“Hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội, từ sử dụng một cách phổ biến sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao đông xã hội cao.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
-oOo -CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
§Ò tµi:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ CÔNG TÁC HIỆN
ĐẠI HOÁ TẠI CỤC HẢI QUAN LẠNG SƠN
Giáo viên hướng dẫn : TS.BÙI ĐỨC THỌ
Sinh viên thực hiện : NGUYÊN CÔNG TUÂN
Lớp : QLKT44B
Chuyên ngành : QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI 5-2006
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh đất nước ta đang trong giai đoạn xây dựng và pháttriển kinh tế đất nước, chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho quá trình hộinhập vào nền kinh tế khu vực và kinh tế thế giới, chuẩn bị gia nhập WTO,hoạt động của ngành Hải quan Lạng Sơn trong 10 năm tuy đã có nhiều nỗlực trong thực hiện cải cách thủ tục và đã đạt được những kết quả đángkhích lệ, song cần tiếp tục được quan tâm đầu tư để thực hiện cải cách thủtục mạnh mẽ hơn nữa mới đáp ứng được yêu cầu hiện nay Hoạt động Hảiquan đảm bảo rất nhiều yêu cầu: vừa tạo thuận lợi cho thương mại, vừa phảibảo đảm sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước, chống buôn lậu và gian lậnthương mại, góp phần bảo đảm nguồn thu ngân sách quốc gia từ thuế xuấtnhập khẩu, góp phần bảo hộ và thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển.Kinh tế đất nước càng tham gia sâu vào quá trình hợp tác và cạnh tranh củanền kinh tế thế giới thì hoạt động của Hải quan càng phải phục vụ tốt hơncho tiến trình đó
Trước yêu cầu của khối lượng công việc của ngành Hải quan ngàycàng tăng lên một cách nhanh chóng như vậy, đòi hỏi ngành Hải quan cầnphải tiếp tục cải tiến mạnh mẽ, đó là xây dựng ngành Hải quan thành mộtngành có lực lượng chuyên nghiệp và có chuyên môn sâu, áp dụng nhữngphương tiện kỹ thuật hiện đại trong các hoạt động nghiệp vụ, hoạt độngminh bạch liêm chính và có hiện quả nhằm nâng cao năng lực quản lý, thựchiện tốt các chính sách kinh tế của Nhà nước, chống buôn lậu, gian lậnthương mại, ngăn chặn buôn bán, vận chuyển hàng hóa cấm có hiệu quả,ngăn chặn các giao dịch thương mại bất hợp pháp, đảm bảo nguồn thu ngânsách quốc gia góp phần bảo vệ trật tự an toàn xã hội, lợi ích người tiêu dùng,
an ninh Quốc gia, môi trường…
Trang 3Để đáp ứng được nhu cầu hội nhập vào nền kinh tế thế giới, Hải quanLạng Sơn là một bộ phận nằm trong hệ thống Hải quan Việt Nam cũngphải nỗ lực đổi mới mình theo hướng hiện đại hóa chung của toàn ngành.
Với phương châm hành động của Hải quan Việt Nam là “Thuận lợi – Tận tụy – Chính xác".
Hải quan Lạng Sơn đã bước đầu thực hiện công cuộc hiện đại hóatheo mục tiêu đã định đó là: Tin học hóa - Tự động hóa thủ tục Hải quannhằm giảm bớt những sai sót do sự chồng chéo gây ra, triển khai công cuộchiện đại hóa trang thiết bị nghiệp vụ cơ sở vật chất đặc biệt xây dựng lựclượng Hải quan chính quy theo hướng hiện đại Chính vì vậy vấn đề đặt racủa ngành Hải quan Lạng Sơn là phải sớm đáp ứng được yêu cầu mà thực tếđòi hỏi đó là: cần phải “Hiện đại hóa ngành Hải quan theo xu thế mới”
Đó cùng là lý do mà chúng ta cần đi sâu nghiên cứu phân tích làm rõ
về tình hình thực tế mà Cục Hải quan Lạng Sơn đã và đang thực hiện Đểhoàn thành bài viết này em đã có sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo TS.Bùi Đức Thọ Tuy nhiên do thời gian và tài liệu cũng như năng lực có giớihạn bài viết còn nhiều thiếu sót kính mong các thầy các cô hướng dẫn thêm
để bài viết được tốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN
I- KHÁI NIỆM VỀ HIỆN ĐẠI HÓA VÀ HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN.
1 Khái niệm về hiện đại hóa:
“Hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạtđộng sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội, từ sử dụng mộtcách phổ biến sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổbiến sức lao động với công nghệ, phương tiện hiện đại, dựa trên sự pháttriển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất laođông xã hội cao
Quan niệm nêu trên cho thấy, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở nước ta phải kết hợp chặt chẽ hai nội dung công nghiệp hoá và hiện đạihoá trong quá trình phát triển.Quá trình ấy, không chỉ đơn thuần phát triẻncông nghiệp mà còn phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành,từng lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo hướng kỹ thuật và côngnghệ hiện đại Quá trình ấy không chỉ tuần tự trải qua các bước cơ giói hoá,
tự đông hoá, tin học hoá, mà còn sử dụng kết hợp thủ công truyền thông vớicông nghệ hiện đại ,tranh thu đi nhanh vào hiện đại hoá ở những khâu có thểmang tính quyết định.”(Giáo trình kinh tế chính trị_NXB chính trị quốc gia)
2 Hiện đại hoá trong lĩnh vực Hải quan
a Hiện đại hoá trong lĩnh vực Hải quan là một quá trình đổi mới Đó
là sự đổi mới đồng bộ cả về quan điểm, thủ tục, thể lệ, thiết bị kỹ thuật vàthái độ cũng như tác phong công tác Là quá trình ứng dụng khoa học côngnghệ cũng như kỹ thuật hiện đại (đặc biệt là tin học ) vào các hoạt độngtrong lĩnh vực Hải quan nhằm tin học hoá, tự động hoá về thủ tục Hải quan
Trang 5để nâng cao hiệu quả công việc và giảm bớt những sai sót do sự chồng chéo,trung lắp gây ra.
Hiện đại hoá Hải quan còn là hiện đại cả về cơ sở vật chất, trang thiết
bị nghiệp vụ cũng như phải xây dựng một lực lượng hải quan chính quyhiện đại cả về chất lượng cũng như số lượng
Vì vậy quá trình hiện đại hoá hải quan luôn đòi hỏi phải có tính đồng
bộ, phải có kế hoạch cụ thể cho từng giai đoạn và cần phải biết áp dụng họchỏi kinh nghiệm của những quốc gia đi trước
b Tính tất yếu phải tiến hành cải cách, phát triển và hiện đại hoángành Hải quan
- Ngành hải quan phải cải cách, phát triển và hiện đại hoá để nâng caonăng lực hải quan( năng suất , hiệu quả công tác ) nhằm giả quyết mâuthuẫn giữa sự tăng lên nhanh chóng của khối lượng hàng hoá XNK, phươngtiện, hành khách xuất nhập cảnh với nguồn nhân lực hiện có
- Ngành hải quan phải cải cách, phát triển và hiện đại hoá để nângcao năng lực quản lý, chất lượng phục vụ của hải quan nhằm tạo thuận lợi,thông thoáng cho hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư, du lịch, nâng cao khảnăng cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước
- Ứng dụng tiến bộ của khoa học công nghệ thông tin và sử dụng cáctrang thiết bị kỹ thuật hiện đại trong công tác quản lý đang là xu thế chungcủa thời đại đẩy nhanh tốc độ xử lý thông tin và nâng cao hiệu quả quản lý
Để thực hiện xu thế này đòi hỏi tính đồng bộ rất cao về thể chế, con người,
tổ chức, phương pháp quản lý…Đặt ra yêu cầu phải cải cách, phát triển vàhiện đại hoá hải quan,
II- NỘI DUNG VỀ HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUAN
1 Nội dung về tin học hoá và tự động hoá
.Trong các ngành, cơ quan tham gia vào hoạt động kinh tế đối ngoạicủa nước ta thì ngành Hải quan chiếm một vị trí quan trọng rất quan trọng,
Trang 6có trách nhiệm tạo ra một môi trường thuận lợi tối đa cho các thành phầnkinh tế tham gia tham gia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc dân đồngthời vẫn đảm bảo quản lý nhà nước về hải quan một cách chặt chẽ Vì vậyviệc nhận thức một cách đầy đủ về lợi ích và xác định rõ các lĩnh vực để ápdụng công nghệ thông tin trách nhiệm chung của toàn ngành.
Sự phát triển của công nghệ mới và cơ sở hạ tầng về viễn thông, nhưcác công nghệ Thương mại điện tử, sẽ cung cấp cho cơ quan hải quan mộtphương pháp rẻ tiền để nhận và phổ biến thông tin Các ứng dụng công nghệnày phối hợp các biện pháp chiến lược đảm bảo cho cơ quan Hải quan cóthể vận dụng nhiều phương tiện trao đổi thông tin khác nhau
1.1 Lợi ích của việc áp dụng công nghệ thông tin
1.1.1 Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra giám sát của hải quan
Một trong những nhiệm vụ chính của ngành Hải quan là kiểm tragiám sát Hải quan một cách có hiệu quả để chống thất thu thuế, buôn lậu vàgian lận thương mại Do nguồn lực có hạn nên cơ quan Hải quan không thểthực hiện việc kiểm tra tất cả 100% các lô hàng nhập khẩu Vì vậy, để thựchiện chức năng kiểm tra giám sát của mình, Hải quan buộc phải lựa chọntrọng điểm Cơ quan Hải quan có thể đánh giá một cách thủ công mức độ rủi
ro và đưa ra các tiêu chí lựa chọn để chọn ra các lô hàng cần được kiểm tra.Tuy nhiên, khi mà các chức năng giám sát hàng hoá và đăng ký tờ khai hảiquan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu đã được tự động hoá thì các công việclựa chọn như thế được thực hiện trên cơ sở nhiều thông tin hơn Những bằngchứng và thông tin mà hải quan thu thập được đều được dựa vào máy vi tính
để xử lý trong quá trình chọn lựa Khả năng phát hiện các hiện tượng gianlận theo đó mà tăng lên trong điều kiện đã được tự động hoá Các yếu tố lựachọn sẽ được phân tích một cách hệ thống hơn, chính xác hơn và định kỳhơn
Trang 7Bên cạnh đó, Công nghệ thông tin còn là để giúp phát hiện ra trị giánhập khẩu khai báo ngoài khung giá quy định.
1.1.2 Nâng cao hiệu quả công tác thông quan hàng hoá xuất nhập khẩu
Một lợi ích khác chính mà tự động hoá mang lại đối với cơ quan hảiquan là nâng cao hiệu quả công tác thông quan, cụ thể:
- Tăng nâng suất làm việc cho cả cơ quan hải quan lẫn chủ thể hoạtđộng xuất nhập khẩu
- Sử đụng hiệu quả hơn các nguồn lực
- Giảm chi phí cho cả phía hải quan lẫn chủ thể hoạt động xuất nhậpkhẩu do:
+ Giải phóng hàng nhanh;
+ Thông tin kịp thời, chính xác hơn
+ Khả năng thi hành pháp luật tốt hơn
Giảm ách tắc hàng hoá tại cảng, cửa khẩu và sân bay
Tự động hoá thủ tục hải quan kết hợp với trao đổi thông tin điện tửcho phép chủ hàng thực hiện khai báo thông tin về hàng hoá sẽ xuất haynhập khẩu trước khi hàng hoá thực nhập điều này cho phép cơ quan hải quankiểm tra được các thông tin và thẩm định khả năng rủi ro ban đầu với lôhàng nhập khẩu Các thông tin có sẵn, cơ quan hải quan có thể quyết địnhcho giải phóng hàng ngay khi hàng tới cửa khẩu nhập và thông qua các kỹthuật thương mại điện tử để gửi tới doanh nghiệp thông báo giải phónghàng
1.1.3 Thống nhất trong việc thực hiện Luật Hải quan
Các qui định quản lý nhà nước về Hải quan đối với hoạt động xuấtnhập khẩu ngày càng nhiều và phức tạp Nếu quản lý một cách thủ công, cơquan hải quan sẽ gặp nhiều khó khăn và họ không đảm bảo được mình đãthực hiện đúng và đầy đủ các quy định hiện hành có liên quan tới thủ tụcthông quan hàng hoá xuất nhập khẩu hay chưa Trong điều kiện đã được tin
Trang 8học hoá, mọi thủ tục hải quan đều thực hiện theo một cách thức nhất định và
do đó các quy định của Nhà nước về hoạt động Hải quan đều được thực hiệnthống nhất, theo đó các chủ thể hoạt động xuất nhập khẩu đều được đối xửnhư nhau
1.1.4 Nâng cao hiệu quả công tác thu thuế
Đối với nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam thì các khoảnthu từ thuế xuất nhập khẩu và các khoản thu khác chiếm một tỷ lệ khá lớncủa ngân sách quốc gia Tính và thu thuế đầy đủ có ý nghĩa sống còn đối vớinền kinh tế đất nước Tự động hoá quá trình thu thuế giúp cho việc tính vàthu thuế được kịp thời, đồng thời phát hiện và giải quyết nhanh chóng đốivới các khoản nợ thuế lớn hoặc có khả năng khó đòi Nếu công việc này làmmột cách thủ công thì việc theo dõi thu thuế và nợ thuế trở nên khó khăn và
dễ bị sai lầm
1.1.5 Nâng cao hiệu quả của số liệu thống kê
Cơ quan Hải quan là nơi cung cấp nguồn số liệu về hoạt động xuấtnhập khẩu cho Lãnh đạo Nhà nước, cán bộ ban ngành liên quan Các thôngtin được thu thập một cách thủ công sẽ rất khó khăn khi đánh giá và tổ chứcsắp xếp lại Hầu như người ta phải mất rất nhiều công sức để tổng hợp cácthông tin có liên quan và có ý nghĩa lại với nhau từ các loại giấy tờ khácnhau Đây là sự khác nhau căn bản so với việc lưu trữ các thông tin bằng kỹthuật Công nghệ thông tin
Một lợi thế khác của Công nghệ thông tin là các thông tin được lưutrữ điện tử có xu hướng chính xác hơn vì được kiểm tra giá trị và độ tin cậy.Điều này sẽ đảm bảo rằng các số liệu phân tích cũng chính xác hơn
1.1.6 Nâng cao hiệu quả công tác thống kê hoạt động xuất nhập khẩu
Hầu hết các cơ quan Hải quan các nước đều phải có trách nhiệm thuthập các thông tin về hoạt động xuất nhập khẩu Rất nhiều thông tin này sẽđược dùng để làm báo cáo số liệu thống kê về hoạt động xuất nhập khẩuquốc gia Nhiều chính sách kinh tế, chính trị của một nước được đưa ra phải
Trang 9dựa trên cơ sở các thông tin thống kê mới nhất về hoạt động xuất nhập khẩu.Tuy nhiên, nếu không sử dụng Công nghệ thông tin thì các công việc này rấtkhó thực hiện được Các số liệu thống kê tổng hợp và xuất nhập khẩu thuđược đều phải tổng hợp từ các tờ khai hàng hoá xuất nhập khẩu Nếu việckhai báo Hải quan không được thực hiện thông qua các máy tính thì việc thuthập dữ liệu sẽ mất rất nhiều thời gian Tuy nhiên, trong điều kiện đã được
vi tính hoá, các số liệu thống kê ngoại thương đều được sắp xếp theo cấutrúc định sẵn và được thực hiện ngay tại cửa khẩu xuất hay nhập Điều nàylàm cho công việc thống kê đỡ tốn kém hơn và thông tin thống kê thu đượcchính xác và cập nhật hơn, do đó mà giúp cho các cơ quan quản lý Nhànước khác có thể hoạch định hoặc triển khai các chính sách cần thiết đượckịp thời
1.1.7 Nâng cao chất lượng của thông tin
Một lợi ích nữa mà Công nghệ thông tin mang lại là tính chính xáccủa thông tin do nó kiểm tra được giá trị và độ tin cậy của thông tin trongquá trình thu thập và lưu trữ thông tin Nếu biết được các thông tin ngay khihàng hoá còn nằm trong phạm vi kiểm tra giám sát của cơ quan Hải quan thìHải quan dễ dàng xử lý trong trường hợp có mâu thuẫn phát sinh Việc kiểmtra này sẽ đảm bảo được độ tin cậy của các số liệu ban đầu lưu trữ trong hệthống vi tính của Hải quan
Việc đánh giá số liệu để đảm bảo các thông tin thiếu chính xác khôngđược truy nhập vào hệ thống vi tính là cực kỳ quan trọng và quyết định lợiích của Công nghệ thông tin mang lại Nếu các thông tin sai hoặc không cógiá trị được nhập vào hệ thống vi tính thì dẫn đến kết quả là mọi công việc
xử lý thông tin đó đều vô giá trị và làm lãng phí công sức và tiền của
1.2 Hạ tầng CNTT
a Hệ thống an ninh an toàn mạng và dữ liệu
Trang 10Mô hình khai điện tử hiện tại :
An ninh, an toàn mạng và dữ liệu Hải quan là công việc cực kỳ quantrọng của các Trung tâm dữ liệu hiện tại và tương lai, nó được coi như đảmbảo an ninh, an toàn dữ liệu Quốc gia về hoạt động Hải quan Do vậy, nhữngnăm qua Ngành Hải quan đã quan tâm chỉ đạo xây dựng các đề án về antoàn, an ninh cho các Trung tâm dữ liệu
Để đảm bảo an ninh, an toàn cho hệ thống chung của ngành, Tổng cục
đã hoàn thành việc lắp đặt hệ thống Backup online cho CSDL tại Trung tâm,lắp đặt hệ thống an toàn an ninh dữ liệu
Tuy nhiên, đến nay số lượng các hệ thống an toàn, an ninh cho mạngmáy tính đã được xây dựng còn rất ít, chủ yếu là xây dựng Hệ thống phòngchữa cháy cho các phòng làm việc bình thường, hệ thống chóng sét chỉ cómột số đơn vị Hải quan trong ngành quan tâm xây dựng Các hệ thống khácnhư an ninh mạng, an ninh dữ liệu, lưu điện tổng ít được quan tâm xâydựng
b Hệ thống mạng máy tính của Hải quan Việt Nam
Tính đến nay, Hải quan Việt Nam đã trang bị được 158 máy chủ,khoảng 3000 máy tính cá nhân hoạt động trên hai hệ thống mạng sau:
Trang 11Hệ thống mạng máy tính cục bộ
Các mạng máy tính cục bộ (LAN – Local Area Network) đã được xâydựng ở hầu hết các Văn phòng Cục Hải quan khi thực hiện luật Hải quan vớitổng số mạng cục bộ là 114 mạng với kiến trúc hình sao STAR, tốc độ10Mbs, thiết bị nối đầu cuối là: Switch/Hub
Hệ thống mạng diện rộng ngành Hải quan (WAN)
* Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, chuẩn bị triển khai hệ thống tự độnghoá quy trình nghiệp vụ Hải quan, năm 2003 Hải quan Việt Nam đã tiến
hành khảo sát xây dựng “Đề án mạng diện rộng ngành Hải quan”, triển
khai lắp đặt mạng diện rộng (WAN) tại một số cục Hải quan tỉnh, thành phố
có lưu lượng hàng hoá xuất nhập khẩu nhiều như Cục Hải quan Hải Phòng,TP.Hồ Chí Minh, Đồng Nai
Trước mắt, để đảm bảo về kỹ thuật và tốc độ đường truyền, Tổng cục
đã triển khai kết nối giữa các điểm mạng diện rộng bằng Laesed line, giảithông 64Kbps
Trang thiết bị CNTT ngành Hải quan
*Mặc dù kinh phí đầu tư cho thiết bị CNTT còn hạn chế những ngànhHải quan đã quan tâm đầu tư lắp đặt và đưa vào vận hành trang thiết bị tạiTTDL tại Hà Nội và đang tiến hành bổ sung trang thiết bị cho TTDL giaiđoạn 2
* Theo số liệu thống kê, đến nay ngành Hải quan đã trang bị được:
158 máy chủ, 3000 máy trạm và 930 máy in phục vụ cho các khâu nghiệp
vụ và công tác văn phòng
1.3 Phần mềm tin học ứng dụng liên quan đến hiện đại hoá Hải quan
* Trong những năm qua, toàn ngành đã xây dựng và triển khai được
một số “Hệ thống phần mềm ứng dụng” phục vụ công tác quản lý, điều
hành, và một số khâu nghiệp vụ hải quan Các hệ thống này chủ yếu được
Trang 12vận hành trong nội bộ cơ quan Hải quan chưa có nhiều sự kết nối, trao đổithông tin với các đối tác khác.
* Với nỗ lực của toàn ngành, tính đến nay ngành Hải quan đã triểnkhai được 12 hệ thống ứng dụng CNTT vào các khâu nghiệp vụ và phục vụcông tác quản lý và điều hành như sau:
1.3.1 Hệ thống thu nhập và xử lý dữ liệu tờ khai Hải quan
Hệ thống thu nhập dữ liệu thông tin trên tờ khai Hải quan đã thu nhậpđầy đủ các thông tin về các loại hình hàng hoá XNK tại tất cả các khâu trênphạm vi toàn quốc Trên cơ sở các thông tin thu thấp được, Tổng cục đã xâydựng được báo cáo về số liệu hàng hoá XNK phục vụ công tác dự toán tìnhhình XNK, điều hành nền kinh tế vĩ mô của lãnh đạo Bộ, Lãnh đạo Tổngcục Hải quan, các Bộ ngành liên quan
Ngoài ra, những thông tin trên tờ khai trong hệ thống dữ liệu Hảiquan, giúp cho việc truy cập, tra cứu thông tin nhanh, phục vụ tốt công táckiểm tra của cán bộ Hải quan có liên quan Đặc biệt các dữ liệu điện tử toànngành phục vụ cho công tác điều tra chống buôn lậu và kiểm tra sau thôngquan Hiện tại, hệ thống này được cài đặt và triển khai tại 33 Cục Hải quantrên toàn quốc
1.3.2 Hệ thống quản lý theo dõi nợ thuế, kế toán thu thuế XNK
Để giúp cơ quan Hải quan ra thông báo thuế, theo dõi tình trạng nộpthuế của các doanh nghiệp, ra quyết định phạt chậm nộp thuế, tổng hợp danhsách cưỡng chế thuế… Tổng cục Hải quan đã chỉ đạo xây dựng hệ thốngCNTT quản lý theo dõi nợ thuế, kế toán thu thế XNK Hệ thống này đượctriển khai thí điểm từ năm 1999 và cho đến nay đã triển khai tại 9 Cục Hảiquan là Cục Hải quan TP.Hồ Chí Minh, Hải phòng, Đồng Nai, Bình Dương,
Đà Nẵng, Quảng Nam, Hà Nội, Quảng Ninh, Vũng Tàu đã phát huy tácdụng và đạt hiệu quả cao trong công tác thu thuế của ngành Hải quan
Trang 131.3.3 Hệ thống dữ liệu giá tính thuế
Hệ thống giá tính thuế nhằm phục vụ khâu kiểm tra trị giá thuế giáthành hoá nhập khẩu theo GATT Hệ thống này giúp quản lý tờ khai trị giá
và thu nhập thông tin về hàng hoá hỗ trợ cho công tác xác định thuế Hệthống đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ: Quản lý thông tin giá hàng hoá trên tờkhai XNK, tờ khai trị giá tối thiểu, bảng giá kiểm tra Bên cạnh đó, hệ thốngcòn hỗ trợ việc xây dựng và cập nhật bảng giá kiểm tra TCHQ, lập báo cáo
về giá hàng hoá cho Hải quan các cấp, kiểm tra giá tính thuế theo cácphương pháp GATT, hỗ trợ công việc phức tập của cơ quan Hải quan
Năm 2003, hệ thống được nâng cấp để phù hợp với những thay đổicủa mẫu tờ khai trị giá và vận hành theo đúng quy trình nghiệp vụ đã hướngdẫn tại thông tư 118/2003/TT/BTC Hiện tại hệ thống đã được triển khai tại
8 đơn vị Hải quan trọng điểm và đang được tiếp tục triển khai mở rộng trênphạm vi toàn quốc
1.3.4 Hệ thống quản lý thông tin cưỡng chế thuế
Để phục vụ cho việc triển khai thực hiện quy trình nghiệp vụ Hảiquan theo Luật Hải quan từ ngày 1/1/2001, Tổng cục đã chỉ đạo xây dựng hệthóng quản lý thông tin cưỡng chế thuế đưa ra các thông tin doanh nghiệp bịcưỡng chế hỗ trợ tích cực cho khâu nghiệp vụ đăng ký tờ khai Hải quan.Hiện tại hệ thống được triển khai tại 33 Cục Hải quan
1.3.5 Hệ thống quản lý hàng gia công
Do yêu cầu của nền kinh tế loại hình gia công hàng hoá của nước tangày càng phát triển Trước sự ép về khối lượng công việc ngày càng nhiềuđòi hỏi cơ quan hải quan phải có những biện pháp quản lý và theo dõi chặtchẽ thực hiện hợp đồng gia công của các doanh nghiệp, ngành Hải quan đã
đề xuất xây dựng hệ thống CNTT quản lý hàng gia công Hệ thống này đượccài đặt và triển khai có hiệu quả tại một số Cục Hải quan có lưu lượng hànggia công lớn đó là Cục Hải quan TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đồng Nai,
Trang 14Bình Dương và Đà Nẵng Hệ thống đang được tiếp tục được triển khai tạicác Cục Hải quan Bà Rịa – Vũng Tàu, Quảng Ngãi và Hà Nội.
1.3.6 Hệ thống thông tin vi phạm luật Hải quan
Để triển khai Luật Hải quan một cách hiệu quả, ngành Hải quan đãxây dựng hệ thống thông tin vi phạm luật Hải quan Hệ thống này dùng đểthu nhập thông tin về tình hình vi phạm pháp luật Hải quan của các tổ chức,
cá nhân và phương tiện vi phạm pháp luạt Hải quan hỗ trợ cho việc ra quyếtđịnh hình thức kiểm tra hàng hoá của Chi cục trưởng, phục vụ cho công tácđiều tra chống buôn lậu và kiểm tra sau thông quan Hiện nay, hệ thống ứngdụng này đã được triển khai trên toàn quốc
1.3.7 Hệ thống quản lý loại hình nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu
Với mục tiêu hỗ trợ các doanh nghiệp trong quá trình khai báo Hảiquan, ngành Hải quan đã xây dựng đề án và triển khai trang Web Hải quancho phép các doanh nghiệp có thể khai báo Hải quan trước dưới dạng điện
tử sau đó chuyển hồ sơ cơ quan Hải quan để kiểm tra, đối chiếu Đây làbước khởi đầu tạo cơ sở cho quy trình nghiệp vụ Hải quan tin học hoá Hiệnnay, hệ thống này đang được triển khai thí điểm tại Cục Hải quan Đồng Nai(Chi cục Hải quan Biên Hòa) và Cục Hải quan Hà NỘi (Chi cục Hải quanBắc Hà Nội)
1.3.8 Hệ thống đăng ký, quản lý mã số doanh nghiệp xuất nhập khẩu
Để quản lý các đối tượng tham gia XNK, ngành Hải quan đã xâydựng hệ thống đăng ký, quản lý mã số XNK Hệ thống này được triển khaitrên toàn quốc đã phát huy hiệu quả và giúp cho cơ quan Hải quan có được
cơ sở dữ liệu đầy đủ về đối tượng tham gia XNK trên toàn quốc Tuy nhiênvới nhu cầu ngày càng tăng đối tượng tham gia hoạt động XNK, Tổng cục
đã xây dựng quy chế mới thay thế những quy định trước đây, trên cơ sở đó
sẽ điều chỉnh một số chức năng của hệ thống cho phù hợp Theo số liệu
Trang 15thống kê đến 31/12/2003, hệ thống này đã cấp mã số cho 30.360 doanhnghiệp.
1.4 Đào tạo đội ngũ cán bộ và nhân viên tin học
Nguồn nhân lực CNTT được coi là rất quan trọng, trong thời kỳ tiếnhành Hiện đại hoá Hải quan, Tin học hoá quy trình nghiệp vụ Hải quan.Trong những năm qua Bộ tài chính, Tổng cục Hải quan đã quan tâm đếnviệc tăng cường nguồn nhân lực thông qua tuyển dụng mới và bổ sung từnhân lực tại chỗ của các Hải quan tỉnh thành phố
Nguồn nhân lực CNTT hiện nay chủ yếu được bố trí ở hai cấp là cấpTổng cục và cấp Cục Cho đến nay vẫn còn 12 Cục Hải quan chưa có lựclượng chuyên trách về CNTT Ở cấp Chi cục chưa có lực lượng chuyêntrách về CNTT
Theo thống kê sơ bộ, hiện tại toàn ngành có khoảng 400 cán bộ côngchức làm việc trong lĩnh vực CNTT và thống kê Hải quan, trong đó số lượngcán bộ chuyên trách làm công tác tin học là 73 người, bán chuyên trách là 58người, bán chuyên trách cả tin học và thống kê là 115 người
Hiện trong toàn ngành có khoảng trên 50 cán bộ có trình độ kỹ sư tinhọc và cử nhân tin học, 39 người có trình độ cung cấp tin học Số còn lại cótrình độ đại học, cao đẳng chuyên ngành khác
Hàng năm, Ngành Hải quan tiến hành mở nhiều lớp đào tạo, nâng caotrình độ tin học cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chi cục, cán bộ tin họcchuyên trách và cán bộ trực tiếp sử dụng các chương trình ứng dụng ở cáctrình độ và hình thức đào tạo khác nhau
Để đáp ứng yêu cầu ngày càng gia tăng của công việc phục vụ chotiến trình hiện đại hoá và tin học hoá, hàng năm Tổng cục đã tổ chức cáckhoá đào tạo tin học chuyên sâu về công nghệ, an ninh an toàn của hệ thống,
hệ thống mạng, phát triển ứng dụng… cho các cán bộ chuyên trách CNTT
Trang 161.4.1 Công tác đào tạo nguồn nhân lực CNTT phục vụ cho hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của ngành Hải quan giai đoạn 2004-2006.
Với mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin để đảm bảo
có được nguồn nhân lực trong việc áp dụng tối đa công nghệ thông tin trongcác hoạt động quản lý và nghiệp vụ hải quan, đây được coi như một trongnhững mục tiêu hàng đầu giúp cho công chức Hải quan có đủ khả năng,năng lực làm chủ các phương tiện kỹ thuật hiện đại và các hoạt động hảiquan sẽ tạo được sự thuận tiện, thông thoáng và nhanh chóng hơn cho cáchoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, đầu tư, du lịch Sau đây là một số nộidung chính trong định hướng công tác đào tạo nguồn nhân lực CNTT phục
vụ cho hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của ngành Hải quan giai đoạn 2006
2004-1.4.2 Về phân loại đối tượng đào tạo.
Vì trong công tác mỗi người giữ một trách nhiệm khác nhau nênnhững yêu cầu về kiến thức và kỹ năng cũng khác nhau, chẳng hạn như đốivới cán bộ kỹ thuật thì có thể chỉ cần biết đến những vấn đề cài đặt, bảo trì
hệ thống, nhưng đối với cán bộ lãnh đạo thì lại cần hiểu biết một cách tổngquan, có thể họ không cần biết về cài đặt nhưng phải biết cách tổ chức triểnkhai hệ thống vì vậy phân loại đúng đối tượng đào tạo rất quan trọng, đâychính là cơ sở để đưa ra được các yêu cầu, nội dung đào tạo Đối với Hảiquan, đối tượng đào tạo CNTT được phân loại như sau:
Cán bộ quản lý từ cấp Tổng cục đến cơ sở: Đội ngũ cán bộ quản lý từcấp Tổng cục đến các cấp cơ sở cần được trang bị những hiểu biết cần thiết
về CNTT, về ứng dụng CNTT trong các hệ thống quản lý hiện đại, về cácđiều kiện cần thiết để có thể triển khai một ứng dụng CNTT, về các bước cơbản trong triển khai một ứng dụng CNTT, và về vai trò của cấp lãnh đạotrong việc triển khai một ứng dụng CNTT tại đơn vị, cũng như việc cập nhậtcác thông tin về các thành tựu mới nhất của CNTT
Trang 17Cán bộ nghiệp vụ Hải quan: đội ngũ cán bộ nghiệp vụ Hải quan cầnđược đào tạo sâu về các lĩnh vực quản lý Hải quan và thủ tục Hải quan hiệnđại, có kinh nghiệm quản lý thực tiễn và cần có hiểu biết nhất định về CNTT
và ứng dụng CNTT Đội ngũ này chịu trách nhiệm chính về các qui trình thủtục Hải quan khi xây dựng hệ thống tự động hóa qui trình thủ tục Hải quan
Cán bộ phụ trách tin học cấp Chi cục: đội ngũ cán bộ phụ trách tinhọc cấp Chi cục cần được trang bị những kiến thức tin học để có thể đảmnhận công tác bảo hành, bảo trì và duy trì các hệ thống CNTT của ngànhHải quan, có khả năng đào tạo, hướng dẫn các chuyên viên, nhân viên hảiquan sử dụng, khai thác các ứng dụng CNTT hiện có trong ngành Hải quanViệt Nam
Chuyên gia CNTT: đội ngũ chuyên gia CNTT cần được đào tạochuyên sâu về CNTT, có hiểu biết cơ bản về các lĩnh vực nghiệp vụ hảiquan và qui trình thủ tục hải quan hiện đại Đội ngũ này có trách nhiệmchính phối hợp với các đối tác trong và ngoài ngành để thiết kế, xây dựng vàtriển khai các hệ thống ứng dụng CNTT, duy trì hệ thống hoạt động ổn định,phát triển mở rộng và nâng cấp hệ thống đáp ứng các yêu cầu nghiệp vụ hảiquan theo tiến trình của thời gian
1.4.3 Về yêu cầu đào tạo.
Yêu cầu chính là một mục tiêu cụ thể mà mỗi người phải đạt được,đây cũng là cơ sở để đánh giá kết quả đào tạo Đối với Hải quan, đặt ra cácyêu cầu cho mỗi đối tượng như sau:
Đối với cán bộ quản lý: trang bị những hiểu biết cần thiết về CNTT,
về ứng dụng CNTT, về quản lý dự án CNTT, triển khai ứng dụng Sử dụngcác công cụ, phần mềm và phương tiện CNTT được trang bị trong hoạt độngquản lý hàng ngày Hiểu biết tổng quan về các hệ thống ứng dụng trongngành và công tác triển khai áp dụng các hệ thống đó
Đối với cán bộ nghiệp vụ: trang bị những kiến thức cần thiết vềCNTT, về ứng dụng CNTT Sử dụng các phương tiện CNTT được trang bị
Trang 18trong hoạt động nghiệp vụ hải quan hàng ngày.Cán bộ phụ trách tin học cấpChi cục: có khả năng bảo trì phần cứng máy tính, triển khai, cài đặt, vậnhành, bảo trì các hệ thống CNNT của Hải quan tại đơn vị cấp cơ sở Có khảnăng đào tạo, hướng dẫn các chuyên viên, nhân viên nghiệp vụ hải quan sửdụng, khai thác các ứng dụng CNTT hiện có trong ngành Hải quan ViệtNam.
Đối với chuyên gia CNTT: kiến thức sâu rộng về Hệ thống tự độnghóa Hải quan, thường xuyên được cập nhật những thông tin mới nhất vềCNTT, có khả năng quản lý và phối hợp với các đối tác trong và ngoàingành để thực hiện triển khai và phát triển các ứng dụng CNTT cho Hảiquan Việt Nam dưới góc độ kỹ thuật Về hệ thống CNNT của Hải quan ViệtNam, có thể vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa tốt các thành phần được giaoquản lý trong hệ thống CNTT của Hải quan Việt Nam Có khả năng đào tạo,hướng dẫn các chuyên viên, nhân viên nghiệp vụ hải quan sử dụng, khaithác các ứng dụng CNTT hiện có trong ngành Hải quan Việt Nam
1.4.4 Về hình thức đào tạo.
Việc đa dạng hóa hình thức đào tạo nhằm các mục đích sau: trongmột thời gian ngắn nhất có thể tạo ra được một nguồn lực CNTT đủ mạnh,tiết kiệm được chi phí và thời gian đào tạo, giúp cho Hải quan địa phươngchủ động trong việc đào tạo, khuyến khích mỗi cán bộ tự trang bị kiến thứccho mình và nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác đào tạo CNTT, cụthể có các hình thức đào tạo sau:
Tổ chức đào tạo tập trung: do Cục CNTT và Thống kế Hải quan kếthợp với các giảng viên của các trường đại học, các chuyên gia trong vàngoài nước tổ chức thực hiện tập trung trong toàn ngành
Tổ chức đào tạo tại các đơn vị cơ sở: do Cục CNTT và Thống kế Hảiquan kết hợp với giảng viên của các trường đại học, chuyên gia trong vàngoài nước tổ chức thực hiện tại một số Cục Hải quan địa phương
Trang 19Tổ chức đào tạo từ xa: do Cục CNTT và Thống kế Hải quan kết hợpvới các đối tác có kinh nghiệm để xây dựng những tài liệu điện tử cho phépcán bộ Hải quan tận dụng các phương tiện điện tử như mạng diện rộng củangành hay các dạng CD ROM có thể tự học.
Tổ chức đào tạo tại nước ngoài: lựa chọn những chuyên gia tin học cónăng lực của ngành để gửi đi đào tạo dài hạn, ngắn hạn tại các cơ sở nghiêncứu CNTT trong và ngoài nước để bổ túc nâng cao những kiến thức cầnthiết về CNTT nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý, nghiên cứu triển khai các ứngdụng CNTT cho Hải quan Việt Nam trước mắt cũng như lâu dài
Tổ chức khảo sát, học hỏi kinh nghiệm: tổ chức các đoàn cán bộ hỗnhợp đi thăm quan, nghiên cứu khảo sát các cơ sở ứng dụng CNTT trongquản lý, đặc biệt là trong ngành Hải quan ở các nước trong khối ASEAN vàcác khối kinh tế khác trên thế giới
2.Nội dung về xây dựng lực lượng Hải quan chính quy
2.1 Nội dung công tác xây dựng lực lượng hải quan
"Hải quan Việt Nam thực hiện chức năng quan lý nhà nước về hảiquan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quácảnh mượn đường Việt Nam, đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyểnhàng hoá trái phép, ngoại hối, tiền Việt Nam qua biên giới" và được giaonhững nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động công tác này
Hoạt động công tác Hải quan đa dạng, phong phú và phức tạp, là loạihình công tác đặc biệt, có quan hệ rất rộng đến lợi ích kinh tế, chính trị, xãhội và chủ quyền của đất nước Đặc điểm tính chất công tác Hải quan đã đặt
ra những nội dung yêu cầu xây dựng lực lượng hải quan
2.1.1.Xây dựng tổ chức bộ máy trong ngành Hải quan:
Tổ chức Hải quan Việt Nam bao gồm:
-Tổng cục Hải quan
Trang 20-Hải quan tỉnh hoặc liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấptương đương.
-Hải quan cửa khẩu, đội kiểm soát Hải quan
-Việc xây dựng tổ chức bộ máy phải căn cứ vào tình hình hoạt độngcông tác Hải quan ở từng địa bàn, từng nơi và phải xuất phát từ yêu cầunhiệm vụ công tác Hải quan, để thiết lập tổ chức bộ máy cho sát hợp
-Cần tập trung xây dựng, phát huy hiệu quả của tổ chức bộ máy đặcbiệt ở cấp Hải quan cửa khẩu, đội kiểm soát Hải quan (Cấp cơ sở) và có sựđiều chỉnh thích hợp với tình hình nhiệm vụ
-Tiến hành đồng thời với quyết định thành lập một đơn vị Hải quancần phải xác định chức năng, nhiệm vụ của đơn vị đó và của từng đơn vịnhỏ thuộc quyền nó
-Trong phạm vi toàn ngành cần tiến tới xây dựng chức năng tiêuchuẩn nghiệp vụ ngành Hải quan, có sự phân biệt giữa tiêu chuẩn nghiệp vụ
và tiêu chuẩn cán bộ để xây dựng và hoàn thiện dần
2.1.2.Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên Hải quan
-Đội ngũ cán bộ, nhân viên Hải quan giữ vai trò quyết định về chấtlượng và ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động công tác Hải quan
-Xây dựng đội ngũ cán bộ nhân viên Hải quan bao gồm các khâu côngtác cơ bản là: Quản lý đội ngũ cán bộ, bồi dưỡng sử dụng cán bộ, quy hoạchcán bộ, xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ của ngành Hải quan
-Phải tiêu chuẩn hoá cán bộ Hải quan theo hướng nhân viên Hải quanphải là người có phẩm chất chính trị, kiến thức pháp luật, hiểu biết chínhsách của Nhà nước về quan hệ kinh tế, văn hoá với nước ngoài, về giao lưu
và hợp tác quốc tế, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tính tổ chức và kỷluật
-Cần có chế độ quản lý, đào tạo bồi dưỡng sử dụng cán bộ đúng mức,chú ý và phát hiện khả năng, mạnh dạn giao việc, tôn trọng tài năng đức độ,xếp đúng vị trí, tạo điều kiện để cán bộ phấn đấu vươn lên
Trang 21-Thực hiện chính sách cán bộ nói chung và xây dựng chính sách cótính chất riêng của ngành Hải quan.
a Nâng cao trình độ, năng lực công tác của cán bộ nhân viên Hải Quan
-Đây là vấn đề quan trọng nhằm đảm bảo chất lượng của đội ngũ cán
bộ Hải quan, đảm bảo sự kế thừa, liên tục của một đội ngũ cán bộ trongcông tác Hải quan
-Có hai mặt đều phải quan tâm là đảm bảo nâng cao trình độ nhậnthức chung của xã hội trong thời đại bùng nổ thông tin và nâng cao trình độnăng lực nghiệp vụ chuyên môn công tác Hải quan để phục vụ trong ngànhHải quan
-Để nâng cao trình độ cho cán bộ phải giải quyết theo mấy hướng cơbản: Tạo điều kiện đưa cán bộ đi học tập trung bồi dưỡng nghiệp vụ ngắnhạn trong và ngoài nước, học tập lẫn nhau và tự học tập
-Tạo điều kiện thuận lợi cả về vật chất, tinh thần đối với cán bộ đihọc
-Về lâu dài cần đưa vấn đề nâng cao trình độ cán bộ gắn với tiêuchuẩn cán bộ, gần với quy hoạch cán bộ, chính sách cán bộ
b Vấn đề xây dựng nhân cách, tu dưỡng phẩm chất của cán bộ nhân viên Hải quan.
-Nhân cách, phẩm chất của cán bộ nhân viên Hải quan phản ánh trình
độ nhận thức, năng lực công tác Hải quan của cán bộ, nhân viên ấy
-Đây là vấn đề phải được đặc biệt coi trọng ở mỗi cấp, mỗi đơn vị Hảiquan Phải thường xuyên giáo dục bằng nhiều biện pháp, nhiều hình thức thểcon người cán bộ, nhân viên Hải quan nhận thức đầy đủ về vị trí công tácquan trọng và mức độ ảnh hưởng to lớn trong mối quan hệ công tác về nhâncách, phẩm chất của nhân viên Hải quan, một trong những người đầu tiên vàngười cuối cùng đại diện cho chủ quyền đất nước, tiếp xúc với khách nhậpcảnh, xuất cảnh
Trang 22-Nhân cách, phẩm chất nhân viên Hải quan được thể hiện ở trình độcông tác, sự nghiêm túc, khẩn trương khoa học về tác phong, lịch thiệp hoànhã, vui vẻ về thái độ và nó còn thể hiện cả trong lối sống văn minh.
-Tổ chức, đơn vị thường xuyên quan tâm giáo dục về nhân cách,phẩm chất nhưng điều cơ bản là mọi cán bộ, nhân viên Hải quan phải tự giáchọc tập tu dưỡng, kiên trì phấn đấu, cũng như “Ngọc càng mài càng sáng,vàng càng luyện càng trong” (Bác Hồ)
C Vấn đề chính sách cán bộ trong ngành Hải quan:
-Cần hiểu chính sách cán bộ trong ngành Hải quan bao gồm: Chínhsách, chế độ đãi ngộ chung của xã hội đối với cán bộ công nhân viên chứcnhà nước và chế độ chính sách đãi ngộ do nhà nước quy định riêng cho nhânviên công tác trong ngành Hải quan mà các chế độ chính sách này do yêucầu tính chất công tác Hải quan mà có:
-Cần nhận thức chính sách cán bộ là tài sản chung của nhà nước,không phải của riêng ai nên không phải chỉ dành cho một ai, cho một tổchức nào Các cơ quan tổ chức cán bộ, các cán bộ nhân viên làm công tác về
tổ chức, cán bộ và các tổ chức, cá nhân được giao quyền thực hiện các côngviệc có liên quan đến chính sách cán bộ chỉ có quyền thực hiện đúng, cótrách nhiệm hướng dẫn và giải quyết đúng theo chính sách, chế độ dành chotừng cán bộ mà Đảng và Nhà nước đã quy định
-Chính sách cán bộ của ngành Hải quan phải bám sát, phải xuất phát
từ chính yêu cầu, từ đặc điểm thực tiễn của công tác Hải quan để phục vụ vàgiải quyết
-Chính sách cán bộ của ngành Hải quan phải được giải quyết đồng bộ,phải hết sức cụ thể và giải quyết trong mối tương quan chung của xã hội,giải quyết được vấn đề tư tưởng, giữ được niềm tin của cán bộ đối với ngànhHải quan, đối với Đảng và Nhà nước
Trang 232.1.3 Xây dựng hệ thống cở sở pháp lý của Hải quan
- Trong những nhiệm vụ, quyền hạn mà Nhà nước trao cho Hải quanViệt Nam ngành Hải quan được kiến nghị chủ trương biên pháp quản lý Nhànước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quácảnh mượn đường Việt Nam, hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện theo quyđịnh Nhà nước về Hải quan
Hải quan Việt Nam là lực lượng bảo vệ luật pháp, bảo vệ kinh tế đốingoại, an ninh chính trị cơ sở để Hải quan làm nhiệm vụ là pháp luật ViệtNam và các điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động Hải quan mà nướcCộng hoà XHCN Việt Nam ký kết hoặc công nhận
-Dù muốn hay không ngành Hải quan cũng phải xây dựng hệ thống
cơ sở pháp lý cho các hoạt động nghiệp vụ của mình Cần hiểu rằng hệthống nói ở đây bao hàm ý nghĩa kế thừa, củng cố phát triển đối với tất cảcác văn bản quy định, các văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định củanhà nước về Hải quan, các điều lệnh, điều lệ, các quyết định, chỉ thị công táccủa Tổng cục Hải quan về xây dựng lực lượng hải quan nói chung
-Việc đề xuất kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý Nhà nước vềHải quan đều phải có căn cứ pháp luật Mọi sự giải thích về chính sách xuấtkhẩu, nhập khẩu có liên quan đến công tác Hải quan cũng phải lấy pháp luậtViệt nam làm cơ sở Việc thực hiện quyền lực về Hải quan nếu xa rời phápluật đều không được nhân dân ủng hộ
-Hệ thống cơ sở, pháp lý, của Hải quan phải luôn luôn bảo đảm tínhkhoa học, thực tiễn, phải phục vụ đắc lực cho đường lối kinh tế đối ngoạicủa Đảng và Nhà nước, cho việc đảm bảo thực hiện chính sách của Nhànước về phát triển quan hệ kinh tế, văn hoá với nước ngoài góp phần tăngcường sự giao lưu và hợp tác quốc tế, bảo vệ lợi ích chủ quyền và an ninhquốc gia
Trang 242.1.4 Xây dựng mối quan hệ với các ngành, các cấp, với nhân dân:
-Hải quan Việt Nam làm công tác quản lý nhà nước về Hải quan, bảo
vệ luật pháp bảo vệ kinh tế đối ngoại nên trước hết phải gắn bó, phải xâydựng mối quan hệ tốt với các cơ quan, tổ chức có chức năng quản lý Nhànước ở các lĩnh vực khác thì mới có thể hoàn thành được chức năng nhiệm
vụ của mình
-Hải quan Việt Nam muốn trong sạch, vững mạnh, muốn đảm bảođược sự quản lý và phục vụ lợi ích của nhân dân thì phải dựa vào pháp luậtcủa Nhà nước, dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân, phải chịu sự giám sát củanhân dân
-Các cấp Hải quan cần xây dựng các quy chế phối hợp, hiệp đồngcông tác với các ngành, với các lực lượng, tổ chức xã hội, với chính quyềnđịa phương các cấp cho phù hợp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý và
3 Nội dung về xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật của Hải quan.
-Cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật trong lực lượng hải quan có vai trò, vị trírất quan trọng để đảm bảo cho con người và bộ máy hoạt động, cho cán bộ
có điều kiện làm việc sinh sống, công tác có hiệu quả
-Cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật của Hải quan bao gồm: tiền lương,kinh phí, vật tư, nhà cửa, trang phục, vũ khí phương tiện làm việc, trang bị
Trang 25kỹ thuật phục vụ cho nghiệp vụ công tác Hải quan và những hoạt động kháctrong ngành Hải quan.
-Trong vấn đề cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật của ngành Hải quan cólĩnh vực cũng giống như các ngành các cơ quan khác đó là: tiền lương, kinhphí, vật tư, nhà cửa phương tiện làm việc, nhưng cũng có những lĩnh vựcxuất phát từ yêu cầu, tính chất công tác Hải quan mà có như: Vũ khí trangphục, trang bị kỹ thuật phục vụ nghiệp vụ công tác Hải quan Cần có sựphân biệt để xác định đúng yêu cầu của việc xây dựng
-Trong xây dựng và quản lý điều cốt yếu đối với nhà lãnh đạo và nhânviên hải quan là phải có kiến thức hiểu biết đối với từng lãnh vực để nắmvững và làm chủ cơ sở vật chất kỹ thuật Cần nhân thức đúng về vai trò, mốiquan hệ của cơ sở vật chất, kỹ thuật, chống những nhận thức lệch lạch coinhẹ hoặc nhấn mạnh quá đáng, đòi hỏi quá cao lãnh đạo kinh tế, kỹ thuậtkhông phải là lãnh đạo chung chung, mà phải có kế hoạch, biết tính toán, tiếtkiệm, hiểu tâm lý người làm kinh tế, làm khoa học kỹ thuật nắm được xuhướng phát triển của kỹ thuật
-Trang bị kỹ thuật phục vụ nghiệp vụ công tác hải quan cơ bản baogồm: Thiết bị thông tin liên lạc, phương tiện kiểm tra hàng hoá, hành lýbằng tia X, máy dò kim loại thiết bị tính toán điện tử.Sử dụng các trang bị
kỹ thuật này phải hiểu được tính năng, tác dụng biết được những ưu điểm và
cả những hạn chế, có quy tắc, chế độ quản lý sử dụng đối với từng loạiphương tiện, trang bị Cần có cán bộ chuyên trách sử dụng, phải luôn nângcao trình độ, kinh nghiệm và phải thường xuyên chăm lo giáo dục trau dồiphẩm chất của các cán bộ, nhân viên kỹ thuật đó
-Phải thường xuyên theo dõi kiểm tra việc phát huy tác dụng của cácphương tiện trang bị kỹ thuật trong nghiệp vụ công tác Hải quan, rút kinhnghiệm mọi mặt để có phương hướng biện pháp sử dụng, phát huy hiệu quảcủa các phương tiện kỹ thuật ấy
Trang 26Ngày nay nền khoa học kỹ thuật thế giới đang trên đà phát triển rấtmạnh, có những bước tiến nhảy vọt Sự áp dụng rộng rãi của tin học trongnhiều lĩnh vực kinh tế xã hội đã làm thay đổi nhiều phương thức quản lý,đẩy nhanh mức độ tăng trưởng nền kinh tế nhiều nước Trong việc xây dựng
cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật của Hải quan Việt Nam cũng cần phảithường xuyên theo dõi những thành tựu mới, những trang bị mới để đổi mới,
để đón đầu, chuẩn bị trước việc sử dụng các trang bị kỹ thuật hiện đại
Trang 27
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TRONG QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI THỰC THI CÔNG TÁC HIỆN ĐẠI HÓA TẠI CỤC HẢI QUAN LẠNG SƠN.
I GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HOÁ (NĂM ĐẦU NĂM 2006) TẠI CỤC HẢI QUAN LẠNG SƠN
2004-1 Về lực lượng cán bộ và công chức Hải quan tại cục Hải quan
Toàn Cục hiện nay có 06 phòng chức năng, 05 cửa khẩu, 01 đội Kiểm soát
va 01 bộ phận thuộc trạm kiểm soát liên hợp
Cục Hải quan Lạng Sơn có tư cách pháp nhân, có trụ sở và có con dấuriêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước( tại mỗi cửa khẩu của LạngSơn đều có tổ chức thu ngân của Kho bạc Nhà nước tỉnh Lạng Sơn) Kinhphí hoạt động của cục Hải quan Lạng Sơn được cấp từ nguồn kinh phí củaTổng cục Hải quan Cục trưởng cục Hải quan có trách nhiệm lập dự toán vàtrình Tổng cục truởng tổng hợp vào dự toán chung của Tổng cục
* Về biên chế, tổ chức bộ máy và trình độ cán bộ:
Biên chế của Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn là 256 người, trong đó có
23 hợp đồng lao động Trong đó trình độ chuyên môn Đại học là 102 ngườichiếm 39,8%, trình độ Cao đẳng tại chức là 96 người chiếm 37,5%, trình độPhổ thông trung học có 58 người chiếm 22,7% Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơnhiện có 01 Đảng bộ (BCH Đảng uỷ có 09 đồng chí, Ban thường vụ có 03đồng chí ), có 08 chi bộ trực thuộc với tổng số Đảng viên là 114 đồng chí.và
mô hình cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan Lạng Sơn được tổ chức như sau:
Trang 28Mô hình cơ cấu tổ chức Cục Hải quan Lạng Sơn
*Về tổ chức quần chúng:
CỤC HẢI QUAN TỈNH
LÃNH ĐẠO CỤC
VĂN PHÒNG CỤC
PHÒNG THAM MƯU CHỐNG BUÔN LẬU
PHÒNG THANH TRA
PHÒNG NGHIỆP VỤ
PHÒNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN
PHÒNG TỔ CHỨC CÁN BỘ
ĐỘI KIỂM SOÁT HẢI
QUAN
CHI CỤC HẢI QUAN CỬA KHẨU
LÃNH ĐẠO CỤC
ĐỘI NGHIỆP VỤ
TỔ KIỂM SOÁT
Trang 29Cục có 01 tổ chức Công đoàn( BCHgồm có 09 đồng chí ), có 09 tổcông đoàn trực thuộc; có 01 tổ chức Đoàn Thanh niên( BCH Đoàn thanhniên gồm 07 đồng chí), có 05 chi đoàn trực thuộc Ban nữ công có 42 cán bộ
nữ và chia thành 06 tổ nữ công trực thuộc Công đoàn Cục
Với việc đẩy mạnh cải cách các thủ tục hành chính, trong thời gianqua ngành Hải quan đã giảm đáng kể các khâu thủ tục, rút ngắn thời gianthông quan hàng hoá mà vẫn đảm bảo yêu cầu quản lý chặt chẽ, góp phầntạo thuận lợi cho hoạt động thương mại và du lịch
Để thực hiện thành công mục tiêu xây dựng lực lượng trong sạch,vững mạnh, toàn ngành đang tập trung làm tốt những vấn đề trọng tâm nhưcông tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đẩy nhanh việc thực hiện kế hoạch cảicách, phát triển, hiện đại hoá hải quan giai đoạn 2004-2006; đưa công tácthanh tra, kiểm tra trong nội bộ đi vào hoạt động thường xuyên…
* Công tác xây dựng, củng cố tổ chức bộ máy, tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện Luật Hải quan:
+ Thường vụ cấp uỷ và Tập thể Lãnh đạo Cục đã tập trung chỉ đạoviệc rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, xác định biên chế và sắp xếp lại độingũ cán bộ trong toàn Cục như: Thành lập phòng Kiểm tra sau thông quan,phòng Thanh tra theo chỉ đạo của Tổng cục Hải quan và Ban Hiện đại hoáHải quan để tham mưu giúp lãnh đạo Cục chỉ đạo điều hành được hiệu quảhơn; thành lập 02 Tổ kiểm soát chống buôn lậu thuộc 02 đơn vị là Chi cụcHải quan cửa khẩu Chi Ma và Chi cục Hải quan Cốc Nam để thực hiện côngtác chống buôn lậu ở trên 02 địa bàn trên Thành lập các Tổ giải quyếtvướng mắc tại Cục và các Chi cục Hải quan cửa khẩu, tổ chuyên gia về phântích, phân loại hàng hoá, kiện toàn lại các Tổ, Đội thuộc Chi cục theo hướngtăng thẩm quyền giải quyết công việc, hạn chế quá trình và thời gian luânchuyển hồ sơ trong quy trình thủ tục Hải quan, đảm bảo theo dây chuyềnxuôi với các bước thủ tục hoàn chỉnh, không chia cắt, bỏ được các khâutrung gian
Trang 30+ Trước những diễn biến phức tạp của khu kinh tế cửa khẩuTân Thanh trong công tác quản lý hàng hoá, Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn đãxây dựng phương án sắp xếp lại địa điểm làm thủ tục Hải quan để báo cáo
và xin ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo TCHQ, UBND tỉnh Sau khi có ý kiến chỉđạo của Lãnh đạo Bộ Tài chính, TCHQ và UBND tỉnh, ngày 01/04/2004Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn đã tổ chức triển khai thực hiện việc chuyển đạiđiểm làm thủ tục Hải quan tại khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh từ cổng kiểmsoát số 2 vào cổng kiểm soát số 1 (sát biên giới) Sau gần một năm thựchiện, các hoạt động tại khu kinh tế cửa khẩu vẫn diễn ra bình thường, tìnhhình an ninh trật tự tại cổng số 1 được đảm bảo, hàng hoá xuất nhập khẩu,phương tiện xuất nhập cảnh qua lại đi vào nề nếp, các lô hàng xuất nhậpkhẩu đều được thông quan trong ngày, đặc biệt là lượng xe con cóc, ra vàokhu kinh tế cửa khẩu chở hàng trốn lậu thuế giảm hẳn Đây là một nỗ lực, cốgắng rất lớn của lực lượng Hải quan Lạng Sơn trong việc thực hiện cải cáchthủ tục Hải quan, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạtđộng xuất nhập khẩu qua cửa khẩu, vừa quản lý chặt chẽ hàng hoá qua lại
cửa khẩu
* Công tác văn phòng:
+ Công tác tổng hợp báo cáo, thống kê tin học Hải quan: Thực hiệnnghiêm túc quy định của Bộ, Ngành, UBND tỉnh và các ngành chức năng vềchế độ tổng hợp báo cáo, truyền tin của Tổng cục Hải quan Trong năm
2004, Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn đã duy trì đều đặn, đúng quy định, chínhxác các chế độ báo cáo như báo cáo đột xuất, báo cáo định kỳ… theo quyđịnh của Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan Chuẩn bị đầy đủ các tài liệu,báo cáo phục vụ các cuộc họp, của Lãnh đạo Cục, cũng như tổng hợp báocáo cấp trên đột xuất
+ Công tác hậu cần tài chính (về mua sắm, sửa chữa, quản lý tài sản,
vũ khí; xây dựng cơ bản): Được sự quan tâm tạo điều kiện của Lãnh đạo BộTài chính, Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn đã sử dụng
Trang 31nguồn kinh phí có hiệu quả Đảm bảo việc chi hành chính, trả lương, thưởngcho cán bộ theo đúng chế độ chính sách, đúng thời gian quy định, đáp ứngkịp thời các nhu cầu về mua sắm, sửa chữa chi tiêu trong toàn Cục theođúng chế độ hiện hành Ngoài ra trong năm Cục đã tiến hành xây dựng xongnhà khách, nhà làm việc của Chi cục Hải quan ga Đường sắt Quốc tế ĐồngĐăng, khu vực cách ly kiểm hoá Hải quan Tân Thanh, hiện đang xây dựngnhà ở cho cán bộ Chi cục Hải quan cửa khẩu Chi Ma, Chi cục Hải quan cửakhẩu Hữu Nghị.
* Công tác phối kết hợp giữa các tổ chức đoàn thể, quần chúng:
Cùng với việc kiện toàn, củng cố tổ chức bộ máy các đơn vịHải quan thuộc và trực thuộc, việc kiện toàn, củng cố các tổ chức đoàn thểvững mạnh cũng được Đảng Uỷ và Lãnh đạo Cục hết sức quan tâm, tạo điềukiện (trong năm, đã tổ chức thành lập Hội Cựu chiến binh của đơn vị vớigần 80 hội viên), các phong trào thể dục thể thao, các cuộc thi tìm hiểu nhưtìm hiểu: “Pháp lệnh phòng chống mại dâm”, “75 năm những trang sử vẻvang của Đảng cộng sản Việt Nam”, “An toàn giao thông vì hạnh phúc củabạn”, phong trào vì ngày mai lập nghiệp…v.v đã tạo khí thế thi đua sôi nổirộng khắp trong cơ quan góp phần cho việc hoàn thành các nhiệm vụ chuyênmôn chính trị được giao Hơn nữa công tác phát triển Đảng viên trong các tổchức Đoàn thể được Cấp uỷ và Lãnh đạo Cục quan tâm tạo điều kiện đã tổ
Trang 32Không thực hiện phân loại đối với 06 trường hợp hợp đồng chuyêntrách tin học đang trong thời gian thử việc.
- Về phân loại Đảng viên: Tổng số 107 đảng viên
+ Tập thể: có 06 Chi bộ đạt tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh; 02 Chi bộ đạt tổ chức cơ sở đảng hoàn thành nhiệm vụ
+ Cá nhân: Đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ: 49; Đủ tư cách hoànthành nhiệm vụ: 50; Vi phạm tư cách 08
- Công tác thi đua, khen thưởng:
+ Tập thể Lao động giỏi: 03
+ Cá nhân lao động giỏi: 77
+ Đề nghị TCHQ xét:02 tập thể Lao động xuất sắc và 13 chiến sỹ thiđua cấp cơ sở ngành Tài chính
* Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở:
Nhằm động viên quyền làm chủ tập thể, động viên sức mạnh của cán
bộ, công chức Hải quan trong các hoạt động nghiệp vụ và xây dựng lựclượng, năm qua Lãnh đạo Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn đã thực hiện tốt quychế dân chủ ở cơ sở cụ thể:
+ Đã chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt các kế hoạch về các mặt côngtác chuyên môn nghiệp vụ, tổ chức cán bộ, ban hành chỉ thị, nghị quyết cấmcác đơn vị thuộc và trực thuộc Cục tự ý đặt ra các quy định trái pháp luật,trái quy định của ngành gây phiền hà sách nhiễu tiêu cực, vụ lợi
+ Duy trì các cuộc họp giao ban định kỳ giữa Lãnh đạo Cục với tậpthể các đơn vị cơ sở để công khai đánh giá công tác chung của đơn vị vàtừng bộ phận Lắng nghe ý kiến của cán bộ, công chức định ra các công việcchủ yếu phải giải quyết trong thời gian tới của Cục
+ Trong công tác tài chính việc quản lý và sử dụng các nguồn kinhphí, tài sản đơn vị, việc đầu tư xây dựng, mua sắm phương tiện máy móc…đảm bảo đúng theo quy định của Nhà nước và quy chế của Ngành, đảm bảocông khai tiết kiệm
Trang 33+ Chỉ đạo việc niêm yết công khai các văn bản liên quan đến thủ tụcHải quan, danh bạ điện thoại đường dây nóng của Lãnh đạo Cục, thườngxuyên trao đổi và lắng nghe các ý kiến tham gia góp ý của doanh nghiệp đểkịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc tạo điều kiện cho hoạt độngxuất nhập khẩu
Nguyên nhân đạt được những kết quả trên là:
- Tập thể thường vụ cấp uỷ và Lãnh đạo Cục đã chỉ đạo kịp thời việcxây dựng đề án “Củng cố, xây dựng và phát triển lực lượng Hải quan LạngSơn trong sạch vững mạnh giai đoạn 2003-2005” Trong đó xác định nhữngmục tiêu nhiệm vụ cụ thể thiết thực kèm theo các giải pháp, các kế hoạch tổchức thực hiện chi tiết sát thực tế Tập thể Ban chấp hành Đảng uỷ và Lãnhđạo Cục và Lãnh đạo các đơn vị thuộc và trực thuộc Cục đoàn kết thốngnhất, năng lực trình độ cơ bản đáp ứng được yêu cầu chỉ đạo, quản lý điềuhành các mặt công tác của đơn vị Nắm vững chủ trương, đường lối, chínhsách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tiếp thu và thực hiện nghiêmchỉnh sự chỉ đạo của Bộ Tài chính, Lãnh đạo TCHQ và UBND tỉnh LạngSơn Trong cấp uỷ, Lãnh đạo Cục có sự phân công nhiệm vụ được thể hiện
rõ bằng các nghị quyết, văn bản chỉ đạo, quản lý điều hành đối với từngmảng công việc cụ thể Trong chỉ đạo, điều hành và giải quyết công việcluôn đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ
- Cấp uỷ, Lãnh đạo Cục đã xác định công tác tổ chức cán bộ là côngtác trọng tâm nên đã tập trung cao độ để giải quyết công tác tổ chức cán bộnhằm mục đích nhanh chóng củng cố ổn định đơn vị để hoạt động bìnhthường, tiếp tục phát triển trong thời gian tới và những năm tiếp theo
- Trong phương pháp chỉ đạo điều hành đã có nhiều đổi mới, sát hợpvới tình hình thực tế của đơn vị cụ thể như: Tổ chức họp giao ban định kỳ đểnắm tình hình và có sự chỉ đạo kịp thời từng lĩnh vực công tác; Kiểm trathường xuyên và đôn đốc các đơn vị tham mưu tại Cục cũng như kiểm trađối với các đơn vị cửa khẩu, nên các vướng mắc của các đơn vị trực thuộc
Trang 34được giải quyết kịp thời; Thường xuyên báo cáo xin ý kiến và tham mưucho TCHQ, UBND tỉnh Lạng Sơn để chỉ đạo xử lý kịp thời những vấn đềphát sinh và từng vụ việc tại các đơn vị.
- Phối kết hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng trên địa bàn tỉnh.Chỉ đạo phối kết hợp các đơn vị trong ban quản lý cửa khẩu theo Quyết định
351 của UBND tỉnh từ đó thống nhất việc thực hiện nhiệm vụ giữa các lựclượng chức năng tại cửa khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuấtnhập khẩu của các doanh nghiệp
2 Thực trạng về CNTT tại cục Hải quan Lạng sơn
Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn đã triển khai nhiều biện pháp cải cáchthủ tục hành chính theo quy định của Ngành và từng bước ứng dụng nhữngtiến bộ mới của công nghệ tin học hiện đại, như áp dụng kỹ thuật tin họcquản lý vào hoạt động quản lý Hải quan, quản lý thông tin vi phạm pháp luậtHải quan, quản lý theo dõi nợ thuế, thông tin cưỡng chế thuế, giám sát hànghoá và quản lý thông tin dữ liệu giá tính thuế Xây dựng hệ thống cung cấpthông tin về quá trình chấp hành pháp luật của doanh nghiệp để giúp Chi cụctrưởng Hải quan cửa khẩu quyết định hình thức kiểm tra hàng hoá Trang bị
hệ thống máy soi hành lý, cân điện tử… và nhiều loại trang thiết bị khácphục vụ cho công tác quản lý Hải quan tại các đơn vị thuộc và trực thuộcCục, nhất là các Chi cục Hải quan cửa khẩu
* Cán bộ và nhân viên công nghệ thông tin
Nguồn nhân lực CNTT hiện nay chủ yếu được bố trí ở cấp Cục Chođến nay vẫn còn 5 chi Cục Hải quan chưa có lực lượng chuyên trách vềCNTT
Theo thống kê sơ bộ, hiện tại toàn ngành có khoảng 3 cán bộ côngchức làm việc trong lĩnh vực CNTT và thống kê Hải quan, trong đó số lượngcán bộ chuyên trách làm công tác tin học là 1 người, bán chuyên trách là 1người, bán chuyên trách cả tin học và thống kê là 1 người
Trang 35Hiện trong toàn ngành có khoảng trên 6 cán bộ có trình độ kỹ sư tinhọc và cử nhân tin học, 15 người có trình độ trung cấp tin học Số còn lại cótrình độ đại học, cao đẳng chuyên ngành khác.
* Về trang thiết bị tin học
Hầu hết tại các phòng ban làm việc của Cục Hải quan Lạng Sơn đều
có nối mạng hệ thống internet Cấp cục và chi cục đã lối mạng LAN cục bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết nối dữ liệu truyền hai chiều từ cấp chi
cục đến cấp Cục và ngược lại
Trung bình mỗi phòng làm việc tại cấp Cục có từ 3- 4 máy vi tính
và tại cấp Cục có 2 máy chủ đặt tại phòng tin học và phòng tổ chức đượckết nối với hệ thống máy chủ tại cấp chi cục
Về cơ sở vật chất phục vụ cho công tác tin học : Hiện tại Cục Hải
quan Lạng Sơn có một phòng tin học chuyên xử lý các thông tin từ cấp c ục tới cấp cơ sở, có kỹ sư tin học chuyên trách về các vấn đề tin học có liên
quan từ cấp cục đến cấp chi cục
* Về ứng dụng phần mềm tin học
Hải quan Lạng Sơn đã có những bước đi quan trọng trong việc ứngdụng các phần mềm tin học từ Tổng Cục Hải Quan Đó là các phần mền ứngdụng như: phần mềm kế toán 559; phần mềm hệ thống thu thập và xử lý dữliệu tờ khai, phần mềm hệ thống quản lý theo dõi nợ thuế; phần mềm kế toánthu thuế xuất nhập khẩu; phần mềm hệ thống dữ liệu giá tính thuế (GATT)vàphần mềm hệ thống đăng ký quản lý mã số doanh nghiệp xuất nhập khẩu …Việc ứng dụng các phần mềm đã tạo thuận lợi, tăng độ chính xác, giảm bớtthủ tục rườm rà.Ví dụ: khi sử dụng hệ thống phần mềm như phần mềm hệthống đăng ký quản lý mã số doanh nghiệp xuất nhập khẩu kết hợp với phầnmềm hệ thống quản lý theo dõi nợ thuế đã giúp cho các bộ phận từ cấp Cụcđến cấp Chi Cục hoạt động linh hoạt:việc kiểm tra giám sát nợ đọng thuế củacác doanh nghiệp chỉ việc thực hiện trên hệ thống máy chủ khi mã số củatừng doanh nghiệp đã được lưu theo từng ngày đăng ký từ cấp cơ sở chuyển