1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu ở việt nam

92 197 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Việt Nam hiện nay, trước đòi hỏi bức thiết của việc điều chỉnh bằng pháp luật các hành vi CTKLM trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và trong việc sử dụng nhãn hiệu nói riêng, cũn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ HỒNG HẠNH

PH¸P LUËT VÒ C¹NH TRANH KH¤NG LµNH M¹NH TRONG VIÖC Sö DôNG NH·N HIÖU ë VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ HỒNG HẠNH

PH¸P LUËT VÒ C¹NH TRANH KH¤NG LµNH M¹NH TRONG VIÖC Sö DôNG NH·N HIÖU ë VIÖT NAM

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN TRỌNG ĐIỆP

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Lê Hồng Hạnh

Trang 4

LÀNH MẠNH TRONG VIỆC SỬ DỤNG NHÃN HIỆU VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG VIỆC SỬ DỤNG NHÃN HIỆU Ở VIỆT NAM 5 1.1 Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh trong

việc sử dụng nhãn hiệu 5

1.1.1 Khái quát về nhãn hiệu và hành vi cạnh tranh không lành mạnh 5 1.1.2 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu 9 1.1.3 Phân biệt hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử

dụng nhãn hiệu với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu 12

1.2 Pháp luật điều chỉnh cạnh tranh không lành mạnh trong việc

sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam 14

1.2.1 Xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử

dụng nhãn hiệu ở Việt Nam 14 1.2.2 Các biện pháp xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong

việc sử dụng nhãn hiệu 22 1.2.3 Mối quan hệ giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ

trong việc xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc

sử dụng nhãn hiệu 35

Trang 5

1.2.4 Ý nghĩa của sự điều chỉnh bằng pháp luật các hành vi cạnh tranh

không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 40

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG VIỆC SỬ DỤNG NHÃN HIỆU Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN 41

2.1 Thực trạng pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam 41

2.1.1 Thành tựu 42

2.1.2 Hạn chế 43

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam 47

2.2.1 Tình trạng vi phạm pháp luật của các chủ thể kinh doanh trên thị trường 47

2.2.2 Hoạt động xử lý của hệ thống cơ quan thực thi 58

2.2.3 Hoạt động tự bảo vệ quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu 62

2.2.4 Nguyên nhân 63

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 64

Chương 3: ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG VIỆC SỬ DỤNG NHÃN HIỆU Ở VIỆT NAM 65

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật 66

3.2 Đề xuất hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam 67

3.2.1 Thống nhất các quy định của pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ về cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu 68

Trang 6

3.2.2 Nâng cao mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cạnh

tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu 70

3.2.3 Hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh không lành mạnh 70

3.2.4 Bổ sung quy định mới xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu 71

3.2.5 Ban hành các quy định pháp luật về xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu điều chỉnh từng lĩnh vực cạnh tranh 71

3.3 Đề xuất nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam 72

3.3.1 Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan thực thi pháp luật 72

3.3.2 Củng cố, nâng cao nhận thức của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh 77

3.3.3 Nâng cao nhận thức và tính chủ động của người tiêu dùng trên thị trường 78

3.3.4 Tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế về xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu 79

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 80

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong những năm gần đây, cùng với quá trình hội nhập kinh tế-xã hội ngày một sâu rộng của Việt Nam vào nền kinh tế của khu vực cũng như của toàn thế giới, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền đối với nhãn hiệu nói riêng ngày càng đóng vai trò quan trọng Nhãn hiệu là tài sản vô hình quý giá của doanh nghiệp và là một công cụ cạnh tranh hữu hiệu của thời kì hội nhập, nó đã và đang khẳng định vai trò là yếu tố quan trọng tạo nên thương hiệu, giá trị và uy tín trên thị trường của các doanh nghiệp Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO và nhiều diễn đàn kinh tế như APEC, AFTA, ASEEM, v.v… đây là thuận lợi lớn để hội nhập với các nền kinh tế phát triển khác, song cũng là thách thức không nhỏ đối với chúng ta trong vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ nhãn hiệu nói riêng Việc xây dựng một nhãn hiệu có sức mạnh và bảo vệ nó trước các hành vi làm giả, làm nhái, hành vi xâm phạm quyền, hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các chủ thể khác là yêu cầu bức bách đối với sự tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp

CTKLM trong sở hữu trí tuệ nói chung và trong việc sử dụng nhãn hiệu nói riêng hiện đang là vấn đề nóng của toàn xã hội với mật độ ngày càng phổ biến, theo chiều hướng trầm trọng hơn và cách thức ngày càng tinh vi hơn Từ các đô thị lớn – nơi có mật độ dân sinh cao và sức tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ lớn, cho đến khắp các tỉnh thành, những vùng nông thôn – nơi mà trình độ dân trí của người tiêu dùng còn thấp, khả năng phân biệt nhãn hiệu và các chỉ dẫn thương mại khác còn kém thì những sản phẩm, dịch vụ nhái lại các nhãn hiệu uy tín vẫn xuất hiện trên thị trường, len lỏi vào các cửa hàng tạp hóa nhỏ lẻ, và dễ dàng được tiêu thụ bởi khả năng gây nhầm lẫn cho đại bộ phận người tiêu dùng Những tổn thất

mà hành vi CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu gây ra cho các chủ thể quyền – những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chân chính, và cho đông đảo người tiêu dùng là rất nghiêm trọng

Trang 9

Tại Việt Nam hiện nay, trước đòi hỏi bức thiết của việc điều chỉnh bằng pháp luật các hành vi CTKLM trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và trong việc sử dụng nhãn hiệu nói riêng, cũng như đòi hỏi về sự tương thích với pháp luật quốc tế trước công cuộc hội nhập kinh tế toàn cầu, các quy định pháp luật về hành vi CTKLM trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nằm chủ yếu trong Luật Cạnh tranh 2004 và Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bổ sung theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 và được hợp nhất trong văn bản hợp nhất số 19/VBHN-VPQH ngày 18/12/2013 do Văn phòng Quốc hội ban hành, sau đây gọi

là Luật sở hữu trí tuệ 2013) đã ra đời Sau một thời gian thực hiện, bên cạnh những hiệu quả đã đạt được thì khung pháp lý về CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu cũng đã bộc lộ nhiều bất cập, đòi hỏi sự cập nhật, thay đổi để phù hợp hơn với môi trường pháp lý chung trên toàn thế giới và thực tiễn tại Việt Nam

Vì vậy, vấn đề “Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử

dụng nhãn hiệu ở Việt Nam” là vấn đề cấp bách cả về lý luận và thực tiễn Xuất

phát từ nhu cầu thực tế và mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu pháp luật về CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam, người viết đã chọn đây làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu các vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật, vấn đề thực thi pháp luật trên thực tiễn và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật liên quan đến CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu;

- Phân tích quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh vấn đề bảo hộ quyền

sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu trước hành vi CTKLM;

- Tìm hiểu, đánh giá việc thực thi pháp luật về CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam;

Trang 10

- Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường việc thực thi pháp luật về CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam

3 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Những đóng góp của đề tài bao gồm:

- Một là, nghiên cứu một cách cụ thể những vấn đề lý luận và pháp lý của

pháp luật về CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu

- Hai là, phân tích, đánh giá việc thực thi các quy định pháp luật hiện hành

liên quan đến CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam

- Ba là, qua quá trình nghiên cứu các quy định pháp luật liên quan đến

CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam, luận văn đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần nâng cao tính hiệu quả của các quy định pháp luật trong thực tiễn thực hiện

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật về CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam và việc thực thi trên thực tế

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chủ yếu nghiên cứu về hành vi CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam theo các quy định của pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, nhiều phương pháp nghiên cứu được sử dụng như: Phương pháp tổng hợp và phân tích kết hợp phương pháp logic; phương pháp so sánh; phương pháp thu thập thông tin nhằm đưa ra các bình luận, đánh giá thích hợp

6 Tổng quan tài liệu

Một số công trình khoa học nghiên cứu đi trước:

Luận văn thạc sĩ “Xử lý một số vi phạm quyền sở hữu trí tuệ dưới góc độ

Luật cạnh tranh” của Nguyễn Thị Thanh Mai, năm 2005, Khoa Luật - Đại học

Quốc gia Hà Nội;

Luật văn thạc sĩ “Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh

Trang 11

vực sở hữu trí tuệ ở Việt Nam” của Vũ Quỳnh Lâm, năm 2005, Trường Đại học

Luật Hà Nội;

Luận văn thạc sĩ “Cạnh tranh không lành mạnh: Thực trạng và những đề

xuất xử lý vi phạm ở Việt Nam” của Vũ Thu Giang, năm 2010, Trường Đại học

Ngoại thương Hà Nội;

Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Pháp luật về

hành vi cạnh tranh không lành mạnh của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Chủ nhiệm đề tài: TS Hồ Xuân Thắng, Trường Đại học Sài Gòn,

năm học 2014-2015;

Luận văn thạc sĩ “So sánh pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh

trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ ở Việt Nam và Hoa Kỳ” của Đỗ Thu Thủy, năm 2016,

Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Nhìn chung, liên quan đến pháp luật cạnh tranh và pháp luật về bảo hộ quyền

sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đi trước đề cập ở nhiều góc độ và mức độ khác nhau, tuy nhiên, đó mới là những nghiên cứu mang tính riêng lẻ về hai ngành luật độc lập Còn vấn đề xử lý các hành vi CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu theo quy định của luật cạnh tranh, luật sở hữu trí tuệ

và mối quan hệ giữa hai ngành luật này trong điều chỉnh pháp luật thì cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh trong việc

sử dụng nhãn hiệu và pháp luật điều chỉnh cạnh tranh không lành mạnh trong việc

sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam

Chương 2: Thực trạng pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong việc

sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam và thực tiễn thực hiện

Chương 3: Đề xuất hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp

luật về cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam

Trang 12

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG VIỆC SỬ DỤNG NHÃN HIỆU VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG VIỆC SỬ DỤNG

NHÃN HIỆU Ở VIỆT NAM

1.1 Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu

1.1.1 Khái quát về nhãn hiệu và hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Nhãn hiệu là yếu tố được sử dụng rất rộng rãi trong nền kinh tế thị trường, ở một nhãn hiệu có sự gắn liền giữa lĩnh vực thương mại và lĩnh vực sở hữu trí tuệ Mặc dù có nhiều thuật ngữ được được sử dụng rộng rãi không chỉ trong kinh tế, thương mại mà cả trên các phương tiện thông tin đại chúng và đời sống thường nhật như “nhãn hiệu”, “thương hiệu”, “biểu tượng” hay “logo”, tuy nhiên chỉ có nhãn hiệu là khái niệm được nhắc đến trong pháp luật sở hữu trí tuệ Theo pháp luật sở

hữu trí tuệ Việt Nam, “nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ

của các tổ chức, cá nhân khác nhau” [13, Điều 4, Khoản 16]

Về khái niệm cạnh tranh, theo Từ điển Tiếng Việt, cạnh tranh là “cố gắng

giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau” [32, tr 129] Với khái niệm này, cạnh tranh được

xem xét ở góc độ chung nhất của đời sống xã hội

Theo C Mác: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà

tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch" [5, tr 556]

Theo Từ điển kinh doanh của Anh xuất bản năm 1992, cạnh tranh được định

nghĩa là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm

tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba” [13, tr.12]

Dưới góc độ sản xuất, kinh doanh trong điều kiện của cơ chế thị trường, có

thể hiểu khái niệm cạnh tranh như sau: “Cạnh tranh được coi là hành vi của các

Trang 13

chủ thể trong khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường với mục đích giành và thiết lập cho mình những ưu thế có lợi nhất để thu lợi nhuận cao nhất” [16]

Cạnh tranh là một trong những quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường, nơi pháp luật thừa nhận và bảo đảm chế độ sở hữu nhiều thành phần, quyền tự do ý chí của các chủ thể mà tiêu biểu là quyền tự do kinh doanh Có tự do cạnh tranh thì nền kinh tế thị trường mới vận hành theo đúng quy luật tất yếu của nó và từ đó phát huy nội lực thúc đẩy nền kinh tế Do đó, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và đưa ra những đảm bảo pháp lý nhằm thúc đẩy tự do cạnh tranh

Tuy nhiên, chính cạnh tranh cũng là yếu tố đem đến những hậu quả tiêu cực

về kinh tế - xã hội, đó là khi các chủ thể sản xuất, kinh doanh thực hiện những hành

vi CTKLM Khi cơ chế thị trường khuyến khích các doanh nghiệp được tự do kinh doanh thì việc đánh giá tính lành mạnh, trung thực trong hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp và đặt ra các giới hạn cho cạnh tranh nhằm ngăn ngừa hành vi CTKLM là một công việc khó khăn, trong đó việc đưa ra một khái niệm đầy đủ về

hành vi CTKLM có ý nghĩa then chốt

Công ước Paris ngày 20/03/1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp (sau đây gọi

là Công ước Paris) là một trong những điều ước quốc tế sớm nhất có quy định về việc chống lại hành vi CTKLM Điều 10Bis của Công ước đã đưa ra khái niệm về

các hành vi CTKLM, cụ thể là: “Bất cứ hành động nào trái với tập quán trung thực

trong công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành động cạnh tranh không lành mạnh” [8] Theo Công ước Paris, tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá tính chất

“không lành mạnh” là “trái với tập quán trung thực” Tuy nhiên, chính bản thân tiêu chí này cũng không nhất quán ở mọi quốc gia Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội mà ở mỗi quốc gia sẽ có những tập quán kinh

doanh riêng Điều 10Bis Công ước Paris có ý nghĩa rất to lớn trong thương mại

quốc tế, tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển của thiết chế pháp luật của các quốc gia thành viên trong việc chống lại các hành vi CTKLM Công ước cũng khuyến nghị các quốc gia thành viên cụ thể hoá các tiêu chí để đánh giá hành vi

CTKLM trong pháp luật của quốc gia mình

Trang 14

Theo pháp luật của Cộng đồng châu Âu: Với nỗ lực để thống nhất các quy định về CTKLM giữa các quốc gia thành viên trong khuôn khổ chương trình hài hoà hoá pháp luật chung (Legal Harmonisation), Cộng đồng châu Âu đã phát triển các quy định chung áp dụng cho Cộng đồng theo nhiều hình thức, cấp độ Đặc biệt, Chỉ thị số 2005/29/EC hướng dẫn các hành vi thương mại không lành mạnh đã thay thế cho một loạt các luật lệ thông thường đang tồn tại ở các quốc gia thành viên [27] Từ khi Chỉ thị số 2005/29/EC ra đời, các hành vi thương mại trên khắp Châu Âu được đánh giá theo một tiêu chuẩn chung Điều 5 của Chỉ thị quy định một hành vi thương mại bị coi là không lành mạnh nếu:

- Đi ngược lại với các yêu cầu về sự cần mẫn nghề nghiệp; hoặc

- Bóp méo một cách nghiêm trọng hoặc có khả năng bóp méo nghiêm trọng ứng xử kinh tế trong mối liên hệ với sản phẩm của người tiêu dùng trung bình (hay người tiêu dùng phổ thông) [27]

“Người tiêu dùng trung bình” – theo định nghĩa của Toà án công lý liên minh

châu Âu, “là người có đầy đủ thông tin ở mức vừa phải, tinh ý ở mức vừa phải và thận

trọng ở mức độ vừa phải, khi tính đến các yếu tố xã hội, văn hóa và ngôn ngữ” [17]

Theo quy định của Chỉ thị số 2005/29/EC thì trong thực tiễn để xác định một hành vi thương mại là không lành mạnh đều dựa trên tác động của hành vi đó hoặc tác động có khả năng xảy ra của hành vi đó đối với người tiêu dùng trung bình hay còn gọi là người tiêu dùng phổ thông Với sự ra đời của Chỉ thị số 2005/29/EC, các hành vi thương mại trên khắp Châu Âu đã được đánh giá theo một tiêu chuẩn chung nhất, mật thiết hơn, thay thế cho một loạt các luật lệ thông thường về hành vi thương mại không lành mạnh đang tồn tại phân tán ở các quốc gia thành viên EU và góp phần xoá bỏ các rào cản vốn tồn tại trên thị trường chung những năm trước đó

Theo pháp luật Việt Nam: Luật cạnh tranh 2004 đưa ra định nghĩa về CTKLM tại

Khoản 4 Điều 3 như sau:

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến

Trang 15

lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng [21, Điều 3]

Định nghĩa về hành vi CTKLM trong Luật cạnh tranh 2004 về cơ bản là tương đồng với Công ước Paris cũng như pháp luật của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển Cụ thể, một hành vi CTKLM được cấu thành bởi 3 yếu tố:

- Chủ thể thực hiện hành vi CTKLM: doanh nghiệp hoạt động trên thị trường;

- Tính chất của hành vi CTKLM: trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh;

- Đối tượng bị xâm hại bởi hành vi CTKLM: Nhà nước, người tiêu dùng hoặc doanh nghiệp khác

Như vậy, có thể thấy có nhiều quan điểm, nhiều cách định nghĩa khác nhau

về hành vi CTKLM, tuy nhiên, tất cả các định nghĩa đó đều có chung nhận định rằng đây là hành vi cạnh tranh tiêu cực, xâm phạm môi trường kinh doanh lành mạnh, đi ngược lại chuẩn mực đạo đức xã hội, tập quán và truyền thống kinh doanh, xâm hại tới lợi ích của các chủ thể khác Những hành vi này do đó cần phải được ngăn chặn kịp thời để bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp khác và người tiêu dùng

Có nhiều căn cứ để phân loại các hành vi CTKLM Ví dụ:

- Xét theo hình thức của hành vi, hành vi CTKLM bao gồm nhiều dạng hành

vi: chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, phân biệt đối xử của hiệp hội, bán hàng đa cấp bất chính, v.v…

- Xét theo mục đích của hành vi, hành vi CTKLM về cơ bản gồm các hành

vi chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác (ví dụ, chiếm đoạt bí mật thương mại); hoặc hành vi hủy hoại ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác (ví

dụ, gièm pha đối thủ cạnh tranh); hoặc hành vi tạo ra ưu thế cạnh tranh giả tạo (ví

dụ, quảng cáo gian dối)

- Xét theo lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, hành vi CTKLM có thể gồm nhiều

loại: CTKLM trong lĩnh vực ngân hàng, CTKLM trong lĩnh vực bảo hiểm, CTKLM trong lĩnh vực viễn thông, CTKLM trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, v.v…

Trang 16

- Xét theo đối tượng bị xâm hại, hành vi CTKLM bao gồm: hành vi xâm hại

tới lợi ích của đối thủ cạnh tranh, hành vi xâm hại tới lợi ích của người tiêu dùng, hành vi can thiệp vào môi trường cạnh tranh nói chung

1.1.2 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu

Việc sử dụng quyền chống CTKLM trong các vụ việc có liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu nói riêng đã được biết đến từ lâu trên thế giới Công ước Paris được coi là văn kiện pháp lý quốc tế đầu tiên quy định về hành

vi CTKLM trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, trong đó có việc sử dụng nhãn hiệu Theo Công ước Paris, các nước thành viên của Liên minh có trách nhiệm bảo đảm cho công dân của các nước thành viên đó sự bảo hộ có hiệu quả chống lại hành vi CTKLM Công ước Paris đã trải qua rất nhiều lần sửa đổi, điều chỉnh nhằm ngày một hoàn thiện hơn Các hành vi CTKLM liên quan đến sở hữu công nghiệp được quy định tại Điều 10bis của Công ước Trong đó, việc thực hiện những hành vi “có khả năng gây nhầm lẫn dưới bất cứ hình thức nào đối với cơ sở, hàng hoá, hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh của người cạnh tranh” và hành vi sử dụng những chỉ dẫn

“gây nhầm lẫn cho công chúng về bản chất, quá trình sản xuất, tính chất, tính thích hợp để sử dụng hoặc số lượng của hàng hoá” được xem là liên quan trực tiếp đến việc sử dụng nhãn hiệu

Ở nhiều quốc gia trên thế giới, vấn đề xác định khả năng gây nhầm lẫn của việc sử dụng nhãn hiệu được xác định và tổng kết thông qua khảo sát thị trường Việc xác định hành vi sử dụng nhãn hiệu có khả năng gây nhầm lẫn hay không được căn cứ vào phản ứng của người tiêu dùng trước các hàng hoá, dịch vụ gắn nhãn hiệu, chứ không phụ thuộc vào ý đồ, mục đích của chủ thể sử dụng nhãn hiệu Theo đó, việc xác định một hành vi sử dụng nhãn hiệu có phải là CTKLM hay không được đánh giá thông qua người tiêu dùng trung bình (hay người tiêu dùng phổ thông)

Theo pháp luật Việt Nam, hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc

sử dụng nhãn hiệu là một dạng cụ thể của hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hướng tới đối tượng cụ thể là nhãn hiệu, nó mang những đặc điểm sau:

Trang 17

1.1.2.1 Chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu là chủ thể kinh doanh trên thị trường

Chủ thể thực hiện hành vi CTKLM theo Luật cạnh tranh 2004 là doanh nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường Trên thị trường, mỗi hành vi kinh doanh của doanh nghiệp này đều nằm trong mối tương quan với các doanh nghiệp khác, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều có thể bị xem xét về tính chính đáng, phù hợp với thông lệ hay đạo đức kinh doanh Hành vi CTKLM có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh ở mọi ngành, mọi lĩnh vực của đời sống kinh

tế, mọi công đoạn của quá trình kinh doanh Khái niệm doanh nghiệp ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm mọi tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động tìm kiếm lợi nhuận một cách thường xuyên và chuyên nghiệp, hay nói cách khác là những thương nhân trên thị trường Các đối tượng còn lại như cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, các tổ chức phi lợi nhuận, v.v… không là đối tượng áp dụng các quy định pháp luật về hành vi CTKLM, do đó cũng không trở thành chủ thể thực hiện hành vi CTKLM Dù đôi khi trên thực tế có thể xảy ra trường hợp một số tổ chức phi lợi nhuận hoặc đơn vị truyền thông thực hiện những hành vi gây ảnh hưởng xấu đến quyền cạnh tranh lành mạnh của doanh nghiệp, tuy nhiên pháp luật cạnh tranh không được áp dụng cho những tình huống này

1.1.2.2 Tính chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu là tính đối lập, trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh

Tính chất của hành vi không lành mạnh là trái với với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh Mặc dù chưa có một định nghĩa chính thức nào về

“đạo đức kinh doanh” song có thể hiểu đó là là những quy tắc xử sự chung giữa các chủ thể kinh doanh đã được chấp nhận rộng rãi và lâu dài trong hoạt động kinh doanh trên thị trường

Thực tiễn pháp lý hiện nay xác định “các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh” dựa trên hai căn cứ:

- Các quy định của pháp luật: Pháp luật quy định một số dạng hành vi nhất

Trang 18

định là hành vi CTKLM, ví dụ như: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn; xâm phạm bí mật kinh doanh; ép buộc trong kinh doanh; gièm pha doanh nghiệp khác; v.v… Theo đó, hành vi CTKLM có thể là hành vi của tổ chức, cá nhân kinh doanh vi phạm các quy định của pháp luật, bao gồm không chỉ các quy định của pháp luật cạnh tranh mà còn của các văn bản pháp luật khác như pháp luật thương mại, pháp luật về giá, pháp luật về sở hữu trí tuệ, v.v…

- Các tập quán kinh doanh thông thường đã được thừa nhận rộng rãi: Căn

cứ này là biện pháp dự phòng để áp dụng cho những trường hợp mà pháp luật chưa quy định về một hành vi cụ thể là hành vi CTKLM, nhưng hành vi này khi được thực hiện sẽ có tác động tiêu cực đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh khác và trái với tập quán kinh doanh Căn cứ này đã mở rộng khả năng điều chỉnh và khắc phục được tình trạng thiếu bao quát của pháp luật cạnh tranh

1.1.2.3 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu gây

thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho nhiều đối tượng khác nhau trên thị trường

Hành vi CTKLM gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho nhiều đối tượng khác nhau trên thị trường, bao gồm doanh nghiệp khác, người tiêu dùng và cả Nhà nước

Trước đây pháp luật cạnh tranh ở một số quốc gia chỉ chống lại các biểu hiện không lành mạnh xâm phạm lợi ích của đối thủ cạnh tranh theo quan niệm cạnh tranh phải là sự đối đầu giữa các đối thủ kinh doanh trên thị trường Theo đó, những hành vi xâm hại lợi ích của những chủ thể khác không phải là đối thủ cạnh tranh sẽ không nằm trong khái niệm CTKLM Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, những hành vi CTKLM có tác động tiêu cực trực tiếp đến người tiêu dùng, nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại của các đối thủ cạnh tranh để xác định một hành vi cạnh tranh là không lành mạnh thì sẽ không đầy đủ Để kết luận về tính vi phạm cần phải

tính đến cả thiệt hại của người tiêu dùng

Thực tế đã chỉ ra rằng hành vi CTKLM còn xâm hại đến trật tự quản lý cạnh tranh của Nhà nước Tuy nhiên đối tượng Nhà nước không mang tính tiêu biểu Thông thường, vấn đề bảo vệ lợi ích của Nhà nước trước hành vi CTKLM chỉ được

Trang 19

đặt ra tại những nền kinh tế mà ở đó Nhà nước tham gia sâu vào hoạt động kinh doanh, thậm chí cạnh tranh trực tiếp với các thành phần kinh tế khác trên thị trường

Pháp luật cạnh tranh Việt Nam xác định các đối tượng chịu tác động của hành vi CTKLM là doanh nghiệp khác, người tiêu dùng và Nhà nước

1.1.3 Phân biệt hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu

Trước một hành vi trái pháp luật xâm hại đến nhãn hiệu, xuất hiện một vấn

đề cần phải được giải đáp xét cả về phương diện lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật Đó chính là việc tồn tại song song hai phương thức xử lý dựa trên cơ sở pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và pháp luật về sở hữu trí tuệ đối với các hành vi xâm phạm quyền [31] Thực tế cho thấy việc xác định một hành vi là CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu hay là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu không phải là dễ dàng, nhưng đây là điều hết sức quan trọng, nhằm tránh dẫn đến trường hợp một hành vi vi phạm có thể bị xử lý hai lần bởi các quy định pháp luật

về CTKLM và về xâm phạm nhãn hiệu, hoặc tránh việc không xác định chính xác

bản chất hành vi, dẫn đến việc không kết luận và xử lý được hành vi vi phạm

Như đã phân tích ở phần trên, bản chất của hành vi CTKLM là hành vi trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại cho các doanh nghiệp khác, cho người tiêu dùng và cả Nhà nước Theo pháp luật hiện hành, hành vi CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu chịu sự điều chỉnh của cả pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ

Trong khi đó, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là một dạng hành vi xâm phạm quyền sở hữu Quyền sở hữu đối với một tài sản dù là tài sản hữu hình hay vô hình đều đem lại cho chủ sở hữu những quyền năng nhất định Khi một chủ thể được cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu tức là quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối với nhãn hiệu thuộc sở hữu của mình được bảo vệ bởi pháp luật trước những hành

vi mà pháp luật quy định là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu và CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu đều là các hành vi gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt

Trang 20

hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu, tuy vậy sự khác nhau giữa hai loại hành vi này xuất phát từ chính bản chất pháp lý của mỗi loại hành vi, cho dù về bề ngoài thì hành vi

xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và CTKLM có thể có rất nhiều điểm giống nhau Đó

chính là sự khác nhau về căn cứ áp dụng, yếu tố chủ thể và yếu tố lỗi [15]

- Thứ nhất, căn cứ áp dụng: Việc xác định một hành vi là xâm phạm quyền

đối với nhãn hiệu chỉ đặt ra khi quyền đối với một nhãn hiệu đang được bảo hộ bị xâm phạm Một nhãn hiệu không được đăng ký bảo hộ thì không thể căn cứ vào pháp luật sở hữu trí tuệ để bảo vệ khi bị xâm phạm Tuy nhiên, trường hợp này lại hoàn toàn có thể áp dụng pháp luật cạnh tranh để điều chỉnh, theo đó hành vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn, làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích CTKLM là một dạng của hành vi CTKLM, không phụ thuộc vào việc dấu hiệu chỉ dẫn đó đã được đăng ký bảo hộ hay chưa

Thông thường, một vụ việc CTKLM , cụ thể là sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn, sẽ phát triển thành một vu ̣ việc về xâm pha ̣m nhãn hiệu , nếu như các yếu tố chỉ dẫn thương ma ̣i bi ̣ gây nhầm lẫn được đăng ký bảo hộ dưới da ̣ng nhãn hiệu Trong trường hợp các yếu tố này không được đăng ký nhãn hiệu , chủ thể quyền mới yêu cầu xử lý hành vi CTKLM 


- Thứ hai, yếu tố chủ thể: Hành vi CTKLM chỉ được đặt ra khi mà trên thực tế

các chủ thể ở trong vị thế cạnh tranh với nhau, hay nói cách khác là chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh đối với đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan Trong khi đó,

có thể kết luận hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến nhãn hiệu với bất kỳ chủ thể nào vi phạm quyền của chủ sở hữu đã được pháp luật quy định

- Thứ ba, yếu tố lỗi của chủ thể thực hiện hành vi: Hành vi CTKLM là hành

vi có lỗi cố ý theo pháp luật hiện hành Điều 40 của Luật cạnh tranh 2004 chỉ rõ hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn phải “nhằm mục đích cạnh tranh”, do đó không thể nói tới CTKLM khi mà chủ thể thực hiện hành vi không nhằm mục đích CTKLM Đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, việc xác định chủ thể thực hiện hành vi có lỗi hay không không phải là bắt buộc, bởi khi nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ và công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp, các chủ thể khác được suy

Trang 21

đoán là đã biết tới quyền của chủ hữu, do đó việc thực hiện hành vi xâm phạm tới quyền được pháp luật bảo vệ của chủ sở hữu nhãn hiệu mà không được chủ sở hữu cho phép sẽ cấu thành hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

1.2 Pháp luật điều chỉnh cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam

1.2.1 Xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc sử dụng nhãn hiệu ở Việt Nam

1.2.1.1 Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn

“Chỉ dẫn gây nhầm lẫn” là một trong 10 hành vi CTKLM được quy định tại Điều 39 Luật cạnh tranh 2004 Luật sở hữu trí tuệ 2013 cũng quy định hành vi sử dụng “chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn” là một trong các hành vi CTKLM, cụ thể theo Khoản 1 Điều 130 về hành vi CTKLM thì các hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn sau đây bị coi là hành vi CTKLM:

- Thứ nhất, sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh,

hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ;

- Thứ hai, sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản

xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ;

về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ [23, Điều 130]

Một hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại đã “gây nhầm lẫn” có thể được xác định dưới nhiều góc độ: Nhầm lẫn rằng hai sản phẩm do cùng từ một nhà sản xuất, cung cấp; hoặc nhầm lẫn rằng hai sản phẩm đến từ hai nhà sản xuất, cung cấp có quan hệ, liên kết với nhau; hoặc nhầm lẫn rằng hai sản phẩm có công dụng, tính năng, chất lượng như nhau

Theo Luật sở hữu trí tuệ 2013, nhãn hiệu được xác định là một trong các chỉ dẫn thương mại, việc một chủ thể sử dụng nhãn hiệu gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ hoặc gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc các đặc điểm khác của hàng hoá, hoặc về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ sẽ được coi là thực hiện hành vi CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu

Trang 22

Do Luật cạnh tranh 2004 và Luật sở hữu trí tuệ 2013 cùng quy định về các hành vi CTKLM trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, nên về bản chất hành vi “chỉ dẫn gây nhầm lẫn” theo Luật cạnh tranh 2004 và “sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn” đều cùng chỉ một dạng hành vi CTKLM Tuy nhiên, hành vi “chỉ dẫn gây nhầm lẫn” và “sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn” được quy định tại hai văn bản pháp lý khác nhau, nên các hành vi này bị chi phối bởi các quy định chung mang tính đặc thù của các đạo luật đó, cụ thể như sau:

- Thứ nhất, về chủ thể thực hiện hành vi: Hành vi “chỉ dẫn gây nhầm lẫn”

theo Luật cạnh tranh 2004 có chủ thể thực hiện hành vi là “doanh nghiệp” Khái niệm “doanh nghiệp” theo Luật cạnh tranh 2004 bao gồm không chỉ các loại hình doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp mà còn có cả tổ chức, cá nhân kinh doanh (cá nhân có đăng ký kinh doanh hoặc cá nhân không có đăng ký kinh doanh), hiệp hội ngành nghề [21, Điều 2] Trong khi đó, chủ thể thực hiện hành vi “sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn” theo Luật sở hữu trí tuệ 2013 có thể là tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài đáp ứng các điều kiện quy định tại Luật này và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên [23, Điều 2] Như vậy có thể thấy, phạm vi chủ thể thực hiện hành vi CTKLM liên quan đến các chỉ dẫn thương mại theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ 2013 rộng hơn so với Luật cạnh tranh 2004

- Thứ hai, về đối tượng được xác định thuộc phạm trù “chỉ dẫn”: Luật cạnh

tranh 2004 không đưa ra các dấu hiệu để nhận dạng các đối tượng bị xâm phạm này,

do đó, phải sử dụng phối hợp các quy phạm định nghĩa trong các văn bản pháp luật hiện hành khác có liên quan để từ đó có cách hiểu thống nhất trong quá trình áp dụng Trong khi đó Luật sở hữu trí tuệ 2013 xác định rõ ràng các chỉ dẫn thương mại tại Khoản 2 Điều 130, bao gồm: các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hoá, nhãn hàng hoá Như vậy, với việc xác định nhãn hiệu là một trong các loại chỉ dẫn thương mại, việc sử dụng nhãn hiệu gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động

Trang 23

kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ hoặc về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ, về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ sẽ bị coi là thực hiện hành vi CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu theo Luật sở hữu trí tuệ 2013

- Thứ ba, về mục đích của hành vi: Luật cạnh tranh 2004 quy định mục

đích của hành vi phải là “nhằm mục đích cạnh tranh” Tức là, việc thực hiện hành

vi sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn phải là nhằm gây nên sự nhầm lẫn của khách hàng giữa hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh với hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp mình Như vậy, hàng hoá, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn gây nhầm lẫn phải cùng trong một thị trường với hàng hoá, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh hoặc cùng trên thị trường liên quan Mặc dù theo Luật sở hữu trí tuệ

2013, mục đích của hành vi không được quy định, tuy nhiên để xác định một hành

vi là CTKLM thì việc xác định và chứng minh mục đích cạnh tranh của chủ thể thực hiện hành vi là điều tất yếu

Do có sự khác biệt trong cách quy định về chủ thể thực hiện hành vi, đối tượng hay mục đích của hành vi, trên thực tế sẽ dẫn đến một số trường hợp hành vi cạnh tranh thoả mãn các dấu hiệu của hành vi “chỉ dẫn gây nhầm lẫn” nhưng lại được thực hiện bởi chủ thể không thuộc đối tượng áp dụng của Luật cạnh tranh

2004, do đó, sẽ không được hiểu là hành vi “chỉ dẫn gây nhầm lẫn” theo quy định tại Điều 130 Luật cạnh tranh 2004 Điều đó cũng đồng nghĩa với việc, hành vi đó sẽ không được xử lý theo quy định của Luật cạnh tranh 2004 mà phải áp dụng Luật sở hữu trí tuệ 2013

1.2.1.2 Hành vi của người đại diện hay đại lý sử dụng nhãn hiệu được bảo

hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Việt Nam cũng là thành viên

Việt Nam đã tham gia nhiều Điều ước quốc tế quan trọng trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ mà trong số đó, Công ước Paris là văn kiện pháp lý quốc tế mang tính nền tảng cho sự ra đời của các điều ước quốc tế điều chỉnh từng đối tượng sở hữu

Trang 24

công nghiệp riêng biệt và là cơ sở cho các thoả thuận song phương, đa phương khác

về sở hữu trí tuệ Để nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu nói riêng, Công ước Paris có những quy định điều chỉnh vấn đề bảo hộ một cách cơ bản nhất Trong đó, liên quan đến quyền đăng ký và sử dụng nhãn hiệu của người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu, Điều 6 septies Công ước Paris quy định như sau:

(1) Nếu đại lý hoặc người đại diện của người là chủ nhãn hiệu tại một trong số các nước thành viên của Liên minh vẫn nộp đơn đăng ký nhãn hiệu cho chính mình tại một hoặc nhiều nước thành viên của Liên minh, mà không được sự cho phép của người chủ đó thì chủ nhãn hiệu có quyền phản đối việc đăng ký hoặc đề nghị huỷ bỏ việc đăng ký đó, hoặc, nếu luật quốc gia cho phép, chuyển việc đăng ký đó cho mình, trừ trường hợp đại lý hoặc người đại diện biện hộ được cho hành động của mình

(2) Người chủ nhãn hiệu, theo các quy định tại khoản (1) nêu trên,

có quyền phản đối việc đại lý hoặc người đại diện sử dụng nhãn hiệu của mình nếu không cho phép việc sử dụng đó [8]

Với nguyên tắc tôn trọng sự độc lập của pháp luật quốc gia trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, Công ước Paris cho phép các quốc gia thành viên trên

cơ sở các quy định của Công ước mà tiến hành nội luật hoá sao cho phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế ở mỗi quốc gia

Luật sở hữu trí tuệ 2013 đã tiếp thu Điều 6 septies của Công ước Paris, thể hiện thông qua Khoản 7 Điều 87 về vấn đề đăng ký nhãn hiệu và Điểm c Khoản 1 Điều 130 về vấn đề sử dụng nhãn hiệu Về vấn đề sử dụng nhãn hiệu, Điểm c Khoản

1 Điều 130 Luật sở hữu trí tuệ 2013 quy định việc sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ

tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng, là một trong các hành vi CTKLM

Trang 25

Như vậy, mặc dù Công ước Paris không chỉ rõ đây là hành vi CTKLM, thì pháp Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam đã nhìn nhận hành vi này dưới góc độ cứng rắn hơn khi việc sử dụng này được xem là một hành vi CTKLM

Để xác định một chủ thể sử dụng nhãn hiệu có bị coi là đã thực hiện hành vi CTKLM thuộc trường hợp quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 130 Luật sở hữu trí tuệ 2013 hay không, cần xem xét các yếu tố sau:

- Thứ nhất, về chủ thể thực hiện hành vi: Là “người đại diện” hoặc “đại

lý” của chủ sở hữu nhãn hiệu Người đại diện là người nhân danh và vì lợi ích của chủ sở hữu nhãn hiệu xác lập và thực hiện các giao dịch trong phạm vi được đại diện Quan hệ đại diện được xác lập theo pháp luật hoặc theo uỷ quyền Trong khi người đại diện theo pháp luật được xác định trên cơ sở các quy định tại các Điều 136 và Điều 137 Bộ luật dân sự 2015 thì đại diện theo ủy quyền thì được xác định trên cơ sở văn bản ủy quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu trong đó đã giới hạn phạm vi được ủy quyền

“Đại lý” theo quy định tại Luật thương mại là từ chỉ một hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao [24, Điều 166] Trong trường hợp đang xét tại Điểm c Khoản 1 Điều 130 Luật sở hữu trí tuệ 2013, “đại lý” được hiểu là bên đại lý, còn chủ sở hữu nhãn hiệu là bên giao đại lý Đại lý là chủ thể được chủ sở hữu nhãn hiệu giao hàng hoá để bán, hoặc giao tiền để mua hàng hoá, hoặc uỷ quyền thực hiện dịch vụ

Quy định này xuất phát từ cơ sở thực tế sau: - Thứ nhất, người đại diện hoặc

đại lý có mối liên hệ thương mại đối với chủ sở hữu nhãn hiệu, do đó họ đã có sự hiểu biết ở mức độ nhất định về ý nghĩa, giá trị, tầm ảnh hưởng của nhãn hiệu trên

thị trường cũng như về sản phẩm mang nhãn hiệu - Thứ hai, do đặc thù của công

việc đại diện hay đại lý là nhân danh hoặc được uỷ quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu thực hiện các hành vi thương mại trên thị trường, nên ở một góc độ nào đó người

Trang 26

tiêu dùng hoặc các đối tác ở nước ngoài của chủ sở hữu nhãn hiệu sẽ dựa vào quan

hệ đại diện, đại lý mà hoàn toàn tin tưởng vào các giao dịch với người đại diện hay đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu Rất khó để xác minh thực sự xem người đại diện hay đại lý đó đang thực hiện hành vi nhân danh chủ sở hữu nhãn hiệu hay nhân danh chính mình Đại lý hoặc người đại diện có hành vi sử dụng nhãn hiệu cho các mục đích riêng nằm ngoài kiểm soát của chủ sở hữu nhãn hiệu, thậm chí lợi dụng bằng cách xin làm đại lý để tự ý sử dụng, khai thác bất hợp pháp giá trị thương mại của nhãn hiệu, trở thành đối thủ cạnh tranh của chủ sở hữu nhãn hiệu

- Thứ hai, về đối tượng của hành vi: Việc sử dụng nhãn hiệu của đại lý hay

người đại diện khi chưa được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu chỉ được xem là hành vi CTKLM khi nhãn hiệu đó đã được đăng ký bảo hộ tại nước ngoài Nếu nhãn hiệu chưa được cơ quan có thẩm quyền của quốc gia chấp nhận bảo hộ thì không thuộc trường hợp tại Điều này Ngoài ra quốc gia bảo hộ nhãn hiệu và Việt Nam phải cùng là thành viên của Điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý sử dụng nhãn hiệu khi chưa được chủ sở hữu nhãn hiệu đồng ý (ví

dụ như cùng là thành viên của Công ước Paris) Mặt khác, việc sử dụng nhãn hiệu trong trường hợp này phải là sử dụng mà chưa có sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu Bởi thực tế cho thấy nhu cầu của đại lý hoặc người đại diện sử dụng nhãn hiệu của bên giao đại lý hoặc người được đại diện là hoàn toàn tất yếu để hoàn thành các công việc của bên đại lý hoặc đại diện trong phạm vi thẩm quyền của mình Chủ sở hữu có thể thể hiện sự cho phép đại lý hoặc người đại diện sử dụng nhãn hiệu thông qua một văn bản đồng ý, hay phổ biến hơn cả là hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu

Việc pháp luật Việt Nam đưa ra các quy định nhằm ngăn cản hành vi của các đại lý hay người đại diện thực hiện hành vi đăng ký hoặc sử dụng nhãn hiệu của chủ

sở hữu thực sự của nhãn hiệu khi chưa được họ đồng ý, coi đó là một trong các hành vi CTKLM là một quy định có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn xét trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay

Trang 27

1.2.1.3 Hành vi đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ của người khác nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu tương ứng

Mọi máy tính được kết nối với Internet đều phải có một địa chỉ duy nhất với một dãy số khá phức tạp gọi là địa chỉ Internet Người sử dụng thông thường sẽ rất khó để nhớ được một địa chỉ dạng dãy số dài, do đó hệ thống quản lý tên miền (DNS) ra đời để địa chỉ Internet mang một cái tên nào đó dễ nhớ cho người sử dụng, gọi là tên miền (domain name) Tên miền bao gồm nhiều thành phần cấu tạo nên cách nhau bởi dấu chấm (.), ví dụ unilever.com.vn là tên miền của Công ty TNHH quốc tế Unilever Việt Nam, trong đó “unilever” là tên doanh nghiệp (tên miền cấp hai – second level domain name), “.com.vn” là tên miền cấp cao nhất (top level domain name) Trong khi các tên miền cấp cao nhất được dùng chung (đuôi

“.com”, “.vn”, “.org”, “.net”) không hạn chế số lượng đăng ký sử dụng, thì các tên miền cấp hai với chức năng giúp đối tác hoặc khách hàng nhận diện và tìm ra doanh nghiệp sẽ cần phải có khả năng phân biệt tốt

Tên miền cho phép người dùng trên toàn thế giới dễ dàng tiếp cận với doanh nghiệp thông qua mạng Internet Để thống nhất tên gọi, dễ nhận diện và cung cấp thông tin cho đối tác cũng như người tiêu dùng, các chủ thể thường đăng ký tên miền trùng với tên thương mại hoặc nhãn hiệu thuộc quyền sở hữu trí tuệ của họ, ví dụ Tập đoàn Unilever (Hà Lan) có nhãn hiệu UNILEVER và tên miền unilever.com, Công ty

cổ phần Kinh Đô có nhãn hiệu KINH ĐÔ và tên miền kinhdo.vn, v.v…

Việc đăng ký, sử dụng tên miền tại Việt Nam được quy định tại Thông tư số 24/2015/TT-BTTTT ngày 18/08/2015 của Bộ Thông tin và truyền thông hướng dẫn

về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet Theo đó Khoản 1 Điều 6 của Thông tư

quy định “đăng ký tên miền “.vn” được thực hiện theo nguyên tắc bình đẳng, không

phân biệt đối xử, đăng ký trước được quyền sử dụng trước” [3]

Đúng như tên gọi, hành vi CTKLM được đề cập ở đây cùng lúc có liên quan mật thiết tới hai đối tượng là tên miền và nhãn hiệu Mặc dù tên miền không phải là

Trang 28

đối tượng được bảo hộ theo phạm vi của pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam cũng như của đa số các quốc gia trên thế giới, nhưng tên miền vẫn có mối quan hệ chặt chẽ với các đối tượng sở hữu trí tuệ, đặc biệt trong đó có nhãn hiệu

Ở Việt Nam, khi mà công nghệ thông tin đang ngày càng phát triển, các hành vi đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã xuất hiện và tiếp tục gia tăng Tuy nhiên trong suốt một thời gian dài pháp luật Việt Nam chưa đưa ra được chính sách cụ thể để giải quyết các tranh chấp về tên miền Biện pháp chủ yếu được Trung tâm Internet – Bộ Thông tin và truyền thông khuyến nghị chỉ là các bên tranh chấp tự đàm phán, hoà giải với nhau Đến khi Luật sở hữu trí tuệ ra đời, Điểm d, Khoản 1 Điều 130 đã quy định hành vi đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng là một trong các hành vi CTKLM

Theo quy định tại Thông tư 11/2015/TT-BKHCN ngày 26/06/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp thì hành vi đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền bị coi là hành vi CTKLM về sở hữu công nghiệp, trừ tên miền đã được phân

bổ thông qua hình thức đấu giá hoặc thi tuyển theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 48 của Luật Viễn thông, thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Thứ nhất, sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn” có dãy ký tự trùng

hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ hoặc được sử dụng rộng rãi để quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, chào hàng, bán hàng hóa, dịch vụ trùng, tương tự hoặc có liên quan trên trang thông tin điện tử mà địa chỉ tên miền đó dẫn tới; gây nhầm lẫn và lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng hoặc vật chất đối với chủ sở hữu nhãn hiệu, tên thương mại hoặc chỉ dẫn địa lý đó; hoặc

Trang 29

- Thứ hai, đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam

“.vn” có dãy ký tự trùng với nhãn hiệu, tên thương mại hoặc chỉ dẫn địa lý có uy tín, danh tiếng tại Việt Nam và có căn cứ chứng minh tổ chức, cá nhân chỉ đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng tên miền nhằm bán lại để kiếm lời hoặc cản trở chủ sở hữu nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ đó đăng ký tên miền [2]

Pháp luật về sở hữu trí tuệ của hầu hết các quốc gia trên thế giới bao gồm cả Việt Nam cho phép đăng ký và sử dụng một nhãn hiệu giống hoặc tương tự nhau cho các nhóm hàng hóa hoặc dịch vụ khác nhau, với điều kiện đó không phải là một nhãn hiệu nổi tiếng Ví dụ: Cùng là nhãn hiệu chữ “VÌ DÂN”, Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu cho sản phẩm bột giặt thuộc sở hữu của Công ty TNHH VICO; sản phẩm bóng đèn điện của Công ty TNHH NVC Việt Nam và cho

cả sản phẩm nước mắm của Công ty TNHH thương mại Phương Trang Song hệ thống tên miền cho phép mỗi tên miền chỉ được sử dụng bởi một chủ thể đăng ký duy nhất Ví dụ, Công ty TNHH Suntory Pepsico Việt Nam đã đăng ký tên miền

“suntorypepsico.vn”, do đó không thể có thêm chủ thể nào đăng ký tên miền

“suntorypepsico.vn” được nữa Cũng chính vì đặc điểm này mà việc tên miền được cho

là của một công ty này rơi vào tay người khác hoặc công ty khác là điều khó tránh khỏi nếu như các doanh nghiệp không chủ động đăng ký tên miền cho công ty mình

Việc pháp luật sở hữu trí tuệ quy định hành vi đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu bị coi

là hành vi CTKLM có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi cho chủ sở hữu nhãn hiệu Quy định này cũng cho thấy sự mở rộng hơn so với những đòi hỏi của Công ước Paris, vì bản thân Công ước chưa có các quy định yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu trước các hành vi này

1.2.2 Các biện pháp xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong việc

sử dụng nhãn hiệu

Khoản 1 Điều 8 Luật sở hữu trí tuệ 2013 nêu rõ rằng Nhà nước “Công nhận và bảo

hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo đảm hài hoà lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ

Trang 30

trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh” [23, Điều 8]

Đây là lời khẳng định về mặt pháp lý cho thấy quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu luôn được ghi nhận và bảo vệ khỏi các hành vi cạnh tranh trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, đạo đức kinh doanh của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Chủ thể bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại bởi hành vi CTKLM trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và liên quan đến nhãn hiệu nói riêng có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp được pháp luật quy định

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

1.2.2.1 Biện pháp dân sự

Quyền sở hữu trí tuệ trước hết là một quyền dân sự Nói đến quyền sở hữu trí tuệ là nói đến sự công nhận từ phía nhà nước đối với quyền dân sự của tổ chức, cá nhân đối với tài sản sở hữu trí tuệ nhất định và có chế độ bảo vệ tài sản đó như bất

kỳ tài sản nào khác Do vậy, nếu có tranh chấp xảy ra thì biện pháp dân sự thường được áp dụng trước tiên để giải quyết

Điều 11 Bộ luật dân sự 2015 quy định chủ thể có quyền dân sự bị xâm phạm

sẽ có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật này hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của mình; buộc chấm dứt hành vi vi phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ; buộc bồi thường thiệt hại [22, Điều 9] Cụ thể hoá quy định này, Khoản 3 Điều

198 Luật sở hữu trí tuệ 2013 quy định tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng

bị thiệt hại do hành vi CTKLM có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền

áp dụng các biện pháp dân sự theo quy định tại Điều 202 của Luật này và các biện pháp hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh Cụ thể, theo Điều 202 Luật sở hữu trí tuệ 2013 quy định về các biện pháp dân sự thì Toà án áp dụng các biện pháp dân sự sau đây:

- Biện pháp buộc chấm dứt hành vi: Là việc Tòa án quyết định buộc người

có hành vi CTKLM chấm dứt ngay hành vi đó theo yêu cầu của người khởi kiện Tòa án có thể quyết định buộc người có hành vi CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu chấm dứt hành vi trong bản án hoặc trong quyết định áp dụng biện pháp khẩn

Trang 31

cấp tạm thời Biện pháp “buộc chấm dứt hành vi” CTKLM được xem là yêu cầu cơ bản, đầu tiên mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ muốn đặt ra đối với chủ thể có hành vi CTKLM Rõ ràng, việc tiếp tục thực hiện hành vi CTKLM, ví dụ như tiếp tục cho sản xuất sản phẩm chứa các chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn, ngày qua ngày sẽ gây thêm thiệt hại, tổn thất cho chủ thể quyền, ảnh hưởng tới hoạt động sử dụng và khai thác giá trị của nhãn hiệu đang diễn ra hàng ngày của chủ thể quyền Do đó, việc yêu cầu chấm dứt hành vi CTKLM là bước đầu tiên mà chủ thể quyền muốn được thực hiện trong việc xử lý bất kỳ dạng hành vi CTKLM nào

- Các biện pháp buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự: Đây được xem là biện pháp bổ sung, nhằm đảm bảo rằng chủ thể có hành vi

CTKLM có sự nhận thức đầy đủ và thấu đáo về hành vi của mình, góp phần khắc phục hậu quả do hành vi CTKLM gây ra Trong nhiều trường hợp mà chủ thể thực hiện hành vi CTKLM đã đưa ra các thông tin sai lệch trên phạm vi rộng, ví dụ như quảng cáo về sản phẩm mang chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn trên truyền thông, hay đưa thông tin bôi nhọ doanh nghiệp hoặc các thông tin không chính xác về sản phẩm trên trang web đã đăng ký tên miền trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu của chủ thể quyền, thì việc buộc xin lỗi, cải chính công khai có ý nghĩa rất thiết thực, giúp chủ thể quyền khôi phục lại uy tín, đính chính lại các thông tin sai lệch, gây nhầm lẫn do việc thực hiện hành vi CTKLM đã gây ra cho công chúng, các bạn hàng, đối tác của chủ thể quyền

- Biện pháp buộc bồi thường thiệt hại: Là một trong các biện pháp quan

trọng mà hầu hết các chủ thể quyền muốn được áp dụng, tuy nhiên theo quy định của pháp luật, biện pháp này được quy định cho chủ thể quyền bị thiệt hại Trong trường hợp có yêu cầu bồi thường thiệt hại thì nguyên đơn phải chứng minh thiệt hại thực tế đã xảy ra và nêu căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 205 Luật sở hữu trí tuệ 2013

Biện pháp này xây dựng trên cơ sở quy định của Bộ luật dân sự 2015, cụ thể

là Điều 604 về vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: "Người nào

có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản,

Trang 32

quyền, lợi ích hợp pháp khác người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường"

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu cũng được hiểu là hình thức trách nhiệm dân sự mang tính tài sản Nguyên tắc bồi thường thiệt hại, xác định mức bồi thường thiệt hại tuân theo các quy định của Luật

sở hữu trí tuệ 2013 và Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ Theo đó, thiệt hại do hành vi CTKLM liên quan đến sở hữu trí tuệ nói chung và trong việc sử dụng nhãn hiệu nói riêng có thể là thiệt hại vật chất hoặc tinh thần Mức độ thiệt hại được xác định trên cơ sở các tổn thất thực tế mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải chịu do hành vi xâm phạm quyền

sở hữu trí tuệ gây ra Việc xác định mức độ thiệt hại dựa trên chứng cứ về thiệt hại

do các bên cung cấp, kể cả kết quả trưng cầu giám định và bản kê khai thiệt hại, trong đó làm rõ các căn cứ để xác định và tính toán mức thiệt hại

- Biện pháp buộc tiêu huỷ hay buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại hàng hóa của chủ thể CTKLM: Là các biện pháp tác

động trực tiếp tới hàng hoá được sản xuất chứa chỉ dẫn gây nhầm lẫn Trong đó biện pháp “buộc tiêu huỷ” thường áp dụng với hàng hoá là mặt hàng tiêu dùng (thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm, v.v…) không rõ nguồn gốc, có khả năng gây hại cho sức khoẻ con người hoặc động thực vật khác, hoặc không còn giá trị sử dụng Biện pháp “buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại” áp dụng với những loại hàng hoá vẫn đảm bảo chức năng hoạt động, việc sử dụng không gây hại cho ai, ví dụ: quần áo, đồ gia dụng, túi xách, giày dép, v.v… và việc đưa vào phân phối các sản phẩm này là phi lợi nhuận để tránh ảnh hưởng tới lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền Tòa án xem xét quyết định buộc tiêu hủy hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện nêu trên mà không phụ thuộc vào việc chủ thể quyền có yêu cầu hay không có yêu cầu

Biện pháp dân sự quy định tại Điều 202 Luật sở hữu trí tuệ 2013 được Toà

án áp dụng trên cơ sở yêu cầu của chủ thể quyền, có thể được áp dụng đồng thời

Trang 33

cùng với các biện pháp hành chính và hình sự khác Trình tự, thủ tục để tiến hành các biện pháp dân sự tuân theo thủ tục tố tụng dân sự quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành

* Ưu điểm của biện pháp dân sự: Việc xử lý hành vi CTKLM trong việc sử

dụng nhãn hiệu bằng biện pháp dân sự là sát với bản chất của quyền sở hữu trí tuệ - vốn là một quyền dân sự Những tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ thường xảy ra giữa các cá nhân, tổ chức, thuộc lĩnh vực pháp luật tư, nên việc xử lý các tranh chấp đó bằng con đường dân sự là hoàn toàn hợp lý Vấn đề bồi thường thiệt hại cho chủ thể quyền cũng được đặt ra khi xem xét xử lý hành vi CTKLM bằng biện pháp dân sự , qua đó giúp đảm bảo các quyền lợi chính đáng của các chủ thể bi ̣ CTKLM và phù hợp với thông lệ quốc tế Xét về lâu dài, giải quyết các hành

vi CTKLM trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và liên quan đến nhãn hiệu nói riêng bằng biện pháp dân sự cần được đẩy mạnh hơn nữa

* Nhược điểm của biện pháp dân sự: Quá trình cung cấp tài liệu, chứng cứ

giữa các bên thường mất nhiều thời gian, dẫn đến việc giải quyết thường bị kéo dài,

có trường hợp phải xét xử nhiều lần Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án thường bị động, khó khăn trong việc ra phán quyết do yếu về kiến thức chuyên sâu trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, phải trưng cầu và phụ thuộc vào ý kiến của các cơ quan quản lý nhà nước và các cơ quan chuyên môn khác về sở hữu trí tuệ Thêm nữa là tâm lý ngại ra Tòa của chính các chủ thể quyền, bởi lẽ khi đưa tranh chấp ra trước tòa đồng nghĩa với việc phải công khai những vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh mà đương sự không muốn Chi phí cho việc theo đuổi vụ kiện thường rất tốn kém do phải thuê luật sư, bảo đảm các chi phí cho luật sư hoạt động cũng là một hạn chế của biện pháp dân sự

1.2.2.2 Biện pháp hành chính

Việc xử lý hành vi CTKLM liên quan đến nhãn hiệu bằng biện pháp hành chính trực tiếp hướng tới mục đích đảm bảo sự quản lý của Nhà nước về sở hữu trí tuệ Biện pháp hành chính được áp dụng để xử lý các hành vi CTKLM trong lĩnh vực

sở hữu trí tuệ nói chung và liên quan đến nhãn hiệu nói riêng bao gồm toàn bộ các thủ

Trang 34

tục hành chính, hình thức hay biện pháp xử lý hành chính mà có thể áp dụng đối với các hành vi đó theo quy định của các văn bản pháp luật hiện hành, bao gồm cả pháp luật sở hữu trí tuệ, pháp luật cạnh tranh và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính Việc áp dụng biện pháp hành chính tức là các cơ quan hành chính nhà nước sử dụng sức mạnh quyền lực của mình thông qua các quyết định hành chính để xử lý các vi phạm hành chính mà không phải là tội phạm, chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm

hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính

Khoản 3 Điều 211 Luật sở hữu trí tuệ 2013 quy định, tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi CTKLM về sở hữu trí tuệ thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh Như vậy, việc xử lý hành vi CTKLM bằng biện pháp hành chính sẽ tuân theo các quy định của Luật cạnh tranh 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành

Biện pháp hành chính dùng để xử lý hành vi CTKLM nói chung và trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói riêng được quy định cụ thể trong Luật cạnh tranh 2004 và Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết Luật cạnh tranh 2004 về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh Biện pháp hành chính để xử lý hành vi CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu được quy định như sau:

- Thứ nhất, về hình thức xử phạt: Bao gồm hình thức xử phạt chính và xử

phạt bổ sung

+ Hình thức xử phạt chính: Cảnh cáo hoặc phạt tiền Phạt tiền được quy định

tại Điều 28 Nghị định 71/2014/NĐ-CP về hành vi CTKLM liên quan đến sở hữu công nghiệp, cụ thể như sau:

Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: 1- Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu

sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc

sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng; 2- Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác

Trang 35

hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng

Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: 1- Sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu, nhãn hàng hóa và các yếu tố khác theo quy định của Chính phủ để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh; 2- Kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn quy định tại Điểm a Khoản này [6, Điều 28]

Đối với các hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn lên các loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu theo quy định của pháp luật, hoặc hành vi sử dụng chỉ dẫn được thực hiện trên phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên, mức phạt tiền có thể tăng lên gấp hai lần, tức là từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng

+ Hình thức xử phạt bổ sung: Bên cạnh phạt tiền, tùy theo tính chất, mức độ

của hành vi mà chủ thể thực hiện hành vi CTKLM còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung: i) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cả tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm; ii) Buộc cải chính công khai

- Thứ hai, về thủ tục xử phạt:

Thủ tục xử lý hành vi vi phạm quy định về hành vi CTKLM nói chung và CTKLM trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp nói riêng phải tuân theo trình tự, thủ tục trong tố tụng cạnh tranh được quy định tại Chương V của Luật cạnh tranh 2004 và các quy định tại Chương III của Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh 2004 Cụ thể:

Tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại do

có hành vi CTKLM có quyền khiếu nại đến cơ quan QLCT Bên khiếu nại phải đưa

ra được chứng cứ về hành vi CTKLM liên quan đến nhãn hiệu

Sau khi hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh đã được cơ quan QLCT thụ lý, việc

Trang 36

điều tra sơ bộ vụ việc cạnh tranh được tiến hành Căn cứ vào kết quả điều tra sơ bộ và kiến nghị của điều tra viên, Thủ trưởng cơ quan QLCT ra quyết định đình chỉ điều tra nếu kết quả điều tra sơ bộ cho thấy không có hành vi vi phạm; hoặc ra quyết định điều tra chính thức nếu kết quả điều tra sơ bộ cho thấy có dấu hiệu vi phạm

Sau khi kết thúc điều tra, Thủ trưởng cơ quan QLCT phải chuyển báo cáo điều tra cùng toàn bộ hồ sơ vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh đến Hội đồng cạnh tranh Vụ việc cạnh tranh phải được xem xét, xử lý thông qua phiên điều trần Sau khi nghe những người tham gia phiên điều trần trình bày ý kiến và tranh luận, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh tiến hành thảo luận, bỏ phiếu kín và quyết định theo đa số

Cụ thể, Khoản 3 Điều 200 Luật sở hữu trí tuệ 2013 quy định, việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra, Công an, QLTT, Hải quan, Uỷ ban nhân dân các cấp [23, Điều 200]

- Thứ tư, về thời hiệu xử phạt: Theo Điều 58 Luật cạnh tranh 2004, thời hiệu

khiếu nại là hai năm, kể từ ngày hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện [21, Điều 58]

Xử lý hành vi CTKLM trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và liên quan đến nhãn hiệu nói riêng bằng biện pháp hành chính là một nét đặc thù của hệ thống thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam vì tại nhiều nước trên thế giới, pháp luật không quy định áp dụng biện pháp hành chính nhằm xử lý hành vi CTKLM trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Có quan điểm cho rằng, biện pháp hành chính là không hiệu quả, là “hành chính hóa” quan hệ dân sự [30] Về mặt lý luận, những hành vi xâm phạm lợi ích tư giữa các cá nhân, tổ chức sẽ được giải quyết bằng biện pháp dân sự

Trang 37

* Ưu điểm của biện pháp hành chính: Biện pháp hành chính mang lại hiệu

quả thiết thực cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ trong việc bảo vệ quyền của mình vì tính nhanh chóng, chi phí thấp, thủ tục giải quyết tương đối nhanh gọn, đơn giản so với thủ tục tại Toà án

* Nhược điểm của biện pháp hành chính: Các khoản tiền phạt được nộp vào

ngân sách nhà nước, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ không được hưởng So với biện pháp dân sự, thiệt hại của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ không được đền bù thỏa đáng Do đó, nếu chủ thể quyền mong muốn được bồi thường thiệt hại thì biện pháp hành chính sẽ không thể đáp ứng được yêu cầu này Mặt khác, tính răn đe trong việc xử lý hành chính thường là không đủ mạnh và không giải quyết được tận gốc vấn đề tranh chấp

1.2.2.3 Biện pháp hình sự

Xử lý hành vi CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu bằng biện pháp hình sự

là sự ghi nhận và bảo vệ của Nhà nước bằng các chế tài hình sự cho quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu khi các quyền này bị xâm hại, gây hậu quả hoặc có khả năng gây hậu quả nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội và cấu thành tội phạm

Việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hình sự đã được ghi nhận trong pháp luật quốc tế Điều 61 Hiệp định TRIPS quy định rằng:

Các thành viên phải quy định việc áp dụng các thủ tục hình sự và các hình phạt để áp dụng ít nhất đối với các trường hợp cố tình giả mạo nhãn hiệu hàng hóa hoặc xâm phạm bản quyền với quy mô thương mại Các thành viên có thể quy định thủ tục hình sự và các hình phạt áp dụng cho các trường hợp khác xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là trường hợp cố ý xâm phạm và xâm phạm với quy mô thương mại [28, Điều 61]

Điều 171 Bộ luật hình sự năm 1999 đã đề cập đến tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo đó, người nào vì mục đích kinh doanh mà chiếm đoạt, sử dụng bất hợp pháp sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi, xuất xứ hàng hoá hoặc các đối tượng sở hữu công nghiệp khác

Trang 38

đang được bảo hộ tại Việt Nam gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm Trong các trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, hình phạt tù có thể là từ sáu tháng đến ba năm Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm [20, Điều 171]

Ngoài ra, các hành vi CTKLM trong việc sử dụng nhãn hiệu ở một chừng mực nhất định còn có thể cấu thành một trong các tội như: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 156 Bộ luật hình sự) với hình phạt tù cao nhất là mười lăm năm; Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157 Bộ luật hình sự) với hình phạt cao nhất là tử hình; Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 158 Bộ luật hình sự) với hình phạt

tù cao nhất là mười lăm năm, hay Tội lừa dối khách hàng (Điều 162 Bộ luật hình sự) với hình phạt tù cao nhất là bảy năm Ngoài ra, tuỳ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm mà người phạm tội có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung như phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, v.v…

* Ưu điểm của biện pháp hình sự: Việc áp dụng biện pháp hình sự nhằm

mục đích trừng trị nghiêm khắc các cá nhân, tổ chức có hành vi nguy hiểm cho xã hội, thể hiện hiệu quả cao trong công tác ngăn ngừa và xử lý tội phạm Góp phần chấm dứt một cách dứt khoát hành vi xâm phạm bằng cơ chế cưỡng chế thi hành nghiêm khắc Biện pháp hình sự tác động rất lớn vào ý thức của người dân trong việc chống lại hành vi CTKLM, bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu nhãn hiệu và người tiêu dùng, đồng thời góp phần làm trong sạch xã hội, xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh

Trang 39

* Nhược điểm của biện pháp hình sự: Thủ tục tố tụng hình sự phức tạp và

kéo dài, trong quá trình xử lý có thể tiết lộ bí mật kinh doanh và các thông tin thương mại của chủ thể quyền, v.v… Thêm nữa, pháp luật hình sự chỉ cho phép các

cơ quan tiến hành tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân vi phạm pháp luật hình sự mà chưa quy định đối với pháp nhân Trong khi đó, chủ thể thực hiện các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp thường là các doanh nghiệp

có tư cách pháp nhân nên trong quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng gặp rất nhiều khó khăn, không thể xử lý hình sự đối với doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm được [7]

1.2.2.4 Biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ (biện pháp hải quan)

Xét trên nhiều phương diện, việc xử lý hàng hoá gắn nhãn hiệu là yếu tố CTKLM ngay khi hàng hoá đó đi qua biên giới, chưa đưa vào mạng lưới phân phối, lưu thông tại nội địa sẽ làm giảm đi rất nhiều nguy cơ gây nhầm lẫn hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền và người tiêu dùng Do vậy, công tác kiểm soát biên giới đóng một vai trò rất quan trọng trong việc ngăn chặn các hành vi CTKLM liên quan tới nhãn hiệu

Với chức năng kiểm tra, kiểm soát và làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu, các cơ quan Hải quan trên thế giới đều có nhiệm vụ kiểm soát biên giới nhằm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Hiệp định TRIPS ngoài các quy định chung về bảo hộ sở hữu trí tuệ, đã có các quy định chi tiết về vai trò và nghĩa vụ của cơ quan Hải quan trong lĩnh vực này Đồng thời, để hỗ trợ cho Hải quan các nước thành viên trong việc ban hành các văn bản pháp luật cũng như tổ chức hoạt động bảo hộ sở hữu trí tuệ tại biên giới có hiệu quả, từ năm 1988 Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) đã soạn thảo một văn bản pháp quy mẫu (đã được sửa đổi bổ sung cho phù hợp với Hiệp định TRIPS) để các nước thành viên có thể căn cứ vào

đó xây dựng trong luật pháp quốc gia mình các quy định về trách nhiệm và thẩm quyền của Hải quan trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền trong kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu, cơ

Trang 40

quan hải quan ở tất cả các nước luôn có vai trò rất quan trọng đối với việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Luật hải quan của nhiều nước đều có quy định rõ vai trò này của cơ quan hải quan [9, tr 40-45]

Vấn đề thực thi các biện pháp kiểm soát đối với hàng hóa xuất nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ được pháp luật Việt Nam quy định khá chi tiết trong Luật sở hữu trí tuệ 2013, Luật Hải quan, Thông tư số 13/2015/TT-BTC ngày 30/01/2015 của Bộ Tài chính quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; kiểm soát hàng giả và hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

- Thứ nhất, về mặt thẩm quyền: Khoản 4 Điều 200 Luật sở hữu trí tuệ 2013

quy định, việc áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền của cơ quan hải quan [23, Điều 200]

- Thứ hai, về các biện pháp được quy định: Điều 216 Luật sở hữu trí tuệ

2013 quy định các biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ bao gồm:

+ Tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ: Là biện pháp được tiến hành theo yêu cầu của chủ thể quyền

sở hữu trí tuệ nhằm thu thập thông tin, chứng cứ về lô hàng để chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền yêu cầu xử lý hành vi đó và yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính

+ Kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hoá có dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ: Là biện pháp được tiến hành theo đề nghị của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ nhằm thu thập thông tin để thực hiện quyền yêu cầu áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục hải quan [23, Điều 216]

- Thứ ba, về thủ tục áp dụng: Điều 218 Luật sở hữu trí tuệ 2013 quy định,

khi người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định thì cơ quan hải quan ra quyết định tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với lô hàng Thời hạn tạm dừng làm thủ tục hải quan là mười ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, trong trường hợp có lý do chính đáng thì có thể kéo dài nhưng

Ngày đăng: 13/10/2017, 13:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Khoa học và công nghệ (2003), Quyết định số 01/2003/QĐ-BKHCN ngày 30/01/2003 về việc ban hành quy định về quản lý chất lượng, sở hữu công nghiệp, chuyển giao công nghệ đối với xe hai bánh gắn máy, động cơ và phụ tùng xe hai bánh gắn máy được sản xuất, lắp ráp trong nước và nhập khẩu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 01/2003/QĐ-BKHCN ngày 30/01/2003 về việc ban hành quy định về quản lý chất lượng, sở hữu công nghiệp, chuyển giao công nghệ đối với xe hai bánh gắn máy, động cơ và phụ tùng xe hai bánh gắn máy được sản xuất, lắp ráp trong nước và nhập khẩu
Tác giả: Bộ Khoa học và công nghệ
Năm: 2003
2. Bộ Khoa học và công nghệ (2015), Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26/06/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN ngày 26/06/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
Tác giả: Bộ Khoa học và công nghệ
Năm: 2015
3. Bộ Thông tin và truyền thông (2015), Thông tư số 24/2015/TT-BTTTT ngày 18/08/2015 hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 24/2015/TT-BTTTT ngày 18/08/2015 hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet
Tác giả: Bộ Thông tin và truyền thông
Năm: 2015
4. Bộ Trưởng Bộ Công thương (2013), Quyết định số 848/QĐ-BCT ngày 05/02/2013 của Bộ trưởng Bộ Công thương quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 848/QĐ-BCT ngày 05/02/2013 của Bộ trưởng Bộ Công thương quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh
Tác giả: Bộ Trưởng Bộ Công thương
Năm: 2013
5. C. Mác (2002), C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập (Tập 23), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập (Tập 23)
Tác giả: C. Mác
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
6. Chính phủ (2014), Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/7/2014 quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
7. Trịnh Ngọc Chính (2016), Một số khó khăn trong áp dụng pháp luật hình sự đối với việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn, nguồn: http://vienkiemsatlangson.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khó khăn trong áp dụng pháp luật hình sự đối với việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Tác giả: Trịnh Ngọc Chính
Năm: 2016
9. Hoàng Anh Công (2006), “Pháp luật hải quan với việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, (89), tr. 40-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Pháp luật hải quan với việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ”, "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp
Tác giả: Hoàng Anh Công
Năm: 2006
10. Cục Quản lý Cạnh tranh (2015), Báo cáo thường niên 2015, nguồn: http://www.vca.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên 2015
Tác giả: Cục Quản lý Cạnh tranh
Năm: 2015
11. Nguyễn Thuỳ Dung, Đặng Vũ Huân (2016), “Áp dụng pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp”, Tạp chí Dân chủ &Pháp luật, Bộ tƣ pháp, 8(293), tr. 26-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp”, "Tạp chí Dân chủ & "Pháp luật
Tác giả: Nguyễn Thuỳ Dung, Đặng Vũ Huân
Năm: 2016
12. Đàm Thị Diễm Hạnh (2010), “Xây dựng khái niệm nhãn hiệu trong Luật Sở hữu trí tuệ”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, 8(169) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng khái niệm nhãn hiệu trong Luật Sở hữu trí tuệ”, "Tạp chí nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Đàm Thị Diễm Hạnh
Năm: 2010
13. Đặng Vũ Huân (2002), Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Vũ Huân
Năm: 2002
14. Phạm Quang Huy (2016), Tình hình chung về đăng ký doanh nghiệp tháng 12 và năm 2015, Cục quản lý đăng ký kinh doanh, nguồn: https://dangkykinhdoanh.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình chung về đăng ký doanh nghiệp tháng 12 và năm 2015
Tác giả: Phạm Quang Huy
Năm: 2016
15. Nguyễn Hữu Huyên (2008), Phân biệt giữa cạnh tranh không lành mạnh và vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, nguồn: http://www.moj.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân biệt giữa cạnh tranh không lành mạnh và vi phạm quyền sở hữu trí tuệ
Tác giả: Nguyễn Hữu Huyên
Năm: 2008
16. Tăng Văn Nghĩa (2005), Những nội dung cơ bản của Luật cạnh tranh Việt Nam năm 2004 và đề xuất áp dụng, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Bộ Giáo dục & Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung cơ bản của Luật cạnh tranh Việt Nam năm 2004 và đề xuất áp dụng
Tác giả: Tăng Văn Nghĩa
Năm: 2005
17. Lê Hoàng Oanh (2005), Bình luận khoa học Luật cạnh tranh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Luật cạnh tranh
Tác giả: Lê Hoàng Oanh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
18. Đoàn Tử Tích Phước (2009), Tham luận Tọa đàm “Chế định cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật cạnh tranh”, Cục quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham luận Tọa đàm “Chế định cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật cạnh tranh”
Tác giả: Đoàn Tử Tích Phước
Năm: 2009
19. Trương Hồng Quang (2011), “Cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam những bất cập và phương hướng hoàn thiện”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (6), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ quan quản lý cạnh tranh ở Việt Nam những bất cập và phương hướng hoàn thiện”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Trương Hồng Quang
Năm: 2011
23. Văn phòng Quốc hội (2013), Văn bản hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ
Tác giả: Văn phòng Quốc hội
Năm: 2013
39. Trung tâm Internet Việt Nam – Bộ Thông tin và Truyền thông, Thông kê tài nguyên Internet, nguồn:http://www.thongkeinternet.vn/jsp/tainguyen/domain_tab_dt.jsp Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w