- Thông qua việc đánh giá nghiên cứu các quy định và cơ chế thực thi pháp luật ở một số quốc gia trên thế giới sẽ giúp ta tiếp thu những kinh nghiê ̣m quý báu nhằm kiểm soát hợp đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ VÂN ANH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phạm Thị Ninh
Trang 4SOÁT HỢP ĐỒNG THEO MẪU TRONG LĨNH VỰC TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN NHẰM BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG 8 1.1 Khái quát chung về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông
qua việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền 8
1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng 8 1.1.2 Khái niệm về dịch vụ truyền hình trả tiền và các loại dịch vụ
truyền hình trả tiền 11 1.1.3 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng theo mẫu 15 1.1.4 Khái niệm, đặc trưng cơ bản của hợp đồng theo mẫu trong lĩnh
vực truyền hình trả tiền 20
1.2 Khái quát chung về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh
vực truyền hình trả tiền 22
1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết của việc ban hành pháp luật kiểm soát
hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền 22 1.2.2 Khái quát chung về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực
truyền hình trả tiền ở Việt Nam và ở một số nước trên thế giới 25
Tiểu kết chương 1 34
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ KIỂM
SOÁT HỢP ĐỒNG THEO MẪU TRONG LĨNH VỰC TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN NHẰM BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƯỜI TIÊU DÙNG 35
2.1 Nội dung pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 35
2.1.1 Điều kiện và nội dung hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền 35
2.1.2 Trình tự, thủ tục, thẩm quyền đăng ký hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền 43
2.1.3 Xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền 48
2.1.4 Các thiết chế thực hiện quản lý nhà nước trong công tác kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền 52
2.2 Đánh giá về thực trạng thực thi pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 53
2.2.1 Những mặt tích cực 53
2.2.2 Những mặt hạn chế, tồn tại và nguyên nhân 58
Tiểu kết chương 2 68
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT HỢP ĐỒNG THEO MẪU TRONG LĨNH VỰC TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN NHẰM BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG 69
3.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền 69
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền 71
Trang 63.2.1 Hoàn thiện chế định hợp đồng theo mẫu 71
3.2.2 Hoàn thiện cơ chế kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền 73
3.2.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin cho người tiêu dùng 76
3.2.4 Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát hình thức của hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền 77
3.2.5 Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung của hợp đồng trong lĩnh vực truyền hình trả tiền 79
3.2.6 Hoàn thiện pháp luật về việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật về hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền 82
3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền 83
3.3.1 Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 83
3.3.2 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật về hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 83
3.3.3 Tăng cường vai trò của các thiết chế thực hiện quản lý nhà nước trong việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền 84
3.3.4 Nâng cao ý thức của người tiêu dùng, trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền trong việc tuân thủ các quy định pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu 86
Tiểu kết chương 3 88
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 93
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả phát triển thuê bao PayTV tại Việt Nam 54
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ quyền con người trong đó có quyền của người tiêu dùng là mục tiêu của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,
do dân và vì dân ở nước ta Xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không nhằm mục đích nào khác là phục vụ lợi ích của toàn thể nhân dân lao động Trong đó, nhân dân có quyền được hưởng một cuộc sống vật chất đầy đủ, được sử dụng những sản phẩm, dịch vụ có chất lượng để nâng cao đời sống, đáp ứng những nhu cầu cần thiết phục vụ cuộc sống của người dân Trong quá trình đó, không thể không nhắc đến vai trò của Doanh nghiệp, một lực lượng quan trọng, tác động toàn diện đến các mặt của đời sống kinh tế - xã hội, đến sự phát triển bền vững của đất nước Các hàng hoá, dịch vụ
do các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất và cung cấp ngày càng phong phú, đa dạng về chủng loại và chất lượng không ngừng nâng cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sử dụng đa dạng và phong phú của người tiêu dùng Mô ̣t trong số các dịch vụ đang dần trở thành nhu cầu thiết yếu trong quá trình sinh hoạt của người tiêu dùng hiê ̣n nay đó là di ̣ch vu ̣ Truyền hình trả tiền
Ở Việt Nam, dịch vụ truyền hình trả tiền mới thâm nhập và phát triển hơn 10 năm qua, tuy là lĩnh vực mới nhưng đã có sự bứt phá không chỉ về số lượng mà còn cả công nghệ và số lượng các doanh nghiệp tham gia trên khắp thị trường cả nước Là một loại hình dịch vụ chiếm lĩnh số lượng lớn người tiêu dùng, ở Việt Nam xuất hiện ngày càng nhiều các doanh nghiệp cung cấp loại hình dịch vụ này
Tuy nhiên, hiện nay khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến người tiêu dùng Chính sách hội nhập kinh tế quốc tế và xu thế toàn cầu hoá trên thế giới, bên cạnh việc tạo nhiều cơ hội trong tiếp cận và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ có chất
Trang 10lượng và giá cả thích hợp cũng đặt người tiêu dùng Việt Nam trước những nguy cơ mới Mă ̣c dù dần trở thành mô ̣t phần quan trọng trong đời sống sinh hoạt của người Việt Nam , nhưng truyền hình trả tiền dường như không làm tốt vai trò của mình mà ngày càng xuất hiện nhiều hạn chế thể hiện thông qua các hành vi ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng Các doanh nghiệp cung cấp di ̣ch vu ̣ phải chăng đang mải mê câu chuyê ̣n “lợi nhuâ ̣n” mà quên đi va i trò cốt lõi của mình là cần phải cung cấp các dịch vụ chất lượng và đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng
Tôi cho ̣n đề tài : “Pháp luật Việt Nam về kiểm soát hợp đồng theo
mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” vì những lý do sau:
- Mong muốn được nghiên cứu mô ̣t cách có hê ̣ thống và đầy đủ các quy
đi ̣nh của pháp luâ ̣t Viê ̣t Nam liên quan đến kiểm soát hợp đồng theo mẫu nói chung và kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nói riêng nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
- Trên thế giới, hợp đồng theo mẫu đã được sử dụng rất nhiều và phổ biến Ở Việt Nam, loại hợp đồng này cũng đã được áp dụng ngày một nhiều trong thực tiễn hoạt động giao dịch hàng hóa, dịch vụ giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng Các doanh nghiệp ngày càng lạm dụng vị thế để sử dụng ngày càng nhiều dạng hợp đồng theo mẫu với những điều khoản không có lợi cho người tiêu dùng Chính vì thế mà thông qua việc nghiên cứu đề tài này, giúp tác giả có một cái nhìn tổng quát về việc kiểm soát loại hợp đồng này
Từ đó có những nhận định, đóng góp không chỉ về nội dung mà còn cả thực tiễn thực thi pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu nói chung và hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nói riêng
- Hiện nay, qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy, pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền vẫn còn tồn tại một số
Trang 11hạn chế, bất cập Quá trình thực thi pháp luật trên thực tiễn còn gặp phải một
số khó khăn nhất định, vì vậy, thông qua việc nghiên cứu đề tài, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao công tác thực thi pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền trên thực tế
- Thông qua việc đánh giá nghiên cứu các quy định và cơ chế thực thi pháp luật ở một số quốc gia trên thế giới sẽ giúp ta tiếp thu những kinh
nghiê ̣m quý báu nhằm kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền góp phần công tác đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, hiện nay chưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp đề
tài: “Pháp luật Việt Nam về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực
truyền hình trả tiền nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” Tuy nhiên
trong quá trình tìm hiểu tác giả nhận thấy cũng đã có một số công trình có nội
dung liên quan đến đề tài nêu trên, cụ thể như: Sách chuyên khảo “Pháp luật
về hạn chế rủi ro cho người tiêu dùng trong hợp đồng theo mẫu” - TS Doãn
Hồng Nhung chủ biên với nội dung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản
về hợp đồng theo mẫu, các rủi ro và biện pháp hạn chế rủi ro trong giao kết hợp đồng theo mẫu ở một số lĩnh vực cụ thể Đặc san Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, số 06/2011 ngày 26/9/2011 của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ; Báo cáo tổng quan đề tài nghiên cứu cấp Bộ do TS Định Thị Mỹ Loan - Bộ Công thương làm chủ biên (năm
2006) với nội dung “Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” Đề tài: “Pháp luật về hợp đồng dân sự theo mẫu trên thế giới - những kinh nghiệm đối với Việt Nam” luận văn Thạc sỹ, 2011 của Nguyễn Thị Ngọc Anh “Vấn đề bảo vệ người tiêu dùng trên cơ sở xem xét một số vụ việc cụ thể tại Việt Nam” Bài
Trang 12viết của tác giả Đỗ Thị Ngọc đăng trên tạp chí nhà nước và pháp luật số
10/2007, (tr 62- 70), Luận văn thạc sĩ: “Quản lý nhà nước về dịch vụ truyền
hình trả tiền tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020” với nội dung chủ yếu liên
quan đến công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực truyền hình trả tiền
Tuy nhiên, những công trình khoa học nêu trên hiện tại chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu, đầy đủ, có trọng tâm, trọng điểm và toàn diện về việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền Chưa có một đề tài nào nghiên cứu một cách trọn vẹn, toàn diện các biện pháp giúp kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền, thông qua hệ thống văn bản pháp lý và đánh giá việc thực thi pháp luật về kiểm soát loại hợp đồng này trên thực tế, mặc dù đây là một vấn đề có ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn
Chính vì những lí do trên mà tôi chọn nghiên cứu đề tài : “Pháp luật
Việt Nam về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” làm luận văn thạc sĩ luật học
với mong muốn góp phần làm sáng tỏ các vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, nghiên cứu kĩ những quy
đi ̣nh của pháp luật để từ đó đề xuất một vài ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong việc điều chỉnh nội dung này
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu một cách hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn việc thực hiện pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền, đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay
3.2 Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu tổng quát trên, luận văn đưa ra những mục tiêu cụ thể sau:
Trang 13Thứ nhất, làm rõ cơ sở khoa học, lý luận chung về hợp đồng theo mẫu Thứ hai, phân tích những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Thứ ba, nghiên cứu thực trạng hệ thống pháp luật quy định về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Thứ tư, kiến nghị hướng sửa đổi, hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền cho phù hợp với thực tế và phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế
4 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn là một công trình khoa học đầu tiên ở cấp thạc sĩ luật học đề cập vấn đề lý luận , thực tiễn về lĩnh vực truyền hình trả tiền ở Việt Nam Đề
tài “Pháp luật Việt Nam về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực
truyền hình trả tiền nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” tôi cho ̣n sẽ
trực tiếp nghiên cứu chuyên sâu, làm rõ các vấn đề sau:
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng theo
mẫu và việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu nói chung và hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nói riêng
Thứ hai: Đối chiếu các quy định của pháp luật hiện hành với thực tiễn
để phân tích, đánh giá làm rõ những ưu điểm và hạn chế trong quá trình áp dụng quy định của pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền Đồng thời, tìm hiểu đánh giá thực tiễn các giao dịch hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng trong giao kết hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền
Thứ ba: Từ nghiên cứu về lý luận cũng như thực tiễn pháp luật, mạnh
Trang 14dạn kiến nghị hướng sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền cho phù hợp với thực tế và phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế
Đề tài mang ý nghĩa nghiên cứu chuyên sâu cho việc xây dựng những quy phạm pháp luật liên quan đến kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền , là cơ sở khoa học cho việc áp dụng các quy phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thực tiễn nhằm ổn định mối quan hệ giữa thương nhân và người tiêu dùng, cũng như tạo môi trường thuận lợi trong viê ̣c bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài không mở rộng phạm vi nghiên cứu các nội dung về kinh tế, chính trị, thương mại trong lĩnh vực truyền hình trả tiền mà chỉ tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam
Thực tiễn thực hiện các quy định về hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền ở Việt Nam từ đó đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về thực hiện quyền của con người nói chung và quyền của người tiêu dùng nói riêng
Trên cơ sở phương pháp luật của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, luận văn có sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp hệ thống, phương pháp logic, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh và phương pháp tổng hợp
- Phương pháp hệ thống được sử dụng nhằm để phân loại, tập hợp các
Trang 15nội dung liên quan đến pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền, pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và thực hiện pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền đối với người tiêu dùng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới
- Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu được sử dụng xuyên suốt trong quá trình thực hiện luận văn Theo đó, trên cơ sở nghiên cứu và thu thập tài liệu đưa ra những đánh giá về pháp luật Việt Nam hiện hành và thực trạng thực thi pháp luật từ đó đưa ra các quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng ở Việt Nam trong quá trình sử dụng dịch vụ truyền hình trả tiền
- Phương pháp lịch sử được sử dụng để đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt Nam trong quá trình sử dụng dịch vụ truyền hình trả tiền ở Việt Nam Điều kiện cụ thể của đất nước
là xuất phát điểm để tác giả đánh giá đúng thực trạng thực hiện pháp luật bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thời kì đổi mới
Bên cạnh việc sử dụng các phương pháp nêu trên, luận văn còn sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp các nhận định, số liệu để chứng minh cho các luận giải nêu trên
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, bao gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo
mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về kiểm soát hợp đồng theo mẫu
trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả kiểm
soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT HỢP ĐỒNG THEO MẪU TRONG LĨNH VỰC TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN NHẰM BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
1.1 Khái quát chung về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông qua việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền
1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng
Người tiêu dùng là một từ nghĩa rộng dùng để chỉ các chủ thể dùng sản phẩm hoặc dịch vụ sản xuất trong nền kinh tế mà không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lợi Khái niệm người tiêu dùng được dùng trong nhiều văn cảnh khác nhau vì thế cách dùng và tầm quan trọng của khái niệm này có thể rất đa dạng
Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của các nước trên thế giới có ba cách quy định khác nhau về khái niệm người tiêu dùng:
Cách thứ nhất: Chỉ quy định người tiêu dùng là thể nhân (hoặc cá nhân) [3, tr.3] Cách quy định này thể hiện rõ luật bảo vệ NTD chỉ bảo vệ đối với cá nhân, còn pháp nhân do họ có những vị thế và điều kiện tốt hơn so với
cá nhân trong quan hệ với nhà cung cấp nên luật bảo vệ NTD không cần thiết phải can thiệp vào quan hệ tiêu dùng của họ Có thể kể đến quy định tại bản Hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng ban hành từ năm
1985 và đã được hiệu chỉnh vào năm 1999; quy định của Pháp luật Hoa Kỳ; quy định của Pháp luật Pháp; quy định của pháp luật Nhật Bản…[3, tr.3]
Trong bản Hướng dẫn của Liên Hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng ban hành từ năm 1985 và đã được hiệu chỉnh vào năm 1999, khái niệm người tiêu dùng không được giải thích một cách rõ ràng Tuy nhiên, theo bản hướng dẫn này người tiêu dùng được hưởng 8 quyền sau đây: (1) quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, (2) quyền được an toàn, (3) quyền được thông tin,
Trang 17(4) quyền được lựa chọn, (5) quyền được lắng nghe, (6) quyền được khiếu nại
và bồi thường, (7) quyền được giáo dục, đào tạo về tiêu dùng, (8) quyền được
có môi trường sống lành mạnh và bền vững [6, tr.33] Xem xét tổng thể nội dung của 8 quyền, có thể thấy rằng, đây chỉ có thể là các quyền mà chỉ chủ thể là cá nhân con người mới đầy đủ tư cách để thụ hưởng Nói cách khác, 8 quyền năng này không thể trao trọn vẹn cho chủ thể là tổ chức Điều này cũng
có nghĩa rằng, trong quan niệm của Bản hướng dẫn vừa nêu, người tiêu dùng chỉ được hiểu là cá nhân người tiêu dùng
Theo Luật của Hoa Kỳ, các quy định về bảo vệ người tiêu dùng ở Hoa
Kỳ nằm cả ở pháp luật của Liên Bang và pháp luật của các Bang Tuy không
có một đạo luật chung thống nhất về bảo vệ người tiêu dùng mà trong đó khái niệm người tiêu dùng được giải thích rõ ràng, nhưng theo các chuyên gia pháp luật của Hoa Kỳ, khái niệm người tiêu dùng chỉ được quan niệm là cá nhân
người tiêu dùng Cụ thể, “Người tiêu dùng là cá nhân tham gia giao dịch với
mục đích chủ yếu vì nhu cầu cá nhân hoặc sinh hoạt hộ gia đình” [29, tr.2]
Theo pháp luật của Pháp thì người tiêu dùng theo quan niệm của pháp luật Pháp cũng chỉ là các cá nhân nhưng không bao gồm các cá nhân khi thực hiện hành vi mua sắm hàng hóa, dịch vụ để phục vụ hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động có tính nghề nghiệp của mình Đối với luật của Nhật thì tại khoản 1 điều 2 Luật về Hợp đồng tiêu dùng (tức là hợp đồng giao kết giữa người tiêu dùng với thương nhân) của Nhật Bản năm 2000 giải thích rõ: người tiêu dùng theo quy định của luật này là cá nhân nhưng không bao gồm cá nhân tham gia hợp đồng với mục đích kinh doanh
Điều đó cho thấy, pháp luật của nhiều nước tập trung bảo vệ cho nhóm người tiêu dùng yếu thế nhất, cần được bảo vệ nhất - đó chính là các cá nhân tham gia mua sắm hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích sinh hoạt tiêu dùng của bản thân cá nhân hoặc của gia đình mình
Trang 18Tuy nhiên cách tiếp cận này cũng có một số điểm hạn chế bởi lẽ theo quy định của pháp luật thì pháp nhân có nhiều loại bao gồm cả doanh nghiệp
và các cơ quan tổ chức khác trong xã hội Các đối tượng này họ cũng có hoạt động tiêu dùng thông thường mà không phải các quan hệ mua bán của họ đều
là các quan hệ thương mại Do đó trong quan hệ tiêu dùng họ cũng không phải là những người chuyên nghiệp và cũng như các cá nhân, họ cũng không
có sẵn nguồn lực để đối phó với những hành vi vi phạm từ phía nhà sản xuất
và cũng rất cần tới sự bảo vệ của pháp luật bảo vệ NTD
Cách thứ hai là quy định NTD bao gồm cả thể nhân và pháp nhân Trong số này, phải kể đến pháp luật của Ấn Độ và Đài Loan (Trung Quốc) Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Ấn Độ năm 1986 có một số quy định như sau (Điều 2(1d) và 2(1m)): Điều 2(1d): “Người tiêu dùng là bất cứ người nào mua … hàng hóa… mà không có mục đích để bán lại hoặc vì mục đích thương mại khác.” Điều 2(1m) giải thích chữ “người” (nhân) ở đây được hiểu bao gồm: hãng (doanh nghiệp), cá nhân, hộ gia đình, hợp tác xã, tổ chức xã hội Quy định này tuy có vẻ hơi rộng và có thể có quan điểm cho rằng nó sẽ làm loãng đi hiệu lực của Luật bảo vệ NTD Tuy nhiên cách quy định này đã khắc phục được hạn chế của cách quy định thứ nhất vì không phải lúc nào pháp nhân cũng là người đủ khả năng để đối mặt được với các vi phạm từ phía nhà sản xuất kinh doanh và hậu quả là nếu Luật bảo vệ NTD không bảo
vệ họ như đối với các cá nhân tiêu dùng khác thì quyền lợi của một nhóm đối tượng khá lớn trong xã hội bị xâm phạm, gây thiệt hại chung cho toàn xã hội
Cách thứ ba là không nêu rõ chỉ là cá nhân hay gồm cả cá nhân và pháp nhân Cách quy định này chỉ nói là “người nào” hoặc “những ai” Điều 3 của
Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 1999 của Malaysia quy định: “người tiêu
dùng là người mua hoặc sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ cho mục đích sinh hoạt
cá nhân hoặc sinh hoạt gia đình… và không gồm việc mua hoặc sử dụng hàng
Trang 19hóa vì mục đích chính để bán lại hoặc đưa vào quá trình sản xuất hàng hóa, dịch vụ khác hoặc để dùng cho việc sửa chữa, gắn thêm vào hàng hóa khác
Cách quy định này có thể dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau và khó có thể được áp dụng trong thực tiễn bởi lẽ nó có thể được hiểu là gồm cả cá nhân và pháp nhân, nhưng cũng có thể giải thích theo hướng chỉ là cá nhân
Theo pháp luật Việt Nam được thể hiện tại Điều 3 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì: “Người tiêu dùng” là các cá nhân, tổ chức mua hoặc
sử dụng hợp pháp hàng hoá, dịch vụ không nhằm mục đích kinh doanh Như vậy pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam đã nêu rõ cả pháp nhân và thể nhân đều được coi là người tiêu dùng khi họ mua sử dụng nhằm mục đích tiêu dùng không nhằm mục đích kinh doanh, bán lại và họ được bảo
vệ trước những vi phạm từ nhà sản xuất
1.1.2 Khái niệm về dịch vụ truyền hình trả tiền và các loại dịch vụ truyền hình trả tiền
1.1.2.1 Khái niệm về dịch vụ truyền hình trả tiền
Theo quy định tại điều 3 mục giải thích từ ngữ trong Quy chế Quản lý hoạt
động truyền hình trả tiền (Ban hành kèm theo Quyết định số 20/2011/QĐ-TTg
ngày 24 tháng 3 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ) thì Dịch vụ truyền hình
trả tiền được hiểu là dịch vụ ứng dụng viễn thông để truyền dẫn, phân phối các kênh chương trình, chương trình truyền hình trả tiền và các dịch vụ giá trị gia tăng trên hạ tầng kỹ thuật cung ứng dịch vụ truyền hình trả tiền đến các thuê bao truyền hình trả tiền theo hợp đồng cung cấp dịch vụ hoặc các thỏa thuận có tính ràng buộc tương đương Dịch vụ truyền hình trả tiền có thể được cung cấp trực tiếp (dịch vụ truyền hình trực tuyến) hoặc theo yêu cầu (dịch vụ truyền hình theo yêu cầu) đến các thuê bao truyền hình trả tiền Tuy nhiên theo Nghị định số 06/2016 NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 18 tháng 1 năm 2016 quy định về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ phát thanh,
Trang 20truyền hình thay thế Quyết định số 20/2011/QĐ-TTg nêu trên đã đưa ra khái niệm dịch vụ truyền hình trả tiền như sau “dịch vụ truyền hình trả tiền là dịch
vụ do doanh nghiệp được cấp phép cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền cung cấp cho người sử dụng dịch vụ có áp dụng biện pháp kỹ thuật để quản lý, kiểm soát và ràng buộc điều kiện thu tín hiệu”
Như vậy, qua hai định nghĩa nêu trên có thể hiểu dịch vụ truyền hình trả tiền là dịch vụ do doanh nghiệp được phép cung cấp dịch vụ cho người
sử dụng và có thu phí, đặc điểm chính yêu cầu của phương thức thực hiện truyền hình trả tiền là phải có khả năng đáp ứng được việc truyền dẫn được nhiều kênh truyền hình, các dịch vụ giá trị giá tăng và đặc biệt là phải có khả năng quản lý được các chương trình đến từng đầu thu giải mã (cần có
hệ thống khóa mã)
Trên thế giới, truyền hình trả tiền đang chiếm tỷ trọng lớn về doanh thu
so với các hình thức kinh doanh khác, nhiều nước còn vượt cả doanh thu quảng cáo vì lợi thế của nó Truyền hình trả tiền xuất hiện manh nha ban đầu vào năm 1982, đến năm 1984 Teleclup - đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền đầu tiên - chính thức hoạt động mạnh tại Zurich, Thụy Sĩ Đến năm
1985, số lượng thuê bao của Teleclub đã lên đến 40.000 thuê bao Năm 1986, lần đầu tiên truyền hình trả tiền có mặt tại Cộng hòa Liên bang Đức Tại Mỹ vào cuối năm 1987 số lượng hộ gia đình sử dụng dịch vụ truyền hình trả tiến
đã lên tới 30%
Cách đây 10 năm ở Việt Nam chủ yếu xem truyền hình analog miễn phí (Free TV) thì đến nay truyền hình trả tiền (Pay TV) đã phát triển chóng mặt
và dịch vụ ngày càng hoàn thiện Dịch vụ truyền hình trả tiền mới thâm nhập
và phát triển tại Việt Nam trong hơn 10 năm qua Đây là một loại hình dịch
vụ hoàn toàn mới nhưng đã có bước phát triển vượt bậc không chỉ về chất lượng mà còn cả về số lượng các doanh nghiệp tham gia trên khắp cả nước
Trang 21Từ khi xuất hiện tại Việt Nam đến nay, truyền hình trả tiền đã được đầu tư đáng kể, góp phần giúp người dân có quyền lựa chọn dịch vụ để đáp ứng nhu cầu
về thông tin và giải trí Truyền hình trả tiền dần trở thành sự lựa chọn cho người xem do lợi thế về tính đa dạng, nội dung phong phú, kỹ thuật hiện đại
Số liệu chính thức về thị phần cũng như doanh thu của truyền hình trả tiền lần đầu tiên được Bộ Thông tin và Truyền thông công bố trong Sách Trắng về Công nghệ thông tin - Truyền thông Việt Nam năm 2013 Năm 2012
có 27 đơn vị hoạt động trong lĩnh vực trên Thị trường cũng hình thành doanh nghiệp thống lĩnh là SCTV với hơn 36% thị phần, còn lại là VTVCab (trước đây là VCTV) nắm 22,67%, VNPT 19,27%, HTVC 15,44% Đến năm 2013 với sự tham gia của tập đoàn Viễn thông quân đội Vietel, FPT, VNPT, trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ truyền hình trả tiền đã tạo ra sự chuyển biến tích cực Số lượng thuê bao truyền hình cáp năm 2013 tăng hơn 11 triệu thuê bao, nâng tổng doanh thu truyền hình trả tiền năm 2013 lên 276,43 triệu USD, tăng 38% so với năm 2012 [22, tr.71]
1.1.2.2 Các loại dịch vụ truyền hình trả tiền
Truyền hình trả tiền có một số dạng như: Dịch vụ truyền hình HD, Truyền hình theo yêu cầu, Dịch vụ truyền hình IPTV, Truyền hình cáp, truyền hình số mặt đất (DTT), truyền hình số vệ tinh (DTH), truyền hình Internet, Truyền hình trên điện thoại di động mobile TV
- Dịch vụ truyền hình HD là thế hệ truyền hình có độ nét cao HD viết tắt của cụm từ tiếng Anh High Definition nghĩa là Độ nét cao hay Độ phân giải cao So với thế hệ truyền hình SD hiện nay ( Cụm từ tiếng Anh Standard Definition nghĩa là Độ nét tiêu chuẩn) có nhiều điểm khác biệt Truyền hình SD-TV có độ phân giải cao nhất là 720 điểm chiều ngang x 576 điểm chiều dọc (720×576), trong khi đó truyền hình HD-TV có 2 độ phân giải chủ yếu:
1920 điểm ảnh chiều ngang và x 1080 điểm chiều dọc (1920×1080) hoặc
Trang 221280 điểm ảnh chiều ngang và 720p điểm ảnh chiều dọc (1280×720) Chính
vì thế, số lượng các chi tiết ảnh của HDTV cao hơn nhiều so với SDTV, nên HDTV sẽ cho các hình ảnh có độ phân biệt chi tiết cao hơn rất nhiều so với SDTV trên các màn hình có kích thước lớn có hỗ trợ HDTV
- Truyền hình theo yêu cầu là dịch vụ truyền hình trả tiền thực hiện việc lưu trữ các chương trình, kênh chương trình truyền hình trả tiền và cung cấp đến thuê bao truyền hình trả tiền theo yêu cầu của thuê bao truyền hình trả tiền
- Dịch vụ truyền hình IPTV là một hệ thống dịch vụ truyền hình kỹ thuật số được phát đi nhờ vào giao thức Internet thông qua một hạ tầng mạng,
mà hạ tầng mạng này có thể bao gồm việc truyền thông qua một kết nối băng thông rộng Một định nghĩa chung của IPTV là truyền hình, nhưng thay vì qua hình thức phát hình vô tuyến hay truyền hình cáp thì lại được truyền phát hình đến người xem thông qua các công nghệ sử dụng cho các mạng máy tính
- Truyền hình trên điện thoại di động mobile TV: các thuê bao sẽ được thoải mái xem các kênh truyền hình trên thiết bị di động Chỉ cần bạn đang sở hữu một chiết smartphone có hỗ trợ streaming có thể chạy được video clip và hoạt động 2 chiều đã được đăng ký dịch vụ 3G trở lên của các mạng di động,
là bạn có thể đăng ký sử dụng dịch vụ tiện ích Mobile TV
- Truyền hình cáp là dịch vụ truyền hình trả tiền sử dụng cáp quang hoặc cáp đồng trục để truyền tín hiệu nên gần như không bị ảnh hưởng bởi các tác nhân như thời tiết hay môi trường âm thanh xung quanh, hình ảnh rõ nét, âm thanh tốt, hỗ trợ nhiều kênh Cáp tín hiệu sẽ phải kết nối qua Set-top-box (DVB-C2) trước khi đến tivi Đối với gia đình sử dụng nhiều tivi, tín hiệu truyền hình này có thể được chia ra để sử dụng nhưng chất lượng hình ảnh sẽ bị giảm đi
- Truyền hình số mặt đất là truyền hình sử dụng phương thức phát sóng mặt đất, tín hiệu được nhà đài số hóa trước khi phát ra, phía người dùng dùng
Trang 23angten và bộ giải mã để thu nhận sử dụng Hiện tại, những gia đình sử dụng tivi đời cũ (sản xuất trước năm 2014) cần mua thêm đầu thu kỹ thuật số chuẩn DVB - T2 để giải mã tín hiệu Còn những mẫu TV (từ 32 inch trở lên) mới trên thị trường từ sau năm 2014 thì không cần trang bị thêm vì đã được tích hợp sẵn đầu thu chuẩn này ở trong TV
- Truyền hình số vệ tinh: Tín hiệu số được phát lên vệ tinh và vệ tinh phát trở lại mặt đất Đầu thu sẽ sử dụng ăng ten Parabol để thu tín hiệu này và chuyển qua đầu giải mã để chuyển hóa thành hình ảnh và âm thanh Công nghệ truyền hình số vệ tinh hiện nay sử dụng đầu thu chuẩn DVB-S2 sẽ cho hình ảnh sắc nét, âm thanh sống động Đây là dịch vụ truyền hình khá cao cấp
do chi phí đầu tư lớn hơn so với các dịch vụ truyền hình bên trên Bù lại ưu điểm là vùng phủ sóng rộng, không phụ thuộc vào địa hình, chất lượng hình ảnh và âm thanh ổn định, đồng đều
- Truyền hình internet: là loại truyền hình thế hệ mới sử dụng đường truyền internet để truyền tải các chương trình truyền hình Để sử dụng dịch vụ này, người dùng cần đăng ký với nhà cung cấp và sử dụng đầu giải mã để chuyển tín hiệu từ đường truyền internet qua tivi Hiện nay chất lượng đường truyền internet với tốc độ khá cao nên đủ đáp ứng sử dụng dịch vụ này
1.1.3 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng theo mẫu
Hợp đồng là công cụ chủ yếu để xác lập quan hệ giữa các cá nhân, tổ chức trong đời sống thường ngày và là một chế định điển hình trong pháp luật dân sự nói riêng và pháp luật nói chung Hợp đồng được giao kết hàng ngày, với nhiều hình thức, giữa nhiều chủ thể khác nhau, trong nhiều lĩnh vực khác nhau và phong phú, đa dạng nhất vẫn là trong lĩnh vực dân sự, thương mại, tiêu dùng Cũng chính từ lý do này, để giảm bớt thời gian cho mỗi giao dịch, một số tổ chức lớn, những công ty chuyên cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho một số lượng lớn khách hàng thường sử dụng các loại hợp đồng được soạn
Trang 24sẵn thành từng mẫu nhất định và áp dụng hàng loạt Những hợp đồng này được gọi là hợp đồng theo mẫu hay trong pháp luật của một số nước còn có tên là hợp đồng gia nhập hoặc hợp đồng hàng loạt
Trên thế giới, hợp đồng theo mẫu đã được sử dụng rất nhiều và phổ biến, được quy định bằng tên gọi khác nhau cũng như tồn tại ở nhiều hình thức khác nhau Một số quốc gia chú trọng đến yếu tố hình thức thì quan niệm đây là dạng hợp đồng mẫu (standard form contract) - tức là hợp đồng soạn sẵn, áp dụng cho nhiều đối tượng và sẽ không được thương lượng lại các điều khoản của hợp đồng Một số quốc gia khác lại chú trọng đến yếu tố phương thức giao kết nên đặt tên loại hợp đồng này là hợp đồng gia nhập (adhesion contract) - tức là hợp đồng do một bên soạn thảo, quyết định mọi nội dung có liên quan và bên còn lại chỉ việc ký/từ chối ký hoặc trả lời đồng ý/không đồng
ý Cũng có một số quốc gia chú trọng về tính ứng dụng của hợp đồng nên quan niệm đây là những hợp đồng hàng loạt (boilerplate contract)[8]
Các quốc gia khác nhau có cách định nghĩa hợp đồng theo mẫu khác nhau Xét từ khía cạnh Luật bảo vệ người tiêu dùng, các quốc gia vùng lãnh thổ đưa ra khái niệm hợp đồng theo mẫu gồm có: Québec, Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Hoa Kỳ, Canada, Hồng Kông, Ấn Độ, Nga, Nauy, Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Québec, Anh,…[8]
Điều 1379 Bộ luật Dân sự Québec năm 1991 đã định nghĩa hợp đồng
theo mẫu như sau: “Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng khi mà các quy định chủ
yếu được áp đặt hoặc chuẩn bị bởi một bên theo ý kiến của họ và những điều khoản đó không thể được tự do thảo luận Tất cả các hợp đồng không phải hợp đồng mẫu đều phải có thỏa thuận giữa các bên” [25, tr.1379]
Tại Pháp, Jaccques Ghestin - Giáo sư nổi tiếng chuyên ngành luật nghĩa
vụ của Pháp tại Đại học Paris I Pantheon - Sorbonne đưa ra một định nghĩa cũng tương tự như vậy: “Hợp đồng theo mẫu có thể được định nghĩa là sự tham
Trang 25gia vào một hợp đồng mẫu, được soạn thảo đơn phương của một bên, bên kia gia nhập vào và không có khả năng thay đổi nội dung hợp đồng” [31, tr.13]
Pháp luật Hàn Quốc có quy định:
Cụm từ “Hợp đồng theo mẫu” được hiểu là một loại hợp đồng bao gồm các điều khoản, điều kiện - bất kể phạm vi, thể loại hay tên gọi của chúng như thế nào - được một bên chuẩn bị trước dưới một hình thức nhất định với mục đích giao kết hợp đồng với nhiều đối tác khác nhau [19, tr.13]
Trong pháp luật Việt Nam, việc định nghĩa hợp đồng theo mẫu được thể hiện ở ba văn bản pháp luật: Bộ luật Dân sự 2005, Bộ luật Dân sự 2015 và Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (LBVQLNTD) năm 2010 Trong Bộ luật Dân
sự 2005, khoản 1, Điều 407 quy định: “Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm
những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra.” Tương tự như
vậy ở Bộ luật Dân sự 2015 cũng có quy định tại Điều 405 về hợp đồng theo mẫu như sau:
Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn
bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra Hợp đồng theo mẫu phải được công khai để bên được đề nghị biết hoặc phải biết về những nội dung của hợp đồng Trình tự, thể thức công khai hợp đồng theo mẫu thực hiện theo quy định của pháp luật
Như vậy, Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định cụ thể hơn, rõ ràng và minh bạch hơn về hợp đồng theo mẫu khi hợp đồng này phải được công khai để bên
đề nghị được biết hoặc phải biết, trình tự, thể thức công khai hợp đồng thực
Trang 26hiện theo quy định của pháp luật Mặc dù vậy, có thể thấy cả hai Bộ luật dân sự
2005 và 2015 đều quy định hợp đồng theo mẫu do một bên đưa ra và bên còn lại (bên được đề nghị) không có quyền đàm phán, thỏa thuận lại nội dung hợp đồng, nếu họ trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra
Ngoài hai văn bản quy phạm pháp luật nêu trên thì tại Khoản 5 Điều 3 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định: “Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ soạn thảo để giao dịch với người tiêu dùng” Như vậy, theo Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì hợp đồng theo mẫu được ký giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh với người tiêu dùng
Tuy nhiên, trong định nghĩa này không nhắc tới việc, người tiêu dùng
có được thỏa thuận về nội dung của hợp đồng đó hay không?
Từ phân tích trên có thể thấy, hệ thống pháp luật Việt Nam chưa đưa ra một cách hiểu thống nhất về hợp đồng theo mẫu Theo ý kiến cá nhân của tác giả luận văn, tác giả cho rằng: mặc dù mỗi quốc gia đều có cách định nghĩa khác nhau về Hợp đồng theo mẫu tuy nhiên, nhìn chung, có thể định nghĩa
hợp đồng theo mẫu là “loại hợp đồng được giao kết giữa các bên, trong đó,
các điều kiện, điều khoản của hợp đồng do một bên đưa ra và bên kia chỉ được trả lời là đồng ý toàn bộ hoặc không mà không được hoặc có rất ít khả năng có thể thỏa thuận về các điều khoản có lợi hơn”
Từ định nghĩa nêu trên, có thể thấy rằng hợp đồng theo mẫu có một số đặc điểm khác biệt so với các hợp đồng thông thường Điều này được thể hiện
ở một số đặc điểm khá nổi bật, rất dễ nhận biết như sau:
Thứ nhất, hợp đồng theo mẫu có các điều kiện, điều khoản do một bên
trong hợp đồng đưa ra chứ không dựa trên cơ sở của việc thỏa thuận, thương lượng rồi đi đến thống nhất Các nội dung của hợp đồng thường rất tỉ mỉ, chi
Trang 27tiết, bao gồm gần như hầu hết các nội dung mà doanh nghiệp muốn phản ánh, điều chỉnh Bên cạnh đó, giữa các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng theo mẫu thường tồn tại một khoảng cách về địa vị, vị thế rất lớn Thường thì bên đưa ra các điều khoản, điều kiện của hợp đồng là bên có địa vị cao hơn, có khả năng về tài chính, về pháp lý và có đầy đủ thông tin về giao dịch Ngược lại, bên phải chấp nhận vô điều kiện nội dung của hợp đồng lại thường có một
vị thế thấp hơn rất nhiều Hợp đồng theo mẫu thường được các doanh nghiệp
áp dụng hàng loạt cho khách hàng, người tiêu dùng Doanh nghiệp soạn thảo
ra loại hợp đồng này để áp dụng cho tất cả khách hàng của mình Đây là những điều khoản, điều kiện mang tính mặc định và cố định dành cho bất kì
ai mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp Khách hàng khi giao dịch với doanh nghiệp sẽ không được đàm phán riêng lẻ về các nội dung của hợp đồng mà chỉ có thể chấp nhận toàn bộ hoặc không
Thứ hai, thông thường, các hợp đồng theo mẫu có nội dung rất dài, tỉ
mỉ nhưng lại được trình bày với một ngôn ngữ chuyên môn hết sức khó hiểu khiến cho người tiêu dùng dù đọc đi đọc lại đến vài lần vẫn không hiểu hết được ý nghĩa của câu từ, nếu không muốn nói đến hiểu được mục đích của người soạn thảo
Thứ ba, hợp đồng theo mẫu được hình thành và sử dụng từ cuộc cách
mạng công nghiệp diễn ra từ đầu thế kỷ thứ XIX Đến này, hợp đồng theo mẫu đã trở nên phổ biến Trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng có thể bắt gặp các hình thức đa dạng của hợp đồng theo mẫu Hợp đồng theo mẫu thường gặp trong một số các lĩnh vực rất phổ biến như lĩnh vực công nghệ, thông tin, internet, lĩnh vực bảo hiểm, lĩnh vực xây dựng và bất động sản
Thứ tư, về hình thức của hợp đồng theo mẫu:
Xác định hợp đồng theo mẫu là một dạng hợp đồng đặc biệt , rất dễ bị bên đề nghị giao kết (bên đưa ra mọi điều khoản, điều kiện củ a hợp đồng) lạm
Trang 28dụng dẫn đến vi phạm quyền lợi của bên được đề nghị giao kết nên các nhà làm luật đều muốn đưa ra những quy định chặt chẽ và tỉ mỉ đối với chúng, đặc biệt là đối với hình thức của hợp đồng theo mẫu Theo đó, Điều 7 Nghị định
số 99/2011/NĐ-CP, các nhà làm luật yêu cầu tất cả các hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung phải được lập thành văn bản và được soạn thảo bằng tiếng Việt, với phông chữ tiếng Việt, màu chữ và nền giấy tương phản
sử dụng dịch vụ truyền hình trả tiền nhằm mục đích kinh doanh, kiếm lời Ví
dụ như nhà hàng, khách sạn…Về cơ bản, chủ thể sử dụng dịch vụ truyền hình trả tiền phân làm 3 nhóm như sau:
Trang 29- Chủ thể sử dụng dịch vụ là người tiêu dùng: Là các hộ gia đình sử dụng trực tiếp sản phẩm được phân phối bởi nhà cung cấp dịch vụ
- Chủ thể sử dụng dịch vụ để phân phối lại dịch vụ: Chủ thể này mua lại dịch vụ truyền hình trả tiền (Các kênh chương trình) và phân phối lại cho người tiêu dùng Ví dụ như khách sạn, nhà thầu dịch vụ chung cư, nhà hàng hoặc là nhà cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền thứ cấp khác
- Chủ thể sử dụng các dịch vụ gia tăng trên hạ tầng mạng truyền hình trả tiền Đối tượng chủ thể này muốn sử dụng hạ tầng truyền hình trả tiền làm phương tiện quảng bá thông tin sản phẩm dịch vụ của mình đến khách hàng của truyền hình trả tiền Ví dụ là các doanh nghiệp, tổ chức muốn quảng bá tuyên truyền thông tin sản phẩm, sự kiện hay khai thác dịch vụ SMS trên mạng lưới của truyền hình trả tiền đối với người tiêu dùng cuối cùng của mạng lưới
Tuy nhiên trên thực tế chủ thể ký hợp đồng theo mẫu với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền thì người tiêu dùng chiếm số lượng lớn hơn Và trong phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả luận văn chủ yếu nghiên cứu đối tượng sử dụng dịch vụ là người tiêu dùng trên cơ sở bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi tham gia giao kết hợp đồng với doanh nghiệp cung cấp
Thứ hai, về nội dung của hợp đồng
Hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền cũng là một dạng hợp đồng cung cấp dịch vụ liên tục Các điều khoản trong hợp đồng này thường khá dài, mang tính chuyên môn nên người tiêu dùng khó có thể hiểu được các điều khoản trong hợp đồng do doanh nghiệp xác định trước
Bên cạnh đó, nội dung của hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền có một số điều khoản đặc trưng riêng:
- Một là, điều khoản về dịch vụ truyền hình trả tiền: trong đó, có điều khoản quy định về gói thuê bao và gói thiết bị thu do bên cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền cung cấp (thiết bị phục vụ cho nhu cầu truyền dẫn thông tin)
Trang 30- Hai là, số lượng các kênh chương trình và việc thay đổi các kênh chương trình do bên cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền cung cấp
- Ba là, về phí thuê bao, trong điều khoản về phí thuê bao cũng nêu rõ cách tính phí, điều chỉnh phí thuê bao và phương thức thanh toán phí thuê bao
1.2 Khái quát chung về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền
1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết của việc ban hành pháp luật kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền
1.2.1.1 Khái niệm
Theo Từ điển Việt Nam, "kiểm soát là xem xét để phát hiện, ngăn chặn
những gì trái với quy định" Có thể hiểu kiểm soát là quá trình đo lường kết
quả thực hiện, so sánh với các tiêu chuẩn, phát hiện sai lệch và nguyên nhân, tiến hành các điều chỉnh nhằm làm cho kết quả cuối cùng phù hợp với mục tiêu đã được xác định Trong quá trình kiểm soát có hai yêu tố luôn tham gia vào kiểm soát và ảnh hưởng đến hiệu quả của kiểm soát, đó là nhận thức và phản ứng của người kiểm soát và đối tượng kiểm soát
Điều này thể hiện ở chỗ: trong quá trình kiểm soát, nhà quản trị phải trả lời được các câu hỏi sau đây:
- Kiểm soát cái gì?
- Kiểm soát khi nào?
- Kiểm soát ở đâu?
- Kiểm soát như thế nào?
- Chờ đợi thấy cái gì ở kiểm soát?
Như vậy, từ những nhận định nêu trên, có thể thấy việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền là việc mà chúng ta xem xét đến những nội dung trong hợp đồng giao kết giữa người cung ứng dịch vụ truyền hình trả tiền và người sử dụng, trong hợp đồng đó, người cung ứng
Trang 31dịch vụ có lợi dụng, gài gắm những điều khoản gây bất lợi cho người sử dụng dịch vụ hay không? và đặc biệt là thông qua hoạt động kiểm soát này giúp bảo
vệ tối đa quyền lợi của người tiêu dùng khi giao kết hợp đồng
Pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền là hệ thống các văn bản pháp luật được dùng để điều chỉnh các vấn đề
về hình thức, nội dung, cơ chế đăng ký, kiểm tra, giám sát cũng như các phương thức xử lý hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền Về cơ bản, pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền cũng tương tự như các quy định liên quan đến việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu nói chung
1.2.1.2 Sự cần thiết của việc ban hành pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền
Việc ban hành pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền xuất phát từ một số lý do sau:
Thứ nhất, việc thiết lập hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình
trả tiền mà không xuất phát từ kết quả thương lượng giữa doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền và người sử dụng dịch vụ, sự tự do ý chí của các bên trong quan hệ hợp đồng bị hạn chế Xét về mặt biểu hiện khách quan thì ý chí chung được thể hiện thông qua việc cả hai bên cùng mong muốn tham gia vào quan hệ hợp đồng và đã chấp nhận giao kết hợp đồng Trong trường hợp này có thể hiểu ý chí của bên còn lại được thể hiện ở sự chấp thuận và quyết định tham gia giao kết hợp đồng Họ có quyền tự quyết định tham gia hay không tham gia vào quan hệ này với những điều khoản mẫu như vậy Tuy nhiên ý nghĩa của nguyên tắc tự do khế ước trong trường hợp giao kết hợp đồng theo mẫu chỉ mang tính hình thức bởi lúc này hợp đồng được thiết lập chủ yếu phụ thuộc vào ý chí của một bên và bên còn lại ở thế gia nhập hợp đồng “take it or leave it” - phương thức xác lập nền tảng của các hợp đồng không được thương lượng giữa hai bên [14, tr.42]
Trang 32Thứ hai, việc ban hành pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu
trong lĩnh vực truyền hình trả tiền còn xuất phát từ lý do có sự bất cân xứng
về thông tin trên thị trường Thông tin bất cân xứng có thể xảy ra trước khi ký kết hợp đồng Bên cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền thường có xu hướng
cố tình che dấu thông tin ví dụ như các thông tin về dịch vụ, các điều khoản
về khiếu nại đối với chất lượng dịch vụ mà họ cung cấp Thực tế, bên cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền là bên có những tìm hiểu kỹ lưỡng đối với lĩnh vực mà mình kinh doanh, bao gồm cả những quy định của pháp luật có liên quan Việc lựa chọn đưa nội dung nào vào hợp đồng đã được tính toán, lường trước những biến động của thị trường có thể ảnh hưởng đến các thương
vụ Bên sử dụng dịch vụ lúc này sẽ rơi vào thế bị động và ít thông tin hơn do không trực tiếp khảo sát thị trường và soạn thảo ra các điều khoản đó, do đó,
dễ gặp tổn thất lớn nếu có rủi ro xảy ra PGS.TS Phạm Duy Nghĩa cho rằng:
Thông tin là sức mạnh vì thông tin định hướng hành vi con người Từ chính sách kinh tế vĩ mô cho tới giao dịch hàng ngày của doanh nhân, điều phối thong tin quan trọng không kém huy động vốn hoặc tổ chức sản xuất, kinh doanh Đặc biệt trong xã hội hiện đại, thông tin ngày càng trở thành một lĩnh vực được kinh tế học và luật học quan tâm nghiên cứu, nhất là vấn đề pháp luật hợp đồng cần can thiệp ra sao đối với quá trình tích lũy và sử dụng thông tin của doanh nghiệp Đặc biệt doanh nghiệp lợi dụng sự không hiểu biết của bạn hàng để dành lợi ích kinh tế, xuất hiện tình trạng lạm dụng thông tin bất cân xứng mà pháp luật cần can thiệp để bảo vệ lẽ công bằng [17, tr.23]
Chính bởi những hạn chế về tiếp cận thông tin liên quan đến dịch vụ
mà rất cần thiết đặt ra nhu cầu kiểm soát những nội dung liên quan đến hợp đồng để bảo vệ người sử dụng dịch vụ truyền hình trả tiền
Trang 33Thứ ba, giống như hợp đồng theo mẫu nói chung thì hợp đồng theo
mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền cũng có những mặt gây bất lợi cho người tiêu dùng cần được pháp luật bảo vệ Thực tế cho thấy nội dung hợp đồng thường xuất hiện một số điều khoản mà doanh nghiệp kinh doanh dịch
vụ truyền hình trả tiền đưa vào gây bất lợi cho người tiêu dùng như:
- Loại trừ trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền đối với người tiêu dùng theo quy định của pháp luật
- Han chế, loại trừ quyền khiếu nại, khởi kiện của người tiêu dùng
- Cho phép tổ chức cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền quy định hoặc thay đổi giá tại thời điểm cung ứng dịch vụ
- Bắt buộc người tiêu dùng phải tuân thủ các nghĩa vụ ngay cả khi tổ chức cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền không hoàn thành nghĩa vụ của mình;
- Cho phép tổ chức cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền chuyển giao quyền, nghĩa vụ cho bên thứ ba mà không được người tiêu dùng đồng ý
Chính vì những lý do đó, bên cạnh pháp luật hợp đồng nói chung, đòi hỏi phải có sự can thiệp của luật pháp để bảo vệ nguyên tắc tự do hợp đồng và nguyên tắc công bằng của pháp luật hợp đồng
1.2.2 Khái quát chung về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền ở Việt Nam và ở một số nước trên thế giới
1.2.2.1 Nội dung cơ bản về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trước khi có sự xuất hiện của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010, việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu được đề cập khá
mờ nhạt ở luật thực định và nghiên cứu khoa học Một thời gian dài, việc nghiên cứu các vấn đề pháp lý về kiểm soát hợp đồng theo mẫu cũng không được xuất hiện nhiều trong khoa học pháp lý Pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu thời kỳ này chủ yếu được biết đến là chế định hợp đồng
Trang 34theo mẫu trong BLDS 1995 và BLDS 2005, tuy nhiên về cơ bản BLDS
1995 và BLDS 2005 chưa tạo ra được cơ chế pháp lý đủ mạnh để bảo vệ bên yếu thế trong các hợp đồng theo mẫu Nguyên nhân của tình trạng này được biết đến là do sự xuất hiện khá muộn của các hợp đồng theo mẫu trong bối cảnh Việt Nam xây dựng nền kinh tế thị trường và sản xuất công nghiệp chậm hơn so với các nước phát triển khác
Đến thời điểm hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu điều chỉnh việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu tăng cao chính vì vậy cũng đã
có khá nhiều văn bản pháp luật được ban hành để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung và trong lĩnh vực giao kết, thực hiện hợp đồng theo mẫu nói riêng như: Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và những văn bản dưới luật khác Mặc dù vậy, hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành lại thiếu vắng những quy định cụ thể, chi tiết để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong giao kết và thực hiện hợp đồng theo mẫu đối với từng lĩnh vực cụ thể Vì vậy, để tiếp cận với hệ thống pháp luật kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền, chúng ta xem xét đến những quy định pháp luật liên quan đến kiểm soát hợp đồng theo mẫu nói chung và những quy định điều chỉnh lĩnh vực truyền hình trả tiền ở Việt Nam
Các cơ chế kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền bao gồm:
Thứ nhất, nhà làm luật ghi nhận những điều khoản của hợp đồng
theo mẫu không công bằng, không trung thực sẽ không có giá trị pháp lý, không có hiệu lực Nội dung này trước đây được quy định tại Điều 407 BLDS 2005 và được kế thừa lại tại Điều 405 BLDS 2015 Theo đó, có thể hiểu một điều khoản sẽ được xem là không công bằng nếu vi phạm bấy kỳ yếu tố nào liệt kê dưới đây:
Trang 35- Bất lợi một cách vô lý cho khách hàng;
- Gây khó khăn cho khách hàng trong việc xem trước hợp đồng để hiểu đúng, hiểu rõ về các đặc điểm, đặc tính của giao kết;
- Hạn chế các quyền cơ bản của khách hàng đến mức độ mục tiêu của hợp đồng không đạt được;
- Hoặc điều khoản hợp đồng quy định ngăn cản khách hàng nộp đơn khởi kiện vụ tranh chấp ra tòa án, ép buộc khách hàng thỏa thuận lựa chọn cơ quan xét xử vụ kiện hoặc buộc khách hàng có nghĩa vụ cung cấp bằng chứng nếu không có lý do chính đáng
Nhìn chung, đây là những điều khoản loại trừ trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ truyền hình trả tiền và hạn chế quyền lợi của người tiêu dùng Đặc biệt lưu ý là những điều khoản này không có ngoại trừ, tức là
kể cả khi người sử dụng dịch vụ truyền hình trả tiền đã đọc, hiểu và chấp thuận ký kết hợp đồng thì các điều khoản này vẫn có thể bị tuyên bố vô hiệu
Thứ hai, điều kiện của các chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng theo
mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền, cụ thể là điều kiện để được cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền của bên cung cấp dịch vụ Như đã trình bày tại mục 1.1.4 Khái niệm, đặc trưng cơ bản của hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền thì một doanh nghiệp để đáp ứng đủ điều kiện cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền thì doanh nghiệp đó phải được cơ quan có thẩm quyền cấp phép kinh doanh dịch vụ truyền hình trả tiền, sử dụng cơ sở hạ tầng của mình để truyền tải nội dung, chương trình đến người sử dụng Truyền hình trả tiền là một ngành nghề kinh doanh có điều kiện, pháp luật quy định
về điều kiện để được cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền một phần tạo cơ sở đảm bảo khả năng cung cấp dịch vụ của bên cung cấp dịch vụ, một phần giúp bảo vệ quyền lợi của người sử dụng, tạo cơ hội tiếp cận dịch vụ có chất lượng, phù hợp với nguồn lực tài chính mà người sử dụng bỏ ra
Trang 36Thứ ba, quy định rõ ràng, cụ thể về nguyên tắc xác định các điều
khoản mẫu vô hiệu trong hợp đồng theo mẫu Theo đó, bất kỳ một điều khoản hợp đồng nào quy định về nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng sẽ không có hiệu lực, không có giá trị pháp lý nếu phạm phải bất kỳ yếu tố nào dưới đây:
- Điều khoản cho phép miễn trách nhiệm pháp lý cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đối với các lỗi vô ý và lỗi nghiêm trọng;
- Điều khoản quy định giới hạn phạm vi trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà không có lý do chính đáng của doanh nghiệp, hoặc chuyển trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp sang một bên thứ ba hoặc chuyển rủi ro sang khách hàng;
- Điều khoản giới hạn phạm vi trách nhiệm đảm bảo an toàn của doanh nghiệp hoặc hạn chế quyền lợi của khách hàng với danh nghĩa đảm bảo an toàn bằng cách áp đặt những điều kiện khắc nghiệt quá mức hoặc loại bỏ, hạn chế trách nhiệm của Doanh nghiệp trong việc đảm bảo chất lượng hoặc những vấn đề liên quan đến việc cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền
Bên cạnh đó, bất kỳ một điều khoản hợp đồng nào quy định áp đặt khách hàng phải gánh chịu những hậu quả thiệt hại quá mức thích đáng như phải trả chi phí thanh toán trễ hạn đều không có hiệu lực và giá trị pháp lý
Thứ tư, quy định sự can thiệp của Nhà nước nhằm chống lại nguy cơ
hình thành và áp dụng những điều khoản hợp đồng mẫu trái pháp luật, được thể hiện ở những quy định về cơ chế đăng ký hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền Theo đó pháp luật trao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua việc tiến hành những biện pháp hành chính thực hiện những hoạt động giám sát chặt chẽ bằng việc phê chuẩn, chấp thuận hợp đồng theo mẫu trong một số lĩnh vực cụ thể trong đó có lĩnh vực truyền hình trả tiền Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình, các cơ quan nhà nước thực hiện những hoạt động nhằm mục đích kiểm soát hợp đồng theo mẫu bao
Trang 37gồm các hoạt động đăng ký hợp đồng, đăng ký lại hợp đồng, xử lý các hành vi vi phạm hành chính, các hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng
Thứ năm, quy định chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật
về hợp đồng theo mẫu nói chung và hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nói riêng Một trong những nội dung quan trọng của cơ chế bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng là xây dựng hệ thống các chế tài áp dụng đối với
tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi xâm phạm quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng Ngoài những quy định về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cần có hệ thống các chế tài xử lý vi phạm nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung, thiết lập một trật tự xã hội trong cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền nói riêng
1.2.2.2 Pháp luật của một số nước trên thế giới về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền
Pháp luật về kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền chịu sự điều chỉnh bởi cả hệ thống pháp luật kiểm soát hợp đồng theo mẫu nói chung và pháp luật kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền nói riêng Ở các quốc gia có hệ thống pháp luật tiên tiến, đồng bộ, vấn đề này được điều chỉnh rất chặt chẽ
Pháp luật Hàn Quốc
Ngoài luật khung về người tiêu dùng với những quy định rõ ràng và linh hoạt từ chính sách đến các vấn đề liên quan tới người tiêu dùng, Hàn Quốc còn có một luật riêng quy định về Hợp đồng theo mẫu và Nghị định quy định chi tiết vấn đề này
Luật Hợp đồng theo mẫu của Hàn Quốc chỉ rõ: Mục đích của Luật này
là để bảo vệ người tiêu dùng bằng cách ngăn chặn các tổ chức, cá nhân kinh doanh sử dụng hợp đồng theo mẫu lạm dụng các ưu thế của mình áp đặt các
Trang 38điều khoản hợp đồng không công bằng đối với người tiêu dùng, hạn chế việc
sử dụng các điều khoản hợp đồng không công bằng trong giao dịch thương mại nhằm thiết lập trật tự công bằng, lành mạnh trong thương mại và đảm bảo
sự cân bằng giữa các bên trong giao dịch [2, tr.12]
Cũng như pháp luật Việt Nam, Luật hợp đồng theo mẫu của Hàn Quốc khẳng định hợp đồng theo mẫu phải được xây dựng trên nguyên tắc thiện chí
và không được giải thích khác đối với từng người tiêu dùng khác nhau và trong trường hợp các điều khoản của hợp đồng không rõ ràng thì sẽ giải thích theo hướng có lợi cho người tiêu dùng
Luật đưa ra những quy định rất cu ̣ thể , chi tiết về các điều khoản không công bằng trong hợp đồng theo mẫu Theo đó, những điều khoản miễn trách nhiệm, những điều khoản định sẵn khoản bồi thường thiệt hại quá lớn đối với người tiêu dùng, những điều khoản hạn chế quyền của người tiêu dùng hoặc đưa ra những quy định cấm đối với người tiêu dùng… đều bị coi là không công bằng và sẽ bị tuyên bố vô hiệu
Đồng thời, Luật về hợp đồng theo mẫu của Hàn Quốc còn quy định rất đầy đủ về các chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về hợp đồng theo mẫu Theo đó, bất kỳ tổ chức, cá nhân nào vi phạm quy định của Luật đều có thể bị xử phạt tiền và thậm chí là phạt tù Các mức phạt đưa ra cũng rất nghiêm khắc : phạt tù đến hai năm hoặc bị phạt tiền tới 100.000.000 Won Thậm chí, doanh nghiệp còn phải chịu trách nhiệm liên đới cho những hành vi
vi phạm do người đại diện hay cán bộ, nhân viên của mình gây ra [2, tr.13]
Riêng đối với lĩnh vực truyền hình trả tiền, theo quy định tại Luật Phát thanh truyền hình của Hàn Quốc ban hành lần đầu tiên vào năm 1987, được sửa đổi bổ sung 29 lần có những điều khoản quy định riêng liên quan đến việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền Theo đó, Điều 77 liên quan đến việc phê duyệt điều khoản chuẩn trong hợp đồng mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền có quy định:
Trang 39Doanh nghiệp phát thanh truyền hình, doanh nghiệp phát thanh truyền hình CATV reply, doanh nghiệp phát thanh truyền hình CATV âm nhạc có ý định tiến hành truyền hình trả tiền sẽ đặt
ra các điều kiện, điều khoản hợp đồng mẫu, điều kiện liên quan đến phí và các điều kiện khác, phải báo cáo Ủy ban truyền thông Hàn Quốc và phải được sự chấp thuận của Ủy ban truyền thông Hàn Quốc cho phép được sử dụng những điều khoản đó Trong trường hợp sửa đổi bất kỳ điều khoản nào cũng phải báo cáo và được sự đồng ý của Ủy ban truyền thông Hàn Quốc
Trong trường hợp nhận thấy các điều khoản hợp đồng mẫu, điều kiện là không hợp lý và cản trở lợi ích của người xem, Ủy ban truyền thông Hàn Quốc sẽ yêu cầu Doanh nghiệp phát thanh truyền hình, doanh nghiệp phát thanh truyền hình CATV reply, doanh nghiệp phát thanh truyền hình CATV âm nhạc có ý định tiến hành truyền hình trả tiền sửa đổi những điều khoản và điều kiện đó trong một khoảng thời gian xác định
Bên cạnh đó, cũng tại Đạo luật này, Điều 108, khoản 12 có quy định nếu Doanh nghiệp phát thanh truyền hình, doanh nghiệp phát thanh truyền hình CATV reply, doanh nghiệp phát thanh truyền hình CATV âm nhạc tiến hành truyền hình trả tiền ngang nhiên sửa đổi các điều khoản hợp đồng mẫu, điều kiện cung cấp dịch vụ mà không được sự cho phép của Ủy ban truyền thông Hàn Quốc thì sẽ bị phạt tối ta là 30 triệu won [23, tr.108]
Có thể thấy, Hàn Quốc là quốc gia có khung pháp lý vững chắc và toàn vẹn về hợp đồng mẫu nói riêng và bảo vệ người tiêu dùng nói chung Trên cơ
sở các quy định pháp luật này, người tiêu dùng có một sự bảo đảm để tránh bị lép vế và bị lợi du ̣ng trong các quan hệ giao dịch với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền
Trang 40 Pháp luật CHLB Đức
Đức là nước điển hình ban hành văn bản luật riêng nhằm kiểm soát những điều kiện giao dịch chung và những điều khoản không công bằng đối với người tiêu dùng (viết tắt là ABGs) năm 1976, sửa đổi, bổ sung năm 1996) với 32 điều khoản Từ năm 2002, đạo luật ABGs được sáp nhập vào chung với Bộ luật Dân sự Đức, về cơ bản Bộ luật dân sự Đức cũng sử dụng toàn bộ nội dung của đạo luật ABGs, làm thành một chương riêng trong Bộ luật dân
sự Đức, trong đó có bổ sung một số các quy định thể hiện nổi bật hơn tinh thần bảo vệ người tiêu dùng theo chủ trương nội luật hóa Chỉ thị Ủy ban châu
Âu số 93/13/EEC ngày 05/4/1993 về những điều khoản không công bằng trong hợp đồng với người tiêu dùng [14, tr.71]
Việc kiểm soát các điều khoản hợp đồng không công bằng ở CHLB Đức được thiết kế theo hướng quy định điều khoản mang tính nguyên tắc chung, theo đó các điều khoản hợp đồng không công bằng sẽ vô hiệu khi đi ngược lại nguyên tắc thiện chí, tạo ra sự bất lợi một cách bất hợp lý cho bên còn lại của hợp đồng Bên cạnh đó BLDS Đức còn ban hành danh mục những điều khoản giả định là có dấu hiệu bất công bằng (điều 208 BLDS Đức) và danh mục điều khoản bị coi là bất công bằng (Điều 309 BLDS Đức) Bên cạnh những điều khoản quy định mang tính nguyên tắc chung này, CHLB Đức còn có những điều khoản quy định mang tính bảo vệ riêng đối với người tiêu dùng ở những hợp đồng đặc thù trong lĩnh vực tiêu dùng như hợp đồng giao kết từ xa và hợp đồng bán hàng tận cửa trong Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Cơ chế bảo vệ người tiêu dùng ở đây là cho phép người tiêu dùng được rút lui khỏi hợp đồng khi có thông báo trước và quy định chặt chẽ nghĩa vụ cung cấp thông tin
cụ thể đối với hàng hóa khi giao dịch mua bán qua mạng
Đối với lĩnh vực truyền hình trả tiền, CHLB Đức có hiệp ước giữa 16 nước thành viên Liên bang được gọi là Hiệp ước nhà nước về phát thanh,