Công ty có tài sản riêng và phải tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ bằng tài sản đó, công ty có các quyền và nghĩa vụ độc lập với thành viên công ty và nhân danh chính mình khi tham gia
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỊNH CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỊNH CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Hồng Hạnh
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới
sự hướng dẫn của GS.TS Lê Hồng Hạnh và không sao chép các công trình nghiên cứu của tác giả khác Các số liệu và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và
đã thực hiện tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật – Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét cho tôi được bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Lan Hương
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHĐCĐ : Đại hội đồng cổ đông
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH CÔNG TY CỔ PHẦN 6
1.1 Sự xuất hiện của công ty cổ phần 6
1.1.1 Sự ra đời của công ty cổ phần 6
1.1.2 Khái niệm về công ty cổ phần 12
1.2 Vai trò của công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường 16
Kết luận Chương 1 21
Chương 2 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỊNH CÔNG TY CỔ PHẦN TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 22
2.1 Những bước phát triển trong việc định nghĩa công ty cổ phần 22
2.2 Sự phát triển của chế định cổ đông trong pháp luật Việt Nam 25
2.2.1 Khái niệm 25
2.2.2 Quyền của cổ đông trong công ty cổ phần 27
2.2.3 Nghĩa vụ của cổ đông trong công ty cổ phần 39
2.3 Sự phát triển của chế định vốn công ty cổ phần trong pháp luật Việt Nam 41
2.3.1 Vốn trong công ty cổ phần theo Luật công ty năm 1990 41
2.3.2 Vốn trong công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp năm 1999 42
2.3.3 Vốn trong công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp năm 2005 45
2.3.4 Vốn trong công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp năm 2014 48
2.4 Cơ cấu quản trị trong công ty cổ phần 50
2.4.1 Đại hội đồng cổ đông 51
2.4.2 Hội đồng quản trị 62
2.4.3 Giám đốc (Tổng giám đốc) 74
2.4.4 Ban kiểm soát 76
Trang 6Kết luận chương 2 84
Chương 3 HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QỦA THỰC HIỆN CHẾ ĐỊNH CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM 85
3.1 Giải pháp tiếp tục hoàn thiện chế định công ty cổ phần ở Việt Nam 85
3.1.1 Hoàn thiện các quy định về cổ đông 85
3.1.2 Hoàn thiện nền tảng pháp lý về quản trị công ty cổ phần 87
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chế định công ty cổ phần ở Việt Nam 90
Kết luận Chương 3 92
KẾT LUẬN CHUNG 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
CTCP là một trong các loại hình doanh nghiệp đang phát triển và ngày càng phổ biến ở Việt Nam Ngay từ khi CTCP xuất hiện, Nhà nước ta đã chú trọng đến việc xây dựng một hệ thống pháp luật để điều chỉnh hoạt động của loại hình công ty này
Trong thời kỳ đầu đổi mới, để cụ thể hóa chủ trương đổi mới quản lý kinh tế theo hướng xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, ngày 21/12/1990, Quốc hội khóa VIII đã thông qua hai văn bản luật quan trọng là Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân LCT 1990 được ban hành lần đầu tiên gồm 6 chương 46 điều
đã từng bước tạo ra những tiền đề pháp lý vững chắc cho sự phát triển của các loại hình công ty, trong đó có CTCP Trong thời gian thi hành, các quy định trong LCT 1990 đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc hình thành và phát triển các loại hình công ty nói chung và CTCP nói riêng, góp phần giải phóng lực lượng sản xuất và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước Tuy nhiên,
do được xây dựng trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, nên quy định về CTCP trong LCT 1990 còn nhiều hạn chế
Nhằm khắc phục những hạn chế của LCT 1990, LDN 1999 đã được thông qua và thay thế cho LCT 1990 và Luật DNTN kể từ ngày 01/1/2000 LDN 1999
là cơ sở pháp lý vững chắc cho sự phát triển của loại hình CTCP Với 44 điều quy định tại Chương IV, LDN 1999 có rất nhiều điểm mới tiến bộ hơn so với LCT 1990 khi quy định về CTCP; khắc phục được những nhược điểm của công tác lập pháp trước đây là nhiều điều khoản quy định rất sơ lược và thiếu cụ thể nên rất khó thực hiện trong thực tế Mặc dù vậy, quy định về CTCP trong LDN
1999 cũng không tránh khỏi những điểm thiếu sót và chưa hợp lý
Trang 8LDN 2005 được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005, thay thế cho LDN 1999, có hiệu lực từ ngày 01/07/2006 LDN 2005 gồm 10 chương,
172 Điều, trong đó, Chương IV - quy định về CTCP chiếm dung lượng nhiều nhất từ Điều 77 đến Điều 129 Các quy định về CTCP trong LDN 2005 sau khi được áp dụng đã góp phần to lớn vào việc thiết lập môi trường kinh doanh bình đẳng, công bằng; đẩy mạnh sự phát triển của loại hình CTCP Tuy nhiên, trong quá trình thực thi, nhiều quy định đã bộc lộ những bất cập cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp Trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm lập pháp và căn cứ vào tình hình thực tế của đất nước, LDN 2014 có hiệu lực từ ngày 01/7/2015,
đã có sự điều chỉnh trong nhiều nội dung để khắc phu ̣c những vấn đề còn tồn tại và đạt được những kết quả tích cực khi thi hành
Cùng với sự ra đời của LCT 1990, LDN 1999, LDN 2005 và mới nhất cho đến nay là LDN 2014, các quy định về CTCP đã dần được hoàn thiện một cách đáng kể Qua từng văn bản, nhiều nội dung đã được sửa đổi, bổ sung cho toàn diện và đầy đủ hơn Tuy vậy, bên cạnh nhưng tiến bộ đã đạt được thì LDN hiện hành quy định về CTCP vẫn còn tồn tại những nội dung chưa thật sự phù hợp
Để có thể tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về CTCP và hệ thống pháp luật
về CTCP ở nước ta từ trước đến nay, đồng thời có những kiến nghị trong việc nâng cao hiệu quả thực thi các quy định của pháp luật hiện hành về CTCP, tác
giả đã lựa chọn đề tài: “Sự phát triển của chế định công ty cổ phần ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm làm rõ được sự tiến bộ của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam khi quy định về CTCP trên cơ sở nghiên cứu các quy định về CTCP trong LCT 1990, LDN 1999, LDN 2005 và LDN 2014 về mặt lý luận cũng như thực tiễn thi hành
Với mục đích như trên, luận văn phải tập trung giải quyết các nhiệm vụ
cụ thể như sau:
Trang 9- Nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề chung về CTCP gồm có: sự ra đời của CTCP trên thế giới và ở Việt Nam; vai trò của CTCP trong nền kinh tế;
- Phân tích, đánh giá những quy định pháp luật cơ bản nhất về cổ đông,
về vốn và về tổ chức quản lý CTCP ở Việt Nam, trên cơ sở so sánh đối chiếu các quy định pháp luật; qua đó chỉ rõ được những nội dung mới, tiến bộ qua từng văn bản luật;
- Phân tích thực trạng thi hành các quy định pháp luật về CTCP qua từng giai đoạn, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm thực thi có hiệu quả pháp luật hiện hành về CTCP
3 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, pháp luật về CTCP đã và đang giành được sự quan tâm nghiên cứu ở một mức độ nhất định Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học, luận án, luận văn thạc sĩ, bài viết về vấn đề này Mỗi tác phẩm lại đề cập đến những khía cạnh khác nhau của CTCP
Ở cấp độ luận án, luận văn, khóa luận tốt nghiệp có thể kể đến như:
“Những điểm mới cơ bản của công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp” - khoá luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Đăng Khoa năm 2001; “Tổ chức quản lý
nội bộ CTCP những vấn đề lý luận và thực tiễn” - Luận văn thạc sĩ của tác
giả Cao Thị Kim Trinh năm 2004; “Quy chế pháp lý về cổ đông trong công ty
cổ phần” - Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Phan Mai năm
2013; “Chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam”
- luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Phương Anh năm 2012; “Hoàn
thiện pháp luật Việt Nam về quản trị CTCP” - Luận văn thạc sĩ của tác giả
Hoàng Thị Mai năm 2015;
Ngoài ra, ở cấp độ báo chí, tạp chí cũng có nhiều bài viết về CTCP, có
thể kể đến như: “Một số so sánh về CTCP theo Luật công ty Nhật Bản và
Luật doanh nghiệp Việt Nam” – bài viết của tác giả Nguyễn Thị Lan Hương
Trang 10trên Tạp chí khoa học ĐHQGHN số 29/2009; “Những quy định của LDN
2005 về CTCP cần được tiếp tục sửa đổi, bổ sung” - bài viết của tác giả ThS
Lê Thị Lợi trên Tạp chí luật học số 10/2010;
Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu này chủ yếu phân tích làm rõ một khía cạnh pháp lý trong CTCP như về vốn, về cổ đông hoặc về quản trị công
ty trên cơ sở pháp luật hiện hành Vì vậy, đề tài tập trung nghiên cứu một cách tổng hợp chế định về CTCP, với những nội dung cơ bản nhất về vốn, cổ đông và cơ cấu quản trị công ty, xuyên suốt hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành kể từ thời điểm CTCP xuất hiện trong hệ thống pháp luật XHCN Việt Nam cho đến hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là công ty cổ phần trong pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn phát triển thể hiện ở những thành tố cơ bản như cổ đông, đại hội cổ đông, hội đồng quản trị, cấu trúc vốn vv và những bài học liên quan đến tác động của việc hoàn thiện chế định công ty cổ phần đối với sự phát triển của nền kinh tế
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Phạm vi nghiên cứu của Đề tài về mặt không gian là các quy định của pháp luật Việt Nam về công ty cổ phần Đề tài không nghiên cứu pháp luật nước ngoài
Phạm vi về thời gian: Ngoại trừ việc giới thiệu lịch sử phát triển của công ty cổ phần ở Việt Nam, Đề tài chỉ giới hạn ở các quy định pháp luật kể
từ thời điểm 1990 khi Nhà nước Việt Nam ban hành Luật công ty, văn bản luật đầu tiên về doanh nghiệp
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu luận văn được dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật Đồng thời, luận văn cũng được nghiên cứu dựa trên các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ
đổi mới
Trang 11Trong quá trình nghiên cứu và trình bày, luận văn đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: phương pháp so sánh,
phương pháp phân tích, tổng hợp, tổng kê Do đề tài nghiên cứu về “Sự phát triển của chế định công ty cổ phần ở Việt Nam” nên phương pháp nghiên
cứu chủ yếu được sử dụng là phương pháp so sánh và phân tích Phương pháp
so sánh được sử dụng để so sánh, đối chiếu giữa các quy định của LCT 1990, LDN 1999, LDN 2005 và LDN 2014 Sử dụng phương pháp này cho phép thấy được những điểm giống và khác nhau, những điểm mới nổi bật của từng luật Phương pháp phân tích được sử dụng góp phần làm rõ hơn nội dung của những điểm mới này, đánh giá được sự tiến bộ trong hệ thống pháp luật quy định
về CTCP Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các số liệu được thu thập từ Cục thống
kê, Cục quản lý đăng ký kinh doanh và trong các Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI)
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương, cụ thể như sau :
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chế định công ty cổ phần
Chương 2: Sự phát triển của chế định công ty cổ phần trong pháp luật Việt Nam Chương 3: Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện chế định Công ty cổ phần ở Việt Nam
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1 Sự xuất hiện của công ty cổ phần
1.1.1 Sự ra đời của công ty cổ phần
Công ty cổ phần (CTCP) là một hình thức tổ chức kinh doanh ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định Sự hình thành
và phát triển của CTCP gắn liền với sự hình thành của thị trường vốn và thị
trường tiền tệ “Công ty cồ phần là một loại hình kinh doanh phổ biến hiện
nay, được xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người
để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển”[5, tr18]
Từ thế kỷ XVIII, XIX, sự phát triển mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hoá ở các nước châu Âu và Bắc Mỹ cùng với nhu cầu tích tụ vốn để đầu tư sản xuất của các nhà tư bản đã làm xuất hiện loại hình CTCP Chủ nghĩa Tư bản phát triển đòi hỏi phải có quy mô sản xuất kinh doanh ngày càng lớn, sự cạnh tranh giữa các hãng sản xuất và độc quyền ngày càng gay gắt Các chủ
tư bản đi đến thoả hiệp với nhau nhằm thu được lợi nhuận tối đa và bành trướng hơn nữa thế lực kinh tế của mình CTCP là hình thức kinh doanh được
ra đời nhằm thoả mãn những nhu cầu này, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút và tập trung tư bản
CTCP đầu tiên xuất hiện trên thế giới là Công ty Đông Ấn (East India Company) của Anh (1600-1874) Công ty thành lập ngày 31/10/1860 bởi một nhóm có 218 người và được cấp phép độc quyền kinh doanh trong vòng 15 năm ở vùng Đông Ấn, các quốc gia và hải cảng ở châu Á, châu Phi và được đi lại từ tất cả các hải cảng của các đảo, thị trấn và địa điểm ở châu Á, châu Phi
và châu Mỹ ngoài Mũi Hảo Vọng (Cape of Good Hope) và Eo biển Magellan
Trang 13Ngày 01/6/1874, Công ty bị giải thể khi giấy phép lần sau cùng không được gia hạn Đến năm 1602, ở Hà Lan xuất hiện các CTCP theo hình thức tương
tự công ty Đông Ấn của Anh, rồi lần lượt CTCP xuất hiện ở Thụy Điển, Đan Mạch, Đức…
Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX ở các nước tư bản phát triển, CTCP bắt đầu phát triển ở nhiều lĩnh vực khác nhau như giao thông, vận tải, xây dựng, các ngành chế tạo cơ khí, ngân hàng, bảo hiểm… và đồng thời là sự phát triển rộng rãi của loại hình công ty này ở các nơi khác trên thế giới Đến những năm 20, 30 của thế kỷ XIX, với sự bùng nổ của cách mạng công nghiệp, nền kinh tế thế giới có bước phát triển mạnh mẽ, điều đó dẫn đến nhu cầu phải tập trung những nguồn vốn lớn để xây dựng cơ sơ hạ tầng kinh tế –
xã hội CTCP là một trong những công cụ giúp thực hiện nhanh chóng vấn đề tập trung vốn Trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, từ phạm vi
ở một nước, một khu vực nhất định CTCP đã phát triển thành những công ty
đa quốc gia, hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đúng như nhận định:
“CTCP đã phát triển ở hầu hết các nước từ đơn giản đến phức tạp, từ quy mô
nhỏ đến quy mô lớn, từ một ngành đến đa ngành, từ một quốc gia đến nhiều quốc gia thông qua các công ty siêu quốc gia” [27, tr35]
Sự ra đời và phát triển của CTCP đã làm phát sinh nhu cầu cần phải có pháp luật điều chỉnh đối với quá trình tổ chức hoạt động của loại hình công ty này, nhằm bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông cũng như các chủ thể khác khi tham gia quan hệ với chúng
Tại Anh, cuối thế kỷ XVI, thương mại phát triển mạnh mẽ, các doanh nhân kinh doanh theo kiểu làm ăn riêng hoặc góp vốn cùng hoạt động Năm
1844, Quốc hội Anh ban hành Luật về CTCP, theo đó thì các công ty muốn được thành lập không phải xin phép mà chỉ cần đăng ký Tuy nhiên, luật này không cho công ty được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn Sự hạn chế này
Trang 14phản ánh sự nghi ngờ của dư luận về CTCP lúc đó Vào những năm 1850 có hơn 40 công ty của Anh chuyển sang Pháp để thành lập Chính phủ Anh sợ mất doanh nghiệp nên đến năm 1855 đã ban hành luật về tính trách nhiệm hữu hạn (Limited Liability Act) dành cho các công ty đã được thành lập theo luật về CTCP Năm 1862, cả hai luật này được sáp nhập làm một, lấy tên là
Luật về công ty (Companies Act) Theo LCT Anh thì: CTCP có nghĩa là một
công ty - a) có Vốn điều lệ đã góp hoặc cổ phần danh nghĩa của tổng số vốn cố định được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, cũng số vốn cố định, hoặc nắm giữ và chuyển giao như chứng khoán, hoặc được chia và nắm giữ một phần bằng cách này và một phần bằng cách khác và b) thành lập trên nguyên tắc có các thành viên sở hữu cổ phiếu hoặc chứng khoán đó và không có những người khác (Điều 1041 LCT Anh 2006)
Ở Đức, một trong những nước mà ở đó xuất hiện công ty sớm, pháp luật
về CTCP khá hoàn thiện Luật CTCP Đức (Aktiengesetz) có hiệu lực ngày 06 tháng 9 năm 1965, quy định những vấn đề cơ bản về công ty cổ phần như: thành lập, tổ chức quản lý công ty cổ phần, quyền và nghĩa vụ của các cổ đông… Theo quy định của luật này, CTCP ở Đức là mô hình có các đặc trưng sau: 1) Có tư cách pháp nhân sau khi được ĐKKD Công ty có tài sản riêng và phải tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ bằng tài sản đó, công ty có các quyền
và nghĩa vụ độc lập với thành viên công ty và nhân danh chính mình khi tham gia quan hệ pháp luật; 2) Vốn điều lệ khi thành lập CTCP tối thiểu là 50.000 Euro và được chia thành các cổ phần có mệnh giá thấp nhất là một euro; 3) Cổ đông của CTCP có thể là cá nhân hoặc tổ chức Cổ đông chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần mà mình sở hữu; 4) Cổ phần của công ty cổ phần được tự do chuyển nhượng Việc chuyển nhượng cổ phần của công ty có thể thực hiện dễ dàng trên thị trường chứng khoán; 5) CTCP được phát hành các loại cổ phần khác nhau để huy động vốn
Trang 15Ở Pháp, bộ luật Napoleon năm 1807 đã thiết lập một nền tảng cho công
ty bằng cách cho lập công ty giao vốn đơn giản (Société en commandite simple) thể hiện quan điểm tự do hoạt động kinh doanh Mặc dù vậy, việc thành lập công ty vẫn cần giấy phép của Nhà nước Năm 1863 khi Pháp ban hành LCT trách nhiệm hữu hạn thì việc các công ty ra đời ở Pháp cũng như tại các nước khác không cần đến giấy phép của Nhà nước, mà thay vào đó Nhà nước chỉ đưa ra những quy định bắt buộc, các công ty có nghĩa vụ đăng
ký theo quy định của pháp luật CTCP ở Pháp là công ty mà vốn được chia thành các cổ phần và được hình thành giữa các cổ đông, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm đối với phần vốn mà họ đã góp vào công ty Theo luật thương mại Pháp, CTCP gồm các loại hình sau: Công ty giao vốn cổ phần ( SCA - Société en commandite par actyons); Công ty vô danh (SA - Société anonyme) và CTCP giản đơn (SAS - Société par actyons simplifiée) Trong
đó, Công ty vô danh (SA - Société anonyme) là loại hình công ty tương đồng với loại hình CTCP ở Việt Nam Đây là một loại hình doanh nghiệp bao gồm các đặc điểm sau : các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm trong giới hạn vốn mà
họ đóng góp cho công ty, một công ty vô danh phải bao gồm ít nhất 7 cổ đông (Điều L.225-1 Bộ luật Thương mại 1807), vốn cổ phần phải được đăng
ký đầy đủ, số lượng vốn pháp định là 37.000 Euros (Điều L.224-2 Bộ luật Thương mại 1807), sự thay đổi về vốn không thể thay đổi Điều lệ của công
ty, một hay nhiều kiểm toán viên được chỉ định để giám sát việc quản lý kế toán, các cổ đông có thể tự do chuyển nhượng cổ phần Tổng giám đốc điều hành công ty dưới sự giám sát của Ban Kiểm soát Có hai mô hình quản lý công ty vô danh, thứ nhất là dạng cổ điển với Hội đồng quản trị, dạng thứ hai
là một Hội đồng quản trị và một Ban Kiểm soát
Ở Việt Nam, loại hình CTCP ra đời muộn và chậm phát triển hơn so với các nước trên thế giới Trước khi Pháp xâm lược Việt Nam, hoạt động buôn
Trang 16bán kinh doanh tuy đã được hình thành song chưa có pháp luật điều chỉnh về công ty Đến thời Pháp thuộc, do Việt Nam là thuộc địa của Pháp nên có thời
kỳ Luật Thương mại của Pháp được áp dụng trên từng vùng lãnh thổ khác nhau của Việt Nam Thời kỳ này có nhiều loại công ty được tổ chức dưới hình thức các hội buôn Đó là hình thức công ty đơn giản Luật lệ về công ty lần đầu tiên được quy định là trong “Bộ Dân luật thi hành tại các toà Nam án Bắc Kỳ”, trong đó tiết thứ 5 (Chương IX) nói về hội buôn được chia thành hai loại
là hội người và hội vốn Trong hội người chia thành Hội hợp danh (công ty hợp danh), Hội hợp tư (công ty hợp vốn đơn giản) và Hội đồng lợi Trong Hội hợp vốn chia thành hai loại là Hội vô danh (CTCP) và Hội hợp cổ (công ty hợp vốn cổ phần đơn giản) Nhìn chung, quy định của pháp luật thời kỳ này
về CTCP còn rất sơ khai [7, tr17]
Dưới thời Pháp thuộc, các quy định của Bộ luật Thương mại Pháp năm
1807, trong đó có quy định về hình thức CTCP được áp dụng ở cả ba kỳ tại Việt Nam Đến năm 1944, chính quyền Bảo Đại ban hành Bộ luật thương mại Trung phần có hiệu lực áp dụng tại Trung Kỳ, trong đó có quy định về CTCP (gọi là công ty vô danh) từ Điều 102 đến Điều 142 và từ Điều 159 đến Điều 171 Năm 1972, chính quyền Việt Nam Cộng hoà ban hành Bộ luật Thương
mại, trong đó CTCP được gọi là hội nặc danh với đặc điểm “gồm có các hội
viên mệnh danh cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm trong giới hạn phần hùn của mình dưới hình thức cổ phần” (Điều 236) và “chỉ được thành lập nếu có số hội viên từ 7 người trở lên” (Điều 295) Các vấn đề pháp lý liên quan đến
hình thức hội nặc danh như thành lập, góp vốn, cơ cấu quản lý … đã được quy định rất chi tiết trong Bộ luật này từ Điều 236 đến Điều 278 cũng như từ Điều 295 đến Điều 314
Ở miền Bắc, sau năm 1954 cho đến khi thống nhất đất nước vào năm
1975 và trên phạm vi cả nước từ sau năm 1975 đến những năm 80 của thế kỷ
Trang 1720, khái niệm “công ty” trong giai đoạn này không được hiểu đúng bản chất pháp lý mà chỉ được hiểu theo hình thức kinh doanh Các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh trong giai đoạn này chủ yếu bao gồm các nhà máy, xí nghiệp quốc doanh, hợp tác xã (đối với thành phần kinh tế tập thể) và công tư hợp danh (hình thành từ quá trình cải tạo công thương nghiệp XHCN) Trong giai đoạn này, mặc dù Điều lệ về đầu tư của nước ngoài ở nước CHXHCN Việt Nam (ban hành kèm theo Nghị định 115/CP của Chính phủ ngày
18/4/1977) có đề cập đến hình thức CTCP khi quy định “xí nghiệp hoặc công
ty hỗn hợp” có thể thành lập theo hình thức “công ty vô danh” (một tên gọi
khác của CTCP) nhưng lại không có văn bản pháp luật nào quy định về tổ chức và hoạt động của hình thức CTCP này Và trên thực tế, cũng không có xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp nào được thành lập theo hình thức “công ty vô danh” theo quy định của Điều lệ về đầu tư của nước ngoài năm 1977 kể trên
Từ năm 1986, Đảng và nhà nước ta đề ta đường lối phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Kinh tế tư nhân lần đầu tiên được thừa nhận vào năm 1988 khi Chính phủ ban hành Nghị định số 27-HĐBT cho phép người dân được mở xí nghiệp tư doanh và cho phép chuyển hợp tác xã thành xí nghiệp tư nhân Với việc thừa nhận đa hình thức sở hữu, ghi nhận quyền tự do kinh doanh của công dân trong Hiến pháp 1992 đã mở đường cho sự ra đời các loại hình doanh nghiệp Ngày 21/12/1990, LCT và Luật DNTN được ban hành, hình thức CTCP mới chính thức được quy định cụ thể Sau gần 10 năm thực hiện, LCT đã phát huy được tích cực vai trò của mình, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế đất nước Tuy nhiên, thực tiễn các quan hệ kinh doanh ở nước ta trong thời kỳ này liên tục biến đổi, LCT đã bộc lộ rất nhiều bất cập, nhất là trong vấn đề thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh Nhiều quy định của luật này tỏ ra lạc hậu với cách thức tổ chức một công ty theo cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế Ngày 12/6/1999, Quốc hội đã thông qua
Trang 18LDN để thay thế cho LCT và Luật DNTN Sau hơn 5 năm đi vào hoạt động, LDN 1999 đã được thay đổi bằng LDN 2005 Ngày 26/11/2014, Quốc hội đã chính thức thông qua LDN 2014 có hiệu lực kể từ 01/7/2015 Việc sửa đổi, thay thế luật này được đặt ra như là một sự tất yếu khách quan Trên cơ sở kế thừa và phát huy những kết quả đã đạt được của LDN 1999 và LDN 2005, đồng thời khắc phục những điểm hạn chế, bất cập của quy định hiện hành và thể chế hóa các vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn, LDN 2014 đã có những quy định mới hướng tới sự phù hợp với thực tế kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và của các CTCP nói riêng, nhằm tháo gỡ nhiều khó khăn, hạn chế góp phần tạo điều kiện mở ra một môi trường kinh doanh thuận lợi phù hợp với xu hướng chung của thế giới
1.1.2 Khái niệm về công ty cổ phần
CTCP trong pháp luật của các nước trên thế giới được định nghĩa không giống nhau về cách diễn đạt nhưng nhìn chung đều thống nhất ở những điểm
cơ bản sau về bản chất: CTCP là loại hình công ty đặc trưng của công ty đối vốn với đặc điểm quan trọng là có sự tách bạch tài sản của công ty và tài sản của các cổ đông, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp vào công ty; vốn cơ bản của công ty được chia thành các cổ phần, trong quá trình hoạt động, CTCP được phát hành các loại chứng khoán ra thị trường để huy động vốn
Ở Việt Nam, hiện nay, qui định của LDN 2014 về CTCP xét về bản chất
có nhiều điểm tương đồng với pháp luật của một số nước trên thế giới Điều
110 - LDN 2014 quy định như sau:
“1 CTCP là doanh nghiệp, trong đó:
a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03
và không hạn chế số lượng tối đa;
Trang 19c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này
2 CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
3 CTCP có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn”
Giống như LCT 1990, LDN 1999 và LDN 2005, LDN 2014 liệt kê các dấu hiệu pháp lý để nhận diện CTCP Những dấu hiệu này giúp xác định tư cách pháp lý tồn tại của CTCP theo pháp luật Việt Nam, giúp phân biệt loại hình CTCP với các loại hình doanh nghiệp khác So với khái niệm CTCP trước đó được định nghĩa trong LDN 2005, LDN 2014 không có nhiều sửa đổi về khái niệm CTCP, chỉ thay đổi cụm từ “Giấy chứng nhận ĐKKD” thành
“Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp” cho phù hợp với tên của loại giấy chứng nhận hiện đang được áp dụng; sửa đổi nội dung: CTCP có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn Theo đó, CTCP giới hạn việc huy động vốn bằng việc phát hành các loại cổ phần, chứ không quy định chung là
“chứng khoán các loại” như trước đây
Từ khái niệm về CTCP quy định tại Điều 110 LDN 2014, có thể nhận thấy, CTCP theo pháp luật Việt Nam có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng
nhau gọi là cổ phần Giá trị của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu, người mua cổ phiếu gọi là cổ đông, lợi nhuận có được hàng năm từ cổ phần gọi là cổ tức Việc góp vốn vào CTCP được thực hiện bằng cách mua cổ phiếu, mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu Khi thành lập và trong suốt quá trình hoạt động, các thành viên công ty hoàn toàn không quan tâm đến nhân
Trang 20thân người góp vốn mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp của họ Bởi vì đối với loại hình công ty này tư cách thành viên công ty và các quyền của cổ đông trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến cơ cấu tổ chức và hoạt động của công ty được quyết định trước hết bởi số lượng các cổ phiếu của công ty
mà người đó nắm giữ
Thứ hai, CTCP là tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập Tư cách pháp
nhân của công ty được bắt đầu từ thời điểm công ty được đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền CTCP có đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định, tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập Tài sản của công ty độc lập với tài sản của cá nhân, tổ chức khác và của mọi thành viên trong công ty Trong quá trình hoạt động, Công ty chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác bằng tài sản của công ty
Thứ ba, Cổ đông của CTCP có thể là tổ chức, cá nhân và phải có ít nhất
ba cổ đông, không hạn chế số lượng cổ đông tối đa Là loại hình công ty đặc trưng cho công ty đối vốn, cần có sự liên kết của nhiều thành viên, vì vậy việc quy định số thành viên tối thiểu phải có là điều kiện cần thiết Pháp luật không hạn chế số lượng thành viên tối đa giúp cho CTCP phát huy khả năng huy động được nguồn vốn đầu tư rộng rãi trong xã hội Hầu hết pháp luật các nước cũng đều quy định số lượng thành viên tối thiểu mà không giới hạn số lượng tối đa đối với CTCP LCT 1990 quy định số lượng thành viên tối thiểu trong suốt quá trình hoạt động của CTCP là 7 và theo LDN 1999, LDN 2005
và mới nhất là LDN 2014 thì số lượng này là 3
Thứ tư, Các cổ đông trong CTCP chịu trách nhiệm hữu hạn: Khi một tổ
chức hay cá nhân mua cổ phiếu của CTCP tức là họ đã chuyển dịch vốn của mình theo những phương thức nhất định vào công ty và phần vốn đó trở thành tài sản thuộc sở hữu công ty, đồng thời cổ đông sẽ được hưởng các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc góp vốn Với tư cách là một pháp nhân độc lập, các
Trang 21quyền và nghĩa vụ của CTCP hoàn toàn tách biệt khỏi các quyền và nghĩa vụ của cổ đông Vốn thuộc sở hữu của CTCP chính là giới hạn sự rủi ro tài chính của các cổ đông trên toàn bộ số vốn đã đầu tư vào CTCP nên trách nhiệm của những cổ đông đối với các nghĩa vụ của công ty được hạn chế trong phạm vi
mà họ đã đầu tư vào cổ phiếu Cả CTCP lẫn chủ nợ của công ty đều không có quyền kiện đòi tài sản của cổ đông trừ trường hợp cổ đông nợ công ty do chưa đóng đủ tiền góp vốn hoặc chưa thanh toán đủ cho công ty số tiền mua cổ phiếu phát hành Với tính chất chịu trách nhiệm hữu hạn như trên, CTCP thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác mà ở
đó nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm vô hạn Chính nhờ lợi thế này nên các CTCP có khả năng huy động lớn các nguồn vốn đầu tư của xã hội vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình
Thứ năm, Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình
cho người khác, trừ trường hợp pháp luật quy định Không chỉ pháp luật Việt Nam, LCT của hầu hết các nước trên thế giới đều quy định và cho phép chuyển nhượng một cách dễ dàng và tự do các loại cổ phiếu do CTCP phát hành từ cổ đông sang chủ sở hữu mới Việc chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số cổ phiếu của cổ đông trong CTCP cho người khác đều được thực hiện theo quy định của Điều lệ công ty và các quy định pháp luật có liên quan
Sự linh hoạt trong chuyển nhượng phần vốn góp của cổ đông đã tạo điều kiện thuận lợi cho người mua cổ phần và khuyến khích việc đầu tư vào công ty
Thứ sáu, trong quá trình hoạt động của mình, CTCP được quyền phát
hành chứng khoán ra công chúng để huy động vốn theo quy định của pháp luật về phát hành chứng khoán Khả năng huy động vốn để tăng thêm Vốn điều lệ của CTCP là rất lớn, bất cứ lúc nào khi hội đủ các điều kiện theo luật định thì CTCP cũng có quyền phát hành cổ phiếu mới để kêu gọi vốn đầu tư
từ các cổ đông mới Với tính chất này, CTCP là một hình thức tổ chức đặc
Trang 22biệt, năng động có thể sử dụng để huy động vốn thông qua các giao dịch trên thị trường chứng khoán Một CTCP có thể quy định và phát hành nhiều loại
cổ phiếu khác nhau như: cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi (trong cổ phiếu
ưu đãi có: cổ phiếu ưu đãi biểu quyết, cổ phiếu ưu đãi cổ tức, cổ phiếu ưu đãi hoàn lại và các loại cổ phiếu ưu đãi khác) và các loại trái phiếu Đây sẽ là những loại chứng khoán được phát hành rộng rãi ra công chúng nhằm tăng khả năng thu hút vốn đầu tư cho kinh doanh của CTCP Ngoài ra, với việc xác lập mệnh giá của cổ phiếu thấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho những nhà đầu
tư dù cho khả năng tài chính không nhiều nhưng vẫn có khả năng tham gia đầu tư vốn vào CTCP
1.2 Vai trò của công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế thế giới, đặc biệt là kinh tế tư bản chủ nghĩa đã phát triển rất nhanh vào những năm cuối của thế kỷ 19 và những thập niên đầu tiên của thế
kỷ 20 Có thể nói sau những thành công của hai cuộc cách mạng công nghiệp, với những nhận thức mới về cơ chế quản lý kinh tế, về cơ cấu và các loại hình
tổ chức sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp mà gần như toàn bộ nền kinh tề đã khắc phục được những khó khăn đã từng ảnh hưởng một cách tiêu cực đến kinh tế thế giới Với những đặc điểm rất riêng của mình CTCP đã có vai trò quan trọng đối với việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thế giới; khắc phục được nhiều hạn chế tồn tại trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Có thể nói CTCP ra đời mang những đặc điểm mới cho phép nó thích ứng với những đòi hỏi của sự phát triển kinh tế thị trường hiện đại mà những hình thái khác không thể đáp ứng được
CTCP huy động được nguồn vốn nhanh chóng với quy mô lớn và hiệu quả cao cung cấp cho hoạt động kinh doanh và đầu tư phát triển của doanh
nghiệp Các Mác đã đánh giá vai trò này của CTCP như sau: "Nếu như cứ
phải chờ cho đến khi tích luỹ làm cho một nhà tư bản riêng lẻ lớn lên đến mức
có thể đảm đương việc xây dựng đường sắt thì có lẽ đến ngày nay thế giới vẫn
Trang 23không có đường sắt Ngược lại qua CTCP sự tập trung đã thực hiện được việc
đó chỉ trong nháy mắt" [6, tr199] Bên cạnh đó do hình thức tự cấp phát tài
chính bằng huy động vốn đã đề cao trách nhiệm của doanh nghiệp, nâng cao
sự quan tâm đến sử dụng hiệu quả nguồn vốn Mặt khác do sức ép của cổ đông trong việc đòi chia lợi tức cổ phần và muốn duy trì giá cổ phiếu cao trên thị trường chứng khoán, doanh nghiệp buộc phải phấn đấu nâng cao hiệu quả
sử dụng đồng vốn, hiệu quả sản xuất kinh doanh
CTCP xuất hiện còn góp phần thúc đẩy sự ra đời và phát triển thị trường chứng khoán Việc việc phát hành cổ phiếu, các loại chứng khoán và cùng với việc mua bán chuyển nhượng chứng khoán đến một trình độ và phạm vi nhất định sẽ tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán, nơi các nhà kinh doanh có thể tìm kiếm được nguồn tài trợ cho hoạt động đầu
tư sản xuất kinh doanh, là nơi khai thông các nguồn tiết kiệm của những người tích luỹ đến các nhà đầu tư, là cơ chế phân bổ các nguồn vốn đầu tư phù hợp với yêu cầu của một nền kinh tế thị trường
CTCP ra đời thay đổi cung cách quản lý trong mỗi doanh nghiệp CTCP
có cơ cấu tổ chức quản lý chặt chẽ, có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và cơ chế quản lý; đảm bảo được quyền lợi, lợi ích và trách nhiệm của chủ sở hữu Các cổ đông sẽ bầu ra Ban giám đốc và Ban giám đốc sẽ thay mặt các cổ đông quản lý CTCP Như vậy, trong CTCP việc quản lý được tập trung hóa cao vào Ban giám đốc mà không dàn trải đều việc quản lý cho các cổ đông
Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và việc quản lý còn được thể hiện ở việc LCT hiện đại của một số nước còn quy định cho phép giám đốc quản lý công ty có thể không phải là cổ đông của công ty Rõ ràng, cơ cấu quản trị như vậy như vậy một mặt thu hút được những người quản lý chuyên nghiệp thông qua hợp đồng thuê dịch vụ quản lý, mặt khác tách biệt vai trò chủ sở hữu với chức năng quản lý đã tạo cho CTCP có được sự quản lý tập trung cao phù hợp với điều kiện quản lý các doanh nghiệp có quy mô lớn
Trang 24CTCP tạo ra một cơ chế phân bổ rủi ro đặc thù do đó đã hạn chế được những tác động tiêu cực về kinh tế xã hội khi một doanh nghiệp lâm vào tình trạng khủng hoảng Chế độ đã hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại của rủi ro thua lỗ Vốn tự có của công ty huy động thông qua việc phát hành cổ phiếu là vốn của nhiều cổ đông do đó san sẻ rủi ro cho nhiều cổ đông Nhờ vậy khi CTCP phá sản hậu quả về mặt kinh tế xã hội được hạn chế ở mức thấp nhất Cách thức huy động vốn của CTCP đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tài chính có thể mua cổ phiếu, trái phiếu ở các công ty ở nhiều ngành khác nhau nên giảm bớt được tổn thất khi công ty bị phá sản so với việc đầu
tư vào một công ty Cơ chế phân bổ rủi ro này đã tạo điều kiện cho những người có vốn mạnh dạn đầu tư vào một công ty làm cho nền kinh tế phát triển
và có xu hướng ổn định hơn
CTCP là hình thức liên doanh tốt nhất để tranh thủ sự tham gia đầu tư của nước ngoài Với bất cứ nền kinh tế đặc biệt là nền kinh tế đang phát triển thì việc thu hút nguồn vốn, khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý thông qua liên doanh liên kết với nước ngoài là vô cùng cần thiết để phát triển kinh tế
Ở Việt Nam, các CTCP đã và đang có những đóng góp đáng kể đối với
sự phát triển của nền kinh tế
Sự phát triển của CTCP góp phần thúc đẩy sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam Ngày 28/11/1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 75/1998/NĐ-CP về việc thành lập Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và giao cho đơn vị này chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc ra đời thị trường chứng khoán Ngày 11/07/1998, với Nghị định số 48/CP về Chứng khoán và Thị trường chứng khoán, Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được khai sinh Cùng ngày, Thủ tướng Chính phủ cũng ký Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg thành lập Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố
Hồ Chí Minh và Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội Hai năm sau,
Trang 25vào ngày 28/07/2000, phiên giao dịch đầu tiên đã chính thức được tổ chức tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM với hai mã chứng khoán là REE
và SAM, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của Thị trường chứng khoán Việt Nam CTCP là chủ thể quan trọng nhất hoạt động trên thị trường chứng khoán Số lượng cổ phiếu và trái phiếu của thị trường chứng khoán chủ yếu là
do các công ty cổ phần tạo ra Cùng với tăng lên về số lượng và hiệu quả hoạt động của CTCP, thị trường chứng khoán ở nước ta cũng ngày càng phát triển Tính đến thời điểm 31/12/2000, toàn thị trường có 5 công ty niêm yết với 32,1 triệu cổ phiếu được niêm yết Giai đoạn 2000 - 2005, Thị trường chứng khoán Việt Nam đã có hơn 24.000 tài khoản chứng khoán, tăng 8 lần so với năm đầu
mở cửa thị trường, trong đó có 246 nhà đầu tư có tổ chức và 251 nhà đầu tư nước ngoài Theo Báo cáo của Tổng cục thống kê về thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam trong 5 năm 2011 – 2015, quy mô giao dịch tăng trưởng liên tục qua các năm, bình quân đạt hơn 2900 tỷ đồng/phiên, tăng gấp đôi so với giai đoạn 2005-2010 Giá trị vốn huy động qua thị trường chứng khoán đến nay đã đạt gần 2 triệu tỷ đồng, trong đó giai đoạn 2011-2015 mức huy động vốn qua thị trường chứng khoán đã đạt 1,1 triệu tỷ đồng, gấp 4 lần so với giai đoạn 2005-2010 Thị trường chứng khoán đóng góp 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân mỗi năm (có lúc gần 30%) và huy động khoảng 15 tỷ đô la Mỹ vốn đầu tư gián tiếp Đặc biệt, thị trường chứng khoán đã trở thành kênh phân phối chính của hoạt động phát hành trái phiếu Chính phủ Lượng vốn huy động từ các đợt đấu thầu trái phiếu Chính phủ tới nay qua thị trường chứng khoán ước tính đạt 833 nghìn tỷ đồng, trong đó huy động trong giai đoạn 2011-2015 đạt gần 800 nghìn tỷ đồng, gấp trên 18 lần so với giai đoạn 2005-
2010 Tính trong sáu tháng đầu năm 2016, tổng số công ty niêm yết trên 2 sàn hiện có 686 công ty Tổng mức huy động trên thị trường chứng khoán thông qua cổ phiếu (cả phát hành riêng lẻ) đấu giá cổ phần hóa và đấu thầu trái
Trang 26phiếu chính phủ đạt 223 nghìn tỷ (tăng 85% so với cùng kỳ năm 2015 Huy động qua phát hành trái phiếu chính phủ đạt hơn 180.000 tỷ đồng (tăng 120%
so với cùng kỳ năm 2015)
CTCP đóng góp quan trọng vào quá trình chuyển dịch cơ cấu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Các CTCP nói riêng và các doanh nghiệp khác nói chung để nâng cao hiệu quả hoạt động, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh đều có xu hướng đổi mới cơ sở vật chất, cải tiến trang thiết bị; tiếp thu ứng dụng khoa học công nghệ cao; đào tạo nâng cao tay nghề cho nguồn nhân lực và nâng cao chuyên môn, trình độ của bộ máy quản lý công ty Điều này sẽ thúc đẩy sự phát triển của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước CTCP huy động được nguồn vốn tự có để đầu tư vào sản xuất kinh doanh
và thu hút được sự đầu tư không chỉ ở trong nước mà cả nước ngoài Theo số liệu của Tổng cục thống kê về tình hình kinh tế - xã hội năm 2016, trong năm
có 2.547 doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài góp vốn mua cổ phần (với tỷ lệ vốn lớn hơn 50% vốn điều lệ hoặc thuộc lĩnh vực đầu
tư có điều kiện) với tổng vốn đầu tư là 3.425,3 triệu USD Như vậy, tính chung tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới, cấp vốn bổ sung và đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần trong năm 2016 đạt 24.372,7 triệu USD, tăng 7,1% so với năm 2015 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm
2016 ước tính đạt 15,8 tỷ USD, tăng 9% so với năm 2015
Ngoài ra, CTCP cùng với các loại hình doanh nghiệp khác còn có khả năng tận dụng các nguồn lực xã hội, tạo công ăn việc làm, giải quyết thất nghiệp CTCP huy động được nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, thu hút được sự đầu tư không chỉ trong nước mà cả nước ngoài CTCP đã tạo ra số lượng không nhỏ công ăn việc làm cho người lao động Theo số liệu của Tổng cục thống kê, giai đoạn 2000 – 2004, CTCP đã tạo ra được 1.449.739 nghìn việc làm Qua đó, góp phần nâng cao mức sống cho người dân và giữ vững sự ổn định về chính trị - xã hội
Trang 28Chương 2
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỊNH CÔNG TY CỔ PHẦN
TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Công ty cổ phần là một hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp khá phức tạp cả về cơ cấu tổ chức, quản trị lẫn cơ cấu vốn và chuyển giao vốn, việc phát hành cổ phần ra công chúng Vì vậy, khi nghiên cứu về sự phát triển của công ty cổ phần trong phạm vi một luận văn thạc sỹ, khó có thể đề cập toàn diện các vấn đề của CTCP Những nội dung của Chương II này dành cho một số thành tố cơ bản trong nội dung của chế định CTCP
2.1 Những bước phát triển trong việc định nghĩa công ty cổ phần
Công ty cổ phần được đề cập lần đầu trong pháp luật nước CHXHCN Việt Nam ở Luật công ty năm (LCT) 1990 Điều 2 LCT 1990 quy định như
sau: "Công ty cổ phần công ty trách nhiệm hữu hạn, gọi chung là công ty, là
doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty"
Đồng thời, cụm từ “doanh nghiệp” được giải thích tại khoản 2 Điều 3 của Luật này là: “đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là
thực hiện các hoạt động kinh doanh”
Như vậy, LCT 1990 đã không nêu ra định nghĩa riêng về CTCP mà gộp các đặc điểm chung của CTCP và công ty TNHH để đưa ra khái niệm chung
về công ty (gồm CTCP và công ty TNHH) Các đặc điểm chung này gồm có: các thành viên cùng góp vốn; cùng chia lợi nhuận và cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp; chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp Để xác định thế nào là CTCP cần phải căn cứ vào những dấu hiệu pháp lý được quy định
tại Điều 30 của Luật này Theo đó, CTCP là “công ty” trong đó:
Trang 29Số thành viên gọi là cổ đông mà công ty phải có trong suốt thời gian hoạt động ít nhất là bảy;
Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu;
Cổ phiếu được phát hành có thể có ghi tên hoặc không ghi tên Cổ phiếu của sáng lập viên, của thành viên HĐQT phải là những cổ phiếu có ghi tên;
Cổ phiếu không ghi tên được tự do chuyển nhượng Cổ phiếu có ghi tên chỉ được chuyển nhượng, nếu được sự đồng ý của HĐQT, trừ trường hợp quy định tại Điều 39 của Luật này
Có thể thấy các quy định của LCT 1990 về cơ bản đã thể hiện được những đặc điểm quan trọng của loại hình CTCP Tuy nhiên, Luật này định nghĩa chung CTCP và công ty TNHH là không hợp lý; ngoài ra việc sử dụng
đồng thời cụm từ “là doanh nghiệp” tại Điều 2 và “là công ty” tại Điều 30
khi quy định về CTCP đã tạo nên sự không nhất quán Tóm lại, cách định nghĩa về CTCP trong LCT 1990 là chưa phù hợp, tạo cho người đọc một cách hiểu không chính xác về mặt khái niệm và không thể hiện được một cách toàn diện về bản chất của loại hình CTCP
Khắc phục những hạn chế của LCT 1990, LDN 1999 đã có nhiều sự thay đổi khi quy định về CTCP LDN 1999 đã bỏ định nghĩa chung về công ty gồm có CTCP và công ty TNHH được ghi nhận trong LCT 1990 và định
nghĩa riêng về từng loại hình công ty Đồng thời, cụm từ “doanh nghiệp”
cũng được giải thích chi tiết và đầy đủ hơn Cụ thể tại khoản 1 Điều 3 LDN
1999 giải thích: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có
trụ sở giao dịch ổn định, được ĐKKD theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”
LDN 1999 định nghĩa CTCP tại Điều 51 như sau:
Trang 30“1 CTCP là doanh nghiệp, trong đó:
a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
c) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 55 và khoản 1 Điều 58 của Luật này;
d) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba
và không hạn chế số lượng tối đa
2 CTCP có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán
3 CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận ĐKKD
Có thể thấy khái niệm và đặc điểm công ty cổ phần được quy định trong LDN 1999 đã thay đổi so với LCT 1990:
Thứ nhất, về số lượng cổ đông tối thiểu: LCT 1990 yêu cầu số cổ đông
tối thiểu đối với công ty cổ phần là 7, LDN 1999 chỉ yêu cầu số lượng cổ đông tối thiểu là 3
Thứ hai, về chuyển nhượng cổ phần: LDN 1999 quy định cổ đông có
quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần của cổ đông sáng lập trong ba năm đầu kể từ ngày đăng ký kinh doanh, chỉ có thể chuyển nhượng cho người khác không phải là
cổ đông nếu được sự chấp thuận của ĐHĐCĐ
LDN 2005 đưa ra khái niệm về CTCP tại Điều 77 Luật này tiếp tục ghi nhận khái niệm về CTCP đã được quy định trong LDN 1999 trước đó và chỉ
có sự sửa đổi về câu từ trong quy định tại Khoản 2 Điều 51 LDN 1999:
“CTCP có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán” thành “CTCP có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn”
Trang 31So với LDN 2005, LDN 2014 không có sự sửa đổi, bổ sung khi quy định
về khái niệm CTCP Điều 110 quy định khái niệm CTCP như sau:
“1 CTCP là doanh nghiệp, trong đó:
a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03
và không hạn chế số lượng tối đa;
c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này
2 CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
3 CTCP có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn”
So với LDN 2005, LDN 2014 đã thay đổi cụm từ “Giấy chứng nhận
ĐKKD” thành “Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp” cho phù hợp với
tên của loại giấy chứng nhận hiện đang được áp dụng; và sửa đổi nội dung: CTCP có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn Theo đó, CTCP giới hạn việc huy động vốn bằng việc phát hành các loại cổ phần, chứ không quy định chung là “chứng khoán các loại” như trước đây
2.2 Sự phát triển của chế định cổ đông trong pháp luật Việt Nam
2.2.1 Khái niệm
LCT 1990 không đưa ra khái niệm cụ thể thế nào là cổ đông Cụm từ
“cổ đông” được nhắc đến trong Điều 30 của Luật này với nội dung khái quát
cổ đông là thành viên của CTCP và mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều
cổ phiếu LCT 1990 quy định, CTCP trong thời gian hoạt động phải có ít nhất
là 7 cổ đông
Trang 32Giống như LCT 1990, LDN 1999 cũng không định nghĩa thế nào là “cổ
đông” Tại khoản 10 Điều 3 – Giải thích từ ngữ, Luật này chỉ giải thích “Cổ đông sáng lập” là thành viên sáng lập CTCP, trong đó cụm từ“thành viên sáng lập” được giải thích là người tham gia thông qua Điều lệ đầu tiên của
công ty
LDN 1999 còn bổ sung thêm quy định cổ đông CTCP có thể là tổ chức,
cá nhân LCT 1990 không quy định nội dung này Về số lượng cổ đông cũng
có sự thay đổi so với LCT 1990, Khoản 1 Điều 51 LDN 1999 đã quy định giảm số lượng cổ đông tối thiểu từ 7 cổ đông xuống còn 3 cổ đông và không hạn chế số lượng tối đa
CTCP theo LDN 1999 ghi nhận nhiều loại cổ đông: cổ đông phổ thông,
cổ đông ưu đãi biểu quyết, cổ đông ưu đãi hoàn lại, cổ đông ưu đãi cổ tức Trong đó: cổ đông phổ thông là người sở hữu cổ phần phổ thông Cổ đông ưu đãi biểu quyết là người sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết Cổ đông ưu đãi cổ tức là người sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức Cổ đông ưu đãi hoàn lại là người
sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại
Trong khi LCT 1990 và LDN 1999 đều chưa đưa ra khái niệm thế nào là
“cổ đông” thì LDN 2005 đã có giải thích bổ sung tại Khoản 11, Điều 4:“Cổ đông là người sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của CTCP” Tuy
nhiên không phải mọi chủ sở hữu cổ phần đều được gọi là cổ đông Người nắm giữ cổ phiếu chỉ trở thành cổ đông của công ty khi đã ghi đúng, ghi đủ những thông tin luật định vào Sổ đăng ký cổ đông Điều 77 LDN 2005 cũng tiếp tục ghi nhận: cổ đông CTCP có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 3 cổ đông và không hạn chế số lượng tối đa Như vậy, có thể khái quát: Cổ đông CTCP là tổ chức, cá nhân sở hữu một hoặc nhiều cổ phần trong CTCP, có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với số cổ phần đang sở hữu, được chứng nhận bằng cổ phiếu của công ty và phải đảm bảo đủ các thông tin được
Trang 33quy định trong Sổ đăng ký cổ đông Ngoài ra, LDN 2005 cũng có sự sửa đổi
trong khái niệm “cổ đông sáng lập” Theo đó, “cổ đông sáng lập là cổ đông
tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bản Điều lệ đầu tiên của CTCP”
So với khái niệm “cổ đông sáng lập” trong LDN 1999 thì khái niệm này đã
thể hiện được đầy đủ, rõ ràng hơn vai trò và nhiệm vụ của các cổ đông sáng lập trong việc thành lập CTCP
Khoản 2 Điều 4 LDN 2014 quy định: “Cổ đông là cá nhân, tổ chức sở
hữu ít nhất một cổ phần của CTCP” Như vậy, so với LDN 2005, khái niệm
“cổ đông” trong LDN 2014 đã có sửa đổi LDN 2005 định nghĩa “Cổ đông là người sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của CTCP” Có thể thấy việc
sửa đổi từ “người” sang “cá nhân, tổ chức” của LDN 2014 là khái quát và
phù hợp hơn do cổ đông CTCP có thể là cá nhân hoặc tổ chức LDN 2014 cũng tiếp tục ghi nhận CTCP phải có tối thiểu 3 cổ đông và không hạn chế số lượng tối đa; cổ đông công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp
2.2.2 Quyền của cổ đông trong công ty cổ phần
Luật công ty năm 1990
LCT 1990 không có điều luật riêng biệt quy định về quyền của cổ đông CTCP mà chỉ có quy định chung về quyền của thành viên công ty Cổ đông CTCP có các quyền chung của thành viên công ty (Điều 8) và các quyền khác được thể hiện trong các quy định có liên quan về CTCP Cụ thể, theo LCT
1990, cổ đông CTCP có các quyền:
- Quyền tham dự Đại hội đồng, tham gia thảo luận, biểu quyết các vấn
đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng; có số phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn góp vào công ty;
- Quyền được chia lợi nhuận hoặc chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp vào công ty;
Trang 34- Quyền chuyển nhượng cổ phần;
- Quyền được thông báo về tình hình hoạt động kinh doanh của công
ty, có quyền kiểm tra sổ sách kế toán, chứng từ và các hoạt động khác trong kinh doanh khi có lý do chính đáng
- Nhóm cổ đông đại diện cho ít nhất 1/4 số Vốn điều lệ có quyền yêu cầu triệu tập ĐHĐCĐ để xem xét và giải quyết những việc mà HĐQT và GĐ
bỏ qua Trong trường hợp này, HĐQT hoặc GĐ phải triệu tập ĐHĐCĐ trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhóm thành viên yêu cầu
Có thể thấy, LCT 1990 đã quy định rất sơ lược và có nhiều điểm chưa hợp lý khi quy định chung quyền của cổ đông CTCP và quyền của thành viên công ty TNHH trong cùng một điều luật
Luật doanh nghiệp năm 1999
LDN 1999 ra đời với sự đa dạng hóa cổ phần đã tạo ra nhiều loại cổ đông Theo đó quyền của cổ đông cũng đã được LDN 1999 quy định rõ ràng hơn, tương ứng với từng loại cổ đông là từng điều luật cụ thể, riêng biệt Đây
là những quy định mới nổi bật của LDN 1999 so với LCT 1990 Nội dung cụ thể như sau:
Điều 53 quy định cổ đông phổ thông có các quyền:
Quyền tham dự và biểu quyết tất cả các vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ Mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết Đây là một trong
những quyền quan trọng nhất của cổ đông, quyền này cho phép cổ đông tham gia vào các quyết định của công ty, thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua việc tham dự và biểu quyết các vấn đề quan trọng trong công ty Quyền biểu quyết áp dụng cho mọi cổ đông trong công ty ngoại trừ cổ đông ưu đãi
cổ tức và cổ đông ưu đãi hoàn lại
Quyền được nhận cổ tức với mức theo quyết định của ĐHĐCĐ Đây là
quyền cơ bản và quan trọng của các cổ đông Tiến bộ hơn so với LCT 1990,
Trang 35LDN 1999 không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền nhận cổ tức mà còn quy
định thêm điều kiện để CTCP trả cổ tức tại Điều 67: “CTCP chỉ được trả cổ
tức cho cổ đông khi công ty kinh doanh có lãi, đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật và ngay khi trả hết số cổ tức đã định, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả” Điểm mới này có ý nghĩa lớn
trong việc ngăn chặn các cổ đông lạm dụng quyền nhận cổ tức dẫn tới vi phạm các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước và các chủ nợ
Quyền được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỉ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty Khi công ty tiến hành bán cổ
phần mới để huy động thêm vốn thì kết quả sẽ làm thay đổi vị thế của từng cổ đông hiện có trong công ty Do vậy quyền ưu tiên mua cổ phần mới theo tỉ lệ
là rất quan trọng tạo điều kiện cho cho cổ đông phổ thông giữ được vị thế của mình trong công ty Quyền này đảm bảo cho cổ đông vừa nhận được sự ưu tiên về giá, vừa ưu tiên về thứ tự mua cổ phần Theo quy định tại khoản 1, Điều 61 LDN 1999, giá chào bán cổ phần không được thấp hơn giá thị trường tại thời điểm chào bán hoặc giá trị được ghi trong sổ sách của cổ phần tại thời điểm gần nhất, trừ một số trường hợp trong đó có trường hợp cổ phần chào bán cho các cổ đông hiện hữu theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong công ty Như vậy giá chào bán cổ phần cho các cổ đông hiện hữu là giá ưu đãi, có thể thấp hơn giá thị trường
Quyền được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ phần góp vốn vào công ty khi công ty giải thể Trường hợp công ty bị giải thể, sau khi
đã hoàn tất các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, mỗi cổ đông sẽ nhận được một phần tài sản tương ứng phần vốn góp của họ trong công ty từ số tài sản còn lại của công ty Đây là quy định hoàn toàn mới so với LCT 1990
Trang 36Quyền chuyển nhượng cổ phần: Theo Điều 30 và Điều 39 LCT 1990 chỉ
có cổ đông nắm giữ cổ phiếu không ghi tên mới được tự do chuyển nhượng, còn cổ phiếu có ghi tên (cổ phiếu của sáng lập viên và thành viên HĐQT) chỉ được chuyển nhượng nếu được sự đồng ý của HĐQT Riêng đối với thành viên HĐQT trong trường hợp Điều lệ công ty có quy định số cổ phiếu tối thiểu mà cổ đông là thành viên HĐQT phải có thì số cổ phiếu này không được chuyển nhượng trong suốt thời gian tại chức và trong thời hạn 2 năm kể từ ngày thôi chức thành viên HĐQT Qua đây có thể thấy LCT 1990 đã phủ nhận quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của các cổ đông sáng lập, đặc biệt
là cổ đông là thành viên HĐQT Đến LDN 1999, quyền chuyển nhượng cổ
phần đã được mở rộng Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của
mình cho người khác trừ hai trường hợp sau: một là,cổ đông sở hữu cổ phần
ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác Hai là, trong ba năm đầu, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận ĐKKD, các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% số cổ phần phổ thông được quyền chào bán; cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập có thể chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông nếu như được sự chấp nhận của ĐHĐCĐ
Quyền yêu cầu hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ: Điều 79 LDN 1999 quy
định trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày quyết định được thông qua, cổ đông, thành viên HĐQT, GĐ (TGĐ) và BKS có quyền yêu cầu Toà án xem xét và huỷ bỏ quyết định của ĐHĐCĐ trong các trường hợp sau đây: (i) Trình tự và thủ tục triệu tập họp ĐHĐCĐ không thực hiện đúng theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty; (ii) Nội dung quyết định vi phạm quy định của pháp luật hoặc Điều lệ công ty LCT 1990 không có quy định về vấn đề này
Quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần: Cổ đông có quyền biểu quyết
không tán thành một quyết định của ĐHĐCĐ nhưng việc đó có thể không ảnh
Trang 37hưởng đến hiệu lực thông qua quyết định của ĐHĐCĐ vì điều này còn phụ thuộc vào tỷ lệ vốn cổ phần thuộc sở hữu của cổ đông đó trong công ty Để bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong những trường hợp này, LDN 1999 cho
phép “cổ đông biểu quyết phản đối quyết định về việc tổ chức lại công ty
hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình” (Điều 64) Việc thực hiện
quyền này của cổ đông phải tuân theo đúng các quy định của LDN 1999
Đối với cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất là 6 tháng hoặc tỉ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có quyền: Đề cử người vào HĐQT và BKS (nếu có);
yêu cầu triệu tập ĐHĐCĐ; xem xét nhận bản sao hoặc trích lục danh sách cổ đông có quyền sự ĐHĐCĐ; có quyền kiến nghị đưa vấn đề vào chương trình họp ĐHĐCĐ theo Điều 73 và một số quyền khác theo quy định tại Điều lệ công ty
Luật doanh nghiệp năm 2005
Trên cơ sở kế thừa những nội dung được quy định tại LDN 1999, LDN
2005 đã bổ sung thêm những quy định mới, cụ thể và chi tiết hơn về quyền của cổ đông nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các quyền của cổ đông công ty nói chung và của các cổ đông thiểu số nói riêng
LDN 2005 tiếp tục ghi nhận các quyền của cổ đông phổ thông đã được quy định trong LDN 1999, đồng thời quy định bổ sung thêm một số quyền mới của cổ đông Đó là:
Quyền xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong Danh sách cổ đông có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác
Danh sách cổ đông có trong sổ đăng ký cổ đông của công ty khi có quyết định triệu tập và phải lập xong ít nhất 10 ngày trước khi khai mạc Đại hội, danh sách phải ghi rõ các thông tin cần thiết như: tên, tuổi, địa chỉ, số lượng cổ
Trang 38phần mỗi loại của từng cổ đông Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% số cổ phần phổ thông theo quy định có quyền xem danh sách cổ đông, có quyền dự họp ĐHĐCĐ và yêu cầu sửa đổi, bổ sung nếu có sai lệch
Quyền xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, sổ biên bản họp ĐHĐCĐ và các nghị quyết của ĐHĐCĐ LDN quy định cổ đông phổ
thông có quyền xem xét tra cứu trích lục các thông tin trong danh sách cổ đông có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác;
có quyền xem xét tra cứu trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, sổ biên bản họp ĐHĐCĐ, các nghị quyết của ĐHĐCĐ Với quyền này các cổ đông dù không tham gia trực tiếp vào cơ quan quyền lực của công ty nhưng vẫn biết được tình hình hoạt động của công ty Nếu cổ đông phát hiện ra những vấn đề không minh bạch trong quá trình quản trị công ty của các thành viên trong cơ quan quyền lực công ty mà dẫn đến thiệt hại cho công ty hoặc lợi ích của cổ đông thì cổ đông có quyền yêu cầu BKS và BKS phải thông báo ngay bằng văn bản với HĐQT, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi này
và có giải pháp khắc phục hậu quả
Như vậy, công ty phải tạo điều kiện cho tất cả các cổ đông có quyền tiếp cận, xem xét, trích lục, sao chụp các thông tin liên quan đến các nội dung
đã được quy định mà không được quyền ngăn cấm Trong LDN 1999, chỉ có
cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% số cổ phần phổ thông trong liên tục ít nhất 6 tháng mới có quyền này Có thể nói đây là quy định mới có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của cổ đông, nâng cao tính minh bạch công khai trong công ty
Quyền yêu cầu đình chỉ thực hiện quyết định của HĐQT của cổ đông
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 108: “trong trường hợp quyết định do
HĐQT thông qua trái với quy định của pháp luật hoặc Điều lệ công ty gây thiệt hại cho công ty thì các thành viên chấp thuận thông qua quyết định đó
Trang 39phải cùng liên đới chịu trách nhiệm cá nhân về quyết định đó và phải đền bù thiệt hại cho công ty; thành viên phản đối thông qua quyết định nói trên được miễn trừ trách nhiệm Trong trường hợp này, cổ đông sở hữu cổ phần của công ty liên tục trong thời hạn ít nhất một năm có quyền yêu cầu HĐQT đình chỉ thực hiện quyết định nói trên” LDN 1999 chưa quy định cụ thể trường
hợp cổ đông có thể yêu cầu HĐQT chấm dứt việc thực hiện các quyết định của HĐQT trong trường hợp quyết định của HĐQT được thông qua trái với quy định của pháp luật, hoặc của Điều lệ gây thiệt hại cho lợi ích của cổ đông Trong trường hợp này cổ đông chỉ có thể hoặc là triệu tập ĐHĐCĐ để xem xét trách nhiệm của HĐQT hoặc yêu cầu BKS kiểm tra và nếu có vi phạm thì BKS chỉ có thể xử lý bằng việc triệu tập ĐHĐCĐ để xem xét giải quyết, tuy nhiên từ khi triệu tập đến khi ĐHĐCĐ thông qua được quyết định nhiều khi là quá muộn Quy định trên của LDN 2005 đã khắc phục được nhược điểm này Ngoài ra, cổ đông sở hữu cổ phần của công ty liên tục trong thời hạn ít nhất một năm còn có quyền tự mình hoặc cùng với luật sư hoăc kế toán và kiểm toán viên có chứng chỉ hành nghề trực tiếp xem xét các Báo cáo về tình hình kinh doanh của công ty, Báo cáo tài chính và Báo cáo đánh giá công tác quản
lý, điều hành công ty trong thời gian thích hợp Đây được xem là một trong những tiến bộ rõ rệt của LDN 2005 trong việc đảm bảo quyền thông tin của
cổ đông
Đối với quyền của cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% số cổ phần phổ thông trong liên tục ít nhất 6 tháng (hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty) cũng được LDN 2005 quy định bổ sung thêm các quyền mới so với LDN 1999:
Xem xét và trích lục sổ biên bản và các nghị quyết của HĐQT, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và các báo cáo của BKS Đây là quyền mới được LDN 2005 trao cho cổ đông
Trang 40hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% số cổ phần phổ thông trong liên tục ít nhất 6 tháng (hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty) trong khi LDN 1999 chỉ quy định quyền được xem và nhận bản sao hoặc trích lục danh sách cổ đông có quyền dự họp ĐHĐCĐ Quy định mới này đảm bảo cổ đông nắm bắt được tình hình hoạt động của công ty, đồng thời kiểm soát được nguồn vốn góp của mình trong quá trình kinh doanh của công ty
Yêu cầu triệu tập họp ĐHĐCĐ trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 79 LDN 2005 đã có bổ sung và quy định chi tiết hơn về quyền này
Theo đó, yêu cầu triệu tập ĐHĐCĐ chỉ được thực hiện trong các trường hợp gồm có: i) HĐQT vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao; ii) Nhiệm
kỳ của HĐQT đã vượt quá sáu tháng mà HĐQT mới chưa được bầu thay thế; iii) Các trường hợp khác theo quy định của Điều lệ công ty Yêu cầu triệu tập họp ĐHĐCĐ của cổ đông, nhóm cổ đông này phải được lập bằng văn bản và phải có họ, tên, địa chỉ thường trú, số GCMND, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác đối với cổ đông là cá nhân; tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số ĐKKD đối với cổ đông là tổ chức; số cổ phần và thời điểm đăng ký cổ phần của từng cổ đông, tổng số cổ phần của cả nhóm cổ đông và tỷ lệ sở hữu trong tổng số cổ phần của công ty, căn cứ và lý
do yêu cầu triệu tập họp ĐHĐCĐ Kèm theo yêu cầu phải có các tài liệu, chứng cứ về các vi phạm của HĐQT, mức độ vi phạm hoặc về quyết định vượt quá thẩm quyền
Yêu cầu BKS kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết Yêu cầu phải bằng văn bản; phải có họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số GCMND, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác đối với cổ đông là cá nhân; tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số ĐKKD đối với cổ