1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao quản lý Nhà nước đối với chất lượng công trình giao thông Việt Nam

69 510 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao quản lý Nhà nước đối với chất lượng công trình giao thông Việt Nam
Tác giả Hoàng Huy Đông
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 446 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ xa xưa, ông cha ta đã hiểu rõ vị trí quan trọng của Giao thông vận tải và luôn coi đó là công việc hàng đầu trong mọi hoạt động thời bình cũng như trong thời chiến. Chính vì vậy, ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, ngay 28/5/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức ký Tuyên cáo thành lập Bộ Giao thông Công chính thuộc Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ công hòa.

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

LỜI NÓI ĐẦU 5

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

I Chất lượng công trình giao thông 7

1 Chất lượng 7

1.1 Khái niệm 7

1.2 Các thuộc tính chất lượng sản phẩm 8

1.3 Ba “chân” của “chiếc kiềng” hệ thống chất lượng 9

2 Công trình giao thông 10

2.1 Công trình giao thông đường bộ bao gồm: 10

2.2 Hành lang bảo vệ công trình giao thông đường bộ 11

3 Chất lượng công trình giao thông 11

3.1 Chất lượng thi công công trình 11

3.2 Các yếu tố kiểm định chất lượng các công trình giao thông 13

4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình giao thông 14

4.1 Nhân tố chủ quan (nhân tố con người) 14

4.2 Nhân tố khách quan 14

II Hiệu quả quản lý Nhà nước đối với chất lượng công trình giao thông 14

1 Khái niệm quản lý Nhà nước về kinh tế 14

2 Chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế 16

2.1 Khái niệm 16

2.2 Phân loại chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế theo tính chất tác động 16

Trang 2

2.3 Phân loại chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế theo giai đoạn tác

động 18

3 Quản lý Nhà nước về chất lượng công trình giao thông 19

4 Hiệu quả quản lý Nhà nước đối với chất lượng các công trình giao thông 20

4.1 Khái niệm hiệu quả 20

4.2 Tiêu chuẩn cơ bản của hiệu quả quản lý Nhà nước về chất lượng các công trình giao thông 21

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG THỜI GIAN QUA 24

I Khái quát chung về ngành xây dựng giao thông Việt Nam 24

1 Quá trình hình thành và phát triển 24

1.1 Giai đoạn 1945 – 1954: Giao thông vận tải phục vụ kháng chiến chông thực dân Pháp 24

1.2 Giai đoạn 1954 – 1964: Giao thông vận tải xây dựng XHCN ở miền Bắc và chi viện cho miền Nam 25

1.3 Giai đoạn 1964 – 1975: Giao thông vận tải chông chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ và chi viện cho giải phóng miền Nam 26 1.4 Giai đoạn 1975 – 1985: Giao thông vận tải trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN 27

1.5 Giai đoạn 1986 – nay: Giao thông vận tải góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển đất nước thời kỳ đổi mới 28

2 Thực trạng chất lượng một số công trình giao thông ở Việt Nam 35

2.1 Tổng quan hệ thống GTVT Việt Nam 36

2.2 Những tồn tại 39

Trang 3

II Thực trạng hiệu quả quản lý Nhà nước đối với chất lượng các công trình

giao thông Việt Nam thời gian qua 43

1 Những kết quả đạt được trong thời gian qua 43

2 Những tồn tại hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó 43

2.1 Những tồn tại hạn chế 43

2.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 45

CHƯƠNG III GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG VIỆT NAM 47

I Định hướng chiến lược phát triển của ngành giao thông trong giai đoạn 2006 - 2010 47

1 Quan điểm phát triển 47

2 Mục tiêu chiến lược 48

1.1 Về cơ sở hạ tầng 48

1.2 Về công nghiệp giao thông vận tải 50

2 Mục tiêu cụ thể 50

2.1 Mục tiêu phát triển cơ sở hạ tầng giao thông 50

2.2 Mục tiêu phát triển giao thông đô thị 54

2.3 Mục tiêu phát triển giao thông nông thôn 54

II Giải pháp 55

1 Các giải pháp nhằm thu hút và quản lý vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng các công trình giao thông 55

1.1 Thu hút vốn đầu tư 55

1.2 Quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư 57

2 Tăng cường quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả các công trình cơ sở hạ tầng giao thông 57

Trang 4

3 Hoàn thiện khung pháp lý 58

4 Đổi mới tổ chức quản lý và cải cách hành chính 59

5 Nâng cao chất lượng cán bộ quản lý Nhà nước 60

6 Tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế 61

7 Phối hợp nhịp nhàng giữa các chủ thể quản lý Nhà Nước về các lĩnh vực có liên quan 63

III Kiến nghị 64

KẾT LUẬN 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

Từ xa xưa, ông cha ta đã hiểu rõ vị trí quan trọng của Giao thông vận tải vàluôn coi đó là công việc hàng đầu trong mọi hoạt động thời bình cũng như trongthời chiến Chính vì vậy, ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, ngay28/5/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức ký Tuyên cáo thành lập Bộ Giaothông Công chính thuộc Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ công hòa Năm

2946, trong Chỉ thị “Công việc khản cấp bây giờ” của Chính quyền mới, Hồ Chủ

Tịch đã nhấn mạnh “Giao thông là mạch máu của tổ chức Giao thông tốt thì mọi việc đều dễ dàng Giao thông xấu thì mọi việc đình trệ” Tư tưởng này

của Người sau này luôn được mọi thế hệ cán bộ giao thông vận tải thấm nhuần1.Những năm qua là một chặng đường lịch sử quan trọng đối với sự phát triểnkinh tế - xã hội của nước ta nói chung Gần hai mươi năm đổi mới và phát triểnchúng ta đã đạt được những thành tựu thực sự to lớn trong tất cả các ngành, cáclĩnh vực tạo nên những chuyển biến quan trọng của nền kinh tế mà phải kể đếncác kết quả mà ngành giao thông đạt được Trong vòng năm năm qua 2001 -

2005 ngành giao thông đã không ngừng lớn mạnh về cả lượng và chất, khẳngđịnh vai trò then chốt trong công cuộc đổi mới kinh tế, phát triển đất nước Chođến nay Ngành giao thông Việt Nam đã trải qua gần 60 mươi năm tồn tại và pháttriển, gắn liền với sự nghiệp cách mạng của đất nước với nhiều thời kỳ sôi nổi,hào hùng Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang trên con đường tiến đến hộinhập quốc tế thì vai trò của ngành giao thông nói chung và các công trình giaothông ngày càng được nhấn mạnh Có thể nói các công trình giao thông ViệtNam trong giai đoạn này chính là cầu nối hay là nhân tố quan trọng thúc đẩy sựphát triển kinh tế nước ta

Mặc dù có vai trò quan trọng như vậy nhưng ở Việt Nam hiện nay chất lượngcông trình giao thông vẫn chưa được đảm bảo Có rất nhiều nguyên nhân dẫnđến tình trạng này như tình hình đầu tư vào xây dựng công trình giao thông, hệthống pháp luật và nguyên nhân quan trọng nhất là công tác quản lý Nhà nướcđối với ngành giao thông và đối với chất lượng công trình giao thông Quản lý

1 Giao thông vận tải, chặng đường 60 năm vẻ vang – NXB Giao thông vận tải, Tr 6

Trang 6

Nhà nước đối với ngành giao thông là loại hình quan trọng trong quản lý Nhànước về kinh tế Ở nước ta hiện nay, Nhà nước quản lý ngành giao thông bằngnhững công cụ như luật, kế hoạch, chính sách và những công cụ quản lýkhác.Tuy đã đạt được nhiều kết quả song thực tế quản lý Nhà nước đối vớingành giao thông và đối với chất lượng công trình giao thông Việt Nam nhữngnăm qua hiệu quả còn hạn chế Như vậy việc xác định đúng nguyên nhân đưađến hiệu quả quản lý Nhà nước đối với chất lượng công trình giao thông và đưa

ra những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý này có vai trò to lớn trong sự pháttriển ngành giao thông nói riêng và sự phát triển nền kinh tế nói chung

Chính vì vậy mà em xin chọn đề tài: “Nâng cao quản lý Nhà nước đối với chất lượng công trình giao thông Việt Nam”

Đề tài được chia làm 3 phần:

Chương I: Cơ sở lý luận

Chương II: Thực trạng quản lý Nhà nước đối với chất lượng công trình giaothông Việt Nam thời gian qua

Chương III Kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước vềchất lượng công trình giao thông ở Việt Nam

Đề tài có sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương phápduy vật biện chứng, diễn giải, kết hợp với phương pháp tổng hợp, phân tích, sosánh, phương pháp thống kế học để nghiên cứu

Trang 7

NỘI DUNG

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

I Chất lượng công trình giao thông

Khái niệm chất lượng sản phẩm đã xuất hiện từ rất lâu, ngày nay được sửdụng phổ biến và thông dụng hàng ngày trong cuộc sống cũng như tỏng sáchbáo Bất cứ ở đâu hay trong tài liệu nào, chúng ta đều thấy xuất hiện thuật ngữchất lượng Tuy nhiên, hiểu thê nào là chất lượng sản phẩm lại là vấn đề khôngđơn giản Chất lượng sản phẩm là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánhtổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế và xã hội Do tính phức tạp đó nên hiệnnay có rất nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm Mỗi khái niệmđều có những cơ sở khoa học nhằm giải quyết mục tiêu, nhiệm vụ nhất địnhtrong thực tế

Để giúp cho hoạt động quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp đượcthống nhất và dễ dàng, Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa (ISO) trong bộ tiêu

Trang 8

chuẩn ISO 9000, phần thuật ngữ ISO 9000 đã đưa ra định nghĩa chất lượng :

“Chất lượng là mức độ thỏa mãn của một tập hợp các thuộc tính đối với các yêucầu”1 Yêu cầu có nghĩa là những nhu cầu hay mong đợi được nêu ra hay tiềm

ẩn Do tác dụng thực tế của nó nên định nghĩa này được chấp nhận một cáchrộng rãi trong hoạt động kinh doanh quốc tế ngày nay Định nghĩa chất lượngtrong ISO 9000 là thể hiện sự thống nhất giữa các thuộc tính nội tại khách quancủa sản phẩm với đáp ứng nhu cầu chủ quan của khách hàng

1.2 Các thuộc tính chất lượng sản phẩm.

Các thuộc tính kỹ thuật: Phản ánh công dụng, chức năng của sản phẩm Nhóm

này đặc trưng cho các thuộc tính xác định chức năng tác dụng chủ yếu củasản phẩm được quy định bởi các chỉ tiêu kết cấu vật chất, thành phần cấu tạo

và đặc tính về cơ, lý, hóa của sản phẩm…

Các yếu tố thẩm mỹ: Đặc trưng cho sự truyền cảm, sự hợp lý về hình thức,

dáng vẻ, kết cấu, kích thước, sự hoàn thiện, tính cân đối, màu sắc, tính thờitrang

Tuổi thọ của sản phẩm: Đây là yếu tố đặc trưng cho tính chất của sản phẩm

giữ được khả năng làm việc bình thường theo đúng tiêu chuẩn thiết kế trongmột thời gian nhất định trên cơ sở bảo đảm đúng các yêu cầu về mục đích,điều kiện sử dụng và chế độ bảo dưỡng quy định

Độ tin cậy của sản phẩm: Độ tin cậy được coi là một trong những yếu tố quan

trọng nhất phản ánh chất lượng của một sản phẩm và bảo đảm cho doanhnghiệp có khả năng duy tri và phát triển thị trường của mình

Độ an toàn của sản phẩm: Những chỉ tiêu an toàn trong sử dụng, vận hành

sản phẩm, an toàn đối với sức khoẻ người tiêu dùng và môi trường là yếu tốtất yếu, bắt buộc phải có đối với mỗi sản phẩm trong điều kiện tiêu dùng hiệnnay

1 Giáo trình Quản lý chất lượng trong các tổ chức - Trường ĐH KTQD, tr.13

Trang 9

Mức độ gây ô nhiễm của sản phẩm: Cũng giống như độ an toàn, mức độ gây

ô nhiễm được coi là một yêu cầu bắt buộc các nhà sản xuất phải tuân thủ khiđưa sản phẩm của mình vào thị trường

Tính tiện dụng: Phản ánh những đòi hỏi về tính sẵn có, tính dễ vận chuyển,

bảo quản, dễ sử dụng của sản phẩm và khả năng thay thế khi có những bộphận bị hỏng

Tính kinh tế của sản phẩm: Đây là yếu tố quan trọng đối với những sản phẩm

khi sử dụng có tiêu hao năng lượng, nguyên liệu Tiết kiệm nguyên liệu, nănglượng trong sử dụng là một yếu tố quan trọng phản ánh chất lượng và khảnăng cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trường

Ngoài những thuộc tính hữu hình có thể đánh giá cụ thể mức chất lượng củasản phẩm, còn có các thuộc tính vô hình khác không biểu hiện một cách cụ thểdưới dạng vật chất nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng đối với khách hàng khiđánh giá chất lượng của một sản phẩm

Như vậy, chất lượng của sản phẩm được tạo ra bởi toàn bộ thuộc tính của sảnphẩm có khả năng thỏa mãn nhu cầu vật chất hữu hình và vô hình của người tiêudùng1 Mỗi thuộc tính có tầm quan trọng khác nhau tùy thuộc vào loại sản phẩm,mục đích và yêu cầu sử dụng của người tiêu dùng

1.3 Ba “chân” của “chiếc kiềng” hệ thống chất lượng.

Một hệ thống chất lượng có thể được so sánh với một chiếc kiềng mà khôngthể đứng được nếu một trong số các chân của nó không vững Tương tự như vậy,lãnh đạo cấp cao phải chú ý đều vào cả “ba chân” của hệ thống quản lý chấtlượng trong kế hoạch kinh doanh tổng thể của công ty2

Vậy “ba chân” của chiếc kiềng chất lượng đó là gì?

 Khách hàng: Nếu nhu cầu của khách hàng không được đáp ứng đầy đủ, có lẽnhững khách hàng đó sẽ không quay trở lại nữa, trong khi đó là điều rất quantrọng đối với sự tăng trưởng không ngừng của một công ty Nếu không thỏa

1 Giáo trình Quản lý chất lượng trong các tổ chức - Trường ĐH KTQD, tr.16

2 Tư vấn giám sát xây dựng công trình giao thông - Bộ GTVT, tr.149

Trang 10

mãn được nhu cầu của khách hàng thì có thể coi đó là một việc làm “khôngcông”.

 Người cung cấp vốn: Một trong những mục tiêu chính của bất cứ doanhnghiệp nào là tạo ra lợi nhuận ở mức chấp nhận được từ nguồn vốn đầu tư Vìgiá cả của sản phẩm hay dịch vụ thường do thị trường xác định nên lãnh đạocủa doanh nghiệp phải luôn biết được chi phí cho các sản phẩm hay dịch vụ

đó để có thể duy trì được mức độ lợi nhuận chấp nhận được Có quá nhiều sailỗi đắt giá có thể nhanh chóng lõm vào số tiền thu hồi được từ nguồn vốn đầutư

 Nhân viên: Một trong những tài sản đắt giá nhất của bất kỳ một doanh nghiệpnào cũng chính là đội ngũ công nhân viên của mình Nếu được áp dụng đúng,Tiêu chuẩn ISO 9000 có thể đảm bảo được rằng mọi công nhân viên sẽ nhậnthức tốt hơn về chính sách và mục tiêu của công ty, từ đó làm cho họ hài lòng

về công việc

Một hệ thống quản lý chất lượng không bao giờ được phép cản trở hoạt độnghiệu quả của một doanh nghiệp Một hệ thống quản lý chất lượng được thiết kế

và được lập thành văn bản một cách hoàn chỉnh là rất quan trọng với bất kỳ một

tổ chức nào muốn xây dựng một hệ thống quản lý có hiệu quả dựa trên triết lýcủa Quản lý chất lượng toàn diện

2 Công trình giao thông

Thuật ngữ công trình giao thông được sử dụng hàng ngày và phổ biến đối vớibất kỳ ai Tuy nhiên, để hiểu rõ và chi tiết về khái niệm công trình giao thông thìcần có thời gian và kiến thức Có thể hiểu nôm na rằng công trình giao thônggồm có công trình giao thông đường bộ, công trình giao thông đường sắt, côngtrình giao thông đường thủy và giao thông hàng không Ở đây, đi sâu chi tiết vàogiao thông đường bộ bởi hoạt động trên giao thông đường bộ là chủ yếu nhất

2.1 Công trình giao thông đường bộ bao gồm 1 :

 Nền đường, mặt đường, vỉa hè, hệ thống thoát nước

1 Nghị định số 172/1999/NĐ-CP của Chính phủ, Điều 3, chương I

Trang 11

 Các loại cầu, cống, kè, tường chắn, hầm, công trình ngầm, đường ngầm,đường tràn, đường cứu nạn.

 Bến phà, bến cầu phao, các bến dự phòng, các công trình thiết bị hai đầu bến,nơi cất giấu các phương tiện vượt sông và các thiết bị phụ trợ

 Các công tình chống va, công trình chỉnh trị dòng nước

 Đảo hướng dẫn giao thông, dải phân cách, hệ thống cọc tiêu biển báo, tường

hộ lan, tường phòng vệ, mốc chỉ giới, mốc đo đạc, cột cây số, đèn chiếu sang,đèn tín hiệu điều khiển giao thông và các công trình phụ trợ an toàn giaothông

 Bến xe, bãi đỗ xe (bao gồm cả các công trình phụ trợ), nhà chờ xe dọc đường

 Trạm cân xe, các thiết bị đếm xe trên đường, trạm thu phí cầu đường, trạmđiều khiển giao thông, chốt phân luồng

2.2 Hành lang bảo vệ công trình giao thông đường bộ

Hành lang bảo vệ công trình giao thông đường bộ bao gồm phần trên mặtđất, phần trên không, phần dưới mặt đất, phần nước liền kề công trình giao thôngđường bộ có tác dụng đề phòng và ngăn ngừa các tác động làm ảnh hưởng đến

sự bền vững của công trình, bảo đảm an toàn cho các hoạt động giao thông vậntải đường bộ, bảo đảm cảnh quan, vệ sinh môi trường1

3 Chất lượng công trình giao thông

Chất lượng công trình giao thông là những yêu cầu tổng hợp đối với đặc tính

an toàn, bền vững, kỹ thuật, mỹ thuật của công trình phù hợp với tiêu chuẩn xâydựng, tiêu chuẩn kỹ thuật, phù hợp với hợp đồng kinh tế và pháp luật hiện hànhcủa Nhà nước2

Thuật ngữ chất lượng công trình giao thông rất phức tạp và đa dạng Đó làvấn đề về kỹ thuật trong giai đoạn trước, trong và sau khi xây dựng một côngtrình giao thông Nhưng đấy là vấn đề mà một sinh viên, một kỹ sư chuyên

1 Nghị định số 172/1999/NĐ-CP của Chính phủ, Điều 4, chương I

2 Quy định quản lý chất lượng công trình giao thông - Bộ Giao thông vận tải

Trang 12

ngành cần phải nghiên cứu Ở đây, xin được nêu một vài vấn đề về chất lượngcông trình giao thông chung chung để phục vụ cho đề tài này.

3.1 Chất lượng thi công công trình

Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, trình độ trí thức của conngười ngày càng cao, công tác kiểm tra chất lượng cũng ở trong sự phát triểnkhông ngừng

Đối với chất lượng sản phẩm, cho dù là chiếc công thoát nước đơn giản hay

là một cây cầu phức tạp, đều có những thuộc tính giống nhau Đối với việc đánhgiá chất lượng thường quy nạp thành sáu đặc tính: công năng, độ tin cậy, tínhphù hợp, các tiêu chuẩn kỹ thuật, tính an toàn, tính kinh tế và tính thời gian Đặctính chất lượng của cầu đường phải có “quá trình khai thác” hoặc “sử dụng” phảiđảm bảo Thực hiện sáu đặc tính chất lượng nói trên và được đảm bảo trong toàn

bộ quá trình khảo sát, thiết kế, thi công, giám sát xây dựng, bảo dưỡng và khaithác Vì thế, khống chế chất lượng các mặt trong quá trình sẽ quyết định chấtlượng của nó, từ đó quyết định chất lượng khai thác, sử dụng1 Ở trên là kháiquát nghĩa rộng của từ “chất lượng”, nó có bốn đặc điểm sau:

 Chất lượng không chỉ gồm kết quả, thí nghiệm, kiểm định mà còn gồm quátrình hình thành và thực hiện các bước công nghệ thi công

 Chất lượng không chỉ bao gồm chất lượng vật liệu rời và chất lượng máy,thiết bị, mà còn bao gồm chất lượng công việc của kỹ sư, công nhân trongquá trình thi công để hình thành nên sản phẩm của nó

 Chất lượng không chỉ đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư, mà còn đáp ứng yêucầu của xã hội, bảo đảm các bên chủ đầu tư, nhà thầu, tư vấn và xã hội đều cólợi

 Chất lượng không chỉ tồn tại ở công trường, ở xây dựng mà còn tồn tại ở cáclĩnh vực tư vấn giám sát, quản lý của chủ đầu tư và hiệu lực của pháp luật xãhội

1 Tư vấn giám sát xây dựng công trình giao thông - Bộ GTVT, tr.64

Trang 13

Chất lượng công trình, với nghĩa rộng, vừa có tính chung, còn có những tínhriêng của nó, là chỉ sản phẩm công trình (như đường bộ, cầu cống) được hìnhthành thông qua toàn bộ quá trình hình thành công trình, để đạt công năng và cógiá trị sử dụng mà người sử dụng và xã hội yêu cầu, phải phù hợp với tiêu chuẩnchất lượng Nhà nước, yêu cầu thiết kế và điều khoản hợp đồng Xem xét từ hệthống, chất lượng của sản phẩm công trình là yêu cầu nhiều cấp, nhiều mặt đểđạt được mục tiêu chung.

3.2 Các yếu tố kiểm định chất lượng các công trình giao thông 1

 An toàn: Đây là một yếu tố quan trọng hàng đầu để kiểm tra chất lượng cáccông trình giao thông Mức độ an toàn của các công trình giao thông thể hiệnqua các khía cạnh sau đây: khi thiết kế phải phù hợp với các tiêu chuẩn kỹthuật, phải bảo đảm an toàn, thuận tiện cho người và các phương tiện sử dụngcác công trình đó, an toàn về kết cấu và chất lượng của công trình theo thờigian

 Kiểm tra chất lượng công trình về mặt kỹ thuật: Kiểm tra về mặt kết cấu củacác công trình giao thông như: cường độ (Emoduyn đàn hồi), khả năng chịulực của kết cấu Kiểm tra về mặt chất lượng vật liệu của công trình, kiểm tra

độ đảm bảo về cường độ vật liệu và các tiêu chuẩn về kích thước hình họctheo các tiêu chuẩn đã được quy định như trong thiết kế

 Kiểm tra về mặt phù hợp với các điều kiện thiên nhiên và ảnh hưởng đến cácyếu tố mội trường của công trình giao thông:

- Tính mỹ quan của công trình có phù hợp với điều kiện tự nhiên và cáccông trình nhân tạo xung quanh hay không

- Ảnh hưởng đến môi trường: Có tác hại đến môi trường như thế nào? Gâysạt lở bờ sông như cầu, công, đê Gây ô nhiễm môi trường Tạo ra các khối

bê tong lớn làm hại môi trường Gay sạt lở, lún làm ảnh hưởng đến cáccông trình nhân tạo xung quanh

1 Tiêu chuẩn kỹ thuật công trình giao thông, NXB Giao thông vận tải, Tr 15

Trang 14

 Đánh giá về mặt hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của các công trình giao thông.Việc sử dụng các công trình giao thông này đã đạt được những hiệu quả kinh

tế như thế nào? Việc đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của các công trìnhgiao thông thì dựa vào rất nhiều tiêu chí như:

- Tổng mức đầu tư

- Mức độ thỏa mãn của người sử dụng: độ thuận tiện, nhanh chóng…

4.1 Nhân tố chủ quan (nhân tố con người)

Đây chính là nhân tố chính, chủ yếu tác động đến chất lượng công trình giaothông Các nhân tố này tác động lên chất lượng các công trình giao thông nhưsau:

 Đầu tiên là giai đoạn thiết kế, làm công tác trắc địa để xây dựng một côngtrình giao thông Đây là khâu rất quan trọng

 Tiếp đến là giai đoạn thi công công trình Trong giai đoạn này có sự góp mặtcủa bên chủ đầu tư, tư vấn giám sát công trình, thi công công trình và một sốbên có liên quan

 Sau khi thi công công trình, bên nghiệm thu sẽ quyết định chất lượng củacông trình có phù hợp đưa vào sử dụng hay không

 Khi công trình đã được đưa vào sử dụng, chất lượng công trình còn phụ thuộcvào ý thức sử dụng công trình giao thông của người dân cùng các phương tiệngiao thông Sự nghiêm túc của các đoàn thanh tra giao thông

Trang 15

II Hiệu quả quản lý Nhà nước đối với chất lượng công trình giao thông

1 Khái niệm quản lý Nhà nước về kinh tế

Quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân (hoặc vắn tắt là quản lýNhà nước về kinh tế) là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhànước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tếtrong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triểnkinh tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế 1.Quản lý kinh tế là nội dung cốt lõi của quản lý xã hội nói chung và nó phải gắnchặt với các hoạt động quản lý khác của xã hội Quản lý Nhà nước về kinh tếđược thể hiện thông qua các chức năng kinh tế và quản lý kinh tế của Nhà nước.Như vậy, Nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế là nhu cầu khách quan,nôi tại của nền kinh tế thị trường, còn việc điều tiết, khống chế và định hướngcác hoạt động kinh tế của các cơ sở thuộc các thành phần kinh tế theo phươnghướng và mục tiêu nào lại lệ thuộc cào bản chất của các hình thức Nhà nước vàcon đường phát triển mà nước đó lựa chọn

Thực chất của quản lý Nhà nước về kinh tế là việc tổ chức và sử dụng cóhiệu quả nhất các nguồn lực trong nước và ngoài nước mà Nhà nước có khả năngtác động vì mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước Trong đó vấn đề nắm đượccon người, tổ chức và tạo động lực lớn nhất cho con người hoạt động trong xãhội là vấn đề có vai trò then chốt Đúng như Trần Hưng Đạo đã nói: “Kể ra dân

ta không bao giờ hai lòng, sợ ta thì khinh địch, sợ địch thì khinh ta Bị dân khinhthì thua, dân sợ uy thì thắng.”2

Bản chất của quản lý Nhà nước về kinh tế là đặc trưng thể chế chính trị củađất nước; nó chỉ rõ Nhà nước là công cụ của giai cấp hoặc của lực lượng chínhtrị, xã hội nào? Nó dựa vào ai và hướng vào ai để phục vụ? Đây là vấn đề khácnhau cơ bản giữa quản lý Nhà nước về kinh tế của các chế độ xã hội khác nhau.Quản lý Nhà nước về kinh tế là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứuriêng và có nhiệm vụ phải thực hiện riêng, đó là các quy luật và các vấn đề mang

1 Giáo trình quản lý nhà nước về kinh tế - ĐH Kinh tế quốc dân, tr 23.

2 Trần Quốc Tuấn (1997): Binh thư yếu lược, NXB Khoa học xã hội, 1997, tr.50.

Trang 16

tính quy luật của các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giữa các chủ thể tham giahoạt động kinh tế của xã hội.

Quản lý Nhà nước về kinh tế còn là một nghệ thuật và một nghề vì nó lệthuộc không nhỏ vào trình độ nghề nghiệp, nhân cách, bản lĩnh của đội ngũ cán

bộ quản lý kinh tế; phong cách làm việc, phương pháp và hình thức tổ chức quảnlý; khả năng thích nghi cao hay thấp v.v… của bộ máy quản lý kinh tế của Nhànước

2.1 Khái niệm

Nhà nước thực hiện vai trò kinh tế của mình không chỉ bằng việc xây dựng

và quản lý khu vực kinh tế Nhà nước mà quan trọng hơn là quản lý toàn bộ nềnkinh tế quốc dân bao gồm cả kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản tưnhân, kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài Để quản lý được nền kinh tế quốc dân, Nhà nước phải thực hiện rấtnhiều loại công việc khác nhau Những công việc này hình thành nên khái niệmchức năng quản lý Nhà nước về kinh tế

Chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế là hình thức biểu hiện phương hướng

và giai đoạn tác động có chủ đích của Nhà nước tới nền kinh tế quốc dân Là tậphợp những nhiệm vụ khác nhau mà Nhà nước phải tiến hành trong quá trìnhquản lý nền kinh tế quốc dân

2.2 Phân loại chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế theo tính chất tác động

Chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế theo tính chất tác động biểu hiện vaitrò của Nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân

2.2.1 Thiết lập khuôn khổ pháp luật về kinh tế

1 Giáo trình QLNN về kinh tế - Trường ĐH Kinh tế quôc dân, tr 175, 176.

Trang 17

Để quản lý nền kinh tế quốc dân, Nhà nước phải xây dựng, hoàn thiện vàthực hiện một hệ thống pháp luật nói chung, một hệ thống pháp luật về kinh tếnói riêng.

Pháp luật kinh tế theo nghĩa rộng là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhànước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhândân lao động nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, phát sinh trong quá trình tổchức quản lý và sản xuất – kinh doanh giữa các chủ thể kinh tế với nhau và vớicác cơ quan quản lý Nhà nước

2.2.2 Tạo lập môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh

Môi trường kinh doanh là trong thể các yếu tố tác động trực tiếp hay giántiếp đến các quyết định hoặc hoạt động của các chủ thể kinh tế trên thị trường.Nhóm các yếu tố bên ngoài có tác động gián tiếp đến các đơn vịn kinh doanhđược gọi là nhóm các yếu tố môi trường vĩ mô Thuộc nhóm này bao gồm: môitrường văn hóa – xã hội, môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, môi trường vậtchất và môi trường công nghệ Nhóm các yếu tố bên ngoài tác động trực tiếp đéncác đơn vị kinh tế là các yếu tố môi trường vi mô Các yếu tố này gồm: kháchhàng, nhà cung cấp, các đối thủ cạnh tranh, các nhóm quyền lợi trong các cơ sởkinh tế

Trong số các yếu tố thuộc môi trường kinh tế, Nhà nước có vai trò đặc biệtđối với các yếu tố thuộc mội trường vĩ mô Vai trò được thể hiện qua các nộidung: duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm ổn định

xã hội (về vấn đề dân số, về vấn đề việc làm, về vấn đề công bằng xã hội, về vấn

đề xóa đói giảm nghèo, về củng cố và phát triển văn hóa, về khắc phục nhữnghiện tượng tiêu cực trong xã hội và về vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái)

2.2.3 Chức năng bảo đảm cơ sở hạ tầng cho phát triển

Tính tất yếu của chức năng Nhà nước bảo đảm cho nền kinh tế các dịch vụ

cở sở hạ tầng xuất phát từ 3 lý do:

 Dịch vụ kết cấu hạ tầng có vai trò to lớn đối với tăng trưởng và phát triểnkinh tế Cơ sở hạ tầng được xem như là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh

Trang 18

tế Sản xuất không thể phát triển được nếu không được đảm bảo về nguồnnhân lực, giao thông, điện nước, thông tin…

 Dịch vụ cơ sở hạ tầng đòi hỏi một khối lượng vốn lớn, thời gian thu hồi vốndài và việc thu hồi vốn khó khăn, thường thu hồi gián tiếp mà ít thu hồi trựctiếp

 Dịch vụ cơ sở hạ tầng phần lớn là những hàng hóa công cộng Những hànghóa này không được các nhà sản xuất tư nhân quan tâm vì lợi ích của ngườisản xuất ra nó ít hơn nhiều so với lợi ích xã hội, và vấn đề sử dụng khôngphải trả tiền của hàng hóa công công1 Các công trình giao thông là một dạngcủa hàng hóa này

2.2.4 Chức năng hỗ trợ phát triển

Hỗ trợ phát triển là chức năng kinh tế của Nhà nước Khái niệm này rất rộng.Những chức năng đã được đề cập phần nào cũng mang tính hỗ trợ phát triển.Đây chính là hành động của Nhà nước tiến hành can thiệp vào các ngành kinh tếnhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn cho những ngành đó trong quá trìnhphát triển

2.2.5 Cải cách khu vực công

Cải cách khu vực công được xem là chức năng kinh tế của Nhà nước Việccải cách này là những hoạt động của Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả của khuvực này, thông qua đó tác động đến toàn bộ nề kinh tế

2.3 Phân loại chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế theo giai đoạn tác động

2.3.1 Chức năng hoạch định phát triển kinh tế

Hoạch định phát triển kinh tế là quyết định trước những nhiệm vụ, nhữngmục tiêu và các giải pháp phát triển kinh tế đất nước trong khoang thời gian dài,thường là 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn

1 Giáo trình Kinh tế Công cộng – ĐH Kinh tế quốc dân, tr 89.

Trang 19

Hoạch định phát triển kinh tế theo nghĩa rộng bao gồm cả định ra đường lốiphát triển kinh tế và thiết lập các kế hoạch ngắn hạn, dài hạn và trung hạn cho sựphát triển Chức năng hoạch định còn được gọi là chức năng định hướng hoặcchức năng kế hoạch.

2.3.2 Chức năng tổ chức điều hành nền kinh tế

Chức năng tổ chức điều hành nền kinh tế của Nhà nước là tập hợp nhữngnhiệm vụ mà Nhà nước phải thực hiện nhằm thiết lập hệ thống quản lý và hệthống sản xuất nền kinh tế quốc dân cũng như vận hành hệ thống đó hoạt độngtheo định hướng của kế hoạch

2.3.3 Chức năng kiểm soát sự phát triển kinh tế

Là tổng thể những hoạt động của Nhà nước nhằm kịp thời phát hiện và xử lýnhững sai sót, ách tắc, đổ vỡ, những khó khăn, vướng mắc cũng như những cơhội phát triển kinh tế, nhằm đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động đúng định hướng

kế hoạch và có hiệu quả

3 Quản lý Nhà nước về chất lượng công trình giao thông

Quản lý chất lượng công trình giao thông là tập hợp những hoạt đông của cơquan có chức năng quản lý thông qua các biện pháp như lập kế hoach chất lượng,kiểm tra chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng công trình1

Trong công cuộc đổi mới của đất nước, tố độ và quy mô đầu tư xây dựngcông trình giao thông không ngừng tăng lên Điều đó đặt ra yêu cầu ngày càngcao trong công tác quản lý chất lượng công trình giao thông Đây là vấn đề được

cả Nhà nước và xã hội quan tâm, mọi người đều mong muốn vấn đề chất lượngcông trình phải là mục địch hướng tới của Luật Xây dựng, Luật Giao thông Cóthể nói, ngành xây dựng công trình giao thông giữ vị trí trọng yếu trong nền kinh

tế quốc dân Đất nước có hành trăm hàng nghìn các công trình giao thông đã,đang và sẽ được xây dựng, vì vậy hơn bao giờ hết, chất lượng các công trình giaothông phải được đặc biệt coi trọng, phải được đặt lên hàng đầu trong mọi hoạt

1 Quy định quản lý chất lượng công trình giao thông - Bộ Giao thông vận tải

Trang 20

động xây dựng Để đảm bảo chất lượng công trình giao thông thì yếu tố quản lýcủa Nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng1.

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành riêng một Nghị định về quản lý chất lượngcông trình giao thông Đây là công cụ hết sức quan trọng để thực hiện và quản lýviệc thực hiện các hoạt động xây dựng công trình giao thông nhằm đảm bảonâng cao chất lượng công trình giao thông Nội dung cơ bản nhất của Nghị địnhnày là quy định nội dung, trình tự, các quy định phải tuân theo, cũng như các yêucầu về quản lý trong suốt quá trình thực hiện để làm ra sản phẩm, từ khảo sát,thiết kế, thi công xây dựng, bảo hành và bảo trì công trình Nhà nước quy địnhđiều kiện năng lực của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng công trình giaothông, bao gồm: Ban quản lý dự án, các nhà thầu tư vấn, nhà thầu thi công côngtrình Đối với các cá nhân thực hiện các chức danh chủ nhiệm chủ trì khảo sát,thiết kế; cá nhân thực hiện công tác giám sát thi công xây dựng phải có chứngchỉ hành nghề phù hợp Điều quan trọng là điều kiện năng lực của tổ chức, cánhân được quy định theo loại và cấp công trình

Trong nội bộ ngành, Bộ Giao thông vận tải đã được Chính phủ giao chứcnăng thống nhất quản lý Nhà nước về chất lượng công trình giao thông:

 Nhiệm vụ thứ nhất là nghiên cứu xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật

về quản lý chất lượng công trình giao thông trình Chính phủ ban hành hoặcban hành theo thẩm quyền

 Nhiệm vụ thứ hai là sau khi đã có thể chế, Bộ phải có nhiệm vụ tổ chức tuyêntruyền, phổ biến, tập huấn, hướng dẫn việc thực hiện các văn bản quy phạmpháp luật đã ban hành

 Nhiệm vụ thứ ba là tổ chức kiểm tra việc tuân thủ pháp luật trong hoạt độngxây dựng và điều hành các công trình giao thông

4 Hiệu quả quản lý Nhà nước đối với chất lượng các công trình giao thông

4.1 Khái niệm hiệu quả

1 Trang web: http.www.giaothongvantai.com.vn

Trang 21

Hiệu quả là thuật ngữ dùng để chỉ, mối quan hệ kết quả thực hiện các mụctiêu hoạt động của chủ thể mà chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trongnhững điều kiện nhất định2.

Hiệu quả được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau, vì vậy mà hình thành nhiềukhái niệm khác nhau

 Hiệu quả tổng hợp: Là hiệu quả chung phản ánh kết quả thực hiện mọi mụctiêu mà chủ thể đặt ra trong một giai đoạn nhất định trong quan hệ với chi phí

để đạt được kết quả đó

 Hiệu quả kinh tế: Là hiệu quả nếu chỉ xét về khía cạnh kinh tế của vấn đề, làmột nội dung đặc biệt của hiệu quả tổng hợp, có ý nghĩa quyết định tronghoạt động kinh tế của các chủ thể khác nhau Hiệu quả kinh tế mô tả mốiquan hệ giữa lợi ích kinh tế mà chủ thể nhận được và chi phí bỏ ra để nhậnđược lợi ích kinh tế đó

 Hiệu quả chính trị xã hội: Là hiệu quả mà chủ thể nhận được trong việc thựchiện các mục tiêu kinh tế xã hội Chẳng hạn như giải quyết công ăn việc làm,công bằng xã hội, môi trường…

 Hiệu quả trực tiếp: Là hiệu quả được xem xét trong phạm vi một dự án, mộtdoanh nghiệp (một đối tượng)

 Hiệu quả gián tiếp: Là hiệu quả mà một đối tượng nào đó tạo ra cho một đốitượng khác

 Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối: Là hai hình thức biểu hiện mốiquan hệ giữa kết quả và chi phí Trong đó, hiệu quả tuyệt đối được đo bằnghiệu số giữa kết quả và chi phí, còn hiệu quả tương đối được đo bằng tỉ sốgiữa kết quả và chi phí

Mục đích nghiên cứu hiệu quả, đó chính vì hiệu quả là chỉ tiêu dùng để phântích, đánh giá và lựa chọn các phương án hành động cho phù hợp nhất

2 Hiệu quả và quản lý dự án Nhà nước – ĐH Kinh tế quốc dân, Tr 5

Trang 22

4.2 Tiêu chuẩn cơ bản của hiệu quả quản lý Nhà nước về chất lượng các công trình giao thông

Quản lý Nhà nước ngành giao thông là loại hình quản lý đặc biệt quan trọngcủa quản lý Nhà nước về kinh tế Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII

đã khẳng định: “Cơ chế vận hành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theoCNXH là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bắng pháp luật, bằng kếhoạch, chính sách và hàng loạt các công cụ quản lý khác”1 Với tư cách là mộtngành kinh tế - kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân, việc xác định đúng nhữngnguyên nhân, tiêu chuẩn đưa đến hiệu quả quản lý Nhà nước đối với chất lượngcác công trình giao thông có vai trò hết sức to lớn trong sự phát triển toàn bộ nềnkinh tế quốc dân nói chung và ngành giao thông vận tải nói riêng

 Thứ nhất là hiệu quả tài chính:

- Các công trình giao thông chủ yếu được xây dựng bằng nguồn ngân sáchNhà nước, nguồn tài trợ từ các quỹ trong nước cũng như thế giới, cáckhoản đóng góp trong nhân dân, hay là các nhà thầu tư nhân, tuy nhiêncũng không bỏ được khía cạnh kinh tế của nó

- Hiệu quả tài chính còn gọi là hiệu quả sản xuất – kinh doanh hay hiệu quảdoanh nghiệp là hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi một doanh nghiệp.Hiệu quả tài chính phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanhnghiệp nhận được và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được lợi íchkinh tế.2

- Ở đây, Nhà nước hay các nhà thầu bỏ kinh phí ra xây dựng các công trìnhgiao thông, nếu không được tài trợ hoàn toàn chi phí xây dựng cũng nhưtrong quá trình vận hành, bảo dưỡng công trình giao thông sẽ sử dụngphương pháp thu phí của các phương tiện lưu thông trên công trình nhằmhoàn lại vốn cũng như thu lãi

 Thứ hai là hiệu quả kinh tế quốc dân Công trình giao thông có thể coi làmạch máu của đất nước, là bộ mặt của đất nước Đồng thời các công trình

1 Báo Giao thông vận tải, số 152/2003, Tr 5

2 Hiệu quả và quản lý dự án Nhà nước – ĐH Kinh tế quốc dân, Tr 9

Trang 23

giao thông cũng là hàng hóa công cộng Do đó khi xây dựng bất kỳ một côngtrình giao thông nào cũng đều phải đặt ra những mục tiêu sau đây:

- Tăng thu nhập quốc dân

- Tạo công ăn việc làm

- Công bằng xã hội

- Bảo vệ môi sinh

- Bảo đảm chủ quyền đất nước

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG THỜI GIAN QUA

I Khái quát chung về ngành xây dựng giao thông Việt Nam

1 Quá trình hình thành và phát triển

Kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định thành lập Bộ Giao thôngcông chính đến nay (28.8.1945), ngành Giao thông vận tải (GTVT) Việt Nam đãtrải qua gần 60 mươi năm tồn tại và phát triển, gắn liền với sự nghiệp cách mạngcủa đất nước với nhiều thời kỳ sôi nổi, hào hùng

Trang 24

1.1 Giai đoạn 1945 – 1954: Giao thông vận tải phục vụ kháng chiến chông thực dân Pháp

30 năm đầu tiên của thế kỷ XX, để thực hiện chính sách khai thác triệt đểthuộc địa, thực dân Pháp đã xây dựng một hệ thống giao thông từ Bắc vào Namnhưng chủ yếu nhằm phục vụ công cuộc cai trị và bóc lột Ngay sau khi cáchmạng Tháng Tám thành công, ngày 28.8.1945, Hồ Chủ Tịch đã chính thức kýquyết định thành lập Bộ Giao thông Công chính thuộc Chính phủ nước Việt NamDân chủ Cộng hoà và giao cho nhân sĩ yêu nước Đào Trọng Kim làm Bộ trưởng.Cũng từ đây, hệ thống giao thông đã thực sự trở thành tài sản của người ViệtNam, phục vụ người dân nước Việt

Thời kỳ mới thành lập Bộ Giao thông Công chính đứng trước những khókhăn rất nặng nề với 6 nhiệm vụ rất căn bản: (1) Vận tải quân, lương phục vụcho kháng chiến Nam Bộ và các chiến trường khi cuộc kháng chiến toàn quốc nổ

ra (12.1946); (2) Phá hoại cầu đường ngăn chặn quân địch tiến quân đánh chiếncác vùng tự do, các căn cứ kháng chiến với âm mưu đánh nhanh thắng nhanh; (3)Thiết lập các đường dây giao liên, giữ giao thông liên lạc thông suốt các miềnBắc – Trung – Nam phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chínhphủ; (4) Sửa chữa, mở đường các vùng tự do, vùng kháng chiến và đi sâu vàocác vùng hậu cứ của địch để phục vụ các chiến dịch đánh địch trên khắp cácchiến trường đồng thời gia tăng phục vụ sản xuất; (5) Vận tải hàng hoá, hànhkhách, vận chuyển lương thực, quân đội tham gia các chiến dịch tấn công giaiđoạn 1945 – 1954; (6) Làm nhiệm vụ quốc tế ch,i viện cho Lào, Campuchia v.v.Thành tựu nổi bật của Ngành giao thông công chính thời kỳ này là đã cùngtoàn dân tham gia thực hiện các phong trào do Chính phủ phát động và chỉ đạonhư “Tiêu thổ kháng chiến”: Phá đường, cầu, cống và các hệ thống giao thôngkhác để ngăn chặn địch vận chuyển lương thực, thực phẩm, súng đạn Hàngngàn các đoạn, các cung đường bộ, hàng trăm cầu lớn đã bị phá huỷ và trở thànhvật cản ngăn chặn sự xâm lược của địch Một thành công lớn của ngành giaothông thời kỳ này là công tác mở đường phục vụ các chiến dịch tiến tới chiếnthắng lịch sử Điện Biên Phủ Tuy không được đầu tư nhiều về tài chính nhưng

Trang 25

sức dân, sự đoàn kết và dũng cảm của toàn quân, toàn dân đã mở ra những kỳtích của ngành giao thông.

1.2 Giai đoạn 1954 – 1964: Giao thông vận tải xây dựng XHCN ở miền Bắc

và chi viện cho miền Nam

Thời kỳ này, do nhiệm vụ mới của đất nước là khôi phục phát triển kinh tếmiền Bắc để chi viện cho chiến trường miền Nam, Chính phủ đã quyết định đổitên Bộ Giao thông Công chính thành Bộ Giao thông và Bưu điện do ông NguyễnVăn Trân làm Bộ trưởng Cơ cấu, bộ máy tổ chức của Bộ cũng được nâng lênngang tầm với nhiệm vụ, chức năng cụ thể được Chính phủ giao Cơ cấu của Bộbao gồm: Văn phòng Bộ, Tổng Cục Đường sắt, Tổng Cục Bưu điện, Nha Giaothông; Ngành vận tải Đường thuỷ; Sở Vận tải, Ty Công chính phi trường vàTrường Cao đẳng giao thông công chính

Nhiệm vụ lớn nhất của Ngành GTVT thời kỳ này là khôi phục lại hệ thống giao thông đã phá hỏng trong kháng chiến chống Pháp để phục vụ phát triểnkinh tế miền Bắc và chi viện cho chiến trường miền Nam Trong 10 năm (1954 –1964) hệ thống đường sắt miền Bắc đã được xây dựng và khôi phục lại vớinhững tuyến đường chính là Hà Nội – Lào Cai; Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội -Lạng Sơn Những tuyến đường này đã có vai trò quan trọng phục vụ đi lại, khôiphục kinh tế miền Bắc trong nhều năm thời điểm đó và còn phát huy tác dụngđến bây giờ Một tuyến đường sắt khác được xây dựng là Hà Nội – Thái Nguyênvới 164km cũng hoàn thành trong giai đọan này Về giao thông đường bộ, đườngthuỷ cũng được Nhà nước đầu tư xây dựng mới nhiều tuyến quốc lộ phía Bắc vàmột số cảng sông cũng hình thành, trong đó cảng Hải Phòng có vai trò lớn nhấttrong vận chuyển hàng hoá phía Bắc và giao thương với nước ngoài Nhiều câycầu mới, con đường mới có tính huyết mạch cũng đã được mở mang xây dựngvừa bằng sức dân, vừa có sự đầu tư của Nhà nước Ngành GTVT còn tham giathi công các sân bay như: Nội Bài (trước đây gọi là Đa Phúc), Hoà Lạc (Hà Tây),Vinh (Nghệ An) và sân bay Kép (Bắc Giang) Nhìn chung, thời kỳ này Việt Nam

đã hình thành một mạng lưới giao thông tuy không hiện đại nhưng bước đầuphục vụ tốt nhịêm vụ của thời kỳ cách mạng mới

Trang 26

Trong lĩnh vực vận tải, các ngành vận tải đường bộ, đường sông, đường sắtđều có nhiều bước phát triển vượt bậc so với trước năm 1954 Vận tải đường sắttrong 10 năm (1954 – 1964) đã đảm nhận trên 20% khối lượng vận chuyển toànngành, thực hiện sản lượng luân chuyển hàng hoá trên 50% Vận tải đường bộ đãđảm nhiệm từ 30 – 40% khối lượng vận chuyển hàng hoá và hành khách cả nướcvới đội ngũ các xí nghiệp vận tải hành khách và hàng hoá quốc doanh Côngnghiệp GTVT được hình thành với một số chuyên ngành tuy còn hạn hẹp nhưng

đã tự túc sản xuất được một số mặt hàng phục vụ ngành Trong công nghiệpGTVT thời kỳ này, nổi bật nhất là Nhà máy toa xe lửa Gia Lâm đã đã hình thànhđược nhiều phân xưởng quan trọng làm tiền đề cho công nghiệp đóng tàu đườngsắt sau này như phân xưởng sửa chữa đầu máy, đóng mới toa xe, rèn, đúc v.v

1.3 Giai đoạn 1964 – 1975: Giao thông vận tải chông chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ và chi viện cho giải phóng miền Nam

Đây là thời kỳ đầu đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của ngành GTVT

kể từ khi thành lập Hai đặc điểm nổi bật của Ngành thời kỳ này là GTVT phục

vụ sự nghiệp củng cố và phát triển kinh tế miền Bắc và chi viện cho cuộc khángchiến chống Mỹ ở chiến trường miền Nam Cũng trong giai đoạn này, NgànhGTVT đã nhận được một sự đầu tư đáng kể của Nhà nước và viện trợ giúp đỡcủa bạn bè quốc tế, đặc biệt là sự giúp đỡ của Liên Xô (cũ) và Trung Quốc Những sự kiện nổi bật ghi dấu ấn của Ngành trong giai đoạn này là đườngmòn Hồ Chí Minh lịch sử với phong trào “Tất cả vì miền Nam thân yêu” do Chủtịch Hồ Chí Minh phát động Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu,Ngành GTVT Việt Nam đã lập nên những kỳ tích huy hoàng, góp phần quantrọng vào chiến thắng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ oanh liệt.Ngành GTVT đã đi đầu trong cuộc kháng chiến với tất cả những con đường cóthể mở được, từ đường mòn Hồ Chí Minh trên bộ đến đường đường mòn Hồ ChíMinh trên biển Những “con đường mòn” này về cơ bản vẫn dựa vào sức dân làchủ yếu song đã đóng vai trò quan trọng, nhất là trong việc vận chuyển lươngthực, thực phẩm, vũ khí cho chiến trường miền Nam Lịch sử sẽ còn nhắc lạinhững chiến công dũng cảm của cán bộ chiến sĩ, nhân viên ngành GTVT với các

Trang 27

sáng kiến đã đi vào huyền thoại trong cả vận tải đường bộ, đường thuỷ và hàngkhông.

Với ngành đường sắt, trong giai đoạn 1964 – 1975 đã liên tục đảm bảo giaothông suốt trong điều kiện địch đánh phá dữ dội Ngành đường sắt đã làm3.915mét cầu tạm, 82km đường và 274,5km dây thông tin và vận chuyển được4,16 triệu tấn hàng hoá Cán bộ, nhân viên và tự vệ ngành đường sắt đã bắn rơihàng chục máy bay các loại và dò phá được hàng ngàn quả bom nổ chậm ở cácchiến trường trọng điểm miền Nam Với ngành vận tải ô tô đã hình thành 5 công

ty vận tải hỗn hợp có tổng 1.271 xe phục vụ chủ yếu chiến trường miền Nam.Ngành vận tải đường biển với những con tàu “không số” trên đường mòn Hồ ChíMinh trên biển đã lập hàng trăm kỳ tích mà cho đến tận bây giờ vẫn chưa đượcnhiều người biết tới

Những người đứng đầu ngành GTVT giai đoạn này là Bộ trưởng DươngBạch Liên và Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ - các Bộ trưởng đã ghi dấu ấn đậm néttrong Ngành với các chiến công làm rạng rỡ truyền thống ngành GTVT sau này

1.4 Giai đoạn 1975 – 1985: Giao thông vận tải trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN

Sự tàn phá của chiến tranh trong một giai đoạn dài đã ảnh hưởng nghiêmtrọng đến hệ thống giao thông cả hai miền Nam, Bắc Năm 1975 không còn mộttuyến đường bộ nào ở miền Bắc đạt cấp kỹ thuật đồng bộ Phương tiện vận tảicủa tất cả các ngành giao thông miền Bắc đều thiếu thốn và lạc hậu Đường bộ

có 861 xe, máy và thiết bị các loại, trong đó chỉ có hơn 50% là còn sử dụngđược Đường biển mới có khoảng 4 vạn tấn phương tiện các loại nhưng đều cũ

kỹ và không phù hợp với luồng tuyến Các ngành kinh tế công nghiệp GTVT đềusuy yếu bởi thiếu nguồn tài chính đầu tư trong một giai đoạn dài Trước tìnhhình đó, Đại hội lần thứ 4 của Đảng (Tháng 12.1976) đã đề ra yêu cầu phải “tíchcực mở mang GTVT và thông tin liên lạc vì thực tế không cân đối với sự pháttriển của nền kinh tế quốc dân và không cân đối giữa các bộ phận trong nội bộngành ” Thực hiện chủ trương đó, ngành GTVT đã chấn chỉnh và tổ chức lại

bộ máy hoạt động và hình thành một bộ máy mới với các chức năng đầy đủ hơn,

Trang 28

đáp ứng thực tế Hàng loạt Sở Giao thông công chính ra đời trên toàn quốc vàhàng trăm các doanh nghiệp quốc doanh của ngành đường sắt, đường bộ, hàngkhông, vận tải biển đã ra đời và giữ vững mô hình hoạt động đến năm 1986.

Về hoạt động vận tải đường sắt: trong giai đoạn này đã khánh thành tuyếnđường sắt Bắc – Nam với sự kiện ngày 13/12/1976 chuyến hàng từ Thành phố

Hồ Chí Minh ra Hà Nội và chuyến tàu chở Apatít phục vụ nông nghiệp đã từ HàNội lên đường vào Thành phố Hồ Chí Minh Vận tải đường sắt cũng đã khaithông tuy năng lực chuyên chở vẫn còn hạn chế Trong giao thông đường bộ đãxây dựng mới hơn 2 vạn mét cầu, 520 cống, đặt mới 660km đường ray và 1.686

km dây thông tin Các cảng quan trọng như cảng Hải Phòng, cảng Sài Gòn cũngđược đầu tư nâng cấp thành 2 trung tâm giao nhận hàng hoá lớn nhất của cả nướccùng với hệ thống cảng sông, đội tàu được khôi phục và đầu tư mới tạo ra diệnmạo khác hẳn thời kỳ chiến tranh chống Mỹ Điều đặc biệt là hệ thống vận tảiquốc doanh đã có bước phát triển mạnh với đội ngũ kỹ sư chế tạo, sửa chữa vàlái xe được đào tạo trong những trường chuyên ngành Bộ GTVT

1.5 Giai đoạn 1986 – nay: Giao thông vận tải góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển đất nước thời kỳ đổi mới

Ngay từ khi bắt đầu công cuộc ‘Đổi mới’, phát triển nền kinh tế đất nướctheo kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủtrương phải ưu tiên đầu tư phát triển GTVT để GTVT đi trước một bước tạo tiền

đề và thúc đẩy kinh tế phát triển GTVT là khâu quan trọng nhất của kết cấu hạtầng và GTVT phải đi trước một bước để đáp ứng yêu cầu phát triển của nềnkinh tế quốc dân1

Tiếp sau đó đã xác định những mục tiêu lớn của Ngành GTVT, đó là: “Khắcphục tình trạng xuống cấp của hệ thống giao thông hiện có; khôi phục, nâng cấp

và mở rộng thêm một số tuyến giao thông trọng yếu, kết hợp giao thông với thuỷlợi, tận dụng giao thông đường thuỷ; mở thêm đường đến các vùng sâu, vùng

1 Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986)

Trang 29

xa ; cải thiện giao thông ở các thành phố lớn Cải tạo, nâng cấp một số cảngsông, cảng biển, sân bay; xây dựng dần cảng biển nước sâu’’2

Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001), Nghị quyết Đại hội một lầnnữa ghi rõ: “Kết cấu hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốcphòng, an ninh và có bước đi trước Hệ thống giao thông bảo đảm lưu thông antoàn, thông suốt quanh năm và hiện đại hoá một bước Mạng lưới giao thôngnông thôn được mở rộng và nâng cấp”; “Phát triển mạnh và nâng cao chất lượngcác ngành dịch vụ: thương mại, hàng không, hàng hải ”

Thực hiện chủ trương và những mục tiêu mà Đảng đề ra, toàn Ngành GTVT

đã có nhiều cố gắng, huy động và phát huy nhiều nguồn lực phục vụ công cuộcphát triển Ngành Có thể chia ra 2 giai đoạn chính trong thời kỳ này :

Trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1995, do đất nước vẫn đang bị baovây cấm vận, ngân sách Nhà nước hết sức khó khăn nên Ngành GTVT tập trungchủ yếu nguồn lực cho công tác duy tu bảo dưỡng để đảm bảo an toàn giao thông

và triển khai xây dựng một số công trình thực sự cấp bách

Trong giai đoạn này Bộ GTVT đổi tên thành Bộ GTVT và Bưu điện sau khiTổng cục Bưu điện và Cục Hàng không dân dụng sáp nhập và Bộ GTVT Một sốnhiệm vụ chính của Bộ GTVT và Bưu điện trong giai đoạn này là: (1) Về vậntải: Tập trung chỉ đạo các ngành vận tải kiên quyết thực hiện mục tiêu vận tải đốivới các mặt hàng quan trọng trong nền kinh tế như than, phân bón, hàng xuấtnhập khẩu; đồng thời phục vụ các nhu cầu đời sống xã hội như: lương thực, hàngtiêu dùng thiết yếu, hàng lên miền núi (2) Trong sản xuất công nghiệp tậptrung nâng cao chất lượng sản phẩm, áp dụng tiến bộ kỹ thuật để nghiên cứu,thiết kế và sản xuất những mặt hàng mới như trạm trộn nhựa, lu bánh lốp, ludiezen và tập trung vào hai khâu lớn là sửa chữa tàu biển, phương tiện thiết bịcông trình lắp ráp ô tô, sửa chữa đầu máy và đóng toa xe (3) Về xây dựng cơbản: kiên quyết dành vốn và các điều kiện khác cho những công trình trọng điểm

và các công trình có khả năng hoàn thành để đưa vào khai thác Công tác duy tu,

2 Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996)

Trang 30

quản lý đường bộ, chất lượng công trình được coi trọng (4) Về thông tin liên lạc:Hoàn thành một số tuyến vi ba từ Hà Nội đi các tỉnh và nhất là công tác thông tinphục vụ hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các kỳ họp Quốc hội.

Trong 10 năm đầu quá trình đổi mới, ngành đường bộ đã hoàn thành một sốtuyến đường, cây cầu có tầm vóc lớn, góp phần phát triển kinh tế xã hội như: cầuBến Thuỷ, Thái Bình, Yên Bái, Đò Quan, Việt Trì, Tràng Tiền, Phong Châu ;các quốc lộ như QL1, QL5, QL80, QL24 Nhiều đô thị mới cũng đã mọc lên dọctheo các tuyến đường Giao thông miền núi, giao thông nông thông trong giaiđoạn này cũng bắt đầu khởi sắc Nhờ sự đầu tư của Nhà nước kết hợp với ngânsách địa phương và sức dân, hàng ngàn con đường liên huyện, liên xã đã được

mở ở nhiều nơi từ Bắc – Trung – Nam, tạo ra mạng lưới giao thông trải rộng trênkhắp đất nước

Đối với đường sắt, những kỳ tích đặc biệt về tần suất và thời gian chạy tàucũng được lập nên trong giai đoạn này nhờ việc đầu tư nâng cấp, đóng mớiphương tiện và cải thiện trình độ quản lý Đặc biệt, ngành hàng không dân dụng

từ năm 1990 đã có sự phát triển cực kỳ nhanh chóng Từ chỗ chỉ có các máy baythế hệ cũ của Liên Xô (trước đây) như TU, AN , đội máy bay của VietnamAirlines lần đầu tiên đã mạnh dạn thuê 10 chiếc máy bay Airbus A320 và muacác máy bay như ATR72, Fokker70 để đưa vào khai thác Đây là những loại máybay rất hiện đại lúc bấy giờ, làm thay đổi hẳn bộ mặt của hãng hàng không quốcgia Việt Nam Cùng với việc đổi mới máy bay, các điểm đến của hàng khôngViệt Nam trong giai đoạn này cũng phát triển hết sức ấn tượng, cả trong nước vàquốc tế Thị trường hàng không Việt Nam trở nên sôi động và có tốc độ pháttriển rất nhanh, có năm lên tới trên 40%

Các lĩnh vực quan trọng khác của Ngành GTVT như vận tải biển quốc tế, nộiđịa cũng được đầu tư hàng ngàn tỷ đồng để mở rộng các cảng; đóng mới và sửachữa các tàu vận tải lớn Hệ thống các doanh nghiệp thuộc Bộ có vai trò rất quantrọng trong việc sản xuất công nghiệp GTVT với việc hàng năm tạo ra hàng ngàn

tỷ đồng lợi nhuận, không chỉ đóng góp và ngân sách Nhà nước mà còn góp phần

Trang 31

vào tái đầu tư, mở rộng hoạt động của ngành trong chế tạo, lắp ráp, xây dựngcông nghiệp GTVT

10 năm tiếp theo của công cuộc ‘Đổi mới’ đánh dấu một mốc mới trong tiếntrình phát triển của Ngành GTVT Trong giai đoạn này, sau khi Mỹ bỏ lệnh cấmvận, các tổ chức tài chính quốc tế và nhiều nhà tài trợ đã nối lại quan hệ với ViệtNam, cung cấp nhiều khoản viện trợ quan trọng cho phát triển kết cấu hạ tầnggiao thông Nhờ vậy, Ngành GTVT đã có điều kiện và nguồn lực để phát triển cả

về bề rộng lẫn chiều sâu

Về mặt tổ chức, năm 1992, ngành Bưu điện và ngành Hàng không tách rakhỏi Bộ GTVT Tuy nhiên, đến năm 2003, Cục Hàng không dân dụng trở lại trựcthuộc Bộ GTVT Theo Nghị định 34/2003/NĐ-CP ngày 04/4/2003 của Chínhphủ thì hiện nay tổ chức Bộ GTVT gồm có các Vụ, Văn phòng Bộ, Thanh tra

Bộ ; các Cục: Đường bộ, Đường sắt, Đường sông, Hàng hải, Hàng không, Đăngkiểm, Giám định và Quản lý chất lượng công trình giao thông Ngoài ra là một

số đơn vị sự nghiệp (Viện, trường, báo, tạp chí, Sở Y tế ) và các doanh nghiệp

Từ năm 1996 trở lại đây, trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng giao thông, nhiềucông trình giao thông đã được triển khai Trong 10 năm (từ 1996 đến 2005)Ngành GTVT đã tiến hành cải tạo nâng cấp và làm mới hơn 16.000 km đườngbộ; 1.400 km đường sắt; hơn 130.000 md cầu đường bộ; 11.000 md cầu đườngsắt Nâng cấp và xây dựng mới 5.400 md bến cảng; nạo vét 4,8 triệu m3 luồnglạch

Về đường bộ, Ngành GTVT đã hoàn thành cơ bản việc nâng cấp toàn tuyếntrục dọc “xương sống” của đất nước là Quốc lộ 1 từ Lạng Sơn đến Cần Thơ,trong đó nổi lên 02 công trình qui mô và hiện đại là Hầm đường bộ đèo Hải Vân

và cầu Mỹ Thuận Cùng với trục dọc này, một trục dọc thứ hai cũng đã hìnhthành Đó là đường Hồ Chí Minh đã hoàn tất giai đoạn 1 (Đoạn từ Hoà Lạc đếnNgọc Hồi) Đường Hồ Chí Minh sẽ nối kết hơn 100 tuyến đường ngang trong đó

có các trục hành lang Đông-Tây, nối liền với QL 1A ở phía Đông, gắn với hệ

Trang 32

thống cảng biển nước sâu dọc bờ biển miền Trung, hệ thống các sân bay trên caonguyên hình thành một mạng lưới giao thông hoàn chỉnh từ Bắc vào Nam vàliên thông với các nước láng giềng.

Ngoài 02 trục dọc trên, Ngành GTVT đã hoàn thành các tuyến quốc lộ chínhyếu nối đến các cảng biển và cửa khẩu quốc tế như QL5, QL18, QL10, QL22,QL51, QL14B Đồng thời, đã và đang nâng cấp các tuyến quốc lộ hướng tâm vàvành đai phía Bắc, phía Nam; các tuyến quốc lộ ở Đông Nam Bộ và Đồng bằngsông Cửu Long

Trên các tuyến đường mới, hàng loạt các cầu đã được xây dựng như: cầuKiền, cầu Tô Châu, Tạ Khoa, Bến Lức, cầu Tuần và tuyến tránh thành phố Huế,

cầu Tân An và tuyến tránh Tân An, cầu Yên Lệnh; cầu Tuyên Nhơn (tuyến N2);

các cầu thuộc dự án cầu QL1: Đà Rằng, Diêu Trì, Tam Giang; Sông Vệ, CâuLâu, Trà Khúc, Cây Bứa, Bồng Sơn và Bàn Thạch; cầu Sông Rộ (dự án ĐườngHCM về quê Bác); cầu Gò Chai (dự án Đường xuyên Á); cầu Hoà Mạc, cầuKênh Tiêu, cầu Hà Nha, cầu Giát (QL38) Đặc biệt, hiện nay công trình cầuCần Thơ đã được khởi công, đánh dấu sự hoàn tất các cầu trên Quốc lộ 1 - huyếtmạch giao thông của đất nước

Bên cạnh các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước và tài trợ quốc tế, tronggiai đoạn vừa qua đã nổi lên một số dự án BOT lần đầu tiên đã được hoàn thành

và đưa vào sử dụng như BOT Đèo Ngang; BOT An Sương – An Lạc Đây là tínhiệu rất đáng mừng về khả năng huy động tối đa các nguồn lực trong xã hội cho

sự phát triển kết cấu hạ tầng giao thông

Về đường sắt, Ngành GTVT đã từng bước nâng cấp các tuyến đường sắt hiện

có, nâng cao an toàn và rút ngắn đáng kể thời gian chạy tàu Các cầu và ga trênđường sắt Thống Nhất đã được cải tạo và nâng cấp Về đường sông, đã hoànthành nâng cấp 2 tuyến đường thuỷ phía Nam (TP HCM – Cà Mau, TP HCM –Kiên Lương); đồng thời từng bước nâng cấp các tuyến sông chính yếu khác

Về hàng hải, Ngành GTVT trong giai đoạn vừa qua đã hoàn thành nâng cấpgiai đoạn 1 các cảng biển tổng hợp quốc gia chủ yếu như: Cảng Cái Lân, cảng

Trang 33

Hải Phòng, cảng Cửa Lò, cảng Vũng Áng, cảng Tiên Sa, cảng Quy Nhơn, cảngNha Trang, cảng Sài Gòn, cảng Cần Thơ và hoàn thành nâng cấp một số cảng địaphương cần thiết đáp ứng lượng hàng hoá thông qua

Về hàng không, tất cả các cảng hàng không trên khắp cả nước đều được nângcấp một bước, đáp ứng kịp thời nhu cầu đi lại bằng máy bay đang ngày càng giatăng Một số công trình quan trọng có thể kể ra như: Nhà ga T1và đường cất hạcánh 1B Cảng hàng không quốc tế Nội Bài; đường cất hạ cánh 25L tại Cảnghàng không quốc tế Tân Sơn Nhất; nhà ga, sân đỗ, đường hạ cất cánh sân bayVinh, nhà ga sân bay Phú Quốc ; nhà ga hành khách Cảng hàng không Phù Cát(Bình Định), hoàn thành nâng cấp Cảng hàng không Vinh, đưa vào sử dụng cảnghàng không Côn Sơn (Bà Rịa-Vũng Tàu); khánh thành nhà ga hành khách và đàikiểm soát không lưu Cảng hàng không Điện Biên Phủ; cảng hàng không ChuLai

Đối với hệ thống giao thông địa phương, đến nay hệ thống đường tỉnh đãđược mở mang, nâng cấp một bước, tạo được sự kết nối tốt hơn với hệ thốngquốc lộ Giao thông nông thôn phát triển mạnh đã làm giảm số xã chưa có đườngđến trung tâm từ 663 xã năm 1997 xuống còn 219 xã năm 2004 Tuy nhiên đếnnay, do có sự chia tách xã và nhiều tuyến đường giao thông nông thôn do khôngđược quản lý, bảo trì và thiên tai phá hoại bị hư hỏng, xuống cấp nên số lượng xãchưa có đường về trung tâm tăng lên gần 400 xã

Trong lĩnh vực vận tải, các dịch vụ vận tải đã và đang đáp ứng kịp thờinhững yêu cầu hết sức đa dạng của thị trường Chưa bao giờ người dân lại đi lại

dễ dàng và thuận tiện như hiện nay nay với nhiều tuyến vận tải đường bộ đi khắpnơi, tới mọi “hang cùng, ngõ hẻm” với nhiều loại ô tô hiện đại, phục vụ nhiềutiện nghi như điều hoà, tivi Tàu hoả Bắc-Nam ngày càng nhiều chuyến hơn.Hàng không Việt Nam ngày một có thêm nhiều máy bay đời mới, hiện đại nhưBoeing B767, B777, Airbus A321 đưa vào khai thác nhiều tuyến bay mới cảtrong nước và quốc tế Các đội tàu biển, tàu sông của Việt Nam cũng vươn tớinhiều điểm đến trên toàn thế giới

Trang 34

Theo số liệu thống kê thì trong vòng 10 năm qua, hoạt động vận tải bìnhquân tăng 8,6%/năm về tấn hàng hoá; 9,9% về T.Km; 8% về hành khách và9,6% về HK.Km cao hơn chỉ tiêu Đại hội IX đặt ra là 9 - 10% T.Km và 5 – 6%HK.Km Tốc độ tăng trưởng nói trên có thể nói là khá cao so với chỉ tiêu tăngtrưởng kinh tế chung 7,5% mà Đảng và Chính phủ đề ra Điều này cũng có nghĩa

là Ngành GTVT đã và đang đóng góp rất tích cực vào tốc độ tăng trưởng củakinh tế đất nước; giúp nền kinh tế đạt được mục tiêu tăng trưởng đã đặt ra1 Chất lượng các dịch vụ vận tải cũng ngày càng được nâng cao với nhiều hìnhthức đa dạng, phong phú Vận tải container có bước phát triển mạnh; vận tải đaphương thức đang từng bước được hình thành Vận tải hành khách công cộng tạicác thành phố, đặc biệt là Hà Nội và TP HCM phát triển mạnh, được xã hội chấpnhận, góp phần quan trọng làm giảm ùn tắc giao thông đô thị

Ngoài việc phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và nâng cao chất lượngdịch vụ vận tải, Ngành GTVT còn có những bước tiến rất nhanh trong lĩnh vựccông nghiệp cơ khí, đặc biệt là ngành đóng tàu, sản xuất ô tô Nhiều sản phẩmcủa các đơn vị công nghiệp trong Ngành GTVT đã nhận được sự tín nhiệm củakhách hàng cả trong nước và quốc tế Thời gian qua, một số sản phẩm xe buýtcủa VINAMOTOR, tàu thuỷ của VINASHIN đã xuất khẩu được ra nước ngoài,đánh dấu một bước phát triển quan trọng và có ý nghĩa của ngành công nghiệp

cơ khí GTVT

Về công tác an toàn giao thông, trong những năm gần đây, Ngành GTVT đãthực thi một cách mạnh mẽ, quyết liệt và đồng bộ nhiều chính sách nhằm gópphần cùng toàn xã hội thực hiện mục tiêu “3 giảm” về tai nạn giao thông màQuốc hội và Chính phủ đề ra Đó là giảm về số vụ tai nạn, giảm số người chết vàgiảm số người bị thương Để làm được điều này, Ngành GTVT đã tập trung cảithiện kết cấu hạ tầng giao thông, xoá bỏ các “điểm đen” về tai nạn giao thông;kiểm soát chặt chẽ phương tiện, từng bước loại bỏ các phương tiện cũ nát; tăngcường chất lượng công tác đào tạo, sát hạch và cấp phép người lái… Theo sốliệu thống kê thì liên tục trong 3 năm qua, số vụ tai nạn giao thông, số người chết

1 Website: http://giaothongvantai.com.vn

Ngày đăng: 17/07/2013, 21:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w