Ở nước ta, DNVVN ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Cùng với nông nghiệp và kinh tế nông thông, DNVVN là nhân tố góp phần đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững của nền kinh tế, tạo việc làm cho người lao động, khai thác và tận dụng hiệu quả tiềm năng về vốn, tay nghề và những những nguồn lực còn tiềm ẩn trong dân cư, góp phần phân bố công nông nghiệp, đảm bảo cân bằng về kinh tế - xã hội - môi trường.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU I.Tính cấp thiết của đề tài.
Ở nước ta, DNVVN ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Cùng với nông nghiệp và kinh tế nông thông, DNVVN là nhân tố góp phần đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững của nền kinh tế, tạo việc làm cho người lao động, khai thác và tận dụng hiệu quả tiềm năng về vốn, tay nghề và những những nguồn lực còn tiềm ẩn trong dân cư, góp phần phân bố công nông nghiệp, đảm bảo cân bằng về kinh tế - xã hội - môi trường
TDNH là hình thức hỗ trợ vốn hiệu quả cho các DN đặc biệt là DNVVN Hưởng ứng chủ trương của chính phủ về hỗ trợ phát triển DNVVN, trong những năm gần đây chi nhánh TP Hà Nội – NHTMCP Công Thương Việt Nam đã không ngừng mở rộng, nâng cao chất lượng và hiệu quả TD đối với các DNVVN.Tuy nhiên, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới,vấn đề tín dụng đối với DNVVN gặp không ít những khó khăn và vướng mắc đặc biệt trong công tác nâng cao chất lượng tín dụng Đây là mối quan tâm hàng đầu không chỉ với chi nhánh TP Hà Nội- NHTMCP Công Thương Việt Nam nói riêng mà còn với cả hệ thống ngân hàng
Xuất phát từ tính cấp thiết của công tác nâng cao chất lượng tín dụng đối
với DNVVN, em mạnh dạn chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với các DNVVN tại chi nhánh TP Hà Nội- NHTMCP Công Thương Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp, với mong muốn đóng
góp một số ý kiến và và giải pháp cho công tác nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại chi nhánh TP Hà Nội- NHTMCP Công Thương Việt Nam
II Mục đích nghiên cứu.
Trang 2-Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về tín dụng ngân hàng và nâng cao chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại.
-Giới thiệu khái quát về chi nhánh TP Hà Nội- NHTMCP Công Thương Việt Nam, phân tích đánh giá chất lượng tín dụng DNVVN của chi nhánh, từ đó đưa ra những thành quả, tồn tại và chỉ ra nguyên nhân
-Đề xuất giải pháp và đưa ra những kiến nghị đối với các cơ quan chức năng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng DNVVN tại chi nhánh TP Hà Nội- NHTMCP Công Thương Việt Nam
III Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp
phân tích, chọn lọc, so sánh, phương pháp khái quát hóa, phương pháp tổng hợp…
IV.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
-Đối tượng nghiên cứu: Công tác nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại chi nhánh TP Hà Nội- NHTMCP Công Thương Việt Nam
-Phạm vi nghiên cứu: Chi nhánh TP Hà Nội- NHTMCP Công Thương Việt Nam giai đoạn 2007- 2009
V Kết cấu khóa luận.
Kết cấu khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan về tín dụng ngân hàng và chất lượng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN
Chương 2 Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại chi nhánh
TP Hà Nội- NHTMCP Công Thương Việt Nam.
Chương 3.Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại chi nhánh TP Hà Nội- NHTMCP Công Thương Việt Nam.
Trang 3CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNVVN.
1.1.Tín dụng ngân hàng đối với DNVVN.
1.1.1 Một số vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng.
1.1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng.
Trải qua quá trình phát triển lâu dài, hoạt động ngân hàng đã mở rộng cả về quy mô, chất lượng và số lượng các loại hình dịch vụ , tuy nhiên nghiệp vụ tín dụng vẫn là một trong nhưng nghiệp vụ cơ bản và quan trọng nhất của mọi
NH Tùy theo phương pháp nghiên cứu ta có những cách tiếp cận khác nhau
về khái niệm tín dụng
Theo Mác “ Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng , sau một thời gian nhất định quay về với một lượng giá trị lớn hơn ”
Trên cơ sở khái niệm trên ta có thể hiểu vè tín dụng ngân hàng (TDNH) như
sau : “ TDNH là một loại giao dịch về tài sản giữa bên cho vay ( NHTM hoặc các định chế tài chính khác ) và bên đi vay ( cá nhân , doanh nghiệp, các chủ thể khác ) trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận , bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.”
Từ định nghĩa trên ta có thể đưa ra các đặc trưng của tín dụng ngân hàng:
Thứ nhất, TDNH là quan hệ vay mượn dựa trên cơ sở lòng tin Về phía
ngân hàng đó là sự tín tưởng vào khả năng và cam kết trả nợ đầy đủ và đúng hạn của khách hàng.Về phía khách hàng đó là sự cam kết giải ngân đầy đủ và đúng thời hạn của ngân hàng
Trang 4Thứ hai, TDNH là quan hệ vay mượn có hoàn trả Bản chất của quan hệ tín
dụng là sự chuyển nhượng “tạm thời “ một lượng giá trị Sau thời gian nhất định, người vay có trách nhiệm hoàn trả phần vốn gốc và lãi cho ngân hàng theo thỏa thuận
Thứ ba, TDNH là quan hệ vay mượn có thời hạn Sau thời gian nhất định,
người vay có trách nhiệm hoàn trả phần vốn gốc và lãi cho ngân hàng theo thỏa thuận
Thứ tư, TDNH mang tính rủi ro.Hoạt động cho vay là hoạt động mang lại
nhiều lợi nhuận nhất nhưng cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất của ngân hàng Ngân hàng có thể gặp rủi ro khách hàng không hoàn trả đầy
đủ vốn gốc và lãi hoặc không theo đúng thời hạn đã thỏa thuận …
1.1.1.2 Phân loại tín dụng ngân hàng
Theo các tiêu chí khác nhau ta có các cách phân loại như sau:
- Theo mục đích sử dụng vốn:
+ Cho vay bất động sản : là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và
xây dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
+ Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ
xung vốn lưu động cho các doanh nghiệp
+ Cho vay nông nghiệp là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như
phân bón, thuốc trừ sâu , giống cây trồng , lao động, nhiên liệu …
+ Cho vay các định chế tài chính: bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng,
công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng
và các định chế tài chính khác
Trang 5+ Cho vay cá nhân là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như
mua sắm các vật dụng đắt tiền , và các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường của đời sống
+ Cho thuê : Cho thuê của các định chế tài chính bao gồm hai loại cho thuê
vận hành và cho thuê tài chính Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản , trong đó chủ yếu là máy móc – thiết bị
-Theo thời hạn cho vay:
+ Cho vay ngắn hạn : là loại cho vay có thời hạn dưới12 tháng.
+ Cho vay trung hạn : là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm + Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm
-Theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
+ Cho vay không đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản thế chấp,cầm
cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ được dựa vào uy tín của bản thân khách hàng
+ Cho vay có đảm bảo: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế
chấp hoặc cầm cố , hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba
1.1.2.Các vấn đề cơ bản về DNVVN.
1.1.2.1 Khái niệm DNVVN.
Hiện nay, trên thế giới không có khái niệm chuẩn mực về DNVVN , khái niệm DNVVN cũng có sự khác nhau giữa các nước Ở Việt Nam, theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát triển DNNVV :
DNVVN là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng
Trang 6nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
- Hình thức sở hữu: Có đủ các hình thức sở hữu: Nhà nước, tập thể, tư nhân
và hỗn hợp
- Về hình thức pháp lý: Các DNVVN được hình thành theo Luật doanh
nghiệp và những văn bản dưới luật
- Về năng lực thị trường: Các DNVVN chủ yếu có năng lực tài chính thấp,
có công nghệ, thiết bị lạc hậu, chủ yếu sử dụng lao động thủ công Sản phẩm
Trang 7của các DNVVN chủ yếu tiêu thụ ở thị trường nội địa, chất lượng sản phẩm kém; mẫu mã bao bì còn đơn giản, sức cạnh tranh yếu
- Trình độ tổ chức quản lý và tay nghề của người lao động còn thấp và yếu Hầu hết các DNVVN hoạt động độc lập, việc liên doanh, liên kết còn
Thứ nhất , các DNVVN có vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng của nền
kinh tế Theo đánh giá của viện nghiên cứu và quản lý trung ương, DNVVN
đóng góp 24- 25% GDP của cả nước, 31% giá trị sản xuất công nghiệp; chiếm 78% mức bán lẻ của ngành thương nghiệp, 64% khối lượng vận chuyển hành khách và hàng hoá Trong nhiều ngành sản xuất và dịch vụ khác các DNVVN cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể
Thứ hai, tác động kinh tế- xã hội lớn nhất của DNVVN là giải quyết một số lượng lớn chỗ làm việc cho dân cư, làm tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo Ở Việt Nam, cũng theo đánh giá của viện nghiên
cứu và quản lý trung ương, số lượng lao động của cácDNVVN trong các lĩnh vực phi nông nghiệp có khoảng 7,8 triệu người,chiếm khoảng 79,2% tổng số lao động phi nông nghiệp và chiếm khoảng 22,5% lực lượng lao động của cả nước
Thứ ba, các DNVVN góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường Do lợi thế của quy mô nhỏ là năng động, linh hoạt, sáng tạo trong
Trang 8kinh doanh có sự kết hợp chuyên môn hoá và đa dạng hoá mềm dẻo ,hoà nhịp với đòi hỏi uyển chuyển của nền kinh tế thị trường.
Thứ tư, khu vực DNVVN thu hút được khá nhiều vốn trong dân cư Hầu hết
các DNVVN dựa vào vốn tự có, vốn huy động ngoài rất ít Do tính chất nhỏ
lẻ, dễ phân tán, yêu cầu vốn ban đầu không nhiều cho nên các DNVVN có vai trò, tác dụng rất lớn trong việc thu hút các nguồn vốn nhỏ lẻ nhàn dỗi trong các tầng lớp dân cư đầu tư vào sản xuất kinh doanh
Thứ năm, DNVVN có tác động quan trọng tới công nghiệp hoá - hiện đại hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quá trình phát triển DNVVN cũng là quá
trình cải tiến máy móc thiết bị , nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh làm cho quá trình công nghiệp hoá , hiện đại hoá không chỉ diễn ra theo chiều sâu
mà còn cả theo chiều rộng DNVVN phát triển làm cho công nghiệp và dịch
vụ phát triển dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ngày một tốt hơn
1.1.3 Tầm quan trọng của tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Các DN sử dụng vốn TDNH để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn cũng như
để tối ưu hoá hiệu quả sử dụng vốn của mình.Để thấy được vai trò của TDNH trong việc phát triển DNVVN, ta xét một số vai trò sau:
1.1.3.1 TDNH góp phần đảm bảo cho hoạt động của các DNVVN được liên tục
Trên thực tế khó có một DN nào có thể đảm bảo đủ 100% vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh Vốn tín dụng của NH đã tạo điều kiện cho các DN đầu
tư xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc thiết bị cải tiến phương thức kinh doanh Từ đó góp phần thúc đẩy tạo điều kiện cho quá trình phát triển sản xuất kinh doanh đựơc liên tục
Trang 91.1.3.2.TDNH góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DNVVN.
DN muốn có vốn tín dụng của NH phải có phương án sản xuất khả thi Các
DN phải tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả, đảm bảo trả được nợ và kinh doanh có lãi Bên cạnh đó, trong quá trình cho vay NH thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giải ngân buộc DN phải sử dụng vốn đúng mục đích
và có hiệu quả
1.1.3.3 TDNH góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho DNVVN.
Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn bẩy để DN tối ưu hoá hiệu quả sử dụng vốn Để sản xuất kinh doanh hiệu quả thì DN phải có một cơ cấu vốn tối ưu, kết cấu hợp lý nhất là nguồn vốn tự có và vốn vay nhằm tối đa hoá lợi nhuận tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất
1.1.3.4 TDNH góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của các DNVVN
Xu hướng hiện nay của các DN này là tăng cường liên doanh, liên kết, tập trung vốn đầu tư và mở rộng sản xuất, trang bị kỹ thuật hiện đại để tăng sức cạnh tranh Tuy nhiên để có một lượng vốn đủ lớn đầu tư cho sự phát triển trong khi vốn tự có lại hạn hẹp,các DNVVN chỉ có thể tìm đến tín dụng ngân hàng Chỉ có TDNH mới có thể giúp DN thưc hiện được mục đích của mình
là mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh
1.2 Chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại đối với các DNVVN 1.2.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng và mối quan hệ giữa chất lượng với hiệu quả tín dụng.
1.2.1.1 Quan điểm về chất lượng tín dụng.
Trang 10Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với mục đích khác nhau có nhiều quan điểm về chất lượng khác nhau Điều 3.1.1 của tiêu chuẩn ISO 9000:2000 định
nghĩa chất lượng là:“Mức độ của một tập hợp có đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu”
Từ định nghĩa trên có thể quan niệm : “ Chất lượng tín dụng là kết quả tổng hòa những thành tựu hoạt động tín dụng thể hiện ở sự phát triển ổn định vững chắc của nền kinh tế quốc dân, của ngân hàng và các khách hàng”
Như vậy chất lượng tín dụng thể hiện:
Đối với khách hàng : Tín dụng đưa ra phải phù hợp với yêu cầu của khách
hàng với lãi suất , kỳ hạn , phương thức thanh toán, hình thức thanh toán phù hợp, thủ tục đơn giản, thuận tiện nhưng luôn đảm bảo các nguyên tắc tín dụng
Đối với ngân hàng thương mại : Đưa ra các hình thức tín dụng phù hợp với
phạm vi , mức độ, giới hạn phù hợp với bản thân ngân hàng mình để luôn đảm bảo tính cạnh tranh, an toàn , sinh lời theo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ và
có lãi
Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội: Tín dụng phải luôn đảm bảo sự lưu
thông hàng hóa , góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, khai thác khả năng tiềm tàng của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế
Xét trên góc độ TDNH đối với DNVVN, thì chất lượng tín dụng đối với DNVVN được hiểu theo đúng nghĩa là ngân hàng đáp ứng được nhu cầu vay vốn của DNVVN đúng số lượng , đúng thời hạn, đồng thời DNVVN phải hoàn trả vốn và lãi cho ngân hàng đúng thời điểm đã cam kết
Trang 111.2.1.2.Mối quan hệ giữa nõng chất lượng với hiệu quả tớn dụng.
Chất lượng tớn dụng và hiệu quả tớn dụng là hai mặt của hoạt động tớn dụng Việc nõng cao chất lượng tớn dụng phải song hành với hiệu quả tớn dụng Hiệu quả tớn dụng là một trong những biểu hiện của hiệu quả kinh tế trong lĩnh vực ngõn hàng, đú là khả năng cung ứng tớn dụng phự hợp với yờu cầu phỏt triển của cỏc mục tiờu kinh tế xó hội và nhu cầu của khỏch hàng đảm bảo nguyờn tắc hoà trả nợ vay đỳng hạn, mang lại lợi nhuận cho ngõn hàng từ nguồn tớch luỹ do đầu tư tớn dụng và do đạt được cỏc mục tiờu tăng trưởng kinh tế Do đú hiệu quả tớn dụng là kết quả của mối quan hệ biện chứng giữa ngõn hàng – khỏch hàng vay vốn-nền kinh tế xó hội, cho nờn khi đỏnh giỏ hiệu quả tớn dụng cần phải xem xột cả ba phớa ngõn hàng, khỏch hàng và nền kinh tế
Hiểu đúng đợc bản chất của chất lợng tín dụng sẽ giúp các NHTM phân tích,
đánh giá đúng đợc hiệu quả tín dụng ở hiện tại cũng nh xác định đợc chính xác nguyên nhân của những tồn tại mà có thể đa ra những biện pháp quản lý hữu hiệu để có thể đứng vững trên thị trờng cạnh tranh
1.2.2 Cỏc chỉ tiờu đỏnh giỏ chất lượng tớn dụng đối với doanh nghiệp vừa
và nhỏ.
Trong quỏ trỡnh đỏnh giỏ CLTD , ngoài những chỉ tiờu định lượng cũn cú những chỉ tiờu định tớnh như quy chế, chớnh sỏch, mức độ thỏa món của ngõn hàng và khỏch hàng…Do đú, khi đỏnh giỏ CLTD phải sử dụng tổng hợp hệ thống cỏc chỉ tiờu
1.2.2.1.Cỏc chỉ tiờu định tớnh.
1.2.2.1.1 Qui trỡnh tớn dụng
Trang 12Quy trình tín dụng là các chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng tới CLTD Một ngân hàng có quy trình tín dụng hợp lý, cán bộ tín dụng thực hiện nghiêm chỉnh, áp dụng linh hoạt thì sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro và nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động tín dụng.
1.2.2.1.2.Khả năng cạnh tranh.
Khả năng cạnh tranh của một ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn tới CLTD của ngân hàng Một ngân hàng có khả năng cạnh tranh cao sẽ chiếm lĩnh được phần thị trường có chất lượng tín dụng tốt hơn và ngược lại năng lực thị trường của ngân hàng thấp thì ngân hàng sẽ phải chấp nhận phần thị trường
có rủi ro cao hơn
1.2.2.1.1.Các lợi ích không lượng hóa được cho các bên tham gia.
- Với doanh nghiệp: đó là sự phù hợp giữa sản phẩm tín dụng với yêu cầu của
khách hàng như lãi suất , kỳ hạn , phương thức thanh toán, hình thức thanh toán phù hợp, thủ tục đơn giản, thuận tiện nhưng luôn đảm bảo các nguyên tắc tín dụng
- Đối với ngân hàng thương mại : Sự phù hợp của khoản tín dụng với phạm
vi , mức độ, giới hạn phù hợp với bản thân ngân hàng mình để luôn đảm bảo tính cạnh tranh, an toàn , sinh lời theo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ và có lãi
-Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội: Là những lợi ích mà khoản tín dụng
mang lại cho xã hội, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, khai thác khả năng tiềm tàng của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ
và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế
1.2.2.2 Các chỉ tiêu định lượng.
Trang 13Có nhiều chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá chất lượng TDNH, trong đó có các chỉ tiêu cơ bản sau:
1.2.2.2.1 Lãi suất cho vay.
Khi lãi suất cho vay cao, chỉ có các DNVVN làm ăn có hiệu quả mới có khả năng tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng, các doanh nghiệp này cũng có trách nhiệm hơn với đồng vốn đi vay do đó chất lượng tín dụng của ngân hàng được nâng cao.Tuy nhiên nếu ngân hàng đưa ra lãi suất cho vay quá cao,
DN phải gánh một khoản chi phí lãi vay lớn dẫn đến giảm lợi nhuận, hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn, do đó hiệu quả vốn vay giảm Bên cạnh
đó, do lãi suất cho vay cao, NH sẽ cho vay được ít hơn, do đó giảm lợi nhuận tín dụng của ngân hàng, hiệu quả tín dụng sẽ giảm Trong thực tế, các ngân hàng phải thường xuyên cân nhắc và thay đổi mức lãi suất trong từng thời kỳ
để đảm bảo hai tiêu chí chất lượng và hiệu quả tín dụng
1.2.2.2.2 Nợ quá hạn và nợ xấu.
Để tìm hiểu hai chỉ tiêu này ta tìm hiểu cách phân loại nợ của NHNN.Theo Quyết định số: 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN
“V/v Ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụngdự phòng để xử
lý rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của tổ chức tín dụng” và quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của quyết định 493/2005/QĐ-NHNN thì dư nợ của các tổ chức tín dụng được chia làm 05 nhóm, cụ thể:
Nợ nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ trong hạn có khả
năng thu hồi đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn; Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; Các khoản nợ được cơ cấu lại tối thiểu trong vòng 01 năm đối với các khoản nợ trung và dài hạn, 03 tháng đối
Trang 14với các khoản nợ ngắn hạn và các kỳ hạn tiếp theo được đánh giá là có khả năng trả đầy đủ nợ gốc, lãi đúng hạn theo thời hạn đã được cơ cấu lại
Nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) bao gồm:Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến
90 ngày; Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu
Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày
đến 180 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại có thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2; Các khoản
nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng
Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai
Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:Các khoản nợ quá hạn trên
360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai
*Chỉ tiêu nợ quá hạn phản ánh rõ nhất chất lượng tín dụng tại một ngân
hàng Tỷ lệ nợ quá hạn càng thấp thì chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng càng cao và ngược lại
*Chỉ tiêu nợ xấu:
Trang 15-Khái niệm nợ xấu: Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày
22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước thì nợ xấu là nợ thuộc nhóm 3,4,5 theo cách phân loại của quyết định này
-Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa nợ xấu và tổng dư nợ của NHTM ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm Chỉ tiêu này được tính theo công thức dưới đây:
Chỉ tiêu này phản ánh nợ xấu của một NH, tỷ lệ này càng thấp càng tốt Thực
tế, rủi ro trong kinh doanh là không tránh khỏi, nên NH thường chấp nhận một tỷ lệ nhất định được coi là giới hạn an toàn Mức giới hạn này ở mỗi nước là khác nhau, riêng ở chi nhánh thành phố Hà nội hiện nay mức chấp nhận tỷ lệ là 5%
1.2.2.2.3 Doanh số cho vay (DSCV).
Doanh số cho vay đối với DNVVN là số tiền mà ngân hàng đã giải ngân cho DNVVN thực hiện hoạt động của mình trong một khoảng thời gian nhất định Giá trị và tốc độ của doanh số cho vay qua các năm phản ánh xu hướng và quy mô hoạt động tín dụng Để đánh giá DSCV ta có thể sử dụng chỉ tiêu sau:Mức tăng DSCV
DNVVN
=
DSCV DNVVN năm (t)
- DSCV DNVVN
năm(t-1) Chỉ tiêu này phản ánh sự thay đổi quy mô tín dụng đối với DNVVN:
Trang 16
Tỷ lệ tăng doanh số cho vay DNVVN phản ánh tốc độ thay đổi của doanh
số cho vay đối với DNVVN năm nay so với năm trước là bao nhiêu,từ đó cho biết xu hướng tín dụng cho DNVVN là mở rộng hay thu hẹp
Chỉ tiêu này cho biết DSCV đối với DNVVN chiếm bao nhiêu trong tổng doanh số cho vay của hoạt động tín dụng
1.2.2.2.4.Doanh số thu nợ ( DSTN).
Doanh số thu nợ là số vốn NH đã thu hồi được từ khách hàng vay vốn
trong một thời kỳ nhất định Nó phản ánh việc chấp hành hợp đồng tín dụng của khách hàng và công tác giám sát, quản lý việc sử dụng nguồn vốn của
NH Các chỉ tiêu đánh giá doanh số cho vay là :
Chỉ tiêu này thay đổi phản ánh công tác tổ chức ,quản lý các khoản vay cũng như công tác thu nợ của ngân hàng là tốt hay không
Trang 17
Tỷ lệ tăng doanh số thu nợ cho biết tốc độ thay đổi của doanh số thu nợ năm nay so với năm trước.
Chỉ tiêu này cho biết DSTN đối với DNVVN chiếm bao nhiêu trong tổng doanh số thu nợ của hoạt động tín dụng ,từ đó cho biết chất lượng của khoản tín dụng đối với DNVVN
1.2.2.2.5.Dư nợ tín dụng ( DNTD)
Dư nợ tín dụng đối với DNVVN là số tiền mà ngân hàng hiện còn đang cho doanh nghiệp vay tại một thời điểm nhất định ( hay là lượng vốn mà doanh nghiệp còn nợ ngân hàng tại một thời điểm cụ thể ) được xác định bằng số dư cuối kỳ trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng Các chỉ tiêu đánh giá dư nợ tín dụng là :
Chỉ tiêu này cho biết dư nợ cho vay DNVVN chiếm bao nhiêu phần trên tổng
dư nợ cho vay.Tỷ lệ này cao chứng tỏ ngân hàng ngày càng đầu tư cho DNVVN nhiều hơn
Trang 18Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng thay đổi phản ánh tốc độ thay đổi của dư
nợ tín dụng đối với DNVVN
1.2.2.2.6.Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cho DNVVN.
Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN, ngân hàng phải trích lập dự phòng
rủi ro tín dụng bao gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung.Đây cũng là chỉ
tiêu quan trọng phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng trong công tác xử
lý rủi ro
Số tiền phải trích lập dự phòng cụ thể theo quy định này là :
DP nhóm i =(Dư nợ DNVVN nhóm i - Giá trị TSĐB được khấu trừ ) × c %
Trong đó i= 2,3,4,5 tương ứng với các giá trị c là 5%, 20%, 50%, 100%
SốDP chung phải trích = ( Dư nợ DNVVN - Dư nợ nhóm 5 DNVVN)×0,75%
1.2.2.2.7.Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
Được xác định bằng doanh số thu nợ trên dư nợ bình quân của một NHTM
trong thời gian nhất định, thường là một năm
Chỉ tiêu này được tính theo công thức :
Doanh số thu nợ
Vòng quay vốn tín dụng = x 100%
Dư nợ bình quân
Đây là chỉ tiêu phản ánh số vòng chu chuyển của vốn vay (thường là 1
năm) Chỉ tiêu này càng tăng thì tính tổ chức, quản lý tín dụng càng tốt, chất
Trang 19lượng cho vay càng cao Tuy nhiên, chỉ tiêu này chỉ phản ánh một cách tương đối, vì nếu một NHTM này cho vay các DN sản xuất chiếm tỷ trọng lớn dư
nợ, thì chỉ tiêu này thấp hơn NHTM khác cho vay các DN thương mại Như vậy, không vì thế mà chất lượng cho vay của NHTM này kém hơn Từ thực tế trên, để có nét tương đối chính xác về chất lượng tín dụng thì các tiêu thức tính toán phải thống nhất, vòng quay tín dụng phải tính toán cho từng loại vay, thời hạn vay và từng đối tượng vay cụ thể
1.2.2.2.8 Chỉ tiêu lợi nhuận từ hoạt động tín dụng DNVVN.
Lợi nhuận là mục tiêu cao nhất và cuối cùng của mọi hoạt động NHTM.Vì vậy, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng DNVVN cũng là một chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng DNVVN
Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ các khoản vay đem lại lợi nhuận càng lớn cho ngân hàng, từ đó đánh giá được tính hiệu quả của khoản vay
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Để có thể nâng cao được chất lượng TDNH đối với doanh nghiệp ta phải hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TDNH để từ đó phát huy những ảnh hưởng tích cực cũng như hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực
1.2.3.1.Các nhân tố thuộc về ngân hàng.
- Chính sách tín dụng: Đây là kim chỉ nam cho hoạt động TDNH, nó có ý
nghĩa quyết định sự thành công hay thất bại của Ngân hàng Chính sách tín
Trang 20dụng phải phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của đảng và nhà nước, đồng thời kết quả hài hòa giữa quyền lợi của người gửi tiền, của ngân hàng và người sử dụng vốn vay
-Chất lượng thẩm định và quy trình cho vay: Một ngân hàng có quy trình tín
dụng hợp lý, cán bộ tín dụng thực hiện nghiêm chỉnh, áp dụng linh hoạt quy trình trong quá trình thẩm định thì sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro và nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động tín dụng
-Quy mô và khả năng huy động vốn của ngân hàng:Khả năng mở rộng tín
dụng phụ thuộc nhiều vào quy mô vốn tự có của ngân hàng, việc đáp ứng đủ nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp là tiền đề để doanh nghiệp trả nợ đầy đủ và đúng hạn
- Công tác tổ chức ngân hàng : Một NH có cơ cấu tổ chức đựơc sắp xếp một
cách khoa học, phân công công việc cụ thể, có sự liên kết giữa các bộ phận thì việc đáp ứng các yêu cầu của khách hàng sẽ được thực hiện kịp thời, không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh, quản lý có hiệu qủa và an toàn các khoản tín dụng
- Chất lượng nhân sự : Nghiệp vụ ngân hàng càng ngày càng phát triển đòi
hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao Việc tuyển dụng nhân viên có đạo đức tốt, giỏi chuyên môn nghiệp vụ sẽ giúp ngân hàng ngừa tối đa những sai phạm
có thểxẩy ra để đem lại một khoản tín dụng có chất lượng
- Công tác kiểm soát nội bộ : Đây là công tác mà ngân hàng nào cũng cần
tiến hành thường xuyên, liên tục nhằm duy trì chất lượng, hiệu quả kinh doanh của mình phù hợp với các chính sách, mục tiêu đã đề ra Ngân hàng cần sắp xếp một đội ngũ cán bộ giỏi chuyên môn, nghiệp vụ, trung thực làm nhiệm vụ này và có chế độ thưởng, phạt nghiêm minh Có như thế, công tác
Trang 21tín dụng mới được thực hiện đúng quy trình nhằm nâng cao chất lượng tín dụng
1.2.3.2.Các nhân tố thuộc về DNVVN.
- Vốn tự có của DNVVN: Vốn thể hiện khả năng tự chủ về tài chính của
DNVVN, khả năng thanh toán và chống đỡ rủi ro của doanh nghiệp Nếu vốn
tự có của doanh nghiệp thấp mà ngân hàng lại cho vay quá nhiều thì khoản tín dụng sẽ chứa nhiều rủi ro
-Năng lực của doanh nghiệp: Không một doanh nghiệp nào đi vay lại không
muốn món vay đem lại hiệu quả Nhưng nhiều khi do năng lực có hạn chế, họ không thực hiện được mục đích của mình và làm ảnh hưởng đến khoản tín dụng mà họ đã nhận từ ngân hàng
- Trình độ quản lý của các nhà doanh nghiệp: Sự không nhanh nhạy, linh
hoạt với những biến động thị trường của các nhà quản lý doanh nghiệp sẽ dẫn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không có hiệu quả, từ đó ảnh hưỏng đến chất lượng của khoản tín dụng đã sử dụng
- Đạo đức của người đi vay: Ngân hàng chỉ quyết định cho vay sau khi đã
phân tích kỹ các yếu tố có liên quan đến khả năng của người vay trong việc hoàn trả nợ và cách thức sử dụng vốn vay Thực tế, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng vốn vay không hợp lý dẫn đến không đạt đựơc hiệu quả sản xuất kinh doanh Vì vậy, công tác kiểm tra, giám sát của ngân hàng là rất quan trọng
1.2.3.3.Các nhân tố khác.
Ngoài những nhân tố chủ quan trên còn nhiều nhân tố khách quan mà tác động của nó cũng không nhỏ đến chất lượng của các khoản TDNH
Trang 22- Tác động của môi trường kinh tế : Nền kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, kích thích mở rộng tín dụng , doanh nghiệp thu hồi được vốn nhanh ,lợi nhuận thu cao và từ đó tăng khả năng hoàn trả nợ vay đầy đủ và đúng hạn Ngược lại khi nền kinh tế xấu đi doanh nghiệp gặp khó khăn, ảnh hưởng đến thời hạn trả nợ và khả năng hoàn trả món vay cho ngân hàng
- Tác động của môi trường pháp lý: Một hệ thống pháp lý đồng bộ, thống
nhất sẽ tạo một hành lang vững chắc giúp hoạt động của cả NH và DN diễn ra thuận lợi và hiệu quả, CLTD được đảm bảo và quy mô tín dụng có môi trường
mở rộng NH hoạt động trong lĩnh vực nhạy cảm, khi có tranh chấp xảy ra thì
cơ sở pháp lý sẽ giúp ngân hàng giải quyết mọi tranh chấp dễ dàng hơn
- Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước : Chính sách kinh tế trong hoàn
cảnh này thì có tác dụng cho cả ngân hàng và doanh nghiệp nhưng trong hoàn cảnh khác thì lại ngược lại Do vậy các chủ trương, chính sách của Nhà nước phải đúng đắn thì mới thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, là điều kiện cần để đạt được chất lượng và hiệu quả của các khoản tín dụng ngân hàng
-Môi trường tự nhiên xã hội: Khi các trường hợp bât khả kháng như: lũ lụt,
hạn hán, mưa bão, hỏa hoạn, làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bị đổ bể, dẫn đến khả năng hoàn trả các khoản nợ là khó khăn hoặc không thể, làm cho chất lượng của các khoản tín dụng bị giảm sút Một xã hội ổn định tạo được niềm tin với nhà đầu tư Các doanh nghiệp yên tâm bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh Ngân hàng yên tâm cho vay doanh nghiệp Vì thế việc giữ ổn định môi trường xã hội là điều vô cùng quan trọng
để nâng cao CLTD
1.2.4 Sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng tín dụng DNVVN.
Trang 23Hoạt động ngân hàng là lĩnh vực nhạy cảm và có tính ảnh hưởng dây truyền tới toàn bộ nền kinh tế Trong bảng cân đối của ngân hàng thì danh mục tài sản có cho vay thường chiếm từ 60- 70%, do đó để đảm bảo an toàn cho vay để khoản vay được hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi công tác nâng cao CLTD là điều vô cùng quan trọng không chỉ với ngân hàng mà với toàn
bộ nền kinh tế quốc dân
1.2.4.1.Về phía ngân hàng.
Việc nâng cao chất lượng tín dụng sẽ đem lại những lợi ích sau:
Thứ nhất, Nâng cao chất lượng tín dụng làm tăng khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng và các hoạt động khác Công tác nâng cao chất lượng tín dụng
tốt sẽ đem lại lợi ích cho cả hai phía khách hàng và ngân hàng, từ đó mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng được củng cố, tạo tiền đề để khách hàng sử dụng nhiều hơn nữa các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng
Thứ hai, Nâng cao chất lượng tín dụng để đảm bảo an toàn trong kinh doanh ngân hàng.Trong thực tế, các ngân hàng chỉ có thể hạn chế rủi ro đến mức
chấp nhận được để đảm bảo mức lợi nhuận mong muốn Nâng cao chất lượng tín dụng là một trong những biện pháp hiệu quả nhất và có ảnh hưởng mạnh
mẽ nhất tới mức độ rủi ro của ngân hàng vì khoản mục tài sản có cho vay vốn chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng tài sản của ngân hàng
Thứ ba, Nâng cao chất lượng tín dụng là nâng cao uy tín của ngân hàng
Ngân hàng có CLTD tốt, ít rủi ro sẽ có nguồn lợi nhuận lớn và ổn định, khả năng tài chính của ngân hàng không ngừng lớn mạnh làm tăng uy tín của ngân hàng trên thị trường trong và ngoài nước Có uy tín tốt ngân hàng sẽ dễ dàng hơn để thu hút khách hàng, nhà đầu tư và các đối tượng hữu quan khác
1.2.4.2 Đối với nền kinh tế.
Trang 24Ở Việt Nam , DNVVN chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế và có ảnh hưởng sâu rộng các vấn đề kinh tế - xã hội Chính vì vậy việc các DNVVN phát triển lành mạnh và bền vững là yếu tố vô cùng quan trọng để nền kinh tế tăng trưởng và phát triển ổn định và đúng hướng Như đã phân tích ở trên, tín dụng có vai trò vô cùng quan trọng đối với DNVVN , do đó công tác nâng cao chất lượng tín dụng là vô cùng cần thiết để tín dụng thực sự trở thành kênh hỗ trợ đắc lực cho DNVVN.
1.2.4.3 Đối với DNVVN.
Các DNVVN ở Việt Nam hiện nay đang gặp nhiều khó khăn trong việc tìm vốn nhất là những nguồn vốn trung dài hạn để mở rộng sản xuất theo chiều sâu Nâng cao chất lượng tín dụng đi kèm với hiệu quả tín dụng có nghĩa là nguồn vốn ngân hàng cung cấp cho doanh nghiệp đầy đủ, kịp thời với kỳ hạn , phương thức thanh toán, hình thức thanh toán phù hợp, thủ tục đơn giản, thuận tiền đi kèm dịch vụ tư vấn có chất lượng để doanh nghiệp triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh tốt hơn, nắm bắt và không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh
1.3 Kinh nghiệp nâng cao chất lượng tín dụng tại một số nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam.
1.3.1.Kinh nghiệm nâng cao chất lượng tín dụng tại một số nước trên thế giới.
* Kinh nghiệm của Trung Quốc.
Cũng như nhiều nước khác trong khu vực và trên thế giới, nợ xấu đã và
đang trở thành gánh nặng cản trở hệ thống ngân hàng Trung Quốc trên con đường nhập quốc tế Hàng năm, một lượng lớn các khoản vay trở thành nợ khó đòi ( chiếm 2-3% GDP) và hiện nay tổng các khoản nợ này chiếm khoảng
Trang 2517% GDP, theo các tổ chức xếp hạng tín dụng quốc tế thì đến năm 2015 tỷ lệ này sẽ lên tới 23%.
Thấy được tính cấp thiết của vấn đề, Chính phủ Trung Quốc đã tìm mọi cách
để nâng cao chất lượng tín dụng Chủ trương tiếp cận mềm mỏng đối với vấn
đề thu hồi nợ, Trung Quốc đã đưa ra chiến lược nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng như sau:
Một là , Tăng cường sự quản lý và giám sát của NHTW Trung Quốc:Xây
dựng một hệ thống đầy đủ các chỉ số rủi ro và lập kế hoạch xử lý các rủi ro tài chính.Xây dựng hệ thống đánh giá DN toàn diện cho các NHTM NN.Kiện toàn hệ thống pháp luật và các quy định có liên quan.Thành lập trung tâm thông tín tín dụng cấp nhà nước
Hai là , Đẩy mạnh cải cách NHTM NN:Tăng cường giám sát hoạt động cảu
hệ thống kiểm soát nội bộ trong các NHTM Chuyển đổi hoàn toán hoạt động của 4 NHTM NN lớn sang hình thức cổ phần, xây dựng cơ chế linh hoạt theo định hướng thị trường
Ba là , thành lập các công ty quản lý tài sản ( AMC) chuyên xử lý nợ quá
hạn, xây dựng một thị trường xử lý nợ xấu được quản lý chặt chẽ và hoạt động theo nguyên tắc thương mại
Các biện pháp trên được Trung Quốc đã và đang triển khai,bước đầu đã đạt
được những kết quả khả quan Nợ xấu năm 2007 giảm khoảng 232 tỷ USD và cuối năm 2008 nợ xấu giảm 13 tỷ USD so với năm 2007
* Kinh nghiệm của Singapore.
-Biện pháp kiểm tra, giám sát, quản lý thông tin tín dụng: Hầu hết các ngân
hàng ở Singapore đều sử dụng mô hình CAMEl để đánh giá tín dụng doanh nghiệp Trong đó có 5 yếu tố : C là capital( vốn), A là assets( tài sản), M là
Trang 26management( quản lý), E là Earnings( thu nhập), L là liquidity( thanh khoản) Đây là mô hình đánh giá khá toàn diện về một doanh nghiệp khi xét duyệt tín dụng.
- Phương pháp trích lập dự phòng: Phân loại dự phòng được đưa vào luật, các
cơ quan giám sát có quyền yêu cầu ngân hàng trích lập thêm dự phòng cho các khoản nợ cần chú ý
-Về giới hạn tín dụng: Ngân hàng không được cho vay quá 25% vốn tự có đối với các khách hàng đơn lẻ
- Để đối phó với rủi ro, người ta đã thành lập các công ty chuyên kinh doanh thông tin tín dụng.Các công ty này chuyên cung cấp các thông tin tín dụng, các dịch vụ tư vấn, phương pháp thu thập và sử dụng những thông tin để ngăn ngừa rủi ro tín dụng
Các biện pháp quản lý và nâng cao chất lượng tín dụng của Singapore được đánh giá là hiện đại và phù hợp với bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay Nhiều ngân hàng ở Việt Nam hiện nay đang áp dụng mô hình CAMEL của Singapore để đánh giá DN
1.3.2.Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Trung Quốc và Singapore là những nước trong khu vực, có đặc điểm kinh
tế xã hội khá giống với Việt Nam( đặc biệt là Trung Quốc) Cùng tiến trên con đường hội nhập, song những nước này đã có những bước đi khá thành công Qua những cách làm của họ, từ những thành công và những việc chưa làm được trong quá trình nâng cao chất lượng tín dụng, Việt Nam cần lưu ý những vấn đề mang tính bài học kinh nghiệm sau:
Trang 27- Nâng cao chất lượng tín dụng phải gắn vứoi cái cách lại toàn diện hệ thống NHTM, lành mạnh hóa hệ thống tài chính quốc gia và phải có sự tham gia của tất cả các ngành chức năng.
-Hoàn thiện các văn bản pháp quy cần thiết , tạo điều kiện thuận lợi cho việc
xử lý tài sản đảm bảo, chuyển giao quyền sở hữu
- Đầu tư phát triển hơn nữa trung tâm thông tin tín dụng CIC, xây dựng một thị trường thông tin tín dụng lành mạnh
- Kết hợp việc thành lập các AMC của các ngân hàng, của khu vực tư nhân với việc thành lập AMC của chính phủ để các công ty này hỗ trợ trong công tác nhau giải quyết nợ
Tóm lại: Là nước phát triển sau và đi sau nhiều nền kinh tế khác, Việt Nam
nên học hỏi các kinh nghiệp nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng từ nhiều nền kinh tế đặc biệt là những nền kinh tế có nhiều điểm tương đồng giống kinh tế Việt Nam Đây cũng là một bước rút ngắn và đi tắt đón đầu trên con đường hội nhập
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, tín dụng ngân hàng trở thành kênh hỗ trợ vốn quan trọng với DNVVN hơn bao giờ hết Song họat động tín dụng ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, do đó công tác nâng cao chất lượng tín dụng là vô cùng bức thiết với cả DN, NHTMCP Công Thương nói riêng và toàn hệ thống ngân hàng nói chung
Chương I của khóa luận đã đưa ra những lý luận về tín dụng ngân hàng và chất lượng tín dụng đối với DNVVN làm nền tảng để khóa luận đi sâu vào phân tích thực trạng nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại chi
Trang 28nhánh thành phố Hà Nội- Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam trong chương II của khóa luận.
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CHI NHÁNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI – NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 2.1 Giới thiệu khái quát về NHTMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh thành phố Hà Nội.
2.1.1.Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của NHTMCP Công Thương Việt Nam- Chi nhánh thành phố Hà Nội.
Chi nhánh thành phố Hà Nội ( CNTPHN) đặt trụ sở tại số 34 Hai Bà Trưng
- Quận Hoàn Kiếm Hà Nội, là thành viên hạch toán phụ thuộc NHTMCP Công Thương Việt Nam CNTPHN luôn là đơn vị dẫn đầu hệ thống về kết quả kinh doanh, về khả năng huy động vốn cũng như sử dụng vốn
Có thể khái quát quá trình hình thành và phát triển của CNTPHN – NHTMCP Công Thương Việt Nam như sau:
Trang 29Ngày 29/6/1988, tổng giám đốc NHCTVN quyết định số 198 NH TCCB thành lập chi nhánh Ngân hàng Công thương thành phố Hà Nội, đây chính là tiền thân của CNTPHN Trong giai đoạn này , cùng với thành quả ban đầu của công cuộc đổi mới, hoạt động kinh doanh của SGD đã thu được nhiều kết quả khả quan như củng cố và mở rộng mạng lưới, nâng cao trang thiết bị và cơ sở vật chất kỹ thuật, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ nên đã đạt được sự tăng trưởng mạnh mẽ Đến năm 1998, nguồn vốn huy động đạt 5572 tỷ đồng, tăng
133 lần so với năm 1988, dư nợ cho vay đạt 870 tỷ đồng , tăng 23 lần so với năm 1988
Ngày 30/12/1998 Chủ tịch hội đồng quản trị NHCTVN đã ký quyết số 134/QĐ HĐQT-NHCT về việc sắp xếp lại tổ chức hoạt động Sở giao dịch I- Ngân hàng Công thương Việt Nam theo điều lệ tổ chức và hoạt động của NHCT Theo đó, SGD I là đại diện uỷ quyền của NHCTVN, có con dấu riêng
và được mở tài khoản tại NHNN
Ngày 7/2009, Ngân Hàng Công Thương Việt Nam đổi tên thành Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam Sau khi chuyển sang hoạt động theo mô hình ngân hàng thương mại cổ phần, VietinBank thống nhất chuyển đổi và đổi tên tất cả Sở giao dịch, Chi nhánh, Văn phòng đại diện, đơn
vị sự nghiệp trong hệ thống Theo đó SGD1 cũng chính thức đổi tên thành NHTMCP Công Thương Việt Nam- Chi nhánh thành phố Hà Nội
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh thành phố Hà Nội – NH TMCP Công Thương VN.
Hiện nay, cơ cấu tổ chức của CNTPHN bao gồm: 1 giám đốc, 3 phó giámđốc, 12 phòng nghiệp vụ, 2 phòng giao dịch, 1 tổ nghiệp vụ bảo hiểm Nhiệm vụ chính của các phòng ban như sau:
Trang 30- Phòng tổng hợp và tiếp thị: Tổng hợp, phân tích báo cáo mọi tình hình
hoạt động của chi nhánh theo yêu cầu của giám đốc chi nhánh, giám đốc NHNN trên địa bàn, tổng giám đốc NHCTVN…
- Phòng tín dụng: Thực hiện cho vay, thu nợ với các tổ chức kinh tế, cá nhân
theo đúng cơ chế tín dụng của NHNN và hướng dẫn của Tổng giám đốc…
- Phòng kế toán: gồm phòng kế toán tài chính và kế toán ngân hàng:
Thực hiện mở tài khoản giao dịch với khách hàng, hạch toán mọi biến động
về vốn, tài sản của khách hàng và ngân hàng
-Phòng tổ chức: Nghiên cứu, đề xuất phương án sắp xếp bộ máy tổ chức của
chi nhánh, tuyển dụng lao động , điều động bố trí cán bộ nhân viên vào các vị trí phù hợp với năng lực, phẩm chất cán bộ và yêu cầu của nhiệm vụ kinh doanh
-Phòng kiểm soát : Kiểm tra kiểm toán toàn bộ hoạt động kinh doanh tại chi
nhánh ,kiến nghị những vấn đề cần bổ sung, sửa đổi về qui chế
-Phòng kho : Thực hiện thu chi tiền mặt bằng VNĐ và ngoại tệ, ngân phiếu
thanh toán, kịp thời chính xác đúng chế độ, thực hiện chi tiết quĩ, giao nhận tiền mặt với các quĩ tiết kiệm an toàn, chính xác
-Phòng thông tin : Triển khai các phần mềm ứng dụng của NHCTVN về
khai thác thông tin phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại chi nhánh, thực hiện bảo trì, bảo dưỡng hệ thống máy tính, thiết bị tin học để phục vụ công tác quản lí không bị ách tắc
-Phòng hành chính quản trị : Tổ chức công tác văn thư, lưu trữ theo đúng
qui định của nhà nước và của NHCTVN,tổ chức công tác bảo vệ cơ quan, xây dựng nội qui bảo vệ cơ quan, quản lí và điều hành xe ôtô, nội qui sử dụng điện, điện thoại tại sở
Trang 312.1.3.Tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh tại Chi nhánh thành phố Hà Nội – NH TMCP Công Thương VN.
Trong những năm gần đây, cùng với sự khởi sắc của nền kinh tế đất nước, CNTP HN đã thu được những thành quả đáng khích lệ trong hoạt động kinh doanh, ngày càng khẳng định là đơn vị đứng đầu trong toàn hệ thống
2.1.3.1.Tình hình huy động vốn.
Có thể khẳng định đây là mặt mạnh nhất của chi nhánh cả về số tương đối lẫn số tuyệt đối khi so sánh với các ngân hàng khác trên địa bàn.Tỷ trọng nguồn vốn huy động của chi nhánh thường chiếm từ 16-20% tổng nguồn vốn huy động của hệ thống NHCT và chiếm từ 25-30% tổng nguồn huy động của các ngân hàng thương mại trên địa bàn Kết quả huy động vốn được thể hiện
ở bảng dưới đây:
Bảng 2.1.Tình hình huy động vốn tại NHTMCP Công Thương Việt Nam-
Chi nhánh thành phố Hà Nội.
Đơn vị : tỷ đồng
Trang 32(Nguồn: Phòng tổng hợp NHTM CPCT Việt Nam- Chi nhánh TP Hà Nội)
Biểu đồ 2.1.Tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh thành phố Hà Nội
từ năm 2007- 2009.
(Nguồn: Phòng tổng hợp NHTM CPCT Việt Nam- Chi nhánh TP Hà Nội)
Trang 33Theo số liệu trên ta thấy tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh tăng trưởng không ổn định qua các năm.
Năm 2008,mặt bằng lãi suất chung tăng cao làm cho hoạt động huy động vốn của các ngân hàng gặp nhiều khó khăn Mặc dù vậy, tổng huy động vốn trong năm 2008 tại chi nhánh lại tăng mạnh ( tăng13,13%, tương đương 2082
tỷ đồng) so với năm 2007 Điều này có được là do chính sách lãi suất linh hoạt và sự đa dạng về các sản phẩm huy động vốn của Vietinbank nói chung
và chi nhánh nói riêng
Năm 2009, nguồn vốn tiền gửi giảm từ 17940 tỷ đồng xuống còn 16718 tỷ đồng, tương đương giảm 6,81%, nguyên nhân của sự sụt giảm này là do vàng, ngoại tệ liên tục lên giá, cùng với sự sôi động trở lại của thị trường chứng khoán nên nhiều người đã chọn các kênh đầu tư này để bỏ vốn, thay vì gửi tiết kiệm Thậm chí, một số khách hàng còn rút tiền tiết kiệm để mua USD, vàng vì lo ngại lạm phát cao bùng phát, dẫn đến sự thiếu hụt thanh khoản chung của hầu hết các tổ chức tín dụng
Trang 34(Nguồn: Phòng tổng hợp NHTM CPCT Việt Nam- Chi nhánh TP Hà Nội)
Biểu đồ 2.2.Doanh số cho vay, thu nợ và dư nợ củaChi nhánh TP Hà Nội
– NHTMCP Công Thương Việt Nam)
(Nguồn: Phòng tổng hợp NHTM CPCT Việt Nam- Chi nhánh TP Hà Nội)
Thông qua bảng số liệu và biểu đồ ta thấy:
Về doanh số cho vay: Doanh số cho vay của chi nhánh trong 3 năm qua
tăng mạnh Cụ thể năm 2008 tăng 3055 tỷ đồng ( tương đương 41,39%) so với năm 2007, năm 2009 tăng 3597 tỷ đồng tương đương 34,47% so với năm 2008.Qua các năm, doanh số cho vay đã từng bước tăng lên hợp lý với quy
mô vốn huy động Năm 2009 tốc độ tăng doanh số cho vay tăng ít hơn so với năm 2008, điều này xuất phát từ việc nền kinh tế đang dần hồi phục, bên cạnh
đó ngân hàng nhà nước có chính sách hạn chế giải ngân vào cuối năm 2009.
Về doanh số thu nợ: năm 2007, doanh số thu nợ là 7056tỷ đồng Đến năm
2008 doanh số thu nợ là 9654 tỷ đồng, tăng 36,82 tỷ đồng so với năm 2007, tốc độ tăng là 25,1% Năm 2009 , doanh số thu nợ tăng 1416 tỷ đồng tương đương tăng 14,66% so với năm 2008 Đây là những con số tăng trưởng đáng ghi nhận, song nó chưa tương xứng với tốc độ tăng của doanh số cho vay của chi nhánh
Trang 35Về tổng dư nợ cho vay: Năm 2007 , tổng dư nợ là 3101 tỷ đồng, sang năm
2008 con số này là 3882 tỷ đổng, tương ứng với tốc độ tăng 25,18.Dư nợ tín dụng dụng tăng trưởng thấp do các doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh, các hoạt động sản xuất kinh doanh bị ngưng trệ và
đi xuống nhu cầu vốn tín dụng vì thế mà cũng giảm đi Đến 2009, nền kinh tế bắt đầu thoát ra khỏi khủng hoảng, tín dụng đã tăng trưởng mạnh trở lại, mặc
dù NHNN đã hạn chế giải ngân vào giai đoạn cuối năm nhưng dư nợ tín dụng của chi nhánh vẫn tăng lên với con số ấn tượng là 56,18% so với năm 2008
Bảng 2.3 Cơ cấu dư nợ cho vay tại Chi nhánh TP Hà Nội – NHTMCP
Công Thương Việt Nam.
Đơn vị : Tỷ đồng
(Nguồn: Phòng tổng hợp CNTPHN– NHTMCP Công Thương Việt Nam)
Trang 36Cơ cấu cho vay ngắn hạn liên tục tăng lên trong khi cơ cấu cho vay trung
và dài hạn giảm đi Đây là sự nỗ lực của ngân hàng trong việc điều chỉnh cơ cấu cho vay Bên cạnh đó , trong cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế, các doanh nghiệp nhà nước vẫn chiếm ưu thế , tuy nhiên tỷ trọng này đang giảm
đi đáng kể, chi nhánh đang hướng vào cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, xu hướng này thể hiện rất rõ rệt trong năm 2009.Dư nợ theo VNĐ và ngoại tệ quy đổi cũng biến động theo sự biến động của tổng dư nợ,dư nợ chủ yếu là VNĐ Cơ cấu này vẫn chưa có xu hướng biến chuyển qua 3 năm
Nhìn chung, tình hình tín dụng của chi nhánh đã có những chuyển biến tích cực và ngày càng đạt được những thành tựu khả quan trong việc tăng trưởng doanh số cho vay, dư nợ và điều chỉnh cơ cấu dư nợ ngày càng phù hợp hơn
2.1.3.3 Tình hình kết quả kinh doanh của Chi nhánh TP Hà Nội – NHTMCP Công Thương Việt Nam.
Chi nhánh TP Hà Nội là một trong những chi nhánh hoạt động hiệu quả nhất trong hệ thống NHTMCP Công Thương Việt Nam.Chi nhánh thành phố Hà Nội trong 3 năm qua đã đạt được kết quả kinh doanh rất đáng khích lệ , điều này được thể hiện qua bảng số liệu dưới đây
Bảng 2.4 Thu nhập và chi phí của Chi nhánh TP Hà Nội – NHTMCP
Công Thương Việt Nam.
Đơn vị : Tỷ đồng
Trang 37(Nguồn: Phòng tổng hợp NHTM CPCT Việt Nam- Chi nhánh TP Hà Nội)
Biểu đồ 2.4.Thu nhập và chi phí của Chi nhánh TP Hà Nội – NHTMCP
Công Thương Việt Nam.
(Nguồn: Phòng tổng hợp NHTM CPCT Việt Nam- Chi nhánh TP Hà Nội)
Nhìn vào bảng số liệu và biểu đồ trên ta thấy lợi nhuận của chi nhánh liên tục tăng mạnh qua các năm Năm 2008 , lợi nhuận trước thuế của chi nhánh
là 488,4 tỷ đồng tăng 58,8 % so với năm 2007, năm 2009 lợi nhuận trước thuế
là 601 tỷ đồng tăng 23,05% so với năm 2008 Đây là những con số đầy ấn tượng và đáng ghi nhận , đặc biệt trong năm 2008 ngành ngân hàng phải đối mặt với nhiều khó khăn
2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng đối với các DNV&N tại Chi nhánh thành phố Hà Nội – NH TMCP Công Thương VN.
Chi nhánh thành phố Hà Nội NHTMCP Công Thương Việt Nam trong những năm vừa qua đã và đang tiếp tục có những chính sách quan tâm, hỗ trợ cho các DNVVN đến vay vốn Số lượng DNVVN có quan hệ tín dụng với ngân hàng ngày một tăng lên
2.2.1 Quá trình thực hiện quy trình tín dụng.
Trang 38Hiện tại, quy trình cho vay của Chi nhánh TP Hà Nội tuân theo quy trình chuẩn do hội sở Vietinbank đưa ra, quy trình này gồm 5 bước như sơ đồ dưới đây :
Trang 39Về phương diện lý thuyết, quy trình này đã khá hoàn chỉnh Tuy nhiên quá trình áp dụng quy trình lại nảy sinh nhiều vấn đề chưa sát thực tiễn, một số quy định về quy chế cho vay hiện còn nhiều điểm thiếu sót có thể gây ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng khoản vay.Cụ thể:
- Chi nhánh chưa chủ động tìm kiếm khách hàng là các DNVVN có uy tín, phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả.Các khoản vay chủ yếu các
DNVVN chủ động nộp đơn xin vay vốn tại ngân hàng.Để chủ động nâng cao chất lượng tín dụng thì chi nhánh nên chủ động tìm kiếm KH tốt, đây là một biện pháp tốt để hạn chế rủi ro tín dụng
-Về điều kiện vay vốn : Những khoản vay ngắn hạn không đảm bảo hạn
không cần có vốn chủ sở hữu tham gia Việc không yêu cầu vốn chủ sở hữu tham gia tỷ lệ tối thiểu trong phương án vay vốn dễ dẫn đến trách nhiệm của
DN đối với khoản vay bị giảm sút Có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng tín dụng của khoản vay Đây là một hạn chế lớn của điều kiện vay vốn mà chi nhánh nên sửa đổi
-Về hồ sơ vay vốn: Khách hàng là tổ chức kinh tế sẽ phải nộp tối đa tới 30
khoản mục giấy tờ để xin cấp vốn, thông thường là 20 khoản mục giấy tờ Với những quy định hiện hành,những thủ tục vay vốn mà chi nhánh yêu cầu là cơ
sở tốt để thẩm định và nâng cao chất lượng tín dụng Tuy nhiên việc yêu cầu quá nhiều loại hồ sơ giấy tờ dẫn đến những bất tiện và tốn thời gian cho DN trong quá trình chuẩn bị hồ sơ, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 40của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới khả năng hoàn trả đúng hạn cả vốn và lãi vay của DN, làm giảm chất lượng khoản tín dụng.
Cấp GHCV trước xem xét cho vay
Không thẩm đinh rủi ro 3 ngày 14 ngày 3 ngày 2 ngày
Phải thẩm dịnh rủi ro 5 ngày 15 ngày 3 ngày 15 ngàyHội đồng tín dụng cơ
sở xét duyệt
7 ngày 15 ngày 6 ngày 14 ngày
Có thể thấy thời gian để phân tích và thẩm định tín dụng theo quy định của chi nhánh là quá ngắn, dễ gây ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định của cán bộ tín dụng Thực tế phần lớn cán bộ tín dụng tại chi nhánh đều hoàn thành thẩm định muộn hơn một vài ngày so với quy định.Chi nhánh cần sửa đổi quy định này cho phù hợp hơn với thực tế công việc của cán bộ tín dụng, nhằm đảm bảo chất lượng công tác phân tích- thẩm định
+Trách nhiệm thẩm định tín dụng: Quyết định 222/ HC-NHCT về quy chế
cho vay tổ chức kinh tế có ghi “ Người thẩm định phải độc lập, khách quan, chịu trách nhiệm về nội dung thẩm định và ý kiến của mình” Trên thực tế chi
nhánh không có những tiêu chuẩn cụ thể về mức độ độc lập và khách quan cũng như trách nhiệm cụ thể của cán bộ thẩm định Xét thấy cần quy định rõ hơn trách nhiệm và quyền hạn của cán bộ thẩm định để nâng cao công tác thẩm định tín dụng