1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và các giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên nước ta giai đoạn 2006 - 2010

72 1,2K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và các giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên nước ta giai đoạn 2006 - 2010
Tác giả Tạ Thị Hạnh
Người hướng dẫn GS.TS Đỗ Hoàng Toàn
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 505,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm giáo dục, bồi dưỡng thanh niên, phát huy vai trò làm chủ, tiềm năng to lớn của thanh niên trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành trung ương Đảng (khoáVII) khẳng định: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ 21 có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng rèn luyện thế hệ thanh niên

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Ở nước ta, thanh niên chiếm một tỷ lệ lớn, nếu không nói là lớn nhất trongcác nhóm tuổi của nguồn lao động và lực lượng lao động Dự báo sau 10 năm nữa,thanh niên sẽ là tầng lớp dân cư đông đảo nhất ở Việt Nam Thanh niên thực sự làchủ thể đại diện cho tương lai của dân tộc Nhưng để thực hiện được trách nhiệm tolớn này, họ phải tham gia vào dân số hoạt động kinh tế và phải có việc làm

Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm giáo dục, bồi dưỡng thanh niên, pháthuy vai trò làm chủ, tiềm năng to lớn của thanh niên trong công cuộc xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hànhtrung ương Đảng (khoáVII) khẳng định: “Sự nghiệp đổi mới có thành công haykhông, đất nước bước vào thế kỷ 21 có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giớihay không phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng rènluyện thế hệ thanh niên; công tác thanh niên là vấn đề số còn của dân tộc, là mộttrong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng” Vì vậy, giải quyếtviệc làm cho thanh niên là một trong những mục tiêu hướng tới của chiến lược pháttriển kinh tế xã hội

Hơn nữa, trong giai đoạn cách mạng mới, với bối cảnh quốc tế biến động vàphức tạp, trước những thách thức to lớn xu thế toàn cầu hoá về kinh tế sự phát triểncủa kinh tế tri thức, thanh niên là lực lượng xung kích cách mạng là nguồn nhân lựcquyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nêngiải quyết việc làm cho thanh niên cần được chú trọng để lực lượng thanh niên pháttriển, trưởng thành nhanh nhất và cống hiến nhiều nhất cho đất nước

Nhận thức được vấn đề trên, em đã chọn đề tài nghiên cứu:

“Thực trạng và các giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên nước ta giai đoạn 2006 - 2010”

Đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên.

Trang 2

Chương 2: Phân tích thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho thanh

niên nước ta giai đoạn vừa qua

Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên

nước ta giai đoạn 2006 - 2010

- Đối tượng: Lao động trong độ tuổi thanh niên: 15 - 35 tuổi

- Phạm vi: Về không gian: Cả nước

Về thời gian: Từ năm 2000 - 2004

Nội dung: Phân tích theo giới tính và khu vực (nông thôn - thànhthị)

Trong quá trình em làm đề tài này có sự giúp đỡ tận tình của thầy giáoGS.TS: Đỗ Hoàng Toàn đã giúp em hoàn thành đề tài

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 4 năm 2006

Trang 3

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT

VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN

I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG

1 Một số khái niệm liên quan đến việc làm.

1.1 Việc làm:

Theo Điều 13, chương Việc làm của Bộ luật Lao động nước Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam, “Việc làm là những hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăncấm và đem lại thu nhập cho người lao động”

Người có việc làm là người từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt

động kinh tế mà trong tuần lễ trước điều tra: đang làm công việc để nhận tiềnlương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền hay hiện vật hoặc đang làm công việckhông được hưởng tiền lương, tiền công hay lợi nhuận trong các công việc sản xuấtkinh doanh của hộ gia đình mình hoặc đã có công việc trước đó, song trong tuần lễtrước điều tra tạm thời không làm việc và sẽ trở lại tiếp tục ngay sau thời gian nghỉtạm thời

Căn cứ vào số giờ thực tế làm việc và nhu cầu làm thêm của người được coi

là có việc làm trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra, người có việc làm đượcchia ra thành người có đủ việc làm và người thiếu việc làm

Người đủ việc làm bao gồm những người có số giờ việc làm trong tuần lễ

tính đến điều tra lớn hơn hoặc bằng 40 giờ, hoặc có số giờ nhỏ hơn 40 giờ nhưngkhông có nhu cầu làm việc hoặc những người có số giờ việc làm nhỏ hơn số giờquy định đối với những người làm công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiệnhành

Người thiếu việc làm gồm những người trong tuần lễ tính đến thời điểm điều

tra có số giờ làm việc dưới 40 giờ, hoặc số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy địnhđối với những người làm công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành củaNhà nước, có nhu cầu làm thêm giờ và đã sẵn sàng làm việc nhưng không có việclàm để làm (trừ những người có số giờ việc làm dưới 8 giờ, có nhu cầu làm việc vàsẵn sàng làm việc nhưng không tìm việc làm)

Trang 4

Người thất nghiệp là người từ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động

kinh tế mà trong tuần lễ trước điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu làmviệc Nghĩa là:

Có hoạt động tìm việc trong 4 tuần qua hoặc không có hoạt động đi tìm việctrong 4 tuần qua vì lý do không biết tìm việc ở đâu hoặc tìm mãi mà không được

Hoặc trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 8giờ, muốn và sẵn sàng làm thêm nhưng không tìm được việc

1.2 Giải quyết việc làm:

Mục tiêu giải quyết việc làm là hướng tới có việc làm đầy đủ cho người làođộng, đảm bảo thu nhập ổn định, tiến đến nâng cao mức sống cho người lao động;dần nâng cao chất lượng việc làm để sử dụng một cách có hiệu quả nhất nguồnnhân lực của đất nước

Căn cứ vào mục tiêu trên, người ta phân ra việc giải quyết việc làm thànhviệc làm đầy đủ và việc làm hợp lý

Việc làm đầy đủ là “sự thoả mãn nhu cầu về việc làm của các thành viên cókhả năng lao động trong nền kinh tế”1 Hiểu theo cách này, việc làm đầy đủ thểhiện trạng thái mà mỗi người có khả năng lao động muốn làm việc đều có thể tìmđược việc làm trong một thời gian nhất định Nhưng nó chỉ nói lên sự giải quyếtviệc làm trọng một thời gian nhất định Nhưng nó chỉ nói lên sự giải quyết việc làm

về mặt số lượng, chưa tính đến việc đó có phù hợp với khả năng, trình độ, sởtrường của người lao động hay không

Việc làm hợp lý là “việc làm không chỉ tính về mặt số lượng mà còn xét cả

về trình độ, nguyện vọng, năng khiếu của người lao động; đó là sự phù hợp cả về sốlượng và chất lượng các yếu tố con người và vật chất của sản xuất”2 Việc làm hợp

lý có năng suất lao động và hiệu quả kinh tế – xã hội cao hơn hẳn việc làm đầy đủ,

đó là sự phát triển cao hơn của việc làm đầy đủ

1 Nguyễn Thị Tú Oanh - Phát triển nguồn nhân lực thanh niên trong sự nghiệp Công nghiệp hoá và Hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay- Học viện Chính trị Quốc gia- Luận án Tiến sĩ – Tr 30

2 Như trên – Tr 31

Trang 5

Chính về vậy việc đầu tiên là giải quyết việc làm đầy đủ cho người lao động;đồng thời cùng với quá trình phát triển kinh tế – xã hội, chúng ta phải giải quyếtviệc làm hợp lý cho người lao động.

Cho đến nay vẫn chưa có khái niệm cụ thể nào về giải quyết việc làm, dựavào mục tiêu trên, theo em giải quyết việc làm bao gồm các hoạt động tác độnghoạt động từ cả 3 phía: Nhà nước, doanh nghiệp, người lao động nhằm mở rộngcầu lao động, nâng cao sự phù hợp của cung lao động và phát triển thị trường laođộng; từ giúp đỡ, tạo điều kiện cho người lao động tìm và tự tạo việc làm cho mình

Đối với thực trạng việc làm của nước ta hiện nay, giải quyết việc làm baogồm các hoạt động nhằm chống và giải quyết thất nghiệp ở thành thị và khắc phụctình trạng thiếu việc làm ở nông thôn

1.3 Chính sách việc làm: Là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát

triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010 nhằm phát huy tối đa nội lực, nâng cao chấtlượng nguồn lực và chuyển đổi cơ cấu lao động, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêucầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tạo nhiều việc làm, giảm thất nghiệp ởthành thị và tăng quỹ thời gian lao động được sử dụng ở nông thôn; góp phần tăngthu nhập và cải thiện đời sống nhân dân Nhà nước đã ban hành các văn bản quyphạm pháp luật về việc làm để xác định rõ các hoạt động, quyền và nghĩa vụ củacác tổ chức và cá nhân trong lĩnh vực việc làm

Chính sách việc làm được xây dựng trên quan điểm: giải quyết việc làm chongười lao động và đó cũng là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổnđịnh và phát triển kinh tế, lành mạnh xã hội, đáp ứng yêu cầu bức xúc của nhândân Tạo hành lang pháp lý và điều kiện thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tếđầu tư phát triển, tạo nhiều việc làm và phát triển thị trường lao động Đẩy mạnhchuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, kết hợptăng trưởng việc làm với không ngừng nâng cao chất lượng việc làm Tăng cườngcác hoạt động hỗ trợ trực tiếp giải quyết việc làm thông qua thực hiện có hiệu quảchương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, nhất là các hoạt động tín dụng ưu đãi

để tạo việc làm; thông tin tư vấn và giới thiệu việc làm,

3 Hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết việc làm –Bộ Lao động Thương binh và Xã hội-NXB Lao động Xã hội Tr7

Trang 6

–HN2003-2 Một số khái niệm về thanh niên:

2.1 Khái niệm:

Thanh niên là một khái niệm được sử dụng nhiều trong công tác cũng nhưtrong cuộc sống hàng ngày với nhiều cách hiểu khác nhau Tuỳ theo trường hợp, cókhi thanh niên dùng để chỉ một con người cụ thể, có khi lại được dùng để chỉ tínhcách, phong cách trẻ trung của một người nào đấy, hay để chỉ một lớp người trẻtuổi

Theo từ điển Tiếng Việt: “Thanh niên là người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởngthành”

Tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội, đặc điểm của từng thời đạilịch sử, các yếu tố truyền thống của từng quốc gia, dân tộc, mỗi nước có quyđịnh khác nhau về độ tuổi thanh niên

Ở nước ta, cho đến nay, tuổi thanh niên thường được hiểu đồng nhất với tuổiđoàn viên (15 – 30 tuổi) Nhưng ngay cả tuổi đoàn viên cũng thay đổi qua các giaiđoạn lịch sử Sau Cách mạng tháng Tám là 18 – 24 tuổi, sau năm 1954 là 18 – 26tuổi, sau đó được mở rộng dần từ 18 – 26 tuổi, 16 – 28 tuổi, và hiện nay là 15 – 30tuổi Do điều kiện kinh tế, chính trị xã hội phát triển, thời gian học tập, đào tạo cơbản của tuổi trẻ kéo dài hơn; tuổi thọ bình quân của người dân tăng cao hơn và cácyếu tố khác nên có thể cho rằng độ tuổi 15 – 30 tuổi là phù hợp với thanh niên ViệtNam

Hiện nay, Điều lệ của Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam quy định độ tuổihội viên là dưới 35 tuổi Ban soạn thảo Luật Thanh niên, trong dự thảo Luật cũng

để nghị tính tuổi thanh niên đến hết tuổi 34

Trong đề tài này em thống nhất cách hiểu khái niệm thanh niên như sau:

“Thanh niên là một nhóm nhân khẩu đặc thù bao gồm những người trong độtuổi 15 – 34 tuổi thuộc mọi giai cấp, tầng lớp xã hội, có mặt trong mọi lĩnh vựchoạt động xã hội, có vai trò lớn trong xã hội hiện tại và giữ vai trò quyết định sựnghiệp phát triển trong tương lai của xã hội” 4

4 Chu Xuân Việt – Cơ sở thực tiễn của chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam – NXB Thanh niên – HN 2003 –Tr 18

2.2 Luật thanh niên:

Trang 7

Luật số 53/2005/QH11 của Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 8 (từ ngày 18/10đến 29/11 năm 2005).

Thanh niên quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến

30 tuổi Quy định về quyền và nghĩa vụ của thanh niên, trách nhiệm của nhà nước,gia đình và xã hội đối với thanh niên, tổ chức thanh niên Luật này áp dụng đối với

cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế,đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân Việt Nam

Thanh niên là tương lai của đất nước, là lực lượng xã hội hùng hậu, có tiềmnăng to lớn, xung kích trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đào tạo, bồidưỡng và phát huy thanh niên là trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội

Nhà nước có chính sách tạo điều kiện cho thanh niên học tập, lao động, giảitrí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng về đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thứccông dân, ý chí vươn lên phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh

Quyền và nghĩa vụ của thanh niên:

Trong học tập: Được học tập và bình đẳng về cơ hội học tập Xung kích

tham gia các chương trình phát triển giáo dục và đào tạo, xây dựng xã hội học tập.Học tập nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp, tham gia xây dựngmôi trường văn hoá học đường, trung thực trong học tập

Trong lao động: Lao động để lập thân, lập nghiệp, làm giàu chính đáng, góp

phần xây dựng đất nước Tự lựa chọn việc làm và nơi làm việc phù hợp với khảnăng của bản thân và nhu cầu của xã hội Rèn luyện tác phong công nghiệp, nănglực quản lý, kinh doanh, tuân thủ kỷ luật lao động, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹthuật; nâng cao trình độ nghề nghiệp

Trong bảo vệ tổ quốc: Bảo vệ tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao

quý của thanh niên, được huấn luyện chương trình giáo dục quốc phòng, thực hiệnnghĩa vụ quân sự, giữ gìn bí mật quốc gia

Trong hoạt động khoa học, công nghệ và bảo vệ tài nguyên, môi trường:

Được nghiên cứu khoa học và công nghệ, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất

và đời sống Trung thực và có tinh thần hợp tác trong nghiên cứu khoa học và công

Trang 8

nghệ Tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên; đấutranh chống các hành vi huỷ hoại tài nguyên, môi trường

Trong hoạt động văn hoá, nghệ thuật, vui chơi, giải trí: Tham gia các hoạt

động văn hoá, nghệ thuật, vui chơi, giải trí lành mạnh Thường xuyên rèn luyện đạođức, tác phong, hành vi ứng xử văn hoá, thực hiện nếp sống văn minh Giữ gìn vàphát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ di sản văn hoá, tích cực tham gia xâydựng đời sống văn hoá cộng đồng

Trong bảo vệ sức khoẻ, hoạt động thể dục, thể thao: Được bảo vệ, chăm sóc,

hướng dẫn nâng cao sức khoẻ, kỹ năng sống lành mạnh, phòng ngừa bệnh tật,phòng chống HIV/AIDS; phòng chống ma tuý và các tệ nạn xã hội khác

Trong hôn nhân và gia đình: Được giáo dục kiến thức và hôn nhân và gia

đình, thực hiện hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bìnhđẳng Giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam: Kính trọngông bà, cha mẹ và người lớn tuổi; chăm sóc, giáo dục con, em trong gia đình

Trong quản lý nhà nước và xã hội: Nâng cao ý thức công dân, chấp hành

pháp luật, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhândân, do nhân dân, vì nhân dân Được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị với cơquan, tổ chức về những vấn đề mà mình quan tâm; tham gia góp ý xây dựng cácchính sách, pháp luật liên quan đến thanh niên và các chính sách pháp luật khác.Tham gia tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật của Nhànước

2.3 Đào tạo nghề nghiệp cho thanh niên:

a) Định hướng nghề nghiệp cho thanh niên là một quá trình từ hướng nghiệp

chọn nghề đào tạo, chọn nghề làm việc thích ứng nghề nghiệp và phát triển nghềnghiệp cả cuộc đời lao động:

5 Luật số 53/2005/QH11

Trang 9

Giáo dục hướng nghiệp: Thanh niên trước hết là học sinh phổ thông (cuối

bậc THCS hoặc THPT), trên cơ sở tư vấn và thu nhập thông tin nghề nghiệp nhấtđịnh để hình thành quan niệm bước đầu về nghề nghiệp đồng thời căn cứ vào điềukiện của bản thân đưa ra những dự định bước đầu về phương hướng lựa chọn nghề

để học hoặc làm việc sau này

Chọn nghề để học: Trên cơ sở các thông tin cụ thể về ngành nghề, yêu cầu

của thị trường lao động, hệ thống giáo dục đào tạo và tự đánh giá hoặc được tư vấnđánh giá đúng khả năng, nguyện vọng cá nhân, thanh niên quyết định nghề để học

ở các cấp, bậc học khác nhau (học nghề, Đại học ) Sau khi học chọn được nghề

để học và được đào tạo nghề nghiệp, thanh niên có thể bước đầu nắm vững kiếnthức và kỹ năng làm công việc nào đó Đây là giai đoạn quan trọng chuẩn bị nghềnghiệp phù hợp của thanh niên để sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động Giaiđoạn này sự tác động của các yếu tố định hướng giá trị xã hội và định hướng thịtrường đến các quyết định của cá nhân rất lớn và cũng là giai đoạn quyết định trongphân luồng học sinh để đi vào thị trường lao động, học nghề hoặc học Đại học theoyêu cầu của thị trường

Chọn nghề để làm: Sau khi được đào tạo, thanh niên có năng lực nghề

nghiệp nhất định, hiểu rõ nhu cầu của thị trường lao động, đồng thời căn cứ vàođiều kiện của bản thân để lựa chọn vị trí, nơi làm việc phù hợp với trình độ và điềukiện của bản thân, của gia đình ở giai đoạn này, vấn đề quan trọng nhất là khảnăng đáp ứng nghề nghiệp của thanh niên như thế nào đối với yêu cầu của thịtrường lao động Sự đáp ứng càng tốt, khả năng hội nhập của thanh niên vào thịtrường lao động càng lớn, cơ hội thanh niên có việc làm càng cao Đây là mắt xíchquan trọng của việc định hướng nghề nghiệp cho thanh niên mà kết quả của nó làthanh niên có việc làm phù hợp

Trong giai đoạn này, vai trò tư vấn, giới thiệu và hoạt động giao dịch laođộng trên thị trường là rất quan trọng

Thích ứng và phát triển nghề nghiệp của thanh niên: Sau khi có việc làm,

thanh niên vẫn phải được định hướng để qua thực tiễn họ có thể đảm đương đượchay không; tiếp đó thanh niên luôn phải tiếp tục thích ứng với công việc thông quatích luỹ kinh nghiệm, đào tạo lại, đào tạo nâng cao hoặc bổ sung kiến thức, kỹ năng

do công việc đòi hỏi, đặc biệt là trong điều kiện tiến bộ khoa học kỹ thuật và công

Trang 10

nghệ, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất; thanh niên còn được định hướng đểphát triển nghề nghiệp và thăng tiến, đảm đương các công việc phức tạp hơn, các vịtrí cao hơn Giai đoạn này là kết quả tổng hợp, tích hợp của các giai đoạn trước vàthể hiện hiệu quả tổng hợp các hoạt động định hướng nghề nghiệp.

b) Các hoạt động định hướng nghề nghiệp cho thanh niên.

Hoạt động định hướng nghề nghiệp cho thanh niên là quá trình tác động làmcho thanh niên nâng cao nhận thức về giá trị xã hội của nghề nghiệp, yêu cầu củasản xuất và thị trường lao động để tự mình là lựa chọn nghề, việc làm phù hợp và

có phương hướng đúng về phát triển nghề nghiệp trong cuộc đời lao động củamình

Tổ chức hoạt động hướng nghề nghiệp cho thanh niên là một công việc rấtphức tạp, bao gồm các hoạt động trong nhà trường gắn với quá trình giáo dục đểnâng cao dân trí, đào tạo nghề nghiệp trong các cơ sở đào tạo (dạy nghề, đại học)

và các hoạt động ngoài nhà trường (tác động của gia đình, Nhà nước, các tổ chức

xã hội )

Hoạt động định hướng nghề nghiệp cho thanh niên chủ yếu là thông tin tưvấn và đào tạo định hướng cho thanh niên tuỳ từng đối tượng để thanh niên tự lựachọn và quyết định phương hướng nghề nghiệp cho mình Các hoạt động chủ yếu

có thể là:

- Hoạt động thông tin về nghề nghiệp mà xã hội và thị trường đang cần; cácnghề cần đào tạo và các cơ sở đào tạo; thông tin về thị trường lao động và các hìnhthức giao dịch trên thị trường lao động (cả trong nước và quốc tế);

- Hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường phổ thông (theo chươngtrình chính thức của Nhà nước); kết hợp hoạt động định hướng nghề nghiệp với đàotạo nghề nghiệp trong các cơ sở đào tạo (dạy nghề, đại học); tổ chức đào tạo địnhhướng cho thanh niên trước khi tham gia thị trường lao động (hiện nay đang thựchiện cho đối tượng thanh niên trước khi đi xuất khẩu lao động)

- Hoạt động tư vấn về bản thân thanh niên, về lựa chọn nghề để học, lựachọn việc làm

- Hoạt động đào tạo nghề nghiệp cho thanh niên theo các cấp trình độ và cácbậc đào tạo, trong đó có đào tạo liên thông giữa các cấp trình độ và các bậc đại học

Trang 11

- Hoạt động dịch vụ giới thiệu đào tạo nghề nghiệp, giới thiệu việc làm chothanh niên (giao dịch trên thị trường lao động).

Như vậy, hoạt động định hướng nghề nghiệp cho thanh niên xét về bản chất

có nội dung kinh tế, hướng vào phát triển nguồn nhân lực (yếu tố đầu vào của sảnxuất), nhưng lại có ý nghĩa xã hội rất sâu sắc Có thể nói, đó là một lĩnh vực dịch

vụ lao động – xã hội ngày càng phát triển trong kinh tế thị trường với những hìnhthức rất đa dạng phong phú

Trong đó vai trò của Nhà nước là rất quan trọng trong việc hoạch định chínhsách, phát triển hệ thống sự nghiệp định hướng nghề nghiệp và đầu tư hỗ trợ về tàichính Song trong kinh tế thị trường, cần đa dạng hoá các hình thức và các tổ chứchoạt động định hướng nghề nghiệp theo tinh thần xã hội hoá, nhất là phát triển cácdịch vụ lao động – xã hội của các tổ chức xã hội hoạt động không vì mục tiêu lợinhuận, đồng thời cho phép phát triển các tổ chức dịch vụ xã hội tư nhân với điềukiện nhất định.6

II GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN:

1 Tính tất yếu giải quyết việc làm cho thanh niên.

Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định con người vừa là mục tiêu vừa là độnglực của sự phát triển kinh tế xã hội Con người được xem xét trên hai khía cạnhthống nhất với nhau:

Một là, con người với tư cách là chủ thể sáng tạo ra mọi của cải vật chất và

tinh thần Như vậy, để tồn tại và phát triển, con người bằng sức lao động của mình

là yếu tố của quá trình sản xuất, là lực lượng sản xuất cơ bản nhất, tạo ra giá trịhàng hoá và dịch vụ Muốn vậy phải có quá trình kết hợp sức lao động với các tưliệu sản xuất, gọi là quá trình người lao động làm việc hay là họ có việc làm Vậythông qua làm việc con người mói tạo ra của cải cho xã hội, thúc đẩy kinh tế

6

Định hướng nghề nghiệp và việc làm – Chủ biên TS Mạc Văn Tiến – NXB Lao động Xã hội – Trang 60.

Trang 12

Hai là, con người là người sử dụng và tiêu dùng của cải vật chất và tinh thần

thông qua quá trình phân phối, tái phân phối Trong khái niệm việc làm đã nói ởtrên, việc làm đem lại thu nhập cho người lao động Thu nhập ấy dùng cho việc tiêudùng để tái sản xuất lại sức lao động và phục vụ những nhu cầu khác cho bản thâncũng là gia đình, từ đó góp phần khuyến khích sự sản xuất, phát triển kinh tế

Như vậy, việc làm cho vai trò rất quan trọng cho sự phát triển của cá nhânngười lao động cũng như của nền kinh tế – xã hội

Mặt khác, thất nghiệp tác động tiêu cực đến cả hai mặt kinh tế và xã hội củađất nước, cụ thể như:

Xét về mặt kinh tế, thất nghiệp gắn với tình trạng nghèo đói và phân phối thu

nhập không công bằng Những người thất nghiệp tuy không sản xuất ra sản phẩm,nhưng vẫn phải tiêu dùng mà không tạo thêm sản phẩm mới Giả sử rằng số ngườithất nghiệp đó nếu được làm việc, họ sẽ tạo ra một lượng giá trị chí ít bằng gía trịtối thiểu mà họ tiêu dùng (thực tế thì còn nhiều hơn); nghĩa là xảy ra lãng phínguồn lực xã hội do không sử dụng hết các yếu tố có sẵn của sản xuất Hơn thế,Nhà nước lại mất thêm những khoản chi phí liêu quan như chi cho bảo hiểm thấtnghiệp, trợ cấp mất việc làm, chi cho về hưu sớm cùng các chi phí xã hội cho đàotạo, đào tạo lại, dịch vụ việc làm từ những chương trình chống thất nghiệp

Xét về kinh tế cá nhân, thất nghiệp gây khó khăn cho cuộc sống cá nhân

cũng như cuộc sống của gia đình do không có nguồn thu nhập

Đối với xã hội, thất nghiệp gây nên những hậu quả nặng nề Khi xét các

nguyên nhân của các tệ nạn xã hội người ta nhận thấy rằng, những người thấtnghiệp tham gia đáng kể vào các tệ nạn xã hội như ma tuý, trộm cướp, mại dâm Trong lúc các con đường khác để tạo việc làm rộng mở hơn và khó bị kiểm soát vàngăn chặn hơn Mặt khác, thất nghiệp còn tác động đến tâm tư tình cảm, suy nghĩcủa người lao động, thất nghiệp gây cho người lao động tâm lý luôn luôn lo lắng, bị

đe doạ, làm mất niềm tin của họ vào tương lai tươi sáng

Chính vì vậy trong mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của quốcgia đều hướng vào mục tiêu việc làm đầy đủ cho người lao động, nâng cao chấtlượng việc làm Nhưng trên thực tế, không dễ dàng thực hiện được những mụctiêu này nên một yêu cầu có tính khách quan là cần phải có các biện pháp giảiquyết việc làm cho người lao động

Trang 13

Như chúng ta đã xem xét ở phần trên, thanh niên trong lực lượng lao động,nên nó cũng là một trong những đối tượng cần giải quyết việc làm Mặt khác, thanh

niên là lực lượng lao động dự trữ đầy tiềm năng, là những “người làm chủ tương

lai của nước nhà”, quyết đinh đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nên

giải quyết việc làm cho đối tượng này có ý nghĩa rất quan trọng Mặt khác, độ tuổithanh niên là độ tuổi bắt đầu tham gia vào thị trường lao động nên có những yếuđiểm so với các nhóm tuổi khác trong tìm và tự tạo việc làm; với tính di chuyển caogây khó khăn trong việc phân bố là lực lượng lao động, mặc dù họ có tính chấtxung phong Không những thế, thanh niên là đối tượng đang trong giai đoạn trưởngthành, “nhạy cảm” với sự tác động của bên ngoài nên những tác động tiêu cực đếnbản thân thanh niên mạnh hơn các đối tượng khác Chính vì vậy giải quyết việc làmcho đối tượng này không chỉ là yêu cầu khách quan mà là yêu cầu bức xúc

2 Đặc điểm trong giải quyết việc làm cho thanh niên.

“Giải quyết việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, các cấp, các tổ chức xãhội và của mỗi người lao động”7 Có nghĩa là bản thân thanh niên phải có tinh thầnhọc hỏi, tự lực rèn luyện, vươn lên, chuẩn bị tốt về thể lực và trí lực để tự tìm tạoviệc làm Các cấp, các ngành cần thực hiện tốt chính sách giải quyết việc làm trong

đó có thanh niên, coi đó là nghĩa vụ của mình

Giải quyết việc làm phải phát huy được lợi thể của thanh niên nghĩa là đảmbảo việc làm ấy ngày càng nâng cao về chất lượng, giúp thanh niên có thể phát huyđược tinh thần sáng tạo, ham học hỏi, tính xung phong và hạn chế các yếu điểm củathanh niên về trình độ, kinh nghiệm,

Nhà nước có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổchức và cá nhân đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh để giải quyết việc làm chongười lao động

7

Nghị quyết 120/HĐBT ngày 11/4/1992 của Hội đồng Chính phủ

Trang 14

Trong giải quyết việc làm cho thanh niên, cần có những chính sách hỗ trợcho thanh niên trong tìm và tự tạo việc làm như hỗ trợ về vốn, công nghệ, kinhnghiệm cùng với chính sách hỗ trợ nâng cao chất lượng lao động và định hướngnghề nghiệp và các chính sách tạo hỗ trợ đối với các tổ chức, đơn vị và cá nhânthuộc mọi thành phần kinh tế phát triển nhiều nghề mới nhằm tạo việc làm chonhiều người lao động.

Thanh niên Việt Nam tham gia nhiều vào các tổ chức như Đoàn thanh niênCộng sản Hồ Chí Minh; Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam; Hội sinh viên ViệtNam nên giải quyết làm cho đối tượng này nên gắn với các chương trình hành độngcủa các tổ chức trên thông qua các phong trào hoạt động của thanh niên

3 Một số chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên.

3.1 Chính sách việc làm.

Chính sách việc làm là chính sách xã hội được thể chế hoá bằng pháp luật

của Nhà nước, một hệ thống các quan điểm, chủ trương, phương hướng và biệnpháp để giải quyết việc làm cho người lao động nhằm góp phần đảm bảo an toàn,

ổn định và phát triển xã hội.8

Đối tượng tác động của chính sách việc làm người lao động xã hội, ngườichưa có việc làm, người thất nghiệp, người thiếu việc làm Như vậy chính sách việclàm tác động trực tiếp đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động, trong đó

có thanh niên

Ngày 11/04/1992, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Nghị quyết số120/HĐBT: “Về chủ trương, phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm trongnhững năm tới”, theo đó: Người lao động và người sử dụng lao động có quyền tự

do làm việc, tìm việc và tuyển lao động theo quy định của pháp luật, điều này thúcđẩy thị trường lao động phát triển, mở rộng cơ hội tìm và tạo việc làm cho ngườilao động trong đó có thanh niên

8 Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trang – Về Chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam – NXB Chính trị Quốc gia – HN 1997 – Tr17

Trang 15

Mặt khác, quy định Nhà nước có trách nhiệm:

Một là, Nhà nước định chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch phát triển

kinh tế-xã hội 5 năm và hàng năm, tạo điều kiện cần thiết, hỗ trợ tài chính cho vayvốn hoặc giảm, miễn thuế và áp dụng các biện pháp khuyến khích khác để ngườilao động có khả năng tự giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị và cá nhânthuộc mọi thành phần kinh tế phát triển nhiều nghề mới nhằm tạo việc làm chonhiều người lao động

Hai là, Nhà nước có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho

các tổ chức và cá nhân trong và nước ngoài, gồm cả người Việt Nam định cư ởnước ngoài đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh để giải quyết việc làm cho ngườilao động

Việc quy định những chính sách trên nhằm thúc đẩy mở rộng cầu lao động

Vì nền kinh tế của nước ta còn chưa phát triển, nên ngoài việc khuyên khích nềnkinh tế tự vận động, thì Nhà nước còn có những chính sách hỗ trợ nhằm giúp đỡcác cá nhân, tổ chức mở rộng sản xuất – kinh doanh dịch vụ, giải quyết nhiều việclàm cho người lao động

Ba là, để tác động vào cung lao động, nâng cao chất lượng cung, Chính phủ

có chính sách và biện pháp tổ chức dạy nghề, đào tạo lại; và các chính sách hỗ trợngười lao động tự tạo việc làm bằng các chính sách hướng dẫn sản xuất, kinhdoanh, cho vay vốn với lãi suất thấp phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế trangtrại, kinh tế tư nhân

Để thực các chính sách trên theo Nhà nước quy định Chính phủ lập Chương

trình quốc gia về giải quyết việc làm; nó bao gồm nhiều chương trình được nhấn

mạnh trong từng thời kỳ phát triển kinh tế – xã hội và phù hợp với mục tiêu giảiquyết việc làm, thường là 5 năm Mục tiêu của chương trình là phát triển nguồnnhân lực, nâng cao chất lượng lao động, chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với

cơ cấu kinh tế; đảm bảo việc làm cho phần lớn lao động có nhu cầu việc làm, nângcao năng suất lao động, tăng thu nhập, cải thiện chất lượng nhân dân 9

9

Hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết việc làm – Bộ Lao động Thương binh và Xã hội – NBX Lao động Xã hội – HN

2003 – Tr 12

Trang 16

10 Chỉ thị 41/ - TƯ, ngày 22/9/1998 của Bộ Chính Trị về Xuẩu khẩu lao động và chuyên gia

Trong đó có các chương trình như Phát triển kinh tế, tạo mở việc làm; Xuấtkhẩu lao động và chuyên gia; Các hoạt động hỗ trợ trực tiếp giải quyết việc làm vàphát triển thị trường lao động

* Chương trình phát triển kinh tế tạo mở việc làm, bao gồm chương trình

phát triển nông nghiệp và nông thôn (thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vậtnuôi, đặc biệt là nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản; phát triển kinh tế trang trại;xây dựng các vùng kinh tế mới, khai thác vùng đất trống đồi núi trọc ; xây dựng

cơ cấu cây trồng) và chương trình phát triển công nghiệp và dịch vụ (chú trọng pháttriển các khu công nghệ cao, đặc biệt ở các cùng kinh tế động lực, các vùng đô thị);

từ đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế kéo theo chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướngtăng tỷ trọng lao động ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nôngnghiệp lâm nghiệp

Việc triển khai các chương trình này có ý nghĩa rất lớn đến thanh niên vì náotác động đến tất cả nước lao động tham gia hoạt động kinh tế, đặc biệt việc tậptrung vào việc khai thác các tiềm năng kinh tế ở các vùng, ngành kinh tế trọngđiểm; vùng, ngành kinh tế mới; các khu công nghệ cao, các ngành kinh tế mũi nhọn

có khả năng tạo nhiều việc làm cho thanh niên vì họ tiếp thu nhanh cái mới và cótính chất di chuyển cao

* Chương trình xuất khẩu lao động và chuyên gia, đây hoạt động “góp phần

phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao tay nghềcho người lao động, tăng thu ngoại tệ cho đất nước, ; cùng với các giải pháp giảiquyết việc làm trong nước là chính, xuất khẩu lao động và chuyên gia là một chiếnlược quan trọng, lâu dài, góp phần xây dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xâydựng đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá”10

Đây là chính sách phù hợp với xu hướng mở rộng thị trường lao động quốc

tế với dòng di chuyển lao động từ nước thừa lao động sang nước thiếu lao động;nhu cầu chủ yếu của những nước này là lao động giản đơn, thiên về lao động chântay nên chính sách này thu hút nhiều thanh niên tham gia, những người có nhiều lợithế về mặt này Còn đối với xuất khẩu lao động chuyên gia, những lao động cótrình độ cao ở những ngành công nghệ mới như công nghệ thông tin, công nghệ

Trang 17

sinh học, thanh niên cũng là đối tượng nhanh nhạy trong lĩnh vực này, nên có thểnói chính sách này giải quyết nhiều việc làm cho thanh niên.

Các biện pháp tập trung là thành lập các doanh nghiệp chuyên doanh xuấtkhẩu lao động và chuyên gia có khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động quốc

tế, có chính sách ưu đãi về thuế cho các doanh nghiệp này; xây dựng và hoàn thiệnchính sách đào tạo nguồn lao động xuất khẩu và chuyên gia; đào tạo tay nghề,ngoại ngữ, kiến thức Pháp luật phục vụ XKLĐ và chuyên gia theo một chươngtrình đào tạo của các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp; khuyên khích ngườilao động tự đào tạo, doanh nghiệp tự tổ chức đào tạo; nghiên cứu ban hành Pháplệnh XKLĐ và chuyên gia;

* Các hoạt động hỗ trợ trực tiếp giải quyết việc làm và phát triển thị trường

lao động Như đã nói ở trên thanh niên cần có các chính sách hỗ trợ trong giải

quyết việc làm, nên việc đưa ra chính sách này có ý nghĩa rất lớn với thanh niên, nóbao gồm các hoạt động

Tổ chức cho vay giải quyết việc làm thông qua Quỹ quốc gia giải quyết việc

làm và Quỹ giải quyết việc làm ở địa phương với lãi suất ưu đãi (thấp hơn lãi suấtngân hàng thương mại); có hình thức cho vay tín chấp thông qua chính quyền địaphương hoặc các tổ chức xã hội – chính trị như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, HộiNông dân, để tạo thuận lợi cho người lao động vay vốn; cùng với có chu trìnhthẩm định nhằm đảm bảo các dự án hoạt động hiệu quả và đúng mục đích; chính vìvậy các dự án cho vay vốn thường được gắn với các chiến lược và các chương trìnhphát triển kinh tế của đất nước, địa phương

Nâng cao năng lực và hiện đại hoá các trung tâm dịch vụ việc làm, tổ chức

các hội chợ việc làm, nơi tuyển dụng và cung cấp trực tiếp thông tin về việc làm,nghề nghiệp, đào tạo nghề cho người lao động; có thể nói hội chợ việc làm là nơidành cho thanh niên vì họ là mới ra trường chưa bắt đầu đi tìm việc làm Tổ chứcdạy nghề và nâng cao chất lượng dạy nghề theo hợp đồng học nghề gắn với việclàm tại các Trung tâm dịch vụ việc làm cho những người thất nghiệp, người thiếuviệc làm đã đăng ký tìm việc làm

Trang 18

Xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động bằng cách xây dựng hệ

thống thông tin quản lý lao động, việc làm; tổ chức điều tra, khảo sát, thu thập, xử

lý và sử dụng các thông tin về thị trường lao động, thông tin về lao động, việc làmtại các địa bàn trọng điểm thông qua các cuộc điều tra mẫu, điều tra lặp lại; tổ chứcđiều tra lao động, việc làm hàng năm, hàng quý ở đô thị, hàng năm ở nông thôn.Việc xây dựng hệ thống thông tin này rất quan trọng, nó là cơ sở để người laođộng, nhà tuyển dụng, các trung tâm dịch vụ việc làm nắm bắt được thông tin về thịtrường lao động và là cơ sở để các nhà quản lý về lao động đưa ra những chínhsách đúng đắn điều chỉnh thị trường lao động, từ đó có những chính sách giải quyếtviệc làm hiệu quả cho lao động nói chung và từng đối tượng lao động đặc thù nóiriêng như thanh niên, phụ nữ, lao động trẻ em, người tàn tật,

3.2 Chính sách giáo dục - đào tạo.

Hiến pháp năm 1992 của nước ta đã khẳng định “Giáo dục và đào tạo là quốcsách hàng đầu”

“Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất vànăng lực của công dân, đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sángtạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dângiàu nước mạnh, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(Điều 35 - Hiến pháp) Mục tiêu này hướng đến người lao động hoàn thiện có đủkhả năng và tự tạo việc làm

Chính sách giáo dục – đào tạo tác động trực tiếp đến chất lượng cung laođộng, đặc biệt là đối với thanh niên, người đang trong độ tuổi học tập và cũng làlứa tuổi có khả năng học hỏi và tiếp thu kiến thức hiệu quả nhất Điều quan trọngnhất là chính sách đào tạo nghề cho người lao động, vì đây là cơ sở cho việc làmmột công việc trong tương lai; 15 tuổi là bắt đầu tuổi lao động; nếu học liên tục thì

đã tốt nghiệp trung học cơ sở, và đây cũng là độ tuổi được học nghề, theo quy địnhcủa Bộ luật lao động, 13 tuổi được phép học nghề nên các chính sách giáo dục -đào tạo trong giai đoạn này tác động đến định hướng học sinh theo con đường nào

và điều này tác động trực tiếp đến công việc sau này của thanh niên

Trang 19

Chính phủ đã ban hành Luật phổ cập giáo dục tiểu học, ngày 12/08/1994 về

xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, tăng cường thu hút sự tham giacủa các ngành, các cấp, các thành phần kinh tế, tổ chức xã hội, gia đình vào sựnghiệp phát triển giáo dục, đào tạo

Ngày 11/4/2002, Thủ tướng đã ban hành Quyết định số 48/02/QĐ-TTG phêduyệt Quy hoạch mạng lưới dạy nghề giai đoạn 2002-2010 Mục tiêu là “Tạo cơhội cho đông đảo người lao động được trang bị kiến thức, kỹ năng tiếp thu côngnghệ mới để tự tạo việc làm, chủ động tìm kiếm cơ hội lập nghiệp” Với các chínhsách:

Tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và phươngthức đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng cao, đặc biệt là trong các ngành kinh

tế, kỹ thuật mũi nhọn, công nghệ cao; mở rộng các hình thức đào tạo nghề đa dạng,linh hoạt, năng động; gắn việc hình thành các khu công nghiệp, khu công nghệ caovới hệ thống đào tạo nghề; phát triển nhanh và phân bố hợp lý hệ thống trường dạynghề trên địa bàn cả nước”

3.3 Chính sách huy động lực lượng thanh niên phát triển kinh tế xã hội.

Ngày 06/4/1993, Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị 145-TTG về việcthanh niên tham gia thực hiện chương trình kinh tế xã hội bao gồm: chương trìnhQuốc gia giải quyết việc làm; các chương trình khuyến nông và xây dựng một sốtrung tâm chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật nghề nông cho thanh niên ở nhữngvùng kinh tế nông nghiệp trọng điểm, có nhiệm vụ vừa tập huấn kỹ thuật vừa chỉđạo làm mẫu để vận động đông đảo nhân dân làm theo; thực hiện các chương trìnhxoá đói, giảm nghèo; các chương trình biển Đông hải đảo, “Làng thanh niên”,

“Khu thanh niên”, “Vùng thanh niên” bằng việc tổ chức vận động thanh niên ramột số đảo, vùng kinh tế lập nghiệp, xây dựng các vùng dân cư mới trên đảo và cáccụm làng thanh niên trở thành làng trọng điểm, kiểu mẫu trong phát triển kinh tế

Các loại hình tổ chức tập hợp thanh niên tham gia phát triển kinh tế-xã hộigồm:

+ Làng thanh niên, khu thanh niên

Trang 20

+ Thanh niên xung phong phát triển kinh tế.

+ Các trung tâm và các câu lạc bộ chuyển giao công nghệ

+ Đội ánh sáng văn hoá, đội thanh niên tình nguyện xây dựng nông thôn.+ Câu lạc bộ thanh niên giúp nhau làm kinh tế

+ Trung tâm xúc tiến việc làm thanh niên

Để thực hiện chính sách trên, tại Hội nghị Ban chấp hành TU Đoàn Thanhniên Cộng Sản Hồ Chí Minh lần thứ II, khoá VI, năm 1993 đã phát động phongtrào “Thanh niên lập nghiệp”

* Phong trào “Thanh niên lập nghiệp”

Các cấp bộ Đoàn triển khai thành các phong trào như: “Học tập vì ngày mailập nghiệp”, “Xoá đói giảm nghèo xây dựng nông thôn mới”, “Giải quyết việc làmcho thanh niên’, “Phong trào tình nguyện”,

- Phong trào “Học tập – rèn luyện vì ngày mai lập nghiệp”

Hướng nghiệp cho thanh niên, tư vấn cho thanh niên việc chọn nghề, họcnghề và xin việc làm thông qua các trung tâm dịch vụ việc làm và các văn phònggiới thiệu việc làm cho thanh niên

Động viên, khuyến khích các đối tượng thanh niên tích cực học tập văn hoá,chuyên môn, nghiệp vụ nâng cao trí tuệ để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hoá Thông qua các câu lạc bộ học sinh, sinh viên ở các cơ sở Đoàntrường học, các quỹ “khuyến học, khuyến tài, giúp nhau trong học tập”, , cácnguồn vốn cho sinh viên vay để học tập, động viên thanh niên tham gia chươngtrình phổ cập tiểu học, phổ thông cơ sở, trung học phổ thông; các chương trình đàotạo nghề và có tay nghề cao để tìm cho mình một công việc tốt Mặt khác động viêntham gia chương trình xoá mù chữ, chống tái mù nhằm nâng cao dân trí ở các vùngtrong cả nước thông qua việc tham gia các đội thanh niên tình nguyện xuống cơ sởlàm nhiệm vụ xoá mù chữ hay tổ chức các lớp học tình thương

- Phong trào “Xoá đói giảm nghèo xây dựng nông thôn mới”

Động viên thanh niên tham giai các chương trình xoá đói, giảm nghèo vàgiúp đỡ các gia đình đói, nghèo ở địa phương theo các dự án thuộc chương trìnhnhư trồng rừng, chương trình trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và chương

Trang 21

trình khai thác bãi bồi ven biển – nuôi trồng, đánh bắt chế biến thuỷ sản Đoànthanh niên và Hội thanh niên ở các cơ sở đưa ra các giải pháp giúp các gia đình trẻvượt qua đói, nghèo thông qua các câu lạc bộ “Bạn giúp nhau”, các quỹ tự nguyệnđóng góp Đặc biệt quan tâm đến việc phát triển kinh tế trang trại trẻ, mạnh dạn xâydựng những mô hình mới ứng dụng KHKT, với những cây, con giống mới đạt hiệuquả cao; khuyến khích thực hiện ở những vùng kinh tế mới, vùng khó khăn Chínhđiều này thể hiện được tinh thần sáng tạo, mạnh dạn, “dám nghĩ, dám làm” củathanh niên và nó tác động trực tiếp đến việc làm, sự nghiệp của thanh niên

Xây dựng ý thức tự lực tự cường, tự vượt lên của thanh niên, không chấpnhận đói nghèo Sau đó các cơ sở Đoàn và Hội thanh niên giúp họ về kinh nghiệm,vốn, về vật tư, để họ tham gia vào làm kinh tế với các hình thức tín chấp để đểgiúp họ vay vốn trong các chương trình quốc gia giải quyết việc làm, vốn trồngrừng và các nguồn vốn khác như quỹ hỗ trợ phát triển của Nhà nước ở các ngânhàng Ngoài ra, các cơ sở Đoàn còn vận động phong trào “tiết kiệm, tích luỹ” để

“lập thân, lập nghiệp” Đây là cơ sở cho việc giao lưu, học hỏi, giúp đỡ nhau làmkinh tế, tạo việc làm tốt và ổn định; điều này rất có ý nghĩa đối với thanh niên nôngthôn và nhất trong xây dựng kinh tế trang trại

Tổ chức các lớp tập huấn khoa học, kỹ thuật (KHKT), các điểm trình diễn kỹthuật, thành lập các câu lạc bộ khuyến nông-lâm-ngư để đẩy mạnh các hoạt độngứng dụng tiến bộ KHKT vào trong sản xuất để tạo việc làm có chất lượng với năngsuất cao, mở rộng sản xuất tạo việc làm mới

- Phong trào “Thanh niên tình nguyện”.

Tổ chức các đội hình học sinh, sinh viên tình nguyện, ngắn hạn; đội hìnhthanh niên xung kích ở địa phương; đội trí thức trẻ tình nguyện tham gia phát triểnkinh tế nông thôn, miền núi (những thanh niên đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng,trung học chuyên nghiệp, phục vụ có thời hạn ít nhất là 2 năm) tham gia các hoạtđộng phát triển kinh tế, đặc biệt là nông thôn, vùng sâu, vùng xa mục đích để giáodục thanh niên hiểu được nghĩa vụ phục vụ đất nước, phát huy tinh thần xungphong và quan trọng là phân bố lại lực lượng lao động thanh niên mới ra trường ở

Trang 22

những nơi thừa lao động sang nơi những vùng thiếu lao động và phát triển kinh tế ởnhững vùng này, tạo mở cầu lao động, tăng giải quyết việc làm.

Tổ chức các hoạt động thanh niên tình nguyện đảm nhận các công trìnhthanh niên, phần việc thanh niên trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới Đâychính là “trường học kinh nghiệm”11 nâng cao về trình độ tay nghề để họ có đượckiến thức cũng như khả năng thực hành tốt khi xin việc, cái mà ở độ tuổi thanh niêncòn yếu; cũng như rèn luyện được những đức tính tốt trong lao động như yêu laođộng, chăm chỉ, dẻo dai Mặt khác nó giúp nâng cao cơ sở hạ tầng nông thôn pháttriển kinh tế, tạo mở nhiều việc làm mới, gián tiếp giúp cho chính minh

Để khuyến khích thanh niên tham gia các hoạt động tình nguyện, nhất làchương trình trí thức trẻ tham gia phát triển kinh tế nông thôn, Nhà nước có

“Chính sách ưu đãi đối với đội viên các đội trí thức trẻ tình nguyện tham gia phát triển kinh tế nông thôn miền núi” theo Quyết định số 149/2000/QĐ-TTG ngày

28/12/2000 của Thủ tướng Chính phủ Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, khi về địaphương xuất phát được cấp chính quyền nhập hộ khẩu và giúp đỡ tạo điều kiện ổnđịnh cuộc sống; được ưu tiên trong thi tuyển công chức, thi tuyển sinh đại học vàsau đại học Nếu có ý định ở lâu dài ở nơi đã tình nguyện đến công tác thì đượcchính quyền địa phương ưu tiên sắp xếp việc làm, tạo điều kiện về chỗ ở, phươngtiện sản xuất và các điều kiện sinh hoạt để ổn định cuộc sống

* Phong trào’Thanh niên xung phong”

Theo Quyết định 770/TTG ngày 20/12/1994 của Thủ tướng chính phủ về tổchức và chính sách đối với thanh niên xung phong, “Thanh niên xung phong(TNXP) là hình thức tổ chức lực lượng xung kích của thanh niên do Đoàn TNCS

Hồ Chí Minh tổ chức ra nhằm tập hợp thanh niên xung kích thực hiện các chươngtrình, dự án kinh tế, xã hội của Nhà nước, vừa làm nhiệm vụ kinh tế - xã hội, giảiquyết việc làm, vừa giáo dục, rèn luyện và đào tạo nghề nghiệp cho thanh niên.”

Để khuyến khích phong trào này phát triển, Nhà nước có chính sách ưu đãicho các đơn vị TNXP được vay vốn lãi suất ưu đãi trong Quỹ quốc gia giải quyếtviệc làm và các nguồn vốn khác để tạo thêm chỗ việc làm cho thanh niên; được xét

hỗ trợ đầu tư cho các hoạt động xã hội như giáo dục, dạy nghề, thể thao, ; đối với

Trang 23

đơn vị TNXP thực hiện nhiệm vụ ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, biêngiới, hải đảo, ; ngoài việc được hưởng chính sách của các chương trình dự ánđược giao, còn được xét hỗ trợ đầu tư cho các hoạt động giáo dục, dạy nghề, vănhoá, thể thao, nhằm đồng việc khuyến khích thanh niên lập nghiệp và góp phầnnâng cao dân trí trong vùng; các đội viên tham gia TNXP được ký hợp đồng laođộng trong thời gian thực hiện dự án Sau thời gian làm nhiệm vụ, tuỳ theo điềukiện địa phương và nguyện vọng từng người để sắp xếp công việc hợp lý; có thểđược xem xét cử đi đào tạo ở các trường lớp và ngành nghề cần thiết.

Nói tóm lại, giải quyết việc làm cho thanh niên cần được thực hiện kết hợpgiữa các chính sách giải quyết việc làm nói chung với các phong trào của ĐoànThanh niên để các chính sách này đến với thanh niên nhanh hơn và hiệu quả hơn

11 Trần Văn Miếu – Phong trào thanh niên với đào tạo nguồn nhân lực trẻ – NXB Thanh niên – HN 2001

Trang 24

1.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế theo ngành.

Tổng sản phẩm quốc dân của nước ta tăng hàng năm với tốc độ năm sau caohơn năm trước Giai đoạn 2000 – 2004 tốc độ tăng bình quân năm đạt 7,2%

Bảng 1: Tổng sản phẩm trong nước theo ngành kinh tế.

Năm

Tốc độ tăng hàng năm (Tính theo giá so sánh)

Cơ cấu (Tính theo giá thực tế) Tổng NLN CN &

Trang 25

thấy, ngành DV chiếm >37% tổng sản phẩm quốc dân, tuy nhiên tỷ trọng này đanggiảm xuống do tốc độ tăng ngành này thấp hơn tốc độ tăng chung của nền kinh tế.Đối với ngành CN & XD tuy tốc độ tăng cao so với các ngành khác, nhưng domức tăng không nhanh nên tỷ trọng của ngành này trong 5 năm chỉ tăng từ 36,73%năm 2000 lên 40,21% năm 2004.

Theo ước tính của tổng cục thống kê, báo cáo của chính phủ Bộ kế hoạch đầu tư năm 20005 tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta sẽ tăng 8,43% Đó là điềuđáng mừng để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, mà còn làm tiền

-đề thực hiện nhiều mục tiêu kinh tế xã hội khác như chống lạm phát, giảm thấtnghiệp, cải thiện cán cân thanh toán, phát triển giáo dục, y tế xã hội

1.2 Xu hướng phát triển kinh tế.

a) Xu hướng hội nhập kinh tế thế giới.

Đây là xu hướng tất yếu để phát triển kinh tế, nó sẽ đem lại những cơ hội vàthách thức mới cho nền kinh tế Việt Nam Mở cửa hội nhập sẽ có cơ hội thu hútđầu tư của nước ngoài Nước ta có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú nhưngchưa được khai thác hiệu quả, giá nhân công rẻ và nằm ở vị trí địa lý khá thuận lợi,cùng với môi trường đầu tư khá ổn định đã giúp chúng ta thu hút được lương vốnđầu tư lớn, năm 2005 tổng đầu tư phát triển 320 nghìn tỷ đồng (tổng đầu tư pháttriển/GDP là 38,2%)

Mặt khác, toàn cầu hoá tạo cơ hội Việt Nam tiếp thu những tiến bộ khoa học

kỹ thuật của thế giới, phát triển kinh tế, mở rộngthị trường xuất khẩu hàng hoá.Năm 1999, xuất khẩu được 11.539 triệu $; đến năm 2002 là 15.656 triệu $, tăng8,92%/năm, cao hơn cả tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc dân Nhưng đến năm 2005tổng kim ngạch xuất khẩu là 31.800 triệu $, chúng ta vẫn hướng tập trung xuấtkhẩu hàng hoá sử dụng lợi thế nhân công rẻ và nguồn tài nguyên dồi dào như sảnphẩm ngành dệt may (chiếm 25% giá trị sản phẩm xuất khẩu), khoáng sản (chiếm25% giá trị xuất khẩu), nông sản (chiếm 37% giá trị xuất khẩu), Chính điều này

đã tạo nhiều việc làm cho người lao động, trong đó có thanh niên Mặt khác Nhànước ta cũng đang hướng tới việc xuất khẩu những mặt hàng có hàm lượng trí tuệ

Trang 26

cao như công nghệ thông tin, phần mềm tin học để tăng giá trị xuất khẩu và cạnhtranh cao; những sản phẩm mang tính chất mới này phù hợp với lao động thanhniên.

Đồng thời, hội nhập giúp nâng cao chất lượng lao động, tham gia có hiệu quảvào phân công lao động quốc tế, rút ngắn khoảng cách về trình độ chuyên môn kỹthuật cũng như kinh nghiệm quản lý và thúc đẩy xuất khẩu lao động

Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và của các doanhnghiệp nước ta nhìn chung còn yếu kém Trình độ công nghệ kỹ thuật lạc hậukhông cho phép nâng cao năng suất lao động, sản phẩm làm ra giá thành cao,không cạnh tranh được với các mặt hàng của các nước Mặt khác, sự cạnh tranhlàm cho các doanh nghiệp thu hẹp các chi phí đầu vào, thay cho việc thuê thêmnhân công là việc mua máy móc thiết bị tăng năng suất Lao động xuất khẩu vớikhả năng cạnh tranh thấp làm cho nước ta chủ yếu mới xuất khẩu lao động giảnđơn, lao động nặng nhọc, tiền lương thấp

b) Xu hướng nền kinh tế mới.

Nền kinh tế mới hay còn gọi là nền kinh tế trí thức, nền kinh tế số hay xa lộthông tin Đây là nền kinh tế có “sản phẩm là thông tin hay hàm lượng trí tuệ cao”,tốc độ phát triển rất nhanh với cơ cấu những ngành nghề mới như công nghệ thôngtin, công nghệ sinh học, năng lượng và vi điện tử, đòi hỏi đội ngũ nhân lực trongtương lai phải là những chuyên gia trong những lĩnh vực này Điều này tỏ ra phùhợp với lớp trẻ, đối tượng nắm bắt nhanh với những thay đổi về công nghệ Muốnvậy, họ phải luôn học hỏi và tiếp thu kiến thức mới; xã hội hoá giáo dục đào tạo,phổ cập tin học cho học sinh trong nhà trường là mục tiêu đề ra của Nhà nước tahiện nay

Mặt khác nền kinh tế số giúp thu nhập tin một cách nhanh nhất, hiệu quảnhất, điều này hỗ trợ đắc lực trong trao đổi thông tin thị trường lao động; nó giúpthanh niên có những thông tin đúng để định hướng trong việc học nghề, tìm và tựtạo việc làm cho mình

2 Đặc điểm xã hội.

Trang 27

Nền kinh tế phát triển kéo theo sự phát triển về xã hội, con người được tiếpxúc với nhiều nền văn minh mới đã tự hoàn thiện mình trở thành những người laođộng hoàn thiện về cả trí tuệ lẫn tinh thần ngày càng đáp ứng tốt yêu cầu của người

Nhưng một điều không thể tránh khỏi đối với một xã hội phát triển theo kinh

tế thị trường là những tác động ngoài ý muốn với những tệ nạn xã hội như nghiệnhút, ma tuý, mại dâm, mà đối tượng chụi tác động mạnh nhất là thanh niên; điềunày làm cho thanh niên là đối tượng khó kiểm soát hành vi hơn các đối tượng khácnên giải quyết việc làm cho đối tượng này phải gắn với việc ngăn chặn các tệ nạn

xã hội

3 Xu hướng phát triển lao động thanh niên.

3.1 Quy mô và tốc độ tăng dân số.

Dân số nước ta, năm 2000 là 77.635,4 nghìn người với tốc độ tăng 1,36%;đến năm 2004 là 82.032,3 nghìn người với tốc độ tăng 1,4% và ước tính đến năm

2005 sẽ là 1,33% Mặc dù tốc độ tăng xu hướng giảm, năm 2004 là 1,4%; năm

2005 là 1,33% nhưng với phần diện tích đất nước nhỏ và cố định đã làm cho mật

độ dân số ngày càng cao Đây là một trở ngại cho sự phát triển kinh tế vì đất canhtác, đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp lại do nhu cầu nhà ở và xây dựng nhàmáy, tăng lên; trong khi nền kinh tế vẫn chủ yếu là nông nghiệp với đa số dân sốlàm nông lâm nghiệp, làm cho dân số làm nghề nông trở nên thiếu việc làm, xảy ratình trạng di cư ồ ạt ra thành thì ngài thời gian mù vụ

Dân số nước ta tập trung ở nông thôn, chiếm 74,89% dân số cả nước; trongkhi thành thị chỉ chiếm 25,11% Nhưng dân số thành thị có xu hướng tăng nhanhhơn so với dân số nông thôn làm cho tỷ trọng dân số thành thị có xu hướng tăng,điều này là do xu hướng đô thị hoá của đất nước, dân số di cư đến thành thị ngày

Trang 28

càng nhiều và có xu hướng định cư lâu dài ở thành thị Nhưng do mức độ đô thịhoá không phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước nên xảy ratình trạng thất nghiệp nhiều ở thành thị Đặc biệt là đối tượng thanh niên là đốitượng dễ di chuyển nhất, càng làm cho tình trạng thất nghiệp thanh niên ở thành thịtrở nên gay gắt.

3.2 Quy mô và cơ cấu lao động thanh niên.

Lực lượng lao động nước ta liên tục tăng với tốc độ cao (năm 2005 là 44,38triệu người tăng 2,64% với quy mô tăng thêm 1,143 triệu người) Quy mô lao độngthanh niên tăng hàng năm về số tuyệt đối nhưng tỉ lệ lao động thanh niên trong lựclượng lao động lại giảm do dân số Việt Nam có xu hướng già hoá Lực lượng laođộng ở độ tuổi thanh niên năm 2005 chiếm 45,72% so với dân số trong độ tuổi laođộng (giảm so với năm 2004 là 1,06%) trong đó số thanh niên nữ là 49,34%

Cơ cấu lực lượng lao động trẻ theo nhóm tuổi có xu hướng thay đổi trongthời gian qua Năm 2004, 2005 lực lượng lao động nhóm tuổi 15-24 chiếm 21,5%tổng lực lượng lao động, không đổi so với năm 2003; nhóm tuỏi 25-34 chiếm25,3% - 24% giảm so với năm 2003 Lao động trẻ ở khu vực nông thôn khá cao(chiếm 47,02%) so với dân số từ 15 tuổi trở lên, lao động thanh niên chiếm trên70% lực lượng lao động ở nông thôn

Lực lượng lao động không biết chữ đã giảm liên tục từ 5,7% năm 2000xuống còn 4,04% năm 2005; các cấp học cao có xu hướng tăng (trong đó, tốtnghiệp PTTH năm 2005 là 21,21% tăng 1,51% so với năm 2004) Nói chung, thanniên có trình độ học vấn cao hơn mức chung của cả nước 49,7% có trình độ hếttrung học cơ sở và 38,78% phổ thông trung học Trình độ học vấn của lao độngthanh niên trong các doanh nghiệp chiếm tỷ lệ khá cao so với lao động chung của

cả nước (số năm đi học bình quân là 7,8 năm so với mức chung của cả nước là 7,3năm) Đây là điều kiện thuận lợi để giúp thanh niên đi đầu trong tiếp thu khoa học– kỹ thuật, công nghệ, nâng cao trình độ nghề nghiệp, kỹ năng và dễ dàng hơntrong hội nhập thị trường lao động Tuy nhiên trình độ học vấn giữa các vùng có sựkhác nhau rõ rệt: Tỷ lệ tốt nghiệp PTTH ở vùng Đồng bằng sông Hồng đạt 28,83%,

Trang 29

tiếp đến là Đông Nam Bộ (27,99%, thấp nhất là Đồng bằng sông Cửu long(11,37%) Trình độ học vấn phổ thông ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Đồngbằng sông Cửu Long vẫn thấp hơn so với các vùng khác.

Năm 2005 tỉ lệ qua đào tạo là 24,79% tăng 2,3% so với năm 2004, tỉ lệ quađào tạo nghề là 15,22% tăng 1,84% Chất lượng lao động thanh niên đã được cảithiện rõ rệt qua từng năm, nhưng vẫn còn ở mức thấp, chưa theo kịp với yêu cầucủa thị trường cả về chuyên môn lẫn tác phong làm việc công nghiệp Đồng thời,

có sự chênh lệch khá lớn giữa các vùng miền (Đông Nam Bộ tỉ lệ lao động qua đàotạo cao gấp 3 lần so với vùng Tây Bắc)

Cơ cấu đào tạo”thầy nhiều hơn thợ” chưa có xu hướng thay đổi gây thiếu laođộng chuyên môn kỹ thuật cao, nhiều ngành nghề và công việc vẫn phải thuê laođộng nước ngoài Xuất khẩu lao động chủ yếu vẫn là lao động có chuyên môn kỹthuật thấp hoặc chỉ qua giáo dục định hướng Nhiều thị trường lao động ngoài nước(Hàn Quốc, Anh Quốc, Nhật Bản, ) yêu cầu lao động có tay nghề cao với mứclương hấp dẫn nhưng hầu như chúng ta chưa đáp ứng được cả về số lượng và chấtlượng

Lao động di chuyển trong độ tuổi thanh niên có xu hướng chiếm một tỉ lệkhá cao Đây là do tâm lý thích di chuyển của thanh niên

Cùng với phát triển của khoa học kỹ thuật thì nghề nông đã bớt rất nhiều vất

vả, nhu cầu về lao động không cần nhiều nên thời gian nhàn rỗi tăng Do đó, đểđảm bảo cuộc sống đòi hỏi lao động nông thôn phải tìm cách mưu sinh nơi thànhthị và các khu công nghiệp, khu chế xuất Sự di chuyển này chủ yếu tập trung vàocác nhóm tuổi từ 20 – 30, trong đó thanh niên nam di chuyển nhiều hơn nữ (khoảng52%) Hiện nay, đô thị có tỷ lệ lao động tạm trú lớn là Hà Nội, TP HCM, ĐồngNai, Bình Dương, lao động ngoại tỉnh chiếm tới 60-70%, trong đó lao động thanhniên chiếm hơn 90% Trình độ học vấn của lao động dịch chuyển rất thấp và hầuhết là lao động phổ thông chưa qua học nghề, chỉ tạm đáp ứng được các công việcgiản đơn trong các ngành công nghiệp nhệ như dệt may, giày da, làm vàng mã Tuy nhiên, hầu hết doanh nghiệp tại các KCN ở Đồng Nai, Bình Dương, TP.HCM, hiện nay không tuyển được lao động với yêu cầu giản đơn và phải mất quá

Trang 30

nhiều chi phí vào đào tạo lao động do nhiều lao động muốn sống ở quê hương vàkhông quay trở lại các khu đô thị làm ăn.

II THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN.

1 Cung lao động thanh niên.

Bảng 2 cho thấy, tỷ trọng thanh niên trong độ tuổi lao động năm 2000 chiếm28,51% so tổng dân số, đến năm 2003 tăng lên 29,15%; tuy nhiên, tỷ trọng thanhniên trong độ tuổi lao động so tổng dân số trong độ tuổi lao động chiếm gần 1/2nhưng có xu hướng giảm Điều này chứng tỏ cơ cấu dân số Việt Nam đang bắt đầuchuyển dần sang cơ cấu dân số già hơn

Xét về cung số lượng lao động thanh niên, chỉ tiêu quan trọng hơn là sốthanh niên tham gia lực lượng lao động Xu hướng chung thanh niên tham gia lựclượng lao động về số tuyệt đối vẫn tăng, mặc dù thanh niên đang ở độ tuổi đi học,nhưng về tỷ lệ đang giảm dần (Bảng 3):

Trang 31

Bảng 3: Số lượng và cơ cấu dân số trong độ tuổi thanh niên tham gia lực

lượng lao động các năm 2000 – 2003

(Đơn vị: 1000 người)

THANH NIÊN THAM GIA LLLĐ(%)

TỔNG LLLĐ

Bảng 3 phản ánh số thanh niên tham gia lực lượng lao động các năm 2000 –

2003 tăng bình quân khoảng 206.000/năm, nhưng về tỷ lệ chiếm khoảng trên 62%,thấp hơn tỷ lệ chung của cả nước (trên 74%) và đang có xu hướng giảm do số đihọc tăng lên, hàng năm có khoảng gần 9 triệu thanh niên còn đi học, chưa tham gialực lượng lao động

1.2 Về chất lượng.

Chất lượng lao động thanh niên biểu hiện chủ yếu ở trình độ học vấn vàchuyên môn kỹ thuật Chỉ tiêu này được xem xét ở phạm vi quốc giavà ở cấp doanhnghiệp

Theo kết quả điều tra lao động - việc làm hàng năm, thời kỳ 1996-2002 laođộng thanh niên không biết chữ hoặc học hết tiểu học đã giảm liên tục, các cấp họccao hơn có xu hướng tăng; nói chung thanh niên có trình độ học vấn cao hơn mứcchung của cả nước và khoảng 1/2 có trình độ hết THCS, THPT (bảng 4)

Bảng 4: Trình độ học vấn của lao động thanh niên các năm 1996 – 2002.

Trang 32

Chưa hết tiểu học 22,8 20,3 18,6 18,0 16,5 15,4

Đã tốt nghiệp tiểu học 26,9 28,1 29,4 28,9 29,3 28,6Tốt nghiệp THCS 31,1 32,4 32,3 31,9 33,0 34,2Tốt nghiệp THPT 13,5 14,1 15,9 17,1 17,2 18,1Cộng 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00

(Nguồn: Điều tra lao động – Việc làm hàng năm 1996 – 2002)

Số năm đi học bình quân của lao động thanh niên khá cao, bình quân 7,8năm (năm1998), cao hơn mức chung của cả nước (7,3 năm), và không có sự khácbiệt lớn về giới, thể hiện tính ưu việt của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Trình độ học vấn của lao động thanh niên trong các doanh nghiệp khá cao sovơi lao động thanh niên chung cả nước Kết quả điều tra thị trường lao động năm

2003 của Viện KHLĐ&XH tại 873 doanh nghiệp với 5.078 lao động cho thấy(bảng 5) lao động thanh niên có trình độ tiểu học đã giảm và chiếm tỷ lệ rất nhỏ,5,3% năm 2001 và 3,6% năm 2002 Đại bộ phận lao động thanh niên trong doanhnghiệp đã tốt nghiệp Trung học Phổ thông (69,9% năm 2001 và 72,6% năm 2003)

Bảng 5: Trình độ học vấn của lao động thanh niên trong các doanh nghiệp năm 2001, 2003.

(Đơn vị: %)

Trang 33

mới thành lập, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp sản xuất hàng xuấtkhẩu (giày da, may mặc, lắp ráp điện tử ) có nhu cầu tuyển nhiều lao động, trongkhi lao động qua đào tạo không đủ để cung cấp cho doanh nghiệp.

Bảng 6: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động thanh niên trong các doanh nghiệp năm 2001, 2003.

Trình độ chuyên môn kỹ thuật Năm 2001 Năm 2002

Công nhân kỹ thuật không có bằng 36,6 36,00

tỷ lệ đào tạo (chủ yếu đối với lao động thanh niên) giữa Cao đẳng, Đại học và trênĐại học - Trung học chuyên nghiệp – công nghiệp kỹ thuật là 1- 0,9 – 2,8, trongkhi các nước đang phát triển khác tỷ lệ đó là 1 – 4 – 10 nên thiếu trầm trọng laođộng kỹ thuật trình độ cao, nhiều nghề và công việc phải thuê lao động nước ngoài;xuất khẩu lao động chủ yếu là lao động thanh niên trình độ chuyên môn kỹ thuậthoặc chỉ qua giáo dục định hướng

2 Cầu lao động thanh niên:

Cầu lao động thanh niên được phản ánh ở tình trạng đủ việc làm, thiếu việclàm và thất nghiệp

Trang 34

2.1 Thực trạng việc làm của thanh niên tham gia hoạt động kinh tế (HĐKT) phân theo khu vực nông thôn và thành thị.

Từ bảng dưới đây, ta thấy ở thành thị tỷ lệ có việc làm đầy đủ chiếm 90,18%tổng dân số HĐKT ở thành thị; ở nông thôn tỷ lệ này là 91,34% tổng dân số HĐKT

ở nông thôn; điều này cho thấy ở thành thị tỷ lệ không có việc làm đầy đủ nhiềuhơn ở nông thôn

Bảng 7: Cơ cấu việc làm trong 7 ngày qua của thanh niên HĐKT chia theo nhóm tuổi năm 2003.

(Chú thích: “Đủ” là đủ việc làm, “Thiếu” là thiếu việc làm, “TN” là thất nghiệp, “C/L” là tỷ lệ số người thiếu việc làm so với người thất nghiệp)

(Nguồn: Tính toán trên số liệu thống kê lao động việc làm ở Việt Nam 2003

-Bộ Lao động Thương binh và Xã hội - NXB lao động xã hội – Hà Nội 2004)

Ở thành thị, tỷ lệ thất nghiệp cao hơn ở nông thôn, còn ở nông thôn tỷ lệthiếu việc làm cao hơn rât nhiều so với thất nghiệp Điều này được thể hiện rât rõ ởchênh lệch thiếu việc làm và thất nghiệp, ở nông thôn chênh lệch này lên tới 6,33lần, nhưng ở thành thị chỉ là 0,75 lần Trên đây cho thấy ở thành thị phải đối mặtvới cả hai vấn đề là thất nghiệp và thiếu việc làm; còn ở nông thôn, tập trung giảiquyết ở tình trạng thiếu việc làm

Ở thành thị, ở nhóm tuổi thanh niên tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm rấtcao, càng ở độ tuổi trẻ thì tỷ lệ này càng lớn, và cao nhất ở nhóm tuổi 15 – 19, thấtnghiệp chiếm 14,97%; thiếu việc làm chiếm 7,53%, ở nhóm này thất nghiệp gấp1,99 lần thiếu việc làm; sau đó đến nhóm tuổi 25 – 29, chênh lệch này giảm xuốngcòn là 1,87 lần và chênh lệch ở nhóm tuổi 30 – 34 lại rút ngắn lại 1,04 lần

Trang 35

Ở nông thôn, tỷ lệ thiếu việc làm và thất nghiệp cũng chiếm tỷ lệ cao ở nhómtuổi thanh niên, đặc biệt là nhóm tuổi trẻ; nhóm 15 – 19 có tỷ lệ thiếu việc làm là10,17% và thất nghiệp là 3,44%, cao nhất trong các nhóm tuổi; chênh lệch số ngườithiếu việc làm và thất nghiệp là 2,95 lần; đến nhóm 20 – 24 chênh lệch này lên 3,78lần và sau đó tăng sự chênh lệch này lên Điều này cho thấy, trong nông thôn ởnhóm tuổi trẻ, thất nghiệp cũng là vấn đề cần phải giải quyết.

Nói tóm lại, thanh niên thành thị có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn thiếu việc làm,còn thanh niên nông thôn thì ngược lại nhưng vấn đề thất nghiệp ở nhóm tuổi này ởhai khu vực tỏ ra cấp thiết hơn các nhóm tuổi khác

2.2 Thực trạng thiếu việc làm của thanh niên.

a) Thiếu việc làm theo nhóm tuổi thanh niên qua các năm.

Số thanh niên thiếu việc làm chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thanh niên,năm 2000 là 60,51% đến năm 2004 là 58,83% vậy là có xu hướng giảm xuống chothấy giải quyết tình trạng thiếu việc làm cho thanh niên khả quan hơn các nhómkhác Nhưng nhìn chung thanh niên vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong số thiếu việc làmtrong khi thanh niên chỉ chiếm 49,64% dân số HĐKT (năm 2004) cho thấy tỷ lệthiếu việc làm thanh niên cao hơn các nhóm khác

Bảng 8: Tỷ trọng các nhóm tuổi thanh niên trong tổng số thiếu việc làm

phân theo giới.

Trang 36

(Nguồn: Tổng hợp số liệu thống kê lao động việc làm ở Việt Nam 2000,

2001, 2002,2003 – Bộ Lao động Thương binh và Xã hội – NXB Lao động Xã hội).

Ta thấy, thiếu việc làm nhiều ở nhóm tuổi trẻ trong nhóm tuổi thanh niên,qua 5 năm tỷ trọng này có xu hướng giảm xuống; năm 2000 chênh lệch về số ngườithiếu việc làm giữa nhóm 15 – 24 và nhóm 15 – 34 là 1,03 lần; đến năm 2004 là1,07 lần cho thấy tốc độ giảm thiếu việc làm ở nhóm 25 – 34 nhanh hơn nhóm 15 –24

b) Thiếu việc làm theo nhóm tuổi thanh niên phân theo giới

Tỷ trọng nữ thanh niên thiếu việc làm trong tổng số nữ thiếu việc làm cũngchiếm tỷ trọng lớn(>55%), và cũng có xu hướng giảm Nếu so với tổng số ngườithiếu việc làm là thanh niên, nữ thanh niên chiếm tỷ lệ gần bằng số nam và có thể

có xu hướng tăng bằng nam, năm 2000 tỷ trọng thiếu việc làm của nữ thanh niêntrong tổng số thiếu việc làm là 46,37%, đến năm 2004 tăng lên là 48,46%

Trong đó tỷ trọng thiếu việc làm trong tổng số thiếu việc làm của 2 nhómtuổi thanh niên đều giảm xuống

Năm 2000 mức chênh lệch giữa 2 nhóm 15 – 24 và 25 – 34 là 1,09 lần vàđến năm 2003 là 0,92 lần cho thấy tốc độ giảm của nhóm tuổi 25 – 34 Điều nàycho thấy đã xuât hiện nhiều công việc có tính chất đầy đủ giành cho nhóm tuổi trẻ

Như vậy, đối với cả thanh niên nói chung và nữ thanh niên nói riêng, thiếuviệc làm có xu hướng giảm xuống nhưng nữ giảm không nhanh bằng nam còntrong từng nhóm thanh niên tỷ trọng thiếu việc làm không giảm xuống rõ ràngnhưng nhìn chung nhóm thanh niên trẻ vẫn thiếu việc làm nhiều hơn nhóm còn lại.Nên cần phải đẩy mạnh hơn nữa giải quyết tình trạng thiếu việc làm ở nhóm tuổitrẻ

c) Thiếu việc làm qua các năm phân theo khu vực.

Như đã xem xét ở trên, nhóm thanh niên chiếm tỷ trọng lớn trong số thiếuviệc làm ở nông thôn và thành thị, đều chiếm tỷ lệ >50% và đang có xu hướnggiảm xuống

Ở thành thị, tỷ trọng này giảm từ 58,91% (cao hơn nông thôn) xuống còn là48,57% (thấp hơn nông thôn) cho thấy thiếu việc làm nhóm thanh niên ở thành thị

Ngày đăng: 17/07/2013, 21:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tổng sản phẩm trong nước theo ngành kinh tế. - Thực trạng và các giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên nước ta giai đoạn 2006 - 2010
Bảng 1 Tổng sản phẩm trong nước theo ngành kinh tế (Trang 24)
Bảng 2: Số lượng và cơ cấu dân số trong độ tuổi thanh niên các  năm 2000 -2003. - Thực trạng và các giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên nước ta giai đoạn 2006 - 2010
Bảng 2 Số lượng và cơ cấu dân số trong độ tuổi thanh niên các năm 2000 -2003 (Trang 30)
Bảng 3: Số lượng và cơ cấu dân số trong độ tuổi thanh niên tham gia lực lượng lao động các năm 2000 – 2003 - Thực trạng và các giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên nước ta giai đoạn 2006 - 2010
Bảng 3 Số lượng và cơ cấu dân số trong độ tuổi thanh niên tham gia lực lượng lao động các năm 2000 – 2003 (Trang 31)
Bảng 7: Cơ cấu việc làm trong 7 ngày qua của thanh niên HĐKT chia theo nhóm tuổi năm 2003. - Thực trạng và các giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên nước ta giai đoạn 2006 - 2010
Bảng 7 Cơ cấu việc làm trong 7 ngày qua của thanh niên HĐKT chia theo nhóm tuổi năm 2003 (Trang 34)
Bảng 8: Tỷ trọng các nhóm tuổi thanh niên trong tổng số thiếu việc làm phân theo giới. - Thực trạng và các giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên nước ta giai đoạn 2006 - 2010
Bảng 8 Tỷ trọng các nhóm tuổi thanh niên trong tổng số thiếu việc làm phân theo giới (Trang 35)
Bảng 10: Tỷ lệ thất nghiệp qua các năm ở các độ tuổi thanh niên ở thành thị. - Thực trạng và các giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên nước ta giai đoạn 2006 - 2010
Bảng 10 Tỷ lệ thất nghiệp qua các năm ở các độ tuổi thanh niên ở thành thị (Trang 38)
Bảng 11: Cơ cấu và tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên phân theo tuổi và giới (năm 2003) - Thực trạng và các giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên nước ta giai đoạn 2006 - 2010
Bảng 11 Cơ cấu và tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên phân theo tuổi và giới (năm 2003) (Trang 39)
Bảng 13: Tình hình thực hiện Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm. - Thực trạng và các giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên nước ta giai đoạn 2006 - 2010
Bảng 13 Tình hình thực hiện Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm (Trang 43)
Bảng 14: Dự báo số lượng lao động thanh niên năm 2006 và 2010 - Thực trạng và các giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên nước ta giai đoạn 2006 - 2010
Bảng 14 Dự báo số lượng lao động thanh niên năm 2006 và 2010 (Trang 55)
Bảng 15: Dự báo số thanh niên tham gia hoạt động kinh tế thường xuyên năm 2006, 2010 - Thực trạng và các giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên nước ta giai đoạn 2006 - 2010
Bảng 15 Dự báo số thanh niên tham gia hoạt động kinh tế thường xuyên năm 2006, 2010 (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w