Đối với đặc điểm cụ thể của nước ta, trải qua thời kỳ chiến tranh khốc liệt kéo dai, nông nghiệp vẫn phát triển với trên 80% dân số làm nghề nông, khi nào mất mùa là khi đó mất trắng, đời sống nhân dân biết bao khổ cực, vất vả. Điều đó gây ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp tới sự phát triển chung của cả dân tộc.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong tình hình yêu cầu phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ như hiện nay,
sự nghiệp của toàn dân tộc nói chung cũng như sự nghiệp phát triển ngành thủylợi nói riêng đã và đang tiếp tục lựa chọn các giải pháp và bước đi thích hợp đểphục vụ cho mục tiêu chung
Dân tộc ta từ xa xưa đã biết lấy thuỷ lợi làm cơ sở cho sự tồn tại và pháttriển Cùng với các hoạt động như đào kênh rạch, khai phá đất đai, đắp đê, ngăn
lũ lụt, xây dựng đất nước Việt Nam như ngày nay, cùng với sự phát triển chungcủa nhân loại về khoa học và công nghệ Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng SảnViệt Nam, được nhà nước đầu tư to lớn, được nhân dân hết lòng ủng hộ đãgiành được những kỳ tích to lớn, không những thuỷ lợi mang lại hiệu quả kinh
tế mà còn mang ý nghĩa chính trị - xã hội hết sức quan trọng và to lớn
Đối với đặc điểm cụ thể của nước ta, trải qua thời kỳ chiến tranh khốc liệtkéo dai, nông nghiệp vẫn phát triển với trên 80% dân số làm nghề nông, khi nàomất mùa là khi đó mất trắng, đời sống nhân dân biết bao khổ cực, vất vả Điều
đó gây ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp tới sự phát triển chung của cảdân tộc Chính vì vậy chúng ta thấy được tầm quan trọng to lớn như thế nào của
sự phát triển ngành thuỷ lợi
Chính vì lý do đó mà trong chiến tranh cũng như trong giai đoạn hoàbình, khi đất nước gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn về đủ mọi mặt thì côngtác thủy lợi vẫn được Nhà nước ta tập trung đầu tư phát triển cùng với sự ủng
hộ to lớn của nhân dân nên đã giành được những thành tích quan trọng, gópphần vào những chuyển biến và thành công của sản xuất nông nghiệp, biến đổinông thôn, phòng ngừa thiên tai, bảo đảm an toàn cho nhiều khu vực Do đó màthuỷ lợi luôn được nhấn mạnh là “ biện pháp hàng đầu trong nông nghiệp”
Tuy có nhiều thành tựu song để sử dụng đạt hiệu quả cao nhất, mang lợiích tốt nhất thì ngành thuỷ lợi vẫn gặp phải không biết bao khó khăn Tính đếnthời điểm này, không chỉ các nước đang phát triển như Việt Nam mà còn biếtbao quốc gia khác kể cả các nước phát triển cũng không thể giải quyết xong vấn
đề thuỷ lợi
Với những thành tựu đã đạt được và cả những hạn chế đang tồn tại trongđầu tư thuỷ lợi, trước tất cả những thách thức đang đặt ra đòi hỏi chúng ta phải
Trang 2tiếp tục nghiên cứu, xác định phương hướng đầu tư phát triển thủy lợi trong sựphát triển chung của ngành và toàn bộ nền kinh tế quốc dân Cùng với việctăng trưởng và phát triển mọi mặt trong nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu vềlương thực thực phẩm thì ở nhiều nước trên thế giới, sự phát triển thủy lợi đãtrở thành quy mô quốc gia Đối với Việt Nam đang trong quá trình Công nghiệphoá- Hiện đại hoá đất nước vì vậy yêu cầu đầu tư phát triển thuỷ lợi lại càngcần thiết hơn bao giờ hết.
Với ý nghĩa to lớn và sâu sắc đó, em xin trình bầy đề tài: “ Một số vấn đềquản lý đầu tư phát triển ngành thủy lợi Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010”làm luận văn tốt nghiệp của mình
* Mục đích nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp nhằm góp phần:
- Sáng tỏ các vấn đề trong lý luận, phương pháp luận về đầu tư, vai trò nhiệm
vụ của thuỷ lợi từ đó làm rõ và hiểu sâu sắc hơn về sự cần thiết phải đầu tư vàothủy lợi
- Phân tích và đánh giá thực trạng đầu tư và hoạt động quản lý dự án đầu tưphát triển thuỷ lợi ở nước ta hiện nay
- Đề xuất các phương hướng và giải pháp nâng cao quản lý đầu tư phát triểnthủy lợi
* Đối tượng nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp:
Tình hình chung của công tác thuỷ lợi, sự hoạt động triển khai của ngànhthủy nông, các công trình thuỷ lợi nói chung, đi sâu nghiên cứu tình hình đầu tưvào thuỷ lợi, công tác quản lý của các cơ quan chức năng trong hoạt động đầu
tư phát triển thuỷ lợi Mặt khác, đối tượng chủ yếu của thuỷ lợi lại nhằm phục
vụ nông nghiệp nên ta lấy các chỉ tiêu về sản lượng lương thực, các công trìnhđược thực hiện làm đối tượng phân tích trực tiếp
Trang 3quan điểm, phương hướng, một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tưphát triển thuỷ lợi của quốc gia, mang lại tác động hữu ích và cao nhất có thểđối với toàn bộ nền kinh tế nói chung và riêng ngành nông nghiệp nói riêng.
* Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn bao gồm 3 phần:
Trang 4CHƯƠNG I:
LÝ LUẬN CHUNG
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
1 Khái niệm đầu tư và bản chất của đầu tư
1.1 Khái niệm đầu tư
“Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó.” 1
Nguồn lực ở đây có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động
và trí tuệ Những kết quả có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính ( tiền vốn),tài sản vật chất ( nhà máy, đường sá, các của cải vật chất…) và nguồn nhân lực
có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội.Những kết quả đạt được từ việc đầu tư này thì cả nền kinh tế được thụ hưởngchứ không chỉ riêng các nhà đầu tư Đó chính là khái niệm đầu tư hiểu theonghĩa rộng
Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó.
Tóm lại, thuật ngữ “ đầu tư” có thể được hiểu đồng nghĩa với “ sự bỏ ra”,
“ sự hy sinh” Vì vậy, có thể coi “đầu tư” là sự bỏ ra, sự hi sinh những cái gì đó
ở hiện tại nhằm đạt được những kết quả có lợi cho người đầu tư trong tương lai
1.2 Bản chất của đầu tư
Quá trình tiến hành một công cuộc đầu tư là kể từ khi bắt đầu chi phí cácnguồn lực cho đến khi các thành quả của quá trình đầu tư phát huy tác dụng vàngừng hoạt động Có rất nhiều công việc phải làm với tính chất kỹ thuật rất đadạng, đòi hỏi phải sử dụng kiến thức của rất nhiều ngành kinh tế, kỹ thuật, phảibiết sử dụng và phối hợp trong việc sử dụng đội ngũ các chuyên gia thuộc các
1 Giáo trình kinh tế đầu tư; NXB Giáo dục, 1998; Chủ biên PGS TS Nguyễn
Ngọc Mai, tr 16
Trang 5lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật khác nhau vào quá trình thực hiện đầu tư theo từnggiai đoạn và toàn bộ các công cuộc đầu tư.
Hơn nữa, hoạt động đầu tư đòi hỏi một số vốn rất lớn và để nằm khêđọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư Đây là cái giá rất lớn phải trả củahoạt động đầu tư nói chung Bên cạnh đó, thời gian để tiến hành một công cuộcđầu tư cho đến khi các thành quả của nó phát huy tác dụng mất khá nhiều thờigian, công sức và rất nhiều rủi ro có thể xảy ra bất kỳ lúc nào
Tuy nhiên, các thành quả của nó lại có giá trị sử dụng lâu dài và có ảnhhưởng lớn đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội nếu như hoàn thành đượccác chỉ tiêu đã đề ra
2 Phân loại hoạt động đầu tư2
Hoạt động đầu tư được các nhà quản lý kinh tế phân loại theo nhiều tiêuthức khác nhau, tuỳ theo mục đích sử dụng, đáp ứng cho từng nhu cầu quản lýkhác nhau
- Phân chia theo bản chất của các đối tượng đầu tư hoạt động đầu tư:
đầu tư cho các đối tượng vật chất, đầu tư cho các đối tượng tài chính, đầu tưcho các đối tượng phi vật chất
- Phân chia theo cơ cấu tái sản xuất: đầu tư theo chiều rộng, đầu tư theo
chiều sâu
- Phân chia theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội của các kết quả đầu tư:
đầu tư phát triển, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, đầu tư phát triển cơ sở hạtầng…
- Phân chia theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư: đầu tư cơ
bản nhằm tái sản xuất các tài sản cố định, đầu tư vận hành các tài sản lưu độngcho các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ mới hình thành
- Phân theo giai đoạn hoạt động của các kết quả đầu tư trong quá trình sản xuất xã hội: Đầu tư thương mại, đầu tư sản xuất
- Phân theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng: đầu tư ngắn hạn,
đầu tư dài hạn
- Phân theo nguồn vốn: Nguồn vốn huy động trong nước, nguồn vốn huy
động của nước ngoài
2 Giáo trình kinh tế đầu tư; NXB Giáo dục, 1998; Chủ biên PGS TS Nguyễn
Ngọc Mai, tr 38
Trang 6Có rất nhiều khái niệm cũng như cách phân loại khác nhau về hoạt độngđầu tư, tuy nhiên, xuất phát từ bản chất và lợi ích của đầu tư đem lại thì cáchphân loại đầu tư quan trọng và có ý nghĩa nhất là phân thành: đầu tư tài chính,đầu tư thương mại và đầu tư tài sản vật chất và sức lao động.
* Đầu tư tài chính: Đầu tư tài sản tài chính không tạo ra sản phẩm mới
cho nền kinh tế mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức, cá nhân đầu
tư cũng là một loại đầu tư tài chính tuy nhiên với mục đích thu lời cá nhân thì bịcấm vì gây ra nhiều tệ nạn cho xã hội Đây là loại hình đầu tư trong đó người cótiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất địnhtrước hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh củacông ty phát hành
Với sự hoạt động của hình thức đầu tư tài chính, vốn bỏ ra đầu tư đượclưu chuyển dễ dàng, khi cần có thể rút ra một cách nhanh chóng Do đó nókhuyến khích người có tiền bỏ ra đề đầu tư Đây là một nguồn cung vốn lớn vàquan trọng bậc nhất cho đầu tư phát triển
* Đầu tư thương mại: Đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình
lưu thông của cải vật chất cho đầu tư phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tưphát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản xuất,kinh doanh dịch vụ nói riêng và cả nền sản xuất xã hội nói chung Đây là loạihình đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để mua hàng hoá và sau đó bán ravới giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua vào và bán ra.Loại hình đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, mà chỉ làmtăng tài sản của chính người đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giaoquyền sở hữu hàng hoá giữa người bán với người đầu tư và với khách hàng củahọ
* Đầu tư tài sản vật chất và sức lao động: Đây là loại hình đầu tư trong
đó người có tiền bỏ ra để tiến hành các loại hoạt động nhằm tạo ra tài sản mớicho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hộikhác, là điều kiện chủ yếu để tạo ra việc làm, nâng cao đời sống của mọi ngườidân trong xã hội Ví như, bỏ tiền ra để xây dựng nhà cửa, sửa chữa nhà cửa vàcác kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, lắp đặt chúng trên nền bệ và bồidưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền vớihoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội.Nói tựu chung lại, đây là loại hình đầu tư quan trọng nhất hay đầu tư phát triển
Trang 7Đầu tư phát triển này là điều kiện chủ yếu để tạo ra công ăn việc làm,nâng cao mức sống của toàn dân trong xã hội cũng như góp phần cải tạo, pháttriển đất nước Là quá trình sử dụng vốn đầu tư nhằm tái sản xuất giản đơn vàtái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung vàcủa địa phương ngành, của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ nói riêng.
3 Vai trò của hoạt động đầu tư phát triển
3.1 Đối với nền kinh tế
3.1.1 Đầu tư vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu của nền kinh tế
- Về mặt cầu: Theo như số liệu của Ngân hàng thế giới ( World Bank),
đầu tư chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế ( khoảng từ24-28%) trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các quốc gia trên thế giới Đối vớitổng cầu, tác động của đầu tư là ngắn hạn, với tổng cung chưa kịp thay đổi, sựtăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng, kéo theo sản lượng cân bằng tăngtheo và dẫn tới giá và các đầu vào của đầu tư cũng tăng theo Hay muốn tiếnhành mua máy móc thiết bị thì phải có tiền để đầu tư và tiến hành huy động cácnguồn lực nhàn rỗi đang “ nằm chết” trong dân vào hoạt động kinh tế Khi đó,các tiềm lực này mới được khai thác và đem lại hiệu quả nhất định nào đó nhưtạo việc làm, tăng thu nhập, tăng ngoại tệ…
- Về mặt cung: Đầu tư đi vào hoạt động, mang lại hiệu quả cho xã hội,
các nguồn đầu ra, các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung hay nóichính xác hơn là tổng cung dài hạn sẽ tăng lên, làm cho sản lượng tiềm năngtăng và giá cả sản phẩm giảm Với giá cả giảm ở mức độ nhất định nào đó,điều tất yếu là sẽ kích thích tăng tiêu dùng trong đại đa số các bộ phận Và đó lànguyên nhân khiến cho sự sản xuất sản phẩm tiêu dùng, dịch vụ lại có lý do để
mở rộng và phát triển Sản xuất kinh doanh phát triển chính là điểm cốt lõi, lànòng cốt của sự phát triển xã hội, của sự tăng tích luỹ, của sự giàu có, của sựgia tăng thu nhập người lao động và hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn củamọi người dân trong xã hội Đó chính là mục tiêu hướng tới
3.1.2 Đầu tư có tác động hai mặt tới sự ổn định kinh tế
Bất cứ một hoạt động nào hầu như cũng đều có tác động hai mặt, khôngthể tránh khỏi, đầu tư cũng không phải là ngoại lệ: Dù là tăng hay giảm, đầu tưcũng cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định, vừa là yếu tố phá vỡ sự ổnđịnh của nền kinh tế của mọi quốc gia Lý do là vì nó tác động không đồng đều
Trang 8về mặt thời gian đối với tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế Ví như, khităng đầu tư, cầu của các yếu tố của đầu tư tăng làm cho giá của hàng hoá có liênquan ( như giá chi phí vốn, giá công nghệ, lao động, vật tư) đến một mức độnào đó sẽ dẫn đến tình trạng lạm phát Đến lượt mình, lạm phát làm cho sảnxuất đình trệ, đời sống ucả người lao động gặp nhiều khó khăn do tiền lươngngày càng thấp, thâm hụt ngân sách, kinh tế sẽ phát triển chậm lại Mặt khác,tăng đầu tư làm cho cầu của các yếu tố có liên quan tăng, sản xuất của cácngành này phát triển, thu hút thêm lao động, giảm tình trạng thất nghiệp, nângcao đời sống người lao động, giảm tệ nạn xã hội Tất cả những tác động này tạođiều kiện cho sự phát triển kinh tế.
Ngược lại, khi giảm đầu tư thì nó cũng có tác động hai mặt đến nền kinh
tế mỗi quốc gia Một mặt, khi giảm đầu tư sản xuất của các ngành chậm pháttriển do thiếu vốn, giảm lực lượng lao động dẫn đến tình trạng thất nghiệp, đờisống của người lao động cũng giảm… Mặt khác, khi giảm đầu tư thì giá cáchàng hoá có liên quan không tăng, thậm chí còn giảm khi đó nó sẽ giảm đượctình trạng lạm phát Chính vì sự tác động hai mặt rất phức tạp của đầu tư đốivới tình hình kinh tế của quốc gia, nên vai trò, trách nhiệm của các nhà hoạtđộng kinh tế vĩ mô là hết sức khó khăn, vất vả Làm sao để hạn chế tối đa, kiểmsoát trong tầm tay những ảnh hưởng tiêu cực, và phát huy tận lực mọi tiềmnăng, mọi cống hiến mà đầu tư đem lại cho toàn bộ nền kinh tế Với tất cả nỗlực quản lý, mục tiêu cuối cùng là làm sao duy trì sự ổn định và phát triển nềnkinh tế quốc dân ngày một đi lên
3.1.3 Đầu tư với việc tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất nước.
Với những đặc tính riêng biệt vốn có của mình, bất cứ một quốc gia nàocũng mong muốn có được những tài nguyên công nghệ mới nhất, hiện đại nhấtphục vụ cho công cuộc kiến thước nước nhà Tuy nhiên, dù là tự nghiên cứutriển khai bằng sức lao động của các nhà nghiên cứu khoa học hay đi mua lạicủa các nước phát triển đi trước thì đều phải cần có vốn để đầu tư Do đó, tamới thấy được tầm quan trọng của đầu tư là to lớn đến thế nào Mọi phương ánđổi mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu tư sẽ là phương án không khảthi Đất nước ta hiện nay đang trong tiến trình phát triển mạnh mẽ, trong côngcuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở rộng phát triển các thành phần kinh tếthì vai trò của công nghệ lại càng cần thiết và hữu ích hơn bao giờ hết Côngnghệ về nội dung gồm có 4 yếu tố chính: trang thiết bị , kỹ năng của con người,
Trang 9thông tin, tổ chức thể chế Chính vì vậy mà xét về nội dung thì để tăng cườngkhả năng khoa học và công nghệ của đất nước cần phải đầu tư mua sắm trangthiết bị, thu thập thông tin, đào tạo nguồn nhân lực… Đây chính là những côngviệc cụ thể, thiết thực nhất trong giai đoạn hiện nay của nước ta trong tiến trìnhhội nhập và phát triển.
3.1.4 Đầu tư và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa cácvùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo,phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, văn hoá,chính trị… của những vùng có khẳ năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp đểthúc đẩy sự phát triển chung của các địa phương khác, là điều kiện để kiến tạomột đất nước phát triển đồng đều, toàn diện giữa các vùng, miền, địa phươngtrong cả nước Vì lý do hạn hẹp về đất đai và khả năng sinh học nên các ngànhnông, lâm ngư nghiệp để phát triển nhanh với tốc độ cao là điều hết sức khókhăn và khó có thể xảy ra Do đó, cũng như các quốc gia phát triển trên thế giới
đã thực hiện và có kết quả to lớn như ngày nay là nhờ sự chuyển dịch cơ cấukinh tế sang các ngành công nghiệp và dịch vụ Đây chính là điểm cốt lõi của
sự phát triển lâu dài và bền vững cho bất kỳ một quốc gia nào trong điều kiệnhiện nay
3.1.5 Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tốc độ tăng trưởng của bất cứ quốc gia nào muốn giữ ở mức trung bìnhthì tỷ lệ đầu tư phải đạt từ 15-20% so với GDP và tuỳ thuộc vào ICOR mỗinước Ở các nước phát triển, ICOR thường lớn, từ 5-7 do thừa vốn, thiếu laođộng, vốn được sử dụng nhiều để thay thế lao động, do sử dụng công nghệ hiệnđại có giá cao ICOR trong nông nghiệp thấp hơn ICOR trong công nghiệp Do
đó, ở các nước phát triển tỷ lệ đầu tư thường dẫn đến tốc độ tăng trưởng thấp
Ví dụ, ở Mỹ năm 1965 là 12%, năm 1989 là 15%, dẫn đến tăng trưởng1965-1989 là 1.6 lần Ở Nhật: năm 1965 là 28%, năm 1989 là 33%, dẫn đếntăng trưởng 1965- 1989 là 4.3 lần Ngược lại, ở các nước chậm phát triển,ICOR thấp từ 2 -3 do thiếu vốn, thừa lao động nên có thể và cần phải sử dụnglao động để thay thế cho vốn, do sử dụng công nghệ kém hiện đại, giá rẻ ỞViệt Nam, tính bình quân giai đoạn 1995- 1999 thì tỷ lệ vốn đầu tư xã hội sovới GDP đạt 28.2% tốc độ tăng trưởng GDP theo giá so sánh là 7.5% và hệ sốICOR là 3.8 lần
Trang 10Chỉ tiêu ICOR của mỗi nước phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, thay đổitheo trình độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách trong quốc gia đó.
3.2 Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ
3.2.1 Đầu tư quyết định sự ra đời của các cơ sở.
Để tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở sảnxuất kinh doanh dịch vụ nào thì phải có vốn đầu tư để xây dựng nhà xưởng, cơ
sở hạ tầng, trang thiết bị, lắp đặt máy móc, xây dựng cơ bản và rất nhiều cáckhoản chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sởvật chất kỹ thuật vừa tạo ra
Chính vì vậy, có thể nói rằng không thế có cơ sở sản xuất kinh doanhdịch vụ nào muốn ra đời mà không cần đến vốn đầu tư Do đó, đầu tư chính làyếu tố đầu tiên, yếu tồ tiền định cho sự ra đời của bất cứ một cơ sở nào
3.2.2 Đầu tư quyết định sự tồn tại của cơ sở.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ sở cần có vốn đầu tư
để tiến hành duy trì, bảo dưỡng hay thay thế các thiết bị máy móc đã hao mòn,hỏng hóc để chúng thích ứng kịp thời với điều kiện hoạt động mới của sự pháttriển khoa học - kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nhân dân
Với các cơ sở vô vị lợi đang tồn tại để duy trì sự hoạt động ngoài tiếnhành sửa chữa lớn định kỳ các cơ sở vật chất kỹ thuật còn phải thực hiện cácchi phí thường xuyên Tất cả các hoạt động này đều là những hoạt động đầu tư
Chính vì lẽ đó, đầu tư được coi là nhân tố duy trì sự hoạt động của mọi
cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ
3.2.3 Đầu tư quyết định sự phát triển của các cơ sở
Không chỉ xây dựng nhà xưởng rồi sửa chữa chúng xong rồi để đó, bất
cứ cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ nào ra đời cũng đều nhằm mục đích thulợi nhuận, tìm ra chỗ đứng vững chắc trên thị trường, phát triển sản phẩm, tạotính cạnh tranh Do đó, các doanh nghiệp lại cần tiếp tục có vốn để đầu tư vàokhoa học, công nghệ thích hợp, đào tạo cán bộ quản lý và công nhân lành nghề,
mở rộng xúc tiến bán hàng, quảng bá sản phẩm, giao tiếp với khách hàng, quầnchúng…
Với các ý nghĩa to lớn như trên, tựu chung lại một điều có thể kết luận:Trong mọi nền kinh tế, đầu tư đóng vai trò chủ đạo, quan trọng không thểkhông tồn tại, nó là nhân tố đầu tiên, nhân tố quyết định sự ra đời, tồn tại và
Trang 11phát triển của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ nói riêng và sự ổn định đilên của toàn bộ nền kinh tế nói chung.
II ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH THUỶ LỢI
1 Ngành thuỷ lợi
1.1 Khái niệm thuỷ lợi 3
Thuỷ lợi là lĩnh vự kinh tế, kỹ thuật rộng lớn gồm nhiều hoạt động đấu tranh với tự nhiên để khai thác mặt khác có lợi của nguồn nước trên và dưới mặt đất phục vụ sản xuất và đời sống đồng thời hạn chế những tác hại của nước gây ra đối với sản xuất và đời sống con người.
1.2 Vai trò của thuỷ lợi đối với nền kinh tế
1.2.1 Góp phần phát triển sản xuất lương thực
Thuỷ lợi góp phần thâm canh tăng năng suất cây trồng, biến đổi cơ cấucây trồng theo hướng có lợi, góp phần gia tăng tổng sản lượng và giá trị tổngsản lượng cây trồng Do cung cấp đủ lượng nước cho nhu cầu sinh trưởng vàtiêu thoát kịp thời đã làm cho năng suất cây trồng tăng thêm được từ 20-30 %theo tài liệu của FAO, các loại giống mới có tưới tiêu hợp lý đạt được 80-90%năng suất thí nghiệm, nếu không sẽ chỉ đạt 30-40% Không những thế, thuỷnông cũng cần dùng nước để cải tạo đất thông qua việc thâu chua, rửa mặn…làm cơ sở để áp dụng các thành tựu mới của khoa học kỹ thuật nông nghiệp nên
đã làm cho năng suất cây trồng tăng cao
Toàn thế giới có 14% diện tích canh tác được tưới nước và 8.2% diệntích được tiêu, những giá trị sản phẩm nông nghiệp thu được trên diện tích nàychiếm 38% tổng giá trị nông nghiệp trên toàn thế giới, ở Việt Nam có khoảng36.1% diện tích canh tác được tưới và 21.4% được tiêu đã cho số sản phẩmnông nghiệp thu được trên đó chiếm tới 68% tổng sản phẩm nông nghiệp Tuynhiên, sự phát triển đó là không đồng đều giữa các quốc gia, đặc biệt ở các quốcgia đang phát triển thuỷ lợi thực sự còn yếu kém và có chăng mới phát triển từgiữa thế kỷ 20 trở lại đây Vì vậy, dù dân số thế giới trong hơn 40 năm qua đãtăng trên 2 lần và mặc dù hầu hết đất đai canh tác đã được loài người sử dụngsong nhìn chung lương thực bình quân đầu người của thế giới vẫn tăng nhanh
3Giáo trình kinh tế thuỷ nông; Đại học Thuỷ Lợi
Trang 12hơn mức tăng dân số Trong thập kỷ 80, bình quân lương thực đầu người trênthế giới tăng 5%.
Chính vì vậy, thủy lợi được coi là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhấttrong phát triển ngành nông nghiệp Có tồn tại và phát triển hay không phụthuộc rất lớn vào quá trình triển khai đầu tư hoạt động các dự án thủy lợi
1.2.2 Góp phần phát triển trồng cây công nghiệp và cây ăn quả
Bên cạnh đó, thuỷ lợi còn góp phần tạo điều kiện cho chuyển dịch câytrồng vật nuôi, phục vụ sản xuất muối và nuôi trồng thuỷ sản Ngoài diện tíchlúa ra, thuỷ lợi còn đảm bảo tưới tươi cho hệ thống trồng hoa màu, cây côngnghiệp Hàng năm các công trình thuỷ lợi đã được khai thác tổng hợp phục vụgiao thông, thuỷ sản, thuỷ điện, du lịch, góp phần tạo việc làm tại chỗ.4
Thuỷ lợi chính là nhân tố đóng vai trò quan trọng trong việc ứng dụngcác tiến bộ khoa học công nghệ mới nhằm phát triển cây công nghiệp và cây lâunăm Với thuỷ lợi, cây ăn quả đã phát triển nhanh cả về diện tích và sản lượng.Không những thế, thuỷ lợi còn góp phần tạo ra sản phẩm hàng hoá nông sảnvừa đáp ứng tiêu dùng trong nước và tăng nhanh khối lượng kim ngạch xuấtkhẩu các mặt hàng nông sản của Việt Nam ra thị trường các quốc gia trên thếgiới Việt Nam bình quân của 17 năm (1986-2002) so với bình quân 5 nămtrước đó, sản lượng tăng 64%, mía tăng 3 lần, đỗ tương tăng 67%, cao su tănghơn 5 lần Đặc biệt sản phẩm chủ lực là cà phê trở thành mặt hàng xuất khẩuthứ hai sau gạo Năm 1995 là 268 tấn lên đến 698 nghìn tấn năm 2000 Cây loại
ăn quả đặc sản có chất lượng cao phát triển mạnh, nhất là nho, vải thiều, nhãn…
đã mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội rõ nét ở nhiều vùng Nam Bộ, miền núiphía Bắc
1.2.3 Cấp nước cho ngành công nghiệp và các ngành kinh tế khác
Với sự phát triển và đi lên nhanh chóng như hiện nay của nước ta, để cóthể đáp ứng nhu cầu về nước cho ngành công nghiệp và các ngành kinh tế quốcdân khác, việc cấp nước của các công trình thuỷ lợi sẽ phải nỗ lực và cố gắngrất nhiều
Trong giai đoạn xây dựng công nghiệp hoá, nguồn nước giữ vai trò quantrọng thứ hai trong giai đoạn phát triển này Tính đến năm 1999 nguồn nước docác hệ thống cung cấp nước sạch cho các khu công nghiệp, thành phố, thị xã vàmột số thị trấn mới phục vụ được cho trên 20 triệu dân và hàng năm mới sử
4Giáo trình kinh tế thuỷ nông; Đại học Thuỷ Lợi
Trang 13dụng khoảng 0.6 tỷ m3 nước ngầm dưới đất Hầu hết các hộ gia đình còn lại đềudùng nước tự nhiên hoặc nước chưa được xử lý thành nước sạch Các công trìnhthuỷ lợi cung cấp trên 5 tỷ m khối nước công nghiệp và dân sinh Các côngtrình thuỷ lợi lớn sử dụng tổng hợp nguồn nước như Hoà Bình, Trị An, Thác
Bà, Thác Mơ… tham gia cắt lũ, cấp nước cho hạ du, cấp điện cho lưới điệnquốc gia trên 10 tỷ kwh/năm và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển giaothông, thuỷ sản, du lịch…
Bên cạnh việc góp phần cung cấp nước cho ngành nông nghiệp, thuỷ lợinói chung hay cụ thể là công tác công trình thuỷ lợi nói riêng đã cung cấp mộtlượng nước đầy đủ và đảm bảo yêu cầu cho các ngành công nghiệp và cácngành khác có liên quan, nhằm phát triển một nền kinh tế xã hội chung ở nước
ta, việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên nước để phục vụ cho nhiềungành kinh tế giữ vai trò hết sức quan trọng
1.2.4 Củng cố hệ thống đê điều phòng chống, giảm nhẹ tác hại của thiên tai, lũ lụt.
Như bao quốc gia khác đã tiến hành hoạt động và xem xét thì kết luận rút
ra là, nước nào có hệ thống thuỷ lợi đảm bảo thì nền sản xuất nông nghiệp củanước đó phát triển và nâng cao Đó chính là nhờ vai trò củng cố hệ thống đêđiều, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, do vậy mới có thể giúp ích cho pháttriển nông nghiệp và đời sống nhân dân nói chung Thuỷ lợi tiến hành trị thuỷnhư đắp đê, đắp đập, đào sông để chỉnh trị dòng chảy, phòng chống lũ lụt, bãonhằm khắc phục và giảm nhẹ thiên tai cũng những thiệt hại mà nó đem lại
Các công trình thuỷ lợi được xem là cơ sở kinh tế kỹ thuật thuộc kết cấu
hạ tầng nhằm khai thác nguồn lợi của nước và bảo vệ môi trường sinh thái, gópphần xây dựng và bảo vệ tổ quốc Thành quả đạt được trong nông nghiệp vàphát triển nông thôn trong nhiều năm qua là do những chuyển động mạnh mẽcủa đường lối đổi mới của Đảng, đã trở thành động lực thúc đẩy hàng triệunông dân hăng hái sản xuất, cùng với những tiến bộ thành công trong các lĩnhvực khoa học kỹ thuật nông nghiệp, giống, phân bón, bảo vệ thực vật… nhưngđảm bảo cho những chuyển động đó phải khẳng định yếu tố thuỷ lợi đóng vaitrò hàng đầu cho sản xuất nông nghiệp Thực tiễn sản xuất ở các vùng chứngminh rằng, nơi nào được đầu tư phát triển thuỷ lợi giải quyết được tưới tiêu, chủđộng hệ thống đê điều vững chắc, đảm bảo an toàn đời sống và sản xuất củanhân dân thì nơi đó cuộc sống mới ổn định và phát triển
Trang 14Tóm lại, thuỷ lợi là ngành thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, có vai tròhết sức quan trọng đối với công cuộc phát triển đất nước và nâng cao đời sốngnhân dân, lợi ích mà ngành thuỷ lợi đem lại là cải tạo thiên nhiên, chiến thắngthiên tai, hạn hán, lũ lụt, khai thác mặt lợi, ngăn trừ mặt hại, phục vụ quốc kếdân sinh và bao trùm toàn bộ các lĩnh vực, các mặt của đời sống xã hội.
2 Sự cần thiết phải đầu tư vào thuỷ lợi
Xây dựng thuỷ lợi là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt, nó sản xuấttrực tiếp ra tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân, góp phần trực tiếp cảithiện đời sống nhân dân thông qua các công trình tạo ra tích luỹ cho xã hội từlợi nhuận của xí nghiệp Góp phần thực hiện đường lối kinh tế, chính trị, vănhoá, quốc phòng của Đảng
Không những thế, Việt Nam là một đất nước nông nghiệp ( cơ sở cho sựtồn tại, đi lên và phát triển) Trong nông nghiệp, thuỷ lợi là một vấn đề hết sứcquan trọng, nó như là một nhân tố hàng đầu cần cho sự tồn tại của tất cả cáctiểu ngành trong nông nghiệp: cung cấp nước cho trồng trọt, chăn nuôi, bảo vệ
an toàn cho việc phát triển và sản xuất của nhân dân thông qua hệ thống đê điềuchắn lũ và một phần góp cho việc nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân
Một trong những phương hướng thúc đẩy phát triển thuỷ lợi là cầu vốn
để đầu tư mới cho thuỷ lợi gồm có ba giai đoạn: quy hoạch khảo sát thiết kế, tổchức thi công xây dựng công trình, tổ chức quản lý khai thác và sử dụng côngtrình Đầu tư cho thuỷ lợi ở đây chính là đầu tư cho cơ sở hạ tầng mà cơ sở hạtầng lại chính là nền tảng cơ bản cho sự phát triển Chính vì thế, mỗi giai đoạnmuốn thực hiện được đều cần phải có vốn thì mới tiến hành mua nguyên vậtliệu, khoa học công nghệ, trả lương cho người lao động Khi công trình thuỷ lợi
đi vào hoạt động đến một giai đoạn nào đó thì nó cần phải tu sửa nâng cấp, lúc
đó tiếp tục phải có vốn để phục vụ sự hoạt động của công trình Việt Nam ta vớikhoảng 80% dân số sống và làm việc ở nông thôn nên sản xuất nông nghiệp làmặt trận hàng đầu trong nền kinh tế Do đó, hệ thống công trình thuỷ lợi tươngđối phát triển do được Đảng và Nhà nước quan tâm đặc biệt và đầu tư tương đốicao so với các ngành khác Chính vì vai trò vô cùng quan trọng của thuỷ lợi với
sự phát triển kinh tế mà nhu cầu phát triển thuỷ lợi ngày càng trở nên quantrọng cấp thiết Phát triển kinh tế nói chung là sự phát triển toàn diện ở tất cảcác ngành, các lĩnh vực Phát triển vừa phải đảm bảo bền vững về tốc độ ( cảchiều sâu và chiều rộng) có như vậy mới đảm bảo được phát triển bền vững,
Trang 15chính vì những yếu tố đó mà nền kinh tế cần phải có một hệ thống cơ sở hạ tầngđảm bảo đủ lớn xứng đáng là nền tảng vững chắc cho mọi ngành Thuỷ lợikhông nằm ngoài nhiệm vụ đó Phát triển thuỷ lợi trước hết chính là phát triển
cơ sở hạ tầng cho nông thôn thể hiện ở công tác kiên cố hoá kênh mương, cảitạo, nâng cấp hệ thống đê điều, góp phần quan trọng phát triển giao thông nôngthôn và nước sạch nông thôn Phát triển thuỷ lợi cùng với phát triển giao thông,thuỷ điện, môi trường… tạo thành một sự phát triển đồng bộ
Chúng ta đều biết rằng, đầu tư chính là chìa khoá trong chiến lược pháttriển của mỗi quốc gia, một nền kinh tế muốn giữ được tốc độ tăng trưởngnhanh nhất nhất thiết phải đầu tư thoả đáng Điều đó càng đúng với các quốcgia có xuất phát điểm thấp, phát triển kinh tế từ nông nghiệp như nước ta Dovậy nhu cầu cấp thiết của đầu tư cho thuỷ lợi là không còn phải bàn cãi Đâychính là bước đi chiến lược trong tổng thể các chương trình phát triển kinh tế
xã hội của quốc gia trong giai đoạn hiện nay
3 Đặc điểm của đầu tư phát triển ngành thuỷ lợi
- Đầu tư phát triển thuỷ lợi đòi hỏi người và khối lượng vốn lớn Hàngnăm số vốn đầu tư cho các công trình thuỷ lợi chiếm tỷ trọng cao trong tổng sốvốn đầu tư cho ngành nông nghiệp
- Thời gian xây dựng công trình thuỷ lợi thường kéo dài sẽ hay dẫn đếntình trạng thiếu vốn, không sinh hiệu quả…
- Công trình thuỷ lợi thường được xây dựng ở một số vị trí cố định do đóchịu ảnh hưởng của yếu tố thiên nhiên, xã hội…
- Số lao động tham gia xây dựng công trình thuỷ lợi đông do vậy đầu tưvào các công trình thuỷ lợi giải quyết được một số lượng lớn lao động
- Do vốn lớn, thời gian xây dựng kéo dài vì vậy công trình thuỷ lợithường có độ rủi ro cao
- Nguồn vốn đầu tư cho thuỷ lợi chủ yếu là từ Ngân sách Nhà nước vàviện trợ ODA trong đó, phần chính và quan trọng bậc nhất vẫn là từ phía Nhànước Đó có thể là nguồn vốn cấp phát từ ngân sách Nhà nước theo nguyên tắckhông hoàn trả trực tiếp hoặc nguồn vốn tín dụng ưu đãi qua hệ thống ngânhàng Đầu tư phát triển, thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả trực tiếp.Chính vìthế, tất cả các khâu, các mục, giai đoạn trong triển khai thực hiện và quản lý cáccông trình thuỷ lợi đều thuộc phạm vi hoạt động của Nhà nước
Trang 16- Chủ đầu tư trong các dự án thuỷ lợi không phải là người sở hữu vốn mà
là người được trao quyền trực tiếp quản lý và sử dụng vốn
4 Nội dung của đầu tư phát triển ngành thuỷ lợi
4.1 Vốn đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi
- Vốn đầu tư trực tiếp: bao gồm đầu tư cho việc nghiên cứu địa hình, địa
chất, các tài liệu cơ bản phục vụ xây dựng công trình; vốn đầu tư cho công tácthiết kế, vốn đầu tư xây dựng công trình; hạn mục công trình, mua sắm, lắp đặtmáy móc, thiết bị; vốn trang trải những chi phí cần thiết cho công trình, chutrình sản xuất; chi phí ngoài dự kiến
- Vốn đầu tư liên hệ: Là phần vốn đầu tư tăng thêm cho các ngành hưởng
lợi của hệ thống công trình thuỷ lợi làm tăng hiệu quả công trình và tăng thêmsản phẩm cho xã hội
- Nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi: Vốn do Ngân sách Nhà
nước cấp, vốn vay ngân hàng, vốn đóng góp của nhân dân, vỗn từ quỹ thuỷnông của tỉnh, vốn tự có, vốn huy động, vốn tài trợ của các tổ chức trong vàngoài nước, vốn thu từ việc bán sản phẩm…
4.2 Cơ cấu vốn phân theo ngành và vùng
4.2.1 Cơ cấu vốn theo ngành: Đầu tư vào thuỷ nông và đê điều, đầu tư
vào khoa học và công nghệ, đầu tư vào nguồn nhân lực
4.2.2 Cơ cấu vốn theo vùng: Đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông
Cửu Long, miền núi Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Miền Trung, TâyNguyên, Đông Nam Bộ
4.3 Đầu tư, quản lý, khai thác vốn theo quá trình đầu tư
4.3.1 Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Điều tra, khảo sát trước khi tiến hành
xây dựng công trình về các vấn đề sau: điều kiện khí hậu thời tiết, điều kiện khíhậu địa hình, thổ nhưỡng, địa chất; điều kiện xã hội và dân sinh kinh tê; nguồnnguyên liệu là nước trong thiên nhiên
Sau khi điều tra, khảo sát thì tiến hành lập dự án khả thi và thiết kế kỹthuật công trình Khi dự án có thể đi vào sử dụng thiết kế địa hình thì cần phảixác định sơ bộ tổng mức đầu tư nguồn vốn, chi phí xây dựng, khả năng hoànvốn, xác định sơ bộ hiệu quả về mặt kinh tế - xã hội Đây là giai đoạn quantrọng trong quá trình hình thành một dự án đầu tư, trong giai đoạn này công
Trang 17việc của người quản lý đầu tư các công trình thuỷ lợi là phải: xác định danhmục các công trình cần được đầu tư, xác định tổng mức đầu tư, nguồn vốn, địaphương cần tăng cường đầu tư phát triển thuỷ lợi…thẩm định, và quyết địnhduyệt dự án đầu tư phát triển Trong thời gian qua, Nhà nước đã có sự ưu tiên
bố trí vốn lớn cho các công trình trọng điểm Đã có sự phối hợp giữa trungương và địa phương trong việc phối hợp điều hành quản lý song công tác chuẩn
bị kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu, công tác giải phóng mặt bằng còn gặp khókhăn, chậm chễ Công tác thẩm định còn chậm và chưa thực sự hiệu quả…Những điều đó đã làm ảnh hưởng tới tiến độ triển khai thực hiện dự án đầu tưphát triển ngành thuỷ lợi trong thời gian hiện nay
4.3.2 Giai đoạn thực hiện đầu tư: Tổ chức thi công và xây dựng công
trình, thành lập ban quản lý và làm các công việc sau: xin giấy phép chứng nhậnquyền sử dụng đất để xây dựng; chọn tư vấn khảo sát thiết kế công trình; tổchức thi công: tổ chức đấu thầu thi công, ký hợp đồng với đơn vị trúng thầu;thực hiện thi công công trình: điều kiện thi công, quản lý kỹ thuật, chất lượng,vận hành thử nghiệm và nghiệm thu công trình, quyết toán vốn đầu tư
Đây là giai đoạn phát huy cao độ sự quản lý của Nhà nước Về vấn đềnày trong thời gian qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông nghiệp cũng đã có
sự phối hợp giữa các ngành, cơ quan chức năng và địa phương để cùng nhauthực hiện và đã có những kết quả đáng ghi nhận: xây dựng được hơn 80% côngtrình hồ đập loại vừa và lớn, trên 3500 loại hồ đập nhỏ, hơn 3000 cống tưới tiêuloại lớn, trên 1000 trạm bơm nước với tổng công suất 24.8 triệu m3, trên 1000kênh tưới tiêu loại lớn và hàng vạn km kênh mương thác…
4.3.3 Giai đoạn khai thác sử dụng: Phát huy đầy đủ các chỉ tiêu kỹ thuật
của công trình, hoàn trả vốn đầu tư…
Đây là giai đoạn Nhà nước giao cho các địa phương quản lý, khai thác và
sử dụng công trình thuỷ lợi đã xây dựng đầu tư Do đặc điểm như vậy nênthường có sự buôn lỏng quản lý của Nhà nước trong giai đoạn này Nhà nướcchưa có sự đầu tư thích đáng trong việc duy tu, bảo dưỡng công trình, chưa pháthuy cao độ sức dân làm thủy lợi…Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, công tácquản lý đầu tư phát triển đã mang lại nhiều thành công đáng kể: thực hiện tốtcác mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội, công tác đầu tư phát triển thủylợi ngày càng được chú trọng phát triển và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao củanền kinh tế nước nhà Đáp ứng nhu cầu về lương thực, thực phẩm của nhân dân
Trang 18và nhu cầu xuất khẩu sang các nền kinh tế khác bằng việc hàng năm gia tăngsản lượng lương thực Đáp ứng quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôngtheo hướng tiến bộ, trọng điểm, xây dựng và ban hành nhiều văn bản khuyếnkhích đầu tư; áp dụng nhanh chóng các tiến bộ khoa học trên thế giới vào thuỷlợi và công tác quản lý dự án đầu tư phát triển ngành Công tác chuẩn bị đầutư: trong lĩnh vực khảo sát, thiết kế đã ứng dụng công nghệ mới nhất là cácphần mềm tin học trong tính toán, đánh giá tài nguyên nước, lập bản vẽ, quyhoạch thiết kế…công tác đầu tư: trong lĩnh vực xây dựng, thi công đã sử dụngthiết bị mới, công nghệ tiên tiến như sử dụng công nghệ mới chống thấm, côngnghệ chế tạo vật liệu PVC…công tác vận hành kết quả đầu tư: vận dụng phầnmềm vi tính để điều hành hệ thống công trình thủy lợi…
III QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH THUỶ LỢI
1 Khái niệm
Quản lý đầu tư phát triển ngành thuỷ lợi là sự tác động liên tục, có tổchức, định hướng mục tiêu vào quá trình đầu tư ( bao gồm công tác chuẩn bịđầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư) và các yếu tố đầu tư, bằngmột hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế xã hội, tổ chức kỹ thuật và các biệnpháp khác nhằm nâng cao tính hiệu quả của công tác thuỷ lợi trong các ngànhkinh tế quốc dân 5 Quản lý đầu tư là hoạt động có tính liên ngành, do đó, quản
lý hoạt động đầu tư phát triển của ngành thuỷ lợi là yêu cầu khách quan nhằmnâng cao hiệu quả đầu tư Quản lý, theo nghĩa chung, là sự tác động có mụcđích của chủ thể vào các đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu quản lý
đã đề ra
2 Mục tiêu quản lý đầu tư phát triển ngành thuỷ lợi
- Thực hiện thành công các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế, xãhội trong giai đoạn 2006-2010 đối với ngành thuỷ lợi nói riêng và với tiến trìnhphát triển cả quốc gia nói chung Đối với nước ta thời kỳ này, đầu tư cho ngànhthủy lợi là một phần quan trọng trong việc đạt mục tiêu thắng lợi chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chuyển dịch cơ cấukinh tế nhằm thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đẩy nhanh tốc độ tăng
5Giáo trình kinh tế thuỷ nông; Đại học Thuỷ Lợi
Trang 19trưởng kinh tế, đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế nông nghiệptrọng điểm Qua đó, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của ngườilao động như đại hội Đảng IX đã chỉ ra.
- Huy động tối đa và sử dụng hiệu quả cao các nguồn vốn đầu tư, cácnguồn tài lực, vật lực đầu tư cho ngành thủy lợi của các địa phương, của bảnthân ngành và của toàn xã hội Đầu tư sử dụng nhiều loại nguồn vốn trong vàngoài nước, vốn nhà nước và tư nhân, vốn bằng tiền và hiện vật… Quản lý đầu
tư phát triển ngành thuỷ lợi trong giai đoạn hiện nay là nhằm sử dụng hợp lý,tiết kiệm và khai thác có hiệu quả tối ưu các loại nguồn vốn, tài nguyên thiênnhiên, đất đai, lao động và các tiềm năng khác, đồng thời bảo vệ môi trườngsinh thái, chống mọi hành vi tham ô, lãng phí trong sử dụng vốn đầu tư và khaithác các kết quả của đầu tư trong ngành
- Thực hiện đúng các quy định phát luật và yêu cầu kinh tế - kỹ thuậttrong lĩnh vực đầu tư nói chung và trong bản thân ngành thủy lợi nói riêng.Quản lý vĩ mô đối với hoạt động đầu tư nhằm đảm bảo cho quá trình thực hiệnđầu tư, xây dựng công trình theo đúng quy hoạch và thiết kế được duyệt, đảmbảo sự bền vững và mỹ quan, áp dụng công nghệ xây dựng tiên tiến, đảm bảochất lượng và thời gian sử dụng với chi phí thấp nhất, đặc biệt là hiệu quả tối ưu
áp dụng cho phát triển ngành nông nghiệp
3 Công cụ quản lý đầu tư phát triển ngành thuỷ lợi6
Để quản lý thành công và mang lại hiệu quả tối ưu nhất đối với các dự ánđầu tư phát triển thuỷ lợi, Nhà nước cần phải tiến hành sử dụng hàng loạt cáccông cụ quản lý khác nhau Một mặt, phát huy tối đa mọi ưu thế sẵn có củacông cụ đó, mặt khác biết kết hợp để tạo sức mạnh tổng hợp, hỗ trợ nhau của hệthống các công cụ trong tiến trình phát triển ngành
- Các công cụ định hướng cho quản lý dự án: Chiến lược, quy hoạch, kếhoạch, chính sách về đầu tư và quản lý dự án Trong đó quy hoạch là công cụquan trọng nhất, đây là quá trình hoạt động có trọng điểm cho từng thời kỳ, là
dự báo kế hoạch, là chiến lược quyết định các hoạt động đạt tới mục tiêu qua
đó quyết định mục tiêu mới, biện pháp mới Quy hoạch phát triển ngành thuỷlợi là hình thức định hướng phát triển dài hạn Trong đó xác định rõ quy mô vàgiới hạn cho sự phát triển toàn ngành Nó là biện pháp giải quyết các mâu thuẫn
6 Giáo trình Hiệu quả & quản lý dự án Nhà nước, NXB Khoa học & Kỹ thuật, tr 219
Trang 20về thời gian và không gian, tạo ra sự phát triển một cách hài hoà, hợp lý, cóhiệu quả.
- Các công cụ pháp luật: đây là hệ thống các quy phạm đối với các hoạtđộng đầu tư vào dự án Các quy phạm này được thể hiện trong các văn bảnquản lý nhà nước về đầu tư và quản lý dự án đầu tư phát triển ngành thuỷ lợi
- Các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư và quản lý dự án, bao gồm cả
cơ cấu tổ chức và con người trong các cơ quan này Đội ngũ cán bộ thực hiện
và quản lý dự án: Thiếu công cụ này, nhà quản lý dự án không thể hoàn thànhđược công việc của mình Nhiều dự án đầu tư, do đội ngũ cán bộ còn yếu kém,năng lực chuyên môn chưa sâu nên gặp rất nhiều khó khăn trong công tác triểnkhai dự án
- Hệ thống đảm bảo thông tin cho quá trình quản lý vĩ mô các dự án Đây
là công cụ đắc lực trong tay các nhà quản lý dự án để thu nhận, xử lý, lưu trữ vàtruyền đạt thông tin lại cho các đối tượng mà ở đây cụ thể là các tổ chức, địaphương nơi đặt công trình Qua đó, nó đảm bảo cho các nhà quản lý thực hiệnquá trình lập, tổ chức, điều hành và kiểm tra các hoạt động của dự án Đó làđiều kiện tiên quyết nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả của quản lý dự án
4 Cơ chế quản lý
Cũng như bất kỳ hoạt động quản lý nào, quản lý đầu tư phát triển ngànhthuỷ lợi muốn phát huy tốt nhất tác dụng của các công cụ trên thì cần tìm hiểuphương thức phát huy chúng - hay đó chính là làm rõ cơ chế tác động của cáccông cụ quản lý đầu tư phát triển ngành Sự tác động của công cụ quản lý đầu
tư phát triển ngành thuỷ lợi được biểu hiện chủ yếu thông qua ba loại cơ chếsau:
- Cơ chế dẫn dắt: Thông qua việc cung cấp các thông tin hữu quan nhằm
ảnh hưởng tới hành vi hoạt động của các chủ thể tham gia đầu tư dự án, chủ yếu
ở đây là thông tin về tình trạng thực tế của tiến trình dự án đầu tư, phươnghướng phát triển dự án trong tương lai, mục tiêu chính sách của chính phủ vàcác chế độ có liên quan Cơ chế này là phương thức tác động với cường độ rấtyếu
- Cơ chế kích thích: Đây là phương thức tác động quản lý có tính gián
tiếp lên các chủ thể mà ở đây là các chủ dự án đầu tư Gắn liền với việc nângcao lợi ích của các chủ dự án nhằm kích thích phát triển, cải tiến toàn bộ tiếntrình phát triển của dự án nói riêng và ngành thuỷ lợi trong tương lai nói chung
Trang 21Chính vì vậy mà cơ chế này mang tính hai mặt, có khả năng mang lại hiệu quảtích cực đáng kể nhưng cũng có thể gây thiệt hại không nhỏ cho toàn ngành vànền kinh tế xã hội Do đó, các nhà quản lý dự án đầu tư phát triển ngành cầnchú ý phân tích, so sánh một cách toàn diện trước thi mở rộng việc vận dụng cơchế kích thích này.
- Cơ chế cưỡng chế: Cơ chế cưỡng chế là phương thức tác động trực tiếp
nhất, nhanh nhất và có hiệu quả nhất vì nó sử dụng quyền hạn và chức năng củacác nhà quản lý Ở đây, các nhà quản lý đầu tư phát triển ngành can thiệp mộtcách cưỡng chế đối với các hoạt động trong ngành nhằm mục tiêu đầu tư pháttriển tổng thể thuỷ lợi quốc gia
- Tổ chức quản lý theo hình thức chủ nhiệm điều hành dự án: Ở đây, chủđầu tư thành lập một bộ phận chuyên trách, đại diện việc thực hiện quản lý dự
án đầu tư phát triển Chủ nhiệm này phải có năng lực chuyên môn về lĩnh vựcthuỷ lợi tiêu chuẩn cao, có đầy đủ quyền hạn và chịu trách nhiệm về mọi vấn đềxảy ra xung quanh tiến trình thực hiện triển khai dự án Yêu cầu rất cao đối vớichủ nhiệm vì người này có trách nhiệm trực tiếp ký kết hợp đồng, giám sát cácchủ thầu, phân bổ nhân lực, thời gian hoàn thành dự án…Trong tình hình hiệnnay, những dự án lớn, quan trọng được đầu tư ở các khu vực trọng yếu của cảnước như Đồng bằng Sông Hồng, Đồng bằng Sông Cửu Long…hầu như đều ápdụng hình thức tổ chức quản lý này vì những thiết thực mà nó đem lại khôngnhững cho chủ đầu tư, chủ nhiệm mà cả bên thụ hưởng hiệu suất thành quả của
Trang 22phục vụ vụ mùa…Theo hình thức này, chủ đầu tư tổ chức đấu thầu dự án mộtnhà thầu thực hiện toàn bộ mọi công việc của dự án Chủ thầu có trách nhiệmnhư một chủ nhiệm dự án nhưng khác là quan hệ với chủ đầu tư là quan hệ hợpđồng.
- Tổ chức quản lý theo hình thức tự làm: Ở hầu hết các công trình pháttriển thuỷ lợi tại địa phương với quy mô nhỏ, có tính chất chuyên ngành thìhình thức quản lý này thực sự phát huy hiệu quả khi mang lại kết quả cao mà lạicắt giảm tối đa chi phí hoạt động Hình thức này, chủ đầu tư không cần nhờ đếncác nhà thầu trong việc thực hiện các công việc của dự án, mà sử dụng trực tiếplực lượng của mình ví như dân công, bà con nông dân trong địa phương cùngnhau hoàn thành công trình
Có sự phân biệt rõ ràng như vậy là vì chủ đầu tư trong các dự án pháttriển thủy lợi này là Nhà nước Ở đây, có thể là tổng công ty, công ty, cơ quanNhà nước, tổ chức chính trị xã hội được người có thẩm quyền quyết định đầu tưgiao trách nhiệm trực tiếp quản lý dự án Với quyền lợi đó, chủ đầu tư phải đảmbảo các yêu cầu cơ bản của dự án: bảo đảm đúng mục tiêu chiến lược phát triểnkinh tế xã hội trong từng thời kỳ theo định hướng xã hội chủ nghĩa Thực hiệnchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đẩynhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhândân; sử dụng có hiệu quả nguồn vốn của Nhà nước, chống mọi hành vi tham ô,lãng phí trong quá trình triển khai dự án; xây dựng theo quy hoạch kiến trúc vàthiết kế kỹ thuật được duyệt, bảo đảm bền vững, mỹ quan, bảo đảm hiệu quảxây dựng…7
6 Nội dung quản lý các dự án thuỷ lợi
- Giai đoạn 1: Nghiên cứu, xây dựng, thẩm định và ra quyết định đầu tư.
Trong toàn bộ quá trình tiến hành một dự án thuỷ lợi thì đây là giai đoạnquyết định hành động hay không hành động, triển khai hay không triển khai dự
án Với vai trò và tính chất quan trọng của mình, nó đòi hỏi một đội ngũ chuyêngia về lĩnh vực thuỷ lợi phải thực sự giỏi, có tinh thần trách nhiệm cao Qua đó,mới có thể nắm bắt các nhu cầu thực tế từ các ngành, các cấp trong vấn đề thuỷlợi hoá, đến việc luận chứng về mọi khía cạnh để biến những ý tưởng thànhthực tế dự án cụ thể phục vụ cho sản xuất và phát triển xã hội Chính vì vậy màcác nội dung quản lý mà Nhà nước phải tiến hành trong giai đoạn này là:
7 Giáo trình Hiệu quả &quản lý dự án Nhà nước, NXB Khoa học và kỹ thuật, tr 241
Trang 23+ Lựa chọn và quyết định chủ đầu tư cho từng dự án cụ thể, từng dự ánphát triển vùng, miền chuyên biệt Vì vai trò của chủ đầu tư trong các dự ánthuỷ lợi này là cực kỳ quan trọng, do đó, nhằm nâng cao khả năng tác động củacác chủ thể quản lý tới các đặc tính cuối cùng sản phẩm dự án là cao nhất Nhànước cần thực sự quan tâm lựa chọn hợp lý và chính xác.
+ Hướng dẫn chủ đầu tư thực hiện công tác nghiên cứu và lập dự án đầutư
+ Thẩm định dự án và ra quyết định đầu tư Trên cơ sở thẩm định dự án,Nhà nước đưa ra quyết định đầu tư Quyết định đầu tư được người có thẩmquyền quyết định đầu tư thực hiện Nội dung quyết định đầu tư bao gồm: xácđịnh chủ đầu tư và hình thức quản lý dự án thuỷ lợi cụ thể; xác định địa điểm,diện tích sử dụng công trình; xác định công suất thiết kế; xác định tổng mứcđầu tư và nguồn vốn huy động; xác định phương thức thực hiện dự án; thời gianthực hiện và các mốc tiến độ chính của toàn dự án
- Giai đoạn 2: Triển khai thực hiện dự án
Triển khai thực hiện dự án là kết quả của một quá trình chuẩn bị và phântích kỹ lưỡng Trong giai đoạn này các nguồn lực được sử dụng, các chi phíphát sinh, đối tượng dự án từng bước được hình thành Yêu cầu đặt ra trong giaiđoạn này là tiến hành công việc nhanh, đảm bảo chất lượng công việc và chiphí trong khuôn khổ đã được xác định Tuy nhiên, về thực tế thì rất ít các côngtrình thuỷ lợi được tiến hành đúng như kế hoạch, đôi khi không những khôngđảm bảo tiến độ mà còn gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước Chính vì vậy,những công việc quản lý của Nhà nước trong giai đoạn này là cấp thiết và cầncủng cố hơn.Cụ thể: Phê duyệt kế hoạch và kết quả đấu thầu tuyển chọn nhàthầu cho dự án; thẩm định và phê duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán cho côngtrình; cấp giấy phép khai thác; quản lý kỹ thuật và chất lượng xây dựng; quản
lý nghiệm thu công trình; quản lý cấp vốn và thanh toán; thẩm tra và phê duyệtquyết toán
- Giai đoạn 3: Khai thác dự án Đây là giai đoạn hoạt động của dự án.
Giai đoạn này được bắt đầu từ khi kết thúc thực hiện dự án đến hết thời kỳ hoạtđộng của dự án Thời kỳ này đóng vai trò quyết định cuối cùng của toàn bộ chu
kỳ dự án Lợi ích của dự án chỉ được thực hiện ở giai đoạn này.8 Với những vaitrò đó, nội dung quản lý dự án của Nhà nước trong giai đoạn này bao gồm:
8 Giáo trình Hiệu quả & Quản lý dự án Nhà nước, NXB KH&KT, tr 39
Trang 24Giám sát quá trình bàn giao công trình giữa chủ đầu tư và người sửdụng, khai thác dự án mà ở đây cụ thể là địa phương nơi đặt các cơ sở hạ tầng
hệ thống thuỷ lợi Công trình thuỷ lợi này chỉ được bàn giao toàn bộ cho người
sử dụng khi đã xây lắp hoàn thành theo thiết kế được duyệt và nghiệm thu đạtyêu cầu chất lượng; quản lý quá trình kết thúc công trình; quản lý việc bảo hànhcông trình; quản lý nhà nước về quá trình vận hành dự án
Trang 25CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ
PHÁT TRIỂN THUỶ LỢI VIỆT NAM
THỜI GIAN QUA
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÀNH THUỶ LỢI
1 Tiềm năng của ngành
Việt Nam hiện có một nền kinh tế nông nghiệp, tài nguyên nước có ýnghĩa quyết định trong sự phát triển bền vững của đất nước Lịch sử hình thành
và phát triển của dân tộc Việt Nam gắn liền với sự hình thành của hệ thống đêđiều chống lũ hàng ngàn năm với hệ thống kênh rạch để mở mang vùng đấtmới, phát huy mặt lợi của nước, hạn chế mặt hại của nước để tồn tại và pháttriển Cũng chính nhờ lợi thế đó, một nền văn minh lúa nước đã hình thành từnghìn năm ở Đồng bằng sông Hồng và di cư vào đồng bằng sông Cửu Long 300năm trước đây
Sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, thuỷ lợi mới thực
sự trở thành một ngành thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được ưu tiên đầu
tư, đóng vai trò hết sức quan trọng đối với công cuộc phát triển đất nước vànâng cao đời sống nhân dân
- Ngành thuỷ lợi được sự quan tâm đúng đắn của Đảng và Nhà nước
- Điều kiện kinh tế, kỹ thuật của nước ta ngày càng phát triển khá, có khảnăng đầu tư và giải quyết được nhiều vấn đề khó khăn và phức tạp trong lĩnhvực nghiên cứu, thiết kế, xây dựng các công trình thuỷ lợi
- Sự phát triển hợp tác quốc tế ngày càng mạnh, điển hình là sự hợp táccủa Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển Châu Á… trong việc hỗ trợ đầu
tư cho thuỷ lợi của nước ta
Trang 26- Phát triển hợp tác chuyển giao tiến bộ, khoa học - công nghệ bằng việc
áp dụng chúng vào sản xuất và xây dựng các công trình thuỷ lợi
Việt Nam có 2360 con sông, trong đó có 9 hệ thống sông lớn với lưu vực
từ 10.000km2 trở lên như sông Hồng, sông Thái Bình, sông Cửu Long, sôngĐồng Nai Phù sa của sông Hồng và sông Cửu Long đã bồi đắp nên 2 đồngbằng đất đai mầu mỡ, đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, 2vựa lúa lớn của Việt Nam Tổng lượng nước mặt chảy qua lãnh thổ Việt Namtrung bình nhiều năm là 835 tỷ m3, trong đó chỉ có 313 tỷ m3 phát sinh tronglãnh thổ, 522 tỷ m3 từ lãnh thổ các nước khác đổ vào Riêng sông Mê Kông có
505 tỷ m3, sông Hồng và sông Thái Bình có 137 tỷ m3 Hai lưu vực sông này
có tổng lượng dòng chảy chiếm 77% tổng lượng dòng chảy trong cả nước.Lượng nước ngầm khá dồi dào, gần 50 tỷ m3 hàng năm Có thể khai thác 20-30% trữ lượng
Tiềm năng thuỷ điện khoảng 230-300KWh/năm trong đó có thể khai thác90-100 KWh/năm, sông Hồng có tiềm năng thuỷ điện lớn nhất Nước còn tạomôi trường cho vận tải thuỷ và du lịch
Tuy nhiên nguồn nước lại phân bố không đều theo thời gian và khônggian, bình quân cả nước 2,51m3/m2, đồng bằng sông Cửu Long 13m3/m2,đồng bằng sông Hồng 10,5 m3/m2 nhưng vùng cực Nam Trung Bộ (NinhThuận, Bình Thuận) 0,4-0,5 m3/m2 Mùa khô kéo dài 7-8 tháng nhưng lượngmưa chỉ chiếm 20-30%, mùa mưa 4-5 tháng nhưng lượng nước chiếm tới 70-80% tổng số lượng mưa năm Sự phân bố bất lợi đó thường xuyên gây khô hạnkhắc nghiệt trong mùa khô và trong mùa mưa lũ ngập úng đe doạ nghiêm trọng
Khi cách mạng Tháng Tám mới thành công, công trình thuỷ lợi tưới, tiêutrong cả nước chỉ có 13 hệ thống, trong đó có nhiều hệ thống làm dở dang nênkhông đạt năng lực thiết kế, tổng năng lực tưới 30 vạn ha, tiêu 8 vạn ha Đồngbằng Nam Bộ chỉ có một số kênh rạch để giao lưu, còn việc canh tác phải dựavào nước trời, chưa có công trình ngăn mặn, tiêu úng, xổ phèn, giữ ngọt Trung
Bộ, Tây Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc hàng năm đều chịu hạn Đồngbằng sông Hồng nhiều vùng rộng lớn phải bỏ hóa vụ mùa vì bị úng Đê Bắc Bộ
và Thanh Nghệ Tĩnh bình quân 2-3 năm vỡ một lần
Do nhận thức được vị trí quan trọng của công tác thuỷ lợi trong việc bảo
vệ và phát triển đất nước nên Đảng và Chính phủ đã có những quyết định đúngđắn về chủ trương, kế hoạch, chính sách đầu tư thuỷ lợi, phát triển nguồn tàinguyên nước, vạch ra những bước đi thích hợp cho từng giai đoạn
Trang 272 Thách thức
Mức thu thuỷ lợi phí ở mỗi địa phương hiện nay khác nhau, nơi đượcNhà nước đầu tư lớn có hồ đập, công trình tự chảy chi phí cho thuỷ lợi sẽ thấphơn những nơi phải dùng hệ thống bơm điện bơm dầu, tiếp nước theo nhiềuthang bậc Tại một số tỉnh có nguồn thu ngân sách khá đã thực hiện hỗ trợ thuỷlợi phí hoặc giảm thu thuỷ lợi phí cho dân, ngân sách lớn từ Trung ương cấp bùcho các DN thuỷ nông thuộc hệ thống doanh nghiệp công ích và khó có thể tăngnguồn thu thuỷ lợi phí trong nông dân Nếu không tăng thuỷ lợi phí, khi giáđiện tăng, các doanh nghiệp thuỷ nông sẽ tính toán ra sao để trả được tiền điện?
Bên cạnh đó còn 30% diện tích lúa chưa được tưới, 40.000 ha chỉ làmđược 1 vụ nhờ nước trời Vấn đề tiêu úng cho 20 - 25.000 ha chưa được giảiquyết Điều cần quan tâm là phần lớn công trình thuỷ lợi trong vùng đều là đậpdâng sử dụng nước sông, song do phá rừng, nước sông mùa khô cạn đều gâythiếu nước tưới Vì vậy cần xây dựng các công trình điều tiết đầu nguồn để đảmbảo cung cấp đủ nước cho công trình về muà khô
- Tài nguyên nước bắt đầu suy thoái, thiên tai ngày càng là mối đe doạthường xuyên đối với con người
- Tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, nhu cầu về nước của các ngànhkinh tế ngày càng tăng lên nhiều mà thuỷ lợi phải đảm đương được đầy đủ nhucầu đó
- Sức ép về dân số và chất lượng cuộc sống ngày càng gia tăng
- Mâu thuẫn quyền lợi về nguồn nước của các quốc gia trên thế giới ngàycàng gia tăng
Chính vì tất cả những cơ hội và thách thức trên mà chúng ta thấy rằngđầu tư cho thuỷ lợi ngày càng trở nên quan trọng, một phần góp sức vào phục
vụ sản xuất, một phần góp sức cho việc bảo vệ nguồn tài nguyên nước
Hầu hết các doanh nghiệp khai thác, sử dụng TNN và xả nước thải(XNT) vào nguồn nước đều vi phạm những quy định về bảo vệ môi trường(BVMT) Các dạng vi phạm chủ yếu là hoạt động không phép hoặc chưa thựchiện đúng giấy phép Ví dụ cụ thể như khi kiểm tra tại Tổng Cty Đầu tư Pháttriển nhà và đô thị (HUD) cho thấy, trong 4 Khu đô thị (KĐT) do HUD làm chủđầu tư, chỉ có duy nhất khu Mỹ Đình 2 có quy hoạch trạm xử lý nước thải cục
bộ trước khi thải ra hệ thống sông chung Còn 3 khu đô thị còn lại đều xả thẳngvào hệ thống thoát nước của thành phố Tại KĐT mới Pháp Vân - Tứ Hiệp,nước thải được xả thẳng ra sông Kim Ngưu Tại Cty Cổ phần Xà phòng Hà Nội
Trang 28(đơn vị có nguồn tiếp nhận nước thải là sông Tô Lịch), nước thải của Cty cóhàm lượng BOD và COD cao gấp 4 lần so với chỉ số cho phép Những đơn vịnày đều chưa lập hồ sơ đầy đủ xin cấp phép khai thác nước ngầm và XNT vàonguồn nước theo đúng quy định
Hà Nội vẫn còn nhiều tổ chức, cá nhân tham gia vào việc khai thác nướcdưới đất phục vụ sản xuất công nghiệp, sinh hoạt… chưa xin phép khai thác vàviệc thi công của các đơn vị có thể không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, khôngkiểm soát được lưu lượng khai thác gây ô nhiễm nguồn nước dưới đất…
Bên cạnh đó, tình trạng khai thác, sử dụng TNN không theo quy định đãdẫn đến tình trạng ô nhiễm, suy thoái nguồn TNN cả về số lượng và chất lượng.Thậm chí ở một số vùng mức độ ô nhiễm môi trường nước và mực nước ngầm
đã hạ thấp đến mức báo động Theo chỉ tiêu của Hội TNN, Việt Nam là mộttrong những nước thiếu nước, nếu ngay từ bây giờ Hà Nội không có biện phápquản lý TNN thì không bao lâu nữa sẽ rơi vào tình trạng thiếu nước như các địaphương khác
Mục tiêu đầu tư đã được xác định trong nhiều thời kỳ kế hoạch 5 năm vàhàng năm là tập trung đầu tư để chuyển dịch nhanh cơ cấu đầu tư, tăng hiệu quảcủa nền kinh tế, nhanh chóng hình thành các ngành kinh tế mũi nhọn, các vùngkinh tế trọng điểm, tạo điều kiện cho một số sản phẩm chính của nền kinh tế cóqui mô sản xuất lớn, sức cạnh tranh trên thị trường trong và nước Tuy nhiên,kết quả của nhiều năm đầu tư chưa thực hiện được mục tiêu đề ra
Trong nông nghiệp còn nặng đầu tư vào thuỷ lợi (chiếm hơn 70% vốnđầu tư của ngành), chủ yếu là thuỷ lợi phục vụ cây lúa, việc xây dựng các côngtrình thuỷ lợi tưới cho các cây công nghiệp còn ít, còn coi nhẹ đầu tư thuỷ lợicấp nước cho công nghiệp và dân sinh, cho nuôi trồng thuỷ sản Vốn cho côngtác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, công tác giống, khuyến nông,khuyến lâm, khuyến ngư thời gian đầu chưa được quan tâm thoả đáng (nhữngnăm gần đây đã được điều chỉnh)
Giá điện tăng, thuỷ lợi phí không thể tăng, chỉ có giải pháp đề nghị Chínhphủ tiếp tục hỗ trợ cho các DN công ích thuộc ngành thuỷ nông để duy trì sảnxuất phục vụ nông nghiệp Bên cạnh đó ngành điện cũng nên quy định rõ giá ưuđãi cho các Cty thuỷ nông phục vụ nông nghiệp
Các tỉnh đồng bằng sông Hồng vừa gồng mình chống hạn đầu vụ đôngxuân Bây giờ cây lúa đã kín đồng, thì nỗi lo hạn giữa vụ, nước dưỡng lúa rasao? Đây là năm thứ 3 các tỉnh đồng bằng sông Hồng vượt qua hạn hán để giữ
Trang 29vững sản xuất, với giá thành chi phí cho thuỷ lợi tăng cao, việc thu thuỷ lợi phícàng khó khăn, công nợ tiền điện chống hạn thêm chồng chất Còn ở thời điểmhiện tại, nông dân và các doanh nghiệp thuỷ nông đang nín thở khi nghe tin,ngành Điện vừa trình Chính phủ tăng giá điện trong năm 2006, theo đó, phương
án thấp nhất thì giá điện trung bình cũng tăng trên dưới 14% so với giá hiệnhành
Nếu giá điện tăng ngành thuỷ nông có tính tới chuyện tăng thuỷ lợi phíhay không? Cũng xin nói thêm, những bất cập của thuỷ lợi phí và tiền điện vẫn
là bài toán chưa có lời giải ở các Cty thuỷ nông Chi phí cho thuỷ lợi quá caotrong sản xuất, ba năm gần đây (2004-2006) tỉnh đầu tư khoảng 50-60 tỷđồng/năm cho việc chống hạn Trong số này, ngân sách địa phương hỗ trợ nạovét kênh mương khoảng 6 tỷ đồng, cấp bù lỗ cho các công ty thuỷ nông gần 6
tỷ, cấp chống úng 2,5 tỷ, chống hạn 6 tỷ, cùng với Trung ương hỗ trợ tiền điệnvượt mức chống hạn, chống úng khoảng 15 tỷ Trong khi đó doanh thu củaCty, xí nghiệp thuỷ nông trên địa bàn thu qua thuỷ lợi phí không đủ chi một vụchống hạn, thế nhưng các công ty chỉ trích ra một số ít tỷ đồng trả tiền điệntrong định mức, còn lại chi trả lương, vận hành thiết bị nâng cấp máy móc, tu
bổ công trình, nạo vét kênh mương Theo đó, số dư nợ tiền điện của một sốCty thuỷ nông năm nào cũng ở mức cao
II THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH THỦY LỢI GIAI ĐOẠN 1995 - 1999
1 Tình hình đầu tư phát triển ngành thuỷ lợi
1.1 Tình hình thực hiện các dự án đầu tư ngành thuỷ lợi
Về thuỷ lợi, đến nay cả nước đã xây dựng được 743 hồ đập vừa và lớn,3.500 hồ đập nhỏ, hơn 1.000 cống tưới tiêu lớn, khoảng 10.600 trạm bơm nướclớn và vừa với tổng công suất 24,8 triệu m3/h, trên 1.000 kênh tưới tiêu lớn vàmột mạng lưới kênh tưới tiêu nội đồng với 755.000 máy bơm vừa và nhỏ doHTX và hộ nông dân mua sắm Các công trình thuỷ lợi đã có thể tưới cho 3,7triệu ha đất canh tác, tiêu úng cho 1,5 triệu ha đất canh tác, ngăn mặn cho 80vạn ha Năm 1999, đã đảm bảo tưới cho 6,3 triệu ha gieo trồng lúa, 1 triệu ha
Trang 30màu và cây công nghiệp Hầu hết các công trình thuỷ lợi đều phát huy hiệu quả
ở các mức độ khác nhau Các công trình thuỷ lợi Đồng bằng sông Cửu long đãtạo điều kiện khai hoang, tăng vụ, chuyển từ vụ lúa hè nổi năng suất thấp sang 2
vụ đông xuân và hè thu có năng suất cao, ăn chắc Diện tích lúa đông xuânđồng bằng Sông Cửu Long tăng từ 820 ngàn ha năm 1991 lên 1,35 triệu ha năm
1998, diện tích lúa hè thu tăng tương ứng từ 1,05 triệu ha lên 1,8 triệu ha Cáccông trình thuỷ lợi ở miền Trung và Tây Nguyên đã góp phần làm thay đổi bộmặt kinh tế xã hội của vùng
Cấp nước sạch 1,2 triệu m3/ngày đêm, tỷ lệ số dân được cung cấp nướcsạch đến năm 2000 đạt 60% so với mục tiêu 80% năm 2000
Toàn vùng đã xây dựng được 894 công trình các loại với năng lực tướithiết kế 215.847 ha và năng lực tưới thực tế là 147.580 ha, diện tích gieo trồnglúa được tưới là 332.674 ha
1.1.1 Trong lĩnh vực tưới tiêu, cung cấp nước:
Đã xúc tiến xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển tài nguyên nước trêncác lưu vực sông lớn bao gồm đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông CửuLong, làm cơ sở cho việc xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xãhội của 2 đồng bằng này (Dự án quy hoạch tổng thể đồng bằng sông HồngVIE/89/034-677/TTg 23/8/97, Định hướng dài hạn và kế hoạch 5 năm 1996-
2000 đối với việc phát triển thuỷ lợi giao thông vận tải và xây dựng nông thônđồng banừg sông Cưủ Long, 99/TTg 9/2/1996)
Trên các vùng lãnh thổ cũng đã xúc tiến quy hoạch hoặc định hướng quyhoạch làm cơ sở cho đầu tư Trọng tâm của việc xây dựng thuỷ lợi trong giaiđoạn này là phát triển hệ thống tưới tiêu, đảm bảo sản xuất lương thực và củng
cố hệ thống đê điều phòng chống lũ ngăn mặn để mở rộng sản xuất Tính đếnnăm 1995 ngành thuỷ lợi Việt Nam đã có hệ thống các công trình thuỷ lợi vớinăng lực thiết kế tưới cho 3 triệu ha, tiêu 1,4 triệu ha, ngăn mặn 700ngàn ha.Hình thành 75 hệ thống thuỷ nông lớn và vừa, 750 hồ chứa nước lớn và vừa,trên 10.000 hồ chứa nhỏ, 2000 trạm bơm điện lớn và vừa có công suất 450MW,
30 vạn máy bơm dầu Đã tưới 5,6 triệu ha gieo trồng lúa (tăng so với năm 1985
là 1 triệu ha), tiêu úng 86,5 ngàn ha, tưới cho hoa màu và cây công nghiệp 560ngàn ha, tiêu úng xổ phèn cho 1,6 triệu ha, cải tạo 70 vạn ha đất mặn ven biển,tạo nguồn nước cung cấp cho hàng chục triệu dân ở nông thôn, thành thị, cungcấp nước ăn cho đồng bào vùng cao, cho các khu công nghiệp, các khu định
Trang 31canh định cư, vùng chuyên canh cây ăn quả và cây công nghiệp Riêng diện tíchtrồng lúa được tưới chiếm 80% tổng diện tích lúa trong cả nước Đây là một tỷ
lệ cao về đất nông nghiệp được tưới so với các nước trên thế giới
1.1.2 Trong lĩnh vực đê điều:
Hệ thống đê điều đã hình thành 7700km, trong đó đê sông 5700km, đêbiển 2000km và gần 3000km đê bao ngăn lũ ở đồng bằng sông Cửu Long Hệthống đê điều, đặc biệt hệ thống đê sông Hồng và sông Thái Bình, có vị trí sốngcòn trong việc bảo vệ dân sinh và sản xuất Ngày nay sau khi có hồ Hoà Bìnhvới dung tích phòng lũ 4,9 tỷ m3 thì hệ thống đê sông Hồng có thể chống lũ vớimức nước (13,3m) tại Hà Nội (riêng đê Hà Nội có thể chống được mực nước13,6m và trên sông Thái Bình đê chịu được mức nước lũ 7,21m tại Phả Lại)
Hệ thống đê biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (từ Quảng Ninh đến QuảngNam Đà Nẵng) đã nâng cấp, chống đỡ bão cấp 9 ứng với triều trung bình Tínhđến năm 2000 sẽ hình thành 800km đê biển của các dự án trên, chống đượcthuỷ triều (3,5) Hệ thống đê bao, bờ ngăn lũ ở đồng bằng sông Cửu Long chủyếu bảo vệ lúa hè thu, chống lũ đầu mùa tháng 8, được kiểm nghiệm qua nhiềunăm đã bảo đảm cho vùng ngập Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên, TâySông Hậu từ một vụ lúa nổi trở thành sản xuất 2 vụ đông - xuân, hè - thu Từsau cơn bão số 5 (1997) Chính phủ bắt đầu cho nghiên cứu quy hoạch đê biển ởmiền Nam từ Gò Công (Tiền Giang) đến Kiên Giang
Trong 10 năm đổi mới chúng ta đã nâng tầm công tác thuỷ lợi nhằm đápứng sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá trước hết đối với nông nghiệp
và phát triển nông thôn Từ quy hoạch tổng thể, tiến đến quy hoạch vùng và tiểuvùng Từ mục tiêu sản xuất lúa đến mục tiêu tổng hợp
1.1.3 Phát triển khoa học công nghệ thuỷ lợi để phục vụ sản xuất
- Ngày 24/3, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chứchội nghị tổng kết công tác khoa học công nghệ thuỷ lợi nhằm đánh giá nhữngthành tựu đã đạt được trong công tác thuỷ lợi trong 20 năm qua đổi mới, địnhhướng kế hoạch nhằm hoàn thiện chiến lược phát triển khoa học công nghệthuỷ lợi 2006-2010 Trước năm 1985, cả nước chỉ có 12 hệ thống công trìnhthuỷ nông lớn nhỏ và 600 km kênh chính tạo nguồn với tổng năng lực tưới vàtạo nguồn cấp nước cho 1,4 triệu ha canh tác Cho đến nay, cả nước đã có 75 hệ
Trang 32thống thuỷ lợi lớn, 800 hồ đập loại vừa và lớn, trên 3.500 hồ có dung tích trên 1triệu m3 nước và hơn 5.000 công tưới, cống tiêu lớn, trên 2.000 trạm bơm lớn
và hàng vạn công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ Tổng năng lực tưới trực tiếp đạttrên 3,3 triệu ha, tạo nguồn cấp nước cho trên 1 triệu ha, tiêu 1,4 triệu ha, ngănmặn 0,77 triệu ha, cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha đất canh tác nông nghiệp vàcấp hơn 5 tỷ m3 nước/năm cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp
Trong sự phát triển của ngành thuỷ lợi, công tác khoa học công nghệ thuỷlợi đã có những đóng góp xứng đáng từ việc quy hoạch, tính toán nguồn nước,khảo sát, xây dựng, quản lý và khai thác công trình thuỷ lợi, bảo vệ đê điều,phòng chống lũ lụt, giảm nhẹ thiên tai và bảo vệ môi trường phát triển bềnvững Khoa học công nghệ thuỷ lợi đã nghiên cứu, tiếp thu và làm chủ nhiềucông trình, sản phẩm mang hiệu quả kinh tế kỹ thuật cao như: công nghệ đậptrụ đỡ, đập xà lan di dộng, đập bê tông đầm lăn, đập cao su, các loại cửa van tựđộng, các thiết bị đặc chủng Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, công tácthuỷ lợi đang đặt trước một thách thức lớn khi thiên tai ngày càng khắc nghiệt,tài nguyên nước bắt đầu suy thoái do sự biến đổi khí hậu, sức ép về sự gia tăngdân số và phát triển kinh tế xã hội trong khi nguồn vốn đầu tư và trình độ pháttriển khoa học công nghệ thuỷ lợi của nước ta còn có khoảng cách khá xa so vớicác nước khác
Để đạt được mục tiêu chiến lược của công tác thuỷ lợi nhằm khai thác hết15,8 triệu ha đất các loại, đảm bảo lượng nước cấp cho thành thị loại I đạt 150-
200 lít nước/ngày, vùng nông thôn và miền núi đạt 80-100 lít/người/ngày; nângmức an toàn đê, chống lũ lên cao trình 13,4 mét ở Hà Nội, đê biển ổn địnhchống gió mạnh cấp 9-10 , công tác khoa học công nghệ thuỷ lợi đòi hỏi tậptrung vào các lĩnh vực nghiên cứu và chuyển giao công nghệ; tăng cường đầu tưcho xây dựng cơ sở vật chất và kinh phí cho nghiên cứu, tiếp thu công nghệ củanước ngoài và có cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển khoa học côngnghệ thuỷ lợi./
Trong thời kỳ đổi mới, công tác khoa học công nghệ đã đạt được nhữngkết quả lớn, có ý nghĩa thực tiễn, rất quan trọng trong nghiên cứu đánh giánguồn nước, dự báo nhu cầu nước, tình toán cân bằng nước, thiết kế quy hoạch
sử dụng tổng hợp nguồn nước và phòng chống tác hại do nguồn nước gây ra
Nghiên cứu tính toán cân bằng nước đã được triển khai cùng với quá trìnhtriển khai thực hiện quy hoạch sử dụng tổng hợp và bảo vệ tài nguyên nước
Trang 33Chương trình cân bằng bảo vệ và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước quốc giađược tập trung nghiên cứu hoàn chỉnh trong thời kỳ 1992-1995 nhằm mục tiêu:
1.2 Một số dự án trọng điểm của ngành thuỷ lợi trên cả nước
Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI trở đi về công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, Bộ Thủy lợi (trước đây) và Bộ Nôngnghiệp và PTNT (hiện nay) đã chú ý đầu tư phát triển thủy lợi và quản lý tàinguyên nước Khoa học công nghệ thủy lợi đã được nhiều cơ quan như ViệnKHTL, Viện QHTL, Trường ĐHTL, Cty TVXDTL tập trung thực hiện Kếtquả hoạt động khoa học công nghệ đã góp phần rất quan trọng trong sự nghiệpphát triển thủy lợi Việt Nam nói chung và ở ĐBSH nói riêng Các công trìnhnghiên cứu ở ĐBSH đã tập trung giải quyết được nhiều vấn đề phức tạp trongcác lĩnh vực:
1.2.1 Trong lĩnh vực điều tra cơ bản
Các nghiên cứu điều tra cơ bản đã tập trung cao cho mạng sông Hồng - TháiBình, kết quả đã điều tra, bổ sung cập nhật được hệ thống dữ liệu cơ bản về địahình, địa chất cũng như lượng và chất lượng nước, đã và đang phục vụ chocông tác nghiên cứu phát triển thủy lợi từ khâu quy hoạch, thiết kế, xây dựng vàquản lý vận hành các hệ thống thủy lợi
1.2.2 Trong lĩnh vực đánh giá tài nguyên nước của ĐBSH
Bảng 6: Vốn đầu tư vào dự án phát triển thuỷ lợi 1994 - 2000 vùng
đồng bằng sông Cửu Long
1 Tổng Long An, Đồng Tháp 4700
Tạo nguồn An Giang, Kiên Giang 547.271
Ngăn mặn Tiền Giang 64.858
Trang 344 Nam Mang Thứ Trà Vinh 224
Tạo nguồn 88.496
Ngăn mặn 82.038
5 Các công trình khác An Giang, Sóc Trăng 516
Tạo nguồn Bình Thuận 54.581
Ngăn mặn Kiên Giang 193.712
6 Phòng chống lũ Toàn đồng bằng 2300-2800
Nguồn: Số liệu thực trạng và quy hoạch phát triển thuỷ lợi - Bộ NNPTNT
ĐBBB và một số vùng trọng điểm như Hà Nội, Hà tây, Hải Phòng, NamĐịnh, Thái Bình đã có những tiềm năng nước ngầm trong vùng, phân bố nướcngầm, quan hệ dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm các thời kỳ trong năm, tìnhtrạng chất lượng nước, khả năng khai thác sử dụng và những khuyến cáo về bảo
vệ, khai thác nước ngầm ở những vùng trọng điểm
1.2.3 Trong lĩnh vực tưới, tiêu và cấp nước
w Nghiên cứu xâm nhập mặn, chua phèn
Các nghiên cứu xâm nhập mặn, chua phèn đã xác định ranh giới xâm nhậpmặn theo các độ mặn khác nhau, cơ chế xâm nhập và ảnh hướng mặn, chuaphèn tới sản xuất Kết quả nghiên cứu đã góp phần quan trọng cho việc nghiêncứu tìm ra các giải pháp kỹ thuật hợp lý giải quyết dần ảnh hưởng xâm nhậpmặn, chua phèn tới sản xuất nông nghiệp, đưa sản lượng lương thực khôngngừng tăng lên
w Nghiên cứu thử nghiệm tưới cho một số cây trồng chính, giống mới ởmột số vùng trọng điểm; các giải pháp công nghệ tưới tiêu cải tạo đất ở cácvùng đất mặn, chua phèn; nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp tưới rãnh,tưới nhỏ giọt đến sự phân bố độ ẩm và năng suất của một số cây trồng đã mở
ra triển vọng ứng dụng rộng rãi phương pháp và công nghệ tưới tiên tiến tiếtkiệm nước và nâng cao năng suất, chất lượng nông phẩm
1.2.4 Trong lĩnh vực phòng chống lũ, chỉnh trị sông, bờ biển
Có hàng loạt công trình nghiên cứu nhằm nâng cao mức bảo đảm an toànphòng chống lũ cho ĐBBB về các lĩnh vực:
Bảng 5: Công trình xây dựng mới và khôi phục sửa chữa 1995 - 1999 ở đồng bằng
và trung du Bắc Bộ
Trang 354 Hệ thống Nam Thái Bình Hải Hưng 44.000 67.000 100
5 Hệ thống Bắc Hưng Hải Hà Tây 136.000 185.000 187
Nguồn: Số liệu thực trạng và quy hoạch phát triển thuỷ lợi- Bộ NNPTNT
- Nghiên cứu nhận dạng lũ là một trong những đóng góp quan trọng trong
việc xác định cơ chế hình thành lũ trên các lưu vực, giúp cho việc nghiên cứutìm ra các giải pháp kỹ thuật thích hợp để chống lũ
- Đánh giá khả năng thoát lũ của sông Hồng:
Trang 36+ Nhiều công trình nghiên cứu về bồi, xói, diễn biến lòng dẫn, cửa sông của
hệ thống sông Hồng, Thái Bình vào nhiều thời kỳ khác nhau
+ Công trình nghiên cứu về hành lang thoát lũ ở các sông, trọng tâm là đoạnsông từ Sơn Tây đến Hưng Yên đã đưa ra khẩu độ đê hợp lý cho từng đoạn
- Các công trình nghiên cứu đánh giá khả năng phân lũ sông Hồng vào
sông Đáy tạo cơ sở khoa học để lập các dự án cải tạo, sửa chữa công trình đầu
mối, cải tạo một số đoạn sông, củng cố hệ thống đê kè cống, đồng thời quản lýcác hoạt động sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng trong hành lang phân chậm lũ
- Các công trình nghiên cứu về thủy triều, bờ biển đã đánh giá về sự biến
đổi nước biển, ảnh hưởng thủy triều tới hình thái cửa sông, bờ biển ở Bắc Bộ.Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho việc lựa chọn các giải pháp kỹ thuật hợp lý để
bảo bệ từng đoạn bờ biển, đề xuất tiêu chuẩn thiết kế đê, kè biển
- Nghiên cứu xây dựng quy trình vận hành các hồ chứa lớn lợi dụng tổng
hợp Hoà Bình, Thác Bà đã tạo cơ sở khoa học để đưa ra quy trình vận hành khá
hiệu quả các hồ chứa trong những năm qua
1.2.5 Trong xây dựng và bảo vệ công trình
Đã nghiên cứu các loại vật liệu và công nghệ tiên tiến tu sửa, nâng cấp vàxây dựng công trình:
- Về vật liệu xây dựng có những công trình nghiên cứu về công nghệ xi
măng lưới thép vỏ mỏng, các loại phụ gia, đất xây dựng, xi măng đất, đất cócốt
- Về thăm dò đánh giá chất lượng nền móng và thân công trình đã nghiên
cứu ứng dụng và phát triển công nghệ dò tìm ẩn họa trong nền, thân đê, đậpbằng địa vật lý, bằng thiết bị rađa đất đã cho những kết quả khá chính xác,giúp cho việc gia cố, xử lý kịp thời
- Về công nghệ gia cố nền và thân công trình đã nghiên cứu, ứng dụng và
cho kết quả tốt công nghệ thi công cọc xi măng đất theo phương pháp khoanphụt cao áp tạo cột đất gia cố từ vữa phụt và đất nền; công nghệ bảo vệ bờbằng thảm đá gia cố mái kè và đề xuất chế tạo thiết bị mới để thi công rải thảm
đá dưới mực nước sâu; công nghệ + kết cấu mới gia cố bảo vệ mái đê sông, đêbiển
1.2.6 Xây dựng, nghiên cứu ứng dụng và phát triển các phần mềm tiên tiến trong nghiên cứu đánh giá nguồn nước, quy hoạch, thiết kế xây dựng thủy lợi như:
Trang 37- Mô hình lưu vực sông: MIKE BASIN, MIKE SHE, MITSIM,REBASIN
- Mô hình thuỷ văn: SSARR, NAM, TANK, AR, ARIMA
- Mô hình thuỷ lực: VRSAP,KOD1,WENDY,SOBEK,MIKE11, MIKE21,MIKE FLOOD, TELEMAC-2D
- Hệ thống thông tin địa lý GIS : MAPINFOR, ARCVIEW
- Mô hình chất lượng nước : QUALL2, MIKE BASIN-WQ
- Mô hình phân tích tối ưu trong quy hoạch, quản lý, vận hành hệ thống:GAMS
- Tính toán nhu cầu nước cho cây trồng : CROPWAT
- Các phần mềm tin học tính toán thiết kế, lập bản vẽ các công trình thủy
lợi
- Các phần mềm tin học được ứng dụng rộng rãi để trình bày các dự án, báocáo tại hội nghị (Powerpoint) cho độ sinh động cao với nhiều tư liệu, tiết kiệmthời gian
1.2.7 Trong quản lý nguồn nước và công trình thuỷ lợi đã có nhiều công
trình nghiên cứu bảo vệ các nguồn nước, nâng cao hiệu quả của các hệ thống:
- Về quản lý tài nguyên và môi trường nước có nhiều công trình nghiên cứu
về môi trường, diễn biến chất lượng nước, nguyên nhân gây ô nhiễm nguồnnước ở các vùng nông thôn, thành thị, khu công nghiệp; đánh giá các mô hình
xử lý nước thải; anh hưởng chất thải đô thị tới nguồn nước tưới; tương quangiữa phát triển và ô nhiễm nguồn nước; sử dụng hóa chất trong nông nghiệp vàmôi trường đất, nước
- Trong quản lý, khai thác các hệ thống thủy lợi đã có những công trình
nghiên cứu ứng dụng các thiết bị đo nước; quản lý tưới và cơ cấu cây trồng tốiưu; sự tham gia của cộng đồng; hoàn thiện hệ thống định mức kinh tế-kỹ thuậttrong quản lý khai thác; cơ sở hình thành giá nước; vấn đề tài chính ở các xínghiệp Quản lý thuỷ nông
Đầu tư cho thuỷ lợi phần lớn được chú trọng vào hệ thống kênh mương
để phục vụ tưới tiêu, trong thời gian gần đây một số địa phương cùng với việc
Trang 38đầu tư xây dựng công trình mới đã tích cực triển khai công tác kiên cố hoá kênhmương và bước đầu đã đạt những kết quả thiết thực
Ngày 13/6/2000, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 66- 2000QĐ/TTg về một số chính sách và cơ chế tài chính thực hiện chương trình kiên
cố hoá kênh mương Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Tài chính đã
có các công văn hướng dẫn triển khai công tác này Sau khi có các văn bảnpháp lý, cơ chế chính sách của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thực hiệncông tác kiên cố hoá kênh mương đã có bước phát triển mới và thu được nhữngkết quả đáng khích lệ
Trang 39Bảng 4: Tình hình thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản ngành thuỷ
lợi giai đoạn 1995 - 1998
Đơn vị: tỷ đồng (%)
Vốn đầu tư
Tỷ trọng
Vốn đầu tư
Tỷ trọng
Vốn đầu tư
Tỷ trọng
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
2 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư vào ngành thuỷ lợi Việt Nam
Trang 402.1 Cơ cấu vốn theo vùng kinh tế
Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam được chia làm 7vùng chính, mỗi vùng cónhững đặc điểm kinh tế khác nhau, chính vì vậy để đầu tư cho mỗi vùng này,chủ đầu tư phải nắm rõ những đặc điểm riêng để có phương thức đầu tư thíchhợp đạt hiệu quả cao Trong thời gian qua Nhà nước chủ yếu đầu tư vào vùngkinh tế Đồng bằng sông Cửu Long cũng dễ hiểu vì đây là vựa lúa lớn nhất của
cả nước Ngoài ra, Đồng bằng sông Hồng cũng được sự quan tâm đầu tư thíchđáng tuy nhiên vẫn còn hạn chế ở các vùng khác với tỷ lệ đầu tư chưa tươngxứng với tiềm năng phát triển của vùng
Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng pháttriển nông nghiệp và nông thôn đó chính là nền tảng của quá trình công nghiệphoá - hiện đại hoá Để thực hiện mục tiêu đó, đầu tư cho thuỷ lợi cũng là mộtphần quan trọng trong chiến lược phát triển xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn.Vấn đề đặt ra là làm sao cho có một cơ cấu hợp lý trong quá trình đầu tư Vìvậy phải có sự nghiên cứu thực tế qua các năm để phát huy những mặt tích cực
và những tồn tại sẽ được khắc phục nhằm nâng cao tính hiệu quả trong đầu tư
Do đó, trong giai đoạn hiện nay Nhà nước cần phải có sự phân bổ nguồn vốnmột cách hợp lý để tạo điều kiện phát triển chung
Nguồn vốn đầu tư trong nước vào thuỷ lợi liên tục tăng trong các năm, cụthể năm 1995 chiếm 49.5%, năm 1996 chiếm 51.6%, 1997 chiếm 56.3%, 1998chiếm 57.9%, 1999 chiếm 59% so với tổng vốn đầu tư Với nguồn vốn đầu tưtrong nước thì vốn Ngân sách Nhà nước luôn chiếm phần lớn, nguồn vốn tíndụng đầu tư vào thuỷ lợi cũng tăng lên qua các năm nhưng chủ yếu là vốn tíndụng ưu đãi, còn vốn tín dụng thương mại đầu tư vào thuỷ lợi là không đáng kể
Bên cạnh sự tăng lên của tỷ trọng vốn đầu tư trong nước vào thuỷ lợi sovới tổng vốn đầu tư qua các năm thì tỷ trọng vốn đầu tư ngoài nước lại giảm đi
Cụ thể năm 1995 chiếm 50.5% tổng vốn đầu tư, năm 1996 chiếm 48.4%, năm
1997 chiếm 43.7%, năm 1998 chiếm 42.1%, năm 1999 chiếm 41% Đối vớicông tác thuỷ lợi thì nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao trong vốn nước ngoài là vốnODA luôn có tỷ trọng đầu tư cao hơn so với FDI và các nguồn đầu tư nướcngoài khác
Trong công tác thuỷ lợi với phương châm Nhà nước và nhân dân cùnglàm nên tỷ trọng vốn đầu tư của nhân dân vào thuỷ lợi tương đối cao, 1995chiếm 11.8% tổng vốn đầu tư, đến năm 1999 chiếm 13.6%