3 Chu Thị Ngọc 2014, Xử lý vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội 4 Lê Thị Thu Huyền 2016, Căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH ĐẠI KHÁNH
PH¸P LUËT vÒ THUÕ THU NHËP DOANH NGHIÖP QUA THùC TIÔN
T¹I TËP §OµN DÇU KHÝ VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH ĐẠI KHÁNH
PH¸P LUËT vÒ THUÕ THU NHËP DOANH NGHIÖP QUA THùC TIÔN
T¹I TËP §OµN DÇU KHÝ VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ THANH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đinh Đại Khánh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 10
1.1 Khái niệm và bản chất của thuế thu nhập doanh nghiệp 10
1.2 Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp 12
1.2.1 Khái niệm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp 12
1.2.2 Nguyên tắc của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp 14
1.2.3 Nguồn pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp 18
1.2.4 Cấu trúc nội dung của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp 22
1.3 Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam 29
1.3.1 Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ và Úc 29
1.3.2 Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp của một số nước Châu Âu lục địa 32
1.3.3 Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp của một số nước Châu Á 33
1.3.4 Bài học cho Việt Nam 35
1.4 Những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp 37
1.4.1 Khái niệm và các hình thức thực hiện pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp 37
1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp 38
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 42
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP QUA THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI
TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ VIỆT NAM 44
2.1 Khái quát về Tập đoàn Dầu khí Việt Nam 44
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Tập đoàn Dầu khí Việt Nam 44
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam 46
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam 47
2.2.1 Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí 47
2.2.2 Chủ thể nộp thuế 50
2.2.3 Thu nhập chịu thuế 53
2.2.4 Căn cứ và phương pháp tính thuế 60
2.2.5 Thủ tục hành chính về thuế thu nhập doanh nghiệp 68
2.2.6 Vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp 69
2.2.7 Khiếu nại, tố cáo và giải quyết tranh chấp liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp 70
2.3 Đánh giá thực trạng pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp qua thực tiễn tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam 71
2.3.1 Những kết quả đã đạt được của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp 71
2.3.2 Những mặt còn tồn tại của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp 72
2.4 Nguyên nhân của những tồn tại 78
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 81
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP CỦA VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ VIỆT NAM 83
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp 83
Trang 63.1.1 Hội nhập kinh tế và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về thuế thu
nhập doanh nghiệp 83
3.1.2 Phát triển kinh tế và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp 84
3.1.3 Nền kinh tế xanh và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp 85
3.1.4 Khắc phục những bất cập của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành của Việt Nam 86
3.2 Các quan điểm chủ đạo đối với việc hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp 87
3.2.1 Bảo đảm sự thống nhất trong toàn hệ thống pháp luật 87
3.2.2 Bảo đảm mục tiêu của ngân sách nhà nước 88
3.2.3 Bảo đảm năng lực cạnh tranh của Việt Nam 89
3.2.4 Bảo đảm sự cân bằng giữa nhu cầu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường 90
3.3 Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp 92
3.3.1 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định chung của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp 92
3.3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định đặc thù áp dụng đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí 97
3.4 Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện Pháp luật thuế Thu nhập doanh nghiệp tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam 99
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 102
KẾT LUẬN 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC 110
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
PVN : Tập đoàn Dầu khí Việt Nam R&D : Nghiên cứu và phát triển
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Doanh thu từ hoạt động dầu khí năm 2015 110 Bảng 2.2: Doanh thu từ một số hoạt động kinh doanh khác
Bảng 2.3: Doanh thu từ hoạt động tài chính năm 2015 110 Bảng 2.4: Tình hình nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của
PVN trong các năm 2013, 2014 và 2015 111
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xét về bản chất, thuế là một hình thức Nhà nước tái phân phối thu nhập
do doanh nghiệp và dân chúng sáng tạo, hình thành nên thu ngân sách nhà nước [4, tr.60] Trong đó thuế thu nhập doanh nghiệp là một trong những nguồn thuế quan trọng đóng góp vào ngân sách nhà nước Thuế thu nhập doanh nghiệp cũng là một công cụ chủ yếu được Nhà nước sử dụng để điều chỉnh kinh tế vĩ mô của quốc gia
Ở Việt Nam, trước năm 1990, tồn tại thuế lợi tức đánh vào thu nhập của các cơ sở kinh doanh thuộc khu vực dân doanh Từ năm 1990, Nhà nước ban hành Luật thuế lợi tức, theo đó thuế lợi tức được áp dụng đối với tất cả các cơ sở kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế Mặc dù có những vai trò không thể phủ nhận, tuy nhiên thuế lợi tức không còn phù hợp với nền kinh tế của Việt Nam đã phát triển sang một giai đoạn mới Vì lẽ đó, ngày 10/05/1997, Quốc hội đã thông qua Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thay thế Luật thuế lợi tức Luật thuế thu nhập doanh nghiệp có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1999 Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 1997 đã không còn phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam Nhà nước cần tiếp tục điều chỉnh chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp để phù hợp với tình hình mới theo hướng giảm mức thuế suất, ưu đãi thuế có chọn lọc, giảm bớt thủ tục hành chính thuế, bảo đảm sự bình đẳng về nghĩa vụ thuế,… Do đó, ngày 03/6/2008, Quốc hội thông qua Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 thay thế Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm
1997 Kể từ thời điểm được ban hành cho đến nay, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2013
Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế thế
Trang 10giới, sức ép nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia đòi hỏi Việt Nam cần phải tiếp tục điều chỉnh chính sách thuế nhằm thu hút vốn và công nghệ Bên cạnh đó, phát triển kinh tế bền vững theo định hướng nền kinh tế xanh cũng đòi hỏi Việt Nam cần có những thay đổi về chính sách thuế nhằm khuyến khích phát triển những lĩnh vực kinh tế thân thiện với môi trường và hạn chế những lĩnh vực kinh doanh gây tổn hại cho môi trường Trong lĩnh vực năng lượng, Việt Nam cần có những chính sách khuyến khích phát triển nguồn năng lượng có khả năng tái tạo
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam có nhiệm vụ kinh tế và chính trị đặc biệt quan trọng là bảo đảm an ninh năng lượng cho quốc gia Tập đoàn bao gồm các thành viên hoạt động trong nhiều lĩnh vực nhưng chủ yếu là lĩnh vực dầu khí và năng lượng Việc nghiên cứu những tác động của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp lên hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam sẽ giải đáp phần nào bài toán về mối quan hệ giữa chiến lược nền kinh tế xanh với chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp
Vì lẽ trên, tôi lựa chọn đề tài “Pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp
qua thực tiễn tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam” để làm luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp Các công trình khoa học nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau về pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp Người viết liệt kê dưới đây một số công trình khoa học pháp lý nghiên cứu về thuế thu nhập doanh nghiệp:
1) Bành Quốc Tuấn, Hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập doanh
nghiệp, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 08 (240) T4/2013
2) Bùi Thị Thùy Ninh (2014), So sánh pháp luật về thuế thu nhập doanh
nghiệp ở Việt Nam và Nhật Bản, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 113) Chu Thị Ngọc (2014), Xử lý vi phạm pháp luật về thuế thu nhập
doanh nghiệp ở Việt Nam, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
4) Lê Thị Thu Huyền (2016), Căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp
theo pháp luật Việt Nam, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
5) Lê Thị Thu Thủy & Đỗ Minh Tuấn (2016), Các yếu tố ảnh hưởng
đến chính sách thuế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập, Kỷ yếu hội thảo
“Pháp luật về thuế của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, Viện Nghiên cứu Lập pháp - Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hà Nội, 5/2016
6) Lê Thị Thu Thủy & Đỗ Minh Tuấn, Vấn đề tránh thuế thu nhập
doanh nghiệp, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 08 (240) T4/2013
7) Nguyễn Văn Phụng (2012), Giảm thuế suất chung và điều chỉnh ưu đãi
thuế thu nhập doanh nghiệp, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 08 (240) T4/2013
8) Trần Văn Duy (2016), Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp ở
nước ta trước yêu cầu hội nhập quốc tế, Hội thảo pháp luật về thuế của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Viên nghiên cứu Lập pháp, Hà Nội,
tháng 5/2016
9) Vũ Thị Thùy Linh (2015), Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo
pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hải Dương, Khoa
Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn thạc sĩ luật học “So sánh pháp luật về thuế thu nhập doanh
nghiệp ở Việt Nam và Nhật Bản” (2014) của Bùi Thị Thùy Ninh đã nghiên cứu
pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam và Nhật Bản dưới góc độ
so sánh Qua nghiên cứu so sánh, tác giả đã chỉ ra một số bài học kinh nghiệm góp phần hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam
Luận văn thạc sĩ luật học “Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh
nghiệp ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” (2011) của Đinh Hải Yến
nghiên cứu khía cạnh về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp Công trình này
Trang 12được công bố trong thời gian Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 đã
có hiệu lực thi hành và chưa được sửa đổi, bổ sung Luận văn thạc sĩ luật học
“Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hải Dương” (2015) của Vũ Thị Thùy Linh cũng nghiên
cứu về khía cạnh ưu đãi thuế trong pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam Luận văn này được nghiên cứu khi một số quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2013 Trong luận văn của mình, tác giả đã đưa ra được khái niệm ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp:
Như vậy, ưu đãi thuế TNDN về mặt pháp lý được hiểu là những quy định về những biện pháp, những lợi ích nhằm giảm bớt gánh nặng về thuế TNDN cho các nhà đầu tư, khuyến khích và thu hút đầu tư mà Nhà nước dành cho những doanh nghiệp hoặc những nhóm doanh nghiệp nhất định (ưu đãi về thuế suất, thời gian miễn, giảm thuế ) so với những đối tượng chịu thuế khác trong cùng điều kiện nhất định[6, tr.9]
Từ định nghĩa trên, tác giả đã nghiên cứu và đưa ra được những nội dung cơ bản của pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm chủ thể, thủ tục ưu đãi thuế và xử lý vi phạm pháp luật về ưu đãi thuế Từ khung
lý thuyết về pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, tác giả đã đối chiếu với thực tiễn áp dụng pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương Từ đó, tác giả chỉ ra những thành công cũng như những hạn chế của pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp Trên cơ
sở đó, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam
Luận văn thạc sĩ luật học “Căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam” (2016) của Lê Thị Thu Huyền đề cập đến khía cạnh căn
cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo pháp luật thuế thu nhập doanh
Trang 13nghiệp của Việt Nam Trong luận văn của mình, tác giả đã định nghĩa căn cứ tính thuế là những yếu tố được sử dụng làm cơ sở xác định số thuế phải nộp cho từng đối tượng chịu thuế riêng biệt [5, tr.9] Tác giả cũng chỉ ra những nguyên tắc xây dựng căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp, bao gồm nguyên tắc công bằng, nguyên tắc minh bạch, nguyên tắc xác định thu nhập chịu thuế Qua nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp, tác giả cũng đã chỉ ra một số mặt tồn tại Ví dụ, tác giả đã chỉ ra rằng:
Hiện nay, một thực trạng nữa còn tồn tại đó là việc doanh nghiệp được quyền tự kê khai và quyết toán thuế song thủ tục hành chính trong vấn đề hưởng các chế độ ưu đãi còn rất hạn chế Việc doanh nghiệp chỉ được lựa chọn một chế độ ưu đãi khi có nhiều chính sách ưu đãi ở một thời điểm lại có thể đem đến rủi ro cho doanh nghiệp vì nếu doanh nghiệp tự khai là mình hưởng ưu đãi theo trường hợp đã chọn cao hơn so với tính toán của cơ quan thuế thì doanh nghiệp sẽ bị phạt truy thu còn hoặc chịu thiệt khi phải chọn số thuế được ưu đãi thấp hơn so với thực tế doanh nghiệp được hưởng Thực
tế này dẫn đến trường hợp doanh nghiệp được hưởng nhiều chính sách
ưu đãi nhưng không được hưởng trọn vẹn ưu đãi[5, tr.56]
Từ những phân tích về thực trạng pháp luật Việt Nam về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị các quy định pháp luật về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp Ví dụ, tác giả đưa ra một
số đề xuất liên quan đến việc hoàn thiện quy định của pháp luật về xác định doanh thu đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản, chi phí hợp lý,…
Luận văn thạc sĩ luật học “Xử lý vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam” (2014) của Chu Thị Ngọc nghiên cứu về khía cạnh
xử lý vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam Tác giả
Trang 14định nghĩa vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp là các hành vi vi phạm được quy định ở Điều 103 Luật Quản lý thuế năm 2006 do người nộp thuế thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, làm phát sinh hậu quả pháp lý bất lợi
mà người thực hiện hành vi đó phải gánh chịu [7, tr.13] Tác giả cũng chỉ ra những vướng mắc trong thực tiễn xử lý vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp Ví dụ, kỹ thuật soạn thảo, ngôn ngữ sử dụng trong các nghị định hướng dẫn thi hành là một trong những hạn chế của các hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp Từ nghiên cứu thực trạng xử lý vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam, tác giả cũng đã đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện
Ví dụ, theo tác giả cần có sự phân định rõ ràng giữa vi phạm hành chính về thuế và tội phạm về thuế
Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp và thực tiễn trên địa bàn Hà Nội” (2012) của Ngô Thị Cẩm Lệ là một trong những công trình nghiên cứu nhiều nội dung của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp Trong công trình của mình, tác giả cũng đã chỉ ra những thành công cũng như những bất cập của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp Qua đó, tác giả đưa
ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp Tác giả đưa ra một số đề xuất như giảm thuế suất xuống còn 20% cho giai đoạn từ năm 2016-2020, hoàn thiện quy định về chuyển lộ theo hướng dành cho doanh nghiệp quyền chủ động lựa chọn năm chuyển lỗ, hoàn thiện các quy định về các khoản chi được trừ, các khoản chi không được trừ Mặc dù đây là một luận văn nghiên cứu khá đầy đủ các nội dung của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam Tuy nhiên, đến nay, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2013 Vì vậy, vẫn cần một công trình nghiên cứu về pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp trong điều kiện, hoàn cảnh mới
Ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học, hiện nay chưa có luận án tiến sĩ luật
Trang 15học nào nghiên cứu về pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp Ngoài ra, hiện nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề xây dựng và áp dụng pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp trong lĩnh vực dầu khí và năng lượng trong bối cảnh Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng phát triển nền kinh xanh thân thiện với môi trường Vì vậy, luận văn này hướng tới nghiên cứu pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp trong mối quan hệ với chính sách và thực tiễn an ninh năng lượng của Việt Nam Qua đó, luận văn chỉ ra những đặc thù của lĩnh vực dầu khí và năng lượng mà pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp cần được điều chỉnh cho phù hợp Để những kết quả nghiên cứu có giá trị thực tiễn, luận văn soi rọi những quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp trong thực tiễn áp dụng tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài “Pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp qua thực tiễn tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam” là nghiên cứu thực trạng pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở
hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về thuế thu nhập doanh nghiệp và thực tiễn thực hiện tại PVN, từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
Thứ nhất, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp
Thứ hai, đề tài nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, trong đó chú trọng đến các hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và các hoạt động phát triển các nguồn năng lượng khác trong Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Qua nghiên cứu thực tiễn,
đề tài chỉ ra những mặt tồn tại của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Thứ ba, đề tài đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định
Trang 16của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp nói chung và những quy định đặc thù của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp liên quan đến hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí
4 Tính mới và đóng góp của đề tài
Luận văn có một số điểm mới đồng thời là những đóng góp như sau: Thứ nhất, về mặt lý luận, luận văn hệ thống hóa được vấn đề lý thuyết
về nguyên tắc, cấu trúc hình thức và cấu trúc nội dung của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp và thực hiện pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Thứ hai, về mặt thực tiễn, từ thực tiễn thực hiện pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp tại PVN, luận văn chỉ ra những bất cập của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp, đặc biệt những quy định liên quan đến hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí
Thứ ba, luận văn nghiên cứu pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp của một số nước như Hoa Kỳ, một số nước ở EU và một số nước Châu Á, từ đó đúc rút một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Thứ tư, luận văn đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện một số quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp tại PVN
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm: Các quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam và một số nước; thực tiễn áp dụng pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Về phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2013) và thực trạng áp dụng pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2013 cho đến nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Học viên sử dụng các phương pháp sau đây để triển khai đề tài:
Phương pháp so sánh luật học: Phương pháp so sánh là một trong
Trang 17những phương pháp chủ đạo mà học viên sử dụng để nghiên cứu và triển khai
đề tài Bằng phương pháp này, học viên so sánh pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam với pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp của một số nước Từ đó, học viên đúc rút ra một số bài học quý báu từ thực tiễn lập pháp và áp dụng pháp luật của nước ngoài để từ đó đưa một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trong quá trình nghiên cứu, luận văn
kế thừa có phát triển những kết quả khoa học đã được các tác giả trong và ngoài nước công bố Đồng thời, học viên còn tham khảo những số liệu, thông tin từ thực tiễn áp dụng pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Những thông tin tham khảo này sẽ được học viên phân tích, tổng hợp để đưa ra những quan điểm khoa học riêng của mình
Phương pháp thực tiễn: Đây là một đề tài mang tính thực tiễn cao Vì vậy, các quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ được đối chiếu, soi rọi trong thực tiễn sinh động của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
Ngoài những phương pháp chủ yếu trên, trong quá trình nghiên cứu
và triển khai luận văn, học viên còn sử dụng các phương pháp pháp khác như phương pháp thống kê, phương pháp xã hội học pháp luật và một số phương pháp khác
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu gồm 03 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp qua
thực tiễn tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập
doanh nghiệp của Việt Nam
Trang 18Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm và bản chất của thuế thu nhập doanh nghiệp
Cho đến nay, đã có nhiều công trình khoa học đưa ra định nghĩa về thuế thu nhập doanh nghiệp Trần Văn Giao (2009) cho rằng thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp[4, tr.73] Theo Lê Thị Thu Huyền (2016) thì:
“Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu đánh trực tiếp
vào thu nhập thực tế của các doanh nghiệp sau khi đã trừ chi phí kinh doanh, lãi suất, chí phí, khấu hao và các khoản được phép khấu trừ khác”[5, tr.7]
Vũ Thị Thùy Linh (2015) cũng định nghĩa thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:
“Thuế TNDN là loại thuế trực thu, đánh trực tiếp vào thu nhập của cơ
sở kinh doanh trong kỳ tính thuế sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến thu nhập đó”[6, tr.8]
Người viết cũng có cách tiếp cận tương tự như các tác giả trước đó về thuế thu nhập doanh nghiệp Trước khi đưa định nghĩa về thuế thu nhập doanh nghiệp, người viết có một số phân tích như sau:
Trước hết, doanh nghiệp ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất
cả các cơ sở kinh doanh bao gồm cả các chủ thể kinh doanh được thành lập theo pháp luật nước sở tại, các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức có hành vi kinh doanh phát sinh thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh nước ngoài có cơ sở thường trú ở nước sở tại và các chủ thể kinh doanh nước ngoài không có cơ sở thường trú ở nước sở tại nhưng có thu nhập phát sinh ở nước sở tại
Trang 19Chức năng của doanh nghiệp là kinh doanh tức là thực hiện các hoạt động nhằm tìm kiếm lợi nhuận Để thực hiện hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần thuê nhân công, thuê trụ sở làm việc, mua sắm trang thiết bị phục
vụ hoạt động, vay vốn ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu để có vốn phục vụ hoạt động,… Tất cả những hoạt động này đều phát sinh chi phí cho doanh nghiệp Như vậy, những chi phí hợp lý mà doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện hoạt động kinh doanh cần được chi trả hoặc bù đắp bởi một phần thu nhập của doanh nghiệp Nếu như doanh nghiệp phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp trên tổng thu nhập thì phần thu nhập được sử dụng để thanh toán chi phí hợp
lý hoặc bù đắp nguồn vốn được sử dụng để thanh toán chi phí sẽ sụt giảm Hậu quả là nguồn vốn của doanh nghiệp có nguy cơ không được bảo toàn Điều này trái với nguyên tắc bảo toàn vốn Hơn nữa, bản chất của phần thu nhập được sử dụng để thanh toán hoặc bù đắp chi phí chính là nợ của doanh nghiệp Về nguyên lý, thuế không thể đánh trên nợ của doanh nghiệp bởi vì sẽ làm gia tăng nghĩa vụ của người có nghĩa vụ Vì lẽ đó, các chi phí hợp lý được trừ khỏi tổng thu nhập để xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa về thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:
Thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của cơ sở kinh doanh phát sinh trong kỳ tính thuế Trong đó, thu nhập chịu thuế bằng tổng thu nhập của doanh nghiệp trong thời kỳ tính thuế trừ đi tổng chi phí hợp lý của doanh nghiệp được chấp nhận trong kỳ tính thuế
Từ định nghĩa trên có thể thấy thuế thu nhập doanh nghiệp có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế trực thu Thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế trực thu vì người chịu thuế và người có nghĩa vụ nộp thuế là một Nói cách khác, người nộp thuế không thể chuyển nghĩa vụ thuế
Trang 20sang cho các đối tượng khác [16, tr.14-15] Đối với các quốc gia phát triển, thuế trực thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thuế; ngược lại, các quốc gia đang phát triển trông cậy nhiều vào thuế gián thu[4, tr.67]
Thứ hai, thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế đánh vào thu nhập của
cơ sở kinh doanh, không đánh vào vốn và nợ của cơ sở kinh doanh Như vậy, các khoản thu từ chào bán cổ phần, trái phiếu, vay ngân hàng,… không thuộc thu nhập chịu thuế Doanh nghiệp chỉ chịu thuế thu nhập doanh nghiệp trên thu nhập ròng tức là thu nhập thuần trừ đi chi phí hợp lý Việc chấp nhận cho doanh nghiệp được trừ chi phí hợp lý trong tổng thu nhập để xác định thu nhập chịu thuế, dẫn đến hệ quả là nguồn thu ngân sách của nhà nước phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh và sự trung thực của chủ thể nộp thuế Đặc điểm này của thuế thu nhập doanh nghiệp cũng là một điểm hạn chế mà các doanh nghiệp sẽ lợi dụng để lẩn tránh nghĩa vụ nộp thuế thông qua việc kê khai tăng chi phí
Thứ ba, thuế thu nhập doanh nghiệp là một công cụ được Nhà nước sử dụng để điều tiết và tái cấu trúc nền kinh tế Đối với những lĩnh vực kinh tế
mà Nhà nước muốn phát triển, Nhà nước sẽ áp dụng những chính sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư Đối với những lĩnh vực kinh tế mà Nhà nước hạn chế phát triển, Nhà nước có thể áp dụng mức thuế suất cao hoặc không cho hưởng những ưu đãi thuế Thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí sẽ được phân tích ở phần sau của chương này
Ngoài những đặc điểm trên, thuế thu nhập doanh nghiệp cũng có những đặc điểm chung của các loại thuế đó là tính không bồi hoàn, tính bắt buộc và tính quyền lực nhà nước
1.2 Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Quan hệ thuế thu nhập doanh nghiệp là quan hệ giữa nhà nước với chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế (đồng thời là chủ thể chịu thuế) liên quan đến việc
Trang 21thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp của chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế Đây là quan hệ hành chính nhà nước mang tính quyền uy Trong đó, Nhà nước, thông qua cơ quan thuế, có quyền thu thuế và áp dụng các biện pháp cưỡng chế để buộc người nộp thuế thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ thuế Tính quyền uy trong quan hệ thuế được mô tả như sau:
Để có được nguồn thu, nhà nước yêu cầu người dân phải nộp thuế
Để có thể tăng thêm khả năng chi tiêu, nhà nước có thể ban hành thay đổi các loại thuế mới hoặc bãi bỏ những ưu đãi về thuế đang áp dụng đối với người dân Để kịp trang trải cho hoạt động của mình, có được số thu ổn định và chủ động, nhà nước yêu cầu người dân nộp đúng, nộp đủ, theo thời hạn số thuế nhất định [8, tr.17]
Trước đây, cơ quan thuế thường ra các mệnh lệnh hành chính buộc chủ thề có nghĩa vụ nộp thuế phải thực hiện kê khai và nộp thuế Việc kê khai và nộp thuế phải tuân theo đúng mệnh lệnh do cơ quan thuế đưa ra Tuy nhiên, theo thời gian, phương thức trên bộc lộ nhiều hạn chế, tạo ra tính quan liêu, hách dịch và cửa quyền trong thực hiện công việc của cơ quan thuế, gây phiền
hà và tốn kém cho người nộp thuế Vì vậy, ngày nay, chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế có quyền tự kê khai, tính thuế và tự nộp thuế Mặc dù vậy thì tính quyền
uy vẫn thể hiện ở việc cơ quan thuế có quyền kiểm tra thông tin thuế của doanh nghiệp Trong trường hợp, nếu xét thấy có dấu hiệu gian lận về thuế,
cơ quan thuế có quyền tiến hành kiểm tra, thanh tra thuế, truy thu thuế và áp dụng các biện pháp chế tài xử lý hành vi gian lận thuế
Về mặt lý luận, để kiểm soát giao dịch chuyển giá, giữa một hoặc nhiều
cơ quan thuế (thuộc nhiều quốc gia liên quan) và chủ thể nộp thuế (thường là công ty đa quốc gia) ký kết thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (APA) Phải chăng APA là một ngoại lệ của tính quyền uy trong quan hệ thuế Thực chất, APA là một thỏa thuận có tính ràng buộc pháp lý Người nộp
Trang 22thuế phải tuân thủ đầy đủ các quy định về phạm vi giao dịch, xác định giá chuyển giao, nghĩa vụ nộp thuế Nếu người nộp thuế vi phạm APA thì cơ quan thuế có quyền đơn phương chấm dứt APA APA có lợi ích giúp người nộp thuế dự đoán một cách chính xác nghĩa vụ thuế của mình, giúp cơ quan thuế kiểm soát được việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế, hạn chế đến mức thấp nhất các thủ tục kiểm tra, thanh tra thuế, tranh chấp thuế gây tốn kém thời gian và tiền bạc Mặc dù các quy định trong APA được xác lập trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên nhưng thỏa thuận APA không làm mất quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế buộc người nộp thuế phải tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ thuế Như vậy, tính quyền uy trong quan hệ thuế không mất đi mà chỉ giảm bớt sự cứng nhắc, quan liêu để phù hợp với quy luật vận hành của kinh tế thị trường
Như vậy, để điều chinh các quan hệ thuế, Nhà nước cần thiết lập một
bộ phận pháp luật sử dụng phương pháp quyền uy là chủ yếu có kết hợp phương pháp tự nguyện và phương pháp thỏa thuận Trong đó, phương pháp
tự nguyện và phương pháp thỏa thuận là những phương pháp bổ sung cho phương pháp quyền uy mà không loại trừ phương pháp quyền uy
Từ những phân tích trên, người viết đưa ra định nghĩa pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:
Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp là một bộ phận của pháp luật thuế bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ thuế thu nhập doanh nghiệp giữa nhà nước với chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế
1.2.2 Nguyên tắc của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp phải bảo đảm những nguyên tắc sau:
Nguyên tắc công bằng
Trên phương diện kinh tế, nguyên tắc công bằng đòi hỏi thuế tái phân phối thu nhập xã hội theo khả năng tài chính của mỗi người chịu thuế Về mặt
Trang 23xã hội, nguyên tắc công bằng đòi hỏi thuế không được phân biệt đối xử đối tượng nộp thuế và phải góp phần tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp[4, tr.71]
Xét dưới góc độ pháp lý, nguyên tắc công bằng đòi hỏi áp dụng mặt bằng thuế suất chung cho tất cả các loại hình cơ sở kinh doanh, không phân biệt doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp không có vốn nhà nước, không phân biệt doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước Bên cạnh đó các chính sách ưu đãi thuế cũng cần công bằng đối với tất cả các cơ sở kinh doanh Tuy nhiên, nguyên tắc công bằng không đồng nghĩa với cào bằng Khi sử dụng thuế với tư cách là công cụ điều tiết kinh tế, Nhà nước sẽ có xu hướng khuyến khích phát triển những ngành nghề nhất định thông qua chính sách ưu đãi thuế Như vậy, chính sách ưu đãi không áp dụng cào bằng đối với tất cả các lĩnh vực kinh doanh Đối với lĩnh vực dầu khí, để bảo đảm Nhà nước có được một nguồn thu đủ đề bù đắp cho
sự tiêu hao của dầu khí được khai thác, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
áp dụng đối với hoạt động dầu khí thường cao hơn so với lĩnh vực khác
Ngoài ra, pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp cũng phải bảo đảm sự cân bằng giữa lợi ích của Nhà nước và người nộp thuế Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp phải đưa ra những căn cứ tính thuế hợp lý để bảo đảm mức thuế không quá thấp Nếu mức thuế quá thấp sẽ có lợi cho nhà đầu tư nhưng lại không có lợi cho Nhà nước và đông đảo quần chúng nhân dân Bởi
vì, phần lớn các hoạt động kinh doanh đều gây hoặc có nguy cơ gây tổn hại cho môi trường, một số lĩnh vực có thể dẫn đến khai thác cạn kiệt tài nguyên Như vậy, một phần thuế thu được ngoài bảo đảm cho thu ngân sách nhà nước, còn phải bảo đảm một nguồn giá trị bồi hoàn cho sự cạn kiệt của tài nguyên, khôi phục lại môi trường đã bị ô nhiễm Ngược lại, thuế không nên trở thành gánh nặng quá lớn cho người nộp thuế Đây là yêu cầu quan trọng để bảo đảm tính “trung lập” của thuế [16, tr.19]
Trang 24Nguyên tắc chính xác
Nguyên tắc chính xác đòi hỏi các căn cứ tính thuế, các ưu đãi thuế phải cụ thể, rõ ràng và dễ hiểu Nếu bảo đảm được nguyên tắc này thì bản thân người nộp thuế cũng gặp thuận lợi, dễ dàng trong việc tư kê khai, xác định và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Điều này làm giảm đáng kể các chi phí không cần thiết phát sinh trong quá trình thu thuế, xử lý vi phạm thuế và tranh chấp thuế
Nguyên tắc minh bạch
Nguyên tắc minh bạch có mối quan hệ hữu cơ với nguyên tắc chính xác Trước hết nguyên tắc minh bạch cũng đòi hỏi các quy định pháp luật về thuế phải rõ ràng, chính xác và phải được công bố cho quảng đại quần chúng Nguyên tắc minh bạch giúp ngăn ngừa hiện tượng tham ô, gian lận thuế Đồng thời nguyên tắc minh bạch cũng bảo đảm cho người nộp thuế có khả năng dự đoán được nghĩa vụ thuế của mình để từ đó họ yên tâm đầu tư để triển khai các dự án sản xuất, kinh doanh Theo Trần Văn Giao (2009) thì nguyên tắc minh bạch đòi hỏi:
- Thuế phải được xây dựng theo trình tự pháp lý nghiêm ngặt
- Nhà nước và cơ quan hành thu phải tạo điều kiện để doanh nghiệp và dân chúng thực hiện quyền được biết một cách minh bạch số tiền thuế phải nộp, ưu đãi về thuế,…
- Những quy định về thuế phải phổ thông và nhất quán; tính toán thuế phải đơn giản, dễ thực hiện và dễ kiểm tra
- Thuế thu phải thuận tiện cho người nộp cả về thời gian và không gian[4, tr.69]
Nguyên tắc hiệu quả
Thuế thu nhập doanh nghiệp không chỉ là một khoản thu cho ngân sách nhà nước mà còn là công cụ tài chính vĩ mô được Nhà nước sử dụng để thực
Trang 25hiện các mục tiêu khác nhau Trong đó, pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp phải bảo đảm các mục tiêu sau đây:
(1) Tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước Mục tiêu này đòi hòi mặt bằng thuế suất cũng như các ưu đãi thuế cần phải được tính toán cần thận, kỹ lượng để tránh ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước Như Nguyễn Văn Phụng (2014) phân tích:
Số thu từ năm 2014 giảm đi khoảng 30.160 tỷ đồng/năm; nếu tính thêm cả số giảm thu về thuế thu nhập cá nhân theo Luật số 26/2012/QH13 (khoảng 13.350 tỷ đồng mỗi năm) và việc bổ sung
ưu đãi thuế kéo theo giảm thu khoảng 2.081 tỷ đồng… thì tổng số giảm thu NSNN năm 2014 lên tới 45.591 tỷ đồng Chúng ta tin rằng việc giảm ngay thuế suất xuống 20% sẽ được bù đắp lại các năm sau khi kinh tế phát triển do đầu tư tăng lên, tuy nhiên số thu tăng các năm sau mới là kỳ vọng trong khi số giảm thu là tiền thật NSNN sẽ khó cân đối cho các mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng an ninh trong điều kiện hàng năm phải tiếp tục cắt giảm thuế nhập khẩu và nguồn dầu thô ngày càng giảm dần theo quy trình khai thác[9, tr.13]
(2) Điều chỉnh và tái cấu trúc hiệu quả nền kinh tế: Các căn cứ tính thuế, ưu đãi thuế cần phải được thiết kế một cách hợp lý sao cho có thể định hướng các doanh nghiệp tập trung vào những lĩnh vực mà Nhà nước muốn ưu tiên phát triển nhưng cũng không làm mất cân bằng trong cấu trúc kinh tế
(3) Các mục tiêu khác như điều tiết hợp lý thu nhập của các doanh nghiệp, bảo đảm sự công bằng,… cũng được đặt ra khi xây dựng và thực hiện pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Bên cạnh đó, tính hiệu quả còn được thể hiện ở việc pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp cần được thiết kế sao cho chi phí thu thuế thấp Chi phí thu
Trang 26thuế thu nhập doanh nghiệp không nên vượt quá 1% tổng thu thuế thu nhập doanh nghiệp Vì lẽ đó, pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp cần áp dụng cơ chế người nộp thuế tự kê khai, xác định và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Nguyên tắc luật định: Việc thu thuế thu nhập doanh nghiệp ảnh hưởng
đến lợi ích của các chủ thể kinh doanh và lợi ích của quốc gia Vì vậy, thuế thu nhập doanh nghiệp cần phải được Quốc hội là cơ quan dân cử ban hành Như vậy, các cơ quan hành pháp và các cơ quan địa phương không có quyền quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp
Nguyên tắc đánh thuế đối với thu nhập phát sinh trên toàn cầu:
Nguyên tắc này được áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức kinh doanh được thành lập và hoạt động theo pháp luật của nước sở tại Theo nguyên tắc này các khoản thu nhập phát sinh tại bất kỳ đâu của các cá nhân, tổ chức kinh doanh mang quốc tịch hoặc cư trú tại nước sở tại được coi là thu nhập chịu thuế trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Cá nhân, tổ chức phải có nghĩa vụ kê khai các khoản thu nhập này
Nguyên tắc lãnh thổ: Theo nguyên tắc này bất kỳ khoản thu nhập nào
phát sinh trên lãnh thổ nước sở tại phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp
Như vậy, nguyên tắc đánh thuế đối với thu nhập phát sinh trên toàn cầu và nguyên tắc lãnh thổ dẫn đến hậu quả một khoản thu nhập của một cơ
sở kinh doanh có thể phải chịu hai lần thuế ở hai quốc gia khác nhau Để tránh đánh thuế hai lần, các quốc gia thường sẽ ký kết các hiệp định tránh đánh thuế hai lần
1.2.3 Nguồn pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Khi đề cập đến cấu trúc hình thức của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp là đề cập đến các nguồn luật cấu thành nên pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp Về mặt lý luận chung, nguồn luật được hiểu là nguồn chứa đựng các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội do pháp luật điều
Trang 27chỉnh Nguồn luật bao gồm Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành, văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền ban hành, án lệ, tập quán, học thuyết pháp lý
và lẽ công bằng Vì pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp điều chỉnh các quan
hệ thuế là quan hệ mà một bên luôn là cơ quan nhà nước có thẩm quyền về thuế, nên nguồn luật quan trọng nhất vẫn là các văn bản quy phạm pháp luật Trong đó, các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành là những văn bản chứa đựng các quy tắc, quy phạm mang tính định hướng Các vấn đề cụ thể về thuế chủ yếu được hướng dẫn thi hành bởi các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan quản lý về lĩnh vực thuế ban hành
Trước hết, Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước có hiệu lực cao nhất Hiến pháp đưa ra những nguyên tắc chung Trên cơ sở những nguyên tắc đó, bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật được thiết lập Hiến pháp cũng quy định về quyền thu thuế của Nhà nước, nghĩa vụ nộp thuế của các cá nhân,
tổ chức và phân cấp quyền thu thuế giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương
Trên cơ sở các nguyên tắc hiến định về quyền thu thuế của Nhà nước, nghĩa vụ nộp thuế của các cá nhân, tổ chức, các đạo luật về thuế được Quốc hội ban hành Thuế thu nhập doanh nghiệp là một trong những sắc thuế quan trọng, ảnh hưởng đến lợi ích của tất cả các chủ thể kinh doanh trong nền kinh
tế và ngân sách quốc gia Vì vậy, thuế thu nhập doanh nghiệp phải do Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành Do đó, sắc thuế thu nhập doanh nghiệp được quy định trong một đạo luật do Quốc hội ban hành Đạo luật này thường được đặt tên là luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Quốc hội là cơ quan dân cứ Trong đó, các đại biểu Quốc hội hay Nghị viên là những người đại diện cho nhiều tầng lớp, địa phương Thành phần đại biểu Quốc hội rất đa dạng, có trình độ chuyên môn thuộc nhiều lĩnh vực khác
Trang 28nhau Vì vậy, khi thông qua các đạo luật chuyên ngành như luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Quốc hội chỉ có thể ban hành ra các đạo luật mang tính nguyên tắc Những vấn đề cụ thể được quy định trong luật thuế thu nhập doanh nghiệp cần được hướng dẫn, giải thích bởi các cơ quan quản lý hành chính chuyên môn Do vậy, bên cạnh luật thuế thu nhập doanh nghiệp, các cơ quan hành pháp bao gồm Chính phủ và bộ chuyên ngành quản lý lĩnh vực thuế còn ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật thuế thu nhập doanh nghiệp Ở một số quốc gia như Việt Nam thì luật thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ được hướng dẫn bởi một Nghị định Sau đó, Nghị định này lại được hưởng dẫn bởi Thông tư do Bộ tài chính ban hành Trong khi đó ở một số quốc gia khác thì luật thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ được hướng dẫn trực tiếp bởi một văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan quản lý hành chính chuyên ngành ban hành
Ngoài luật thuế thu nhập doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành, còn tồn tại các văn bản quy phạm pháp luật khác cũng chứa đựng các quy phạm điều chỉnh quan hệ thuế thu nhập doanh nghiệp như luật quản lý thuế, luật xử lý vi phạm hành chính, bộ luật hình sự, luật dầu khí
Đương nhiên trong mối quan hệ giữa Hiến pháp, luật thuế thu nhập doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành thì Hiến pháp có hiệu lực cao nhất, tiếp đến là luật thuế thu nhập doanh nghiệp, văn bản hướng dẫn thi hành do Chính phủ ban hành và văn bản hướng dẫn thi hành do bộ chuyên ngành ban hành Về mối quan hệ giữa luật thuế thu nhập doanh nghiệp với các đạo luật khác thì luật thuế thu nhập doanh nghiệp là luật chuyên ngành nên cần được ưu tiên áp dụng trong trường hợp có mâu thuẫn
Một vấn đề thực tiễn cần được ghi nhận trong lý luận đó là thuế là một vấn đề phức tạp và nhạy cảm Dù nỗ lực đến đâu, luật thuế thu nhập doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng không thể dự liệu hết được các tình huống sinh động trong cuộc sống Vì vậy, trong thực tiễn vẫn phát sinh các văn bản hướng dẫn do cơ quan thuế ở trung ương ban hành hướng
Trang 29dẫn các cơ quan thuế địa phương và người nộp thuế áp dụng pháp luật thuế Các văn bản này không phải là văn bản quy phạm pháp luật nhưng vẫn được các cơ quan thuế địa phương và người nộp thuế vận dụng Ngoài ra, hướng dẫn áp dụng pháp luật cho tình huống A trước đó vẫn được sử dụng để giải quyết một tình huống B tương tự sau đó Mặc dù các văn bản hướng dẫn này không có tính bắt buộc nhưng thông thường các chủ thể sẽ thực hiện theo hướng dẫn này Vấn đề đặt ra là các văn bản này có được coi là nguồn của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp hay không? Người viết cho rằng các văn bản này không nên được coi là nguồn luật chính thức có tính bắt buộc mà
là nguồn luật bổ sung có tính thuyết phục Nghĩa là các chủ thể không bắt buộc phải tuân theo nhưng nên tham khảo và nếu thấy hợp lý thì tuân theo Thông thường thì họ sẽ tuân theo bởi vì các văn bản này thể hiện quan điểm chính thức của cơ quan quản lý hành chính cao nhất về thuế
Bên cạnh đó, tranh chấp về thuế được giải quyết tại tòa án Khi giải quyết tranh chấp, tòa án ban hành các bản án, quyết định Để bảo đảm tính thống nhất trong xét xử thì các quyết định giám đốc thẩm của tòa án tối cao sẽ được chọn lọc công bố thành án lệ để các tòa án cấp dưới áp dụng theo cho các vụ tương tự về sau Vì vậy, ngoài văn bản quy phạm pháp luật, án lệ cũng
là nguồn của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong mối quan hệ giữa án lệ với Hiến pháp, luật thuế thu nhập doanh nghiệp và văn bản hướng dẫn thi hành do Chính phủ ban hành thì án lệ không được trái với những văn bản này Tuy nhiên, trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa án lệ và văn bản hướng dẫn thi hành do Bộ chuyên ngành ban hành thì tòa án sẽ áp dụng án lệ
Bên cạnh nguồn luật quốc nội thì pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp còn bao gồm các điều ước quốc tế về thuế, như các hiệp định tránh đánh thuế hai lần Ngoài ra, APA cũng được coi là một nguồn chứa đựng các quyền và
Trang 30nghĩa vụ về thuế cần được xem xét khi giải quyết các vấn đề về thuế của một đối tượng nộp thuế cụ thể
1.2.4 Cấu trúc nội dung của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Pháp luật thuế thu nhập bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây: (1) chủ thể quan hệ pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp; (2) Căn cứ và phương pháp tính thuế thu nhập doanh nghiệp; (3) Chế độ ưu đãi, miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp; (4) Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp; (5) Sự kiện pháp
lý làm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp; (6) Xử lý vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp; và (7) Khiếu nại, tố cáo và giải quyết tranh chấp về thuế thu nhập doanh nghiệp
Chủ thể quan hệ pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Chủ thể quan hệ pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm chủ thể thực hiện quyền thu thuế và chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Nội dung pháp luật về chủ thể thực hiện quyền thu thuế thu nhập doanh nghiệp cần xác định rõ nguyên tắc phân định thẩm quyền thu thuế giữa các cơ quan quản lý thuế các cấp từ trung ương đến địa phương Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế phổ cấp, áp dụng đối với tất cả các loại hình cơ sở kinh doanh Vì vậy, thẩm quyền thu thuế thu nhập doanh nghiệp cần được phân cấp cho các cơ quan quản lý thuế địa phương Đương nhiên, cơ quan quản lý thuế cấp trên thực hiện quyền giám sát các cơ quan quản lý thuế địa phương thực hành quyền thu thuế
Nội dung pháp luật về chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cần phải xác định rõ những chủ thể nào có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Về mặt nguyên tắc, tất cả các chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh đều là chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp nếu có phát sinh thu nhập chịu thuế Như vậy, chủ thể nộp thuế bao gồm chủ thể kinh
Trang 31doanh mang quốc tịch của nước sở tại có nghĩa vụ nộp thuế đối với các khoản thu nhập phát sinh trên toàn cầu Chủ thể kinh doanh không mang quốc tịch nước sở tại nhưng có cơ sở thường trú ở nước sở tại cũng phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản thu nhập phát sinh ở nước sở tại và khoản thu nhập phát sinh ở ngoài lãnh thổ nước sở tại có liên quan đến cơ sở thường trú đó Chủ thể kinh doanh không có quốc tịch nước sở tại và cũng không có
cơ sở thường trú tại nước sở tại có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập phát sinh trên lãnh thổ nước sở tại Tổ chức kinh tế nước ngoài có cơ sở thường trú tại nước sở tại được coi là cư trú nước sở tại nên phải có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo nguyên tắc toàn cầu Như vậy, pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp phải làm rõ thế nào là cơ sở thường trú Nhiều tổ chức kinh doanh nước ngoài thành lập ở nước sở tại một văn phòng đại diện Mặc dù là cơ sở thường trú nhưng văn phòng đại diện không có chức năng kinh doanh, nên không phát sinh thu nhập chịu thuế Vì vậy, nếu các tổ chức kinh doanh nước ngoài chỉ có văn phòng đại diện ở nước
sở tại thì không có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tại nước sở tại trừ trường hợp nước sở tại có chứng cứ xác định tổ chức kinh doanh nước ngoài sử dụng văn phòng đại diện để kinh doanh trên lãnh thổ nước sở tại Nếu tổ chức kinh doanh có các cơ sở thường trú khác như chi nhánh, văn phòng điều hành, hầm mỏ, mỏ dầu và các cơ sở khác thể hiện sự hiện diện lâu dài của tổ chức kinh doanh nước ngoài ở nước sở tại để thực hiện các hoạt động kinh doanh nhất định thì phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật của nước sở tại
Căn cứ và phương pháp tính thuế thu nhập doanh nghiệp
Căn cứ tính thuế bao gồm thu nhập chịu thuế, thu nhập tính thuế và thuế suất Pháp luật cần làm rõ những thu nhập nào được coi là thu nhập chịu thuế Tuy nhiên, về mặt kỹ thuật lập pháp, việc liệt kê hay mô tả các khoản thu nhập chịu thuế không dễ dàng Vì vậy, các nhà làm luật nên sử dụng
Trang 32phương pháp loại trừ Theo đó, các nhà làm luật liệt kê các khoản thu nhập không thuộc thu nhập chịu thuế như khoản thu từ việc phát hành cổ phần, trái phiếu, vay ngân hàng Các khoản thu nằm ngoài danh mục thu nhập không chịu thuế là thu nhập chịu thuế
Trong các khoản thu nhập chịu thuế thì doanh thu là khoản thu nhập quan trọng nhất và chủ yếu nhất Để tạo ra doanh thu, cơ sở kinh doanh phải
bỏ ra những chi phí nhất định Những chi phí hợp lý và hợp pháp cần được trừ khỏi tổng doanh thu để xác định thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế Như vậy thu nhập chịu thuế trong một kỳ tính thuế bao gồm doanh thu đã trừ chi phí được trừ trong kỳ tính thuế và các thu nhập chịu thuế khác trong kỳ tính thuế Về nguyên tắc, chi phí hợp lý là chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh Để được chấp nhận là chi phí được trừ vào doanh thu để xác định thu nhập chịu thuế, khoản chi phí phải thỏa mãn các điều kiện sau: Một là khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;
Hai là khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật [16, tr.221]
Trong một số trường hợp nhất định, cơ sở kinh doanh không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp trên toàn bộ thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp có thể quy định chế độ miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với một số thu nhập chịu thuế nhất định Hơn nữa, trong kinh doanh việc lãi hay lỗ là rất bình thường Do vậy, pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp chấp nhận cho cơ sở kinh doanh được chuyển lỗ sang các năm tiếp theo trong một thời hạn nhất định Vì vậy, thu nhập tính thuế bằng thu nhập chịu thuế trừ đi thu nhập được miễn thuế và khoản lỗ được kết chuyển theo quy định
Thông thường thì Nhà nước sẽ áp dụng thuế suất phổ thông cho tất cả
Trang 33các khoản thu nhập chịu thuế và các chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế Tuy nhiên, đối với lĩnh vực dầu khí, thì mức thuế suất thường cao hơn nếu như Nhà nước không thu thêm các khoản tài chính khác
Về phương pháp tính thuế, nhìn chung thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ tính thuế bằng thuế suất nhân với thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế Trong trường hợp cơ sở kinh doanh đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho một khoản thu nhập nhất định ở nước ngoài và nước ngoài này và nước
sở tại là thành viên của hiệp định tránh đánh thuế hai lần đang có hiệu lực, thì
cơ sở kinh doanh được trừ số thuế thu nhập đã nộp nhưng không quá số thu nhập mà cơ sở kinh doanh phải nộp cho nước sở tại
Chế độ ưu đãi, miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp
Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp được đánh giá là một trong những công cụ hiệu quả được Nhà nước sử dụng để cấu trúc nền kinh tế, định hướng hoạt động sản xuất, kinh doanh “Thông thường các nước áp dụng việc ưu đãi, miễn, giảm thuế cho các lĩnh vực quan trọng, các ngành mũi nhọn hoặc có lợi thế phát triển và các ngành tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh cao ở từng nước…” [16, tr.225]
Các biện pháp ưu đãi thuế phổ biến bao gồm miễn thuế, giảm thuế, tăng thời gian khấu hao tài sản cố định, ưu đãi thuế suất, chuyển lỗ, trích lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ và các biện pháp ưu đãi khác Trên thực tiễn, để thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài, nhiều nước áp dụng những chế
độ ưu đãi thuế đặc biệt dẫn đến hình thành các thiên đường thuế Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy chính sách ưu đãi thuế cũng có thể sẽ là con dao hai lưỡi Nên việc sử dụng các biện pháp ưu đãi thuế cần phải được cân nhắc cẩn trọng trên cơ sở bảo đảm sự hài hòa giữa lợi ích của quốc gia với lợi ích của các chủ thể kinh doanh
Trang 34Quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp
Các quy định của pháp luật về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm các nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, các quy định về trình tự, thủ tục đăng ký thuế, kê khai thuế, tính thuế, nộp thuế, truy thu thuế và hoàn thuế (gọi chung là các thủ tục về thuế) Trước đây, các thủ tục về thuế được thực hiện trên cơ sở quyết định và lệnh đơn phương của cơ quan quản lý thuế Tuy nhiên, ngày nay, việc thực hiện thủ tục về thuế dựa trên nguyên tắc người nộp thuế tự kê khai, tính thuế, nộp thuế Vì vậy, các quy định của pháp luật liên quan đến thủ tục về thuế cũng theo hướng này
Thứ hai, các quy định về kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật
về thuế Mặc dù thủ tục về thuế được xây dựng trên nguyên tắc người nộp thuế
tự kê khai, tính thuế, nộp thuế, nhưng điều đó không có nghĩa là cơ quan quản
lý thuế buông lỏng hoạt động quản lý thuế Cơ quan quản lý thuế vẫn phải giám sát và quản lý việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế thông qua các biện pháp kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm Về xử lý vi phạm, cơ quan quản lý thuế có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật thuế chưa cấu thành tội phạm Đối với hành vi vi phạm pháp luật về thuế cấu thành tội phạm, việc truy cứu trách nhiệm hình sự của các chủ thể liên quan được thực hiện theo các quy định của pháp luật về tố tụng hình sự
Sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Về mặt nguyên tắc chung khi phát sinh thu nhập chịu thuế thì nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp phát sinh Như vậy, chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp ngay tại thời điểm phát sinh thu nhập chịu thuế Tuy nhiên, trong hoạt động kinh doanh, thu nhập phát sinh hàng ngày Vì vậy nếu như buộc chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ thuế khi thu nhập chịu thuế phát sinh sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tự kê khai, tính thuế
Trang 35và nộp thuế Ngược lại, cơ quan thuế cũng gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý thuế Như vậy, hậu quả là hiệu quả quản lý thuế không cao với chi phí
kê khai, tính thuế, nộp thuế và quản lý thuế là rất lớn Vì lẽ đó, mặc dù nghĩa
vụ thuế phát sinh ngay từ thời điểm phát sinh thu nhập chịu thuế nhưng chủ thể chưa phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp ngay mà sẽ tiến hành kê khai, tính thuế và nộp thuế theo kỳ tính thuế Kỳ tính thuế được xác định theo năm tài chính áp dụng chung cho tất cả các chủ thể trừ một số chủ thể kiến nghị áp dụng kỳ tính thuế riêng và được cơ quan quản lý nhà nước chấp thuận Thông thường thì chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế phải nộp thuế trong một thời hạn nhất định kể từ thời điểm kết thúc kỳ tính thuế
Xử lý vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Hành vi vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp là hành vi trái hoặc thực hiện không đúng quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp Các hành vi vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp phổ biến bao gồm chậm kê khai thuế, chậm nộp thuế, trốn thuế, gian lận thuế, Các hành vi vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp là hành vi xâm phạm trật tự quản
lý kinh tế chung Vì vậy, chế tài áp dụng đối với hành vi vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp là các chế tài hành chính và chế tài hình sự
Khiếu nại, tố cáo và giải quyết tranh chấp về thuế thu nhập doanh nghiệp
Tranh chấp về thuế thu nhập doanh nghiệp là tranh chấp giữa cơ quan quản lý thuế với chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế liên quan đến việc thực hiện nghĩa
vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc hưởng các ưu đãi hay quyền lợi theo quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp Quan hệ pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp là quan hệ hành chính Vì vậy, tranh chấp về thuế thu nhập doanh nghiệp là tranh chấp hành chính Nội dung về thời hạn, quy trình, thủ tục
tố tụng thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật tố tụng hành chính
Về nguyên tắc khi không đồng ý với quyết định về thuế thu nhập doanh nghiệp của cơ quản lý thuế, trước hết chủ thể nộp thuế phải khiếu nại với cơ
Trang 36quan trực tiếp ban hành ra quyết định này Trong thời hạn luật định, nếu cơ quan quản lý thuế không giải quyết khiếu nại hoặc ra quyết định giải quyết khiếu nại mà cơ sở kinh doanh không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì chủ thể nộp thuế có quyền khiếu nại tiếp hoặc khởi kiện ra tòa án hành chính Nếu cơ sở kinh doanh lựa chọn giải quyết tranh chấp hành chính thông qua hệ thống tòa án thì việc giải quyết tranh chấp này sẽ tuân theo các quy định của pháp luật tố tụng hành chính Đối tượng của tranh chấp thuế chính là quyết định hành chính về thuế của cơ quan quản lý thuế Vấn đề đặt ra là tòa
án sẽ giải quyết cả thủ tục, thể thức ra quyết định hành chính về thuế và nội dung quyết định hay chỉ xem xét thủ tục, thể thức ra quyết định hành chính
Nếu theo cách tiếp cận thứ nhất, tòa án xem xét cả thể thức và nội dung của quyết định hành chính về thuế, thẩm phán xét xử tranh chấp về thuế phải
có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm sâu sắc về thuế Thẩm phán không chỉ có am hiểu pháp luật về thuế mà còn phải am hiểu kiến thức và có kinh nghiệm về các nghiệp vụ kế toán thuế Nếu không đáp ứng đủ các yêu cầu này, thẩm phán không thể xét xử chính xác các tranh chấp thuế
Nếu theo cách thứ hai, tòa án không xét xử lại nội dung của quyết định Việc xác định nội dung của quyết định sẽ thuộc thẩm quyền của cơ quan quản
lý thuế Tòa án chỉ xem xét về mặt thủ tục và thể thức ra quyết định để đánh giá xem quyết định này có tuân thủ đầy đủ các quy định về thẩm quyền, thủ tục, thể thức văn bản hay không?
Rõ ràng nếu lựa chọn theo cách thứ hai, thẩm phán không cần phải có kiến thức và kinh nghiệm quá chuyên sâu về thuế Tuy nhiên, nếu lựa chọn theo cách tiếp cận thứ hai thì quyền lợi của người nộp thuế không được bảo đảm Vì vậy, pháp luật nên xây dựng theo cách tiếp cận thứ nhất Đương nhiên, với cách tiếp cận thứ nhất cần chuẩn hóa trình độ và kinh nghiệm của thẩm phán chuyên sâu về thuế
Trang 371.3 Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam
Trong phần này, người viết chú trọng trình bày một cách khái quát pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp của một số quốc gia liên quan đến hoạt động dầu khí và phát triển năng lượng có khả năng tái tạo
1.3.1 Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ và Úc
Ở Úc, thuế thu nhập doanh nghiệp được quy định trong luật thuế thu nhập
doanh nghiệp năm 1936 (the income tax assessment Act 1997) và luật thuế thu nhập năm 1997 (the income tax assessment Act 1997) đã được sửa đổi, bổ sung
Vì ở Úc, chủ thể hoạt động dầu khí phải chịu thuế tài nguyên (resource rent tax – 40%), phí khai thác (royalties 10-12,5%) nên Úc áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 30% (áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp, đối với các doanh nghiệp có doanh thu dưới 2 triệu đô la Úc thì mức thuế suất là 28,5%) đối với hoạt động dầu khí Pháp luật Úc không giới hạn việc khấu trừ chi phí vào doanh thu để xác định thu nhập chịu thuế Theo đó, cơ sở kinh doanh có quyền sử dụng chi phí từ dự án kinh doanh khác khấu trừ vào doanh thu từ dự án khác để xác định thu nhập chịu thuế Một điểm khá thú vị là lợi nhuận thu được từ hoạt động dầu khí của doanh nghiệp Úc ở nước ngoài được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp Theo pháp luật Úc, chi phí tìm kiếm, thăm dò dầu khí được khấu trừ vào doanh thu để xác định thu nhập chịu thuế
Theo pháp luật Úc, doanh nghiệp được kết chuyển lỗ không giới hạn thời gian với điều kiện duy trì quyền sở hữu đáng kể (substantial continuity of ownership) theo Điều 166-145 Luật thuế thu nhập năm 1997 hoặc thỏa mãn điều kiện không thay đổi kinh doanh (the same business test) theo mục 165 E Luật thuế thu nhập năm 1997
Điều 166-145 Luật thuế thu nhập năm 1997 quy định:
Duy trì sở hữu đáng kể quyền sở hữu công ty trong thời gian tính từ
Trang 38thời điểm bắt đầu đánh giá hoặc bất kỳ thời điểm nào trong quá trình đánh nếu những điều kiện được quy định trong điều khoản này được thỏa mãn:
Quyền biểu quyết: Phải có những người (không phải là công ty hoặc người tín thác) có trên 50% tổng phiếu biểu quyết trong công ty tại thời điểm bắt đầu đánh giá Đồng thời những người này phải có trên 50% tổng
số phiếu biểu quyết trong công ty ngay sau bất kỳ thời điểm nào trong thời gian đánh giá
Quyền hưởng cổ tức: Phải có những người (không phải là công ty hoặc người tín thác) có quyền hưởng trên 50% tổng cổ tức tại thời điểm bắt đầu đánh giá Đồng thời những người này phải có quyền hưởng trên 50% tổng cổ tức ngay sau bất kỳ thời điểm nào trong thời gian đánh giá
Quyền được chia vốn: Phải có những người (không phải là công ty hoặc người tín thác) có quyền hưởng trên 50% tổng vốn cổ phần được chia tại thời điểm bắt đầu đánh giá Đồng thời những người này phải có quyền hưởng trên 50% tổng vốn cổ phần được chia ngay sau bất kỳ thời điểm nào trong thời gian đánh giá
Theo Điều 165-210 Luật thuế thu nhập năm 1997 thì:
Một công ty (ngoài công ty được quy định theo Điều 165-212A) thỏa mãn điều kiện không thay đổi kinh doanh nếu trong suốt quá trình đánh giá công ty thực hiện cùng hoạt động kinh doanh như ngay trước thời điểm đánh giá
Bên cạnh đó, doanh nghiệp hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) được giảm 40% thuế phải nộp
Ở Hoa Kỳ, cả cấp liên bang, bang và địa phương đều có thẩm quyền đánh thuế thu nhập doanh nghiệp Ở cấp liên bang, thuế thu nhập doanh nghiệp chủ yếu được quy định trong Bộ luật ngân sách được tập hóa trong Bộ luật liên bang Bên cạnh đó, các quy định ưu đãi thuế còn được quy định trong các đạo luật đơn hành Cũng như Úc, ở Mỹ thuế và phí áp dụng đối với hoạt động dầu khí bao
Trang 39gồm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài nguyên (severance tax) và phí tài nguyên (royalty) Vì vậy, mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng cho hoạt động dầu khí cũng tương đương với mức thuế suất áp dụng các hoạt động kinh doanh khác Theo đó, mức thuế suất phổ thông là 35%
Pháp luật của Mỹ cũng không hạn chế việc việc khấu trừ chi phí hợp lý
để xác định thu nhập chịu thuế Theo đó, khoản lỗ của dự án này có thể được khấu trừ vào dự án khác của cùng một chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế Pháp luật thuế Hoa Kỳ thừa nhận chi phí phát sinh trong quá trình tạo ra doanh thu thuần hoặc chi phí cần thiết để tạo ra doanh thu thuần Trong hoạt động dầu khí, chi phí khoan và chi phí hoàn tất (IDC và ICC) được thừa nhận Các chi phí hoặc tỷ lệ tiêu hao của mỏ khai thác cũng được thừa nhận Phí tài nguyên cũng được khấu trừ để xác định thu nhập chịu thuế
Hoa Kỳ không miễn trừ thuế thu nhập đối với lợi nhuận của chủ thể kinh doanh của Hoa Kỳ có được từ hoạt động dầu khí ở nước ngoài nhưng cho phép khấu trừ phân thuế thu nhập đã đóng ở nước ngoài
Hoa Kỳ còn phát triển cơ chế thuế tối thiểu (AMT) thay thế cho cách tính thuế thu nhập doanh nghiệp truyền thống Để áp dụng cơ chế này, doanh nghiệp phải tính riêng thu nhập chịu thuế áp dụng theo cơ chế thuế tối thiểu
Cơ chế này rất phù hợp với hoạt động dầu khí bởi vì chi phí phát sinh trong hoạt động dầu khí chủ yếu là IDC Mức thuế suất áp dụng theo cơ chế này là 20% Theo cơ chế này, khấu hao tài sản cố định được áp dụng theo phương pháp khấu hao chậm hơn Việc khấu trừ IDC được tính lại bằng việc vốn hóa hoặc trừ dần IDC hiện thời hàng năm theo phương pháp trừ thẳng trong thời gian 10 năm hoặc sử dụng phương pháp tỷ lệ đơn vị sản xuất để xác định thu nhập chịu thuế tối thiểu (AMT) Việc tính toán thêm là cần thiết để xác định được IDC để xác định thu nhập chịu thuế tối thiểu chính thức Chi phí IDC của năm trước không được trừ dần
Trang 40Theo pháp luật thuế của Hoa Kỳ thì lỗ được kết chuyển ngược lại trong
02 năm Lỗ cũng được kết chuyển sang năm tiếp theo trong thời hạn 20 năm nếu duy trì quyền sở hữu công ty trong thời hạn tối thiểu 03 năm (duy trì sở hữu trên 50% vốn cổ phần)
Điều 26 US Code §199 quy định về cơ chế khấu trừ chi phí sản xuất Theo đó, tỷ lệ khấu trừ áp dụng cho hoạt động dầu khí là 6% Khoản khấu trừ được xác định trên cơ sở tỷ lệ thu nhập từ hoạt động sản xuất đạt yêu cầu nhưng không vượt quá 50% chi phí lương sản xuất và không được vượt quá thu nhập chịu thuế Thu nhập từ hoạt động sản xuất đạt yêu cầu bằng tổng doanh thu từ hoạt động sản xuất trong nước trừ đi chi phí hợp lý theo quy định của pháp luật
Pháp luật Hoa Kỳ cũng có cơ chế ưu đãi đối với hoạt động R&D (sẽ được phân tích kỹ ở các chương tiếp theo) Ngoài ra, pháp luật Hoa Kỳ có nhiều chính sách ưu đãi thuế cho hoạt động phát triển các nguồn năng lượng sạch “Luật phát triển năng lượng năm 2008 kéo dài thời hạn giảm thuế lên 08 năm cho các đối tượng thuộc lĩnh vực năng lượng mặt trời (solar energy), tế bào nhiên liệu (fuel cells), microturbines Luật này cũng quy định áp dụng chính sách giảm thuế cho hệ thống năng lượng gióa quy mô nhỏ (small wind-energy systems), hệ thống địa nhiệt (geothermal heat pumps), Hệ thống năng lượng mặt trời, tế bào nhiên liệu và hệ thống năng lượng gió quy mô nhỏ (dung lượng tối đa 100 KW) được hưởng mức giảm thuế tương đương 30% chi phí mà không giới hạn mức tối đa” [14, tr.6]
1.3.2 Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp của một số nước Châu
Âu lục địa
Đức áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp phổ thông là 15% cho tất cả các lĩnh vực kinh doanh Ngoài ra, Đức còn đánh thêm khoản phụ thu 5,5% trên số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp Mức thuế suất áp