Hình 2: Sơ đồ thiết kế nghiên cứu Hình 3: Kết quả tính LD50 trên chuột nhắt của cao chiết cồn náng hoa trắng Hình 4: Trọng lượng tuyến tiền liệt g của 4 lô Hình 5: Tỷ lệ trọng lượng tu
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Nguyễn Thị Lập –
Bộ môn Hóa sinh – Trường Đại học Dược Hà Nội Cô là người đã nhận tôi vào bộ môn cũng như tạo mọi điều kiện tốt nhất để giúp tôi tiến hành khóa luận tốt nghiệp
Tiếp đến tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Phạm Thị Nguyệt Hằng –
Trưởng khoa Dược lý – Sinh hóa – Viện Dược liệu là người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến chị Phí Thị Xuyến cũng như
các anh chị tại khoa Dược lý – Sinh hóa – Viện Dược liệu đã giúp đỡ, hướng dẫn tôi về
kỹ thuật cũng như tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành được nghiên cứu thực nghiệm tại khoa
Nhân dịp này, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu cùng toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội đã dạy dỗ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian tôi học tập tại trường
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ sự yêu thương và biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè
đã luôn bên tôi, ủng hộ và động viên tôi, là chỗ dựa tinh thần vững chắc khi tôi gặp khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống
Do thời gian làm thực nghiệm cũng như kiến thức của bản thân có hạn, khóa luận này còn có nhiều thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô, bạn bè để khóa luận được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Trần Thị Hồng Vân
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VI T TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
ĐẶT VẤN Đ 1
C ƢƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về dƣợc liệu nghiên cứu: cây náng hoa trắng (Crinum asiaticum L.) 3
1.1.1 Tên gọi 3
1.1.2 Đặc điểm thực vật, phân bố 3
1.1.3 Bộ phận dùng làm thuốc 4
1.1.4 Thành phần hóa học 5
1.1.5 Tác dụng dược lý 5
1.1.6 Công dụng 6
1.1.7 Bài thuốc có náng hoa trắng 6
1.2 Bệnh phì đại tuyến tiền liệt 7
1.2.1 Định nghĩa 7
1.2.2 Cơ chế bệnh sinh, mô bệnh học bệnh phì đại tuyến tiền liệt 7
1.2.3 Chẩn đoán, điều trị 11
1.3 Mô hình nghiên cứu về phì đại tuyến tiền liệt trong thực nghiệm 13
Trang 5C ƯƠNG 2 Đ TƯỢNG V P ƯƠNG P P NG ÊN CỨU 16
2.1 Nguyên vật liệu, thiết bị 16
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 16
2.1.2 Động vật thí nghiệm 16
2.1.3 Dụng cụ, hóa chất nghiên cứu 16
2.2 Nội dung nghiên cứu 17
2.3 Phương pháp nghiên cứu 19
2.3.1 Phương pháp đánh giá độc tính cấp của cao chiết cồn náng hoa trắng 19
2.3.2 Phương pháp đánh giá tác dụng chống phì đại tuyến tiền liệt của cao chiết cồn náng hoa trắng 20
2.4 Xử lý số liệu 22
C ƯƠNG 3 K T QUẢ NGHIÊN CỨU 24
3.1 Thử độc tính cấp 24
3.2 Tác dụng chống phì đại tuyến tiền liệt của cao chiết cồn náng hoa trắng 26
3.2.1 Đánh giá tác dụng trên trọng lượng tuyến tiền liệt 26
3.2.2 Đánh giá tác dụng trên hình ảnh mô học tuyến tiền liệt nhuộm H&E 30
3.3 Bàn luận 33
3.3.1 Độc tính cấp của cao chiết cồn náng hoa trắng 33
Trang 63.3.2 Tác dụng chống phì đại tuyến tiền liệt của cao chiết cồn náng hoa trắng 35
K T LUẬN VÀ KI N NGHỊ 39 TÀI LI U THAM KHẢO
Trang 7EGF Yếu tố tăng trưởng biểu bì (Epidermal growth factor)
ER Thụ thể của estrogen (Estrogen receptor)
H&E Hematoxyline & eosine
IGF Yếu tố tăng trưởng tương tự insulin (Insulin-like growth factor KFG Yếu tố tăng trưởng keratin (Keratinocyte growth factor)
NHT Náng hoa trắng
TZ Vùng chuyển tiếp (Transition zone)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Số chuột chết trong 72 giờ đầu của thử độc tính cấp
Bảng 2: Trọng lượng tuyến tiền liệt trung bình
Bảng 3: Tỷ lệ trọng lượng tuyến tiền liệt (mg)/trọng lượng chuột (g) trung bình
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1: Cây náng hoa trắng (Crinum asiaticum L.)
Hình 2: Sơ đồ thiết kế nghiên cứu
Hình 3: Kết quả tính LD50 trên chuột nhắt của cao chiết cồn náng hoa trắng
Hình 4: Trọng lượng tuyến tiền liệt (g) của 4 lô
Hình 5: Tỷ lệ trọng lượng tuyến tiền liệt (mg)/trọng lượng chuột (g)
Hình 6: Hình ảnh mô học tuyến tiền liệt nhuộm H&E của nhóm chứng sinh
Hình 9: Hình ảnh mô học tuyến tiền liệt nhuộm H&E của chuột sử dụng
cao chiết cồn náng hoa trắng
Trang 101
ĐẶT VẤN Đ
Phì đại tuyến tiền liệt hay u xơ tuyến tiền liệt là một tình trạng rất thường gặp ở đàn ông trên 50 tuổi Đây là bệnh lành tính, tiến triển chậm và rất ít khi gây tử vong, được đặc trưng bởi tình trạng tăng sản số lượng tế bào biểu mô và
tế bào đệm làm cho tuyến tiền liệt to lên về thể tích [32] Do sự gia tăng về thể tích này, tuyến tiền liệt chèn ép các cơ quan xung quanh như bàng quang, niệu quản gây nên những triệu chứng của đường niệu dưới như bí tiểu, tiểu buốt, tiểu rắt hay thậm chí là đi tiểu ra máu Những triệu chứng này tuy không đe dọa đến tính mạng nhưng lại đem lại những bất tiện làm suy giảm chất lượng sống của bệnh nhân Hiện nay, bệnh phì đại tuyến tiền liệt có thể được điều trị bằng các thuốc nội khoa hoặc can thiệp phẫu thuật [10] Bên cạnh đó, một số sản phẩm từ thảo dược cũng được sử dụng nhằm cải thiện tình trạng bệnh [19]
Náng hoa trắng có tên khoa học là Crinum asiaticum L thuộc chi Crinum,
họ Thủy tiên (Amaryllidaceae) Bên cạnh việc được trồng làm cảnh, từ xa xưa người dân đã sử dụng náng hoa trắng trong nhiều bài thuốc dân gian dùng để chữa trị các bệnh khác nhau như thấp khớp, bong gân, chữa lành vết thương [1]
Trong khi Trinh nữ hoàng cung (Crinum latifolium) là một dược liệu cũng thuộc chi Crinum, đã được chứng minh tác dụng trong việc điều trị bệnh phì đại tiền
liệt tuyến, nhóm nghiên cứu hy vọng rằng náng hoa trắng cũng có thể đạt được tác dụng trên bệnh này [20, 38]
Náng hoa trắng có thành phần chủ yếu là các alcaloid [37] Các alcaloid này được cho là tạo nên những tác dụng dược lý chính của dược liệu, tuy nhiên
Trang 112
chúng cũng có độc tính [30] Vì những lý do trên, đề tài được thực hiện với 2 mục tiêu:
1 Nghiên cứu độc tính cấp của cao chiết cồn náng hoa trắng
2 Đánh giá tác dụng chống phì đại tuyến tiền liệt của cao chiết cồn náng hoa trắng
Trang 12Tên nước ngoài: Asian poison bulb (Anh), crínole asiatique (Pháp)
Tên khoa học: Crinum asiaticum L., họ Thủy tiên (Amaryllidaceae) [1]
1.1.2 Đặc điểm thực vật, phân bố
Đặc điểm thực vật
Náng hoa trắng là cây thảo lớn Thân hành to hình cầu hoặc hình trứng thuôn, đường kính đến 10cm, thắt lại ở đầu Lá mọc thẳng từ thân hành, hình dài,
Trang 134
phiến dày, dài 1m hoặc hơn, rộng 5 – 10 cm, gốc có bẹ rộng, đầu nhọn, mép nguyên uốn lượn, gân song song, gân chính lồi rõ ở mặt dưới, hai mặt màu lục nhạt
Cụm hoa mọc ở giữa túm lá thành tán, trên một cán mập, dẹt, dài 40 – 60
cm gồm nhiều hoa to màu trắng, thơm; bao hoa có ống hẹp màu lục, dài 7 – 10cm, mẫu 3; lá đài và cánh hoa giống nhau, hình dải thuôn hẹp; nhị 6, chỉ nhị màu đỏ tía; bầu dạng thoi
Quả nang, gần hình cầu, đường kính 3 – 5 cm, thường chỉ chứa một hạt Mùa hoa quả: tháng 6 – 8
Phân bố, sinh thái
Náng hoa trắng có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu Á Cây phân bố rải rác
từ vùng Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam đến các tỉnh phía nam và đảo Hải Nam – Trung Quốc Ở Việt Nam, cây mọc trong trạng thái hoang dại ở chân núi đá vôi hoặc các bãi hoang thuộc vùng ven biển nhưng thường thấy trong quần thể trồng
Náng hoa trắng là cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, sinh trưởng mạnh trong mùa mưa ẩm; một năm có thể ra 4 – 6 lá mới, thay thế các lá già đã xuất hiện trước đó từ 1 đến 1,5 năm Về mùa đông, cây ngừng sinh trưởng Cây
ra hoa quả hằng năm Tỷ lệ hoa đậu quả chỉ khoảng 40 – 50% Cây có khả năng
đẻ nhánh khỏe từ chồi gốc Cây chồi cũng là nguồn giống để trồng [1]
1.1.3 Bộ phận dùng làm thuốc
Lá và thân hành thu hái quanh năm, dùng tươi [1]
Trang 145
1.1.4 Thành phần hóa học
Thành phần chủ yếu là alcaloid: Ambelin, crinamin, crinamin – 6 – OH, crinastadin, crinin, crinasiatin, hacmanthamin, hacmanthidin, lycorin, lycorin – 1 – 0 – glucosid, pratodin, ungeremine, 3 – O – acetylhamayne
Ngoài ra còn có một số amid (N – 4 – trans – coumaroyltyramine,
4-hydroxystyryolamine); flavonoid (7-hydroxyflavanone) và phenolic (4-coumatic acid) [1, 37]
1.1.5 Tác dụng dược lý
Tác dụng giảm đau: M.Z Asmawi cùng cộng sự của mình đã tiến hành thí nghiệm trên chuột cống đực thu được kết quả rằng dịch chiết lá náng hoa trắng trong chloroform với liều từ 250 – 1000 mg/kg chuột đã có tác dụng giảm đau, với mức liều trên 1000 mg/kg gây độc tính trên gan dẫn đến chết động vật thí nghiệm [9]
Tác dụng chống viêm: trong thí nghiệm của Awatef M Samud cùng cộng
sự, dịch chiết náng hoa trắng trong methanol liều 50 mg/kg có tác dụng chống viêm mạnh hơn indomethacin trong điều trị phù chân sau cấp ở chuột nhắt [34] Theo y học cổ truyền: thân hành náng hoa trắng có tính chất đắng, nhuận tràng và long đờm, được dùng trong đa tiết mật, đái són đau và rối loạn tiết niệu khác Thân hành tươi gây buồn nôn và nôn mà không gây đau bụng hoặc tẩy Thân hành còn có tác dụng làm ra mồ hôi Lá có tác dụng long đờm và chống viêm Cao chiết với nước, với methanol và alcaloid toàn phần từ lá, thân và rễ náng hoa trắng có tác dụng ức chế sự phân bào của rễ hành ta, cao methanol có tác dụng mạnh hơn cao nước Alcaloid toàn phần có tác dụng rất mạnh Hạt có tác dụng tẩy và lợi tiểu Thân hành có độc, khi dùng phải thận trọng [1]
Trang 156
1.1.6 Công dụng
Nhân dân thường dùng lá náng hoa trắng hơ nóng đắp và bóp vào những chỗ tụ máu, sai gân, bong gân, sưng tấy do ngã hay bị đánh, khớp sưng đau, bó gãy xương Còn dùng xoa bóp khi bị tê thấp, nhức mỏi Thân hành giã nát nướng đắp trị thấp khớp Ở miền Nam Trung Quốc, nhân dân dùng lá náng hoa trắng hơ nóng đắp chữa sưng tấy bong gân Có khi còn dùng nước sắc lá rửa và trị trĩ ngoại Ở Ấn Độ, nhân dân dùng hạt làm thuốc điều kinh, lợi tiểu; dùng lá làm thuốc long đờm, đắp điều trị bệnh da và làm giảm viêm Để gây nôn, thân hành tươi giã nát, thêm bốn phần nước, gạn uống cứ vài phút một lần (mỗi lần 8 – 16g) cho đến khi nôn được, theo dõi chú ý tránh ngộ độc Thân hành giã nướng đắp chữa thấp khớp Lá phơi khô đốt xua muỗi Còn dùng nước ép thân rễ nhỏ vào tai chữa đau tai Ở Madagascar, thân hành đắp trị áp – xe, mụn nhọt, và dịch
ép lá rỏ tai trị đau tai [1, 17]
1.1.7 Bài thuốc có náng hoa trắng
Chữa sai khớp xương, bong gân (Hải Thượng Lãn Ông):
Lá náng, quế, hồi hương, đinh hương, vỏ sòi, vỏ núc nác, gừng sống, lá canh châu, lá dây đau xương, mủ xương rồng bà, lá thầu dầu tía, lá kim cang, lá mua, huyết giác, củ nghệ, hạt trấp, hạt máu chó, lá bưởi bung, lá tầm gửi cây khế (nếu có sưng cơ thì bỏ lá đau xương, thêm giấm) Tất cả giã nát, sao nóng mà chườm
Chữa tụ máu, sưng tấy do bị ngã hay bị đánh, bong gân, bó gãy xương:
Lá náng 10 – 20 g, lá dây đòn gánh 10 g, lá bạc thau 8 g Giã nhỏ, thêm ít rượu, nướng, đắp nóng Ngày làm một lần
Chữa thấp khớp, bong gân, sai gân, tụ máu:
Trang 16Phì đại tuyến tiền liệt (hay còn được gọi là tăng sản lành tính tuyến tiền liệt,
u xơ tuyến tiền liệt) là một tình trạng được đặc trưng bởi sự gia tăng số lượng tế bào biểu mô và tế bào đệm ở vùng chuyển tiếp (TZ: transition zone), đặc biệt ở khu vực phía ngoài của vùng [15, 21]
Phì đại tuyến tiền liệt là khối u lành tính ở nam giới, tần suất xuất hiện tăng lên theo tuổi Nghiên cứu các kết quả sinh thiết cho thấy, phì đại tuyến tiền liệt
có tỉ lệ 20% nam ở độ tuổi 41 – 50, 50% ở độ tuổi 51 – 60, trên 90% khi > 80 tuổi [29]
1.2.2 Cơ chế bệnh sinh, mô bệnh học bệnh phì đại tuyến tiền liệt
Cơ chế bệnh sinh
Đến nay, cơ chế phân tử chính xác gây khởi phát và tiến triển bệnh phì đại tuyến tiền liệt vẫn chưa được biết rõ Tuy nhiên, có hai yếu tố quan trọng liên quan đến nguyên nhân bệnh sinh đó là: Vai trò của tuổi đời và vai trò của nội tiết [16]
Vai trò của tuổi đời:
Tuổi càng cao thì khả năng mắc bệnh phì đại tuyến tiền liệt càng tăng Ở tuổi 50, tỷ lệ mắc bệnh này là 50% và sẽ tăng lên thành 90% khi ở tuổi 80 [23]
Vai trò của nội tiết:
Trang 17Tại tuyến tiền liệt, enzym 5α – reductase sẽ chuyển testosterone thành DHT Khi DHT gắn vào receptor androgen sẽ tạo thành phức hợp DHT – receptor và phức hợp này sẽ làm tăng sản xuất các protein, ví dụ như kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt – PSA, hoặc các protein điều hòa chức năng tế bào và chức năng tăng trưởng Ngược lại, khi DHT rút khỏi tuyến tiền liệt sẽ dẫn đến sự giảm tổng hợp protein và thu nhỏ (involution) mô Ngoài các tác động trực tiếp này, DHT còn điều chỉnh hoạt động/biểu hiện của một số yếu tố tăng trưởng và các thụ thể của chúng, ví dụ như yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGF), yếu tố tăng trưởng tương
tự insulin (IGF – 1), yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi (FGF) liên quan đến các protein như là yếu tố tăng trưởng keratin (KFG), do đó làm tăng phân chia tế bào dẫn đến tăng trọng lượng tuyến tiền liệt [11, 15, 21]
Estrogen:
Ngày càng có nhiều bằng chứng từ các nghiên cứu dịch tễ, nghiên cứu trên động vật và in vitro ủng hộ cho vai trò của estrogen trong cơ chế bệnh sinh của BPH [16]
Tuyến tiền liệt thường được coi là mô đích của androgen, nhưng ngoài ra nó cũng là một mô đích quan trọng của estrogen Hoạt tính của estrogen tại tuyến tiền liệt phụ thuộc vào loại estrogen cũng như loại receptor estrogen (ER) [31]
- Các loại estrogen:
Trang 189
Estrogen trong máu có thể có nguồn gốc là nội sinh hoặc ngoại sinh Các estrogen có nguồn gốc nội sinh thường gặp bao gồm estrone (E1), 17β – estradiol (E2) và estriol (E3) E1 là một estrogen yếu, có ảnh hưởng ít nhất đến tuyến tiền liệt E2 được xem như là estrogen có hoạt tính mạnh nhất ở nam giới, đóng vai trò quan trọng trong nhiều quá trình sinh lý bao gồm sự trưởng thành và khoáng hóa ở xương, tạo đỉnh xương, chuyển hóa da và lipid, và kích thích mạnh mẽ sự tăng sinh tuyến tiền liệt Ở nam giới, E3 là estrogen có nồng độ nhỏ nhất, vai trò của nó trong sinh lý nam giới nói chung và trong sự phát triển của tuyến tiền liệt nói riêng vẫn còn chưa được hiểu rõ Gần đây, một estrogen nội sinh khác, 27-hydroxycholesterol (27HC) - một oxysterol - đã được tìm thấy có liên kết với recepter estrogen (ER) và điều hoà chức năng phiên mã qua trung gian ER Mặc
dù ái lực của 27HC đối với thụ thể estrogen thấp hơn so với E2, nhưng nồng độ 27HC trong huyết thanh và mô lại cao hơn đáng kể Điều này cho thấy 27HC có thể là một chất điều biến quan trọng trong hoạt động ER tại các cơ quan đích của estrogen như tuyến tiền liệt [31]
- Các loại receptor estrogen:
Người ta đã tìm thấy hai loại receptor của estrogen là ER – α và ER – β tại tuyến tiền liệt Trong khi ER – α có mặt chủ yếu ở các tế bào đệm, thì ER – β lại
có mặt chủ yếu ở các tế bào biểu mô Vai trò chính xác của ER – α và ER – β trong BPH vẫn chưa được hiểu biết rõ ràng Nói chung, kích thích ER – α tại tuyến tiền liệt gây tăng tiết các yếu tố tăng trưởng theo con đường cận tiết làm kích thích sự tăng sinh của tế bào biểu mô dẫn đến tăng sản, gây viêm và loạn sản Còn kích thích ER – β gây chết tế bào theo chương trình [16, 21]
Prolactin:
Trang 1910
Các nhà khoa học đã tìm thấy receptor của prolactin trên tuyến tiền liệt ở nam giới, và do đó, tuyến tiền liệt được coi là mô đích của hormon này Người ta cho rằng, prolactin kích thích trực tiếp sự phân chia và ức chế quá trình chết theo chương trình của tế bào biểu mô tuyến tiền liệt, do đó góp phần vào cơ chế bệnh sinh của BPH [21]
Các yếu tố tăng trưởng:
Các yếu tố tăng trưởng là các peptid phân tử nhỏ kích thích quá trình phân chia và biệt hóa tế bào Chúng chủ yếu được tiết ra ở tế bào đệm, hoạt động theo
cơ chế tự tiết/cận tiết để duy trì cân bằng các loại tế bào trong tuyến tiền liệt Ngoài ra, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố tăng trưởng (yếu tố tăng trưởng tương tự insulin - IGF, yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi - FGF, yếu tố tăng trưởng chuyển đổi - TGF) và các hormon steroid tại tuyến tiền liệt Sự tương tác này có thể dẫn đến làm thay đổi
sự cân bằng giữa quá trình tăng sinh tế bào và quá trình chết tế bào, từ đó tiến triển thành BPH
có chất dịch trắng như sữa thấm ra chung quanh Nếu do tăng sản sợi và cơ, tổn thương có màu xám nhạt, dai và xơ, không có dịch và không có vỏ bao r
Trang 2011
Dù tổn thương không có vỏ bao thật, phần tuyến tiền liệt bình thường bị chèn ép chung quanh cũng tạo ra một vùng giới hạn r , giúp các phẫu thuật viên bóc tách các cục tăng sản dễ dàng Phần mô tuyến còn lại sau mổ cũng có thể phát sinh các tổn thương khác về sau [7]
- Vi thể
Theo McNeal (1990), bệnh là quá trình tăng về số lượng các tế bào trong cấu trúc mô tiền liệt tuyến chứ không phải là tăng vế kích thước tế bào [33] Tăng sản ống tuyến, mô sợi và mô cơ Tùy theo thành phần nào chiếm ưu thế, người ta thấy có nhiều hình thái khác nhau Thông thường, thành phần thượng mô ống tuyến tăng sản với các tuyến giãn rộng thành các bọc to hay nhỏ, lót bởi 2 lớp tế bào
Lớp trong hình trụ cao, lớp ngoài hình lập phương hay dẹt nằm trong một màng đáy còn nguyên Tăng sản thượng mô còn tạo thành những cấu trúc nhú nhô vào lòng các bọc Đôi khi, có sự hình thành nhiều tuyến nhỏ, có hình thái dễ chẩn đoán nhầm với carcinom tuyến Thường thường các tuyến có kích thước to
có thể quan sát được bằng kính lúp, có chứa dịch tiết với các tế bào thượng mô tróc, và nhiều thể amylacea Đôi khi, có sự tăng sản ưu thế của thành phần sợi và
cơ, với nhiều tế bào dẹt, không có tuyến hi đó, người ta gọi là tăng sản sợi hay tăng sản cơ của tuyến tiền liệt
Ngoài ra, trong cả hai hình thái trên, còn có thể có thâm nhập lympho bào,
có các ổ chuyển sản gai, các vùng nhồi máu nhỏ [7]
1.2.3 Chẩn đoán, điều trị
Chẩn đoán
Chẩn đoán xác định dựa vào các yếu tố:
- Lứa tuổi
Trang 2112
- Rối loạn tiểu tiện (đặc biệt là đái khó)
- Thăm khám trực tràng thấy tuyến tiền liệt to và tính chất của tuyến
- Chụp niệu đạo bàng quang ngược dòng
- Siêu âm
- Sinh thiết
- Thang điểm IPSS
Chẩn đoán phân biệt:
- Phân biệt với một số nguyên nhân tại bàng quang cũng gây rối loạn tiểu tiện:
+ Bí đái do hẹp niệu đạo
+ Xơ cứng cổ bàng quang
+ Bàng quang thần kinh
- Phân biệt một số bệnh lý do tuyến tiền liệt gây nên:
+ Ung thư tuyến tiền liệt
+ Áp xe, viêm tuyến tiền liệt [6]
Điều trị:
Các lựa chọn điều trị có thể là theo d i đầy đủ, các thuốc dược lý và can thiệp ngoại khoa
Việc lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp phải dựa vào mức độ bệnh:
- Mức độ nhẹ (bệnh không có triệu chứng hoặc triệu chứng gây khó chịu mức độ nhẹ và không có biến chứng gì): bệnh nhân không cần điều trị đặc biệt
mà chỉ cần theo dõi
- Mức độ trung bình (rối loạn cương dương, tuyến tiền liệt lớn, tăng PSA, triệu chứng đường tiểu): bệnh nhân cần được sử dụng các thuốc nội khoa
Trang 2213
- Mức độ nặng (đã có biến chứng của bệnh): bệnh nhân cần được can thiệp ngoại khoa
Các thuốc nội khoa có thể được chia thành 3 nhóm: nhóm thuốc làm giãn
cơ trơn tuyến tiền liệt, nhóm thuốc cản trở tác dụng kích thích của testosterone lên tuyến tiền liệt, và nhóm thuốc giãn cơ trơn bàng quang Bao gồm các nhóm thuốc:
- Chẹn α – adrenergic (alfuzosin, doxazosin, tamsulosin, terazosin)
- Ức chế 5α – reductase (dutasteride, finasteride)
- Ức chế phosphodiesterase (tadalafil)
- Đối kháng cholinergic (darifenacin, oxybutynin, tolterodine) [10, 14, 26]
Các thuốc từ thảo dược trong điều trị bệnh phì đại tuyến tiền liệt:
Các sản phẩm được chiết xuất từ thảo dược sử dụng trong điều trị bệnh phì
đại tuyến tiền liệt khá phong phú, bao gồm: hạt cây cọ lùn (Serenoa repens), cây tầm ma (Urtica dioica), hạt quả đào Châu Phi (Pygeum africanum), hạt bí ngô (Curcubita pepo), cây trinh nữ hoàng cung (Crinum latifolium) Mặc dù các thảo
dược này được sử dụng khá rộng rãi ở Châu Âu, tuy nhiên cơ quan quản lý thực phẩm và thuốc Hoa Kỳ không khuyến cáo dùng trong điều trị bệnh phì đại tuyến tiền liệt do không có đầy đủ bằng chứng [10, 14, 19, 24, 38]
1.3 Mô hình nghiên cứu về phì đại tuyến tiền liệt trong thực nghiệm
Đến nay, trên thế giới và tại Việt Nam, các nhà khoa học đã xây dựng nhiều
mô hình khác nhau để nghiên cứu về phì đại tuyến tiền liệt, bao gồm cả nghiên
cứu trên in vitro và trên in vivo
Những mô hình in vitro chủ yếu nghiên cứu về chức năng và điều hòa tế
bào, cũng như sự chuyển đổi tế bào bằng cách nuôi cấy các dòng tế bào khác
Trang 2314
nhau (tế bào đệm, tế bào biểu mô, tế bào cơ trơn tuyến tiền liệt) trong các điều kiện thích hợp [25]
Để nghiên cứu về sự thay đổi sinh học trong quá trình tăng trưởng của tuyến
tiền liệt và kiểm tra phương pháp điều trị mới, một số mô hình in vivo đã được
phát triển Các tế bào từ sự nuôi cấy mô tuyến tiền liệt của con người được cấy vào chuột cống và chuột nhắt đã gây ra biểu hiện điển hình của BPH trên mô học Mô hình chuột nhắt biến đổi gen được sử dụng để nghiên cứu hệ quả của các sự kiện biến đổi khác nhau trên tuyến tiền liệt
Đối với những mô hình gây phì đại tuyến tiền liệt trên động vật thực nghiệm, các nhà khoa học cũng đã phát triển nhều mô hình khác nhau Scolnik
và cộng sự đã phát triển một mô hình nghiên cứu sự tăng sản tuyến tiền liệt trên
chuột cống gây ra bởi citral – một chất điều vị cho kết quả rằng chủng Wistar và
Sprague — Dawley dễ bị xuất hiện tình trạng phì đại tuyến tiền liệt nhất dù có
hoặc không có sự cắt bỏ tinh hoàn [36] Khi nghiên cứu về sự tắc nghẽn đường tiết niệu do sự tăng kích thước của tuyến tiền liệt, Lee và cộng sự của mình đã gây phì đại tuyến tiền liệt trên chuột cống bằng cách kết hợp dihydrotestosterone liều 1,25 mg/kg và prazosin liều 30 µg/kg trong vòng 14 ngày [22]
Trong các nghiên cứu về tác dụng chống phì đại tuyến tiền liệt của dược liệu, các nhà khoa học hay sử dụng mô hình gây BPH trên chuột cống bằng cách tiêm testosterone Tuy nhiên, trong mỗi nghiên cứu, liều của testosterone cũng như thời gian sử dụng thuốc là không giống nhau Maryam Sarbishegi và các cộng sự của mình đã gây mô hình phì đại tuyến tiền liệt trên chuột cống bằng cách tiêm testosterone liều 3 mg/kg trong thời gian 4 tuần để nghiên cứu về tác
dụng của Withania coagulans [35] Trong khi đó, thời gian gây mô hình cũng là
4 tuần nhưng Hyun – Myung Choi sử dụng testosterone liều 5 mg/kg [12];
Trang 24Trên chó và trên tinh tinh, tiến triển của phì đại tuyến tiền liệt tự phát có liên quan đến tuổi, điều này tương đồng với trên người Walsh and Wilson đã gây phì đại tuyến tiền liệt trên chó bị cắt bỏ tinh hoàn bằng cách tiêm 5α – androstane - 3α, 17β – diol liều 75 mg/tuần kết hợp với 17β – estradiol liều 0,75 mg/tuần cho thấy hình ảnh mô học có sự tăng sản tế bào tương tự với đặc trưng của bệnh phì đại tuyến tiền liệt [40] Việc sử dụng testosterone hoặc DHT đơn độc hoặc kết hợp testoterone với estradiol trên chó bị cắt bỏ tinh hoàn làm gia tăng trọng lượng tuyến tiền liệt tuy nhiên không gây ra những hình ảnh mô học đặc trưng của BPH Trên tinh tinh, tuyến tiền liệt có giải phẫu và sinh lý tương tự với người, bên cạnh đó bệnh cũng tiến triển theo tuổi Vì vậy, khi nghiên cứu về BPH trên người, mô hình sử dụng tinh tinh là một mô hình lý tưởng Tuy nhiên,
vì lý do về đạo đức cũng như hạn chế về mặt tài chính, những mô hình sử dụng chó và tinh tinh không nhiều [25]
Trang 2516
C ƢƠNG 2 Đ TƢỢNG V P ƢƠNG P P NG ÊN CỨU
2.1 Nguyên vật liệu, thiết bị
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cao chiết cồn cây náng hoa trắng Náng hoa trắng được thu hái tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa vào tháng 09/2016, được giám định
đúng tên khoa học là Crinum asiaticum L bởi Khoa tài nguyên – Viện Dược
liệu
Quy trình chiết xuất cao cồn náng hoa trắng được thực hiện bởi khoa Chiết
xuất – Viện Dược liệu
2.1.2 Động vật thí nghiệm
Chuột nhắt trắng chủng Swiss albino, cả 2 giới, trọng lượng trung bình 20 ±
2 g, do Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương cung cấp
Chuột cống trắng chủng Wistar, giống đực, 12 tuần tuổi, trọng lượng trung
bình 150 – 250 g, do Học viện Quân Y cung cấp
Chuột sau khi mua về được nuôi ổn định trong vòng 1 tuần với điều kiện tại phòng thí nghiệm khoa Dược lý – Sinh hóa (Viện dược liệu), nhiệt độ duy trì 22
± 1˚C, chu kỳ sáng tối là 12/12h (chu kỳ sáng từ 7:00 – 19:00), được nuôi dưỡng bằng thức ăn tiêu chuẩn do Viện vệ sinh dịch tễ trung ương cung cấp, uống nước
Trang 2617
- Testosteron 25 mg/ml (thuốc tiêm Tesmon của công ty Tai Yu Chemical
& Pharma Co)
- Dung dịch hematoxyline và eosine để nhuộm H&E
Dụng cụ, máy móc thí nghiệm
Thiết bị:
- Máy li tâm LABOFUGE 400 của hãng Labofuge
- Máy lắc xoáy IKA (MODEL – MS1)
- Máy cắt tiêu bản MICROM HM 340E
- Một số dụng cụ dùng trong giết mổ chuột: dao, kéo, panh y tế, giấy cân
- Một số dụng cụ dùng trong pha chế và chăn nuôi động vật: cối chày xứ, cốc thủy tinh có mỏ, ống Falcon, ống Effendoft
- Bông, cồn iod, catsset, lam kính, phiến kính…
2.2 Nội dung nghiên cứu
Trang 2718
Hình 2: Sơ đồ thiết kế nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu bao gồm:
- Đánh giá độc tính cấp của cao chiết cồn náng hoa trắng
- Đánh giá tác dụng chống phì đại tuyến tiền liệt của cao chiết cồn náng hoa trắng trên:
+ Trọng lượng tuyến tiền liệt cũng như tỉ số tương đối giữa trọng lượng tuyến tiền liệt (mg)/trọng lượng cơ thể chuột (g)
Cao chiết cồn náng hoa trắng
Gây phì đại tuyến tiền liệt bằng testosterone Thử độc tính cấp
Đánh giá tác dụng trên trọng lượng tuyến tiền liệt
Đánh giá tác dụng trên hình ảnh mô học