1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực cạnh tranh tiêu thụ xe máy tại Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam

79 352 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao năng lực cạnh tranh tiêu thụ xe máy tại Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam
Tác giả Lưu Thị Dương
Trường học Khoa KHQL
Thể loại Chuyên đề
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 359 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoà mình vào sự phát triển của nền kinh tế với xu hướng toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại ngày càng tăng trên thế giới và sẽ là những động lực quan trọng nhất thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ.

Trang 1

BẢNG LIỆT KÊ CHỮ VIẾT TẮT

CPTM Cổ phần thương mại

GTGT Giá trị gia tăng

GTVT Giao thông vận tải

KH & KT Khoa học và kỹ thuật

QĐU Quyết định uỷ ban

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Hoà mình vào sự phát triển của nền kinh tế với xu hướng toàn cầu hoá

và tự do hoá thương mại ngày càng tăng trên thế giới và sẽ là những động lựcquan trọng nhất thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ Cùng với xuhướng này nước ta đã bắt đầu đổi mới và tham gia vào các hoạt động quốc tế

và khu vực Tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam có phần muộn màng sovới các nước khác nên cũng có nhiều những thuận lợi và khó khăn nhất định.Khi gia nhập tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế thì sự di chuyển hàng hoá,dịch vụ, tài chính, và các yếu tố khác qua biên giới ngày càng gia tăng Điều

đó có nghĩa là tồn tại sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, khốc liệt hơn trước.Thế nhưng trong tiến trình hội nhập và cạnh tranh quốc tế, thì nước ta lại yếuhơn các nước trong cùng chặng đường đua vì thế càng gây khó khăn cho cácdoanh nghiệp trong nước Sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam phần thìphải cạnh tranh với sản phẩm của các doanh nghiệp trong nước phần thì phảicạnh tranh với các sản phẩm, hàng hoá ngoại nhập khác tràn vào thị trườngtrong nước Do đó, để nâng cao tiêu thụ đòi hỏi các doanh nghiệp cần thoảmãn tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng

Xe máy là một loại phương tiện phổ biến của người dân hiện nay Xemáy là một trong những sản phẩm có tính cạnh tranh cao bởi vì nó phụ thuộcvào chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng, giá bán…Những năm gần đây lượng xemáy được tiêu thụ trên thị trường tăng một cách nhanh chóng, nên tính cạnhtranh của nó dường như càng trở nên gay gắt hơn Mục tiêu lớn nhất củaCông ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam cũng như bất cứ doanh nghiệpnào khác đó là lợi nhuận Lợi nhuận thì Công ty càng cao khi lượng sản

Trang 3

phẩm tiêu thụ được càng lớn Để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnhtranh gay gắt như hiện nay vấn đề quan trọng nhất là phải tiêu thụ được sảnphẩm.

Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam thành lập được gần 20năm là một doanh nghiệp Nhà nước tồn tại trong cơ chế thị trường nên Công

ty còn có những khó khăn nhất định Là một doanh nghiệp hoạt động trênnhiều lĩnh vực, trong đó lĩnh vực sản xuất lắp ráp xe máy của Công ty đã có

bề dày kinh nghiệm và đem lại lợi nhuận lớn cho Công ty Tình hình tiêu thụsản phẩm của Công ty trong những năm vừa qua có phần chậm lại do trên thịtrường có rất nhiều sản phẩm đang cạnh tranh gay gắt với sản phẩm củaCông ty Trước thực tế đó vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh tiêu thụ sảnphẩm là một vấn đề bức xúc và luôn luôn được các Công ty đặc biệt quantâm Đó là vấn đề lớn đối với sự phát triển của Công ty trong hiện tại vàtương lai

Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của công tác tiêu thụ sảnphẩm, thực tiễn của Công ty qua thời gian thực tập tại Công ty với nhữngkiến thức đã được trang bị trong thời gian học tại trường, em mạnh dạn chọn

đề tài ”Nâng cao năng lực cạnh tranh tiêu thụ xe máy tại Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam” để làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp cùng một

mong muốn là có được những đóng góp thiết thực cho công tác tiêu thụ sảnphẩm tại Công ty

Chuyên đề gồm có những phần sau:

Phần I: Những vấn đề về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh tiêu thụ sản

phẩm của doanh nghiệp.

Phần II: Thực trạng về năng lực cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm của Công

ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam.

Trang 4

Phần III: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tiêu thụ sản

phẩm tại Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam.

Với vị trí là một sinh viên của khối kinh tế với kiến thức còn hạn chế,kinh nghiệm thực tế chưa nhiều, năng lực bản thân còn hạn chế nên bài viếtkhông tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự giúp

đỡ, đóng góp nhiệt tình của các thầy cô giáo, các cô chú trong Công ty và cácbạn để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy giáo TS Bùi Đức Thọ,Phòng Kế toán – Tài chính, Phòng Tổ chức, cùng các cán bộ công nhân viênCông ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam đã tận tình giúp đỡ em trongthời gian thực tập để em hoàn thiện chuyên đề này

Trang 5

PHẦN I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP

I KHÁI NIỆM VỀ CẠNH TRANH VÀ VAI TRÒ CẠNH TRANH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1 Khái niệm về cạnh tranh

“Cạnh tranh là sự ganh đua nhau giữa các nhà doanh nghiệp trong việcdành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế củamình trên thị trường, để đạt được một mục tiêu kinh doanh cụ thể ví dụ nhưlợi nhuận, doanh số hoặc thị phần.”(1)

“Một doanh nghiệp được coi là có sức cạnh tranh và đánh giá nó có thểđứng vững cùng với các nhà sản xuất khác, với các sản phẩm thay thế, hoặcbằng cách đưa ra các sản phẩm tương tự với mức giá thấp hơn cho sản phẩmcùng loại, hoặc bằng cách cung cấp các sản phẩm tương tự với các đặc tính

về chất lượng hay dịch vụ ngang bằng hay cao hơn.”(2)

Cạnh tranh là một cơ chế vận hành chủ yếu của cơ chế thị trường và làđộng lực để phát triển kinh tế Cạnh tranh là sự ganh đua của các chủ thểtham gia cạnh tranh và dùng mọi biện pháp để chiếm ưu thế trên thị trường

về sản phẩm của mình trong phạm vi cho phép để thu được lợi nhuận kinh tế

(1) (27, tr 32)

Trang 6

cao nhất Do đó có thể hiểu cạnh tranh là một cơ chế vận hành chủ yếu của cơchế thị trường và động lực để phát triển kinh tế.

2 Vai trò của cạnh tranh

Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản, là năng lực phát triểncủa nền kinh tế thị trường Với tổng thể xã hội thì cạnh tranh là một động lựctích cực giúp cho xã hội luôn luôn phát triển Trong khi đó cạnh tranh sẽ đemlại lợi ích cho một nhóm người và cũng đem lại thiệt hại cho một nhóm ngườikhác Cạnh tranh có chức năng vô cùng quan trọng đối với toàn bộ nền kinh

tế quốc dân Trên thị trường thì cạnh tranh điều chỉnh cung cầu hàng hoá Khimột loại hàng hoá nào đó được cung cấp nhiều hơn cầu trên thị trường, do đó

sẽ có sự cạnh tranh giữa các người bán hàng hoá với nhau làm cho giá cảgiảm xuống Các doanh nghiệp muốn tồn tại được phải hạ giá bán sản phẩm,tức là phải tự cải tiến công nghệ và trang thiết bị kỹ thuật hay phương thứcquản lý của mình để tạo ra sản phẩm với giá thành thấp hơn các đối thủ cạnhtranh đang tồn tại Ngược lại khi cung hàng hóa thấp hơn cầu, giá cả hànghoá sẽ tăng lên, lợi nhuận của doanh nghiệp cao Các doanh nghiệp sẽ đầu tưthêm vốn nâng cao năng lực sản xuất…Tóm lại cạnh tranh là một động lựcrất quan trọng nhất làm để các doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất vìcác doanh nghiệp luôn luôn chú ý đến cải tiến công nghệ, trang bị sản xuấthay phương thức sản xuất

Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnhtranh, vì cạnh tranh sẽ giúp cho các doanh nghiệp có khả năng thì ngày càngvững mạnh còn các doanh nghiệp nhỏ bé yếu ớt sẽ bị phá sản Cạnh tranh làmột yếu tố thúc đẩy các doanh nghiệp đang tồn tại được sẽ ngày càng nângcao khả năng của mình trên thị trường, là cơ hội tốt để các doanh nghiệp sẵnsàng cho xu thế hội nhập của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 7

3 Các biện pháp cạnh tranh

3.1 Cạnh tranh bằng sản phẩm

Theo quan điểm của Marketing thì “Sản phẩm là tất cả những cái, nhữngyếu tố có thể thoả mãn nhu cầu hay ước muốn được đưa ra chào bán trên thịtrường với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng.”(3)

Hiện nay, biện pháp cạnh tranh bằng sản phẩm được các doanh nghiệp quantâm hàng đầu và coi đó là quyết định sự sống còn của họ Câu hỏi luôn luônđược đặt ra đối với các doanh nghiệp là: sản phẩm của họ có tiêu thụ đượctrên thị trường hay không, có khả năng cạnh tranh hay không, có được ngườitiêu dùng chấp nhận… Để các sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ và

có sức cạnh tranh trên thị trường…thì các doanh nghiệp phải tự xem xét vàđưa ra thị trường những sản phẩm tốt nhất, những sản phẩm có thể đáp ứngtối đa sự thoả mãn của khách hàng, khi đó mục tiêu của doanh nghiệp mớithực hiện được

3.1.1 Sử dụng khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm

Biện pháp cạnh tranh bằng sản phẩm đó là phải nâng cao chất lượng củasản phẩm Các doanh nghiệp cần chọn những sản phẩm có thế mạnh, khôngngừng cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá sản phẩm theonhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng và nâng cao của xã hội Doanh nghiệpcần có một định hướng phát triển rõ rệt: đổi mới máy móc thiết bị và côngnghệ nhanh chóng, đồng bộ Hiện đại hoá khâu thiết kế sản phẩm, lựa chọn

hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến trên thế giới phù hợp với doanh nghiệp

để nâng cao chiến lược sản phẩm Ngay bản thân doanh nghiệp phải tự tìmtòi phát minh sáng kiến để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu quả, tínhnăng sử dụng sản phẩm cho khách hàng

Trang 8

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng Một trong những quanđiểm đó là: ”Theo tính chất công nghệ của sản xuất: Chất lượng sản phẩm làtổng hợp những đặc tính bên trong của sản phẩm có thể đo được hoặc so sánhđược, phản ánh giá trị sử dụng và chức năng của sản phẩm đó đáp ứng chonhững yêu cầu cho trước trong những điều kiện xác định về kinh tế - xãhội.”(4) Do đó, để sản phẩm cạnh tranh được bằng chất lượng thì doanhnghiệp không ngừng cải tiến kỹ thuật để sản phẩm đáp ứng, thoả mãn đượcnhu cầu của khách hàng.

3.1.2 Đa dạng hoá sản phẩm

Sản phẩm là những cái, những yếu tố được bán ra trên thị trường nhằmthoả mãn nhu cầu, thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng của khách hàng Vớinền kinh tế thị trường hiện nay, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng là mộttrong những phương thức để các doanh nghiệp cạnh tranh bằng sản phẩm.Tuy nhiên, nếu như hàng hoá chỉ có chất lượng tốt cũng chưa đủ để cạnhtranh trên thị trường, không đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của kháchhàng Các doanh nghiệp ngày càng phải có xu hướng mở rộng các mặt hàng

đa dạng hoá sản phẩm Nếu như hàng hoá có chất lượng, kiểu dáng, mẫu mãbao gói đẹp nhưng không bắt nhịp với thời đại thì cũng không thể cạnh tranhđược với các đối thủ cạnh tranh Hiện nay các doanh nghiệp trên thế giới đầu

tư cho nghiên cứu phát triển sản phẩm mới chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơcấu chi phí nhằm đầu tư nghiên cứu các công nghệ kỹ thuật mới nâng caochất lượng và năng suất lao động, tạo sản phẩm mới, độc đáo, hiện đại, đápứng tốt hơn các yêu cầu của khách hàng, qua đó tạo vị trí vững chắc trên thịtrường

3.2 Cạnh tranh bằng giá

Trang 9

“Giá cả là một phạm trù kinh tế tổng hợp, tồn tại một cách khách quancùng với sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hoá Đồng thời, giá cảcũng là tín hiệu phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa người bán và người mua;giữa nhà sản xuất với thị trường và xã hội.”(5) Giá cả là một chỉ số rất quantrọng được chúng ta sử dụng để lựa chọn và mua sắm sản phẩm của ngườimua Vì tâm lý của người mua bao giờ cũng muốn mua được hàng với giá cảphải chăng và phù hợp với giá trị thực tế của hàng hoá đó Chính vì thế màkhâu định giá sản phẩm là rất khó khăn và phức tạp Việc định giá sản phẩmsao cho sản phẩm đó phải chuẩn xác để sản phẩm tiêu thụ được và có khảnăng cạnh tranh được trên thị trường Cạnh tranh bằng giá là một trong nhiềuloại hình cạnh tranh hiện nay, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnhtranh tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp Để có chính sách giá đúng đắn

là một khó khăn rất lớn đối với bất kỳ doanh nghiệp nào Khi đó hàng hoácủa doanh nghiệp sẽ được bán ra nhiều, lợi nhuận thu được sẽ cao và doanhnghiệp ngày càng có uy tín trên thương trường Xe máy là phương tiện đi lạicủa những người có thu nhập cao Khi đời sống xã hội được nâng cao, mứcsống của họ ngày càng cao hơn, nhu cầu mua sắm phương tiện đi lại vừanhanh, giảm tiêu hao sức lực, kiểu dáng đẹp chất lượng cao…Tuy nhiên giá

cả vẫn là vấn đề mà họ rất quan tâm Để có một sản phẩm phù hợp với nhucầu sử dụng, với mức giá cao như sản phẩm xe máy, thì người mua phải lựachọn giá cả của xe cho phù hợp với chất lượng, tính năng của chiếc xe sẽmang lại Thu nhập của người dân Việt Nam chưa cao vì thế các doanhnghiệp có thể dùng vũ khí cạnh tranh bằng giá là rất phù hợp

3.3 Cạnh tranh về phân phối

Trang 10

“Kênh phân phối là một tập hợp các doanh nghiệp và cá nhân độc lập vàphụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình đưa hàng hoá từ người sản xuấttới người tiêu dùng Nói cách khác, đây một là một nhóm các tổ chức và cánhân thực hiện các hoạt động làm cho sản phẩm hoặc dịch vụ sẵn sàng đểngười tiêu dùng hoặc người sử dụng công nghiệp có thể mua và sử dụng.”(6)

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng cạnh tranh tương đốicủa một doanh nghiệp trong tương quan với các chủ thể kinh doanh khác.Không có năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại và pháttriển trong nền kinh tế theo cơ chế thị trường Năng lực cạnh tranh nâng caomức tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào hệ thống kênh phân phối củadoanh nghiệp Kênh phân phối là cầu lối trung gian giữa nhà sản xuất đếnngười tiêu dùng Nếu như không có kênh phân phối thì nhà sản xuất gần nhưkhông thể thực hiện được hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Bởi vìnhà sản xuất muốn phân phối được nhiều sản phẩm thì cần rất nhiều khâutrung gian thương mại Các khâu trung gian nằm giữa người sản xuất vàngười tiêu dùng là các thành viên quan trọng trong nhiều kênh phân phối.Một số loại trung gian thương mại chủ yếu: nhà bán buôn, nhà bán lẻ, đại lý

và môi giới, nhà phân phối Một số mạch, kênh phân phối là:

(6) (6, tr 320)

Nhà B.buônNhà bán lẻ

Đại lýNhà SX

Nhà B.buôn

Nhà SX

Nhà bán lẻ

Trang 11

Sơ đồ: Các kênh phân phối cho sản phẩm tiêu dùng cá nhân (6)

3.4 Cạnh tranh bằng sức khuyếch trương

3.4.1 Quảng cáo

“Quảng cáo là công cụ truyền thông được sử dụng khá phổ biến đặc biệt

là trong thị trường hàng tiêu dùng cá nhân.”(7) Mỗi doanh nghiệp có nhữngloại hàng hoá, do đó đối tượng khách hàng khác nhau cho nên hoạt độngquảng cáo phải khác nhau để phù hợp cho những đối tượng nhận tin khácnhau Để hoạt động quảng cáo đem lại hiệu quả cao thì các doanh nghiệp cầnxác định được mục tiêu, ngân sách, nội dung, phương tiện, chương trình dànhcho quảng cáo của doanh nghiệp mình Xuất phát từ những quyết định về thịtrường mục tiêu mà các doanh nghiệp sẽ có mục tiêu quảng cáo khác nhau.Nếu như doanh nghiệp muốn hướng vào mục tiêu là mở rộng thị trường mới,giới thiệu sản phẩm mới, xây dựng và củng cố uy tín của những nhãn hiệuhàng hoá hay uy tín của doanh nghiệp v.v…

Nội dung của quảng cáo phải nói lên được những điều đáng mong ước,những khía cạnh độc đáo, khác biệt, tính thú vị về sản phẩm của doanhnghiệp so với những sản phẩm của các hãng khác Do đó thông điệp muốngửi đến đối tượng nhận tin của doanh nghiệp thì phải thể hiện được nội dung:tính hấp dẫn, tính độc đáo, tính đáng tin cậy về sản phẩm của mình Từ thông

(6) (6, tr 325)

(7) (6, tr 384)

Trang 12

điệp đó doanh nghiệp sẽ lựa chọn các phương tiện truyền tin thích hợp thôngqua nhiều phong thái khác nhau.

Có rất nhiều phương tiện quảng cáo khác nhau để gửi thông điệp tớingười nhận tin Các doanh nghiệp cần lựa chọn các phương tiện quảng cáosao cho thu hút được nhiều khách hàng đặc biệt là khách hàng mụch tiêu Mặtkhác việc lựa chọn phương tiện quảng cáo còn phải chú ý đến sự thích hợpvới hàng hoá, tính đặc thù của thông tin, chi phí cho quảng cáo, hay mức độtrung thành của khách hàng đối với một số loại phương tiện nhất định…Một

số phương tiện mà các doanh nghiệp thường sử dụng để quảng bá rộng rãihình ảnh sản phẩm của mình để lôi cuốn, kích thích người tiêu dùng: Báo,Tạp chí, ti vi, radio hay quảng cáo qua panô áp phích, computermarketing,qua catalog v.v

3.4.2 Tuyên truyền

Tuyên truyền là sử dụng phương tiện truyền thông đại chúng,không mấttiền để truyền tin về hàng hoá, dịch vụ, hay chính doanh nghiệp với kháchhàng hiện tại và khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp Doanh nghiệp cóthể tuyên truyền cho sản phẩm, tuyên truyền hợp tác, hay tuyên truyền về xử

lý một vụ việc bất lợi cho doanh nghiệp đang bị lan rộng ra ngoài v.v…Tuyên truyền phải chi tiết hoá đối với sản phẩm của doanh nghiệp để thuyếtphục hướng dẫn, khuyên nhủ, vận động, thuyết minh v.v công chúng trên thịtrường

3.4.3 Xúc tiến bán (khuyến mại)

Xúc tiến bán hàng là sử dụng một nhóm các công cụ cổ động, kích thíchkhách hàng nhằm tăng nhanh nhu cầu về sản phẩm tại chỗ một cách tức thì.Xúc tiến bán hàng (khuyến mại) là đem lại lợi ích vật chất bổ sung cho ngườimua để phục vụ mục đích tăng doanh số cho doanh nghiệp Các doanh nghiệp

Trang 13

lựa chọn nhiều phương tiện xúc tiến bán: nhóm công cụ tạo nên lợi ích kinh

tế trực tiếp để thúc đẩy người tiêu dùng và nhóm công cụ thúc đẩy hoạt độngcủa các trung gian trong kênh phân phối Các doanh nghiệp muốn thực hiệntốt hoạt động xúc tiến bán thì phải có chương trình phù hợp với điều kiện vàhoàn cảnh của doanh nghiệp

3.4.4 Bán hàng cá nhân

Bán hàng cá nhân không giống như quảng cáo, tuyên truyền, xúc tiếnbán, nó là quan hệ trực tiếp giữa người bán và các khách hàng hiện tại vàkhách hàng tiềm năng Để thực hiện được hoạt động bán hàng, doanh nghiệpphải huy động nhiều người trong doanh nghiệp và được tổ chức một cáchkhoa học Các nhân viên bán hàng phải là những người sáng tạo, được đàotạo để có thể bán được nhiều hàng Qúa trình bán hàng bao gồm một số bước:thăm rò và đánh giá, tiếp xúc, giới thiệu và chứng minh, xử lý những từ chối,kết thúc, theo dõi Trong quá trình bán hàng cá nhân cần phải có quản trị bánhàng Vì nếu như không có quản trị bán hàng thì quá trình bán hàng khôngđược kiểm tra, không phát huy được hiệu quả Doanh nghiệp phải tuyển mộ,lựa chọn, huấn luyện, giám sát, đánh giá những người bán hàng của doanhnghiệp Bên cạnh đó doanh nghiệp cần phải có chế độ trả thù lao và tiềnthưởng xứng đáng lực lượng bán hàng Có như vậy doanh nghiệp mới thựchiện được hoạt động bán hàng của mình

II TIÊU THỤ

1 Khái niệm tiêu thụ sản phẩm

“Tiêu thụ sản phẩm là tổng thể các biện pháp về mặt tổ chức, kinh tế và

kế hoạch nhằm thực hiện việc nghiên cứu và nắm nhu cầu thị trường, tổ chứcsản xuất, tiếp nhận sản phẩm, chuẩn bị hàng hoá và xuất bán theo yêu cầu của

Trang 14

khách với chi phí kinh doanh nhỏ nhất”(8) Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuốicùng và quan trọng nhất trong khâu lưu thông hàng hoá và là cầu nối trunggian giữa sản xuất, phân phối, và tiêu dùng.

Các nghiệp vụ sản xuất, kỹ thuật chuẩn bị hàng hoá để xuất bán chokhách hàng bao gồm: tiếp thị, phân loại, mẫu mã…để chuẩn bị cho hàng hoáchuyển hàng theo yêu cầu của khách hàng Các nghiệp vụ kinh tế, tổ chức và

kế hoạch thì đòi hỏi phải tổ chức tốt công tác thị trường nắm bắt nhu cầu vềsản phẩm của người tiêu dùng Thông qua tiêu thụ sản phẩm mà người muachấp nhận thanh toán tiền và nhận hàng thì quá trình thực hiện giá trị hànghoá là kết thúc

2 Nội dung của chủ yếu của tiêu thụ sản phẩm

2.1 Nghiên cứu thị trường

Nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập, xử lý và phân tích số liệu vềthị trường một cách có hệ thống Đây là một công việc để xác định khốilượng, giá bán của sản phẩm khi đem ra tiêu thụ trên thị trường Khi nghiêncứu thị trường ta xác định được cả thị trường hiện tại và tương lai của sảnphẩm của doanh nghiệp mình tức là phải hướng tới những thị trường tiềmnăng của sản phẩm Trong khi nghiên cứu thị trường phải nắm được sự biếnđổi nhu cầu của khách hàng và những biến đổi về thu nhập và giá cả từ đóCông ty có những chiến lược kinh doanh hợp lý và tiêu thụ đúng đắn phùhợp Trong khi nghiên cứu thị trường cần phải nghiên cứu cung cầu về sảnphẩm để hiểu rõ các đối thủ cạnh tranh hiện tại và trong tương lai, nghiên cứumạng lưới tiêu thụ để thấy được những ưu điểm và nhược điểm từng kênhtiêu thụ, có thể lượng hoá được mức độ ảnh hưởng của mỗi một nhân tố đến

(8) (4, tr207)

Trang 15

kết quả tiêu thụ và phân tích được công tác bán hàng của doanh nghiệp và cácđối thủ cạnh tranh.

2.2 Lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm

Sau khi nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp cần tiến hành lập kế hoạchcho khâu tiêu thụ sản phẩm Doanh nghiệp cần lập lên kế hoạch bán hàng, kếhoạch chi phí kinh doanh cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm, kế hoạch quảngcáo Các bước của khâu kế hoạch tiêu thụ sản phẩm là: chuẩn bị tiêu thụ, thựchiện tiêu thụ, kiểm tra quá trình chuẩn bị và thực hiện tiêu thụ sản phẩm

2.3 Các hoạt động truyền thông

Các hoạt động truyền thông bao gồm: quảng cáo, khuyến khích bánhàng, các chính sách tiêu thụ (chính sách giá, chính sách sản phẩm, chínhsách thúc đẩy bán hàng…) Quảng cáo và khuyến khích bán hàng là các hoạtđộng có tác dụng đi ngay vào tâm lý khách hàng, tạo thuận lợi cho người tiêudùng khi mua sắm sản phẩm của doanh nghiệp Nhưng giá cả là yếu tố màngười tiêu dùng quan tâm nhất, nó quyết định đến năng lực cạnh tranh tiêuthụ sản phẩm của doanh nghiệp Cho nên các doanh nghiệp nên áp dụngchính sách giá linh hoạt, chính sách giảm giá cho những khách hàng thườngxuyên mua hàng của doanh nghiệp Tuỳ mức độ trung thành mà có nhữngmức giá cụ thể hợp lý

2.4 Tổ chức hoạt động tiêu thụ và sau tiêu thụ

Lựa chọn kênh tiêu thụ trực tiếp hay gián tiếp là vấn đề đòi hỏi doanhnghiệp cần phải xác định rõ để tổ chức hoạt động tiêu thụ sản phẩm củadoanh nghiệp Do đó các doanh nghiệp cần lựa chọn các đại diện thương mại

để đáp ứng yêu cầu nhất định trong khâu phục vụ khách hàng Trong công tác

tổ chức tiêu thụ cần phải lựa chọn những điểm bán hàng hợp lý thì tiêu thụđược khối lượng lớn Doanh nghiệp cần phải trang bị cho khâu bán hàng như

Trang 16

tạo điều kiện bảo quản hàng hoá, thu hút khách hàng và tiêu thụ sản phẩm.

Tổ chức bán hàng là khâu quan trọng nhất trong việc tổ chức tiêu thụ và sautiêu thụ vì đó là công việc trực tiếp đến tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.Các nhân viên bán hàng là người trực tiếp giới thiệu sản phẩm của doanhnghiệp với khách hàng vì thế họ phải có đủ các điều kiện như chuyên mônnghiệp vụ, nghệ thuật bán hàng… Để phát huy hết khả năng của những nhânviên bán hàng, thì doanh nghiệp có những chính sách đào tạo khối nhân viên,đãi ngộ thoả đáng với nhiệm vụ của họ Doanh nghiệp cần tổ chức tốt cáchoạt động dịch vụ sau bán hàng để đảm bảo nhanh, thuận tiện, hiệu qủa đểduy trì, củng cố, mở rộng hoạt động tiêu thụ sản phẩm

III CẠNH TRANH TIÊU THỤ SẢN PHẨM

1 Bản chất của cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm

Cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm là một loại hình cạnh tranh trong đó doanhnghiệp cũng phải tìm mọi cách để giành giật những lợi thế để tiêu thụ tối đasản phẩm của mình trong điều kiện cho phép Bởi vì mục đích cuối cùng củadoanh nghiệp là tiêu thụ được sản phẩm Để thắng nổi sự bao vây của các đốithủ cạnh tranh doanh nghiệp phải có một vị trí nhất định cũng như chiếm lĩnhđược những phần thị trường nhất định Môi trường cạnh tranh gay gắt đòi hỏibắt buộc các doanh nghiệp phải đưa ra những biện pháp kích thích tiêu thụnhiều sản phẩm so với các đối thủ cạnh tranh Mỗi doanh nghiệp có một thếmạnh riêng nếu phát hiện ra và biết tận dụng các lợi thế đó thì doanh nghiệp

sẽ cạnh tranh được với các đối thủ của mình Doanh nghiệp cần phải hiểu rõđược những điểm mạnh, điểm yếu của mình và của đối thủ cạnh tranh để cónhững biện pháp nghiên cứu thị trường một cách sâu sắc cẩn thận cùng vớicác biện pháp khác để nâng cao mức tiêu thụ sản phẩm, tạo uy tín cho doanhnghiệp trên thị trường Có thể kết luận rằng năng lực cạnh tranh tiêu thụ sản

Trang 17

phẩm của doanh nghiệp là khả năng mà doanh nghiệp tạo ra những lợi thế sovới các đối thủ cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm nhằm đáp ứng cácyêu cầu thị trường.

2 Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tiêu thụ

2.1 Các biện pháp thuộc về sửa đổi hàng hoá

Sửa đổi hàng hoá sẽ tạo nên sự khác lạ so với hàng hoá cũ nhằm tiêu thụđược nhiều sản phẩm hơn Các biện pháp sửa đổi như đóng gói lại, sửa màuhàng hoá, đa dạng hoá về khối lượng, giá bán, tên hay mùi vị Đây là hìnhthức cạnh tranh chủ yếu của các doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp lựa chọnđược trình độ sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường, nhạy bén trongcách thay đổi sửa đổi hàng hoá thì doanh nghiệp sẽ chiến thắng trong cạnhtranh tiêu thụ sản phẩm

2.2 Các biện pháp hỗ trợ và xúc tiến bán hàng

- Quảng cáo giúp cho người bán gặp người mua, thu hút sự chú ý củakhách hàng, tạo uy tín cho doanh nghiệp, tăng lòng tin vào sản phẩm, củng cốthương hiệu Bằng cách sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng quảngcáo thường kích thích mua hàng vì vậy sẽ làm tăng doanh số bán ra, nâng caonăng lực cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Quảng cáo có thếmạnh là có thể xúc tiến với nhiều khách hàng trong cùng một thời gian, tạođược hình ảnh nhãn hiệu, tính năng động, phong phú của sản phẩm Ngượclại, chi phí quảng cáo rất cao sẽ gây lãng phí tiền khi quảng cáo cho nhiềukhách hàng không phải là khách hàng tiềm năng và thời gian quảng cáo rấtngắn nên khách hàng sẽ dễ dàng quên sản phẩm Có thể kết luận rằng quảngcáo là cả một nghệ thuật được kết tinh của tư duy và trí tuệ

Trang 18

- Các biện pháp xúc tiến bán hàng là các biện pháp có thể làm tănglượng hàng hoá bán ra do tạo được những lợi ích vật chất bổ sung cho ngườimua Các lợi ích vật chất bổ sung như ưu đãi cho khách hàng mua hàngthường xuyên, thưởng cho các đại lý bán được nhiều hàng có tác dụng rấtmạnh mẽ tác động trực tiếp đến tâm lý và tạo điều kiện tốt trong việc tiêu thụsản phẩm Một số biện pháp khác được dùng kết hợp cùng với quảng cáonhư: tham gia hội chợ triển lãm, tặng quà khuyến mại, chiết khấu cho kháchhàng khi thanh toán…Bên cạnh đó cần phải mở rộng quan hệ với công chúngbằng các hoạt động: mở rộng các chiến dịch tuyên truyền sản phẩm, tham giacác hoạt động công ích doanh nghiệp, mở rộng quan hệ với báo, đài…đã vàđang khắc dấu ấn và đi sâu vào tâm trí khách hàng Doanh nghiệp sẽ đượcbiết đến không chỉ có sản phẩm tốt mà còn phải là doanh nghiệp có uy tín rấtlớn trên thương trường.

2.3 Biện pháp thuộc về nghệ thuật bán hàng và chăm sóc khách hàng

Điều cuối cùng và quyết định thành công của doanh nghiệp là phải bánđược hàng Do đó có thể khẳng định rằng một doanh nghiệp tốt là một doanhnghiệp bán được nhiều hàng Để bán được nhiều hàng doanh nghiệp cần sửdụng những biện pháp thuộc về nghệ thuật bán hàng và chăm sóc kháchhàng Bán hàng là khâu cuối cùng quyết định kết quả của quá trình sản xuấtkinh doanh vì nó ảnh hưởng ngay đến lợi ích của doanh nghiệp

Bên cạnh đó, các nhân viên bán hàng trực tiếp của doanh nghiệp là cầunối giữa doanh nghiệp và khách hàng Đòi hỏi nhân viên của doanh nghiệpphải linh hoạt, khôn khéo, có trình độ nhận thức, khả năng giao tiếp, sự hiểubiết về sản phẩm, được huấn luyện các phương pháp và ứng xử với kháchhàng một cách thông minh, lịch sự

Trang 19

Nghệ thuật bán hàng còn được thể hiện qua việc doanh nghiệp luôn luôntạo ra những điều kiện thuận lợi cho khách hàng: đa dạng hóa các hình thứcbán, mở cửa trước giờ, kéo dài thời gian…

Dịch vụ chăm sóc khách hàng đóng vai trò không nhỏ để nâng cao nănglực cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp đặc biệt là trong thời kỳhiện nay Những mặt hàng khác nhau có những dịch vụ chăm sóc khônggiống nhau Một nghệ thuật bán hàng và chăm sóc khách hàng tốt là khôngnên để mất lòng một khách hàng nào

IV CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP

1 Nhân tố ngoài doanh nghiệp

1.1 Môi trường vĩ mô

- Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng rất quan trọng đến khả năng cạnhtranh tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp Các yếu tố (khí hậu, đất đai,nước, tài nguyên thiên nhiên…) là điều kiện quan trọng, một yếu tố khôngnhỏ và có ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực cạnh tranh và tiêu thụ sản phẩmcủa doanh nghiệp Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi thì quá trình sản xuất, vậnchuyển, phân phối, tiêu thụ sản phẩm sẽ thuận lợi, doanh nghiệp sẽ khôngphải bỏ nhiều chi phí cho quá trình vận chuyển Ngược lại, nếu môi trường tựnhiên không thuận lợi có tác động xấu đến quá trình sản xuất và kinh doanhnhư sản xuất bị ngừng trệ, quá trình vận chuyển hàng hóa không được kịpthời, chi phí tăng, giá thành sản phẩm cao, khó tiêu thụ sản phẩm v.v…

- Môi trường kinh tế có ảnh hưởng quyết định đến quá trình tồn tại vàphát triển của doanh nghiệp Môi trường kinh tế tạo điều kiện cho các doanhnghiệp hoạt động, cạnh tranh bình đẳng trên thị trường kinh doanh Các yếu

tố thuộc môi trường kinh tế như: tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng, lãi suất

Trang 20

ngân hàng, các chính sách tiền tệ…có ảnh hưởng đến sức mua của kháchhàng đối với sản phẩm trên thị trường nói chung và đối với sản phẩm xe máynói riêng

- Các doanh nghiệp được hình thành và phát triển trên cơ sở của phápluật Môi trường chính trị pháp luật đồng bộ, chặt chẽ là cơ sở vững chắc đểcác doanh nghiệp hoạt động ổn định Với môi trường chính trị pháp luật quyđịnh thì doanh nghiệp sẽ được hưởng quyền lợi và phải có nghĩa vụ đối vớiNhà nước Hệ thống pháp luật của Nhà nước có ảnh hưởng sâu sắc đến giáthành các mặt hàng và người tiêu dùng

- Các yếu tố về văn hoá như: phong tục tập quán, trình đôi văn hoá,phong cách sống v.v…có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng.Các vùng khác nhau thì có mức thu nhập, phong cách sống và nền văn hoákhác nhau vì thế có ảnh hưởng nhất định đến hành vi mua của dân cư trongcác vùng đó

- Chúng ta đang sống và làm việc trong thời đại bùng nổ thông tin, trình

độ khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, vì thế việc ứng dụng khoa học

kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh là rất cần thiết và cấp bách Các doanhnghiệp áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến trong quá trình sản xuất sẽ giúpcho chất lượng sản phẩm được nâng cao, chi phí giảm, rút ngắn thời gian sảnxuất, giá thành sản phẩm hạ v.v…khả năng cạnh tranh tiêu thụ sản phẩmcũng sẽ tăng

1.2 Môi trường tác nghiệp

1.2.1 Nhà cung cấp

Trang 21

Nhà cung cấp cung cấp các nguyên vật liệu, thiết bị, công nhân, vốn,công nghệ…Các doanh nghiệp muốn đảm bảo cho sản xuất tiêu thụ của mìnhđược nhịp nhàng thì các yếu tố đầu vào phải được cung cấp đầy đủ đúng kếhoạch, tiến độ Tuy nhiên nhà cung cấp có thể gây một áp lực mạnh tronghoạt động của doanh nghiệp bằng cách giảm bớt cung cấp trong những điềukiện cần ưu tiên hay tăng cường cung cấp trong khi doanh nghiệp không cónhu cầu tăng đầu vào.

1.2.2 Nhà phân phối

Nhà phân phối là một bộ phận quan trọng giải quyết vấn đề sản phẩmđược đưa như thế nào đến người tiêu dùng, là những trung gian thực hiện cácchức năng phân phối trên thị trường công nghiệp Năng lực cạnh tranh tiêuthụ sản phẩm của các doanh nghiệp được nâng cao phụ thuộc rất nhiều vàokhả năng tiêu thụ sản phẩm của nhà phân phối Vì thế các doanh nghiệp cầnphải chú ý đến nhiều đến các nhà phân phối

1.2.3 Người tiêu dùng

Người tiêu dùng (khách hàng) là một phần của doanh nghiệp là nhân tốquyết định sự tồn tại của doanh nghiệp Những người tiêu dùng đã tạo nênmột thị trường rất lớn cho các doanh nghiệp Thị trường người tiêu dùng baogồm các cá nhân, các hộ gia đình, các nhóm người hiện có và đang còn tiềm

ẩn Nếu như doanh nghiệp không đáp ứng được nhu cầu, mong muốn củakhách hàng có nghĩa là doanh nghiệp đã bị thất bại trên thị trường cạnh tranh

1.2.4 Đối thủ cạnh tranh

Đối thủ cạnh tranh là một cản trở rất lớn mà bất kỳ một doanh nghiệpmuốn tồn tại thì phải tự vượt qua Thị trường mà có nhiều đối thủ cạnh tranhthì nâng cao năng lực cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm của Công ty ngày là rấtkhó khăn và phức tạp Trong quá trình nghiên cứu thị trường thì Công ty cần

Trang 22

phải tìm hiểu rõ về đối thủ của mình để có chiến lược phát triển của Công ty

có những bước đi đúng đắn, mở rộng được thị trường tiêu thụ của mình

2 Nhân tố bên trong doanh nghiệp

2.1 Sản phẩm của doanh nghiệp

Sản phẩm của doanh nghiệp là một trong những nhân tố tác động đếnkhả năng tiêu thụ sản phẩm Khi thu nhập của người dân ngày càng cao, đờisống dân cư ngày càng được cải thiện thì nhu cầu được bảo vệ và sức khỏengày càng được nâng cao Do đó khi đi mua sắm, vấn đề mà người tiêu quantâm đầu tiên là chất lượng của sản phẩm

2.2 Các nhân tố thuộc nguồn lực của doanh nghiệp

Nguồn nhân lực của doanh nghiệp là số lượng nhân lực, cơ cấu tuổinhân lực, chất lượng nguồn nhân lực, cơ cấu cấp bậc nhân lực, cơ cấu tổ chứccủa bộ máy, cơ sở vật chất kỹ thuật…có tác động lớn đến hoạt động sản xuấtkinh doanh và năng lực cạnh tranh tiêu thụ của Công ty Nguồn nhân lực củaCông ty ổn định và vững mạnh thì Công ty càng có khả năng cạnh tranh tiêuthụ sản phẩm

2.3 Các nhân tố thuộc về bán hàng, nghiên cứu thị trường và giới thiệu sản phẩm

Khâu bán hàng là một khâu quyết định đến khả năng tiêu thụ sản phẩmcủa Công ty Công ty cần có nhiều hình thức bán hàng khác nhau và cácphương thức thanh toán để thu hút được nhiều khách hàng Bên cạnh đóCông ty cần đa dạng hoá các phương thức thanh toán và nhiều hình thức bán

để người tiêu dùng thuận tiện và dễ dàng khi mua bán với Công ty

Trang 23

V SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TIÊU THỤ XE MÁY CỦA CÔNG TY PHÁT TRIỂN KINH TẾ KỸ THUẬT VIỆT NAM

Hiện nay, sự cạnh tranh trên thị trường của các thành phần kinh tế ngàycàng gay gắt, khốc liệt Vì vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanhnghiệp Việt Nam là một việc làm quan trọng và cần thiết Cạnh tranh là hiệntượng phổ biến mang tính quy luật ở hầu khắp các lĩnh vực kinh tế - xã hội,

nó được xem là cơ sở tồn tại là động lực thúc đẩy sự phát triển Nếu nhiềudoanh nghiệp cùng sản xuất một loại mặt hàng thì sản phẩm của doanhnghiệp nào có những đặc tính nổi trội hơn so với sản phẩm của doanh nghiệpkhác thì sẽ tiêu thụ được nhiều trên thị trường Tuy nhiên doanh nghiệp cũngcần phải có những biện pháp tiêu thụ hợp lý để giành thế chủ động trênthương trường thì mức tiêu thụ sẽ tăng

Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam mới được thành lập hơn

10 năm và đạt được những thành tựu đáng khích lệ Tuy nhiên là một Công tymới thành lập nên kinh nghiệm mà Công ty có được còn hạn chế Sản phẩm

xe máy của Công ty đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước Với điều kiện xemáy đang là phương tiện giao thông phổ biến ở nước ta Thị trường xe máyViệt Nam ước tính trên 500.000 xe/năm Các dự báo cho rằng nhu cầu nội địatrên 1.600.000 xe vào năm 2006 “Thị trường nội địa rộng lớn với mức bìnhquân 7,1 người/xe (năm 2003) và sẽ bão hoà khi tới mức 5 - 6 người/xe vàocác năm 2008 và tính riêng khu vực nông thôn thời điểm bão hoà sẽ vào năm

2011 – 2012 Khu vực thị trường này sẽ là nơi tiêu thụ các loại xe giá thấp

7-10 triệu đồng/xe, phù hợp với trình độ sản xuất hiện tại của các doanh nghiệp

Trang 24

trong nước.”(9) Hiện nay xe máy của Công ty đang tiêu thụ chậm trên thịtrường Một cơ hội rất lớn đang mở ra cho các doanh nghiệp sản xuất xe máytrong nước nói chung và Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam nóiriêng Để khẳng định được vị trí của mình trên thị trường cạnh tranh thì đòihỏi Công ty cần phải có những cải tiến mọi mặt để nâng cao được chất lượngcủa sản phẩm để tồn tại và phát triển trong thời gian tới Công ty đang gặpnhiều khó khăn trong công tác tiêu thụ sản phẩm vì có nhiều sản phẩm từTrung Quốc, Đài Loan…với nhiều chủng loại, mầu sắc, vẫn tiếp tục xuất hiện

ồ ạt trên thị trường Để tồn tại và đứng vững trên thị trường thì Công ty cầnphải chú trọng nhiều hơn nữa để nâng cao chất lượng sản phẩm và công táctiêu thụ sản phẩm của mình Vì vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh tiêu thụsản phẩm xe máy của Công ty DETESCOVIETNAM là một đòi hỏi tất yếucần thiết

(9) (18, tr 27)

Trang 25

PHẦN II: THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY PHÁT TRIỂN KINH TẾ KỸ THUẬT VIỆT NAM

I TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY PHÁT TRIỂN KINH TẾ KỸ THUẬT VIỆT NAM

1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam

Xuất phát từ thực tiễn phong trào học sinh, sinh viên, Ban bí thư TrungƯơng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Ban thường vụ Hội họcsinh sinh viên Việt Nam đã lên phương án, điều lệ để thành lập Công ty Pháttriển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam vào tháng 07 năm 1990, với mục đích lấy lợinhuận trong kinh doanh của Công ty để tăng cường quỹ học bổng của Hộihọc sinh sinh viên Việt Nam cấp cho sinh viên, học sinh nghèo vượt khó, cáctài năng trẻ trên toàn quốc, đồng thời tạo việc làm cho sinh viên

Vào ngày 02 tháng 09 năm 1990, được sự uỷ nhiệm của Ban bí thưTrung Ương Đoàn, Ban thường vụ Hội học sinh sinh viên Việt Nam quyếtđịnh thành lập Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam số 45/QĐ-TWH

Theo chủ trương của Nhà nước, Công ty đã được thành lập lại theoquyết định số 1398/QĐUB ngày 03/04/1993 do UBND Thành phố Hà Nội

Trang 26

cấp, đăng ký kinh doanh số: 200475 do sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội cấp,căn cứ vào:

- Công văn số 283/CN ngày 16/01/1993 và công văn số 748/KTN ngày01/03/1993 của văn phòng Chính Phủ

- Thông tư liên bộ số 233/TT- UB ngày 23/03/1993 của Bộ tài chính và

Uỷ ban kế hoạch Nhà nước hướng dẫn thực hiện cơ chế quản lý của các đơn

vị kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức đoàn thể chính trị

- Theo đề nghị của Hội đồng thẩm định hồ sơ thành lập lại doanhnghiệp Nhà nước Thành phố Hà Nội ngày 01/04/1993

Ngay từ khi thành lập lại, Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật ViệtNam trở thành doanh nghiệp kinh doanh thương mại, trực thuộc TWĐ Thanhniên Cộng sản Hồ Chí Minh Trụ sở chính của Công ty đóng tại: 15B - HồXuân Hương - Hà Nội và nơi đây đồng thời thực hiện chức năng làm trungtâm Thương mại:

Tên giao dịch quốc tế: Economic and Technics Development company Tên viết tắt: DETESCO VIETNAM

Công ty là một đơn vị kinh doanh độc lập, tự hạch toán, hoạt động theonguyên tắc tự chủ kinh doanh trong phạm vi của pháp luật, có đầy đủ tư cáchpháp nhân, được mở tài khoản tại Ngân hàng Công thương Việt Nam Chinhánh tại Gia Lâm và được sử dụng con dấu riêng theo mẫu quy định Công

ty được quản lý theo chế độ một thủ trưởng trên cơ sở thực hiện quyền làmchủ của người lao động, hạch toán theo phương thức kinh doanh XHCN, giảiquyết đúng đắn mối quan hệ lợi ích của toàn xã hội, của tập thể và của ngườilao động trong đó lợi ích của người lao động được coi là vấn đề quan trọngnhất

Trang 27

Do yêu cầu kinh doanh, tháng 12 năm 2002 tại trụ sở chính của Công tyđược chuyển về 424 Phường Cống Vị (đường Liễu Giai kéo dài) Quận BaĐình – Thành phố Hà Nội Với:

Số điện thoại: (844)7612776, (844)7612773

Fax: 7612770

Email: detesco vn @ fpt.vn

Các lĩnh vực hoạt động chính của Công ty:

- Xuất nhập khẩu và kinh doanh tổng hợp

- Xây dựng dân dụng và công nghiệp

- Sản xuất phụ tùng và lắp ráp xe máy

- Du lịch

- Dịch vụ đào tạo và lao động nước ngoài

- Kinh doanh và phát triển nhà

ục đích sản xuất kinh doanh của Công ty là tạo nguồn kinh phí cho QuỹTài năng trẻ Việt Nam, cấp học bổng cho học sinh, sinh viên nghèo học giỏi,vượt khó và các tài năng trẻ trên toàn quốc, tạo việc làm cho thanh niên.Hơn 10 năm hình thành và phát triển, với nhiều ngành nghề kinh doanh

đa dạng, có các chi nhánh trải dài trên toàn quốc, có khu vực sản xuất côngnghiệp tập trung, doanh thu hàng năm khoảng 200 tỷ đồng, Công ty đã tạođược uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế Đội ngũ cán bộ công nhânviên có trình độ, năng lực luôn hoàn thành tốt các công việc được giao

Riêng đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh xe máy, Công ty có bề dàykinh nghiệm được tích luỹ qua nhiều năm Chỉ tính riêng từ tháng 06 năm

1999 đến nay Công ty đã sản xuất lắp ráp và tiêu thụ trên thị trường trongnước trên 100.000 xe máy các loại

2 Chức năng và nhiệm vụ của Công ty DETESCO VIETNAM

Trang 28

2.1 Chức năng của Công ty DETESCO VIETNAM

Công ty Detesco VietNam chịu trách nhiệm bảo toàn nguồn vốn do Nhànước cấp, ngoài ra Công ty còn được phép huy động vốn của các tổ chứckinh tế trong và ngoài nước theo hướng dẫn của Chính phủ, để phục vụ kinhdoanh và phát triển ngành nghề trên nguyên tắc chịu trách nhiệm trang trảivốn - lãi

2.2 Nhiệm vụ của Công ty DETESCO VIETNAM

- Công ty tự nghiên cứu, tìm hiểu, điều tra thị trường trong và ngoàinước để xây dựng và thực hiện các kế hoạch xuất nhập khẩu hàng năm và dàihạn

- Thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụcho cán bộ công nhân viên Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước vàđảm bảo quyền lợi cho người lao động Được trực tiếp quan hệ với các tổchức và thương nhân nước ngoài để ký kết hợp đồng kinh tế

- Tổ chức tốt việc sản xuất, thực hiện quá trình sản xuất và lắp ráp xemáy

- Thực hiện hạch toán đầy đủ, đảm bảo cân đối tài khoản, thực hiện đầy

đủ các chế độ báo cáo tài chính theo quy định

- Nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

3 Đặc điểm tổ chức sản xuất và quản lý của Công ty

3.1 Đặc điểm quy trình công nghệ

Đặc điểm sản xuất của Công ty là lắp ráp xe máy với quy trình côngnghệ sản xuất liên tục, sản phẩm được sản xuất mang tính đồng bộ, không cóbán thành phẩm Đặc điểm quy trình công nghệ được thể hiện qua sơ đồ sau:

Linh kiện, phụ tùng lắp ráp

Phân xưởng lắp

ráp

Bộ phận KCS

Trang 29

3.2 Đặc điểm tổ chức quản lý sản xuất

Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam đi theo loại hình tổ chứckinh doanh đa dạng và sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty được triểnkhai theo mô hình tổ chức trực tuyến:

CÔNG TY DETESCO VIET NAM

CHI NHÁNH

TP ĐÀ NẴNG PHÒNG TÀI VỤ PHÒNG TC CÁN BỘ VĂN PHÒNG CÔNG TY CHI NHÁNH TP HCM

Cửa hàng

TTTin học

Các đội

Xây lắp

Xưởng VLXD

Xí nghiệp

Xe máy

TT Thươngmại

TT Du lịch &

Lao động

Trang 30

Mỗi phòng ban trong Công ty lại có chức năng nhiệm vụ cụ thể khác nhau:

3.2.1 Ban Giám đốc Công ty

• Giám đốc Công ty

Giám đốc Công ty là người đại diện cho Công ty giải quyết các mốiquan hệ của Công ty đàm phán và ký kết các hợp đồng kinh tế, các cam kết

và ký các giấy uỷ nhiệm cần thiết cho việc sản xuất kinh doanh

Giám đốc Công ty là người chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng cơ quanchủ quản, tập thể lao động Công ty về tổ chức, điều hành mọi hoạt động củaCông ty và là người lãnh đạo và quản lý Công ty theo chế độ Thủ trưởng lãnhđạo, quản lý toàn diện mọi hoạt động của Công ty bao gồm:

- Xác định chiến lược và kế hoạch sản xuất kinh doanh

- Điều hành hoạt động hàng ngày của Công ty bằng mệnh lệnh trực tiếpđối với Phó Giám đốc, Trưởng, Phó các đơn vị trực thuộc hoặc nhân viên

- Là người quyết định cuối cùng đối với các vấn đề quản lý nhân sự vàtài chính của Công ty

- Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công nhân viên trongCông ty

- Có toàn quyền quyết định về tổ chức bộ máy điều hành Công ty

- Có quyền chỉ định cán bộ giúp việc hoặc trợ lý Giám đốc để tham mưugiúp cho Giám đốc

Trang 31

- Khi có bất đồng ý kiến của các lãnh đạo các cấp trong Công ty, Giámđốc có quyền quyết định và chịu trách nhiệm cá nhân trước Nhà nước, Thủtrưởng cơ quan chủ quản và tập thể lao động về quyết định của mình.

vụ sản xuất kinh doanh của Công ty, theo dõi việc thực hiện các quy chế quản

lý về kinh tế tài chính, quyết toán và phân tích các kết quả của quá trình hoạtđộng, xử lý các tồn đọng trong kế hoạch thu, chi tài chính của Công ty và cácđơn vị Cùng với phòng tổ chức các cán bộ, phòng tài vụ phân phối các quỹkhen thưởng hàng năm và đột xuất cho các cán bộ công nhân viên Phòng tài

vụ cũng là nơi lưu trữ các chứng từ, sổ sách kế toán

3.2.3 Phòng tổ chức cán bộ

Phòng tổ chức cán bộ là nơi quản lý các mặt công tác tổ chức cán bộnhư lưu chuyển nhân viên trong nội bộ doanh nghiệp, quy định mức lươnghợp lý cho mỗi người, quyết định việc tuyển lựa, xa thải, đào tạo và đào tạolại lao động, xây dựng chế độ đãi ngộ thoả đáng cho cán bộ công nhân viênbằng hình thức như khen thưởng và nâng cao trách nhiệm vật chất đối với họbằng các hình thức kỷ luật trừ điểm thi đua, phạt tiền lương

Trang 32

3.2.4 Văn phòng Công ty

• Trưởng phòng

- Chịu trách nhiệm trước Giám đốc Công ty về mọi việc của văn phòng

- Quản lý, lưu trữ hồ sơ, văn bản, tài liệu của Công ty

Dự thảo lập kế hoạch công tác hàng tháng của Công ty

Chuẩn bị báo cáo sơ kết, tổng kết

Chịu trách nhiệm cung ứng, đảm bảo các phương tiện làm việc và phục

vụ các hoạt động của Công ty khi đã được Giám đốc phê duyệt

- Quản lý cơ sở vật chất và bất động sản của Công ty

• Nhân viên văn thư

- Tiếp nhận và chuyển các công văn đi, đến của Công ty

- Chuyển giao công văn, tài liệu đến kịp thời, chính xác, mở sổ ghichép công văn

- Đánh máy các tài liệu của Công ty

- Chịu trách nhiệm bảo quản các con dấu của Công ty theo đúng quyđịnh của Nhà nước

- Tuyệt đối giữ bí mật về nội dung các văn bản

• Lái xe

- Đảm bảo chức năng lái xe

- Đảm bảo đưa đón đúng giờ giấc quy định

- Giữ an toàn tuyệt đối khi vận hành xe

Trang 33

- Có trách nhiệm bảo quản xe luôn trong tình trạng tốt, sạch sẽ.

- Lái xe phải ăn mặc lịch sự, nói năng lễ độ khi làm việc

3.2.5 Trung tâm Thương mại

- Trung tâm Thương mại phải tìm hiểu thị trường, bạn hàng trong vàngoài nước, nắm và phân tích các thông tin thương mại, các quy định phápluật có liên quan để tham mưu cho Giám đốc Công ty ký kết các hợp đồngkinh tế

- Nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến hợp tác đầu tư, tìm kiếm cáckhả năng hợp tác giữa Công ty với các doanh nghiệp trong và ngoài nước đểtrình Giám đốc Công ty xem xét quyết định

- Tổ chức triển khai các hợp đồng kinh tế đã ký kết và phối hợp với cácphòng chức năng của Công ty thanh toán kịp thời các hợp đồng đó

- Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Trung tâm Thương mại đượctriển khai thực hiện trong khuôn khổ điều lệ của Công ty DETESCOVietNam và phải tuân thủ theo đúng các chế độ chính sách của Đảng, phápluật của Nhà nước

3.2.6 Xí nghiệp xe máy của Công ty

• Giám đốc xí nghiệp xe máy

- Giám đốc xí nghiệp xe máy của Công ty là người đại diện pháp nhâncủa xí nghiệp, chịu trách nhiệm cá nhân và trực tiếp về mọi hoạt động trong

xí nghiệp trước Giám đốc Công ty DETESCO VietNam và trước pháp luật

- Giám đốc xí nghiệp có nhiệm vụ lãnh đạo xí nghiệp thực hiện đầy đủnhiệm vụ của xí nghiệp

- Giám đốc xí nghiệp phải báo cáo chính xác về tình hình hoạt động sảnxuất và các hoạt động khác của xí nghiệp từng tháng, từng quý, 06 tháng, 01năm cho Giám đốc Công ty DETESCO VietNam

Trang 34

- Giám đốc xí nghiệp xe máy được sự uỷ quyền đề nghị các mức khenthưởng cho cán bộ lao động của xí nghiệp có thành tích xuất sắc và có quyềnphê bình, khiển trách cán bộ lao động khi vi phạm quy chế tổ chức hoạt độngcủa xí nghiệp khi không hoàn thành nhiệm vụ sản xuất đã giao.

• Phó Giám đốc xí nghiệp

- Các phó Giám đốc của xí nghiệp là người được Giám đốc xí nghiệp đềnghị và Giám đốc Công ty DETESCO VietNam ra quyết định bổ nhiệm vàbãi nhiệm khi cần thiết

- Phó Giám đốc xí nghiệp được Giám đốc xí nghiệp uỷ quyền hoặc phâncông phụ trách từng mảng công việc trong xí nghiệp nhưng phải được Giámđốc Công ty nhất trí bằng văn bản

- Phó Giám đốc xí nghiệp phải chịu trách nhiệm cá nhân về việc làmcủa mình trước Giám đốc Công ty DETESCO VietNam và trước pháp luật

• Phân xưởng sản lắp ráp xe máy

- Thực hiện tốt nhất các nhiệm vụ, chỉ tiêu, kế hoạch được Giám đốcCông ty giao hàng tháng, quý, năm

- Trong sản xuất phải thực hiện chặt chẽ các tiêu chuẩn, quy định, quyphạm về kỹ thuật đạt độ chính xác cao

- Thực hiện nghiêm túc kỷ luật lao động để tạo ra năng suất và hiệu quảsản xuất cao nhất

- Thực hiện nghiêm túc chế độ quản lý tiền vốn, vật tư, thiết bị côngnghệ, cơ sở vật chất hiện có, không để thất thoát hư hỏng, mất mát tiền vốnvật tư thiết bị, làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất

• Phân xưởng sản xuất khung

- Thực hiện tốt nhất các nhiệm vụ, chỉ tiêu, kế hoạch được Giám đốcCông ty giao hàng về kỹ thuật đạt độ chính xác cao

Trang 35

- Thực hiện nghiêm túc chế độ quản lý tiền vốn, vật tư, thiết bị côngnghệ, cơ sở vật chất hiện có không để thất thoát hư hỏng, mất mát tiền vốnvật tư thiết bị làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất.

• Tổ kho

- Quản lý hàng hoá dưới dạng nguyên liệu bán thành phẩm và thànhphẩm

- Chịu trách nhiệm phân loại, đánh giá hàng hoá đã được nhập kho

- Tham gia hoạt động xuất, nhập hàng của phân xưởng

3.2.7 Các trung tâm khác và các xí nghiệp chi nhánh

Các trung tâm khác và các xí nghiệp chi nhánh có quyền tự quyết địnhcác phương án kinh doanh Song đối mặt với những mặt hàng mà Công tyquản lý, các đơn vị thành viên phải tập hợp nhu cầu đặt hàng với trung tâmthương mại để trung tâm tiến hành nhập khẩu do lãnh đạo Công ty ký kết.Nét nổi bật trong công tác tổ chức bộ máy Công ty là tất cả các đơn vịkinh tế đều do yêu cầu của Công ty mà hình thành Công ty không liên doanhliên kết hay cho mượn tư cách pháp nhân Cán bộ quản lý các đơn vị trựcthuộc do Giám đốc Công ty bổ nhiệm trực thuộc quản lý của Ban Giám đốc.Công ty theo dõi chặt chẽ việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, tìnhhình tài chính của các đơn vị trực thuộc

4 Đặc điểm về quy trình công nghệ và nguyên vật liệu cho sản xuất xe máy của Công ty

4.1 Quá trình sản xuất của Công ty

Không đạt tiêu chuẩn

Kho vật liệu

Phân xưởng

nhựa

Phân xưởng sơn

Kho bán

thành phẩm

Phân xưởng lắp ráp

Trang 36

Sơ đồ: Mô hình sản xuất tại xưởng xe máy

Tại mỗi cơ sở đều có 1 quản đốc và các phó quản đốc giám sát, đôn đốc,kiểm tra, và kịp thời…từng khâu của quá trình sản xuất Trước khi xuất thànhphẩm phải qua một đội kiểm tra chất lượng sản phẩm xem đã đạt tiêu chuẩn

và đáp ứng các yêu cầu đặt ra chưa Nếu đủ các tiêu chuẩn thì sản phẩm mớiđem ra bán Nhãn hiệu xe máy của Công ty có kiểu dáng phong phú như:ZYMAS 100, DRINDR 100 – 1, WISE 100 (110), FOCOL 100 (110),CHICILONG 11 (110), SUSABEST 100…sản phẩm của Công ty được tiêuthụ trên thị trường Hà Nội

Để mở rộng thị trường tiêu thụ, Công ty đã đặt các trụ sở giao dịch tạicác thành phố lớn như: TP Hồ Chí Minh, TP Đà Nẵng

4.2 Đặc điểm về nguyên vật liệu sản xuất

Nguyên vật liệu là một vấn đề quan trọng luôn được quan tâm hàng đầu

vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh cũng như tiêu thụsản phẩm có được nhịp nhàng, đồng bộ hay không

Xuất phát từ đặc điểm tổ chức sản xuất của Công ty là sản xuất theo đơnđặt hàng, nên chủng loại sản phẩm là rất phong phú, mỗi đơn vị đặt hàng có

Trang 37

đòi hỏi khác nhau về quy cách mẫu mã sản phẩm Hiện nay các loại vật liệudùng để sản xuất ở Công ty đều có sẵn trên thị trường, giá cả ít dao động Bêncạnh đó, do cơ chế cạnh tranh của thị trường là một điều kiện thuận lợi choCông ty, tức là Công ty không phải dự trữ nhiều nguyên vật liệu ở trong khonhư trước đây

Nhìn chung vật liệu ở Công ty có rất nhiều chủng loại, quy cách, đơn vịtính khác nhau nên được phân thành nhiều loại

- Vật liệu chính gồm: Động cơ xe, Khung xe, Bộ phận giảm sóc trước,sau, Ống xả, Cổ hút, đệm cổ hút, Bộ đồ nhựa, Đĩa xích trước, sau, giá bắt biển

số, Báo xăng v.v…

- Vật liệu phụ gồm: xăng, các loại dầu nhớt…

- Nhiên liệu gồm: dầu ma rút, dầu FO, dầu caltrol, dầu mỡ, dầu luyn…

- Phụ tùng thay thế: vòng bi, dao cắt, máy cắt, bóng đèn, dây điện…

- Phế liệu thu hồi: vỏ thùng, vỏ can đựng dầu, vỏ thùng phi đừng dầu,giấy Krap,…

Để có đủ nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất, Công ty đã thiết lậpmối quan hệ mua bán lâu dài với các Công ty như: Công ty ắc quy Tia Sáng,Công ty ắc quy – pin Vĩnh Phúc, Quang Báo…Ngoài ra, Công ty có thể muanguyên vật liệu từ thị trường nổi, và tất cả vật tư mua về có thể thanh toánbằng ngân phiếu séc, tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, hay nợ chưa thanh toán

II THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY DETESCO VIETNAM TRONG NHỮNG NĂM QUA

1 Kết quả sản xuất và tiêu thụ chủ yếu trong những năm qua tại Công ty

Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam được thành lập lại và đãtrở thành doanh nghiệp kinh doanh thương mại, trực thuộc TWĐ thanh niên

Trang 38

Cộng sản Hồ Chí Minh Trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình Công

ty đã thu được những kết quả rất khả quan Doanh thu hàng năm của Công tytrên 200 tỷ đồng và đã tạo được uy tín trên thị trường trong nước và thế giới.Chỉ tính từ giữa tháng 6 năm 1999 đến nay Công ty đã sản xuất lắp ráp và tiêuthụ trên thị trường trong và ngoài nước trên 100.000 xe máy các loại Sảnphẩm xe máy của Công ty cũng chưa được thị trường biết đến nhiều Vì sảnphẩm chủ yếu là tiêu thụ trong nước, với giá rẻ phù hợp với người dân ở nôngthôn Sản phẩm của Công ty ra đời muộn hơn các hãng xe máy trong nướckhác nên chưa có được thương hiệu trên thị trường mà lại bị cạnh tranh gaygắt Tình hình thị trường đang tràn ngập các loại xe từ Trung Quốc, Đài Loan,Hàn Quốc…với giá rẻ và mẫu mã phong phú, đa dạng cạnh tranh với cáchãng xe máy trong nước cũng làm giảm lượng tiêu thụ xe của Công ty

Từ năm 2002 Đảng bộ và đoàn thể Công ty đã quyết định tìm cách đưaCông ty thoát khỏi những khó khăn mà Công ty đang gặp phải Vì ngành sảnxuất và lắp ráp xe máy là ngành đã có bề dày lịch sử thu hút được nhiều laođộng, lợi nhuận cao Để phát triển được ngành sản xuất và lắp ráp xe máy thìCông ty cần phải chú trọng đến khâu tiêu thụ sản phẩm

Bảng 1: Tổng hợp tình hình tiêu thụ theo cơ cấu sản phẩm qua các năm

Đơn vị: chiếc

Sản phẩm tiêu thụ Năm

2002

Năm2003

Năm2004

Trang 39

100 (110) và có xu hướng giảm trong những năm vừa qua: năm 2003 lượngtiêu thụ là 900 chiếc giảm 200 chiếc (tương ứng là 18,18%) so với năm 2002,năm 2004 lượng tiêu thụ xe này giảm xuống còn 600 chiếc (là năm giảmnhiều nhất giảm 33,33%), năm 2005 vừa qua chỉ tiêu thụ được 500 chiếc

2 Thực trạng năng lực cạnh tranh tiêu thụ xe máy tại Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam

2.1 Đặc điểm sản phẩm và thị trường tiêu thụ

Sản phẩm xe máy của Công ty có nhiều loại xe như: DRINDR 100 - 1,WISE 100 (110), WIFE 100, CHICILONG 100 (110), FOCOL 100 (110),GENZO 100, NESTA 100, SUSABEST 100, ELISA 100, ZYMAS 100.Trong đó loại xe ZYMAS 100 được bán chạy nhất năm 2005, sau đó là xeFOCOL 100, xe tiêu thụ chậm nhất là WISE 100 (110)

Mục tiêu cuối cùng của Công ty là lợi nhuận tức là Công ty phải sảnxuất và tiêu thụ được nhiều sản phẩm của mình trên thị trường Công tác tiêuthụ đóng vai trò rất quan trọng đối với bất kỳ Công ty hay doanh nghiệp nàođang làm ăn kinh doanh Thị trường tiêu thụ xe máy của Công ty hiện nay chủyếu là ở Hà Nội Hiện nay Công ty đang mở rộng quy mô sản xuất và tiêu thụ

Ngày đăng: 17/07/2013, 21:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Bảng kê các khách hàng tiêu thụ xe máy của Công ty năm 2005 - Nâng cao năng lực cạnh tranh tiêu thụ xe máy tại Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam
Bảng 2 Bảng kê các khách hàng tiêu thụ xe máy của Công ty năm 2005 (Trang 42)
Sơ đồ 1: Mạng lưới tiêu thụ gián tiếp - Nâng cao năng lực cạnh tranh tiêu thụ xe máy tại Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam
Sơ đồ 1 Mạng lưới tiêu thụ gián tiếp (Trang 60)
Sơ đồ 2: Mạng lưới tiêu thụ trực tiếp - Nâng cao năng lực cạnh tranh tiêu thụ xe máy tại Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam
Sơ đồ 2 Mạng lưới tiêu thụ trực tiếp (Trang 60)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w