Tuy nhiên cho đến nay, vấn đề giao lưu văn hóa giữa hai nước Việt Nam-Nhật Bản trong hoạt động truyền thông VOV vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu như một hệ thống chuyên biệt nhìn dưới g
Trang 1BÙI MẠNH HÙNG
Giao lưu văn hóa Việt Nam-nhật bản Trong hoạt động truyền thông vov
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYấN NGÀNH: VĂN HểA HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BÙI MẠNH HÙNG
Giao lưu văn hóa Việt Nam-nhật bản Trong hoạt động truyền thông vov
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYấN NGÀNH: VĂN HểA HỌC
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tư liệu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo qui định; những phát hiện đưa ra trong luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả luận án
Tác giả luận án
Bùi Mạnh Hùng
Trang 4MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ
LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài 7 1.2 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 27
Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN GIAO LƯU VĂN HÓA VIỆT
NAM-NHẬT BẢN QUA PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG
2.1 Khái lược lịch sử giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản 44 2.2 Chính sách ngoại giao văn hóa của Việt Nam và Nhật Bản 50
2.4 Hoạt động giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản với sự tham
Chương 3: THỰC TRẠNG GIAO LƯU VĂN HÓA VIỆT NAM - NHẬT
3.1 Giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản qua hoạt động
chương trình phát thanh tiếng Nhật 80 3.2 Giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản qua hoạt động của
3.3 Giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản qua hoạt động của
Cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại Nhật Bản 97 3.4 Giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản qua động hợp tác
3.5 Đánh giá chung và những vấn đề đang đặt ra 104
Chương 4: DỰ BÁO XU HƯỚNG VÀ KHUYẾN NGHỊ CÁC GIẢI
PHÁP THÚC ĐẨY GIAO LƯU VĂN HÓA VIỆT NHẬT BẢN TRONG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG
4.1 Dự báo xu hướng giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản 117 4.2 Những định hướng cơ bản của hoạt động truyền thông VOV
trong giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Nản thời gian tới 129
Trang 5CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 148
Trang 6Bảng 1.1: Nhu cầu sử dụng Radio của người Mỹ 28 Bảng 3.1: Chương trình AM (phát trong và ngoài nước) 83 Bảng 3.2: Chương trình FM (phát trong nước) 84 Bảng 3.3: Thống kê tin liên quan tới văn hóa Nhật Bản phát tên Hệ
Bảng 3.7: Tổng hợp kết quả đánh giá của thính giả Nhật Bản về
chất lượng các chuyên mục giới thiệu văn hoá Việt Nam 107
Trang 7GNKNDC : Giai nhân kỳ ngộ diễn ca
NCS : Nghiên cứu sinh VOV : Đài Tiếng nói Việt Nam VOV1 : Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp VOV2 : Hệ Văn hoá - Đời sống - Khoa giáo VOV3 : Hệ Âm nhạc - Thông tin - Giải trí VOV4 : Hệ Phát thanh dân tộc
VOV5 : Hệ Phát thanh đối ngoại Quốc gia VOVTV : Hệ Phát thanh có hình
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, giao lưu văn hóa có vai trò quan trọng đặc biệt trong thực hiện chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia
Năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định 210/QĐ-TTg
phê duyệt Chiến lược văn hóa đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020 và tầm
nhìn 2030 Chiến lược này đã xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp chủ
yếu để phát triển văn hóa đối ngoại nhằm khai thông quan hệ với các nước trong khu vực, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đã được thiết lập đi vào chiều sâu, tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, văn hóa, con người Việt Nam với bạn bè thế giới
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (Bổ sung và phát triển năm 2011), Đảng ta đã khẳng định: "Kế
thừa và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, thẩm mỹ ngày càng cao" [17, tr.16] Cùng với phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc, giao lưu văn hóa phải là một trong những hoạt động cơ bản, cốt lõi để quảng bá văn hóa dân tộc và tiếp thu các giá trị văn hóa nhân loại Đẩy mạnh giao lưu văn hóa là tiền đề để Việt Nam hội nhập sâu rộng, phát triển toàn diện đất nước trong bối cảnh mới
Với nhận thức đó, Việt Nam mong muốn là bạn với tất cả các nước trên thế giới Đến nay chúng ta đã có quan hệ ngoại giao với 192 quốc gia và vũng lãnh thổ, trong đó, Nhật Bản là một đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam Quan hệ Việt Nam-Nhật Bản là mối quan hệ truyền thống lâu đời, chưa bao giờ tốt đẹp như hiện tại Hai bên không chỉ phấn đầu đến năm 2020 đưa kim ngạch lên 60 tỷ USD mà còn hết sức coi trọng phát triển tinh thần cho nhân dân hai nước Hai nước luôn coi trọng tiến hành các hoạt động giao lưu
Trang 9văn hóa, tạo sự hiểu biết, tin tưởng lẫn nhau hướng tới phát triển con người toàn diện Giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản đã trở hành điển hình trong hoạt động giao văn hóa nói chung của Việt Nam
Truyền thông - trong đó báo chí, phát thanh, truyền hình… không những là thành tố quan trọng của văn hóa, mà còn là phương tiện, con đường đặc biệt của giao lưu văn hóa Không chỉ dừng lại mức độ thông tin, mà nó còn tổ chức, xúc tiến các hoạt động giao lưu văn hóa Đài Tiếng nói Việt Nam (Radio The voice of Viet Nam-VOV)-Cơ quan truyền thông đa phương tiện hiện đại bậc nhất của Việt Nam, có chương trình phát thanh Tiếng Nhật sớm nhất và duy nhất ở Việt Nam (thành lập 29/4/1963), trực tiếp là nơi giao lưu văn hóa giữa nhân dân hai nước trong suốt gần nửa thế kỷ qua Nhiều người Nhật Bản biết đến Việt Nam, yêu Việt Nam qua "Tiếng nói Việt Nam" Tuy nhiên cho đến nay, vấn đề giao lưu văn hóa giữa hai nước Việt Nam-Nhật Bản trong hoạt động truyền thông VOV vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu như một hệ thống chuyên biệt nhìn dưới góc độ văn hóa học
Với những lý do trên, nghiên cứu sinh (NCS), nhận thấy việc nghiên
cứu đề tài "Giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản trong hoạt động truyền thông VOV" là việc làm cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn nhằm nâng
cao hiệu quả của giao lưu văn hóa giữa hai nước, khẳng định vai trò ngày càng gia tăng của VOV trong việc đẩy mạnh giao lưu văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về giao lưu văn hóa, luận
án đánh giá thực trạng giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản trong hoạt động hoạt động truyền thông của VOV, từ đó dự báo xu hướng và khuyến nghị một
số giải pháp góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản vì mục tiêu hòa bình, thịnh vượng của cả hai quốc gia
Trang 103 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản trong hoạt động truyền thông của VOV (nhấn mạnh tới phát thanh Tiếng Nhật, hoạt động của Cơ quan Thường trú Đài VOV tại Tokyo, Nhật Bản)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Lịch sử quan hệ giao lưu giữa Việt Nam-Nhật Bản có từ
nhiều thế kỷ trước Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài, luận án tập trung vào nghiên cứu một số hoạt động giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản trong hoạt động của VOV 3 năm trở lại đây khi VOV trở thành một cơ quan truyền thông đa phương tiện
- Về phạm vi khảo sát: Trong những năm qua, VOV tích cực tham gia
thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa hai nước thông qua các hoạt động truyền thông trên sóng phát thanh, gần đây là cả trên sóng truyền hình, website của VOV cùng các hoạt động khác Trong khuôn khổ của đề tài, luận án tập trung khảo sát thực trạng giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản trong chương trình phát thanh tiếng Nhật, website tiếng Nhật của VOV, hoạt động của Cơ quan thường trú VOV tại Nhật Bản và hoạt động hợp tác giữa VOV và NHK Đây
Trang 11là những hoạt động chủ yếu phản ánh được toàn diện quá trình giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản trong hoạt động truyền thông VOV
- Về nội dung khảo sát: Trong luận án này, NCS khảo sát, đánh giá
thực trạng giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản thông qua các nội dung và hình thức hoạt động cụ thể của VOV Đó là các chuyên mục trong các chương trình phát thanh, là các hoạt động văn hóa nghệ thuật giới thiệu về văn hóa, con người của hai nước Giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản mang tính hai chiều, một mặt là giới thiệu văn hóa Việt Nam đến với người Nhật Bản, hai là giới thiệu văn hóa Nhật Bản đến với người Việt Nam Luận án cũng sẽ khảo sát cả hai nội dung này
Quá trình giao lưu văn hóa là quá trình giải quyết mối quan hệ giữa cái
"nội sinh" và cái "ngoại sinh" để tạo nên các sản phẩm, các giá trị văn hóa mới Mối quan hệ giữa hai nhân tố này phải thông qua kênh "trung gian" như văn học, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, kiến trúc hội họa, phát thanh, truyền hình và các phương tiện truyền thông mới như internet, mạng xã hội v.v…
4 Lý thuyết nghiên cứu
Luận án sử dụng lý thuyết giao lưu văn hóa
Thuật ngữ giao lưu văn hóa do nhà nhân học Mỹ J W Powell, sử dụng
từ năm 1889 khi đề cập đến sự biến đổi của lối sống và lối suy nghĩ của người
di dân khi tiếp xúc với xã hội Mỹ Tuy nhiên, phải đợi đến những năm 1930, nhận thức về hiện tượng gặp gỡ giữa các nền văn hóa mới có hệ thống và có định nghĩa về mặt khái niệm
Năm 1936, Hội đồng nghiên cứu khoa học xã hội Mỹ lập ra một ủy ban
để tổ chức nghiên cứu các sự kiện giao lưu văn hóa, trong đó có Robert
Redfield, Ralph Linton và Medville Herskovits Trong Bản ghi nhớ nghiên
cứu về giao lưu văn hóa [1936] có nêu ra định nghĩa: Giao lưu văn hóa là toàn
thể các hiện tượng do việc tiếp xúc liên tục và trực tiếp giữa các nhóm cá thể
có văn hóa khác nhau, dẫn đến những biến đổi trong các mô thức văn hóa ban đầu của một hoặc của hai nhóm này
Trang 12Quá trình giao lưu văn hóa gồm có: các phương thức "chọn lọc" các yếu tố vay mượn hoặc "phản ứng" lại sự vay mượn; các hình thức hội nhập các yếu tố này vào mô thức văn hóa gốc; các cơ chế tâm lý tạo điều kiện dễ dàng hay không cho việc hội nhập văn hóa; và cuối cùng là các hậu quả chủ yếu của giao lưu văn hóa, bao gồm các phản ứng tiêu cực, đôi lúc có thể xảy
ra với các phong trào "chống lại giao lưu văn hóa "
Tóm lại, giao lưu văn hóa là một hiện tượng động, một quá trình đang
xảy ra hoặc đang thực hiện Trong các biến đổi văn hóa của quá trình giao lưu văn hóa, có thể rút ra quy luật chung là các yếu tố không mang tính biểu trưng (kỹ thuật và vật chất) của một nền văn hóa biến chuyển dễ dàng hơn các yếu
tố biểu trưng (tôn giáo, ý thức hệ, v.v )
Trong luận án này, việc sử dụng lý thuyết giao lưu văn hóa cho phép nhìn nhận sự gặp gỡ, trao đổi giữa hai nền văn hóa Việt Nam-Nhật Bản như là một biểu hiện của quy luật giao lưu văn hóa Quan hệ giao lưu văn hóa này được đặt trong mối quan hệ với tổng thể xã hội, dưới tác động của phương tiện truyền thông (cụ thể ở đây là qua hoạt động của VOV) Đây là quá trình giao lưu bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, bổ sung và làm phong phú cho nhau Quá trình giao lưu này là quá trình đối thoại, chia sẻ các giá trị văn hóa thông qua kênh truyền dẫn quan trọng là Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) Lý thuyết giao lưu văn hóa được vận dụng vào để nghiên cứu giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản thông qua hoạt động truyền thông VOV là nghiên cứu sự trao truyền, chia sẻ giá trị văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản thông qua bốn hoạt động của Đài VOV là: (1) Chương trình phát thanh tiếng Nhật của VOV; (2) Hoạt động của website tiếng Nhật của VOV; (3) Hoạt động của Cơ quan thường trú tại Nhật Bản; (4) Hoạt động hợp tác giữa VOV và NHK Từ đó, luận án có thể đưa ra khuyến nghị cần thiết để đẩy mạnh giao lưu văn hóa Việt - Nhật trong thời gian tới
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Đề tài làm rõ những vấn đề lý luận về giao lưu văn hóa thông qua các
Trang 13phương tiện truyền thông đại chúng, nhận diện rõ ưu thế và vai trò của các phương tiện truyền thông trong thúc đẩy giao lưu văn hóa thời kỳ toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật số
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, tác động, vai trò của VOV đối với hoạt động giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản, luận án đề xuất một số định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các chương trình truyền thông của VOV và của Đài Việt ngữ-NHK Nhật Bản trong quan hệ giao lưu văn hóa Nhật-Việt và Việt-Nhật Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần tăng cường quan hệ hai nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế và góp phần mở rộng hội nhập quốc tế của Việt Nam
- Luận án có thể làm dùng làm tài liệu tham khảo cho những học viên, sinh viên… chuyên ngành văn hóa học, xã hội học, truyền thông, cán bộ, biên tập viên, phát thanh viên, kỹ thuật viên của ngành phát thanh và truyền hình Việt Nam và Nhật Bản quan tâm, nghiên cứu, tìm hiểu về hoạt động giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản, lịch sử VOV, vai trò của VOV trong hoạt động tăng cường hữu nghị giữa nhân dân hai nước
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án chia thành 4 chương, 14 tiết
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về giao lưu văn hóa Việt Nhật Bản
Nam-Ở cấp độ giao lưu văn hóa,có rất nhiều cuốn sách, đề tài luận án Tiến sĩ,
công trình nghiên cứu… bằng cả tiếng Việt và tiếng nước ngoài đề cập
Ở Việt Nam với những tác phẩm của các tác giả Trần Quốc Vượng, Trần Ngọc Thêm, Phạm Duy Đức, Lê Quý Đức, Hoàng Chí Bảo, Phan Ngọc… đã đưa ra nhiều định nghĩa giao lưu văn hóa từ các cách tiếp cận khác nhau
Ở góc độ giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản, có rất nhiều tác phẩm của các tác giả như Phan Ngọc, Phan Hải Linh, Nguyễn Tiến Lực, Vũ Thị Phụng… nghiên cứu, đề cập tới từng góc độ Trong phạm vi luận án, nghiên cứu sinh chỉ tổng hợp một số tác phẩm mới nhất của cả nhà nghiên cứu, chính trị gia Việt Nam và Nhật Bản nghiên cứu sâu về giao lưu văn hóa giữa hai nước
Nhà nghiên cứu Vĩnh Sính với tác phẩm Việt Nam và Nhật Bản giao
lưu văn hóa (in lần đầu năm 2001) là cuốn sách đã tổng kết khá đầy đủ về mối
quan hệ hai nước
Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hóa được chia làm ba phần: phần 1 gồm những tiểu luận về giao lưu giữa Việt Nam và Nhật Bản; phần 2 gồm hai
công trình dịch thuật và khảo cứu của Vĩnh Sính: 1) An Nam cung dịch kỷ
sự của di thần nhà Minh Chu Thuấn Thủy, đến Đại Việt (cụ thể là Đàng Trong)
vào thế kỷ XVII và 2) Lối lên miền Oku của thi hào Nhật Bản Matsuo Basho
(Tùng Vĩ Ba Tiêu; 1644-1694) - người có công định hình thơ haiku; phần 3 là
Phụ lục nguyên bản chữ Hán tập An Nam cung dịch kỷ sự, Di cảo của Bùi Mộng Hùng đọc bản dịch Lối lên miền Oku của Vĩnh Sính và hình ảnh
Trang 15Ở một số nội dung tiểu luận, tác giả nêu bật lên những điểm tương đồng và dị biệt trong cách nhìn, cũng như trong mối quan hệ giữa Việt Nam
và Nhật Bản đối với Trung Quốc Trong trật tự thế giới Đông Á truyền thống Trung Quốc là trung tâm, là Thiên triều, coi các nước nằm trên ngoại vi của mình là "man di'' Đối với Trung Quốc, văn hóa Trung Hoa - với trọng điểm
là Nho giáo và chữ Hán - là tiêu chuẩn duy nhất để đo lường trình độ văn minh của các nước lân bang Nhìn chung, cái nhìn của Trung Quốc đối với Việt Nam và Nhật Bản về cơ bản không có nhiều khác biệt Tuy nhiên, thái
độ của Việt Nam và Nhật Bản đối với Trung Quốc có những khác biệt lớn: 1) Thái độ của Việt Nam đối với Trung Quốc: Đề kháng xâm lăng quân sự và chấp nhận khuôn mẫu văn hóa Nằm sát với Trung Quốc, lịch sử dựng nước
và giữ nước qua nhiều đời tóm gọn trong hai phương án: Triệt để chống trả mọi xâm lăng quân sự, nhưng đồng thời chấp nhận và tiếp thu các khuôn mẫu văn hóa của Trung Quốc Chấp nhận "bất tốn Trung Quốc, bất dị Trung Quốc" (không thua Trung Quốc, không khác Trung Quốc) chứ không chịu bị Trung Quốc cai trị Việt Nam chấp nhận và đứng trong khuôn khổ của văn hóa Trung Hoa 2) Nhật Bản ở ngoài trật tự thế giới Trung Hoa với thái độ kính nể hoặc phủ nhận văn hóa Trung Hoa Tiếp thu văn hóa là một lẽ nhưng
ý thức dân tộc của người Nhật giúp họ có hướng đi riêng, Nhật Bản không chịu áp lực quân sự của Trung Quốc nên cũng không bị ràng buộc bởi thể chế triều cống với Trung Quốc
Trong hành trình dân tộc đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là hai sĩ phu đi hàng đầu vận động giành độc lập trong 25 năm đầu thế
kỷ Hai nhân vật kiệt hiệt của Việt Nam tưởng rất gần mà lại rất xa Bên cạnh việc nhìn lại vị trí của Phan Bội Châu và Phân Châu Trinh, tác giả Vĩnh Sính cũng nêu ra những khác biệt quan trọng trong quan niệm độc lập quốc gia ở Việt Nam và Nhật Bản qua hai trường hợp Phan Bội Châu và Fukuzawa Yukichi: "cả hai người đã đi tiên phong trong việc thức tỉnh dân chúng về vấn
Trang 16đề độc lập quốc gia trước hiểm hoạ Tây xâm, và mỗi người đã để lại một dấu
ấn sâu đậm trong lịch sử cận đại của đất nước mình"
Ngoài ra, ở phần 1, tác giả cũng đưa ra những ý kiến đóng góp vào việc tìm hiểu và đánh giá Nguyễn Trường Tộ (tư tưởng, học ở đâu? thế đứng của Nguyễn Trường Tộ, vai trò của Tân thư đối với việc mở rộng kiến thức của NTT, NTT có gặp Y Đằng Bác Văn (Ito Hirobumi)? ); Nguồn gốc và ý
nghĩa tác phẩm Giai nhân kỳ ngộ diễn ca (GNKNDC) của Phan Châu Trinh (GNKNDC là tác phẩm diễn ca (dịch thơ) từ bản dịch Hán văn Giai nhân kỳ
ngộ của Lương Khải Siêu, bản gốc Giai nhân kỳ ngộ do tác giả Nhật Bản
Tokai Sanshi trước tác, việc Lương Khải Siêu cắt bỏ và sửa chữa khi dịch ra Hán văn, việc Phan Châu Trinh lựa chọn dừng dịch ở đầu quyển 9/16, Phan Châu Trinh dịch GNKNDC giai đoạn nào?…); Mối quan hệ giữa Phan Bội Châu và Asaba Sakirato - một ân nhân người Nhật của cụ Phan; Đóng góp vào việc tìm hiểu thêm về Phạm Hồng Thái và tiếng bom Sa Diện; Tư liệu về việc sang Nhật của Lê Quốc Vọng (Lê Thiết Hùng) những năm 1931-1933; Văn hóa và con người Việt Nam dưới cặp mắt của Shiba Ryotaro (1923-1996); Vài ý kiến về vấn đề cận đại hóa ở Việt Nam và kinh nghiệm của Nhật Bản qua quá trình Minh Trị duy tân; về nền mậu dịch Nhật-Việt với những luân lý kinh doanh, vấn đề giáo dục… vẫn còn rất thời sự
Qua phần 1 cuốn sách, tác giả đã kỳ công vẽ lại bức tranh với bối cảnh chính là những tương quan thú vị và có ý nghĩa giữa hai nước Việt Nam và Nhật Bản trước thời cận đại; mối quan hệ cổ truyền của Việt Nam và Nhật Bản với Trung Quốc trong trật tự thế giới Đông Á cũ và sự đảo lộn giữa thế
kỷ XIX khi làn sóng Tây xâm đánh vào bờ các nước ven Thái Bình Dương
Trong các tài liệu viết về Việt Nam thế kỷ XVII, ngoài khối lượng lớn
tài liệu phương Tây mà nổi bật là hai tác giả C Borri (Xứ Đàng Trong năm
1621) và A de Rhodes (Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài) thì không thể
không nhắc đến 2 tập tài liệu do người Trung Quốc ghi chép: Hải ngoại kỷ
Trang 17sự (Thích Đại Sán) và An Nam cung dịch kỷ sự (Chu Thuấn Thủy) An Nam cung dịch kỷ sự có thể nói là một sử liệu độc đáo cung cấp cho chúng ta nhiều
thông tin bổ ích về tình hình ở đất Thuận-Quảng nói riêng cũng như Đàng Trong nói chung vào thế kỷ XVII
Qua bản dịch và phần chú thích công phu An Nam cung dịch kỷ sự của
dịch giả Vĩnh Sính, một lần nữa những điểm tương đồng và dị biệt trong cách nhìn, cũng như trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản đối với (Nho học) Trung Quốc được khắc họa Từ đó thấy được đặc trưng văn hóa của mỗi nước trong quá trình giao lưu
Với tác phẩm "大使が見た世界一親日な国・ベトナムの素顔" tạm
dịch là: "Vẻ đẹp tự nhiên của Việt Nam-đất nước thân thiết với Nhật Bản qua
con mắt Đại sứ" xuất bản năm 2015 tại Nhật Bản của Nguyên Đại sứ Nhật
Bản tại Việt Nam Mitsuo Sakaba đã toát lên một cách khái quát Việt Nam, mối quan hệ đặc biệt thân thiết giữa Việt Nam và Nhật Bản qua cảm nhận của ông trong suốt thời gian làm việc tại Việt Nam Cuốn sách bao gồm 6 chương
và 1 chương kết luận giới thiệu cặn kẽ văn hóa, đặc điểm của những khu vực Bắc bộ, Nam bộ, Tây Nguyên, Tây Nam bộ… với những đánh giá về thẩm
mỹ văn hóa, sự hấp dẫn của ngôn ngữ… thể hiện sự hiểu biết sâu sắc văn hóa Việt Nam dưới lăng kính của một người nước ngoài Đặc biệt mối quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng giữa Việt Nam-Nhật Bản được ông đánh giá là kiểu mẫu của các mối quan hệ trong cộng động quốc tế
Đương kim Chủ tịch Đảng cộng sản Nhật Bản-Ông Kazuo Shii cũng đã dày công thu thập tư liệu để viết lên cuốn sách "ベトナム 友好と連携の旅" tạm dịch là: "Việt Nam-chuyến công du của tình hữu nghị và hợp tác" xuất bản năm 2007 tại Nhật Bản đã tổng hợp, đánh giá mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Nhật Bản và Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua, đặc biệt nhất là từ khi ông Shii là Chủ tịch của Đảng này Dựa trên việc đánh giá mối quan hệ thân thiết giữa hai Đảng, tác giả đã đưa ra những luận điểm cho
Trang 18rằng quan hệ nào thì quan hệ nhưng cũng xuất phát từ lợi ích của nhân dân Quan hệ hai đảng bền vững sẽ đóng góp việc tăng cường hiểu biết giữa nhân dân hai nước, đóng góp vào sự phát triển chung của mỗi nước
Trong thời gian tới, đặc biệt 2017 sẽ có những công trình nghiên cứu sâu hơn về giao lưu văn hóa giữa hai nước Ví dụ như Tiến sĩ Ngô Hương Lan (Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam) đang học sau tiến sĩ tại Nhật Bản, thông qua việc nghiên cứu về Lễ hội Nhật Bản, đồng thời có sự so sánh với văn hóa lễ hội Việt Nam, chắc chắn sẽ có những đóng góp vào việc bảo tồn và quảng bá lễ hội Việt Nam
1.1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan tới truyền thông và truyền thông trong lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản
Liên quan đến truyền thông mà cụ thể là truyền thông VOV, nghiên cứu sinh xin thống kê một số cuốn sách mới được xuất bản năm 2016 bằng tiếng Nhật có những góc nhìn mới về truyền thông trong hoàn cảnh mạng xã hội đang lấn lướt truyền thông truyền thống và chính thống
Trong cuốn Xã hội hóa tương lai (tiếng Nhật là miraikasuru Shyakai,
tiếng Anh là The industries of the future của Alec Ross, Nhà xuất bản KK HarperCollins Japan, 2016 đã đề cập tới "nguyên liệu" của thời đại thông tin hóa đó là dữ liệu, còn nguyên liệu của thời đại canh tác nông nghiệp đó là đất đai, nguyên liệu của công nghiệp hóa là sắt
Điện báo, điện thoại, radio, truyền hình, máy tính là những sản phẩm
kỹ thuật của các loại hình truyền thông lần lượt được ra phát minh ra và cho thấy những dữ liệu truyền thông đến giữa thế kỷ 20 tăng rất mạnh Đến năm 1996 khi kỹ thuật số đưa vào sử dụng, thì năng lực bảo quản dữ liệu trở thành công cụ vượt trội so với loại hình báo giấy trước đó Các dữ liệu thông tin được số hóa, đặc biệt cho báo nói Báo nói có ưu thế là các dữ liệu trong quá khứ sẽ được cất giữ cẩn thận, đồng thời những dữ liệu hiện tại và tương lai được sắp xếp theo trình tự, chủ đề…rõ ràng hơn, giúp việc bảo quản tốt hơn
Trang 19Tác giả Norihiko Sasaki, trong cuốn sách "五年後、メディアは遂げ
るか?", tạm dịch: 5 năm sau, Truyền thông có đạt được mục tiêu của mình ? xuất bản năm 2013, đã đưa ra 7 đại biến của truyền thông trong thế kỷ mới
Trong đó đưa ra dự đoán báo giấy lại trở về vị trí được quan tâm nhất, sau đó tới truyền thông sử dụng kỹ thuật số (gồm cả radio) Nhưng điều quan trọng
để duy trì hoạt động truyền thông đó là nội dung truyền thông Nội dung truyền thông sẽ có sự tham gia của nhà báo, độc giả và doanh nghiệp Theo
đó, xã hội sẽ không tách rời các cá nhân, và các cá nhân không thể tách rời xã hội Như vậy, truyền thông sẽ tham gia vào thúc đẩy xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế
Những công trình nghiên cứu riêng biệt về truyền thông rất nhiều Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài là truyền thông (cụ thể là loại hình báo nói) trong giao lưu văn hóa (cụ thể là giao lưu văn hóa Việt-Nhật) cũng chưa có những bài viết, chuyên đề, sách… đề cập tới Có thể nói đây là công trình đầu tiên đề cập tới vai trò của báo nói đối với sự phát triển giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản Điều này là một thử thách lớn đối với nghiên cứu sinh Song cũng là động lực để nghiên cứu sinh có tư duy độc lập, sáng tạo về một vấn đề nghiên cứu mới
Với lý do đó, tác giả luận án ngoài việc nghiên cứu tài liệu riêng biệt liên quan tới truyền thông, giao lưu văn hóa, lịch sử quan hệ Việt-Nhật đã nghiên cứu một số cuốn sách xuất bản năm 2011-2013 có tính gợi mở
Ngay từ những thập niên 70 của thế kỷ XX, vai trò của văn hóa và truyền thông đối với hoạt động ngoại giao đã được nhiều nước quan tâm nghiên cứu Giáo sư Joseph Nye, nguyên Hiệu trưởng trường John F Kennedy thuộc Đại học Harvard - Mỹ, đã đưa ra thuật ngữ "sức mạnh mềm" Theo ông, "sức mạnh mềm" bắt nguồn từ sự hấp dẫn về văn hóa, từ tư tưởng chính trị đến chính sách ngoại giao đến mức lôi cuốn nước khác đi theo mình Trong bối cảnh toàn cầu hóa đi kèm với sự bùng nổ thông tin hiện nay, nhiều
Trang 20nhà phân tích hàng đầu về quan hệ quốc tế cho rằng "sức mạnh mềm" đang tỏ
ra chiếm ưu thế hơn so với "sức mạnh cứng"
Một cách tiếp cận tương đối đầy đủ và hệ thống về lĩnh vực văn hóa truyền thông trước hết được thể hiện trong nhiều công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài, nhất là trong giai đoạn những thập kỷ cuối của thế kỷ
20 Trong số những tác giả đáng chú ý, trước hết nghiên cứu sinh muốn nhắc đến Raymond Williams (1921-1988), là một nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình về chính trị, văn hóa và truyền thông đại chúng người xứ Wales Cáccông trình của ông đặt nền móng cho nhiều lĩnh vực nghiên cứu liên quan đến các vấn đề văn hóa và chính trị
Công trình nghiên cứu mang tên Văn hóa và xã hội, xuất bản lần đầu
tiên năm 1958 và sau đó được dịch và xuất bản tại các nước Italy, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Cộng hòa Liên bang Ðức ngay lập tức làm cho tác giả trở nên nổi tiếng Tác giả trở thành một học giả có ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực nghiên cứu chính trị, văn hóa xã hội và truyền thông ở Tây Âu từ nửa sau của thế kỷ 20 Năm 1974, Raymond Williams tiếp tục cho xuất bản cuốn
sách Truyền hình: Công nghệ và hình thức văn hóa, nghiên cứu chuyên sâu
về lĩnh vực truyền hình, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò và ý nghĩa của sự phát triển công nghệ cũng như ảnh hưởng của truyền hình đối với nền tảng văn hóa của đời sống xã hội hiện đại
Trong số những học giả có ảnh hưởng quan trọng đến giới nghiên cứu văn hóa truyền thông là Clifford James Geertz (1926-2006), nhà nhân học người Mỹ mà với những nghiên cứu thực địa ban đầu của ông tại Indonesia, nơi ông đã xây dựng nên khái niệm Negara giúp giải thích toàn
bộ các hoạt động văn hóa và chính trị trong vùng Ðông Nam Á Một trong
những công trình tiêu biểu của ông là cuốn The Interpretation of Cultures:
SelectedEssays (Tạm dịch là ‘Giải thích (học) về văn hóa - tuyển tập tiểu luận’
được xuất bản năm 1973 Với công trình này, ông được coi là người đã đóng
Trang 21góp lớn trong việc chuyển đổi tư duy trong các ngành xã hội và nhân văn, từ lối suy nghĩ tìm qui luật nhân quả sang tư duy xã hội học diễn giải (interpretative), đặt sự vật và hiện tượng trong hệ qui chiếu bản địa của ý thức địa phương
Nhìn xã hội qua văn hóa, và đặc biệt là những biểu tượng (symbol) phổ biến và đặc trưng trong nền văn hóa đó, Clifford cũng được coi là cha đẻ cho
ngành nhân học biểu tượng và văn hóa học Văn hóa được định nghĩa là "một
hệ thống các khái niệm nối tiếp được diễn đạt thông qua các hình thức biểu tượng với các phương tiện mà người ta dùng để liên lạc, ghi nhớ và phát triển kiến thức và thái độ đối với cuộc sống"
Một trong những học giả nổi tiếng trong lĩnh vực nghiên cứu lý thuyết liên quan đến lĩnh vực văn hóa truyền thông là Robert Stam Giáo sư tại Ðại học New York University Ông là chuyên gia nghiên cứu và giảng dạy về văn học Pháp, văn học so sánh và về các vấn đề liên quan lý thuyết và lịch sử phim ảnh Những công trình quan trọng của ông có liên quan đến văn hóa
truyền thông là các cuốn Subversive Pleasures: Bakhtin, CulturalCriticism,
and Film, (tạm dịch là ''Người làm lật đổ thú vị: Bakhtin, phê bình văn hóa và
phim ảnh''), xuất bản năm 1989; và Unthinking Eurocentrism: Multiculturalism
andthe Media, (tạm dịch: Phản thuyết châu Âu là Trung tâm: Ða văn hóa và
truyền thông) viết chung với Ella Shohat, xuất bản năm 1999 Trong các công trình này Robert dành sự quan tâm đặc biệt tới những vận động văn hóa gắn liền với các hình thức truyền thông đại chúng có ảnh hưởng rộng rãi đến đời sống tinh thần của công chúng hiện đại Trong mấy chục năm trở lại đây, sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến văn hóa truyền thông ngày càng tăng lên Có thể bắt gặp rất nhiều những công trình nghiên cứu tập trung vào chủ đề văn hóa truyền thông trên rất nhiều khía cạnh
và những cấp độ khác nhau
Năm 1995, Giáo sư người Mỹ Douglas Kellner cho xuất bản cuốn Văn
hóa truyền thông (Media culture), trong đó tác giả đề cập đến những nội dung
Trang 22khác nhau liên quan đến các phương pháp tiếp cận mới về văn hóa, mối liên
hệ giữa văn hóa truyền thông và đời sống chính trị xã hội, những vấn đề về chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại trong văn hóa, xã hội và truyền thông
Trước đó, năm 1989, Giáo sư Vincent Porter công bố trên tạp chí Văn
hóa truyền thông và xã hội một bài viết nhan đề "Việc sắp đặt lại của truyền
hình: tính đa nguyên, tính hợp pháp và thị trường tự do ở Mỹ, Tây Ðức, Pháp
và Vương quốc Liên hiệp Anh" đã chỉ rõ những tác động mạnh mẽ của hệ thống truyền thông (truyền hình) đối với toàn bộ đời sống văn hóa xã hội ở Tây Âu trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ 20 (27) Liên tiếp trong những thập kỷ
80 và 90 của thế kỷ 20, nhiều công trình nghiên cứu tập trung về những vấn
đề rất đa dạng của văn hóa truyền thông
Tác giả Ikegami Akira trong cuốn sách 心をつなぐニュース (tạm dịch
là Thông tin kết nối trái tim) xuất bản tháng 6 năm 2011 tại Tokyo là cảm xúc
của tác giả khi những bài báo, phóng sự truyền hình, phát thanh… đưa tin về thảm họa sóng thần kép tại Nhật Bản tháng ba năm 2011 Từ những hình ảnh truyền thông đưa tin, toàn thế giới hướng về Nhật Bản, kinh ngạc vì sức mạnh tâm hồn của người Nhật Bản Sức mạnh của truyền thông là sức mạnh của sự gắn kết, trao truyền giá trị văn hóa của Nhật Bản đến với thế giới
Chúng ta có thể kể một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu như:
R.Collins, Truyền thông, văn hóa và xã hội, London, Sage Publications, 1986; Jostenim Gripsrud, Nghề làm báo và văn hóa đại chúng, London, Sage Publications, 1992; và Hiểu biết về văn hóa truyền thông xuất bản năm
2002…là những tài liệu đáng tham khảo cho luận án
So với hoạt động nghiên cứu ngoài nước, hoạt động nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài phong phú hơn rất nhiều Những tư liệu này chắc chắn đây là những tiền đề để phát triển đề tài luận án một cách toàn diện dưới nhiều góc độ khác nhau
Gần đây, các nhà nghiên cứu trong nước đều thừa nhận rằng, ngoại giao
Trang 23văn hóa là sự tồn tại của các dòng thông tin và tư tưởng xuyên quốc gia, và do
đó đều gắn lĩnh vực này với truyền thông quốc tế Tư duy đó đã mở ra hướng nghiên cứu sâu sắc và toàn diện hơn về vai trò của truyền thông trong ngoại giao văn hóa Vậy để có thể văn hóa trở thành sức mạnh mềm thì chúng ta sẽ
có câu trả lời là: khi nó được lan tỏa rộng rãi và có sức cuốn hút các chủ thể
khác tự nguyện làm theo Phạm Thái Việt với cuốn sách Ngoại giao văn hóa cơ
sở và lý luận, kinh nghiệm quốc tế và ứng dụng, Nxb Chính trị- Hành chính, Hà
Nội, 2012, đã phân tích rõ vai trò của truyền thông và thông tin trong chuyển hóa văn hóa thành sức mạnh Tác giả đã nhận định rằng, truyền thông sẽ thúc đẩy quá trình di truyền văn hóa (xét trong nội bộ cộng đồng truyền thống) và
mô phỏng văn hóa (xét trong quan hệ giữa các cộng đồng với nhau)
Từ một góc nhìn khác, Lê Thanh Bình với Giáo trình quan hệ công
chúng chính phủ trong văn hóa đối ngoại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2011 khẳng định quan hệ công chúng (public relations, viết tắt là PR) là hoạt động rộng lớn, chuyên nghiệp lâu dài, áp dụng tất cả các kỹ thuật quan hệ công chúng thông qua lĩnh vực văn hóa, tác động đến công chúng nước ngoài, nhằm xây dựng khẳng định vị thế, hình ảnh đất nước, văn hóa quốc gia, phản bác biểu hiện sai lệch từ công chúng nước ngoài Bên cạnh đó, nhiều bài viết của Hà Minh Đức, Đỗ Quang Hào, Hồ Sĩ Vịnh…làm rõ hơn về vai trò của truyền thông trong giao lưu văn hóa
Cuốn Văn hoá truyền thông trong thời kỳ hội nhập do Hội Nhà báo
Việt Nam, Trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn và Nhà xuất bản Thông tin Truyền thông phối hợp xuất bản năm 2013 dày 355 trang, nội dung sách gồm 35 bài tham luận của các nhà báo, nhà khoa học và nhà quản lý báo
chí tại Hội thảo Khoa học Văn hoá truyền thông thời kỳ hội nhập do Hội Nhà
báo Việt Nam và Trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn tổ chức Với
nhiều bài viết tiêu biểu như: Văn hoá truyền thông trong thời kỳ hội nhập (Nguyễn Văn Kim); Văn hoá truyền thông và truyền thông có văn hoá (Hà
Trang 24Minh Đức); Vài nét về sự định hình văn hoá truyền thông kỹ thuật số dưới góc
nhìn xã hội học (Tống Văn Chung); Thế nào là người làm báo có văn hoá?
(Nguyễn Công Đán); Văn hoá phỏng vấn (Trần Bá Dung); Phóng viên thời
hội nhập (Phạm Thị Mỵ); Văn hoá truyền thông trong môi trường Internet - Vài điều qua kinh nghiệm của hoạt động VOV online (Nguyễn Thuý Hoa…)
Nhiều tham luận đã cho rằng: văn hoá và báo chí - truyền thông có mối quan hệ khăng khít, biện chứng Báo chí là bộ phận của văn hoá nhưng báo chí cũng sáng tạo ra và phổ biến văn hoá, lưu truyền văn hoá…
Trong tham luận "Báo chí - truyền bá và sáng tạo văn hóa", Vũ Duy
Thông cho thấy khả năng truyền bá và sáng tạo văn hóa của báo chí Tham luận nhấn mạnh: Trước đòi hỏi của xã hội và nhu cầu của bạn đọc, bên cạnh nhiệm vụ đáp ứng các yêu cầu chính trị, báo chí đã trở thành một phương tiện truyền bá văn hóa ngày càng quan trọng, không thể thiếu được và tự thân nó
đã trở thành một lĩnh vực văn hóa Ngày nay, với sự ra đời của truyền hình, internet, có thể nói, không có lĩnh vực nào của văn hóa, báo chí không thể truyền tải, quảng bá được Cùng với khả năng truyền tải và do tác động của khả năng truyền tải, đến lượt mình, báo chí đã trở thành chủ thể sáng tạo những giá trị mới của văn hóa và là một bộ phận của văn hóa Chưa nói đến tác dụng kích thích sáng tạo văn hóa của báo chí đối với các chủ thể khác, chỉ tính đến vai trò sáng tạo văn hóa của báo chí cũng có thể thấy, báo chí đóng vai trò là cơ quan đưa ra sáng kiến, tổ chức, hỗ trợ các hoạt động, các sân chơi văn hóa Báo chí đã trở thành trường học công cộng để nâng cao trình độ dân trí, trình độ văn hóa của công chúng, đồng thời định hướng dư luận
Trong tham luận "Một số vấn đề truyền thông đại chúng, văn hóa đại
chúng và văn hóa truyền thông trong kỷ nguyên kỹ thuật số", Đặng Thị Thu
Hương khẳng định: Văn hóa truyền thông cần được xây dựng trên nền tảng giá trị và tính liên tục lịch sử, khơi dậy các khả năng sáng tạo của công chúng
và phục vụ công chúng Không thể đánh đồng văn hóa đại chúng với khuynh
Trang 25hướng thương mại hóa, tầm thường hóa và dung tục hóa nền văn hóa Do vậy, truyền thông đại chúng phải đóng vai trò then chốt trong việc phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam, nâng cao tính đề kháng cho nền văn hóa dân tộc trước những ảnh hưởng tiêu cực của toàn cầu hóa văn hóa, đồng thời hạn chế tác động tiêu cực của xu hướng thương mại hóa văn hóa và thương mại hóa báo chí
Trong bài « Báo chí - loại hình ý thức xã hội đặc thù » của Nguyễn
Ánh Hồng (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) cũng đã phân tích rõ vai trò của báo chí trong quá trình hội nhập quốc tế Theo tác giả, Báo chí là yếu tố văn hóa ngoại sinh khi văn hóa Việt Nam cấu trúc lại chính mình trong giao lưu tiếp biến với văn hóa phương Tây Theo đó báo chí phải là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội, song song với sự vận hành của cuộc sống Nguyễn Ánh Hồng nhận định: Khi đi vào tác phẩm báo chí, biểu tượng văn hoá lại phát sinh một đời sống riêng, bởi sản phẩm của hoạt động sáng tạo tác phầm báo chí vừa tuân theo chuẩn mực của quy luật xã hội, vừa là dấu ấn cá tính sáng tạo độc đáo tự do
Nghiên cứu Một số vấn đề xung quanh khái niệm văn hóa truyền thông" của Nguyễn Đức Hạnh in trong Kỷ yếu hội thảo: Văn hóa truyền thông trong
thời kỳ hội nhập do Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học
Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2012 đã đưa ra cách tiếp cận mới về văn hóa truyền thông Tác giả xem truyền thông như một hoạt động văn hóa đặc thù Nó vừa là kết quả của một quá trình văn hóa vừa có sự liên hệ tác động qua lại đối với các hiện tượng văn hóa khác Tuy nhiên, hoạt động truyền thông lại tuân theo những nguyên tắc riêng và mô hình riêng so với mọi lĩnh vực hoạt động khác mặc dù bất cứ lĩnh vực hoạt động nào của con người cũng đề có quan hệ với truyền thông (truyền thông là hoạt động phổ biến của xã hội loài người)
Tác giả dẫn ra phát hiện mới của các nhà nghiên cứu liên quan tới phân tích năng lực truyền thông của con người, theo đó, các nhà nghiên cứu đã ưu
Trang 26tiên lựa chọn phương pháp được gọi là phân tích ngôn bản để phân tích năng
lực này Phương pháp tiếp cận này thừa nhận quá trình truyền thông mang tính hợp tác giữa hai hay nhiều người Các phương pháp tiếp cận lấy ngôn bản làm làm trung tâm không coi truyền thông là một hệ thống các cách truyền thông điệp tách biệt từ người này sang người kia Thay vào đó các phương pháp này lại coi truyền thông là một quá trình nổi bật lên mà khi tiếp diễn nó liên tục thay đổi hình thái và mục đích
Nguyễn Đức Hạnh cũng dẫn quan điểm của nhà nhân loại học Edward Sapir đưa ra một công thức chung nhất và sớm nhất về phương pháp tiếp cận truyền thông bằng hành vi: Mỗi mô hình văn hóa và mỗi hành động đơn lẻ trong hành vi xã hội đều liên quan đến truyền thông xét cả nghĩa đen hay nghĩa bóng
Cuốn Truyền thông giao lưu văn hóa với vấn đề bảo vệ lợi ích và an
ninh văn hóa quốc gia do Lê Thanh Bình và Vũ Trọng Lâm đồng chủ biên,
NXB Thông tin và Truyền thông xuất bản năm 2015, tập trung nghiên cứu và phân tích cơ sở khoa học của truyền thông giao lưu văn hóa với vấn đề bảo vệ lợi ích và an ninh văn hóa quốc gia
Cuốn sách cũng tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia trong lĩnh vực này
Bảo vệ lợi ích và an ninh văn hóa quốc gia là một vấn đề đặc biệt quan trọng đối với mọi quốc gia trên thế giới hiện nay Sự đe dọa đến lợi ích và an ninh văn hóa quốc gia sẽ đe dọa trực tiếp đến sự ổn định và phát triển của xã hội, ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ chính trị
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia diễn ra ngày càng mạnh mẽ không chỉ theo chiều rộng mà cả theo chiều sâu, các quốc gia có cơ hội và điều kiện thuận lợi tiếp thu những tinh hoa của văn hóa nhân loại, nhưng cũng đứng trước thách thức to lớn trong việc ngăn chặn
và đấu tranh trước sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai, giữ vững bản sắc, giá
Trang 27trị văn hóa dân tộc, nhất là đối với những quốc gia đang phát triển, đẩy mạnh hội nhập quốc tế như Việt Nam Để thực hiện được điều đó, trước hết, phải có nhận thức đầy đủ về lợi ích văn hóa quốc gia và an ninh văn hóa quốc gia thì tiến hành truyền thông giao lưu văn hóa và có những bước đi phù hợp, bắt kịp với sự chuyển vần của thời đại
Cuốn sách cũng đã đưa ra khái niệm truyền thông giao lưu văn hóa như sau: "Truyền thông giao lưu văn hóa chính là quá trình tương tác, trao đổi các hoạt động văn hóa, thúc đẩy quá trình giao lưu, tiếp biến các giá trị văn hóa, quảng bá giá trị văn hóa và tiếp thu các giá trị văn hóa mới Truyền thông giao lưu văn hóa là cầu nối giữa các nền văn hóa, tạo điều kiện cho các nền văn hóa tiếp xúc, trao đổi, hiểu biết nhau và tiếp biến, học hỏi các giá trị văn hóa của nhau" [6; 21]
Một số sách của các tác giả khác nghiên cứu về truyền thông đại chúng
và ở những mức độ nhất định cũng đã đề cập đến những bình diện khác nhau của văn hóa truyền thông Có thể kể tên một số tác phẩm có nội dung liên quan đến vấn đề này như: Vai trò của truyền thông đại chúng trong giáo dục
thẩm mĩ nước ta hiện nay của tác giả Trần Ngọc Tăng; Báo chí truyền thông
và kinh tế, văn hóa xã hội của tác giả Lê Thanh Bình; Cẩm nang học báo chí
do hai tác giả Tạ Ngọc Tấn và Ðinh Thị Thúy Hằng biên soạn…
1.1.3 Nhận xét chung và những vấn đề luận án tiếp tục cần nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài "Giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản trong hoạt động truyền thông VOV" đã có những thành tựu
chủ yếu sau:
- Các công trình này đã cung cấp một cái nhìn tổng quát về giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản qua các thời kỳ lịch sử cận đại và hiện đại, chỉ rõ những tác động qua lại và đặc điểm của giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản trong tình hình hiện nay Đồng thời, đã có một số nghiên cứu cụ thể và truyền thống về truyền thông trong giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản, nhấn mạnh vai trò của truyền thông trong giao lưu văn hóa quốc tế và ngoại giao văn hóa
Trang 28hiện nay Những công trình này đã cung cấp các tri thức cơ bản cho nghiên cứu sinh về lĩnh vực giao lưu văn hóa, giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản, truyền thông trong giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản để NCS tiếp thu và
sử dụng trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận án
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới dừng lại ở một số vấn đề
lý luận chung mà chưa đi sâu nghiên cứu vấn đề giao lưu văn hóa Việt Nhật Bản trong hoạt động truyền thông của Đài tiếng nói Việt Nam (VOV) như một công trình nghiên cứu chuyên biệt, có hệ thống Những vấn đề tiếp tục đặt ra để đi sâu nghiên cứu trong luận án này là:
Nam Làm rõ những vấn đề giao lưu văn hóa Việt NamNam Nhật Bản trong bối cảnh hai quốc gia đang tăng cường đẩy mạnh quan hệ hữu nghị và vai trò của VOV với hoạt động đẩy mạnh giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản
- Làm rõ thực trạng giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản trong hoạt động truyền thông VOV hiện nay
- Dự báo và khuyến nghị các giải pháp thúc đẩy giao lưu văn hóa Việt Nam-Nhật Bản trong thời gian tới
Những công trình nghiên cứu đã công bố của các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế trên đây là những nguồn tài liệu tham khảo bổ ích và rất cần thiết để NCS thực hiện luận án này
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.2.1 Cơ sở lý luận
1.2.1.1 Khái niệm giao lưu văn hóa
Thuật ngữ giao lưu văn hóa được sử dụng rộng rãi trong các ngành học
có đối tượng là văn hóa học như nhân học, xã hội học, văn hóa học, dân tộc học… Tùy theo truyền thống khoa học của mỗi nước mà khái niệm giao lưu văn hóa được diễn đạt bằng các thuật ngữ khác nhau Các thuật ngữ này có hàm lượng ngữ nghĩa chung, nhưng mỗi thuật ngữ đều mang sắc thái riêng về nghĩa Chẳng hạn, người Anh ưa dùng chữ "Cultural Change", có thể dịch là trao đổi văn hóa ; người Tây Ban Nha dùng chữ "Transculturation", nghĩa là
Trang 29di chuyển văn hóa ; người Pháp có thuật ngữ "Interpénétration dé vivilisations " nghĩa là sự giao nhập giữa các nền văn minh ; người Hoa Kỳ sử dụng thuật ngữ "Acculturation" có thể dịch là giao lưu văn hóa Trong tiếng Nhật "文化交" nghĩa là hoạt động giao lưu văn hoá thông qua các hoạt động như giới thiệu văn hoá ra nước ngoài, giáo dục ngôn ngữ và các hoạt động trao đổi nghiên cứu lẫn nhau
Giao lưu văn hóa là sự trao đổi qua lại những sản phẩm văn hóa giữa các cộng đồng xã hội khác nhau, ở đây là giữa các cộng đồng dân tộc - quốc gia với nhau Sản phẩm văn hóa khởi đầu có thể là kinh nghiệm, tri thức, gọi một cách khái quát là thông tin Thông tin ấy được tích lũy từ quá khứ đến hiện tại, kết tinh thành các giá trị và chuẩn mực xã hội, thị hiếu và sở thích, thành truyền thống xã hội, gọi chung là hệ giá trị xã hội, quy định cách lựa chọn tồn tại và gắn liền với nó là thế ứng xử của con người đối với thiên nhiên, với xã hội và với bản thân Có thể xem thế giới sản phẩm vật thể cùng với hệ ứng xử của con người là hình thái ngoại hiện của văn hóa, thì hệ giá trị
xã hội sẽ là nội dung cơ bản của nó Thừa nhận đơn vị cơ bản của văn hóa là thông tin (dĩ nhiên là thông tin lan truyền theo các kênh xã hội, không bao hàm thông tin di truyền theo con đường sinh học) thì sáng tạo văn hóa là sáng tạo ra những thông tin mới, giao lưu văn hóa là trao đổi thông tin làm cho lượng thông tin xã hội được nhân lên vô hạn, rồi kết tinh thành ký ức xã hội
và tích lũy trong mỗi con người Phương Tây có câu : nếu trong hai người mà mỗi người có một vật đem trao đổi cho nhau, thì mỗi người vẫn có một vật Còn mỗi người có một tin đem trao đổi với nhau, thì mỗi người sẽ có hai tin
Giao lưu văn hóa với biểu hiện của nó là trao đổi thông tin diễn ra thường xuyên, liên tục, tạo ra mạng lưới của những dòng kênh chuyển tin đi khắp nơi Giao lưu văn hóa gắn liền với phương tiện chuyển tải thông tin Có thể nhận thấy ba giai đoạn giao lưu văn hóa trong lịch sử loài người, gắn với
ba trình độ phát triển của phương tiện thông tin xã hội
- Giai đoạn cổ sơ của xã hội nguyên thủy, lưu lượng thông tin còn ít,
Trang 30phạm vi giao lưu hạn hẹp trong một khu vực nhất định Đó là giao lưu văn hóa trong các xã hội tiền văn tự
- Giao lưu văn hóa trong các xã hội có văn tự, thường là xã hội nông nghiệp, đã xuất hiện các hình thái Nhà nước chiếm hữu nô lệ thời cổ đại Nhờ xuất hiện văn tự, các công việc dạy học, viết sách, in văn bản có điều kiện ra đời Giao lưu văn hóa có thể thực hiện trong phạm vi rộng lớn của các đế quốc cổ đại như Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Hoa, Hy Lạp, La Mã
- Giao lưu văn hóa trong xã hội công nghiệp gắn với sự ra đời của các phương tiện truyền thông đại chúng Đó là đặc trưng cơ bản của xã hội hiện đại ; giao lưu văn hóa phát triển theo xu hướng toàn cầu
Văn hóa là sản phẩm sáng tạo của con người Mỗi một nền văn hóa tồn tại và phát triển là nhờ thường xuyên trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ cộng đồng này sang cộng đồng khác Hay nói cách khác, kế thừa và giao lưu văn hóa là hai quy luật cơ bản chi phối, quyết định đến sự sinh tồn của mỗi một nền văn hóa Nếu quy luật kế thừa là sự khái quát hoá quá trình phát triển văn hoá diễn ra theo trục thời gian thì giao lưu và tiếp biến văn hoá nhìn nhận sự phát triển văn hoá trong mối quan hệ không gian với nhiều phạm
vi rộng hẹp khác nhau, tuỳ trình độ phát triển và đặc điểm riêng của mỗi dân tộc Nhờ sự tiếp xúc, trao đổi văn hóa giữa các tộc người, giữa các vùng, các quốc gia mà văn hóa văn hóa vận động như một dòng chảy xuyên không gian
và thời gian Giao lưu văn hóa được xem là dấu hiệu gắn với tiến bộ xã hội Một cộng đồng xã hội càng mở rộng sự giao lưu văn hóa với bên ngoài, hấp thụ được nhiều tri thức mới lạ, làm cho quỹ thông tin xã hội tăng lên sẽ có nhiều tiềm năng sáng tạo văn hóa Ngược lại, cộng đồng sinh hoạt theo kiểu khép kín, thu mình trong sự tự trị của những mối quan hệ nội giao sẽ làm không kiệt tiềm năng sáng tạo, cuối cùng không tránh khỏi nguy cơ suy thoái
Giao lưu văn hoá thực chất là sự gặp gỡ, đối thoại giữa các nền văn hoá Quá trình này đòi hỏi mỗi nền văn hoá phải biết dựa trên cái nội sinh để lựa chọn tiếp nhận cái ngoại sinh, từng bước bản địa hoá nó để làm giàu, phát
Trang 31triển văn hoá dân tộc.Trong tiếp nhận các yếu tố văn hoá ngoại sinh, hệ giá trị
xã hội và tâm thức dân tộc có vai trò rất quan trọng Nó là "màng lọc" để tiếp nhận những yếu tố văn hoá của các dân tộc khác, giúp cho văn hoá dân tộc phát triển mà vẫn giữ được sắc thái riêng của mình
Cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về giao lưu văn hoá Giao lưu văn hoá, đó là hoạt động nhằm trao đổi, giới thiệu những sản phẩm, giá trị văn hoá, đưa những sản phẩm, giá trị văn hoá đó vào đời sống văn hoá của nhau- giữa dân tộc này với dân tộc khác, tạo ra cơ hội thực tế cho sự cảm nhận, cảm
thụ, lĩnh hội những đặc sắc văn hoá của nhau [3, tr.144]
Xuất phát từ cách tiếp cận trên, có thể quan niệm giao lưu văn hóa như
sau: Giao lưu văn hoá là qúa trình gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi lẫn nhau giữa nền
văn hoá này với một nền văn hoá khác, tạo nên sự biến đổi của một hoặc của tất
cả các nền văn hóa tham gia vào quá trình gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi đó
Quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hoá thường diễn ra theo hai hình thức: giao lưu văn hóa tự nguyện và giao lưu văn hóa cưỡng bức Đối với hình thức tự nguyện, thông qua các hoạt động như buôn bán, thăm hỏi, du lịch, hôn nhân, quà tặng…mà văn hoá được trao đổi trên tinh thần tự nguyện Còn hình thức cưỡng bức giao lưu văn hóa thường gắn liền với các cuộc chiến tranh xâm lược thôn tính đất đai và đồng hoá văn hoá của một quốc gia này đối với một quốc gia khác Tuy nhiên, trên thực tế, các hình thức này đôi khi không thuần nhất Có khi trong cái vẻ tự nguyện, có những yếu tố mang tính cưỡng bức Hoặc trong quá trình bị cưỡng bức văn hoá, vẫn có những yếu tố tiếp nhận mang tính tự nguyện
Trong quá trình phát triển của lịch sử và văn hoá, bên cạnh thuật ngữ "giao lưu văn hóa" còn xuất hiện nhiều thuật ngữ như tiếp biến, tiếp xúc, giao tiếp liên văn hoá, giao thoa văn hoá, đối thoại văn hoá Nhưng xét cho cùng bản chất của chúng là giống nhau, tuy nội dung và hình thức biểu hiện của chúng lại khác nhau
Tiếp biến văn hoá: Là quá trình mà trong đó các thành viên của nhóm
Trang 32văn hoá thông qua niềm tin và hành vi của nhóm khác, chuyển từ lối sống riêng của mình để thích ứng
Định nghĩa về "tiếp biến văn hoá" được đưa ra ở cuộc họp UNESCO
châu Á tại Téhéran 1978: Tiếp biến văn hoá đó là sự tiếp xúc giữa những
nhóm người khác nhau về hóa, do đó sinh ra những sự thay đổi về văn hoá (ứng xử, giao tiếp, tư duy…) ở trong mỗi nhóm Tiếp biến văn hoá là quá trình
một nhóm người hay một cá nhân qua tiếp xúc trực tiếp và liên tục với một nhóm khác, tiếp thụ (tự nguyện hay bắt buộc, toàn bộ hay từng bộ phận) nền văn hoá của nhóm này Hiện nay, khái niệm tiếp biến văn hoá được quan niệm được quan niệm đơn giản hơn:
Tiếp biến văn hoá là quá trình một cá nhân hay khi tiếp xúc trực tiếp và liên tục với một cộng đồng hay một cá nhân khác (có hoặc không có ý thức) hấp thụ nhiều hay ít nền văn hóa của cộng đồng hay các cá nhân này
Điều đáng lưu ý là, giao lưu và tiếp biến văn hoá trong lịch sử nhân loại
về phương thức, đặc điểm và sự ảnh hưởng nó trong mỗi giai đoạn lịch sử, không giống nhau Có hiện tượng văn hoá của cộng đồng này lấn lướt văn hoá của cộng đồng khác, nhất là trong một không gian và trong quan hệ kinh tế Trong một số trường hợp, tiếp biến văn hoá sẽ dẫn đến quá trình đồng hoá Tiếp biến văn hoá và đồng hoá văn hoá dẫn đến sự pha trộn, đồng nhất, sự hoà tan văn hoá của nhóm nhỏ vào văn hoá của nhóm trội hơn
Tiếp biến thể hiện trội hơn trong quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hoá sự đấu tranh, chọn lọc khi tiếp thu tiếp nhận, tức thể hiện tính chủ động của chủ thể trong quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hoá Trong quá trình đó, giao lưu văn hoá vừa tiếp xúc và trao đổi dẫn đến sự hỗn dung, sự cộng sinh và hệ quả
là sự tiếp biến Không có giao lưu, tiếp xúc thì không có tiếp biến, tiếp biến văn hoá là hệ quả của giao lưu, tiếp xúc văn hoá
Tiếp xúc văn hoá, đó là sự tìm hiểu, làm quen, khởi đầu cho sự hiểu biết
lẫn nhau, tiến tới xác lập mối quan hệ giữa những chủ thể văn hoá với nhau
Giao tiếp liên văn hoá, chính là sự giao tiếp giữa các nền văn hoá, giữa
Trang 33các cộng đồng văn hoá khác nhau với những phương thức sống và thế giới quan khác nhau [3, tr.17]
Trong công trình nghiên cứu về văn hoá của mình Duane Elmer cho rằng: "Giao thoa văn hoá là một hình thức kết nối giữa các nền văn hoá, tạo ra
sự hoà quyện giữa các giá trị văn hoá bản địa và văn hoá nước ngoài" - Duane
Elmer: Cross- Cultural connections: Steping Out and Fitting in around the world, Inter Varsity pressm, 2002, p.3 Nhưng quá trình giao thoa văn hoá
không thể để cho tự phát mà phải được định hướng, bởi vì không phải bất cứ
sự giao thoa nào cũng mang lại lợi ích.Giao thoa văn hoá là hiện tượng phổ
biến của lịch sử văn hoá nhân loại và nó có tính qui luật
Đối thoại văn hoá là thực hiện qua sự tiếp xúc và trong giao lưu giữa
các dân tộc có những nền văn hoá khác nhau về trình độ phát triển, về hoàn cảnh lịch sử, truyền thống, phong tục, tập quán Trong đối thoại các nền văn hoá có thể biểu hiện mình, nâng cao giá trị văn hoá, gây ảnh hưởng tới các nền văn hoá khác Đối thoại văn hoá là sự thuyết phục lẫn nhau, là tiếp nhận những giá trị và bản sắc của nhau, là chấp nhận sự khác biệt ngoài mình với năng lực và bản lĩnh văn hoá của chính mình bằng "bộ lọc" và hệ quy chiếu của mình [3, tr.147]
Giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản được hiểu là quá trình gặp gỡ, tương tác giữa các chủ thể văn hóa (nhân dân hai nước) và các yếu tố của hai nền văn hóa Giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản diễn ra trong bối cảnh hòa bình, hợp tác Đó là sự giao lưu mang tính chủ động, tự nguyện Trong luận án này, VOV được nghiên cứu với tư cách là phương tiện thúc đẩy giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản Một kênh chuyển tải thông tin và kết nối giữa hai nền văn hóa
1.2.1.2 Khái niệm truyền thông
Truyền thông là khái niệm được sử dụng khá phổ biến Trong tiếng Anh
commuinicaton có nghĩa là sự thông tin hay là sự truyền đạt, giao thiệp, giao
Trang 34tiếp, mối quan hệ bạn bè Tiếng La tinh communicare có nghĩa là chia sẻ, truyền
tải Tiếng Nhật là 通信(Tsusin) - có nghĩa là ngôn ngữ truyền đạt thông tin
Truyền thông là một hiện tượng xã hội phổ biến, ra đời, phát triển cùng
xã hội loài người, tác động đến và lên quan tới mọi cá thể xã hội [9, tr.11]
Tuy nhiên, truyền thông với tư cách là bộ phận đặc biệt của văn hóa, tham gia tích cực vào sự phát triển văn hóa, truyền thông cũng có sự thay đổi về hình thức biểu hiện Từ hình thức biểu hiện đó cách hiểu về truyền thông vô cùng phong phú
Theo John R Hober (1954), truyền thông là qua trình trao đổi tư duy hoặc ý tưởng bằng lời
Theo Frank Dance (1970), truyền thông là quá trình làm cho cái trước đây
là độc quyền của một vài người trở thành cái chung của hai hoặc nhiều người
Cũng có quan niệm cho rằng: "Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay nhóm người trong xã hội, nhằm đạt sự hiểu biết lẫn nhau" [20, tr.8]
Nếu truyền thông với tư cách là kết quả của sự tác động lẫn nhau thì việc mang lại những tính chung hoặc sự riêng biệt của thông tin thường rất ít Trong trường hợp ở Người, việc truyền tải trạng thái tâm lý của bản thân đến người khác không chỉ là ở trạng thái động mà tùy thuộc vào thông tin mà người khác tiếp nhận cũng sẽ bao gồm sự thấu hiểu trạng thái tâm lý của đối tượng hay nói giản đơn hơn là sự thấu hiểu người khác
Có thể hiểu: Truyền thông là một quá trình trao đổi thông tin giữa bên
truyền thông tin và tiếp nhận thông tin thông qua ngôn ngữ, chữ viết, hay sự biểu hiện trạng thái tâm lý, biểu tượng nhằm mục đích lý giải lẫn nhau, tác động lẫn nhau trong qua trình biến đổi của xã hội
Khi xã hội phát triển, con người càng tham gia nhiều vào các hoạt động xã hội Trong quá trình tham gia này, con người đòi hỏi sự giao tiếp với những qui mô lớn hơn nhờ sự giúp đỡ của các phương tiện kỹ thuật
Trang 35thông tin - hay còn gọi là các phương tiện thông tin đại chúng (mass media) Nghĩa là sự giao tiếp này ở mức độ rộng rãi, mang tính xã hội Truyền thông đại chúng là hoạt động giao tiếp xã hội rộng rãi, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng
Truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội đặc thù [44, tr.45], bao
Đại chúng (bao gồm các tầng lớp công chúng trong xã hội)
Trong lịch sử, không phải lúc nào cũng có đầy đủ các loại hình truyền thông như bây giờ Có thể nói đây là giai đoạn có đầy đủ các loại hình truyền
thông Các loại hình truyền thông đại chúng bao gồm: Báo in, Phát thanh,
Truyền hình, Sách, Quảng cáo, Điện ảnh, Ảnh báo chí…Phát thanh (báo nói)
là một trong những loại hình của truyền thông đại chúng, là đối tượng, phạm
vi nghiên cứu của đề tài luận án mà NCS nghiên cứu
Phát thanh tuy không phải là loại hình truyền thông ra đời sớm, nhưng
sự ra đời của nó đã đánh dấu bước phát triển của công nghệ mới Vào cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX, A.X.Pôpốp đã phát minh ra vô tuyến điện, tạo ra một loại hình truyền thông mới đó là phát thanh (Radio) Sự ra đời của Radio làm bùng nổ truyền thông và nó trở thành công cụ thể hiện quyền lực chính trị vô cùng lợi hại Báo phát thanh dùng thế giới âm thanh sống động và vô cùng phong phú (lời nói, âm nhạc, tiếng động…) thông qua các phương tiện kỹ thuật để truyền tải thông tin
Phát thanh là kênh truyền thông đại chúng sử dụng kỹ thuật sóng điện
từ và hệ thống truyền dẫn (Radio) truyền đi những âm tác động trực tiếp vào
thính giác người tiếp nhận [15, tr.179] Tuy nhiên, do sự phát triển của công
nghệ thông tin, báo phát thanh Internet, Radion online… có những đặc trưng khác nhau nên định nghĩa cũng khác nhau
Trang 36Lois Baird, tác giả của cuốn "Hướng dẫn sản xuất chương trình phát thanh", nhìn nhận rất khái quát về báo phát thanh như sau:
Radio là loại hình tạo ra hình ảnh, sự kiện trong tâm trí người nghe Radio là thân mật, riêng tư (không loan báo)
Radio dễ tiếp cận, dễ mang theo
Radio là trực tiếp
Radio có ngôn ngữ riêng - nghiêng về cách nói đời thường
Radio gợi lên cảm xúc
Radio làm công việc thông tin giáo dục rất hiệu quả
Radio là âm nhạc
Tuy có những hạn chế riêng, nhưng phát thanh là sự thể hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa các nhà khoa học, kỹ sư chế tạo, nhà doanh nghiệp với công chúng truyền thông Ngày nay, do kỹ thuật số phát triển nên phát thanh có sức cạnh tranh mạnh mẽ với các loại hình truyền thông khác Trên thế giới, báo phát thanh được ưa chuộng bởi sự nhanh nhạy của thông tin Ở Thụy Sĩ, có những thời điểm 70% dân số nghe Radio Còn ở Mỹ, thì số lượng đầu thu Radio ở Mỹ đã vượt quá dân số Mỹ Đặc điểm nổi bật của công chúng là tính chuyên biệt cao,
và xu hướng tập trung tiêu dùng vào sóng FM Chúng ta thử xem nhu cầu sử dụng Radio của người Mỹ theo bảng 1.1 [57, tr.138]
Bảng 1.1: Nhu cầu sử dụng Radio của người Mỹ
(thành thị/nông thôn)
Người đương thời 24-54 Nữ Cả hai
Nhạc Rock 18-24 Nam Thành thị
Nhạc mới 12-34 Cả hai Cả hai
Nhạc đồng quê 18-49 Cả hai Nông thôn
Chương trình phát cho lái xe 35 Cả hai Cả hai
Thời sự bình luận 25-34 Cả hai Thành thị
Trang 37Thành thị đương thời 12-34 Cả hai Thành thị
Ở Việt Nam báo phát thanh (Đài Tiếng nói Việt Nam) đã có lịch sử 72
năm phát triển (thành lập ngày 7 tháng 9 năm 1945) với hệ thống phát thanh toàn quốc, 63 đài phát thanh tỉnh, thành phố, 600 đài phát thanh huyện, phủ sóng 98% dân số, đồng thời cũng là phương tiện duy nhất phủ sóng biển Đông Đài Tiếng nói Việt Nam là công cụ tuyên truyền quan trọng của Đảng
và Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực, vũ khí đấu tranh với những "diễn biến hòa bình", "Cách mạng Cam"… nhằm xây dựng một quốc gia phát triển đóng góp vào nền hòa bình, thịnh vượng chung của thế giới
Bước sang thế kỷ XXI - được coi là thế kỷ của công nghệ thông tin, một số loại hình truyền thông mới như Internet xuất hiện có thể làm giảm vai trò của phát thanh ở góc độ nào đó, tuy nhiên trên thế giới phát thanh vẫn có
vị trí độc tôn của nó Ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới, phát thanh vẫn là loại hình truyền thông có tầm phủ sóng xa nhất, rộng nhất Đặc biệt đối với những vùng xa xôi, vùng núi… phát thanh vẫn đến và là nguồn cảm xúc đầy đặn nhất của mọi người
1.2.1.3 Vai trò của giao lưu văn hóa đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
Vai trò của giao lưu văn hoá thể hiện ở những nội dung sau đây:
Thứ nhất, tiếp thu chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ của các dân tộc khác
Theo Phan Ngọc thì không có văn hoá tự lực cánh sinh và cũng không
có văn hoá tự túc Cũng theo ông có hai kiểu tiếp xúc văn hoá là tiếp xúc chạy theo cái đồ vật, cái cặn bã của văn hoá người ta, và tiếp xúc là học tập người
Trang 38ta để nắm được chính cái tinh thần đã tạo nên được một văn hoá cao hơn mình Rõ ràng giao lưu văn hoá vừa là để phát huy truyền thống dân tộc, vừa
là để làm mạnh dân tộc Cũng theo ông bản sắc văn hoá chính là nền tảng của giao lưu văn hoá Tuy nhiên bản sắc này trong quá trình giao lưu sẽ trở nên phong phú hơn, đẹp đẽ hơn và toàn diện hơn [37, tr.137]
Đến nay, tại Việt Nam, những món ăn Nhật Bản như Tempura (món tẩm bột rán), cá sống, cơm cuộn… đã trở thành những món ăn yêu thích của người dân Việt Nam, và ngược lại tại Nhật Bản, mỗi khi nhắc đến Việt Nam
là người dân sẽ nói ngay tới món nem cuốn, bánh xèo, phở Việt Nam Như vậy, rõ ràng những yếu tố tinh túy của xã hội, con người thường được học hỏi một cách nhanh chóng
Thứ hai, thấu hiểu các nền văn hóa
Mỗi một dân tộc, quốc gia tự thấu hiểu văn hóa tự thân, sau đó lại thấu hiểu giá trị của các nền văn hoá khác Từ đó loại trừ những cái không phù hợp để giao lưu, loại bỏ những cái xấu Tuy nhiên, có những trường hợp văn hóa độc hại lại được lan nhanh trong xã hội hơn cả những cái tốt đẹp Ở Nhật Bản coi thấu hiểu văn hóa khác mình là một yếu tố cần thiết để phát triển chính mình
Bản báo cáo Hành tinh đa văn hoá của Nhóm chuyên gia quốc tế thuộc
UNESCO đã chỉ rõ: Tương lai của nhân loại không thể được mô tả như là sự thống nhất mà không có đa dạng hay đa dạng mà không có thống nhất Thách thức đối với tất cả những người đương thời là xây dựng một thế giới như vậy,
và trên tất cả là thách thức đối với những nền văn hoá làm cơ sở cho thế giới quan và hệ giá trị của họ" Trong xu thế toàn cầu hoá thế giới ngày nay, điều cần tránh là việc biến các nền văn minh đa dạng thành sự đồng quy về một nền văn minh độc nhất và khiến cho các nền văn hoá trở nên thuần nhất Chúng ta nên duy trì sự đa dạng hiện tồn của các nền văn minh và văn hoá Mặt khác, điều cần thiết là thúc đẩy đối thoại giữa các nền văn minh khác
Trang 39nhau, gia tăng sự hiểu biết lẫn nhau, loại bỏ những hố sâu ngăn cách nào đó, hoà giải những đối kháng, chống lại "xung đột giữa các nền văn minh", từ đó hiện thực hoá sự thống nhất của các nền văn minh và văn hoá cũng như thực hiện toàn cầu hoá về nhân tính dựa trên cả sự đa dạng và sự thống nhất của các nền văn minh thế giới Giao lưu liên văn hoá hợp lý chính là con đường quan trọng để đạt được mục tiêu cao quý này
Khổng Tử, triết gia Trung Quốc cổ đại, đã từng nói: "hài hoà trong đa dạng" Điều đó có nghĩa là chúng ta nên tôn trọng những nét dị biệt và đa dạng của mình, tìm kiếm sự chung sống hoà hợp thông qua giao lưu với người khác để đáp ứng sự quan tâm và những lợi ích chung của con người Văn minh và văn hoá đều có những đặc điểm của sự đa dạng và sự đồng nhất Kiểu đồng nhất này là đồng nhất động, dựa trên sự đa dạng Điều này có hai
nghĩa: Thứ nhất, đó là bản sắc của nền văn hoá dân tộc trong nền văn minh nhất định; Thứ hai, những truyền thống khác nhau của các nền văn minh và
văn hoá thực hiện khả năng bù trừ xác định hay khả năng văn hoá tích cực hướng đến những mục tiêu và giá trị của sự tiến bộ chung trong sự giao lưu hợp lý của mình
Sự giao lưu liên văn hoá hợp lý phải là sự giao lưu song phương và dựa trên sự thấu hiểu liên văn hoá lẫn nhau, trong đó có việc giải thích cho nhau những "văn bản" trong các nền văn hoá khác nhau Điều này có nghĩa là "văn hoá bản địa" với tính cách là "cái bản ngã" và "văn hoá bên ngoài" với tính cách là "cái khác" đều ý thức về đối tác như là cái "khác" xa lạ và siêu việt khỏi cái "ngã", tiến vào cái "khác" để phản ánh nền văn hoá của chính mình trong cái xa lạ Cả cái "ngã" và cái "khác" đều hiển hiện ra trong sự tương phản lẫn nhau
"Văn hoá bản địa" và "văn hoá bên ngoài" đều có thể trở nên kỳ vĩ trong sự lý giải mới về mình Trong hình thức giao lưu liên văn hoá biện chứng này, một sự "đồng tâm chéo" nào đó, được hiểu như một dạng liên văn hoá tích cực, có thể trở thành
Trang 40hiện thực Đó là một sự "đồng tâm" bao hàm khác biệt, một kiểu tương đồng trong
dị biệt, một sự đồng nhất động dựa trên tính đa dạng "Văn hoá bản địa" và "văn hoá bên ngoài" đều có thể siêu việt khỏi bản thân trong sự thấu hiểu lẫn nhau và đạt được tri thức mới mang tính cách tân
Bất kỳ nền văn hoá nào cũng không thể gạt bỏ truyền thống văn hoá đã tiến hoá ở mức độ nhất định Sự thấu hiểu liên văn hoá cũng bao hàm sự thấu hiểu lẫn nhau giữa hai kiểu truyền thống văn hoá động là "văn hoá bản địa" và
"văn hoá bên ngoài" Chú giải học triết học của H.G.Gadamer khẳng định rằng, truyền thống - với tính cách là hợp lưu của những định kiến được lưu giữ bởi lịch sử - chính là tiền đề cho hành vi thấu hiểu mang tính người, đồng thời con người cũng tham dự vào sự tiến hoá của truyền thống thông qua hoạt động lý giải và thấu hiểu sáng tạo của họ Chúng ta có thể áp dụng quan điểm này để lý giải rằng, hai truyền thống khác nhau của "văn hóa bản địa" và "văn hoá bên ngoài" đều đạt được sự hợp lưu và hoà hợp của hai tầm nhìn trong sự thấu hiểu lẫn nhau của chúng, do đó thúc đẩy sự tiến hoá của chính mình trong sự giao lưu liên văn hóa
Tính liên văn hoá là một thuộc tính bản chất, là chức năng của thấu hiểu liên văn hoá và cũng là kết quả của giao lưu liên văn hóa Một mặt, nó biểu thị một vai trò trung gian xuất hiện trong sự tương tác và lý giải đối với "văn hoá bản địa" và "văn hoá bên ngoài", nó giống như quy tắc "trung dung" của Nho giáo Mặt khác, nó có nghĩa là hai nền văn hoá khác nhau tạo nên sự
"đồng tâm chéo" nào đó trong khi cùng lý giải, xây dựng lẫn nhau và thực hiện sự đồng nhất trong đa dạng văn hoá Giao lưu liên văn hoá làm cho các quan hệ phức tạp của sự tương đồng và dị biệt đan xen vào nhau, biểu hiện thành một số phương thức như tính bù trừ, tính cân xứng hay bất hoà và bất cân xứng Nếu không có giao lưu, sự bất hoà và bất cân xứng thái quá - những cái tiêu biểu cho tính liên văn hoá tiêu cực - rất dễ dẫn đến xa cách, thậm chí
là xung đột giữa các nền văn hoá khác nhau Việc tìm kiếm những tương đồng