luật
Bên cạnh đó, nhiều trường hợp công dân tố cáo không đúng sự thật nhưng chưa được xử lý dứt điểm, hoặc một số công dân lợi dụng tố cáo để gây rối an ninh trật tự, gây mâu thuẫn mất đoàn kết nội bộ, nói xấu cán bộ, công chức, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước
Từ thực trạng tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính tại Ủy ban nhân dân thị xã Phúc Yên cùng những vấn đề thực hiện pháp luật về giải quyết tố cáo trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, đảm bảo các quyền và lợi ích chính đáng của công dân đặt ra cho các nhà nghiên cứu phải tìm ra những nguyên nhân, bất cập, hạn chế và giải pháp qua thực hiện pháp luật tố cáo
Bản thân tôi là cán bộ trực tiếp tham gia công tác giải quyết tố cáo tại Ủy
ban nhân dân thị xã Phúc Yên Vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài “Thực hiện
pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính - Từ thực tiễn Ủy ban nhân dân thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” để nghiên cứu, hoàn thiện luận văn thạc sỹ của mình
Tôi mong muốn đề tài này sẽ góp phần bổ sung và hoàn thiện hơn pháp luật về giải quyết tố cáo tại cơ quan hành chính nhà nước, nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ quan công quyền trong việc thực hiện quyền con người, quyền công dân; khuyến khích người dân tích cực tham gia phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong hoạt động quản lý nhà nước, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương cũng như của cả nước
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Hoàn thiện và thực hiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo đã được các nhà
Trang 11khoa học pháp lý nghiên cứu và được những người làm thực tiễn quan tâm
Có thể kể đến các công trình nghiên cứu như: Luận án tiến sỹ Luật học của
Trần Văn Sơn, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (năm 2006) “Tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ chế hành chính nhà nước hiện nay”; Luận án tiến sỹ Luật
học của Nguyễn Thế Thuấn (năm 2001) “Tăng cường hiệu quả pháp luật về
giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân ở Việt Nam hiện nay”; Luận án
tiến sỹ Luật học của Vũ Duy Duẩn (năm 2014) “Giải quyết khiếu nại, tố cáo
- Phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay”; Luận văn thạc sỹ Luật học của Lê Thị Sáu (năm
2014) “Hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Quốc Oai,
TP.Hà Nội”; Luận văn thạc sỹ Luật học của Nguyễn Ngọc Linh (năm 2014)
“Thực thi pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”…
Ngoài ra, một số nhà khoa học đã nghiên cứu tài liệu chuyên khảo, giáo
trình phục vụ nghiên cứu và giảng dạy như: Cuốn “Tìm hiểu Pháp lệnh khiếu
nại, tố cáo của công dân” của PGD.TS Lê Bình Vọng, NXB Pháp lý, Hà Nội
năm 1991; Cuốn “Tìm hiểu pháp luật về khiếu nại, tố cáo” của PGS-TS Phạm
Hồng Thái (chủ biên), NXB Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003
Các công trình khoa học trên đã nghiên cứu khá toàn diện, có hệ thống
về pháp luật giải quyết tố cáo của công dân Đây là cơ sở lý luận quan trọng
mà tác giả có thể kế thừa trong quá trình hoàn thiện luận văn Tuy nhiên, từ khi Luật Tố cáo năm 2011 có hiệu lực vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu riêng biệt, chuyên sâu về pháp luật giải quyết tố cáo hành chính
qua thực tiễn tại một địa phương cụ thể Vì vậy, đề tài “Thực hiện pháp luật
về giải quyết tố cáo hành chính - Từ thực tiễn Ủy ban nhân dân thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” là một đề tài nghiên cứu mới và có tính thực tiễn cao
Trang 123 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật tố cáo và thực trạng thực hiện pháp luật về tố cáo hành chính Từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp với thực tế để bảo đảm thực hiện pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính trên địa bàn thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc nhằm góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan các nghiên cứu về pháp luật tố cáo, trình tự thủ tục giải quyết tố cáo tại cơ quan quản lý hành chính nhà nước
+ Làm rõ các khái niệm: Tố cáo, quyền tố cáo, giải quyết tố cáo hành
chính, áp dụng pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính
+ Làm rõ trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo hành chính theo quy định của pháp luật;
+ Phân tích, làm rõ vai trò của pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính;
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về giải quyết tố cáo
hành chính tại UBND thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
- Đưa ra phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật từ thực tiễn UBND thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
4 Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu làm rõ thực trạng thực hiện pháp luật về
tố cáo hành chính tại Ủy ban nhân dân thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Từ
đó đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác giải quyết tố cáo tại cơ quan quản lý hành chính nhà nước
Trang 135 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về tố cáo hành chính trong công tác giải quyết tố cáo của Ủy ban nhân dân thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
trong thời gian từ năm 2011 (sau khi Luật Tố cáo có hiệu lực) đến năm 2016
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến hiện nay đối với các ngành khoa học xã hội nói chung và khoa học pháp lý nói riêng như: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp logic; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh, điều tra, khảo sát bằng bảng hỏi, phỏng vấn, giao tiếp, thống kê… Cụ thể:
+ Phương pháp định lượng:
- Phương pháp phân tích tài liệu thống kê có sẵn: Các báo cáo về thực
hiện Luật Tố cáo; giải quyết tố cáo và tổ chức thực hiện các kết luận giải
quyết tố cáo trên địa bàn thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
- Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp các số liệu, tài liệu có sẵn để đưa ra
những con số cụ thể, toàn diện về nội dung liên quan của đề tài
- Phương pháp điều tra định lượng bằng bảng hỏi có sẵn: Điều tra đối
với người tố cáo, người bị tố cáo và người giải quyết tố cáo về các vấn đề liên quan trong công tác giải quyết tố cáo và tổ chức thực hiện kết luận tố cáo
+ Phương pháp định tính:
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn đối với người có thẩm quyền
giải quyết tố cáo thuộc cấp huyện, cấp xã, phường, phỏng vấn cán bộ, công chức tham gia giải quyết tố cáo, phỏng vấn một số công dân gửi đơn tố cáo và phỏng vấn người bị tố cáo
- Nghiên cứu trường hợp: Nghiên cứu một số trường hợp cụ thể để làm
sáng rõ hơn vấn đề nghiên cứu
Trang 147 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa về mặt lý luận khoa học
Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện pháp luật tố cáo hành chính từ thực tiễn Ủy ban nhân dân thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Kết quả nghiên cứu đề tài đóng góp những tri thức lý luận trong việc kiện toàn, hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết tố cáo tại cơ quan quản lý hành chính nhà nước
- Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đề tài nhằm làm thay đổi nhận thức của công dân
về pháp luật tố cáo, nâng cao ý thức trách nhiệm trong công tác giải quyết tố cáo tại cơ quan quản lý hành chính nhà nước, đặc biệt là đối với cơ quan quản
lý hành chính cấp huyện Đồng thời khuyến khích người dân tích cực tham gia phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật, tăng cường trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong giải quyết tố cáo, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc giám sát hoạt động quản lý nhà nước
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp cơ sở luận cứ khoa học trong việc kiện toàn pháp luật về giải quyết tố cáo tại cơ quan quản lý hành chính nhà nước
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu đề tài sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo bồi dưỡng ngành Luật, quản lý nhà nước; pháp luật chuyên ngành và các ngành liên quan tại các trường, học viện đào tạo bậc cao đẳng, đại học và sau đại học trong phạm vi cả nước
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu 03 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận thực hiện pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính Chương 2 Thực trạng thực hiện pháp luật về giải quyết tố cáo hành
chính tại Ủy ban nhân dân thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 3 Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp
luật về giải quyết tố cáo hành chính
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO HÀNH CHÍNH
1.1 Khái niệm tố cáo và pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính
1.1.1 Tố cáo và quyền tố cáo
1.1.1.1 Khái niệm tố cáo
Tố cáo là một thuật ngữ được sử dụng trong đời sống xã hội, thể hiện
sự quan tâm của con người trước hành vi, việc làm của người khác – đó là những hành vi, việc làm không phù hợp với đạo lý và vi phạm các quy định pháp luật, ảnh hưởng đến đạo đức, nhân phẩm và lợi ích của cá nhân, cơ quan, tập thể, tổ chức, đơn vị
Theo từ điển tiếng Việt, “tố cáo” là nói cho cơ quan thẩm quyền biết một hành động, một việc làm phạm pháp nào đó, hay vạch trần hành động xấu xa nhằm lên án, ngăn chặn Hay nói cách khác, “tố cáo” là vạch trần hành động xấu xa, phạm pháp hay tội ác trước cơ quan có thẩm quyền hoặc trước dư luận
Tố cáo là một khái niệm rộng, được xem xét trên nhiều phương diện, góc độ khác nhau, tùy thuộc vị trí, vai trò của tố cáo trong xã hội
Về phương diện khoa học pháp lý:
Tố cáo là báo cho cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào hây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức [21, tr.784]
Theo khoản 2 Điều 2 Luật Khiếu nại, Tố cáo năm 1998 và Điều 2 Luật
tố cáo năm 2011 quy định:
Trang 16Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
Các hành vi vi phạm bị tố cáo gồm: Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực
Một số công trình nghiên cứu cho rằng:
Tố cáo là việc công dân phát hiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc làm trái pháp luật của các cơ quan nhà nước,
tổ chức hoặc cá nhân đã gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân [22, tr.200]
Một số nhà nghiên cứu nêu khái niệm tố cáo trên phạm vi rộng hơn
như: “Tố cáo là việc một người báo cho cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có
thẩm quyền về một hành vi sai trái của một cá nhân hoặc một tổ chức nào đó
để cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét, giải quyết” [19, tr.64]
Những quan niệm này phần nào chưa phù hợp với quy định của Hiến pháp 2013 về chủ thể, quyền tố cáo và phạm vi tố cáo
- Về phương diện xã hội:
Tố cáo không chỉ được điều chỉnh bằng pháp luật mà tố cáo còn được điều chỉnh bằng các quy phạm xã hội khác như: tố cáo trong các tổ chức xã hội được điều chỉnh bằng các Điều lệ, quy chế của tổ chức xã hội đó hoặc các quy phạm xã hội khác Có thể nói, trên phương diện xã hội, tố cáo hướng đến bất kỳ sự vi phạm xã hội nào
- Về phương diện tổ chức và quan hệ lao động:
Trang 17Tổ chức Lao động Quốc tế (The International Labour organization) cho rằng: “Tố cáo” là việc người lao động hoặc người đã từng làm việc báo cáo về việc làm bất hợp pháp, trái quy tắc, nguy hiểm hoặc vô đạo đức của chủ sử dụng lao động
Phòng Thương mại Quốc tế (The International Chamber of Commerce) cho rằng: “Tố cáo” là công cụ chủ yếu quản lý rủi ro nội bộ, là nguồn thông tin có giá trị từ lực lượng lao động của doanh nghiệp có thể sử dụng để phát hiện và ngăn chặn những hành vi phi pháp trong các doanh nghiệp
Như vậy, tại các tổ chức lao động hoặc trong các quan hệ lao động, chỉ
đề cập đến chủ thể tố cáo là thành viên tổ chức hoặc trong nội bộ tổ chức với người chủ sử dụng lao động
Hiện nay, trên thế giới chưa có khái niệm cụ thể về tố cáo, mà chỉ có quan niệm về tố cáo theo từng lĩnh vực, từng phạm vi cụ thể được điều chỉnh bởi các quan hệ trong nội bộ và không có quy định cụ thể đối với từng hành vi tố cáo
Như vậy, có thể định nghĩa khái niệm “tố cáo hành chính” hay còn gọi
là tố cáo trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước như sau: “Tố cáo hành
chính” là việc công dân báo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
Hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo bao gồm: Tố cáo hành vi vi phạm của cán bộ, công chức, viên chức khi thực hiện nhiệm vụ công vụ, là việc công dân báo cho cơ quan,tổ chức, cá nhân, tổ chức có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực là việc công dân báo
Trang 18cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đối với việc chấp hành các quy định pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đó
1.1.1.2 Khái niệm quyền tố cáo
Quyền là những việc mà một người được làm mà không bị ai ngăn cản,
hạn chế, bao gồm: Quyền đương nhiên (như quyền làm người, quyền được
sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc) và quyền do luật pháp cho
phép làm hoặc luật pháp không cấm làm
Quyền tố cáo là một trong những quyền cơ bản, tự nhiên của con người, của công dân trước những vấn đề bị vi phạm để tự bảo vệ mình Nói cách khác, bản chất của quyền tố cáo là quyền tự vệ hợp pháp trước những hành vi vi phạm pháp luật để tự bảo vệ mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích của xã hội Đó là quyền hiến định, quyền phản hồi, quyền dân chủ, đó là quyền để bảo vệ quyền Có thể nói, tố cáo là một hiện tượng khách quan trong đời sống xã hội
Ở nước ta coi tố cáo là quyền hiến định, quyền dân chủ, được thể hiện như một phương thức quyền để bảo vệ quyền và được ghi nhận trong Hiến
pháp qua các thời kỳ Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền khiếu
nại, tố cáo với những cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [16, Điều 30] Trên cơ sở
đó, quyền tố cáo của công dân đã được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật như: Luật Tố cáo, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Hình sự… Đây là cơ
sở pháp lý cần thiết để công dân thực hiện tốt quyền làm chủ và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước, qua đó phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
“Quyền tố cáo” là khả năng của công dân thực hiện các hành vi (thể
Trang 19hiện qua nhiều hình thức khác nhau) phát hiện và thông báo cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền về mọi việc làm vi phạm pháp luật [17, tr.30]
Quyền tố cáo phát sinh khi công dân biết hoặc phát hiện hành vi sai trái, vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết Người tố cáo thực hiện quyền tố cáo của mình chính là để phát hiện cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
về những hành vi trái pháp luật, thể hiện trách nhiệm của công dân vì lợi ích chung, lợi ích cộng đồng
Thông qua tố cáo, công dân đã giúp cơ quan quản lý hành chính nhà nước phát hiện nhiều hành vi tiêu cực, tham nhũng, vi phạm pháp luật, thậm chí cả tội phạm, để có biện pháp xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với những người vi phạm, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân
Luật Tố cáo quy định người tố cáo có quyền: Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, được giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của mình; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thông báo về việc thụ
lý giải quyết tố cáo, tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết, yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trả thù, trù dập, được khen thưởng theo quy định của pháp luật
Bên cạnh những quyền trên, người tố cáo có các nghĩa vụ: Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình; trình bày trung thực về nội dung tố cáo, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được, chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình, bồi thường thiệt hại do hành vi
cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra (Điều 9 Luật Tố cáo 2011)
Trang 201.1.1.3 Khái niệm giải quyết tố cáo hành chính
Giải quyết tố cáo hành chính là việc kiểm tra, xác minh, kết luận tính đúng đắn, hợp pháp của hành vi bị tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan quản lý hành chính nhà nước để có biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức
Giải quyết tố cáo đã được đề cập đến trong nhiều văn bản pháp luật nhưng trước đây mới chỉ đề cập đến việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung Theo khoản 7 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011 “giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo”
- Nội dung hoạt động giải quyết tố cáo hành chính gồm các công việc sau:
+ Tiếp nhận đơn tố cáo và thụ lý tố cáo: Cơ quan quản lý hành chính
nhà nước khi nhận được đơn có trách nhiệm phân loại và xử lý theo quy định pháp luật Khi nhận được đơn tố cáo thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo phải kiểm tra, xác minh họ, tên, địa chỉ của người tố cáo và quyết định việc thụ lý hoặc không thụ lý giải quyết Trong quá trình tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo nếu xét thấy hành vi bị tố cáo có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan, tổ chức nhận được tố cáo có trách nhiệm chuyển hồ sơ, tài liệu và những thông tin về vụ việc tố cáo đó cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật.Trường hợp hành vi bị tố cáo gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, của tập thể, tính mạng, tài sản của công dân thì
cơ quan, tổ chức nhận được tố cáo phải áp dụng biện pháp cần thiết theo thẩm quyền hoặc báo ngay cho cơ quan công an, cơ quan khác có trách nhiệm ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm
Trang 21+ Xác minh nội dung tố cáo:
Xác minh nội dung tố cáo là một khâu rất quan trọng trong toàn bộ quá trình giải quyết tố cáo Xác minh tố cáo là việc cơ quan, tổ chức, các nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo phải tiến hành các biện pháp cần thiết để thu thập thông tin, tài liệu, làm rõ nội dung tố cáo
+ Kết luận tố cáo:
Kết luận tố cáo là một thủ tục rất quan trọng trong quá trình giải quyết tố cáo Kết luận nội dung tố cáo là văn bản quan trọng nhất của giải quyết tố cáo, phản ánh toàn bộ kết quả của việc giải quyết vụ việc tố cáo, là đánh giá của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với nội dung tố cáo, xác định việc tố cáo đó đúng, đúng một phần hay sai toàn bộ, xác định trách nhiệm của từng cá nhân,
từ đó có các biện pháp xử lý nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm
+ Xử lý tố cáo:
Việc xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo của người giải quyết tố cáo là khâu cuối cùng, quan trọng nhất trong quá trình xem xét, giải quyết tố cáo Căn cứ vào kết quả xác minh, kết luận về nội dung tố cáo, người giải quyết tố cáo đưa ra các quyết định, xử lý thích hợp Việc xử lý khách quan, đúng pháp luật sẽ góp phần phòng ngừa, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật, đồng thời khuyến khích, động viên mọi người đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật trong xã hội
1.1.2 Pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính
Trang 22Xuất phát từ bản chất của tố cáo, pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính là hệ thống các quy định do nhà nước ban hành liên quan tới quyền tố cáo của công dân đối với hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; quy định
về thẩm quyền giải quyết tố cáo, trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo nhằm đảm bảo việc giải quyết tố cáo có hiệu quả Pháp luật về tố cáo còn là những quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động giải quyết tố cáo và việc quản lý công tác giải quyết tố cáo của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền [1, tr.17-18]
Theo nghĩa hẹp thì pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
là hệ thống các quy định pháp luật về thủ tục thực hiện quyền tố cáo; thẩm quyền, thủ tục giải quyết tố cáo và việc xử lý các vi phạm quy định pháp luật
về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
Có thể nói, pháp luật tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính là tổng hợp các quy tắc xử sự chung có tính bắt buộc do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh việc tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân và việc giải quyết tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được đảm bảo bằng cưỡng chế nhà nước
Như vậy, pháp luật tố cáo và giải quyết tố cáo có phạm vi rất rộng, bao trùm lên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, nên việc giải quyết tố cáo được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau Vì vây, luận văn chỉ tập trung đi sâu vào nghiên cứu việc thực hiện pháp các quy định pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính theo nghĩa hẹp
và trong phạm vi quy định của Luật tố cáo năm 2011 và Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều thi hành của Luật tố cáo
Trang 231.1.2.2 Đặc điểm pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính
Pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính có những đặc điểm sau:
Một là, pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính là quy định về trình
tự, thủ tục giải quyết tố cáo hành chính, là quá trình làm rõ có hành vi vi phạm pháp luật hay không và việc xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật đó
Hai là, pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính là việc kịp thời phát
hiện các hành vi vi phạm pháp luật nhằm đảm bảo các quyền cơ bản, vốn có của công dân, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của công dân, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật
Ba là, pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính quy định chủ thể giải
quyết tố cáo hành chính là Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước
Đặc điểm này của pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính khác với giải quyết khiếu nại hành chính Đối với giải quyết khiếu nại hành chính, trường hợp khiếu nại lần đầu thì chính người ban hành Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại là chủ thể giải quyết Còn đối với pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính, chủ thể giải quyết luôn là người đứng đầu cơ quan, tổ chức: cấp trên giải quyết các tố cáo về các hành vi vi phạm của cấp dưới, Thủ trưởng giải quyết tố cáo về các hành vi vi phạm của nhân viên Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm giải quyết các nội dung tố cáo thuộc thẩm quyền; trong trường hợp cần thiết thì giao cho cơ quan thanh tra hoặc cơ quan có thẩm quyền khác tiến hành thẩm tra, xác minh, kết luận và kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo
1.1.2.3 Vai trò của pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính
Pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính giữ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội, cụ thể:
- Pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, công dân cũng như lợi ích của Nhà nước
Trang 24Mối quan hệ giữa nhà nước và công dân được xác lập trên cơ sở tôn trọng lợi ích giữa các bên Pháp luật không chỉ quy định địa vị pháp lý của công dân mà còn buộc các cơ quan quản lý nhà nước phải tôn trọng và đưa
ra các đảm bảo thực tế cho các quyền ấy, tránh mọi nguy cơ xâm hại từ phía các cơ quan nhà nước Nhà nước có trách nhiệm và khả năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trên cơ sở các quy định của pháp luật Tố cáo xuất hiện như một hiện tượng tất yếu của xã hội có giai cấp, có nhà nước, do các hành vi vi phạm pháp luật gây ra Trên cơ sở các quy định của pháp luật, các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét hành vi trái pháp luật Vì vậy, pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm lợi ích của nhà nước cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
- Pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính bảo đảm phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Nhân dân với tư cách là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước dưới nhiều hình thức khác nhau Thông qua việc tố cáo và giải quyết tố cáo, nhân dân gián tiếp giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và của cán bộ công chức làm việc tại các cơ quan quản lý hành
Trang 25- Pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính là phương thức tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Pháp chế là một phạm trù thể hiện những yêu cầu và sự đòi hỏi đối với các chủ thể pháp luật phải tôn trọng và triệt để thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội
Hành vi tố cáo thể hiện trách nhiệm của công dân trước các hành vi vi phạm pháp luật diễn ra trong xã hội Thông qua thực hiện quyền tố cáo và giải quyết tố cáo nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị xâm hại Đồng thời giúp cho hoạt động quản lý, điều hành của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước có hiệu quả góp phần tăng cường pháp chế
Bước 1 Chuẩn bị giải quyết tố cáo
- Thụ lý tố cáo và ban hành quyết định xác minh tố cáo
Đối với tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết thì trong thời hạn 10 ngày phải kiểm tra, xác minh họ, tên, địa chỉ của người tố cáo và quyết định việc thụ lý hoặc không thụ lý; trường hợp phải kiểm tra xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn có thể dài hơn nhưng không quá 15 ngày Đồng thời thông báo bằng văn bản cho người tố cáo về thời điểm thụ lý tố cáo và các nội dung
tố cáo được thụ lý
Trang 26Sau khi thụ lý tố cáo, người giải quyết tố cáo phải ban hành quyết định xác minh tố cáo, thành lập tổ xác minh tố cáo trong đó giao cho một người làm tổ trưởng tổ xác minh hoặc trưởng đoàn xác minh Trong trường hợp cần thiết, người giải quyết tố cáo giao nhiệm vụ cho Thủ trưởng cơ quan Thanh tra Nhà nước hoặc Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc quyền quản lý trực tiếp của mình ban hành quyết định xác minh tố cáo, kết luận kiến nghị biện pháp
xử lý tố cáo Quyết định này là căn cứ pháp lý để tiến hành giải quyết công việc, nâng cao trách nhiệm của người được giao nhiệm vụ trước thủ trưởng đơn vị và trước pháp luật
- Lập hồ sơ, xây dựng kế hoạch xác minh
Trưởng đoàn xác minh có trách nhiệm lập hồ sơ giải quyết tố cáo ngay sau khi nhận được quyết định xác minh tố cáo, đồng thời tổ chức quản lý, bàn giao hồ sơ theo quy định
Trưởng đoàn xác minh có trách nhiệm xây dựng kế hoạch xác minh Để xây dựng kế hoạch xác minh, Trưởng đoàn xác minh và các thành viên trong đoàn phải tiến hành nghiên cứu sơ bộ nội dung vụ việc tố cáo trên cơ sở nghiên cứu đơn và các tài liệu, bằng chứng mà người tố cáo cung cấp, có thể liên hệ với người tố cáo để tìm hiểu thêm sự việc (nhưng phải đảm bảo nguyên tắc giữ bí mật cho người tố cáo) Trong trường hợp cần thiết, đoàn xác minh có thể nghiên cứu tại nơi xảy ra vụ việc
Trong quá trình xác minh, Trưởng đoàn xác minh đồng thời chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Người ra quyết định xác minh, trường hợp Thủ trưởng đơn
vị chủ trì xác minh có sự chỉ đạo mâu thuẫn thì Trưởng đoàn xác minh thực hiện theo sự chỉ đạo của người ra quyết định xác minh đồng thời báo cáo Thủ trưởng đơn vị chủ trì xác minh biết sự việc đó
Bước 2 Tiến hành xác minh nội dung tố cáo
Tiến hành xác minh tố cáo bắt đầu bằng việc giao quyết định xác minh
tố cáo cho người bị tố cáo
Trang 27Trưởng đoàn xác minh có trách nhiệm giao quyết định xác minh tố cáo cho người bị tố cáo chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày quyết định xác minh tố cáo được ban hành Trường hợp người bị tố cáo là cơ quan, tổ chức thì giao quyết định xác minh cho người đứng đầu hoặc người đại diện hợp pháp của
cơ quan, tổ chức đó
Sau khi giao quyết định xác minh tố cáo cho người bị tố cáo việc tiến hành xác minh tố cáo được bắt đầu Đoàn xác minh tiến hành các biện pháp nghiệp vụ để thu thập bằng chứng, tài liệu liên quan để làm rõ nội dung tố cáo
- Làm việc trực tiếp với người bị tố cáo
Người xác minh tố cáo phải làm việc trực tiếp với người bị tố cáo trên
cơ sở nghiên cứu phân tích hồ sơ đã có, yêu cầu người bị tố cáo giải trình bằng văn bản về những nội dung bị tố cáo và cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng liên quan đến nội dung tố cáo, nội dung giải trình
Nếu người bị tố cáo giải trình không rõ và bằng chứng, thông tin, tài liệu do người bị tố cáo cung cấp chưa rõ hoặc chưa đầy đủ nội dung theo yêu cầu của người xác minh tố cáo thì yêu cầu người bị tố cáo tiếp tục giải trình bằng văn bản, cung cấp thêm thông tin tài liệu, bằng chứng hoặc làm việc trực tiếp để yêu cầu người bị tố cáo giải thích cụ thể những vấn đề còn chưa rõ
- Làm việc trực tiếp với người tố cáo
Người xác minh tố cáo phải làm việc trực tiếp với người tố cáo để làm
rõ những nội dung tố cáo, yêu cầu họ cung cấp thêm tài liệu, bằng chứng liên quan đến nội dung tố cáo, khi làm việc phải lập thành biên bản, có chữ ký của người tố cáo, người xác minh tố cáo Biên bản được lưu trong hồ sơ vụ việc
Trường hợp không thể làm việc trực tiếp với người tố cáo vì lý do khách quan hoặc theo yêu cầu của người tố cáo để bảo vệ người tố cáo thì Người ra quyết định xác minh tố cáo phải có văn bản yêu cầu người tố cáo cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng liên quan đến nội dung tố cáo
Trang 28- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng liên quan đến nội dung tố cáo
Việc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng liên quan đến nội dung tố cáo, thực hiện bằng văn bản của người ra quyết định xác minh tố cáo
Trường hợp cần thiết, người ra quyết định xác minh tố cáo có văn bản hoặc giấy giới thiệu cử người xác minh tố cáo đến làm việc với cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan để trực tiếp yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng liên quan đến nội dung tố cáo
- Thu thập, xử lý thông tin, tài liệu, bằng chứng liên quan đến vụ việc tố cáo
Người được giao nhiệm vụ xác minh tố cáo phải nghiên cứu thu thập thông tin, tài liệu, bằng chứng liên quan đến nội dung tố cáo và theo yêu cầu của việc giải quyết tố cáo Các tài liệu thu thập phải thể hiện rõ nguồn tài liệu Nếu không thu thập bản chính thì khi thu thập bản sao, người tiếp nhận tài liệu phải đối chiếu với bản chính Trường hợp không có bản chính để đối chiếu phải ghi rõ trong biên nhận tài liệu
Người xác minh tố cáo phải đánh giá, nhận định về giá trị chứng minh của những thông tin tài liệu, bằng chứng đã thu thập được trên cơ sở tuân thủ những nguyên tắc trong giải quyết tố cáo Các thông tin tài liệu, bằng chứng thu thập được phải sử dụng đúng quy định của pháp luật, quản lý chặt chẽ, chỉ được cung cấp hoặc công bố khi người có thẩm quyền cho phép
- Xác minh thực tế
Căn cứ kế hoạch xác minh, hồ sơ, tình tiết vụ việc hoặc chỉ đạo của Người ra quyết định xác minh tố cáo, Trưởng đoàn xác minh tổ chức việc xác minh thực tế ở những địa điểm cần thiết để thu thập, kiểm tra xác định tính chính xác, hợp pháp của tài liệu, bằng chứng liên quan đến nội dung vụ việc Việc xác minh thực tế phải lập thành biên bản ghi đầy đủ kết quả xác minh, ý
Trang 29kiến của những người tham gia xác minh, những người khác có liên quan và được lưu trong hồ sơ
- Trưng cầu giám định
Trường hợp người giải quyết tố cáo, Người ra quyết định xác minh tố cáo, người xác minh tố cáo không có đủ điều kiện để kết luận mức độ thiệt hại
do hành vi vi phạm pháp luật gây ra, tính hợp pháp, chính xác của những tài liệu, bằng chứng do người tố cáo, người bị tố cáo, cơ quan tổ chức cá nhân có liên quan cung cấp hoặc các tài liệu bằng chứng khác có ảnh hưởng đến việc kết luận, giải quyết tố cáo thì phải trưng cầu cơ quan có thẩm quyền giám định về những nội dung đó theo yêu cầu của pháp luật
- Gia hạn thời gian xác minh tố cáo
Trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn giải quyết một lần nhưng không quá 30 ngày, đối với vụ việc phức tạp thì không quá 60 ngày
- Báo cáo kết quả xác minh tố cáo
Trưởng đoàn xác minh phải báo cáo bằng văn bản về kết quả xác minh
tố cáo với người ra quyết định xác minh tố cáo, văn bản báo cáo phải được các thành viên trong đoàn xác minh thảo luận, đóng góp ý kiến
Trường hợp có nhiều nội dung và qua xác minh phát hiện có nội dung
có dấu hiệu phạm tội thì Đoàn xác minh tách riêng nội dung đó, báo cáo ngay với người ra quyết định xác minh để xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử
lý kịp thời theo quy định của pháp luật
- Tham khảo ý kiến tư vấn để kết luận nội dung tố cáo
Đối với vụ việc phức tạp, khi xét thấy cần thiết, Người ra quyết định xác minh tố cáo tổ chức tham khảo ý kiến tư vấn của các cơ quan chuyên môn, cơ quan quản lý cấp trên hoặc các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trước khi kết luận nội dung tố cáo
Trang 30Bước 3 Kết thúc giải quyết tố cáo
- Dự thảo kết luận nội dung tố cáo
Trên cơ sở báo cáo kết quả xác minh, Người ra quyết định xác minh chỉ đạo việc xây dựng dự thảo kết luận nội dung tố cáo
Trước khi ban hành kết luận nội dung tố cáo, người ra quyết định xác minh tố cáo phải thông báo dự thảo kết luận nội dung tố cáo với người bị tố cáo Trường hợp cần thiết thì tổ chức thông báo dự thảo kết luận với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
Nếu người bị tố cáo chưa thống nhất với kết luận thì yêu cầu người bị
tố cáo cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ để làm rõ và đi đến thống nhất, nếu họ không cung cấp thêm tài liệu, bằng chứng thì lập biên bản lưu hồ sơ và có thể
tổ chức thẩm tra, xác minh thêm (nếu thấy cần thiết)
Việc thông báo dự thảo phải lập biên bản, ghi nhận đầy đủ ý kiến của những người được thông báo dự thảo kết luận, có chữ ký của người chủ trì thông báo và những người được thông báo
- Ban hành kết luận nội dung tố cáo
Kết luận tố cáo là nội dung quan trọng, quyết định hiệu quả của quá trình giải quyết tố cáo, vì vậy kết luận phải chính xác, viện dẫn các quy định của pháp luật đầy đủ, có căn cứ Kết luận nội dung tố cáo phản ánh toàn bộ kết quả giải quyết tố cáo, là đánh giá của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với nội dung tố cáo, xác định việc tố cáo đó đúng, đúng một phần, sai một phần hoặc sai toàn bộ, xác định trách nhiệm của từng cá nhân, từ đó có biện pháp xử lý nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm
- Xử lý tố cáo
Sau khi có kết luận về nội dung tố cáo, người giải quyết tố cáo phải căn cứ kết quả xác minh, kết luận nội dung tố cáo để xử lý hành vi vi phạm
bị tố cáo
Trang 31- Thông báo về kết luận và xử lý tố cáo
Sau khi xử lý tố cáo, người giải quyết tố cáo phải thông báo nội dung kết luận và quyết định xử lý tố cáo cho người bị tố cáo và cơ quan quản lý người bị tố cáo
1.2 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính qua Hiến pháp và pháp luật Việt Nam
1.2.1 Pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính thời kỳ phong kiến
Thời kỳ phong kiến, các vị minh quân đã có tư tưởng lấy dân làm gốc, coi đây là chiến lược chính trị, quan trọng, tạo điều kiện để nhân dân được nói
lên tâm tư, nguyện vọng của mình với triều đình
Năm 1158 vua Lý Anh Tông (1137-1175) “nhà vua ra lệnh cho đặt cái
hòm ở giữa sân để ai muốn trình bày việc gì thi bỏ thư vào hòm ấy” [12, tr.22]
Thời nhà Trần có thêm ngự sử đài – một cơ quan chuyên trách có nhiệm vụ:
Đàn hặc các quan, nói bàn về chính sự hiện thời, phàm các quan làm trái phép, chính sự hiện thời có thiếu sót đều được xét hoặc trình bày, cũng là xét bàn về thành tích của các nha môn, đề lĩnh, phủ doãn, trần thủ, thừa ty và xét hỏi các vụ kiện về người quyền quy ở kinh ức hiếp, về người cai quản hà lạm [2, tr.357] Thời Trịnh – Lê cơ quan ngự sử đài – có nhiệm vụ là tai mắt của nhà
nước, chấp hành kỷ cương và làm gương về việc can gián “Phàm các hàng tể
tướng và võ tướng có điều lầm lỗi, bách quan có điều trái phép và chính sự có điều thiếu sót thì trình bày, tâu hặc” [9, tr.129]
Dưới triều đại phong kiến, đã có những tư tưởng về bảo vệ quyền lợi nhân dân của các triều đại và đã được khái quát thành các bộ luật có quy mô tương đối lớn như: Bộ luật hình thư (ban hành năm 1024, Bộ Quốc Triều hình luật thời Trần ban hành năm 1341, Bộ luật Hồng Đức thời Lê ban hành năm
Trang 321483, Bộ luật Gia Long thời Nguyễn ban hành năm 1815 Ngoài ra Bộ luật Khám tụng điều lệ ban hành vào thời Hậu Lê năm 1777 có nhiều điều, khoản quy định giải quyết các kiện tụng của nhân dân
Thời kỳ phong kiến đã manh nha xuất hiện tư tưởng khiếu kiện, tố cáo tuy nhiên thời kỳ này vẫn ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng nho giáo nên pháp luật dù phát triển nhưng vẫn còn chứa đựng những quan niệm không công bằng hoặc chỉ nhằm bảo vệ chế độ phong kiến đương thời
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1946 đến trước khi Hiến pháp năm 1980 được ban hành
Cách mạng tháng tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, bản Hiến pháp đầu tiên ra đời, ghi nhận: tất cả quyền bính trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều của toàn thể nhân dân Việt Nam
Với tinh thần nhân văn, nhân ái, thấm nhuần quan điểm về quyền con người, quyền dân chủ, quyền hạnh phúc của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã rất quan tâm đến các quyền của công dân trong đó có quyền được xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo
Ngày 23 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 64/SL thành lập ban thanh tra đặc biệt Một trong những nhiệm vụ của Ban Thanh tra đặc biệt là giám sát công việc thực tế ở các cấp chính quyền Ban Thanh tra đặc biệt có toàn quyền: Nhận các đơn khiếu nại của nhân dân; điều tra, hỏi chứng, xem xét các giấy tờ của Ủy ban nhân dân hoặc các cơ quan của Chính Phủ cần thiết cho công việc giám sát (Điều 2 của Sắc lệnh số 64/SL)
Cuối năm 1949, cục diện đất nước có nhiều thay đổi đòi hỏi phải đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra Nhận thấy Ban Thanh tra đặc biệt không còn phù hợp với giai đoạn lịch sử này nữa, Chính Phủ quyết định thành lập một Ban Thanh tra mới để thống nhất hoạt động thanh tra trong cả nước Ngày 18/12/1949 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 138b-SL lập Ban
Trang 33Thanh tra Chính phủ trực thuộc Phủ Thủ tướng Trong Sắc lệnh này, một trong những nhiệm vụ quan trọng được giao cho Thanh tra Chính Phủ là
“Thanh tra các sự khiếu nại của nhân dân” Những quy định này thể hiện sự
quan tâm của nhà nước và Chính Phủ với việc giải quyết khiếu tố của công dân Về cơ bản chức năng, nhiệm vụ của Ban Thanh tra của Chính Phủ giống với Ban Thanh tra đặc biệt Nội dung công việc thanh tra bao gồm cả chức năng xét khiếu tố của nhân dân [18, tr.32]
Ngoài ra, Nhà nước ban hành nhiều văn bản nhằm tạo ra cơ chế đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và tạo điều kiện thuận lợi để giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân Trong Thông tư số 203NV/VP
ngày 25/5/1946 của Bộ trưởng Bội Nội vụ về khiếu tố nói rõ: “Chính phủ và
các cơ quan của Chính phủ thiết lập trên nền tảng dân chủ, có bổn phận đảm bảo công lý và vì thế rất để ý đến nguyện vọng của dân chúng và sẵn lòng xem xét những nỗi oan khuất trong dân gian” Thông tư này hướng dẫn
cho công dân thủ tục gửi đơn, giới thiệu thẩm quyền của các cơ quan, thời hạn để giải quyết khiếu tố
Năm 1954, đất nước chia cắt thành hai miền Miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng, chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa; Miền Nam tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân Từ yêu cầu thực tiễn của việc quản lý nhà nước và thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 28/3/1956, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra sắc lệnh số 26/SL thành lập Ban Thanh tra Trung ương của Chính phủ (sau này gọi là Ủy ban Thanh tra của Chính phủ (ngày 29/9/1961)) Theo Nghị định số 762/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 01/4/1956 quy định về công tác và lề lối làm
việc của Ban Thanh tra Trung ương của Chính phủ thì “Ban Thanh tra Trung
ương của Chính phủ thường xuyên tiến hành công tác thanh tra căn cứ vào sắc lệnh quy định và theo các đơn thư khiếu nại tố cáo của nhân dân đối với cơ
Trang 34quan, cán bộ, công nhân viên của Chính phủ” [18, tr.32] Ngày 26/12/1956,
Thủ tướng Chính Phủ ban hành Nghị định số 1194/TTg thành lập Ban Thanh tra ở các liên khu, khu, thành phố và tỉnh Một trong những nhiệm vụ của Ban Thanh tra các địa phương là tiếp nhận và xem xét đơn thư khiếu nại tố cáo của nhân dân và của cán bộ, nhân viên
Thông tư số 436/TTg ngày 13/9/1958 của Thủ tướng Chính phủ quy định trách nhiệm, quyền hạn và tổ chức của cơ quan chính quyền trong việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo (gọi tắt là khiếu tố) của nhân dân
Ngày 01/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố Hiến pháp mới của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hiến pháp đã dành riêng một điều (Điều 29) quy định về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải xem xét giải quyết kịp thời, nhanh chóng các khiếu nại tố cáo, bảo vệ quyền lợi cho người dân Việc Hiến pháp năm 1959 quy định và thừa nhận quyền khiếu nại, tố cáo (KNTC) của công dân là một bước phát triển quan trọng trong các quyền của công dân
Tiếp đó, Chính phủ đã có nhiều văn bản nhằm cụ thể hóa Hiến pháp, bảo đảm cho công dân thực hiện được quyền khiếu nại, tố cáo mà Hiến pháp
đã ghi nhận, đồng thời quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân
Nghị quyết số 164/CP ngày 31/8/1970 của Hội đồng Chính phủ về việc tăng cường công tác thanh tra và chấn chỉnh hệ thống cơ quan Thanh tra của Nhà nước và Nghị định số 165/CP ngày 31/8/1970 của Hội đồng Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Thanh tra của Chính phủ Nghị quyết số 164/CP nêu rõ: Xét, giải quyết và đôn đốc việc xét, giải quyết đúng đắn, kịp thời các vụ KNTC của nhân dân… đối với cán bộ công dân viên chức nhà nước, xã viên hợp tác xã và nhân dân nói chung cần đảm bảo quyền KNTC của công dân, không được làm bất kỳ việc gì gây trở ngại cho việc
Trang 35thực hiện quyền ấy Thủ trưởng các cơ quan nhà nước phải hết sức coi trọng xét, giải quyết nhanh chóng, hợp tình, hợp lý đơn từ của nhân dân
Để việc xét, giải quyết đơn khiếu tố được nhanh chóng, nghiêm chỉnh
và đi vào nề nếp, ngày 22/5/1971 Ủy ban Thanh tra của Chính phủ ban hành Thông tư số 60/UBTT hướng dẫn trách nhiệm của các ngành, các cấp về giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân (trong đó lần đầu tiên có sự phân biệt giữa khiếu nại và tố cáo cũng như cách xử lý đối với từng loại đơn) [8, tr.118]
Ngày 29/3/1973, Ủy ban Thanh tra của Chính phủ ban hành Thông tư
số 67-UBTTr/XKT hướng dẫn việc xét, giải quyết đơn KNTC ở cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương và Thông tư số 68-UBTTr/XKT hướng dẫn việc xét, giải quyết đơn thư KNTC ở cấp huyện Nội dung chủ yếu tập trung hướng dẫn việc nghiên cứu, xử lý đơn và xem xét, giải quyết đơn thư khiếu tố của nhân dân
Giai đoạn này, tố cáo lần đầu tiên được ghi nhận là một trong những quyền cơ bản của công dân, đó là cơ sở pháp lý để công dân thực hiện quyền
tố cáo và còn có ý nghĩa về mặt chính trị, xã hội, thể hiện vai trò của tố cáo trong hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội
1.2.3 Giai đoạn từ năm 1980 đến trước khi Luật Tố cáo năm 2011 được ban hành
Sau khi thống nhất đất nước, Nhà nước đã ban hành Hiến pháp năm
1980 Lúc này quyền khiếu nại, tố cáo của công dân được ghi nhận trong Điều
73 Hiến pháp năm 1980 cụ thể, chi tiết hơn so với Hiến pháp năm 1959
Ngày 27/11/1981, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh quy định việc xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân Đây là văn bản pháp lý đầu tiên quy định một cách tập trung, đầy đủ, chi tiết về việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân
Trang 36Ngày 29/3/1982 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 58/HĐBT
về việc thi hành Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các KNTC của công dân Ngày 04/5/1982, Ủy ban Thanh tra của Chính phủ đã ban hành Thông tư số 02/TT-TTr hướng dẫn thi hành Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các KNTC của công dân và Nghị định số 58/HĐBT của Hội đồng
Sau hơn 10 năm thực hiện pháp lệnh quy định về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, Nhà nước ta quyết định ban hành Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991 thay thế Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các KNTC năm 1981 Ngày 28/2/1992, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 38/HĐBT về việc thi hành Pháp lệnh KNTC của công dân Pháp lệnh KNTC năm 1991 ra đời nhằm đổi mới công tác giải quyết KNTC, xác định rõ quyền lợi, nghĩa vụ của người KNTC, trình tự và thẩm quyền của các cấp trong việc xem xét, giải quyết KNTC của công dân Tuy nhiên, những quy định về trình tự, thủ tục chưa phù hợp với thực tế, quá trình thực hiện còn nhiều bất cập Vì vậy, Nhà nước ta nhận thấy cần thiết lập cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính bằng con đường tài phán
Năm 1992, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Hiến pháp mới, thay thế Hiến pháp năm 1980 Theo quy định của Hiến
Trang 37pháp năm 1992, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục khẳng định và hoàn thiện về quyền gắn liền với trách nhiệm, xem xét, giải quyết khiếu nại khách quan, đảm bảo đúng pháp luật Đây là cơ sở nhằm đảm bảo quyền tự do, dân chủ
củ nhân dân
Nhằm tạo cơ sở pháp lý trong giải quyết KNTC, ngày 02/12/1998, Luật KNTC được ban hành, thay thế pháp lệnh KNTC năm 1991 Đây là văn bản mang tính pháp lý cao nhất từ trước đến nay về KNTC của công dân, nhằm đáp ứng tinh hình thực tiễn về giải quyết KNTC trong quá trình xây dựng phát triển kinh tế đất nước mà Đại hội Đảng lần thứ IX đã đề ra
Ngày 07/8/1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 67/1999/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật KNTC; Nghị định số 62/2002/NĐ-CP ngày 14/6/2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 67/1999/NĐ-CP Tiếp đó, Luật Khiếu nại, tố cáo đã được sửa đổi hai lần vào năm 2004 và 2005 Sau mỗi lần sửa đổi, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 53/2005/NĐ-CP ngày 19/4/2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật KNTC và Luật sửa đổi, bổ sung một một số điều của Luật KNTC năm 2005; Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật KNTC và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật KNTC
1.2.4 Giai đoạn từ năm 2011 đến nay
Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2004, 2005) góp phần tạo khung pháp lý quan trọng để công dân thực hiện quyền làm chủ, tích cực đấu tranh phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực Tăng cường trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong giải quyết tố cáo, góp phần phát huy dân chủ, bảo vệ nhân dân.Tuy nhiên, những điểm sửa đổi, bổ sung chỉ là những điểm không cơ bản, giải quyết kịp thời một số vấn đề nảy sinh trong thực tiễn nên trong quá
Trang 38trình thực hiện còn nhiều bất cập, hạn chế đòi hỏi phải có sự tách biệt rõ ràng giữa khiếu nại và tố cáo
Ngày 11/11/2011, Quốc hội đã thông qua Luật Tố cáo Để cụ thể hóa quy định của Luật Tố cáo, ngày 03/10/2012 Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 76/2012/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tố cáo
Luật Tố cáo năm 2011 và Nghị định số 76/2012/NĐ-CP của Chính phủ
là văn bản pháp lý quan trọng về tố cáo, là sự tách biệt rõ ràng giữa tố cáo và khiếu nại, tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền tố cáo, xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc giải quyết tố cáo, quy định trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo, cơ chế bảo vệ người tố cáo
1.3 Pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.3.1 Pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính của một số quốc gia trên thế giới
Hiện nay trên thế giới chưa có khái niệm thống nhất về tố cáo và người tố cáo Tố cáo và người tố cáo được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào sự đánh giá về vai trò của tố cáo trong xã hội Một
số quốc gia trên thế giới coi tố cáo là một hành động thể hiện sự tự do ngôn luận cá nhân, một cơ chế giải quyết tranh chấp nội bộ, nhấn mạnh việc tiết lộ các hành vi bất hợp pháp, vô đạo đức, quản lý yếu kém tại nơi làm việc hoặc trong nội bộ tổ chức
- Về người tố cáo
Pháp luật các quốc gia có những định nghĩa khác nhau về người tố cáo
Theo Luật Bảo vệ người tố cáo vì lợi ích công của Hàn Quốc thì “người tố
cáo là người đã thực hiện hành vi tố cáo vì lợi ích công” (khoản 4, Điều 2)
Luật Bảo vệ người tố cáo Nhật Bản “người tố cáo được sử dụng trong luật
này nghĩa là một người lao động đã tố cáo” Luật bảo vệ người tố cáo một số
Trang 39quốc gia không có khái niệm cụ thể về người tố cáo, nhưng thông qua các điều khoản trong luật có thể hiểu người tố cáo là người lao động đã thực hiện việc tiết lộ các thông tin tới người sử dụng lao động, nhà quản lý hoặc cơ quan thực thi pháp luật hay công chúng về một trong các hành vi được liệt kê chi tiết, cụ thể trong luật (như luật của Mỹ, Anh) [7, tr.47]
- Về tiếp nhận đơn thư tố cáo
Đây là một nội dung quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giải quyết tố cáo Mỗi quốc gia thiết lập khung pháp lý quy định riêng đối với việc tiếp nhận, xử lý đơn thư tố cáo
Pháp luật Sigapore quy định cụ thể các hình thức tố cáo nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền các hành vi vi phạm pháp luật, người dân có thể gửi đơn tố cáo bằng văn bản, tố cáo qua điện thoại Tố cáo được chia thành hai loại là tố cáo có danh và tố cáo nặc danh
Pháp luật Malaysia cũng rất coi trọng việc tiếp nhận và xử lý đơn thư tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật Pháp luật Malaysia quy định cơ quan chuyên trách chống tham nhũng có trách nhiệm tiếp nhận thông tin, xử lý thông tin tố cáo về tham nhũng thông qua đơn thư, tố giác nặc danh; đơn thư chính thức của công dân; thông tin của các cơ quan nhà nước Cơ quan chuyên trách này có phòng thông tin tiến hành xác minh số liệu để xem xét có
đủ cơ sở tiến hành điều tra, xem xét, xử lý vụ việc hay không
Pháp luật Thụy Sĩ quy định, mọi hành vi tố cáo hành vi tham nhũng, nếu kiểm tra tính xác thực đều được chuyển đến cơ quan công an và bắt đầu quy trình điều tra Thủ tục tố cáo được thực hiện đa dạng, trong đó có hình thức tố cáo qua mạng Chính quyền thiết lập một dữ liệu trên mạng và mọi người có thể truy cập, đưa các thông tin tố cáo một cách khuyết danh Nếu người tố cáo không mong muốn thì cơ quan điều tra không có quyền tìm hiểu
Trang 40Ngoài ra, pháp luật một số quốc gia quy định thủ tục và các kênh để người tố cáo phải thực hiện hoặc lựa chọn thực hiện Các kênh này bao gồm tiết lộ nội bộ và tiết lộ bên ngoài tới một cơ quan theo quy định và tố cáo ra bên ngoài tới công chúng (gọi chung là tố cáo ra bên ngoài) [7, tr.48]
+ Tố cáo nội bộ: Người tố cáo trước hết cần báo cáo hoặc nêu lên
những mối lo ngại trong phạm vi nội bộ cho một bộ phận do tổ chức có liên quan lập nên, có cơ chế bảo đảm bí mật cho người tố cáo Một số quốc gia của Anh, Nam Phi, Canada đều khuyến khích và yêu cầu các tổ chức chấp nhận các thủ tục để xử lý ban đầu các tố cáo như biện pháp hành chính
Luật bảo vệ công chức tố cáo của Canada yêu cầu Thủ trưởng của tất cả các cơ quan Chính phủ chỉ định một quan chức để tiếp nhận và xử lý tố cáo
+ Tố cáo ra bên ngoài: Người tố cáo báo cáo ra bên ngoài cho các cơ
quan quản lý, cơ quan thực thi pháp luật hoặc cơ quan giám sát có thẩm quyền, thậm chí cả cơ quan báo chí Ở một số quốc gia Anh, Mỹ, Nam Phi, người tố cáo có thể tiết lộ cho các chuyên gia tư vấn như: Văn phòng tư vấn đặc biệt tại Mỹ, tổ chức quan tâm cộng đồng tại Anh, Trung tâm tư vấn dân chủ mở tại Nam Phi, để được tư vấn hoặc nhận được lời khuyên
- Về thẩm quyền giải quyết tố cáo
Hầu hết các quốc gia trên thế giới không xây dựng một đạo luật chung
về tố cáo mà các quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo thường được quy định ở các văn bản pháp luật chuyên ngành như: tố cáo về đạo đức công vụ, được quy định trong pháp luật về công chức, công vụ; tố cáo tham nhũng được quy định trong Luật chống tham nhũng
Ở Thụy Điển có cơ chế đặc biệt về giải quyết tố cáo, đó là các Ombudsman, còn gọi là người bảo vệ công lý Đây là một cơ chế hữu ích đảm bảo sự bình đẳng, công bằng trong xã hội Thụy Điển Obudsman theo một cách dịch khác gọi là Chưởng lý Chưởng lý là một công chức phi chính