1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở việt nam

86 783 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 679,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thị Nhung 2011, Cơ sở lý luận và thực tiễn về điều chỉnh pháp luật đối với các TTHCCT ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội; Nguyễn Thị Kim Huệ 2005, Những vấn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN VĂN BIÊN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trần Tiến Quang

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 6

1.1 Về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 6

1.1.1 Khái niệm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 6

1.1.2 Những đặc trưng pháp lý cơ bản của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 9

1.1.3 Phân loại thỏa thuận cạnh tranh 13

1.2 Về hợp đồng nhượng quyền thương mại 15

1.2.1 Khái niệm về hợp đồng nhượng quyền thương mại 15

1.2.2 Đặc điểm hợp đồng nhượng quyền thương mại 19

1.2.3 Nội dung hợp đồng nhượng quyền thương mại 20

1.3 Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại và mối liên hệ 24

1.3.1 Khái niệm về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại 24

1.3.2 Đặc điểm của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại 28

Kết luận chương 1 32

Trang 5

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN HẠN

CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN

THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 33

2.1 Pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại 33

2.2 Thực tiễn thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại ở nước ta thời gian qua 48

2.3 Ưu điểm và hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại 51

2.3.1 Ưu điểm 51

2.3.2 Hạn chế 55

Kết luận chương 2 62

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 63

3.1 Những yêu cầu đối với việc hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại 63

3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật điều chỉnh thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại 65

Kết luận chương 3 76

KẾT LUẬN 77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

EVFTA Hiệp định thương mại tự do Việt Nam

– Liên minh châu Âu FTA Hiệp định thương mại tự do

HĐNQTM Hợp đồng nhượng quyền thương mại TTHCCT Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

WTO Tổ chức thương mại thế giới

XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bước sang thế kỷ XXI, thế giới có sự chuyển mình và phát triển mạnh

mẽ đạt được những thành tựu vĩ đại ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh

tế Hàng loạt các tổ chức kinh tế đa quốc gia như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); Nhóm các nền kinh tế lớn (G20), Nhóm 05 nước phát triển (G5); Nhóm các nền kinh tế mới nổi (BRICS); Cộng đồng kinh tế ASEAN… ngày càng phát triển cả về quy mô, mở rộng tầm ảnh hưởng góp phần đưa nền kinh

tế của từng quốc gia thành viên và của toàn thế giới phát triển hơn Hòa chung vào xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa, Đảng ta nhận định công cuộc hội nhập thế giới là chính sách chiến lược, lâu dài và là phương hướng đúng đắn phù hợp với sự phát triển chung của thế giới

Với sự nỗ lực không ngừng, sau rất nhiều cuộc đàm phán song phương

và đa phương, Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007 Thành quả không thể không nhắc đến trong công cuộc hội nhập hóa nền kinh tế khi cuối năm 2015, đầu năm

2016 vừa qua chúng ta đã đàm phán và ra nhập thành công ba tổ chức kinh tế gồm: Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào tháng 12/2015, tháng 8/2015 với việc đạt được những thỏa thuận mang tính nguyên tắc của hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và kết thúc đàm phán hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào tháng 10 - 2015 Việt Nam đã chứng minh được vị thế ngày càng lớn trên trường quốc tế

Với việc trở thành một trong những thành viên sáng lập, thành viên tích cực của các tổ chức kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam có nhiều cơ hội để vươn xa hơn nhưng cũng đồng thời đối mặt với nhiều thách thức, nhiều rủi ro hơn Các hoạt động thương mại, xúc tiến thương mại sẽ diễn ra

Trang 8

sôi nổi hơn, mạnh mẽ hơn và cũng đa dạng hơn, đặc biệt là hoạt động về nhượng quyền thương mại

Hoạt động nhượng quyền thương mại tuy mới xuất hiện tại thị trường Việt Nam hơn một thập kỷ qua nhưng đã nhận được sự chú ý từ giới thương nhân, từ người tiêu dùng bởi các lợi ích hoạt động này mang lại Tuy nhiên, chính sự phát triển quá nhanh sẽ dẫn đến nhiều tranh chấp, các bên muốn kiểm soát nhau để bảo vệ cho mình dẫn đến việc TTHCCT nhau Về bản chất, điều này làm xâm phạm đến một trong những nguyên tắc về tự do kinh doanh

Pháp luật Việt Nam cũng có những điều chỉnh nhất định về hoạt động nhượng quyền cũng như điều chỉnh về các TTHCCT, về tổng thể đã tạo được một khuôn khổ pháp lý vững chắc, các cơ chế mở tạo điều kiện phát triển cho hoạt động nhượng quyền thương mại Tuy nhiên, tính đặc thù riêng về hoạt động nhượng quyền chưa thật sự cụ thể, rõ ràng

Do đó việc nghiên cứu những quy định pháp luật hiện hành về TTHCCT, đặc biệt là TTHCCT trong hợp đồng nhượng quyền thương mại trong bối cảnh mới, bối cảnh hội nhập, khu vực hóa - quốc tế hóa nền kinh tế

là vô cùng quan trọng và cần thiết tại thời điểm này Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “TTHCCT trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam” làm

đề tài Luận văn tốt nghiệp của mình với mong muốn góp một phần nhỏ trong nghiên cứu khoa học, là nguồn tài liệu tham khảo trong hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu

Đã có những công trình nghiên cứu được nhiều tác giả tìm hiểu dưới các hình thức Luận án tiến sĩ, Luận văn thạc sĩ hay các bài viết trên tạp chí,

phải kể đến như: Vũ Đặng Hải Yến (2008), Những vấn đề lý luận và thực tiễn

về pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội; Nguyễn

Trang 9

Thị Nhung (2011), Cơ sở lý luận và thực tiễn về điều chỉnh pháp luật đối với

các TTHCCT ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học xã

hội; Nguyễn Thị Kim Huệ (2005), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về

nhượng quyền thương mại tại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường

Đại học Luật Hà Nội; Bùi Ngọc Cường (2007), “Các điều khoản độc quyền

trong hợp đồng nhượng quyền thương mại”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật;

Nguyễn Thanh Tú (2007), “Nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp

luật cạnh tranh”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp; Vũ Đặng Hải Yến (2008),

“Mối quan hệ giữa hoạt động nhượng quyền thương mại và các TTHCCT”,

Tạp chí Luật học; Nguyễn Thị Hồng Vân (2011), Các TTHCCT trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, Tạp chí nghiên cứu lập pháp; Nguyễn Thị

Tình (2014), “Ràng buộc bán kèm trong Hợp đồng nhượng quyền thương

mại”, Tạp chí nghiên cứu Châu Âu; Nguyễn Thị Tình (2014), “Pháp luật điều chỉnh hành vi ấn định giá bán”, Tạp chí dân chủ và pháp luật; Trường Đại học Thương Mại (2011), Tăng cường sự phát triển của hoạt động

nhượng quyền thương mại thông qua pháp luật điều chỉnh hạn chế cạnh tranh, Đề tài nghiên cứu khoa học; …

Các công trình kể trên mới chỉ phân tích mang tính tổng quát về từng vấn đề “hoạt động nhượng quyền thương mại” hay “TTHCCT” mà chưa thực sự có những phân tích chuyên sâu về cả hai vấn đề “TTHCCT trong hợp đồng nhượng quyền thương mại” Chính vì vậy, có thể khẳng định việc nghiên cứu đề tài “TTHCCT trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam” là có tính mới

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích xuyên suốt của Luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương

Trang 10

mại, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu nêu trên các nhiệm vụ được xác định trong luận văn cụ thể như sau:

- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại như tìm hiểu khái niệm, phân loại, những đặc trưng pháp lý của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng nhượng quyền như khái niệm, đặc điểm, nội dung hợp đồng nhượng quyền thương mại

- Từ việc tìm hiểu những cái chung đi đến việc tìm hiểu cái riêng, cái

cụ thể chính là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

- Tìm hiểu thực trạng pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại Qua việc tìm hiểu thực trạng để chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện hành

- Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, học hỏi kinh nghiệm các nước trên thế giới để áp dụng một cách phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam

4 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cơ sở lý luận và thực trạng những quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp luật cạnh tranh

Trang 11

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ luận văn này, trên cơ sở tìm hiểu, phân tích những quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về TTHCCT trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, liên hệ thực tiễn tác giả chỉ ra những những hạn chế còn tồn tại trong việc áp dụng những quy định pháp luật đó Từ đó, tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại trên cơ sở học hỏi tiếp thu tiến bộ của các nước trên thế giới phù hợp với định hướng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả tiếp cận vấn đề dựa trên phương pháp duy vật biện chứng cũng như các quan điểm phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Đảng, của Nhà nước ta Trên cơ sở tiếp cận từ cái chung đến cái riêng, từ trừu tượng đến cụ thể và sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, đối chiếu,

so sánh, bình luận, thống kê chứng minh…

Luận văn cũng khai thác những thông tin, tư liệu của các công trình nghiên cứu đã công bố để chứng minh, giải thích cho luận điểm được phân tích

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu gồm 03 chương như sau:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

- Chương 2: Thực trạng pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam

- Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện nay

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

1.1 Về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

1.1.1 Khái niệm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Để hiểu được thế nào là TTHCCT, trước hết phải hiểu được ý nghĩa cụm từ “thỏa thuận” Vậy thỏa thuận là gì?

Thỏa thuận không chỉ không chỉ là một hành vi mô tả chính thức bằng văn bản về các điều khoản và điều kiện cho sự hợp tác

Một thỏa thuận có thể là: Một thỏa thuận chính thức giữa các doanh nghiệp; Một quyết định đưa ra bởi hiệp hội của các doanh nghiệp: thay thế thỏa thuận giữa các doanh nghiệp thành viên của hiệp hội, phù hợp cam kết chung của hiệp hội đó Khi các doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào quá trình đưa ra quyết định thì quyết định của hiệp hội cũng chính là quyết định của các thành viên của hiệp hội đó; hoặc một cam kết đáp ứng yêu cầu của các bên tham gia mà không thể hiện bằng văn bản

Để một hành vi hoặc một tập hợp các hành vi cấu thành một thỏa thuận thì điều phải luôn ghi nhớ là khi nào có sự thống nhất về ý chí, khi đó có thỏa thuận Các hành vi giống nhau của các doanh nghiệp chưa đủ để chứng minh

là đã có thỏa thuận giữa họ với nhau [2, tr.14]

Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường Khi chấp nhận chuyển đổi từ nền kinh tế cũ sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Việt Nam phải chấp nhận những quy luật của nền kinh tế thị trường trong đó có quy luật về cạnh tranh Quá trình cạnh tranh buộc các

Trang 13

doanh nghiệp luôn phải nỗ lực hết mình để có thể hơn đối thủ Tuy nhiên, cũng có nhiều doanh nghiệp coi quy luật cạnh tranh như một mối nguy hại cho lợi nhuận và sự phát triển Thay vì việc họ nỗ lực thay đổi, cải thiện quy trình sản xuất kinh doanh của mình hướng tới người tiêu dùng và tạo nền tảng phát triển bền vững thì họ tìm đến nhau để thỏa thuận, phân chia cho nhau để đảm bảo lợi ích hai bên không bị tổn hại hoặc tối đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp Điều này vô hình trung đã gây hậu quả tất yếu trước hết là những người tiêu dùng, sau là ảnh hưởng sự phát triển kinh tế, hình thành sự độc quyền nhất định trong thị trường

Từ các nhìn nhận đánh giá, pháp luật cạnh tranh các nước trên thế giới đều có những quy định điều chỉnh những hành vi TTHCCT

Khoản 1 điều 81 Hiệp ước Rome nghiêm cấm mọi thỏa thuận giữa các doanh nghiệp, mọi quyết định của hiệp hội doanh nghiệp và mọi hành động phối hợp có khả năng ảnh hưởng đến trao đổi thương mại giữa các quốc gia thành viên và có mục đích hoặc hệ quả phản cạnh tranh

Ở Châu Âu, TTHCCT quy định tại điều 101 của Hiệp ước thành lập Liên minh châu Âu như sau:

Mọi thỏa thuận giữa các doanh nghiệp, các quyết định của hiệp hội các doanh nghiệp và mọi hành vi liên kết khác có thể ảnh hưởng đến thương mại giữa các thành viên và có mục đích hệ quả ngăn cản, hạn chế hoặc làm sai lệch quy luật cạnh tranh trên thị trường của liên minh, đều bị coi là đi ngược lại với mục đích thành lập thị trường chung và bị cấm [5, tr.4]

Tại Nhật Bản, khoản 6, điều 2, Luật Chống độc quyền quy định:

Hạn chế thương mại bất hợp lý là các hoạt động kinh doanh

mà thông qua đó bất kỳ doanh nghiệp nào bằng hợp đồng, thỏa

Trang 14

thuận hay bất kỳ các hoạt động thông đồng khác, không phụ thuộc tên gọi, cùng hạn chế hay tiến hành các hoạt động kinh doanh của

họ theo cách thức cố định giá, duy trì tăng giá, hoặc để giới hạn sản xuất công nghệ, sản phẩm, cơ sở sản xuất hay khách hàng hoặc giao dịch của các đối tác, gây ra hạn chế đáng kể đối với cạnh tranh trong lĩnh vực thương mại, đi ngược lại với lợi ích chung [5, tr.4] Tại Việt Nam, Luật Cạnh tranh không đưa ra định nghĩa thế nào là TTHCCT mà thay vào đó luật liệt kê 8 Loại TTHCCT [13, Điều 8]

Điều 8 Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh

Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm:

1 Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;

2 Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ;

3 Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ;

4 Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;

5 Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;

6 Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;

Trang 15

7 Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoả thuận;

8 Thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ

Theo Luật Cạnh tranh thì TTHCCT là thỏa thuận giữa hai hay nhiều tổ chức, cá nhân kinh doanh có tác động làm giảm, sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường Theo đó luật không quy định về hình thức thỏa thuận (văn bản hay bằng miệng, công khai hay ngầm) cũng như mục đích của thỏa thuận [5, tr.5] Khi xem xét một thỏa thuận có bị coi là TTHCCT không thì chỉ cần xét xem thỏa thuận đó có mục đích thực hiện một hoặc một số hành vi nêu tại Luật Cạnh tranh hay không

1.1.2 Những đặc trưng pháp lý cơ bản của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Để hiểu cụ thể về TTHCCT và có thể phân biệt được hành vi TTHCCT với những hành vi khác thì trước hết phải nhận dạng được hành vi TTHCCT thông qua những đặc trưng pháp lý cơ bản sau:

Thứ nhất, TTHCCT là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp Doanh nghiệp

là chủ thể trong quan hệ TTHCCT [19]

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 2, Luật Cạnh tranh, doanh nghiệp được hiểu là các tổ chức, cá nhân kinh doanh bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam Các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận phải hoạt động độc lập với nhau và hoàn toàn không phụ thuộc với nhau về tài chính Như vậy, trường hợp công ty mẹ - công ty con, hay giữa công ty với đại lý của mình có sự thỏa thuận thì không coi là TTHCCT

Trang 16

Doanh nghiệp là chủ thể tạo nên và quyết định mức độ cũng như hình thức của cạnh tranh, đồng thời, cũng chính các doanh nghiệp có thể gây hạn chế, giảm bớt hay thậm chí triệt tiêu cạnh tranh do chính mình tạo ra bằng các thỏa thuận Các TTHCCT có thể là giữa các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của nhau hoặc có thể là giữa những doanh nghiệp có mối liên

hệ với nhau trong cùng một chuỗi sản xuất hay cung ứng sản phẩm, dịch vụ

Thứ hai, giữa các doanh nghiệp có thoả thuận hạn chế cạnh tranh Thoả thuận là đặc trưng pháp lý cơ bản và là yếu tố cấu thành hành vi quan trọng, được hiểu là sự thống nhất ý chí giữa các bên tham gia [19]

Trong TTHCCT đòi hỏi phải có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên tham gia thỏa thuận thông qua sự thể hiện và thống nhất ý chí của những người có thẩm quyền và hướng tới mục đích hạn chế cạnh tranh Các doanh nghiệp tham gia TTHCCT có thể nhằm cùng một mục đích hoặc nhiều mục đích khác nhau Tuy nhiên, dù với mục đích nào thì doanh nghiệp

đã có sự thống nhất ý chí về cùng thực hiện một hành động nào đó đều bị coi

là hành vi TTHCCT

Vì vậy, TTHCCT thường là kết quả của quá trình đàm phán, thương lượng giữa các bên tham gia với nhau liên quan đến một hoặc một số nội dung hay yếu tố nào đó của thị trường Tuy nhiên, cũng có trường hợp các bên tham gia không trực tiếp thỏa thuận với nhau mà gián tiếp đạt được

sự thoả thuận thông qua các nghị quyết, quyết định hay hành động chung của Hiệp hội mà các bên là thành viên Sở dĩ trường hợp này cũng được coi là thoả thuận bởi khi các doanh nghiệp tham gia và là thành viên của hiệp hội, tự nguyện chấp nhận hay đồng tình theo những cam kết hay chủ trương chung của hiệp hội, chấp nhận cho phép hiệp hội được đưa

ra nghị quyết, quyết định hoặc hành động chung và bản thân các doanh

Trang 17

nghiệp thành viên tuân thủ theo thì đó cũng chính là một sự thoả thuận giữa các doanh nghiệp thành viên đã đạt được

Hình thức của thỏa thuận dạng kiểu như vậy gần như mang tính chất uỷ quyền quyết định cho hiệp hội do vậy có giàng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý với các thành viên Ngoài ra, thoả thuận hạn chế cạnh tranh còn có thể biểu hiện dưới dạng các cam kết tuân thủ hay đáp ứng những yêu cầu do một hoặc một số bên đặt ra Trong thực tế, có trường hợp các doanh nghiệp thực hiện những hành vi giống nhau nhưng không vì thế mà có thể kết luận giữa các doanh nghiệp có sự thoả thuận bởi có thể đó là sự trùng hợp ngẫu nhiên trên cơ sở tính toán và đưa ra quyết định một cách độc lập của từng doanh nghiệp Chỉ có thể quy kết là có sự tồn tại một thoả thuận nếu có thông tin, chứng cứ cho thấy rằng giữa các doanh nghiệp đã có sự gặp gỡ, trao đổi và thống nhất giữa ý chí, hay nói cách khác các doanh nghiệp đã tìm được tiếng nói và hành động chung mà không bị tác động bởi bất cứ lý do nào

Thứ ba, mục đích của thoả thuận là nhằm hạn chế cạnh tranh [19] Mục đích của các bên tham gia thỏa thuận là làm giảm sức ép cạnh tranh hay chính là hạn chế cạnh tranh và thông qua đó gây thiệt hại cho các doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận, cho các doanh nghiệp tiềm năng, xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng và toàn xã hội

Đối với khách hàng, lợi ích trực tiếp bị thiệt hại là không được hưởng các sản phẩm với chất lượng tốt hơn và mức giá cả phù hợp hơn Đối với doanh nghiệp không tham gia thoả thuận có nguy cơ mất cơ hội kinh doanh, bị loại ra khỏi thị trường Với sự liên kết giữa các doanh nghiệp thông qua một TTHCCT tạo nên sức mạnh khống chế và buộc khách hàng phải tuân theo những luật chơi do các doanh nghiệp này tạo ra không dựa trên cơ

sở quy luật của thị trường Ngoài ra, bằng việc TTHCCT, các doanh nghiệp

Trang 18

tham gia thoả thuận cũng có thể áp đặt những điều kiện bất lợi trong các giao dịch với những doanh nghiệp ngoài thoả thuận

Thứ tư, TTHCCT được biểu hiện dưới một hình thức nhất định [19] Hình thức biểu hiện của TTHCCT không được coi là tiêu chí bắt buộc,

có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản, chính thức hay không chính thức Tuy nhiên, trong thực tế việc xác định hình thức biểu hiện của TTHCCT lại có ý nghĩa rất quan trọng trong việc điều tra và xử lý đối với các hành vi TTHCCT bị cấm, cho dù hình thức biểu hiện của thoả thuận hạn chế cạnh tranh không làm ảnh hưởng đến hậu quả pháp lý của các hành vi TTHCCT bị cấm TTHCCT có thể được biểu hiện dưới các hình thức như bằng miệng hoặc văn bản, thoả thuận ngầm hay thoả thuận công khai dưới các loại như hợp đồng, nghị quyết, quyết định, nội quy của các hiệp hội

Việc xác định hình thức biểu hiện của các TTHCCT không ảnh hưởng đến hậu quả pháp lý nhưng có khả năng ảnh hưởng tới mức độ thành công của việc chứng minh thỏa thuận Nếu thoả thuận hạn chế cạnh tranh được thể hiện thông qua hình thức văn bản như hợp đồng, biên bản cuộc họp, quyết định, nghị quyết, các trao đổi điện thoại, fax, email thì việc thu thập chứng

cứ và chứng minh sẽ dễ dàng hơn Vấn đề sẽ trở nên khó khăn nếu TTHCCT

là các thỏa thuận ngầm Khi đó cần phải dựa vào các loại chứng cứ gián tiếp nên việc chứng minh sẽ khó khăn hơn

Thứ năm, hậu quả của TTHCCT là làm giảm, làm sai lệch hay cản trở hoặc thậm chí triệt tiêu các hoạt động cạnh tranh bình thường trên thị trường [19] Thỏa thuận cạnh tranh gây ra cho thị trường sự xóa bỏ cạnh tranh, các đối thủ trên thị trường sẽ không còn cạnh tranh nữa Hậu quả của

nó có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người tiêu dùng và gây thiệt hại cho các doanh nghiệp không tham gia việc thỏa thuận

Trang 19

Tuy nhiên, hậu quả này có thể đã xảy ra hoặc chưa xảy ra TTHCCT chỉ đòi hỏi đảm bảo các yếu tố cấu thành về mặt hình thức Khi xác định hành

vi TTHCCT không cần xét đến hậu quả thực tế mà chỉ cần xác định hậu quả

về mặt hình thức Hậu quả thực tế chỉ có ý nghĩa trong việc xác định mức

độ trách nhiệm pháp lý hay mức phạt

1.1.3 Phân loại thỏa thuận cạnh tranh

Hiện nay dựa trên cơ sở khác nhau chúng ta lại có các cách thức để phân loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh:

- Trên cơ sở mối quan hệ giữa các doanh nghiệp tham gia thoả thuận, người ta chia các hành vi thoả thuận ra 2 nhóm: thoả thuận theo chiều ngang

và thoả thuận theo chiều dọc Thỏa thuận ngang là thỏa thuận giữa các đối thủ cạnh tranh và thỏa thuận dọc là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp bổ trợ lẫn

nhau [2, tr.14]

Thỏa thuận theo chiều ngang là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp có

cùng ngành hàng hoạt động trên cùng một thị trường liên quan như thỏa thuận giữa các nhà sản xuất hay giữa những nhà những nhà bán buôn hoặc giữa những nhà bán lẻ của những loại sản phẩm tương tự nhau Nội dung của thỏa thuận liên quan đến ấn định giá mua bán hàng hóa, dịch vụ, phân chia thị trường, ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia thị trường, thông đồng trong đấu thầu, hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ

Thỏa thuận theo chiều dọc là các thỏa thuận liên quan đến việc bán

lại những sản phẩm từ nhà sản xuất hay nhà cung cấp, do đó nó diễn ra giữa các doanh nghiệp ở các công đoạn khác nhau trong quá trình sản xuất, phân phối sản phẩm như thỏa thuận giữa nhà sản xuất và nhà phân phối Thỏa thuận theo chiều dọc không tạo ra khả năng khống chế thị trường Các thỏa

Trang 20

thuận phổ biến theo chiều dọc thường có các nội dung: phân phối độc quyền theo lãnh thổ, giao dịch độc quyền, buộc các doanh nghiệp tham gia vào mạng lưới phân phối của nhà sản xuất…; thỏa thuận ấn định giá bán lại

- Theo pháp luật Cạnh tranh của Việt Nam, có thể chia thành hai loại: thỏa thuận bị coi là trái pháp luật một cách đương nhiên và thỏa thuận bị coi

là trái pháp luật một cách có điều kiện [1, tr.13]

Thỏa thuận bị coi là trái pháp luật một cách có điều kiện gồm có:

 Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;

 Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ;

 Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ;

 Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;

 Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;

Mặc dù đây được coi là TTHCCT nhưng dựa vào tính chất các thỏa thuận đó nên Luật quy định các thỏa thuận này chỉ bị cấm khi thị phần kết hợp của các bên tham gia thỏa thuận trên thị trường liên quan chiếm ít nhất 30%, trừ trường hợp Thủ tướng Chính phủ cho phép được tiến hành các thỏa thuận khi đáp ứng điều kiện nhất định quy định tại điều 10 của Luật và nhằm mục đích hạ giá thành và có lợi cho người tiêu dùng

Thị phần: là tỷ lệ chiếm lĩnh thị trường của một doanh nghiệp trên một

thị trường nhất định Thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định là tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp

Trang 21

này với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm [3, tr.266]

Thị phần kết hợp: là tổng thị phần trên thị trường liên quan của các

doanh nghiệp tham gia vào thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế [3, tr.266]

Thị trường liên quan là khái niệm được sử dụng trong phân tích cạnh

tranh để chỉ giới hạn thị trường nơi diễn ra các hoạt động cạnh tranh thuộc sự quan tâm của pháp luật cạnh tranh Thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan [3, tr.265]

Thỏa thuận bị coi là trái pháp luật một cách đương nhiên bao gồm: (khoản 6, 7, 8 điều 8 Luật Cạnh tranh)

 Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;

 Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải

là các bên của thoả thuận;

 Thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ

Thỏa thuận trong nhóm này là thỏa thuận đương nhiên bị cấm trong mọi trường hợp và không có ngoại lệ Các thỏa thuận này đều được luật cạnh tranh các quốc gia trên thế giới quy định khá nghiêm ngặt

1.2 Về hợp đồng nhượng quyền thương mại

1.2.1 Khái niệm về hợp đồng nhượng quyền thương mại

Trang 22

HĐNQTM được chính thức ghi nhận bằng sự kiện năm 1851, lần đầu tiên trên thế giới nhà sản xuất máy khâu Singer của Mỹ đã ký hợp đồng nhượng quyền và trở thành người tiên phong trong việc thoả thuận hình thức nhượng quyền

Sau sự kiện này, nhượng quyền thương mại đã bắt đầu phát triển và lan rộng toàn thế giới Dựa vào cách thức quản lý khác nhau trên thế giới về nhượng quyền thương mại mà đã có những khái niệm khác nhau về nhượng quyền thương mại Cụ thể:

Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh Quốc tế (The International Franchise Association) là hiệp hội lớn nhất nước Mỹ và thế giới) đã nêu ra khái niệm nhượng quyền thương mại như sau:

Nhượng quyền thương mại là mối quan hệ theo hợp đồng, giữa Bên giao và Bên nhận quyền, theo đó Bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của Bên nhận trên các khía cạnh như: bí quyết kinh doanh (know-how), đào tạo nhân viên; Bên nhận hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hóa, phương thức, phương pháp kinh doanh do Bên giao sở hữu hoặc kiểm soát;

và Bên nhận đang, hoặc sẽ tiến hành đầu tư đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình [30]

Theo Uỷ ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (the US Federal Trade Commission – FTC): HĐNQTM là hợp đồng theo đó Bên giao:

(i) Hỗ trợ đáng kể cho Bên nhận trong việc điều hành doanh nghiệp hoặc kiểm soát chặt chẽ phương pháp điều hành doanh nghiệp của Bên nhận

(ii) Li-xăng nhãn hiệu cho Bên nhận để phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ theo nhãn hiệu hàng hóa của Bên giao và

Trang 23

(iii) Yêu cầu Bên nhận thanh toán cho Bên giao một khoản phí tối thiểu

Quan niệm Liên minh châu Âu (EU):

Quyền thương mại là một "tập hợp những quyền sở hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bản quyền tác giả, bí quyết, hoặc sáng chế sẽ được khai thác để bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ tới người sử dụng cuối cùng Nhượng quyền thương mại có nghĩa là việc chuyển nhượng quyền kinh doanh được Khái niệm ở trên [30]

Luật sở hữu công nghiệp của Mêhicô quy định:

Nhượng quyền thương mại tồn tại khi với một li-xăng cấp quyền sử dụng một thương hiệu nhất định, có sự chuyển giao kiến thức công nghệ hoặc hỗ trợ kỹ thuật để một người sản xuất, chế tạo, hoặc bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ đồng bộ với các phương pháp vận hành (operative methods), các hoạt động thương mại, hoặc hành chính đã được chủ thương hiệu (brand owner) thiết lập, với chất lượng (quality), danh tiếng (prestige), hình ảnh của sản phẩm, hoặc dịch vụ đã tạo dựng được dưới thương hiệu đó [30]

Bộ luật dân sự Nga quy định:

HĐNQTM là hợp đồng mà một bên (bên có quyền) phải cấp cho bên kia (bên sử dụng) với một khoản thù lao, theo một thời hạn, hay không thời hạn, quyền được sử dụng trong các hoạt động kinh doanh của bên sử dụng một tập hợp các quyền độc quyền của bên có quyền bao gồm, quyền đối với dấu hiệu, chỉ dẫn thương

mại, quyền đối với bí mật kinh doanh, và các quyền độc quyền

Trang 24

theo hợp đồng đối với các đối tượng khác như nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, [30]

Có thể thấy rằng, các điểm chung trong tất cả những khái niệm nêu trên

là việc một Bên độc lập (Bên nhận) phân phối (marketing) sản phẩm, hoặc dịch vụ dưới nhãn hiệu hàng hóa, các đối tượng khác của các quyền sở hữu trí tuệ, và hệ thống kinh doanh đồng bộ do một Bên khác (Bên giao) phát triển

và sở hữu; để được phép làm việc này, Bên nhận phải trả phí và chấp nhận một số hạn chế do Bên giao quy định

Tại Việt Nam, Khái niệm nhượng quyền thương mại được đề cập tại Điều 284 Luật Thương mại 2005 như sau:

Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:

1 Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;

2 Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh [14, Điều 284] Theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, nhận thấy khái niệm này có nét tương đồng với pháp luật của Liên minh châu Âu cũng như một số nước trên thế giới

HĐNQTM cũng giống như các loại hợp đồng thông thường khác, là sự thỏa thuận của các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại làm phát

Trang 25

sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động nhượng quyền và cũng chính là căn cứ, cơ sở để giải quyết tranh chấp có thể

sẽ phát sinh giữa các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng

Pháp luật Việt Nam không đưa ra một định nghĩa nào về HĐNQTM Điều 285 Luật Thương mại 2005 với tiêu đề “HĐNQTM” chỉ quy định về hình thức của loại hợp đồng này Như vậy, có thể hiểu, trên phương diện pháp luật, HĐNQTM là loại hợp đồng được các thương nhân ký kết trong quá trình thực hiện hoạt động thương mại, cụ thể là thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại [21, tr.11]

1.2.2 Đặc điểm hợp đồng nhượng quyền thương mại

Thứ nhất, về chủ thể Gồm bên nhượng quyền và bên nhận quyền Bên nhận quyền và bên nhượng quyền đều phải là thương nhân, có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài

Những đặc trưng về chủ thể này của HĐNQTM làm cho HĐNQTM có những đặc điểm khác biệt so với các loại hợp đồng khác Quan hệ nhượng quyền không chỉ dừng lại giữa một bên nhượng quyền và một bên nhận quyền

mà còn xuất hiện thêm nhiều bên nhận quyền khác nữa tạo thành một hệ thống nhượng quyền thương mại, xuất phát từ sự khác biệt của quan hệ nhượng quyền này làm cho chủ thể của loại hợp đồng này cũng khác với các hợp đồng khác Bên nhận quyền thứ hai là bên nhận lại quyền kinh doanh thương mại của bên nhượng quyền từ bên nhận quyền thứ nhất Trong trường hợp này, các bên lại phải có những thoả thuận, phù hợp với quyền và lợi ích

Thứ hai, đối tượng của hợp đồng Đối tượng của HĐNQTM là “quyền thương mại” Theo đó, bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo cách thức tổ

Trang 26

chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền dưới sự kiểm soát và trợ giúp của bên nhượng quyền

Thứ ba, về nội dung của hợp đồng Nội dung của HĐNQTM là các điều khoản do các bên thỏa thuận, xác định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại Khi tham gia hợp đồng này thì các bên sẽ trao đổi với nhau những quyền mà mình được hưởng đồng thời trao đổi với nhau về những nghĩa vụ mà mình phải thực hiện Đây là một trong những đặc trưng nổi bật của HĐNQTM

Thứ tư, về hình thức hợp đồng HĐNQTM phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương Quy định rõ ràng về hình thức của HĐNQTM, bắt buộc các bên chủ thể phải thể hiện loại hợp đồng này dưới dạng văn bản cũng chính là một trong những cách thức bảo vệ các thương nhân khỏi những rủi ro có thể xảy ra

1.2.3 Nội dung hợp đồng nhượng quyền thương mại

Pháp luật chỉ đưa ra các nội dung cơ bản, chủ yếu tạo ra xương sống cho hợp đồng, còn các bên sẽ thỏa thuận chi tiết cho phù hợp với điều kiện của mình HĐNQTM có thể có 6 nội dung sau đây [9, Điều 11]:

- Nội dung của nhượng quyền thương mại [9, Điều 11, khoản 1]

Đây chính là điều khoản xác định đối tượng của hợp đồng, được coi

là trung tâm của hợp đồng, nó có ảnh hưởng tới mọi điều khoản khác trong hợp đồng

- Quyền và nghĩa vụ của các bên [9, Điều 11, khoản 2]

Trang 27

Quyền và nghĩa vụ cụ thể của bên nhượng quyền và bên nhận quyền

do các bên thỏa thuận Nếu các bên không có thỏa thuận khác, thì theo điều

286, 287, 288, và 289 Luật Thương mại 2005, các bên có quyền và nghĩa

vụ sau đây:

Đối với bên nhượng quyền:

Thương nhân nhượng quyền có 3 quyền cơ bản: Thứ nhất, nhận tiền nhượng quyền; Thứ hai, tổ chức quảng cáo cho hệ thống nhượng quyền thương mại và mạng lưới nhượng quyền thương mại; Thứ ba, kiểm tra định

kỳ hoặc đột xuất hoạt động của bên nhận nhượng quyền đảm bảo sự thống nhất của hệ thống nhượng quyền thương mại và sự ổn định của chất lượng hàng hóa, dịch vụ

Đối với bên nhận quyền:

Quyền và nghĩa vụ của bên nhận quyền được quy định tại Điều 288,

289 Luật Thương mại 2005 Nhìn chung bên nhận quyền “yếu thế” hơn bên nhượng quyền vì bên nhượng quyền là chủ sở hữu của các đối tượng nhượng quyền mà bên nhận được chuyển giao để sử dụng Vì thế nghĩa vụ của bên nhận nhượng quyền cũng đặt ra nhiều hơn Các nghĩa vụ đặt ra như nghĩa vụ tài chính trả tiền nhượng quyền, các khoản thanh toán khác theo hợp đồng nhượng quyền thương mại Nghĩa vụ đảm bảo sự thống nhất của hệ thống nhượng quyền như: đầu tư cơ sở vật chất, nguồn tài chính và nhân lực để tiếp nhận các quyền và bí quyết kinh doanh mà bên nhượng quyền chuyển giao và điều hành hoạt động chúng cho phù hợp với hệ thống nhượng quyền thương mại; … Đây là nghĩa vụ rất quan trọng mà bên nhận nhượng quyền phải thực hiện một cách thật nghiêm túc kể cả khi hợp đồng đã chấm dứt Ngoài ra bên nhận quyền không được phép nhượng quyền lại trong trường hợp không có sự chấp thuận của bên nhượng quyền Việc nhượng quyền lại cho bên thứ ba được Luật Thương mại 2005 quy định tại Điều 290 Chính vì bên nhận

Trang 28

nhượng quyền phải gánh chịu những nghĩa vụ nên đòi hỏi bên nhượng quyền phải thực hiện tốt nghĩa vụ của mình đối với bên nhận nhượng quyền để đảm bảo các quyền lợi của bên nhận nhượng quyền đồng thời đảm bảo sự bình đẳng trong quan hệ hợp đồng nhượng quyền

- Giá cả, phí nhượng quyền định kỳ và phương thức thanh toán

[9, Điều 11, khoản 4]

Điều khoản này do các bên thỏa thuận Pháp luật không quy định mức giá cố định cho từng hàng hóa mà các bên căn cứ vào uy tín của hàng hóa, khu vực nhượng quyền và nhu cầu của thị trường, … để quyết định giá, phí thanh toán Đồng thời lựa chọn phương thức thanh toán cho phù hợp với điều kiện của các bên Pháp luật quy định như vậy đảm bảo quản lý ở tầm vĩ mô không can thiệp quá sâu vào quan hệ giữa các bên

- Thời hạn hiệu lực và gia hạn hợp đồng [9, Điều 11, khoản 5]

Pháp luật Việt Nam không quy định một thời hạn cố định mà thời hạn của hợp đồng do các bên tự quyết định Bên cạnh đó tại Điều 13 Nghị định

35 cũng quy định: Hợp đồng có thể chấm dứt trước thời hạn trong trường hợp quy định tại Điều 16 của Nghị định, đó là các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng Nghị định 35 cũng quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tại Điều 14 theo hướng tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, nếu không có sự thỏa thuận khác thì HĐNQTM có hiệu lực tức thời tại thời điểm giao kết Ngoài ra, có thể xác định thời điểm giao kết hợp đồng Theo Điều

400 Bộ luật Dân sự 2015

Khi hợp đồng hết thời hạn các bên có thể thỏa thuận gia hạn hợp đồng Đồng thời các bên có thể thỏa thuận chấm dứt hợp đồng trước thời hạn hết hiệu lực của hợp đồng

- Chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại [9, Điều 11, khoản 6]

Trang 29

Thông thường HĐNQTM sẽ chấm dứt trong các trường hợp sau:

* Hết thời hạn thực hiện hợp đồng mà các bên không có thỏa thuận gia hạn

* Hợp đồng chưa hết thời hạn thực hiện nhưng các bên có thỏa thuận chấm dứt

* Một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn Việc quy định quyền năng này để bảo vệ lợi ích của bên bị vi phạm và hạn chế những thiệt hại có thể xảy ra cho bên bị vi phạm Theo Điều 16 Nghị định 35 các bên

có quyền đơn phương chấm dứt HĐNQTM trong các trường hợp sau:

Đối với bên nhận quyền: Bên nhận quyền có quyền đơn phương

chấm dứt HĐNQTM trong trường hợp bên nhượng quyền vi phạm nghĩa vụ sau: (i) cung cấp tài liệu hướng dẫn về hệ thống nhượng quyền thương mại cho bên nhận quyền; (ii) đào tạo ban đầu và cung cấp trợ giúp kỹ thuật thường xuyên cho thương nhân nhận quyền để điều hành hoạt động theo đúng hệ thống nhượng quyền thương mại; (iii) thiết kế và sắp xếp địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ bằng chi phí của thương nhân nhận quyền; (iv) bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ đối với đối tượng được ghi trong hợp đồng nhượng quyền; (v) đối xử bình đẳng với các thương nhân nhận quyền trong hệ thống nhượng quyền thương mại

 Đối với bên nhượng quyền: Bên nhượng quyền có quyền đơn phương chấm dứt HĐNQTM trong các trường hợp sau: (i) Bên nhận quyền không còn giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị tương đương mà theo quy định của pháp luật bên nhận quyền phải có để tiến hành công việc kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại; (ii) Bên nhận quyền bị giải thể hoặc

bị phá sản theo quy định của pháp luật Việt Nam; (iii) Bên nhận quyền vi phạm pháp luật nghiêm trọng có khả năng gây thiệt hại lớn cho uy tín của hệ thống nhượng quyền thương mại; (iv) Bên nhận quyền không khắc phục những vi phạm không cơ bản trong HĐNQTM trong một thời gian hợp lý,

Trang 30

mặc dù đã nhận được thông báo bằng văn bản yêu cầu khắc phục vi phạm đó

từ bên nhượng quyền

- Giải quyết tranh chấp

HĐNQTM là một loại hợp đồng trong thương mại nên cơ chế giải quyết tranh chấp cho hợp đồng này cũng giống cơ chế giải quyết tranh chấp cho những hợp đồng trong thương mại khác Điều 317 Luật thương mại 2005 quy định hình thức giải quyết tranh chấp thương mại bao gồm: thương lượng, hoà giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hoà giải; giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà án Xuất phát từ quyền tự do kinh doanh, các bên trong HĐNQTM có quyền tự

do lựa chọn một trong bốn hình thức giải quyết tranh chấp nói trên để giải quyết các tranh chấp có thể sẽ phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng

1.3 Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại và mối liên hệ

1.3.1 Khái niệm về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

Như nội dung đã phân tích ở hai mục 1.1 và 1.2 của chương này về TTHCCT và HĐNQTM có thể thấy việc xuất hiện các TTHCCT trong hợp đồng thương mại cũng giống với nguyên nhân dẫn tới TTHCCT nói chung là đều xuất phát từ việc tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp, tối đa hóa lợi nhuận của hệ thống kinh doanh nhượng quyền

Hành vi TTHCCT trong HĐNQTM được hiểu là sự thỏa thuận giữa ít nhất hai bên trong hệ thống nhượng quyền nhằm làm sai lệch, cản trở cạnh tranh Mục đích hành vi chính là gây hạn chế cạnh tranh hoặc loại bỏ những cạnh tranh trong hệ thống nhượng quyền hoặc của các đối thủ cạnh tranh khác ngoài hệ thống

Trang 31

Về hình thức thể hiện, như đã phân loại ở phần trên, thỏa thuận cạnh tranh có hai loại là thỏa thuận ngang và thỏa thuận dọc Ở khía cạnh mạng lưới phân phối của hệ thống nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền và bên nhượng quyền có thể đồng thời tồn tại hai tư cách: vừa là nhà sản xuất/cung ứng dịch vụ vừa là nhà phân phối hàng hóa dịch vụ trừ hình thức nhượng quyền thương mại, phân phối

Với sự tham gia của các tư cách như trên TTHCCT được phân loại như sau [17, tr.51]:

- Trong hình thức nhượng quyền thương mại phân phối: Bên nhận quyền được phép phân phối những hàng hóa, sản phẩm do bên nhượng quyền sản xuất, kinh doanh dưới bảng hiệu của bên nhượng quyền Trong hình thức này, có thể tồn tại cả hai hình thức TTHCCT; đó là thỏa thuận theo chiều ngang giữa các nhà phân phối và thỏa thuận chiều dọc giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền

- Trong hình thức nhượng quyền thương mại sản xuất hoặc nhượng quyền thương mại dịch vụ: Bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền được sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo đúng tiêu chuẩn, gắn tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa, logo biểu tượng do bên nhượng quyền làm chủ sở hữu Trong trường hợp này tồn tại thỏa thuận theo chiều ngang

Dựa trên đối tượng điều chỉnh của từng loại HĐNQTM tùy thuộc vào ngữ cảnh kinh tế và nội dung cụ thể của hợp đồng Chúng thường được thể hiện dưới các dạng: (i) thỏa thuận phân chia khu vực kinh doanh, (ii) thỏa thuận phân phối cung ứng độc quyền, (iii) thỏa thuận mua bán cả gói, (iv) thỏa thuận giá bán lại, (v) kiểm soát số lượng đầu vào và đầu ra sản phẩm [20]

- Thỏa thuận phân chia khu vực kinh doanh: bên nhượng quyền thường quyết định số lượng cửa hàng nhượng quyền trên một khu vực địa lý

Trang 32

nhất định bằng việc phân chia khu vực kinh doanh cụ thể cho mỗi bên nhận quyền Quy định này cấm bên nhận quyền kinh doanh ngoài phạm vi được cho phép bởi bên nhượng quyền và chỉ được khai thác một cơ sở duy nhất

do bên nhượng quyền cấp Thỏa thuận phân chia khu vực kinh doanh còn là việc hai bên kìm hãm không cho bên nhượng quyền khác kinh doanh trong phạm vi địa lý đó, tìm cách loại bỏ những doanh nghiệp không phải các bên trong thỏa thuận

- Thỏa thuận phân phối cung ứng độc quyền: Trong nhượng quyền thương mại, đặc biệt là hình thức nhượng quyền phân phối, bên nhận quyền chỉ được bán các sản phẩm gắn nhãn hiệu của bên nhượng quyền tại cửa hiệu gắn tên thương mại hoặc biểu tượng của bên nhượng quyền, do đó, bên nhận quyền phải tuyệt đối trung thành và tôn trọng lợi ích của bên nhượng quyền Ngoài độc quyền về sản phẩm, có thể tồn tại dưới hình thức độc quyền về thiết bị buộc bên nhận quyền phải mua trang thiết bị theo bên nhượng quyền

- Thỏa thuận mua bán cả gói: Được hiểu là việc bên nhận quyền phải chấp nhận những nghĩa vụ không liên quan đến đối tượng của HĐNQTM Và đây được gọi là một ràng buộc bán kèm Theo Luật Cạnh tranh Canada, ràng buộc bán kèm được hiểu là một hành vi trong đó một nhà cung cấp hàng hóa, như một điều kiện để cung cấp hàng hóa đó (hàng hóa “ràng buộc”), yêu cầu khách hàng phải: (i) mua lại một hàng hóa khác từ nhà cung cấp hoặc người

do nhà cung cấp chỉ định; hoặc (ii) hạn chế sử dụng hoặc phân phối, cùng với hàng hóa ràng buộc, một hàng hóa khác không thuộc nhãn hiệu do nhà cung cấp hoặc người được nhà cung cấp chỉ định nêu rõ, và một hành vi trong đó nhà cung cấp hàng hóa lôi kéo khách hàng đáp ứng một yêu cầu đặt ra trong (i) hoặc (ii) bằng cách đề nghị cung cấp hàng hóa đó cho khách hàng đó với những điều kiện hay điều khoản ưu đãi hơn nếu khách hàng đó đồng ý đáp ứng một trong những điều kiện trên [20] Hay nói cách khác, khi bên bán sẽ

Trang 33

bán một sản phẩm chính với điều kiện bên mua đồng ý mua một sản phẩm khác hoặc/và phải mua sản phẩm được bán kèm từ một doanh nghiệp khác do bên nhượng quyền chỉ định hoặc ít nhất đồng ý không mua sản phẩm được bán kèm từ một doanh nghiệp khác

- Thỏa thuận giá bán lại: Việc thỏa thuận áp đặt giá bán hàng hóa, dịch

vụ nhằm ấn định một mức giá trần hoặc mức giá sàn hoặc một mức giá đề nghị không mang tính chất ràng buộc hoặc bất kỳ mức giá đề nghị nào được quảng cáo bởi bên nhượng quyền

- Kiểm soát số lượng đầu vào, đầu ra sản phẩm: Đối với hình thức nhượng quyền thương mại sản xuất, bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền sản xuất và bán các sản phẩm gắn nhãn hiệu của bên nhượng quyền, theo sự chỉ đạo của bên nhượng quyền, hoặc hai bên cùng thỏa thuận khối lượng hàng găm hàng tạo sự khan hiếm cho thị trường

Thực tế hiện nay có thể thấy rất ít các hình thức nhượng quyền tồn tại độc lập Các hình thức nhượng quyền này đan xen nhau Chính vì vậy, hành vi TTHCCT phát sinh dưới cả chiều dọc và chiều ngang dưới nhiều cách thức đa dạng

Pháp luật về nhượng quyền thương mại và pháp luật cạnh tranh đều là những bộ phận của hệ thống luật thương mại, có mối quan hệ qua lại tương hỗ lẫn nhau Hiện nay, các quy định của pháp luật về nhượng quyền thương mại đang được quy định rải rác trong Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi hành Trong đó, mối quan hệ giữa hai mảng luật này chủ yếu liên quan tới các quy định về TTHCCT

Bên cạnh đó, những quy định về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường,

vị trí độc quyền có thể có những liên quan, còn các quy định về tập trung kinh

tế trong pháp luật cạnh tranh hầu như không có mối quan hệ với pháp luật về

Trang 34

nhượng quyền thương mại Do đó, việc nghiên cứu các quy định pháp luật về cạnh tranh khi thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại cũng như các

vụ tranh chấp liên quan là rất cần thiết nhằm đảm bảo một môi trường cạnh tranh lành mạnh cho hoạt động nhượng quyền thương mại diễn ra trên thị trường Việt Nam cũng như trên thị trường thế giới

Bên cạnh đó, để giúp doanh nghiệp có thể tránh được các kiện tụng liên quan tới các hành vi hạn chế cạnh tranh của bên nhận quyền Việt Nam, giúp cho cả các cơ quan quản lý nhà nước trên lĩnh vực tương ứng có những hiểu biết đầy đủ, từ đó có hướng để hoàn thiện pháp luật về nhượng quyền thương mại nói riêng và pháp luật thương mại nói chung, đáp ứng xu thế hội nhập

1.3.2 Đặc điểm của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

Qua việc tìm hiểu, các TTHCCT trong HĐNQTM có các đặc trưng pháp lý sau đây:

Thứ nhất, chủ thể của TTHCCT trong HĐNQTM là các doanh nghiệp hoạt động độc lập, cùng trên thị trường liên quan và cùng tham gia vào hoạt động nhượng quyền

Chủ thể của TTHCCT trong HĐNQTM là các doanh nghiệp, trong đó một bên được gọi là bên nhượng quyền sở hữu thương hiệu, bí quyết kinh doanh, hệ thống phân phối sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ , bên còn lại là bên nhận quyền phải trả một khoản phí nhất định hay số % doanh thu của mình cho bên nhượng quyền để đổi lại bên này sẽ được bên nhượng quyền cho phép sử dụng thương hiệu, hệ thống tiếp thị, mô hình kinh doanh

Bên nhượng quyền và bên nhận quyền trong các TTHCCT trong HĐNQTM phải là các doanh nghiệp cùng trên “thị trường liên quan” Theo

Trang 35

Thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan

và thị trường địa lý liên quan Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thể cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận [13, Điều 3, khoản 1] Các doanh nghiệp tham gia TTHCCT trong HĐNQTM phải là các doanh nghiệp hoạt động độc lập với nhau, không phải là các doanh nghiệp liên quan của nhau theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp Sẽ không coi là doanh nghiệp độc lập nếu đó là các doanh nghiệp cùng trong một tập đoàn kinh doanh, là thành viên cùng trong một tổng công ty

Thứ hai, bên nhượng quyền và bên nhận quyền đã có sự “thỏa thuận”

Thứ ba, mục đích của sự thỏa thuận là nhằm hạn chế cạnh tranh giữa các bên tham gia hệ thống nhượng quyền thương mại

Trang 36

TTHCCT trong HĐNQTM như ở đặc điểm trên đã nêu, đó là sự thống nhất ý chí giữa các bên nhượng quyền và bên nhận, ngoài việc nhằm bảo vệ trực tiếp lợi ích của bên nhượng quyền, các thỏa thuận này đồng thời loại bỏ quyền của bên nhận quyền đồng thời ngăn cản, kìm hãm các doanh nghiệp tiềm năng khác không tham gia vào thỏa thuận

Có thể thấy, đối với điều khoản ấn định giá bán hàng hóa/cung ứng dịch vụ, với lý do nhằm đảm bảo tính thống nhất của cả hệ thống, bên nhượng quyền đưa ra các quy định nhằm loại bỏ sự cạnh tranh về giá của các bên nhận quyền trong toàn hệ thống Hay điều khoản quy định về việc bên nhận quyền yêu cầu bên nhượng quyền chỉ được nhượng quyền cho một bên nhận quyền duy nhất trong một phạm vi nhất định nhằm tránh nguy cơ phải đối mặt với các đối thủ cạnh tranh mạnh hơn mình Hoặc để duy trì tính đặc trưng và uy tín của mạng lưới nhượng quyền, bên nhượng quyền không chỉ có trách nhiệm cung cấp cho bên nhận quyền bí quyết và kỹ thuật chế biến, nấu nướng, mà còn cung cấp cả nghĩa vụ mua nguyên liệu từ bên nhượng quyền hoặc bên thứ ba do bên nhượng quyền chỉ định Việc đặt ra các tiêu chuẩn đối với hàng hóa, dịch vụ là đối tượng của hợp đồng nhượng quyền nhìn chung là có lợi cho người tiêu dùng và có thể làm cho thị trường hoạt động một cách hiệu quả hơn Nó giúp người tiêu dùng có nhiều thông tin, giúp họ đưa ra các quyết định chính xác hơn về sản phẩm mà họ dự định mua đồng thời tiêu chuẩn đó làm cho cung cầu thị trường cân bằng nhanh hơn và lợi ích công nghệ mới được sử dụng hiệu quả cao hơn nhưng điều đó cũng sẽ ảnh hưởng đến khả năng gia nhập thị trường của các chủ thể không được chỉ định bởi bên nhượng quyền

Thứ tư, về hình thức biểu hiện của TTHCCT trong HĐNQTM

Luật mẫu về cạnh tranh của Tổ chức Thương mại và Phát triển Liên

Trang 37

Hợp Quốc quy định hình thức của TTHCCT có thể bất kể là bằng miệng hay bằng văn bản, chính thức hay không chính thức Luật Cạnh tranh của Việt Nam cũng như của nhiều quốc gia khác không đề cập đến hình thức biểu hiện của TTHCCT, mà chỉ xác định là các thỏa thuận hạn đó nhằm hạn chế cạnh tranh Nói cách khác, Luật Cạnh tranh của Việt Nam không nói tới TTHCCT phải thể hiện bằng văn bản, bằng miệng, bằng hành vi cụ thể hay bất cứ một hình thức nào khác Như vậy theo quy định của pháp luật Việt Nam thì hình thức biểu hiện ra bên ngoài của các TTHCCT không được coi là tiêu chí bắt buộc đối với các TTHCCT

Điều 285 Luật Thương mại 2005 quy định HĐNQTM phải được lập thành văn bản hoặc các hình thức pháp lý có giá trị tương đương

Như vậy, TTHCCT trong HĐNQTM được ghi nhận trong các điều khoản của HĐNQTM Chính vì vậy, thỏa thuận này sẽ được thể hiện dưới hình thức bằng văn bản Điều này phù hợp với tình hình hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện nay vì đây là hoạt động khá phức tạp đối với các doanh nghiệp Việt Nam, chỉ bằng hình thức văn bản mới có thể ghi thỏa thuận của các bên một cách rõ ràng, cụ thể từ đó xác định được đâu là các thỏa thuận có nội dung hạn chế cạnh tranh Giúp nhà nước quản lý tốt hơn các thỏa thuận dạng này

Trang 38

Kết luận chương 1

Nhượng quyền thương mại là một phương thức kinh doanh được rất nhiều công ty các nước áp dụng để nhân rộng mô hình kinh doanh Lợi ích mà nhượng quyền thương mại cho nền kinh tế của các quốc gia phát triển nhượng quyền thương mại là rất lớn

Trong chương 1 tác giả chủ yếu tìm hiểu lý thuyết cơ bản về hợp đồng nhượng quyền thương mại, về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại Trên cơ sở lý thuyết đó, trong chương 2 tác giả sẽ phân tích tìm hiểu cụ thể những quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh

về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại Qua đó, chỉ ra thực trạng diễn ra thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại hiện nay như nào

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN HẠN CHẾ

CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

Ở VIỆT NAM

Qua những phân tích tìm hiểu về lý luận hợp đồng nhượng quyền thương mại, TTHCCT nói chung và TTHCCT trong hợp đồng nhượng quyền thương mại nói riêng, chương 2 tác giả sẽ đi sâu phân tích thực trạng TTHCCT trong hợp đồng nhượng quyền qua đó chỉ ra được những gì đã làm được và những điểm hạn chế cần khắc phục

2.1 Pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

Các TTHCCT trong HĐNQTM được điều chỉnh bằng Luật Cạnh tranh năm 2004, Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh Các vấn đề về HĐNQTM được điều chỉnh bằng Luật Thương mại, Nghị định 35/2006NĐ-CP quy định chi tiết về hoạt động nhượng quyền thương mại

Các dạng TTHCCT trong HĐNQTM được điều chỉnh cụ thể như sau:

- Thỏa thuận phân chia khu vực kinh doanh

Thỏa thuận phân chia khu vực được hiểu là những thỏa thuận trong đó các đối thủ cạnh tranh phân chia các thị trường với nhau theo lãnh thổ, theo lượng cung, cầu của doanh nghiệp hoặc theo nhóm khách hàng cụ thể

Thứ nhất, thỏa thuận phân chia thị trường theo lãnh thổ là việc các doanh nghiệp phân chia thị trường địa lý liên quan thành các khu vực và giao cho từng doanh nghiệp tham gia được quyền mua, bán hàng hóa dịch

vụ trong một, một số khu vực nhất định Thỏa thuận này được pháp luật

Trang 40

của các nước coi là loại thỏa thuận kinh điển nhất trong những thỏa thuận phân chia thị trường

Thứ hai, thỏa thuận phân chia thị trường mang tính định lượng là việc các doanh nghiệp thống nhất phân bổ lượng hàng hóa, dịch vụ mua, bán trên thị trường cho từng doanh nghiệp tham gia Trong trường hợp này, thị trường được phân chia theo lượng cung, lượng cầu mà không phải theo khu vực địa

lý hoặc theo nhóm khách hàng Để thực hiện được thỏa thuận này, các doanh nghiệp phải dự liệu được tổng lượng hàng hóa, dịch vụ được mua, bán trên thị trường liên quan và phân chia thành những phần khối lượng, số lượng mà từng doanh nghiệp được quyền mua, bán

Thứ ba, thỏa thuận phân chia thị trường theo nhóm khách hàng là việc các doanh nghiệp thống nhất cho từng doanh nghiệp tham gia được quyền mua, bán hàng hóa với một số nhóm khách hàng nhất định Với thỏa thuận này, các doanh nghiệp phải phân chia khách hàng thành từng nhóm theo những tiêu chí nhất định Các tiêu chí phân nhóm khách hàng rất đa dạng, có thể phân chia theo thu nhập, theo độ tuổi, theo giới tính, theo đặc điểm về nhu cầu tiêu dùng… Từ đó, mỗi doanh nghiệp tham gia được phân công phụ trách mua hoặc bán sản phẩm với một nhóm khách hàng

Trong HĐNQTM, thỏa thuận phân chia khu vực kinh doanh gồm có: (i) phân chia lãnh thổ nhượng quyền (phân chia thị trường tiêu thụ)theo khoản 2 điều 8 Luật Cạnh tranh 2004, điều 15 nghị định 116/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh, (ii) Thỏa thuận phân chia khu vực kinh doanh theo khách hàng thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác (bên nhượng quyền và bên nhận quyền khác) tham gia thị trường, phát triển kinh doanh hoặc loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên thỏa thuận theo quy định

Ngày đăng: 13/10/2017, 13:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w