Đồ án giúp bạn đọc có cái nhìn sâu hơn về đa dạng sinh học tại VQG Tràm Chim. VQG Tràm Chim là nơi cư trú của trên 100 loài động vật có xương sống, 55 loài cá và 231 loài chim nước. Trong đó, có 32 loài chim quý hiếm của thế giới. Đặc biệt là một loài chim hạc còn gọi là sếu đầu đỏ (Grus antigone) hay sếu cổ trụi được Hội Bảo Vệ Hạc Quốc Tế (ICF) cùng nhiều tổ chức quốc tế khác bảo vệ.Với diện tích hơn 7 ngàn ha, VQG Tràm Chim hiện có 231 loài chim nước, trong đó có 32 loài quý hiếm đặc biệt là sếu đầu đỏ. Trên những vạt rừng rộng mênh mông hàng chục loài chim sinh sống và làm tổ quanh năm như Trích mồng đỏ, Cồn cộc, Le le, Diệc, Vịt trời, bìm bịp và nhiều hơn hết vẫn là đàn cò trắng hàng chục nghìn con....
Trang 1
ĐỒ ÁN CƠ SỞ NGÀNH
TÌM HIỂU VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA
VƯỜN QUỐC GIA TRÀM CHIM
Giảng viên hướng dẫn: Bùi Đăng Hưng
Danh sách sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Kim Cương : 14105561 Bùi Thị Ngọc Hân : 14042491 Nguyễn Thị Thúy Quỳnh : 14069091
Lê Thị Thảo : 14058191
Võ Ngọc Mai Trinh : 14105471 Lớp : DHQLMT10A
TP Hồ Chí Minh, 2016
BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HCM VIỆN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ & QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
Trang 2Nhận xét của giáo viên hướng dẫn
Trang 3
Nhận xét của giáo viên phản biện
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt thời gian từkhi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, chúng em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè
Chúng em xin gửi đến quý thầy cô Viện Khoa học công nghệ và quản lí môi trường, trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, đã dùng vốn tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em lòng biết ơn sâu sắc
Chúng em xin chân thành cảm ơn thầy Bùi Đăng Hưng đã tận tâm hướng dẫn chúng em qua những buổi thảo luận trên lớp Nếu không có sự hướng dẫn, dạy bảo của thầy thì chúng em nghĩ bài báo cáo sẽ không thể hòan thiện Một lần nữa chúng em xin chân thành cảm ơn thầy
Bước đầu đi vào nghiên cứu khoa học và bài báo cáo được thực hiện trong thời gian tương đối ngắn nên vốn kiến thức và kinh nghiệm của chúng em còn nhiều hạn chế
Do vậy, việc vấp phải nhiều thiếu sót là việc không thể tránh khỏi, kính mong quý thầy côcho những ý kiến đóng góp để báo cáo của chúng em được hoàn thiện hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn
Trang 5Nội dung của đề tài là tìm hiểu chung về tình hình đa dạng sinh học ở Việt Nam,điều kiện tự nhiên, đa dạng sinh thái và thực trạng việc quản lí bảo tồn của Vườn quốcgia Tràm Chim Trên cơ sở phân tích, tìm hiểu đó đề tài đã đánh giá được sự phân bố của
hệ động thực vật, sự ảnh hưởng của các hoat động kinh tế, du lịch đến đa dạng sinh học
ở Vườn quốc gia Tràm Chim
Bên cạnh đó, đề tài còn góp phần định hướng trong công tác quản lí để khôi phụclại môi trường sống tự nhiên cho các loài chim quý hiếm và mang lại lợi ích cho ngườidân địa phương thông qua các hoạt đông du lịch sinh thái, khai thác tài nguyên thiênnhiên một cách bền vững Đưa ra kiến nghị với các cấp lãnh đạo để việc bảo tồn và duytrì đa dạng sinh học ngày càng được thực hiện tốt hơn
Trang 7MỤC LỤC
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL : Đồng bằng song cửu long
HST : Hệ sinh thái
WWF : Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên
IUCN : Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên
Thiên nhiên
Trang 8DANH SÁCH HÌNH VẼ
Hình 3.1 Bản đồ thảm thực vật VQG Tràm Chim 24
Hình 3.2 Sếu đầu đỏ 29
Hình 3.3 Bìm bịp 30
Hình 3.4 Chim Giang sen 31
Hình 3.5 Chim Điêng điểng 31
Hình 3.6 Cá Còm 32
Hình 3.7 Sóc đỏ bụng 32
Hình 3.8 Rắn nước 33
Hình 3.9 Le khoang cổ 33
Hình 3.10 Sen hồng 34
Hình 3.11 Súng đỏ 35
Hình 3.12 Quần xã rừng tràm 36
Hình 3.13 Cỏ mồm 37
Hình 3.14 Cỏ năng 39
Trang 9Hình 3.15 Cỏ Ống 41
Hình 3.16 Đồng lúa ma 42
DANH SÁCH BẢNG BIỂU Bảng 2.1 Các VQG ở Việt Nam 19
Bảng 2.2 Các khu Ramsar ở Việt 20
Bảng 3.1 Số lượng khách du lịch đến VQG Tràm Chim thời gian 2005-2009 44
Bảng 3.2 Doanh thu du lịch ở VQG Tràm Chim thời gian 2004-2008 44
Bảng 3.3 Những hoạt động du lịch mà người dân địa phương muốn tham gia ở VQG Tràm Chim 46
Bảng 3.4 Nguyện vọng của người dân địa phương khi được tham gia vào hoạt động du lịch 46
Trang 10CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề.
Đa dạng sinh học ( ĐDSH) là sự giàu có, phong phú các nguồn gen, các loài vàcác hệ sinh thái trên bề mặt trái đất, là tài nguyên tái tạo, đóng vai trò quan trọng trong sựphát triển tiến hoá của sinh giới và đặc biệt là đối với đời sống của con người Công ước
Đa dạng sinh học ghi nhận giá trị kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, giải trí, sinh thái vàmôi trường, và nhấn mạnh vai trò quan trọng của nó đối với sự sống của con người hiệntại và tương lai
Việt Nam được xem là một trong những nước giàu về ĐDSH, được xếp thứ 16trong số các quốc gia có ĐDSH cao nhất thế giới [1] , với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sôngsuối, rạn san hô tạo nên môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thúhoang dã trên thế giới trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của Trái Đất [2]
Tuy nhiên, do sự phát triển nhanh chóng của đất nước trong những năm gần đâylàm cho ĐDSH ở Việt Nam giảm mạnh Nguyên nhân chủ yếu là do cháy rừng, khai thác
và đánh bắt quá mức, buôn bán động thực vật quý hiếm và ô nhiễm môi trường, Vì thếviệc bảo tồn ĐDSH là vấn đề cấp thiết không chỉ đối với Việt Nam mà với nhiều nướctrên thế giới Đứng trước những vấn nạn nêu trên, ta cần phải đưa ra nhiều giải pháp khácnhau để bảo tồn ĐDSH, trong đó việc bảo tồn đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn, vườnquốc gia là mục tiêu hàng đầu trong công tác bảo tồn Và vườn quốc gia Tràm Chim làđối tượng thực tế để áp dụng bảo tồn đa dạng sinh học
Vườn quốc gia (VQG) Tràm Chim, có diện tích 7.588 ha, thuộc huyện Tam Nôngtỉnh Đồng Tháp Đây là khu Ramsar thứ 2000 của thế giới, là khu đất ngập nước quantrọng trong bản đồ đa dạng sinh học thế giới Thảm thực vật ở đây phong phú với hơn
130 loài thực vật bậc cao, còn là nơi cư trú của trên 100 loài động vật có xương sống, 40
Trang 11loài cá và 147 loài chim nước Trong đó, có 13 loài chim quý hiếm của thế giới Đặc biệt
là một loài chim hạc còn gọi là sếu đầu đỏ (Grus antigone) hay sếu cổ trụi.[3]
Hiện nay, việc biến đổi khí hậu có xu hướng làm nhiệt độ tăng lên kéo theo những
hệ quả tiêu cực, cùng với những hành động không đúng cuả người dân làm ảnh hưởngđến ĐDSH ở Việt Nam nói chung và ở Vườn quốc gia Tràm Chim nói riêng Vì thế đề tài: “Tìm hiểu đa dạng sinh học Vườn quốc gia Tràm Chim” được thực hiện nhằm đề xuấtgiải pháp cân bằng sinh thái, cải thiện đời sống nhân dân nhưng vẫn bảo vệ được môitrường sinh thái
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu về tài nguyên đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Tràm Chim
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Tài nguyên đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Tràm Chim
Tập trung tìm hiểu về đa dạng sinh học của vườn quốc gia Tràm Chim
1.5 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Tổng quan về Vườn quốc gia Tràm Chim
Nội dung 2: Tìm hiểu thực trạng về ĐDSH của Vườn quốc gia Tràm Chim
Nội dung 3: Hiện trạng quản lí và khai thác tài nguyên ĐDSH ở VQG Tràm Chim.Nội dung 4: Đề xuất biện pháp quản lí bền vững VQG Tràm Chim
1.6 Phương pháp nghiên cứu
1.6.1 Phương pháp tổng hợp tài liệu
Đồ án tìm hiểu về đề tài ĐDSH tại VQG Tràm Chim được thực hiện dựa trên phương pháp tổng quan tài liệu nghĩa là bài viết tổng hợp một cách logic dựa trên những
Trang 12hiểu biết về đề tài mà ta nắm được từ việc phân tích toàn bộ mọi mặt và các công trình nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài.
Mục đích của phương pháp này là để thu thập những thông tin khoa học trên cơ
sở của việc nghiên cứu các tài liệu từ đó bằng các thao tác tư duy logic rút ra được nhữngkết luận khoa học cho đồ án
1.6.2 Phương pháp xử lý số liệu
Ngoài phương pháp tổng hợp tài liệu, nhóm đồ án còn sử dụng phương pháp xử lý
số liệu , bao gồm các việc thu thập, xử lý, thống kê số liệu
Mục đích của phuong pháp này là giúm cho việc phân tích, xử lý những tài liệu số
1.7.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả tìm hiểu là cơ sở để xây dựng các mô hình quản lý, sử dụng thích hợp VQGTràm Chim phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế xã hội trong khu vực, nâng cao mứcsống của người dân, bảo tồn tốt hơn hệ động thực vật và môi trường sống của chúng, gópphần giảm thiểu các hoạt động gây tác động tiêu cực đến VQG Tràm Chim
Chương 2 Tổng quan cơ sở lý thuyết
Đưa ra cơ sở lí thuyết về ĐDSH, các giá trị của ĐDSH trên thế giới, Việt Namcũng như tại khu vực VQG Tràm Chim
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 13Trình bày điều kiện tự nhiên,ĐDSH, hiện trạng của việc khai thác và công tác quản lí, đề xuất giải pháp khai thác hợp lí tài nguyên ĐDSH ở VQG Tràm Chim.
Chương 4 Kết luận vả Kiến nghị
Nêu lên các kết luận chung được rút ra từ quá trình tìm hiểu ĐDSH ở VQG Tràm Chim và kiến nghị các biện pháp để quá trình nghiên cứu sau này đạt được kết quả tốt hơn
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Các khái niệm
Thuật ngữ đa dạng sinh học (biological diversity/biodiversity) xuất hiện từ những
năm 1980, nhằm nhấn mạnh sự cần thiết trong các hoạt động nghiên cứu và bảo tồn tính
đa dạng và phong phú của sự sống trên trái đất Thuật ngữ này hiện nay đang được sửdụng một cách rộng rãi nhất trên phạm vi toàn cầu trong nhiều lĩnh vực khoa học và vănhóa đời sống Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về ĐDSH, sau đây là các định nghĩa vềĐDSH:
“ Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên Trái Đất, là hàng triệu loài
thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng các loài và là những hệ sinhthái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường.” [4 ]
“ ĐDSH là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong cácHST trên cạn, ở biển và các HST dưới nước khác, và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạonên; ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạnggen), giữa các loài (đa dạng loài), và các HST (đa dạng HST).” [5]
ĐDSH lại là một lĩnh vực nghiên cứu trong đó bao gồm cả sự mô tả, đánh giá vàgiải thích nguồn gốc cũng như sự hình thành nó Sự suy thoái ĐDSH: sự tuyệt chủng củacác loài , sự mất đi của các hệ sinh thái (HST) đang là các vấn đề nóng bỏng hiện nay và
là trọng tâm của chính sách bảo tồn ở các nước
Công ước Ramsar là một công ước quốc tế về bảo tồn và sử dụng một cách hợp lý
và thích đáng các vùng đất ngập nước, với mục đích ngăn chặn quá trình xâm lấn ngàycàng gia tăng vào các vùng đất ngập nước cũng như sự mất đi của chúng ở thời điểm hiện
Trang 14nay cũng như trong tương lai, công nhận các chức năng sinh thái học nền tảng của cácvùng đất ngập nước và các giá trị giải trí, khoa học, văn hóa và kinh tế của chúng.
Đến tháng 5/2012 tổng cộng có 160 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia công ướcRamsar Việt Nam đã ký gia nhập Công ước Ramsar vào năm 1989, là thành viên thứ 50,đồng thời là quốc gia đầu tiên của Đông Nam Á tham gia Công ước này
Tính đến năm 2016, Việt Nam có 7 khu Ramsar của thế giới: Vườn quốc gia XuânThủy - Nam Định; vùng đất ngập nước Bàu Sấu thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên - ĐồngNai; hồ Ba Bể - Bắc Kạn; vườn quốc gia Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp;vườn quốc gia Mũi Cà Mau, thuộc huyện Ngọc Hiển, Cà Mau ; vườn quốc gia Côn Đảo;khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, tỉnh Long An; vườn quốc gia U Minh Thượng, tỉnhKiên Giang
Sau đây là một số khái niệm về vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, đất ngậpnước:
“Vườn quốc gia là khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập nước, hảiđảo, có diện tích đủ lớn được xác lập để bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưnghoặc đại diện không bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít từ bên ngoài; bảo tồn các loàisinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp Được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việcbảo tồn rừng và hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịchsinh thái.Vườn quốc gia được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số: về hệ sinh thái đặctrưng; các loài động vật, thực vật đặc hữu; về diện tích tự nhiên của vườn và tỷ lệ diệntích đất nông nghiệp, đất thổ cư so với diện tích tự nhiên của vườn”.[6]
“Khu bảo tồn thiên nhiên là vùng đất hay vùng biển đặc biệt được dành để bảo vệ
và duy trì tính đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, kết hợp với việc bảo
vệ các tài nguyên văn hoá và được quản lí bằng pháp luật hoặc các phương thức hữu hiệukhác”.[7]
“Khái niệm đất ngập nước bao gồm: những vùng đầm lầy, đầm lầy than bùn,những vực nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, những vùng ngập nước tạm thời haythường xuyên, những vực nước đứng hay chảy, là nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể
cả những mực n’ước biển có độ sâu không quá 6m khi triều thấp”.[8]
2.2 Phân loại ĐDSH
ĐDSH được chia thành 3 loại:
o Đa dạng di truyền - được hiểu là tần số và sự đa dạng của các gen và bộ gen trongmỗi quần thể và giữa các quần thể với nhau;
Trang 15o Đa dạng loài - là tần số và sự phong phú về trạng thái của các loài khác nhau;
o Đa dạng HST - là sự phong phú về trạng thái và tần số của các HST khác nhau
Từ ba góc độ này, người ta có thể tiếp cận với ĐDSH ở cả ba mức độ: mức độ phân
Cũng có nhiều ý kiến cho rằng ĐDSH bao gồm cả đa dạng văn hoá, là sự thể hiệncủa xã hội con người, một thành viên của thế giới sinh vật và đồng thời là một nhân tốquan trọng của các HST Đa dạng văn hoá được thể hiện bằng sự đa dạng ngôn ngữ, tínngưỡng tôn giáo, những kinh nghiệm về việc quản lý đất đai, nghệ thuật, âm nhạc, cấutrúc xã hội, sự lựa chọn những cây trồng, chế độ ăn uống và một số thuộc tính khác của
xã hội loài người Văn hoá bản địa là một trong những khía cạnh rất quan trọng của đadạng văn hoá chính là văn hoá của các dân tộc bản địa Đa dạng văn hoá gắn liền với cácdân tộc bản địa bị đe doạ bởi nền kinh tế và xã hội “văn minh” Việc bảo vệ sự đa dạng
về văn hoá này là rất cần thiết do thông thường nó là nền tảng cho sự phát triển bền vững
Vì vậy, ĐDSH phải được coi là sản phẩm của sự tương tác của hai hệ thống: hệthống tự nhiên và hệ thống xã hội
Sự hiểu biết của con người hiện nay về ĐDSH còn rất hạn chế, vẫn chỉ dừng lại ởviệc đánh giá tính đa dạng của các dạng sống và mức độ suy thoái của chúng Hiện naychưa có ai có thể khẳng định được có bao nhiêu loài động thực vật và vi sinh vật hiệnđang sống trên trái đất Có thể ước lượng chừng 5 đến 30 triệu loài nhưng đa số các nhàsinh học cho rằng có khoảng 14 triệu loài trong đó mới chỉ có khoảng 1,7 triệu loài được
mô tả và đặt tên, còn số loài được nghiên cứu đầy đủ thì rất ít Đa dạng di truyền và đadạng sinh thái không nhìn thấy được một cách rõ ràng… và sự hiểu biết của chúng ta vềcác lĩnh vực này còn hết sức ít ỏi
Trang 162.3 Đa dạng sinh học trên Thế giới
2.3.1 Về thực vật:
Trên thế giới hiện nay có khoảng 1500 vườn thực vật, đang lưu trữ và trồng mộtlượng lớn các loài thực vật, ước chừng khoảng 80000 loài trong điều kiện nhân tạo Vườn thực vật lớn nhất thế giới là Vườn thực vật Hoàng Gia Kew ở Anh lưu giữkhoảng 38000 loài…
2.3.2 Về động vật:
Đã có hơn 700000 cá thể động vật thuộc 3000 loài chim, thú, bò sát và ếch nháiđược nuôi trong 800 vườn thú chuyên nghiệp trên thế giới Chỉ khoảng 10% trong số 274loài được nuôi trong giữ trong các vườn thú khắp thế giới là có khả năng tự duy trì quầnthể ở kích thước đủ để bảo tồn tính biến dị dị truyền của chúng
Các vườn thú, khu bảo tồn, lớn trên thế giới:
Vườn thú Berlin, Đức - vườn thú cổ nhất nước Đức, được xem là vườn thú đôngkhách nhất châu Âu với 15000 con vật: gấu Bắc cực, chim cánh cụt, hươu cao cổ…
Khu bảo tồn hổ Hukaung - Myanma, khu bảo tồn Chagos - Anh, vườn quốc giaYellowstone - Mỹ
2.4 Đa dạng sinh học ở Việt Nam.
Việt Nam được xem là một trong những nước thuộc vùng Đông Nam Á giàu về đadạng sinh học, với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, rạng san hô, sông suối, … tạo nên môitrường sống cho 10% tổng số loài chim và thú hoang trên thế giới Việt Nam còn là mộttrong 8 “ trung tâm giống gốc” của nhiều loài cây trồng vật nuôi Đặc biệt các nguồn lúa
và khoai, những loài được coi là nguồn gốc từ Việt Nam, đang là cơ sở để cái tiến cácgiống lúa củng như là cây lương thực trên thế giới
Cho đến nay, Việt Nam đã thống kê được 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch,khoảng 1.030 loài rêu, 2.500 loài tảo và 826 loài nấm
Do sự khác biệt lớn về khí hậu, cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo ra một dảirộng các thảm thực vật bao gồm nhiều kiểu rừng phong phú đã được hình thành ở các độcao khác nhau như: các rừng thông, rừng hỗn loại lá kim và lá rộng chiếm ưu thế ở vùng
á nhiệt đới; rừng thưa cây họ dầu, rừng thường xanh ưu thế cây họ đậu ở địa hình thấp;rừng ngập mặn chiếm ưu thế ở ven biển châu thổ sông Cửu Long và sông Hồng; rừngtràm ở Đồng bằng Nam Bộ; rừng tre nứa thuần loại, và hỗn giao gỗ, tre, nứa ở nhiều nơi
Trang 17Theo dự đoán của các nhà thực vật học, số loài thực vật bậc cao có mạch ít nhất sẽlên đến 15.000 loài, trong đó có khoảng trên 5.000 loài đã được nhân dân ta dùng làmnguồn lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc, lấy gỗ, tinh dầu vànhiều nguyên vật liệu khác
Hệ thực vật Việt Nam có mức độ đặc hữu cao Phần lớn số loài đặc hữu này tậptrung ở bốn khu vực chính: khu vực núi cao Hoàng Liên ở phía Bắc, khu vực núi caoNgọc Linh ở miền Trung, cao nguyên Lâm Viên ở phía Nam và khu vực rừng mưa ở phầnBắc Trung Bộ
Hệ động vật Việt Nam cũng hết sức phong phú Hiện đã thống kê được 300 loàithú, 830 loài chim, 260 loài bò sát, 158 loài ếch nhái, 547 loài cá nước ngọt, khoảng hơn2.000 loài cá biển và thêm vào đó có hàng chục nghìn loài động vật không xương sống ởcạn, ở biển và nước ngọt
Cũng như giới thực vật, giới động vật Việt Nam có nhiều dạng đặc hữu Có rấtnhiều loài động vật có giá trị thực tiễn cao và nhiều loài có ý nghĩa lớn về bảo vệ như voi,
tê giác một sừng, bò rừng, bò tót, trâu rừng, bò xám, voọc xám, sếu cổ trụi, cò quắm cánhxanh, cá sấu, trăn, rắn và rùa biển…
Ngoài ra Việt Nam còn có phần nội thủy và lãnh hải rộng khoảng 226.000km2,trong đó có hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ và nhiều rạn san hô phong phú, là nơi sinh sốngcủa hàng nghìn loài động vật, thực vật có giá trị
Trong gần 1 thập kỉ qua, Việt Nam có nhiều loài động thực vật mới được phát hiện
như là loài ếch bay Helen (Rhacophorus helenae) - loài ếch xanh khổng lồ biết bay, một
số loài mới và lạ như loài Dơi (Hypsugo dolichodon) với cặp răng nanh mạnh khỏe, loài
Bọ que (Phryganistria heusii yentuensis) có chiều dài 54cm - đứng thứ hai trong nhóm côn trùng, cùng với loài Ếch gai đổi màu (Graciaxal lumarius)… Với những phát hiện
này đã làm cho Việt Nam trở thành điểm thu hút hấp dẫn đối với các nhà khoa học trênthế giới
Để bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam , nhà nước ta đã tích cực xây dựng các vườn quốc gia, khu bảo tồn Sau đây là bảng thống kê các VQG và các khu Ramsar ở Việt Nam
Bảng 2.1 Các VQG ở Việt Nam.[9]
lập
Diện tích (ha)
Địa điểm
Trang 18miền núi
phía Bắc Tam ĐảoBa Bể 19921986 36.8837.610 Vĩnh Phúc, TháiBắc Cạn
Nguyên, TuyênQuang
Bộ Phước BìnhNúi Chúa 20062003 19.81429.865 Ninh ThuậnNinh Thuận
Bảng 2.2 Các khu Ramsar ở Việt Nam [10]
Năm công nhận Tháng 01/1989 Tháng 08/2005 Tháng 02/2001 Tháng 05/2012
Trang 192.5.1 Duy trì sự sống trên Trái Đất.
o Bảo vệ tài nguyên đất và nước: Các quần xã sinh vật đóng vai trò rất quan trọng
trong việc bảo vệ rừng đầu nguồn, những HST vùng đệm, giảm nhẹ mức độ lũ lụt
và hạn hán cũng như duy trì chất lượng nước
o Điều hoà khí hậu: Quần xã thực vật có vai trò rất quan trọng trong việc điều hoà
khí hậu địa phương, khí hậu vùng và ngay cả khí hậu toàn cầu
o Phân huỷ các chất thải: Các quần xã sinh vật có khả năng phân huỷ các chất gây ô
nhiễm kim loại nặng, thuốc trừ sâu và các chất thải sinh hoạt khác đang ngày càngtăng do các hoạt động của con người
o Khả năng sản xuất của hệ sinh thái: Khả năng quang hợp của các loài thực vật và
các loài tảo làm cho năng lượng mặt trời được cố định lại trong những tế bào sống.Năng lượng được tích luỹ trong thực vật được con người thu lượm để sử dụng mộtcách trực tiếp như khi họ thu lượm củi hoặc cắt cỏ làm thức ăn cho gia súc, hayhái lượm các loài rau, thực phẩm trong thiên nhiên
2.5.2 Giá trị sử dụng trực tiếp
Đa dạng sinh học (ĐDSH) trực tiếp phục vụ đời sống của con người góp phần xoá
đói, giảm nghèo…
o Giá trị sử dụng cho tiêu thụ: Giá trị sử dụng cho tiêu thụ được đánh giá bao gồm
các sản phẩm tiêu dùng cho cuộc sống hàng ngày như củi đốt và những loại sảnphẩm khác được sử dụng cho gia đình và không xuất hiện ở thị trường trong nước
và quốc tế
o Nâng cao chất lượng cây trồng, vật nuôi: ĐDSH cung cấp nguồn gen để nâng cao
chất lượng vật nuôi cây trồng Năng suất đạt được trong lĩnh vực nông nghiệp phụthuộc vào yếu tố kỹ thuật (hóa chất nông nghiệp và máy móc) và yếu tố di truyền
Trang 202.5.3.Phục vụ đời sống tinh thần, nghệ thuật, thẩm mĩ, văn hóa.
o Khía cạnh văn hoá: Thế giới tự nhiên có ảnh hưởng đến triết học, ngôn ngữ, nghệ
thuật, tôn giáo và rất nhiều các khía cạnh khác của xã hội của các cộng đồng
o Giải trí, du lịch và thẩm mỹ: Rất nhiều loài động vật hoang dã được thuần dưỡng
với mục đích bầu bạn với con người, như sử dụng làm vật nuôi, do nhu cầu giảitrí, của cá nhân hay cho cộng đồng như việc trưng bày trong các vườn thú TạiNam Hoa Kỳ, khảo sát tại 4 làng Kayapo đã cho kết quả là có ít nhất 31 loài độngvật hoang dã được thuần dưỡng thành các loài động vật nuôi, trong đó có 4 loàirùa, 16 loài vẹt và vẹt đuôi dài, một loài thằn lằn và 1 loài nhện Nuôi dưỡng thúvật đã trở thành thói quen rất phổ biến của con người Do vậy, hoạt động thươngmại xuất khẩu các loài động vật hoang dã làm thú nuôi từ các nước nhiệt đới đếncác nước phát triển rất phát đạt và thu được nguồn lợi lớn
2.6 Vấn đề suy giảm ĐDSH ở Việt Nam
Với những giá trị mà ĐDSH đem lại cho con người, Việt Nam luôn quan tâm tới công tác quản lý đa dạng sinh học, nhiều văn bản pháp luật được ban hành và thực thi trong cuộc sống; hệ thống tổ chức, nguồn lực cho công tác quản lý đa dạng sinh học đượctăng cường Tuy nhiên, đa dạng sinh học ở Việt Nam vẫn cần phải được quan tâm đúng mức, phòng tránh nguy cơ suy giảm nghiêm trọng, dẫn đến một số loài quý hiếm bị tuyệt chủng
Nhìn chung, sự mất mát và sự suy giảm đa dạng sinh vật ở Việt Nam có thể phân biệt bởi 4 nhóm nguyên nhân cơ bản sau:
• Sự suy giảm và sự mất đi nơi sinh cư Sự suy giảm và sự mất đi nơi sinh
cư có thể do các hoạt động của con người như sự chặt phá rừng (kể cả rừngngập mặn), đốt rừng làm rẫy, chuyển đổi đất sử dụng, khai thác huỷ diệt thuỷ sản , các yếu tố tự nhiên như động đất, cháy rừng tự nhiên, bão, lốc, dịch bệnh, sâu bệnh
• Sự khai thác quá mức Do áp lực tăng dân số, sự nghèo khổ đã thúc đẩy sự khai thác quá mức tài nguyên sinh vật và làm giảm ĐDSH Đáng kể là tài nguyên thuỷ sản ven bờ bị suy kiệt nhanh chóng Mặt khác, một số phươngthức khai thác có tính huỷ diệt nguồn lợi thuỷ sản như nổ mìn, hoá chất đang được sử dụng, đặc biệt các vùng ven biển
• Ô nhiễm môi trường Một số HST ĐNN bị ô nhiễm bởi các chất thải công nghiệp, chất thải từ khai khoáng, phân bón trong nông nghiệp, thậm chí chất thải đô thị Trong đó đáng lưu ý là tình trạng ô nhiễm dầu đang diễn ratại các vùng nước cửa sông ven bờ, nơi có hoạt động tầu thuyền lớn
Trang 21• Ô nhiễm sinh học Sự nhập các loài ngoại lai không kiểm soát được, có thểgây ảnh hưởng trực tiếp qua sự cạnh tranh, sự ăn mồi hoặc gián tiếp qua kýsinh trùng, xói mòn nguồn gen bản địa và thay đổi nơi sinh cư với các loài bản địa
Nguyên nhân trực tiếp: Khai thác, sử dụng không bền vững tài nguyên sinh vật như: Khai thác gỗ quá mức, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng; khai thác củi làm mất nơi cư trú của các loài động vật; khai thác động vật hoang dại gây ra sự tuyệt chủng đối với một số loài; cháy rừng; chuyển đổi phương thức sử dụng đất; ô nhiễm môi trường; chiến tranh; sự suy giảm hoặc mất sinh cảnh sống; di nhập các loài ngoại lai
Nguyên nhân sâu xa về kinh tế, xã hội và chính sách; tăng trưởng dân số; sự di dân;
sự nghèo đói; chính sách kinh tế vĩ mô
Để bảo tồn đa dạng sinh học, cần tiếp tục thực hiện nghiêm túc, quyết liệt các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường các biện pháp cấp bách ngăn chặn tình trạng chặt phá, đốt rừng, khai thác rừng trái phép Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục bằng nhiều hình thức nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cấp, ngành, người dân trong công tác bảo vệ
và phát triển rừng; tổ chức kiểm tra việc săn bắt, vận chuyển, tiêu thụ
Mặt khác, tăng cường và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các lực lượng để trao đổi,chia sẻ, xử lý thông tin về các đối tượng và tương trợ tư pháp về điều tra hình sự đối với các tội phạm môi trường, nhất là đấu tranh chống lâm tặc, mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật; xử lý nghiêm minh, dứt điểm các vụ vi phạm
Trang 22CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Trang 23VQG Tràm Chim nằm cách 19 km từ kênh chính của sông Mekong Nơi đây làmột trong những tàn tích cuối cùng của vùng Đồng Tháp Mười với hệ sinh thái đất ngậpnước.Là một lưu vực nông, dốc về phía đông, song song với Sông Cửu Long, phía bắc-đông, vuông góc với sông Cửu Long và phía tây nam, vuông góc với sông Vàm Cỏ.
3.1.2 Lịch sử
Năm 1985, Tràm Chim được Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp thành lập với têngọi là Công ty Nông Lâm Ngư trường Tràm Chim, với mục đích là trồng tràm và khaithác thủy sản, và vừa giữ lại được một phần hình ảnh của Đồng Tháp Mười xa xưa
Năm 1986, loài sếu đầu đỏ (chim hạc, sếu cổ trụi), được tái phát hiện ở TràmChim
Năm 1991, Tràm Chim trở thành Khu Bảo tồn Thiên nhiên Tràm Chim cấp tỉnh,nhằm bảo tồn loài sếu đầu đỏ
Năm 1994, nơi đây trở thành Khu Bảo tồn Thiên nhiên Tràm Chim, cấp quốc gia,theo Quyết định số 47/TTg ngày 2 tháng 2 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ kèm theothông tư số 4991/KGVX, với diện tích 7.500 ha Tháng 9 năm 1998, dự án đầu tư củakhu bảo tồn thiên nhiên Tràm Chim được Phân viện Điều tra Quy hoạch Rừng II Thànhphố Hồ Chí Minh chỉnh sửa theo đó diện tích khu bảo tồn là 7.313 ha
Năm 1998, nơi đây trở thành VGG Tràm Chim theo Quyết định số TTg, ngày 29 tháng 12 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ
253/1998/QĐ-Ngày 02/02/2012, VQG Tràm Chim (Đồng Tháp) được công nhận là khu Ramsarthứ 2000 của thế giới,và trở thành điểm du lịch tiêu biểu của vùng Đồng bằng sông CửuLong vào năm 2014
3.1.3 Điều kiện tự nhiên
3.1.3.1 Địa hình
Trang 24Nói chung là thấp trũng, nơi cao nhất là 2,3 m, nơi thấp nhất là 0,4 m (so với mựcnước biển Tây Nam Bộ).
Các mạng lưới rộng lớn của các kênh rạch nhân tạo, đã dẫn đến một sự thay đổitrong thủy văn của toàn bộ vùng Đồng Tháp Mười Như vậy, các nhà quản lí VQG TràmChim đã bị buộc phải xây dựng một hệ thống ngoại vi đê để kiểm soát mực nước, để bắtchước / duy trì chế độ dòng chảy lịch sử của vùng Đồng Tháp Mười Với sự xây dựng hệthống đê điều, nước bên trong công viên được quy định bởi một hệ thống cống Ở đây bắtđầu của mùa mưa là vào tháng năm / tháng Sáu, nước từ sông Cửu Long được phép đổvào khu vực thông qua các kênh rạch Đến tháng Tám, mực nước trong VQG là giữa 2,0
và 2,5 mét Đỉnh lũ lụt xảy ra vào tháng Mười (mức nước cao nhất là 4 mét).Trong thángmười một, nước lũ bắt đầu rút Theo hệ thống quản lý nước hiện nay, công viên có nhiềunước từ tháng Bảy / tháng Tám đến Tháng Mười Hai và khô vào giữa tháng Giêng vàtháng tư
Các quá trình thủy văn: Đê bao quanh khu vực quản lý công viên đã làm giảmdòng chảy và việc trao đổi nước lũ vào và ra khỏi công viên Tương tự như vậy, bên cạnhkênh rạch xây dựng trong VQG, đê hạn chế việc trao đổi nước giữa kênh rạch và các khuvực xung quanh Những thay đổi này trong quá trình thủy văn dẫn đến giảm sự pha trộncủa các chất dinh dưỡng hòa tan và mảnh vụn từ sông Cửu Long với các vùng đất ngậpnước và làm giảm sự phân hủy các sản phẩm phụ từ VQG
o Khí hậu
Khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng Năm đến thángMười và mùa khô trong những tháng còn lại.Mùa mưa chiếm ưu thế là ở vùng Đông Bắcvới gió mùa Tây Nam Gió mùa Tây Nam trùng với mùa mưa Đây là một khoảng thờigian mưa diễn ra thường xuyên và với lưu lượng lớn, độ ẩm cao và mây che phủ tối đa.Phía Đông Bắc gió mùa trùng với mùa khô và tạo ra ánh sáng, lượng mưa thường xuyên,
Trang 25độ ẩm thấp và ít mây Lượng mưa hàng năm khoảng 1.400 mm, 85% trong số này rơi vàocác mùa mưa Số ngày mưa ở Tràm Chim thay đổi 110-160 một năm.
Nhiệt độ trung bình hàng tháng là 27°C (với độ lệch từ 3 đến 4°C).Nhiệt độ caonhất và nhiệt độ thấp nhất được ghi nhận vào đầu tháng Mười Hai và tháng Giêng (37-38°C) và trong tháng Tư và tháng Năm (24-25°C)
Độ ẩm trung bình hàng năm là khoảng 80% Trong đó độ ẩm vào mùa mưa là85%, độ ẩm vào mùa khô đôi khi giảm xuống dưới 30%.Tỷ lệ bốc hơi nước khác nhautrên khắp VQG và phụ thuộc vào sự tương tác giữa đất ngập nước, thủy văn,địa hình, địamạo, và các loài động thực vật.Cấu trúc của thực vật chiếm ưu thế trong cộng đồng sinhvật Hàng năm tổng số bốc hơi vào khoảng 1,397mm Vào tháng Ba và tháng Tư bốc hơi
có thể được cao như 5.3 mm / ngày
Chế độ gió: Từ tháng 5 đến tháng 11, hướng gió thịnh hành ở vùng này là hướngTây–Nam, tốc độ gió trung bình là 3 m/s mang theo nhiều hơi nước và gây mưa Từtháng 12 đến tháng 4 có gió Đông–Bắc, tốc độ gió trung bình khoảng 2 m/s Bão hầu nhưkhông ảnh hưởng đến VQG Tràm Chim và vì thế, gió với tốc độ lớn trong cơn mưa chưatừng xảy ra
Chế độ nước: VQG Tràm Chim chịu ảnh hưởng thủy văn của vùng châu thổ sôngMeKong, nhận nguồn nước trực tiếp từ sông MeKong thông qua hệ thống thủy lợi (kênhHồng Ngự–Long An, Đồng Tiến, An Hòa và Phú Hiệp) tràn vào nội đồng và bị ngập lũhàng năm từ tháng 8 đến tháng 12 Mực nước bên trong VQG được điều tiết thông qua hệthống cống và cửa xả nằm ở các bờ bao xung quanh Hiện nay, để giảm rủi ro do lửa vàomùa khô, mực nước bên trong VQG luôn được giữ ở mức cao hơn những điều kiện trongquá khứ Thành phần thực vật, phân bố và tốc độ sinh trưởng đã bị ảnh hưởng bởi nhữngtác động này
Chất lượng nước: Mặc dù các tuyến đê xung quanh VQG Tràm Chim thành côngtrong việc làm giảm dòng chảy của nước axít được rửa sạch vào kênh rạch ở vùng vòmvào đầu mùa mưa, xây dựng kênh và ao trữ nước trong công viên đã làm thay đổi chấtlượng nước bằng cách phát hành tính axít do quá trình oxy hóa của vật liệu hạ nhiệt tiếpxúc dẫn đến tăng nồng độ axit trong nước bề mặt Các kênh mạng tạo điều kiện cho việcvận chuyển nước axít vào khu vực mà trước đây ít bị ảnh hưởng bởi điều này
3.1.4 Đặc điểm của khu vực
Trước tác động của con người duy trì và thống thoát, vùng Đồng Tháp Mười, nơi
đã từng bị ngập lụt bao phủ 700.000 ha theo mùa với lượng nước đọng với thời gian liêntục lên đến bảy tháng trong năm và vào mùa khô nước vẫn còn gần mặt đất Trong mùa
Trang 26lũ, nước lũ sông Cửu Long tràn qua các con đê tự nhiên và kết hợp với các dòng chảy từcác lưu vực Campuchia ở phía Tây Bắc để làm ngập toàn bộ khu vực.
3.1.5 Giá trị thủy văn
Chức năng và giá trị của các vùng đất ngập nước trong nguồn nước ngầm, kiểmsoát lũ, phù sa bẫy, bờ biển Sự tồn tại của các công viên ở đồng bằng và khả năng của nó
để điều hoà lượng nước, giúp giảm thiểu tác động tiêu cực của lũ lụt và hạn hán cho toàn
bộ đồng bằng cũng như khu vực hạ lưu đồng bằng sông Cửu Long như các công viênnước trong mùa lũ và phát hành từ từ khi lũ rút đi Các đồng bằng rộng lớn sau đó đãhành động như một hồ chứa tự nhiên giúp điều tiết nước và duy trì nhịp thủy văn của toàn
bộ đồng bằng sông Cửu Long Nước trong VQG cũng góp phần nạp vào các tầng nướcngầm của địa phương và khu vực
Những cảnh quan thiên nhiên gần VQG góp phần phá vỡ năng lượng trong mùa
lũ, giúp bảo vệ ngôi nhà của khoảng 20.000 người cùng phía đông của nó và đê phíaNam Tháo nước từ VQG trong mùa khô đến sông Cửu Long cũng giúp giảm xâm nhậpmặn ở khu vực hạ lưu Tờ Thông Tin về Ramsar Đất ngập nước (RIS), trang 10 Các vùngđất ngập nước duy trì mực nước ngầm trong khu vực và là một nguồn quan trọng củanước ngọt trong mùa khô Nó cũng là một nguồn quan trọng của hạt giống và ấu trùngcho nuôi hoạt động trong các khu vực xung quanh Vào mùa mưa nó giảm nhẹ tác độngcủa lũ lụt ở đất nông nghiệp
Trầm tích biển : Cùng với trầm tích biển gió, trầm tích biển cũng thuộc Pleistocen,
và chiếm diện tích khoảng 1.158 ha
o Trầm tích Holocen:
Trầm tích đầm lầy-biển: chiếm 3.565 ha, chứa nhiều khoáng pyrit (FeS2), đây lànguồn vật liệu góp phần hình thành nên đất phèn tiềm tàng (sulfaquents)
Trầm tích lòng sông cổ: chiếm khoảng 717 ha, hình thành từ những con sông chết
và được bồi đấp bởi những vật liệu mới, chứa nhiều chất hữu cơ, thịt và sét
Trang 27Trầm tích proluvi: chiếm 1.835 ha, chủ yếu là vật liệu lắng tụ từ xói mòn.
3.1.6.2 Đất
Nhóm đất cát cổ (Aeric Tropaquults), được hình thành thông qua quá trình phong
hóa trầm tích Pleistocen chiếm diện tích khoảng 154 ha
Đất xám điển hình (Typic Tropaquults), khoảng 476 ha.
Đất xám đọng mùn (Humic Tropaquults), 274 ha.
Các nhóm đất dốc tụ trên nền trầm tích Proluvi chiếm diện tích 1.559 ha
Các nhóm đất phù sa có nên phèn: Trầm tích sông - biển chồng lên lớp trầm tíchđầm lầy - biển hình thành những vạt đất phù sa có tầng sinh phèn (sulfidic) và đất phù sa
có tầng phèn (sulfuric) chứa các khoáng jarosit
Đất phèn hoạt động (Sulfaquepts), hình thành từ nền trầm tích đầm lầy biển với
diện tích khoảng 355 ha Độ chua của đất: pH chỉ khoảng từ 2,0 – 3,2
3.2 Đa dạng sinh thái Vườn quốc gia Tràm Chim
3.2.1 Hệ động vật
VQG Tràm Chim là nơi cư trú của trên 100 loài động vật có xương sống, 55 loài
cá và 231 loài chim nước Trong đó, có 32 loài chim quý hiếm của thế giới Đặc biệt làmột loài chim hạc còn gọi là sếu đầu đỏ (Grus antigone) hay sếu cổ trụi được Hội Bảo Vệ
Hạc Quốc Tế (ICF) cùng nhiều tổ chức quốc tế khác bảo vệ
Hình 3.2 Sếu đầu đỏ (Grus antigone) [12]
Với diện tích hơn 7 ngàn ha, VQG Tràm Chim hiện có 231 loài chim nước, trong
đó có 32 loài quý hiếm đặc biệt là sếu đầu đỏ Trên những vạt rừng rộng mênh mônghàng chục loài chim sinh sống và làm tổ quanh năm như Trích mồng đỏ, Cồn cộc, Le le,Diệc, Vịt trời, bìm bịp và nhiều hơn hết vẫn là đàn cò trắng hàng chục nghìn con
Trang 28Hình 3.3 Bìm bịp (Centropus)[12]
Trong số những loài chim quý hiếm đó có 42% loài sử dụng đầm lầy nước ngọt,10% loài đồng cỏ, 8% sử dụng rừng ngập nước, 2% sử dụng các con kênh có cây bụi, cây
gỗ, 38% còn lại sử dụng tổng hợp các môi trường sống nói trên
Tại VQG Tràm Chim vào mùa khô từ 12 đến tháng 5 âm lịch thì Sếu đầu đỏ cóchiều cao hơn 1,5m hay các loài Diệc mộc, Diệc cỏ lại di cư về kiếm ăn Hầu hết các loàichim đều thích nghi với cây lúa ma (kể cả Sếu đầu đỏ) vì lúa ma đa dạng sinh học rất cao
và nhạy cảm với các loài chim
Hiện nay, ngoài loài Sếu đầu đỏ đang có nguy cơ tuyệt chủng thì các loài nhưĐiêng Điểng, Gìa Đẫy, Ô Tác, Giang Sen, Rồng Rộc cũng đang bị đe dọa trên toàn cầunhưng vẫn được sinh sống và được bảo vệ
Trang 29Hình 3.4 Chim Giang sen (Mycteria leucocephala) [12]
Hình 3.5 Chim Điêng Điểng (Anhinga melanogaster)[12]
Trang 30Thủy sản: Có 55 loài cá chia thành 02 nhóm chính: Nhóm cá nước tĩnh và nhóm
cá ưa nước chảy
Hình 3.6 Cá Còm (Chitala ornata) [12]
Thủy sinh vật: Có 185 loài thực vật nổi, 93 loài động vật nổi, 90 loài động vật đáy.Lớp thú: Khoảng 15 loài gồm các loài như Rái cá thường Lutra lutra, Rái cá lông mượt Lutrogale perspicillata, Sóc đỏ bụng Callosciurus erythraeus, Dơi quả lưỡi dài
Eonycterisspelaea,…
Hình 3.7 Sóc đỏ bụng (Callosciurus erythraeus blyth)[12]
Trang 31Các loài lưỡng cư, bò sát: Khoảng 44 loài gồm: Rắn nước( Xenochrophis
Trang 322005–2006 ghi nhận được ở VQG Tràm Chim - huyện Tam Nông - tỉnh Đồng Tháp có
130 loài thực vật thuộc nhiều loại như : Họ sen (Nelumbonaceae), họ súng (Nymphaeaceae); Cỏ năng (Eleocharis atropurpurea): Năng kim (Eleocharis
atropurpurea) , Năng ống (Eleocharis dulcis),…; Rừng Tràm (Melaleuca leucadendra);Cỏ Mồm ( Ischaemum spp);Cỏ Ống (Panicum repens); Lúa Ma (Oryza rufipogon),
Ngoài ra còn có một số loài đặc trưng khác tại đây như: Mai dương hay còngọi trinh nam, mắt mèo, trinh nữ nâu, trinh nữ đầm lầy (danh pháp hai phần: Mimosa
pigra) thuộc chi chi Trinh nữ, phân họ Trinh nữ của họ Đậu; Hoa Hoàng Đầu Ấn có tên
khoa học là Xyris indica L (thuộc loại cỏ vàng Xyridaceae); Gáo vàng hay gáonam( Nauclea orientalis), là một loài thực vật thuộc họ Cà phê (Rubiaceae); Nhĩ cán
vàng - Utricularia aurea Lour (U flexuosa Vahl), thuộc họ Rong ly -Lentibulariaceae.
là một loại cây được dùng trong y học cổ truyền, lá được giã ra dùng đắp khi nốt sởi bắtđầu vỡ mủ, và dùng đắp vào da khi da bị kích thích do nhiệt độ cao,…
3.2.3 Hệ sinh thái vườn quốc gia Tràm Chim
3.2.3.1 Quần xã Sen – Súng
Hội đoàn sen – súng chủ yếu trên các vùng đầm lầy ngập nước quanh năm,dọc theo khu trũng thấp của dòng sông cổ, chiếm diện tích khoảng 158 ha
Hình 3.10 Sen hồng (Nelumbo nucifera) [12]
Họ Sen (Nelumbonaceae) là một họ thực vật có hoa chỉ có một chi duy nhất là
Nelumbo và có hai loài là sen hồng và sen trắng
Trang 33o Đặc điểm của sen.
Các loài trong chi Nelumbo có hoa rất giống với các loài hoa súng trong họ
Nymphaeaceae (họ Súng) Lá của các loài sen có thể phân biệt được với lá của các loài
trong họ Nymphaeaceae, do lá sen có hình khiên, trong khi đó Nymphaeaceae có vết khía
hình chữ V đặc trưng từ mép lá vào tâm của lá Quả ở trung tâm chứa các hạt của các loàicũng có đặc trưng phân biệt và được gọi là bát sen
Thân rễ của sen hồng mọc trong các lớp bùn trong ao hay sông, hồ còn các lá thìnổi ngay trên mặt nước Thông thường sen có thể cao tới 1,5 m và có thể phát triển cácthân rễ bò theo chiều ngang tới 3 m, một vài nguồn chưa kiểm chứng được cho biết nó cóthể cao tới trên 5m Lá to với đường kính tới 60 cm, trong khi các bông hoa to nhất có thể
có đường kính tới 20 cm Có nhiều giống sen được trồng, với màu hoa dao động từ màutrắng như tuyết tới màu vàng hay hồng nhạt Loài cây này có thể trồng bằng hạt hay thân
Trang 34Súng là loài cây sống lâu năm, mọc hoang dại trong ao, mương, kênh, rạch, lángnước, bàu trũng khắp mọi khu vực của Việt Nam Vùng Đồng Tháp Mười có nhiều bôngsúng nhất Việt Nam Các loài cây này có khả năng tái sinh mạnh Chưa thấy tài liệu nàothống kê tại Việt Nam có bao nhiêu loài súng, mặc dù có một số tài liệu nói rằng có
khoảng 5 loài Trong một số tài liệu có nhắc tới súng lam (Nymphaea stellata), súng đỏ (Nymphaea rubra), súng trắng (Nymphaea lotus )
Những loài chim thường gặp ở hội đoàn sen – súng: le hôi (Tachybaptus raficollis), le khoang cổ (Nettapus coromandelianus), vịt trời (Anas poecilorhyncha), trích cổ, trích ré,
gà lôi nước (Hydrophasianus chirurgus), gà nước vằn (Rallus striatus), cuốc ngực nâu (Porzana fusca), mòng két (Anas crecca), bói cá (Ceryle rudis).
3.2.3.2 Quần Xã Rừng tràm
Hình 3.12 Quần xã rừng tràm(Melaleuca leucadendra) [12]
Là thảm thực vật thân gỗ có diện tích lớn nhất, diện tích khoảng 1.826 ha Do tácđộng con người, hầu hết những cánh rừng tràm nguyên sinh đã biến mất và hiện nay chỉcòn lại là những cánh rừng tràm trồng, thuộc loài Melaleuca cajuputi, nhưng do được bảotồn nhiều năm nên có những cụm tràm phân bố theo kiểu tự nhiên Hai kiểu phân bốđược ghi nhận: tập trung và tràm phân tán
Ảnh chụp tại đài quan sát Tràm phân tán có sự hiện diện thảm cỏ xen kẽ gồm các
loài Năng ống (Eleocharis dulcis), Cỏ Mồm (Ischaemum rugosum và I indicum), hoàng đầu Ấn (Xyris indica), Nhĩ Cán Vàng (Utricularia aurea), Cỏ Ống (Panicum repens), Súng (Nymphaea lotus), Cú Muỗi (Caprimulgusmaeruru), chèo Bẻo (Dicrurus
macrocercus), Hút Mật (Aethopiga siparaja), Vành Khuyên (Zosterops palpebrosa),
Chim Sẻ (Carpodacus erythrinus), Én (Apus affinis), Rẻ Quạt (Rhipidura albicollis), Chích Chòe (Lucustella lanceolata)
Trang 35Những loài chim thường gặp: Cò Trắng (Egretta garzetta), Cò Bợ (Ardeola
bacclus), Cò Lửa (Ixobrychus sinensis), Cò Lép, Vạc (Nycticorax nycticorax), Diệc Lửa
(Ardea purpurea), Diệc Xám (Ardea cinerea), Điêng Điểng (Anhinga melanogaster), cồng cộc (Pharacrocoraxniger), Tu Hú, Cú Ngói (Streptopelia Tranquebarica), Cú Cườm (Caprimulgusmaerurus), Cú (Tyto Capensis).
o Đặc điểm của loài Tràm:
Là cây gỗ lâu năm, cao tới 2–30 m, lớp vỏ cây dễ tróc Lá của chúng là thườngxanh, mọc so le, hình trứng hay mũi mác, dài 1-25 cm và rộng 0,5-7 cm, mép lá nhẵn,màu xanh lục sẫm hay xanh xám
Cây ra hoa hàng năm từ tháng 1 đến tháng 5, nở rộ từ tháng 3 đến tháng 4, hoamọc thành cụm dày dặc dọc theo thân, mỗi hoa với các cánh hoa nhỏ và một chùm nhịmọc dày dặc; màu hoa từ trắng tới hồng, đỏ, vàng nhạt hay ánh lục Hoa tràm thụphấn nhờ ong và côn trùng Mùa hoa tràm rộ cũng là mùa xuất hiện ong mật tự nhiên
và cũng là thời điểm thường xảy ra những vụ cháy rừng do sự bất cẩn của nhữngngười dân vào Vườn thu mật ong
Quả là dạng quả nang nhỏ chứa nhiều hạt nhỏ Do đặc điểm của rừng tràm nhưtrên, nên các cơ quan quản lý Vườn cần có những biện pháp chống cháy rừng vào thờiđiểm lượng rơi trên sàn rừng cao vào mùa khô
3.2.3.3 Quần Xã Mồm Mốc Đồng Cỏ Mồm ( Ischaemum spp ).
Hình 3.13 Cỏ mồm(Ischaemum muticum) [12]
Chiếm diện tích khá nhỏ so với các cộng đồng thực vật khác, khoảng 41,8 ha Bao
gồm mồm đơn thuần và quần xã mồm - Cỏ Ống (Ischaemum spp - Panicum repens).
Trang 36Phân bố hiện diện chủ yếu trên những dải liếp, bờ đất có địa hình cao cục bộ trong mộtvùng địa hình thấp
Những loài chim thường gặp: Cồng Cộc (Pharacrocoraxniger), Chiền Chiện
(Prinia flaviventris), Cò Bợ (Ardeola bacclus), Cò Lửa (Ixobrychus sinensis), Cút nhỏ
(Turnix syluatica), Diệc Lửa (Ardea purpurea), Diệc Xám (Ardea cinerea), Cú (Tyto
capensis), Giang Sen (Mycteria leucocephala), Già Đãy (Leptoptilos dubius).
có thời kỳ ngập nước ngọt không thường tạo nên các đám cỏ rộng ở các bãi đất cát
ẩm ven biển hay phía sau các vùng rừng sát nam Việt Nam, trổ hoa vào tháng 12 - 2dương lịch
Hình dáng : Cỏ đứng hay bò ở gốc, cao 0,3 - 1,2m, thường phân nhánh ở gốcvới các thân hơi dẹt, mềm, ruột đỏ tím
Lá: Lá hình mũi mác, đầu nhọn, gốc hình tim, lá dài 10 - 25 cm, rộng 1 cm,phiến phẳng và cứng, trơn hay có lông mềm, mép bén, bẹ lá mảnh, tròn ở gốc, trơnhay có lông, mép lá ngắn hay gần như không có
Hoa: Hoa tạo thành cụm gồm 2 - 3 chùm thẳng, dài 5 - 12 cm Gié cao 4-8 cm;gié hoa cao 3,5 - 6 mm, vàng, lông gai dài bằng 1 - 2 lần gié hoa.Trái: Trái hìnhxoan thuôn, hơi dẹt
3.2.3.4 Quần xã năng Đồng cỏ Năng (Eleocharis atropurpurea)
Trang 37Hình 3.14 Cỏ năng (Eleocharis atropurpurea) [12]
Chiếm diện tích khoảng 2.968 ha, tạo thành một trong những thảm cỏ rộng lớn;
bao gồm đồng cỏ Năng kim (Eleocharis atropurpurea) - đây là bãi ăn của loài chim khoảng 235 ha, Năng ống (Eleocharis dulcis), 1.277 ha, và hợp với các loài khác tạo
Sếu-thành các quần xã thực vật: Năng Kim – Năng ống, vài nơi xuất hiện của hoàng đầu ấn
(Xyris indica); Năng Kim - Cỏ Ống (E atropurpurea – P repens); Năng ống - Cỏ Ống (E dulcis – P.repens), khoảng 937 ha; Năng ống - Cỏ Ống – Lúa Ma (E dulcis - P.
repens – O.rufipogon), 443 ha; Năng ống - Cỏ Ống - Cỏ Chỉ (E dulcis - P repens– C.dactylon), khoảng 72ha
Những nơi có địa hình thấp và ngập nước quanh năm thì xen lẫn trong quần xã
Năng là những loài thực vật thủy sinh như Nhĩ Cán Vàng (Utricularia aurea), Súng Ma (Nymphaea indicum), Rong Đuôi Chồn (Ceratophyllum demersum) Những loài chim thường gặp: Sếu (Grus antigone), Cò Trắng (Egretta garzetta), Cò Bợ (Ardeola bacclus), Trích Cồ, Trích Đất, Vịt Trời (Anas poecilorhyncha), Le Khoang Cổ (Nettapus
coromandelianus), Diệc Lửa (Ardea purpurea), Diệc Xám (Ardea cinerea), Cò Lửa
(Ixobrychus sinensis), Cò Lép.
o Đặc điểm:
Chi Cỏ năng (danh pháp khoa học: Eleocharis) là một chi thực vật, bao gồm
khoảng 200-250 loài trong họ Cói Nói chung, cỏ năng là các loài cỏ dại có thân đặc,thường sống thủy sinh Chúng có các lá bị suy giảm xung quanh phần gốc của thân;những cái trông giống như lá trên thực tế là thân nhưng chúng thực hiện phần lớn các