1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý phát triển đ« thị bền vững

66 452 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý phát triển đô thị bền vững
Tác giả Phothilath Sikhotchounlamaly
Người hướng dẫn PGS.TS. Phan Kim Chiến
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Khoa học quản lý
Thể loại Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 336 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày này trên thế giới, thuật ngữ “Phát triển bền vững” đã không còn xa lạ so với những thập kỷ cuối của thế kỷ trước, nhất là trong những năm 70 khi mà phong trào bảo vệ môi trường thế giới đã có những thành tựu bước đầu.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày này trên thế giới, thuật ngữ “Phát triển bền vững” đã không còn xa lạ

so với những thập kỷ cuối của thế kỷ trước, nhất là trong những năm 70 khi màphong trào bảo vệ môi trường thế giới đã có những thành tựu bước đầu Cho đến

năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai của chúng ta” của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên Hợp Quốc, cụm từ “phát triển bền

vững ” đã được định nghĩa là “sự phát triển đáp ứng được yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”.

Cho đến nay, cụm từ “phát triển bền vững” còn được sử dụng cho nhiều

loại hình bền vững khác nhau trong đời sống xã hội trên thế giới, trong đó có

loại hình phát triển đô thị và đô thị hoá: “Phát triển đô thị bền vững” Việt Nam

cũng không nằm ngoài xu thế đó Tuy nhiên xu thế này cũng nói lên những yêucầu bức xúc trong thực tế quản lý đô thị phát triển bền vững

Đối với mỗi quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, thìvấn đề quản lý phát triển không gian đô thị, quản lý phát triển đô thị đã và đang

đặt ra nhiều vấn đề đáng lưu ý Đứng trước thực tế đó, em chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý phát triển đ« thị bền vững” Bài viết này

nhằm đưa ra một cái nhìn tổng quát về tình hình phát triển đô thị Việt Nam,cùng với những điều đã, đang và chưa làm được trong việc quản lý đô thị ViệtNam hiện nay nhằm mục tiêu hướng tới một đô thị bền vững Trong quá trìnhthực hiện bài viết này mặc dù đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáohướng dẫn và các cô chú, anh chị tại địa điểm thực tập, vẫn không tránh khỏinhững hạn chế nhất định Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô, cũngnhư các anh chị, cô chú

Bài viết này gồm có ba phần:

Phần Một: Lời mở đầu

Phần Hai: Phần nội dung

Trang 2

Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý và quản lý phát triển đô thị bền vữngChương II: Thực trạng quản lý đô thị ở Việt Nam hiện nay

Chương III: Một số giải pháp quản lý phát triển đô thị bền vững ở Việt Nam

Phần Ba: Kết luận

Em vô cùng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban Lãnh đạo Viện, cácphòng ban chức năng đặc biệt là Ban Tổng hợp Em xin chân thành cảm ơn thầyPGS.TS Phan Kim Chiến đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành bài viết này

Hà Nội, ngày 28 tháng 04 năm 2006

Sinh viên thực hiện:

Phothilath Sikhotchounlamaly

Trang 3

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ

PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG

I MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ

1 Khái niệm về quản lý.

Quản lý là sự tác động có chủ đích, có tổ chức một cách hệ thống của chủthể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra

2 Khái niệm về quản lý đô thị phát triển bền vững.

Quản lý đô thị phát triển bền vững là một vấn đề hết sức phức tạp vì nó phảixem xét tất cả các vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển đô thị, từ vấn đềkhông gian và kinh tế - xã hội Vì vậy có thể định nghĩa quản lý đô thị phát triểnbền vững như sau:

“Quản lý đô thị phát triển bền vững là quản lý sự phát triển mở mang toàn diện về kinh tế - xã hôi, không gian đất đai cũng như môi trường ở đô thị.”

Đối với quản lý không gian đô thị, quản lý phát triển đô thị là vấn đề quản

lý sự phát triển đất đai có cung cấp hạ tầng và dịch vụ tiện nghi để cư dân vàdoanh nghiệp hoạt động được

Bước tiếp theo của quản lý phát triển đô thị là quản lý sự phát triển về hạtầng kinh tế - xã hội Hạ tầng kinh tế - xã hội bao gồm cả trung tâm công nghiệp,dịch vụ cung ứng, lao động

3 Đặc điểm của quản lý đô thị

Quản lý Đô thị là một quá trình rất phức tạp mang những đặc điểm riêng cócủa ngành trong quá trình hình thành và phát triển đô thị Do đó Quản lý Đô thịmang những đặc điểm sau:

- Quản lý Đô thị là quản lý mang tính toàn cục Tính toàn cục cuả Quản lý

Đô thị thể hiện ở phạm vi của Quản lý Đô thị Phạm vi đó thể hiện ở đối tượngcủa Quản lý Đô thị là quá trình phát triển toàn diện về kinh tế, xã hội, khônggian đất đai cũng như môi trường cuả đô thị Phạm vi quản lý này được thể hiệntrên bình diện quốc gia, nghĩa là quản lý theo một quy hoạch, chiến lược, kế

Trang 4

hoạch tổng thể lớn đã được hoạch định bởi cơ quan có thẩm quyền Tính toàncục của Quản lý Đô thị xuất phát từ yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế - xãhội của một quốc gia, từ sự phối hợp, điều hoà các mối quan hệ trong quá trìnhphát triển về kinh tế - xã hội - môi trường của một quốc gia.

- Quản lý Đô thị là quản lý mang tính tổng thể.Tính tổng thể thể hiện ở chỗ

nó cho phép thực hiện quản lý theo chiến lược, kế hoạch thống nhất như quyhoạch về nhà ở, về đất đai… chứ không quản lý cục bộ từng địa phương, từngkhu vực, mặc dù quản lý địa phương và khu vực là độc lập nhưng vẫn phải tuântheo định hướng chung trong tổng thể định hướng phát triển kinh tế - xã hội đôthị được thể hiện trong các văn bản chính sách phát triển của Nhà nước

- Quản lý Đô thị mang tính quyền lực nhà nước Quản lý Đô thị là sự quản

lý của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đất đai, dân cư,lao động bền vững… của các cơ quan từ lập pháp, đến hành pháp và tư pháp,của các cấp chính quyền đối với quá trình phát triển đô thị Quản lý Đô thị mangtính quyền lực Nhà nước nghĩa là, một mặt quản lý này lệ thuộc vào chính trị,xuất phát từ chỗ Nhà nước là trung tâm trong hệ thống chính trị - xã hội, là công

cụ đặc biệt để thực hiện quyền lực chính trị (bao gồm: lập pháp, hành pháp, tưpháp) của giai cấp thống trị đối với giai cấp khác và xã hội Mặt khác quản lýnày được thực hiện bởi pháp luật đây là đặc điểm riêng có của Nhà nước đối với

xã hội được phân biệt với các hình thức quản lý khác Quản lý Đô thị cũng làmột lĩnh vực quan trọng của Nhà nước trong giai đoạn hiện nay, nó cũng phảiđược quản lý bằng pháp luật

- Quản lý Đô thị là quản lý phức hợp và đa dạng Tính phức hợp và đa dạng

thể hiện ở đối tượng quản lý, tính đa mục tiêu (tăng trưởng ổn định, bền vững);tính phong phú của các hình thức tác động, tính phụ thuộc vào môi trường quốcgia và quốc tế, tính gián tiếp của phương thức tác động Đặc điểm này của Quản

lý Đô thị đòi hỏi phải có một bộ máy quản lý tinh xảo, hoạt động có hiệu quả và

có hiệu lực

Trang 5

- Quản lý Đô thị mang tính đa mục tiêu Tính đa mục tiêu của Quản lý Đô

thị thể hiện ở những mục tiêu mà Quản lý Đô thị hướng tới: công bằng xã hội,phát triển văn hoá, ổn định và nâng cao đời sống, xoá đói giảm nghèo, vấn đềmôi trường, an ninh xã hội…

II TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM

1 Hệ thống phân loại đô thị ở Việt Nam

Đô thị được phân loại theo nhiều khía cạnh khác nhau tuỳ theo các mục đíchnghiên cứu Các tiêu thức thường được sử dụng để phân loại là: Quy mô dân số,

cơ cấu lao động, chức năng hoạt động, tính chất hành chính, mức độ hoàn thiện

- Theo quy mô dân số, đô thị có thể chia thành 5 loại như sau:

Đô thị có quy mô dân số rất lớn > 1triệu dân

Đô thị có quy mô dân số lớn 35 vạn - 1 triệu

Đô thị có quy mô dân số trung bình 10 vạn - 35 vạn

Đô thị có quy mô dân số trung bình nhỏ 3 vạn - 10 vạn

Đô thị có quy mô dân số nhỏ < 3 vạn

- Theo tính chất hành chính, chính trị: Thủ đô; Thành phố; Thị xã; Thị trấn

- Theo không gian: Nội thành; Nội thị; Ngoại ô Không gian chịu tác độngtrực tiếp của nội thành; tuy nhiên thị trấn không có ngoại thành

Đô thị ở Việt Nam được phân thành 5 loại như sau:

+ Đô thị loại I: Quy mô rất lớn (Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Hải Phòng, Thành

phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ), là những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá,khoa học - kỹ thuật, du lịch, giao lưu quốc tế có vai trò thúc đẩy kinh tế của cảnước; dân số trên một triệu người

Có mật độ dân số 15.000 người/km2; lao động phi nông nghiệp trên 90% trởlên trong tổng số lao động

Cơ sở kỹ thuật hạ tầng và mạng lưới các công trình công cộng hoàn chỉnh,đồng bộ

Trang 6

+ Đô thị loại II: Quy mô lớn; là những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá,

khoa học - kỹ thuật, du lịch, giao lưu quốc tế có vai trò thúc đẩy kinh tế của mộtvùng lãnh thổ

Dân số có từ 35 vạn người đến gần 1 triệu người, mật đọ dân số 12.000người/km2; lao động phi nông nghiệp trên 90% trở lên trong tổng số lao động

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng tương đối hoànchỉnh, tiến tới đồng bộ

+ Đô thị loại III: Quy mô trung bình là những trung tâm kinh tế - chính trị,

văn hoá, nơi sản xuất tiểu thủ công có vai trò thúc đẩy kinh tế của tỉnh; dân số10-35 vạn người(vùng miền núi có thể thấp hơn)

Mật độ dân số 10.000 người /km2, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trên 80%trở lên trong tổng số lao động

Cơ sở kỹ thuật và mạng lưới các công trình công cộng được đầu tư xâydựng từng phần

+ Đô thị loại IV: Quy mô trung bình nhỏ, là những trung tâm kinh tế, chính

trị, văn hoá, hoặc nơi chuyên sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp cóvai trò thúc đẩy kinh tế của tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh Dân số từ 3-10 vạnngười

Mật độ dân số 8.000 người/km2, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trên 70% trởlên trong tổng số lao động

Đã và đang đầu tư xây dựng kỹ thuật hạ tầng và các công trình công cộngđược xây dựng từng phần

+ Đô thị loại V: Quy mô nhỏ; là những trung tâm tổng hợp của một huyện

hay một vùng trong huyện có vai trò thúc đẩy kinh tế của cả nước; dân số dưới 3vạn người

Mật độ dân số 6.000 người/km2, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trên 60% trởlên trong tổng số lao động

Bước đầu xây dựng một số công trình công cộng và kỹ thuật hạ tầng (bắtđầu xây dựng)

* Hiện nay, Việt Nam có 708 đô thị và được phân ra về:

Trang 7

- Phân về cấp hành chính có 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 82 thànhphố, thị xã thuộc tỉnh và số còn lại là thị trấn.

- Về phân loại đô thị, có 2 thành phố đặc biệt, 2 thành phố loại I, 14 đô thịloại II, 20 đô thị loại III, 50 đô thị loại IV và 617 đô thị loại V

2 Thực trạng và xu thế phát triển đô thị ở Việt Nam

Trong quá trình phát triển đô thị ở Việt Nam cũng như nhiều nước trênthế giới và khu vực, vấn đề phát triển đô thị ở Việt Nam cũng có những thuộctính mang tính quy luật tương tự Thuộc tính quy luật này, thường đem lại

những tác động trái ngược nhau: tác động tích cực và tác động tiêu cực.

- Hệ thống đô thị mới được mở rộng một cách toàn diện và khá vững chắctrên các mặt chủ yếu: quy mô dân số đô thị, phân cấp phân loại đô thị, hạ tầng

đô thị, cấp thoát nước đô thị, phân rác và môi trường đô thị,…

- Góp phần cho việc xoá đói giảm nghèo tại các khu vực đô thị, tạo nhiềucông ăn việc làm, cải thiện và nâng cấp nhiều khu nghèo, khu thu nhập thấp đôthị, nhất là tại các thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, HảiPhòng,…

Tác động tiêu cực:

- Trong quá trình phát triển đô thị nó đã làm cho các dòng dịch cư từ nôngthôn vào đô thị không thể kiểm soát được tăng lên để tìm cơ hội có thu nhập caohơn Đó là một thực tế khách quan Do đó, sức ép dân số đô thị vốn đã quá tảicàng làm cho sự quá tải ấy càng nghiêm trọng hơn, nhất là vấn đề về nhà ở, cớ

sở hạ tầng cũng như tính pháp lý của những vấn đề ấy Tình hình này, cũng tạonên sức ép không nhỏ đối với công tác quản lý đô thị nhiều mặt hiện nay

Trang 8

- Dân số đô thị tăng nhanh, cơ sở hạ tầng đô thị không phát triển kịp mộtcách tương xứng, làm cho sức ép quá tải ngày càng lớn, chưa có khả năng cânbằng Vì thế, đây là một nguy cơ làm mất cân bằng sinh thái đô thị cũng như ảnhhưởng đến các yếu tố phát triển bền vững đô thị nói riêng và phát triển bền vữngnói chung.

- Khoảng cách mức sống giữa khu vực đô thị với khu vực nông thôn vốn đã

là một khoảng cách khá xa như một quy luâth Trong quá trình đô thị hoá ,khoảng cách này cần được điều tiết để rút ngắn hơn Tuy nhiên, thực tế này chưađược diễn ra như mong muốn, khoảng cách mức sống noi chung giữa đô thị vànông thôn ngày càng xa hơn

- Môi trường của đô thị xuống cấp

- Tệ nạn xã hội vốn đã phức tạp nay càng phức tạp hơn

Như vậy phát triển đô thị trong quá trình phát triển đô thị nhất là khu vựccông nghiệp, thương mại và dịch vụ tại khu vực đô thị đã góp phần to lớn chotổng sản phẩm quốc dân (GDP)

Tuy nhiên, như là một quy luật, đô thị hoá cũng đem lại những tác động tiêucực, nhất là trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên

III MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẤP BÁCH VỀ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ

1 Vấn đề không gian đô thị, phát triển đô thị

Trong xu thế phát triển đô thị việc quản lý đô thị là rất cần thiết để phát triển

đô thị hợp lý, phân bố hài hoà nhằm tránh tình trạng tập trung quá tải vào trongcác khu đô thị lớn

- Việc hoạch định nghiên cứu tổng thể phát triển bền vững kinh tế - xã hộihiện nay chưa chặt chẽ và chưa có hiệu quả

- Việc phát triển đô thị chưa hợp lý, còn nhiều bất cập, tình trạng tập trungquá tải vào các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh…

- Phát triển không gian đô thị, phân bố dân cư, phân bố đất đai bao gồm đất

ở, đất xây dựng… chưa theo một quy hoạch tổng thể, rõ ràng phát triển theođịnh hướng hướng tới phát triển bền vững kinh tế - xã hội

Trang 9

2 Vấn đề di dân

Quá trình chuyển dịch dân cư hiện nay từ nông thôn ra thành thị xẩy ranhiều vấn đề Đó là những cuộc di dân ồ ạt từ nông thôn ra những đô thị, nhữngkhu công nghiệp lớn của cả nước nhất là vào những thời điểm nông nhàn Bêncạnh đó là sự chênh lệch lớn về chất lượng dân số, lao động giữa các vùng trong

cả nước, giữa miền xuôi và miền ngược

3 Vấn đề cơ sở hạ tầng đô thị

Có một thực tế là hiện nay cơ sở hạ tầng đô thị của nước ta hiện nay còn rấtyếu kém Hệ thống điện đường, trường trạm của ta còn thiếu thốn, chất lượngchưa cao

4 Vấn đề môi sinh

Qua những số liệu nói lên tình trạng đáng báo động về vấn đề môi sinh vàđiều kiện không gian ở các đô thị lớn nhỏ ở Việt Nam trong thời gian qua chothấy vấn đề môi sinh thực sự là vấn đề đáng được quan tâm đối với không chỉcác cấp chính quyền, mà còn là vấn đề bức xúc đối với người dân sinh sốngtrong các đô thị hiện nay Hiện tượng không khí ô nhiễm, mùi hôi thối bốc lên từ

hệ thống sông ngòi, kênh rạch và cống rãnh trong các khu đô thị lớn không còn

là điều ngạc nhiên; bên cạnh đó là các loại ô nhiễm về tiếng ồn, khói bụi, chấtthải từ các nhà máy, các bãi rác làm ô nhiễm môi trường nước và không khí mộtcách nặng nề gây ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ của người lao động trực tiếp cũngnhư người dân sống xung quanh khu vực có chất thải công nghiệp hay nằmtrong vùng chịu tác động của chất thải gây ô nhiễm hay nguồn nước bị ô nhiễm

5 Vấn đề tài chính cho quá trình phát triển

Vấn đề tài chính là một vấn đề lớn mà không chỉ Việt Nam gặp phải trongquá trình phát triển Phát triển đô thị hơn nữa lại là phát triển hướng tới bềnvững thì tốc độ phát triển không chỉ dừng lại ở một mức ổn định hay tăng trưởngmạnh mà còn phải hướng tới chú trọng tới chất lượng, tới môi sinh Một đô thịkhông thể gọi là có sự phát triển bền vững khi mà bên cạnh những khu nhà cao

ốc chọc trời là những khu nhà tạm, nhà ổ chuột tồi tàn, bẩn thỉu Giải quyết mộtvấn đề kinh tế thì điều đương nhiên là phải sử dụng một giải pháp kinh tế Giảiquyết được vấn đề tài chính là một trong những bước tiến cơ bản để có thể đưamột đô thị lên thành một đô thị phát triển mạnh về mọi mặt từ kinh tế đến xãhội, văn hoá được

Trang 10

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

I TỔNG HƠP NHỮNG CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ ĐÔ THỊ

1 Chiến lược và quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam

a Chiến lược phát triển kinh tế xã hội:

- Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quốc sách đúng đắn , nhất là tại khuvực đô thị

- Đóng góp to lớn trong tổng thu nhập quốc dân GDP, GDP/người

b Quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam (2000-2020):

Quyết định số 10/1998/QĐ-TTg ngày 23/10/1998 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt “Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam

đến năm 2020” có các nội dung cơ bản sau đây:

* Về quan diểm:

- Phù hợp với sự phân bố và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất cảnước, tập trung xây dựng cơ sở kinh tế kỹ thuật vững chắc làm động lực pháttriển cho từng đô thị

- Bố trí các đô thị lớn, trung bình và nhỏ, tạo ra sự phát triển cân đối giữacác vùng lãnh thổ, kết hợp đẩy mạnh đô thị hoá nông thôn và xây dựng nôngthôn mới

* Một số nội dung cơ bản định hướng:

- Dự báo phát triển dân số đô thị:

Trong các thời kỳ 1995, 2000, 2010 và đến 2020 là: Năm 2000, dân số đôthị là 19 triệu người, tỷ lệ đô thị hoá là 22% Dự báo đến năm 2010 là 30,4 triệungười, tỷ lệ đô thị hoá là 33% và đến năm 2020 dân số đô thị là 46 triệu người,

tỷ lệ đô thị hoá là 45%

Trang 11

- Dự báo quy hoạch sử dụng đất đai đô thị:

Diện tích đất đô thị cả nước tính đến năm 2000 vào khoảng 63.300 ha,chiếm tỷ lệ 0,2% diện tích cả nước, bình quân đạt 45m2/người Dự báo đến năm

2010, tăng lên 243.000 ha, chiếm tỷ lệ 0,74% diện tích cả nước, bình quân 80

m2/người và đến năm 2020, tăng lên 460.000 ha, chiếm tỷ lệ 1,4% diện tích cảnước, bình quân đạt 100m2/người

- Về tổ chức hệ thống không gian đô thị theo hệ thống tầng bậc 3 cấp:Thành phố cấp quốc gia, thành phố cấp vùng và thành phố cấp trung tâm tỉnh.Theo đó, hệ thống đô thị Việt Nam sẽ hình thành: a) Có 5 thành phố cấp quốcgia: Thủ đô là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và Huế; b)

11 thành phố cấp Vùng: Cần Thơ, Biên Hoà, Vũng Tàu, Nha Trang, Buôn MaThuột, Vinh, Nam Định, Hạ Long, Việt Trì, Thái Nguyên và Hoà Bình; c) Hệthống đô thị còn lại là cấp tỉnh Xu thế phát triển không gian đô thị hoá dự báo

sẽ được chia thành 10 vùng trong đó xác định rõ vị trí vai trò của các đô thị nóitrên

- Không gian kiến trúc đô thị, đảm bảo phát triển hiện đại phù hợp với tiếntrình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, đồng thời kế thừa các giá trị truyềnthống và bản sắc văn hoá dân tộc

- Về phát triển cơ sở hạ tầng đô thị, trên cơ sở hệ thống đô thị trong Vùng

đô thị, vùng kinh tế trọng điểm, khu vực điểm dân cư nông thôn, tạo tiền đề pháttriển đô thị, đô thị hoá nông thôn, liên hệ mật thiết với các nước trong khu vực

và trên thế giới Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị chủ yếu là giao thông,cấp điện, cấp nước, thoát nước, thông tin liên lạc… một cách đồng bộ

- Về bảo vệ môi trường đô thị, xây dựng và duy trì bộ khung bảo vệ thiênnhiên gồm rừng tự nhiên, vườn quốc gia, cây xanh, mặt nước, sông, hồ… Khaithác và bảo vệ quỹ đất một cách hợp lý

Định hướng quy hoạch tổng thể quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam đã đề

ra 10 Vùng đô thị hoá trên toàn quốc Kết quả này là một sự tổng hợp giữa nhiềuyếu tố như:

- Điều kiện địa lý

- Điều kiện tự nhiên

Trang 12

- Điều kiện và trình độ phát triển kinh tế xã hội.

- Những đặc điểm về bản sắc văn hoá, truyền thống

- Những điều kiện về môi trường, sinh thái…

- Về chính sách , thể chế quản lý phát triển đô thị, tăng cường hiệu lực bộmáy quản lý đô thị về quy hoạch, kiến trúc, nhà, đất, đầu tư xây dựng, bảo vệmôi trường đô thị và tạo nguồn lực phát triển đô thị

* Những thành tựu đạt được:

Trong thực tiễn, quá trình đô thị hoá và phát triển đô thị đã đem lại nhữnghiệu quả to lớn về nhièu mặt: kinh tế, xã hội, đầu tư, môi trường, hội nhập… đểhướng tới phát triển bền vững nói chung và phát triển đô thị bền vững nói riêng.Quá trình đô thị hoá càng phát triển khá mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn nhất là từsau thời kỳ đổi mới đến nay Bộ mặt đô thị đã không những phát triển mà cònphát triển khá nhanh chóng so với những thập kỷ gần đây: Tất cả các chỉ tiêutrong quá trình đô thị hoá như từ dân số đô thị, tỷ lệ đô thị hoá đến quy hoạch sửdụng đất đai, từ kinh tế đô thị đến các vấn đề dịch vụ xã hội đô thị, từ khônggian đến đầu tư xây dựng sở hạ tầng đô thị, từ công tác quy hoạch xay dựng dôthị đến công tác quản lý đô thị… đều có những thành tựu đáng kể Nhiều đô thị

đã từ loại thấp phấn đầu đạt loại đô thị cao hơn, nhiều đô thị từ cấp thị xã đã trởthành thành phố

- Dân số đô thị phát triển làm cho tỷ lệ đô thị hoá tăng lên đáng kể

Tỷ lệ đô thị háo trung bình cả nước đến năm 2010 dự báo vào khoảng 35%, đến năm 2020 sẽ là từ 45-50% tổng số dân Tuy vậy, một vài vùng tỷ lệ đôthị hoá sẽ có những vượt trội với sự xuất hiện của một số nhân tố mới, nhất làcác khu công nghiệp tập trung, các đô thị mới tại các vùng kinh tế trọng điểmmiền Nam, miền Trung và miền Bắc; trong khi đó, các vùng miền núi, vùng sâu,vùng xa, biên giới, hải đảo,… có điều kiện khó khăn hơn, tỷ lệ đô thị hoá sẽ thấphơn nhiều, vào khoảng trên dưới 20% mà thôi

33 Đóng góp to lớn sự phát triển hệ thống đô thị quốc gia

- Góp phần to lớn trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tíchcực

Trang 13

- Làm định hướng Quy hoạch phát triển đô thị các vùng, Quy hoạch chungcac đô thị và đầu tư đô thị.

- Làm cơ sở để thu hút đầu tư trong và ngoài nước

- Làm cơ sở để đầu tư cơ sở hạ tầng đô thị

* Những vấn đề hạn chế trong quá trình đô thị hoá:

- Sự phát triển không đồng đều giữa các khu vực đô thị

- Khoảng cách chênh lệch giữa đô thị và nông thôn chưa được rút ngắn

- Cơ sở hạ tầng đô thị quá tải, nhất là tại các đô thị lớn

- Dịch chuyển dân cư không thể kiểm soát

- Sự xuất hiện các khu nghèo đô thị, nhà ổ chuột tương phản với các khu đôthị mới

- Đất đai đô thị có giá trị không tương xứng với giá trị đích thực

- Trình độ quản lý đô thị chưa phát triển tương xứng

- Việc tư nhân hoá tiến triển chậm chạp, ít hiệu quả

- Phi tập trung, tăng cường chính quyền đô thị chưa được thực hiện mạnh

mẽ, ít hiệu quả

- Việc tham gia của cộng đồng chưa thật sự hiệu quả, thực lực

Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam là một văn bản nhànước mang tính định hướng rất quan trọng nhằm đưa ra những mục tiêu lớn đểđưa hệ thống đô thị Việt Nam phát triển theo hướng văn minh hiện đại, đậm đàbản sắc văn hoá dân tộc và phát triển bền vững Theo đó, một số tiêu chí cơ bản

đã đặt ra trong định hướng này là:

- Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng Công nghiệp - Thương mại, dịch

vụ và Nông nghiệp, trong đó khu vực đô thị đóng vai trò chủ đạo Theo đó, cơcấu lao động trên được chuyển dịch theo hướng

2 Các chính sách về quản lý đô thị

a Chính sách khai thác đất dai và đất đai đô thị

Luật đất đai các năm 1988, 1993, 1998 và 2003 đều quy định “Quy hoạch

và kế hoạch hoá việc sử dụng đất đai” là một trong những nội dung quan trọngcủa quản lý Nhà nước để đảm bảo cho việc sử dụng đất có hiệu quả cao nhất

Trang 14

Tính đến năm 2000, tổng diện tích đất tự nhiên của Việt Nam là32.424.000ha (100%) Trong số nguồn đất đã được sử dụng 22.896.800ha(69,54%) thì các loại đất có liên quan đến đô thị hoá đã được sử dụng như sau:

- Đất ở đô thị : 72.200ha (0.22%)

- Đất ở nông thôn : 371.000ha (1.13%)

- Đất chuyên dụng chủ yếu phục vụ xây dựng công nghiệp, cơ sở hạ tầngquốc gia, đô thị và nông thôn (đường xã, công trình thuỷ lợi, các hànhlang kỹ thuật điện, cấp nước, thoát nước, các công trình công cộng…)chiếm: 1.532.800ha (4,66%)

Cơ cấu sử dụng đất nói trên phục vụ quá trình công nghiệp hoá đô thị hoá ởViệt Nam tuy chưa cao nhưng đã gây áp lực đến đất rất đáng phải lưu ý:

- Xét từ nhiều góc độ khác nhau, quỹ đất nông nghiệp của Việt Nam chỉ duytrì được ở mức trên dưới 10.000.000ha

Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên một lao động nông nghiệp hiệnnay là 3.700m2 (số liệu năm 2000): hai vùng có mức bình quân thấp là bắcTrung bộ: 2.053m2 và thấp nhất là đồng bằng sông Hồng: 1.479m2

Nếu tính bình quân trên một nhân khẩu thì chỉ còn mức 1.203m2/người; BắcTrung bộ đạt mức 717m2/người và thấp nhất là đồng bằng sông Hồng chỉ đạtmức 494m2/người

Do dân số còn tiếp tục phát triển nhanh, nên mức bình quân trên trong thời

kỳ quá độ tiến tới mức phát triển dân số ổn định cũng còn tụt xuống thấp nhiềunữa Do đó mâu thuẫn giữa việc sử dụng đất đai nông nghiệp với việc sử dụnglao động nông nghiệp sẽ còn là vấn đề gây gắt đòi hỏi phải có sự chuyển dịchmạnh cơ cấu kinh tế gắn với phân công lại lao động xã hội Mâu thuẫn này dễdẫn đến tình trạng nông dân không có đất để sản xuất nông nghiệp Trong khi đóviệc quản lý đất đai lại còn nhiều bất cập: trong lĩnh vực công nghiệp và nôngthôn thì chậm chạp, kéo dài tình trạng đốt phá rừng, không kiểm soát được việctrao đổi, chuyển nhượng đất đai, nhiều nơi có “thị trường ngầm” diễn ra ngoài

sự kiểm soát của cơ quan Nhà nước

Trang 15

- Biểu hiện rõ nét nhất đến việc gây áp lực đến đất đai là diện tích đấtchuyên dùng (đất xây dựng, đất giao thông v.v…) và đất đô thị tăng lên được lấyvào đất nông nghiệp.

Từ năm 1990 đến 2000 đất chuyên dùng đã tăng thêm 560,6 ngàn ha, bìnhquân mỗi năm tăng 5-6 vạn ha Kèm theo quá trình công nghiệp hoá là quá trình

đô thị hoá từ năm 1995 đến 2000 đất ở đô thị tăng 14.65ha Trong thời gian vừaqua tiến hành công nghiệp hoá, đô thị hoá song dân cư nông thôn số tuyệt đốivẫn tăng do vậy đất khu dân cư nông thôn vẫn được mở rộng Đất đai phục vụcông nghiệp hoá, đô thị hoá, mở rộng khu dân cư nông thôn chủ yếu lấy vào đấtnông nghiệp, gây áp lực đến đất đai trên các mặt lao động, nông nghiệp và việclàm; an ninh lương thực và môi trường

Cần lưu ý thực tế Việt Nam chỉ mới bắt đầu quá trình công nghiệp hoá, đôthị hoá, cần rút kinh nghiệm của các nước đi trước

Thực tiễn của nhiều nước trên thế giới cho thấy quá trình công nghiệp hoánếu không sớm cơ quy hoạch toàn diện về đất đai, nếu không biết khai thác sửdụng hợp lý thì diện tích đất nông nghiệp bị giảm tại các vùng đồng bằng đất tốt

và gây nên nguy cơ cho an ninh lương thực

Chỉ riêng phát triển công nghiệp của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn

Độ và Trung Quốc trong vong 10 năm gần đây đã lấy mất hơn 15 triệu ha đấtnông nghiệp Riêng Trung Quốc, từ năm 1976-1993 diện tích đất trồng lúa giảm

5 triệu ha và 3 năm gần đây, mỗi năm mất đi gần 1 triệu ha quỹ đất canh tác.Cho đến nay, Nhật Bản đang sử dụng 52%, Hàn Quốc 42%, Đài Loan 35% đấtnông nghiệp trong tiến trình công nghiệp hoá đất nước

Ở Indonexia mỗi năm có 5 ngàn ha đất trồng lúa “biến” mất để nhường chỗcho xây dựng nhà ở và các khu công nghiệp… Bên cạnh việc giảm diện tích đấtcanh tác, độ máu mỡ của đất cũng suy giảm do ô nhiễm chất thải từ công nghiệphoặc chế độ canh tác thiếu khoa học gây ra Chẳng hạn ở Mỹ, do những nguyênnhân này gây ra đã làm cho gần 20 triệu ha đất không còn sử dụng được…

Ở Việt Nam, qua thống kê nhiều năm, từ năm 1980 đến năm 2000, bìnhquân đất lương thực tính theo đầu người giảm dần với tốc độ 1,9%/năm Trongkhi đó Việt Nam mới chỉ đang ở trong giai đoạn bắt đầu của quá trình công

Trang 16

nghiệp hoá, hiện đại hoá; trong lúc công nghiệp hoá và xây dựng chưa phát triểnmấy mà đất đã bị mất nhiều như vậy, tình hình sẽ ra sao trong những năm tới khi

mà công nghiệp và xây dựng phát triển ồ ạt

Vấn đề ô nhiễm đất đã đến mức báo động Quá trình công nghiệp hoá,lương nước sử dụng cho sản xuất công nghiệp và đô thị tăng lên nhanh chóng,lượng nước sử dụng cho nông nghiệp sẽ giảm đi Nếu không có biện pháp khaithác, sử dụng hợp lý, nhất là chống ô nhiễm nguồn nước thì vấn đề thiếu nước sẽngày càng trầm trọng và từ đó sẽ đe doạ đến an ninh lương thực

Hơn 6 triệu ha rừng tự nhiên đã bị phá trụi trong 50 năm qua Đến nay rừng

tự nhiên chỉ còn 9,8 triệu ha, cộng với 1,8 triệu ha rừng trồng, Việt Nam chỉ còn11,6 triệu ha rừng, độ che phủ chỉ còn 35,2% Cùng với nạn mất rừng, sự suythoái rừng cũng rất nghiêm trọng

b Chính sách xoá đói giảm nghèo

Trong những năm đầu của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ cơ chế baocấp sang cơ chế thị trường, sự phân tầng xã hội, phân hoá giàu nghèo trong dân

cư nhất là ở thành thị và các vung sâu vùng xa đã ngày càng trở nên sâu sắc Ởmột cực của sự phân hoá này, nhóm người nghèo phải chịu nhiều thua thiệt vàđứng trước nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn sống, cải thiện nhà ở và

hy vọng nhỏ nhoi vào nhưng cơ may để hòng thoát khỏi cảnh ngheo túng

Trước tình trạng đó, Chính phủ đã đề ra chính sách xoá đói giảm ngheo vàhướng đó vào các cuộc vận động cũng như cụ thể hoá bằng nhiều hành độngdưới nhiều hình thức khác nhau để tạo ra những chuyển biến thực sự có hiệu quảnhư một quốc sách đắc nhân tâm được toàn dân ủng hộ và cộng đồng quốc tếthừa nhận

Trong việc Việt Nam đang thực hiện có kết quả cả 8 mục tiêu phát triểnthiên niên kỷ do Liên hiệp quốc đề ra trong thời kỳ đến năm 2015; thì thành tựucho mục tiêu đầu tiên là xoá đói giảm ngheo đang đạt được những tiến bộ rấtđáng khích lệ Đó là kết quả của việc giảm hơn 15% số hộ ngheo trong suốt thập

kỷ 90 của thế kỷ 20 Đặc biệt, con số 20% người ngheo nhất có thu nhập chiếm8% là mức cao hơn nhiều nước đã phản ánh bản chất tốt đẹp của chế độ xã hộiViệt Nam

Trang 17

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhiều thành phần gắn liền với việc tạo ra nhiềucông ăn việc làm cho xã hội chính là căn nguyên để thu hẹp tỷ lệ thất nghiệp củathành thị xuống chỉ còn 6-7%, khống chế tỷ lệ thiếu viẹc làm ở nông thôn còndưới 30% và trong xu thế ngày càng giảm đi Điều đó đã tạo nền tảng quantrọng để nâng cao thu nhập và thực hiện có kết quả việc xoá đói giảm nghèo.Theo đánh giá qua các cuộc điều tra mức sống, tỷ lệ hộ nghèo theo mọi tiêuchuẩn giữa 2 kỳ 1992-1993 là 57% thì đến năm 2002 chỉ còn 29% Năm 2000,

cả Việt Nam còn 2,8 triệu hộ nghèo theo tiêu chuẩn quốc gia, chiếm 17,2% số

hộ trong cả nước; trong đó chia ra 9,5% ở thành thị, 28% ở vùng núi và 62,5% ởvùng nông thôn đồng bằng Đến năm 2003, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn khoảng 12%.Tuy nhiên do quản lý kinh tế còn nhiều bất cập nên tình trạng thất thoát lãngphí và cả tham nhũng, đặc biệt trong quản lý đất đai, quản lý đầu tư xây dựng,quản lý doanh nghiệp nhà nước và chi tiêu khu vực công còn diễn ra nghiêmtrọng chưa được khắc phục một cách hiệu quả Bên cạnh đó, nhiều vấn đề xã hộibức xúc chậm được giải quyết như thiếu việc làm, đời sống một bộ phận dân cưcòn gặp khó khăn, nhiều vấn đề về giao dục, bảo vệ sức khoẻ còn là nỗi lo lắngcủa người nghèo và toàn dân Vì vậy, khi phân tích sâu hơn cho thấy, mặc dầuthu nhập dân cư tăng nhưng người giàu vẫn có nhiều khả năng tăng thu nhậpnhanh hơn người nghèo, khoảng cách 20% dân cư giàu nhất và 20% dân cưnghèo nhất là 6-7 lần vào những năm đầu thập niên 90 (của thế kỷ 20) so vớinăm 2000 đã tăng lên ở mức 8-9 lần Nhưng dẫu sao chỉ tiêu phản ánh độ bấtbình đẳng trong phân phối thu nhập dù đang diễn biến phức tạp và hiện tại vẫncòn ở mức 36% thì so sánh với nhiều nước trong khu vực, Việt Nam vẫn ở mứctốt hơn

Xét trên mức 17% hộ nghèo trung bình của cả nước, số hộ nghèo vào năm

2000 của các vùng kinh tế chính như sau:

Trang 18

Bảng 1: Số hộ nghèo cao hơn mức bình quân cả nước (62,9% dân số).

1 Miền núi phía Bắc (không

Chiếm 22,4% dân số

5 Ven biển miền Trung 24% Chiếm 33,7% dân số

8 Đồng bằng sông Cửu

Chiếm 17,5% dân số

Riêng đối với khu vực đô thị, nhất là ở các đô thị lớn, vấn đề nhà ở và môitrường ở của người nghèo đang trở thành một mối quan tâm hàng đầu hiện nay.Nếu như ở nông thôn sự thiếu ăn là nguy cơ trực tiếp đe doạ nhóm người nghèothì điều kiện nhà ở và môi trường ở quá tồi tệ đã trở thành một thực thể điểnhình cho sự nghèo khổ đô thị

Tình trạng này đang là một thử thách rất lớn đối với quá trình đô thị hoá ởViệt Nam hiện nay trong lúc vốn phát triển đô thị đang còn hạn chế, diện tíchđất đai đô thị chỉ có hạn và đang ngày bị thu hẹp, hệ thông hạ tầng đô thị đang bịquá tải, trong khi bộ phận người nghèo đô thị vẫn là một nguồn động lực to lớn

có thể huy động cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Vì vậy,trong việc nghiên cứu chính sách chung về nhà ở, chính sách cải thiện nhà ở vàmôi trường ở cho người nghèo đô thị trở thành một yêu cầu hét sức cấp bách để

có thể giải quyết được hàng loạt mâu thuẫn nảy sinh trong xã hội, như mâuthuẫn giữa nhu cầu về nhà ở lớn với thực trạng nhà ở còn quá ít ỏi như hiện nay;mâu thuẫn giữa quy hoạch xây dựng đô thị văn minh, hiện đạivới tình trạng pháttriển tự phát, và tổ chức về nhà ở, không gian ở; mâu thuẫn giữa những ngườigiàu có tìm cách đầu cơ, lũng đoạn nhà đất trong việc nâng giá quá cao để kiểm

Trang 19

lời vơi những người nghèo không có khả năng tự lo được chỗ ở cho mình Đócũng chính là trọng tâm trong chiến lược nhà ở quốc gia của Chính phủ vớimong muốn tạo điều kiện cho những người thu nhập thấp có được chỗ ở thíchhợp để an cư lạc nghiệp, đồng thời thông qua chương trình xoá đói giảm nghèo

để giúp đỡ cho những người nghèo có việc làm ổn định, có thu nhập tối thiểu vàtừng bước cải thiện ít nhiều điều kiện ở của mình Nó cũng hoàn toàn phù hợpvới những tinh thần cơ bản của chương trình phát triển đô thị mà Liên HiệpQuốc đặt ra trên phạm vi toàn cầu nói chung và cho khu vực Đông Nam Á nóiriêng

c Chính sách di dân

Di dân là quy luật vậ động và là xu thế tất yếu trong quá trình phân bố dân

cư và là động thái dân số quan trọng của quá trình phát triển đô thị Vào giữathập kỷ 80 trở về trước, dịch cư mang tính điều tiết dân số giữa các vùng lãnhthổ khác nhau, từ các vùng đông dân cư đến các vùng dân cư thưa thớt Cùngvới sự tăng dân số cơ học của các đô thị ở một tỷ lệ hạn chế, các dòng di cư khi

đó hầu như được kiểm soát tương đối chặt chẽ

Trong 30 năm từ 1976-1995 thực hiện chủ trương phân bố lại dân cư giữacác vùng nhằm khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, tạo việc làm và tăng thunhập phù hợp với thời kỳ hoà bình sau khi thống nhất đất nước, dịch cư đã diễn

ra trên suốt chiều dài đất nước Khi đó tổng số di dân theo tổ chức đến các vùngkinh tế mới là 4,74 triệu người, trong đó di cư nội vùng chiếm đa số 71% Ở giaiđoạn đầu của thời kỳ này đã có lúc cuộc vận động di dân từ đô thị ra một sốvùng nông thôn xung quanh các thành phố lớn của miền Nam, đặc biệt là TP HồChí Minh, đã diễn ra khá mạnh mẽ nhưng kết quả không được bao nhiêu và hiệuquả kinh tế thấp đã đảo lại nhịp độ tăng trưởng nông thôn - đô thị, tuy nhiêncũng mới chỉ ở mức ngót 30% tổng số di dân

Chỉ từ sau khi đổi mới, đặc biệtlà từ thập niên 90 trở lại đây với tốc độ tăngtrưởng và đô thị hoá nhanh chóng dịch cư nông thôn - đô thị đã bùng phát, tiếntriển nhanh chóng và diễn biến dưới nhiều hình thức khác nhau:

- Di dân cơ học không tăng nhiều so với thời kỳ trước, chủ yếu là do thamgia vào hình thành các khu công nghiệp và đô thị mới, chỉ khoảng 5-7%

Trang 20

- Dịch vụ tại chỗ trở thành hình thức phổ biến ở các đô thị, nhất là các đôthị lớn và có sức tăng trưởng nhanh như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng,

Đà Nẵng,… Đó là việc đô thị hoá lan toả từ các thành phố này kéo dần quá trìnhsát nhập các vùng nông thôn lân cận trước đây trở thành các cấu thành mới của

đô thị (từ đơn vị huyện - xã sang đơn vị quận - phường) Hình thức dịch cư này

đx làm gia tăng dân số đô thị của nhiều thành phố lên đến 20-30%, thậm chí cónơi lên đến 40-50%, tạo nên một sự bùng phát dân số đô thị chưa từng thấy sovới trước đến đây

Hai hình thức dịch cư trên đây đã đưa đến quy mô dân số đô thị liên tục tăngtrưởng nhanh với số lượng: 1.037.800 người trong khoảng thời gian 1990-1995;2.291.800 người trong khoảng thời gian 1995-2000 và ước tính trên 3.000.000người trong khoảng thời gian 2000-2005, góp phần đưa tỷ lệ đô thị hoá tăngnhanh từ khoảng 20% năm 1990 lên 24% năm 2000 và gần 26% năm 2005

- Tuy nhiên còn một hình thức di dân nông thôn - đô thị quan trọng nữa màchưa có điều kiện phân tích sâu về số liệu, nhưng trên thực tế bộ phận dân cư hộkhẩu nông thôn này hầu như có đến 80-90% thời gian sống ở đô thị và góp phầnđáng kể và các hoạt động kinh tế phi chính quy của đô thị và dần chứng minhkhu vực kinh tế này đang trở thành một thực thể không thể phủ nhận trong kinh

tế thị trường đô thị hiện nay Họ làm các công việc cửu vạn, giúp việc gia đình,buôn bán lặt vặt, công nhân xây dựng, các dịch vụ trên đường phố … và có cảngững hoạt động phi pháp, tệ nạn xã hội Cuộc sống định cư của người dân ởkhu vực kinh tế này mới là đáng quan ngại đến môi trường sống đô thị hiện nay.Bởi vì nơi ở và môi trường ở của họ là:

+ Các khu định cư bất hợp pháp rất kém tiện nghi, trong đó có những khu ôchuột

+ Sống trong những khu nhà trọ cũng rất kếm tiện nghi, nơi ở nhiều khi phảiluôn thay đổi, cuộc sống rất tạm bợ thiếu sự đoàn tụ của gia đình

+ Một số lang thang cơ nhỡ, sống vô gia cư trong tình trạng thiếu thốn đủmọi thiện nghi tối thiểu của cuộc sống

Trang 21

Cuộc sống dịch cư và định cư thường xuyên rất không ổn định như vậy đãlàm cho ý thức giữ gìn về sinh môi trường của họ rất kém, gây ô nhiễm nghiêmtrọng rất khó kiểm soát đến các vấn đề cấp - thoát nước và phân rác ở các đô thị.Trong 10-15 năm qua cấu trúc thành phần dân cư này dần dần có xu hướngtăng lên, nhất là ở các đô thị lớn Chưa có được thống kê chính xác về số lượng

cư dân loại này nhưng Việt Nam có thể tạm ước tính điển hình cho các thànhphố Hà Nội & TP Hồ Chí Minh là cứ 7-8 người dân có hộ khẩu ở nội thành đôthị thì có 1 người dân thuộc cấu thành dân số loại này

Như vậy ước tính có khoảng 10-12 vạn dân loại này ở TP Hà Nội và 30-35vạn dân ở TP Hồ Chí Minh - Một xu thế diễn biến dân số - lao đọng đang lưutâm hiẹn nay ở các đô thị lớn của Việt Nam

d Chính sách ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị và nông thôn

Với chính sách phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội, tạo môi trườngthu hút đầu tư, cải thiện điều kiện ở của nhân dân và thúc đẩy nhất thể hoá đô thịnông thôn, trên cơ sở quy hoạch vùng, quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết vàcác quy hoạch chuyên ngành, Nhà nước sẽ lập và triển khai các dự án thu hútcác nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tập trung vào các vùng,các đô thị trên phạm vi toàn quốc bao qồm hệ thống giao thông, mạng lưới cấpnước, cấp năng lượng, thoát nước và vệ sinh môi trường tại các vùng kinh tế cácvùng kinh tế trọng điểm và đô thị

Các loại đầu tư cơ sở hạ tầng gồm các dự án thực hiện từ ngân sách Nhànước, ngân sách địa phương và gần đây đã huy động thêm từ nguồn vốn tư nhân.Các nguồn vốn đầu tư cho các dự án kết cấu hạ tầng kỹ thuật có thể từ Nhà nướchoặc từ các nhà tài trợ nước ngoài như Ngân hang thế giới (WB), Ngân hàngphát triển Châu á (ADB), các Chính phủ các nước, các công ty tư nhân, vv…Hình thức đầu tư tương đối đa dạng như:

+ Nhà nước đầu tư toàn bộ hoặc một phần cho dự án từ ngân sách Nhà nướchoặc vốn nước ngoài như vay vốn với nhiều ưu đãi như lãi suất thấp, ân hạn kéodài,… hoặc được tài trợ không hoàn lại từ chính phủ các nước;

+ Nhà nước đầu tư một phần cùng với địa phương là người hưởng lợi trựctiếp từ dự án mang lại

Trang 22

+ Nhà nước cho phép thực hiện các Dự án Xây dựng-Hoạt động-Chuyểngiao (BOT) bằng nguồn vốn của chính nhà tài trợ Sau một thời gian hoạt độngkhai thác, chủ dự án sẽ chuyển giao toàn bộ cho phía Việt Nam.

Hiệu quả đầu tư của các dự án hạ tầng kỹ thuật khá cao Hiện nay, hầu hết hệthống hạ tầng kỹ thuật của toàn quốc, đô thị đều được thực hiện từ các dự án cónguồn tài trợ từ nước ngoài như các dự án về xây dựng các tuyến đường bộ,đường cao tốc, đường sắt trên cao, đường hầm, các dự án cấp nước cho các đôthị tỉnh lỵ, một số dự án thoát nước bẩn đô thị, các dự án xây dựng hệ thống xử

lý chôn lấp rác đô thị Đặc biệt, các dự án cấp nước đô thị, các dự án chôn lấp và

xử lý rác đô thị được nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm do khả năng thu hồivốn cao trong thời gian hoạt động Các dự án thoát nước bẩn dô thị, ô nhiễmkhông khí như xử lý bụi, tiếng ồn đô thị, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên,… dokhả năng thu hồi vốn hạn chế nên thường ít được chú trọng đầu tư

3 Cơ chế khuyến khích đầu tư và huy động vốn

a Chính sách huy động mọi thành phần kinh tế

Công cuộc đổi mới vào giữa thập niên 80 của thế kỷ trước đã đưa nước ViệtNam thoát khỏi những khó khăn về kinh tế, mở rộng các quan hệ xã hội tạo racho việc tăng trưởng trong nước và hoà nhập quốc tế

Bước vào giai đoạn mới của cách mạng, nền kinh tế nhiều thành phần, nhiềuhình thức sở hữu đan xen đang được phát triển đa dạng và năng động Trong khikinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo với những đóng góp quan trọng cho cácngành kinh tế then chốt, chủ yếu trong công nghiệp và dịch vụ như tài chính,ngân hàng, năng lượng, giao thông, bưu chính - viễn thông… góp phần tạo ramôi trường kinh tế ổn định và thuận lợi đối với sự phát triển của mọi thành phầnkinh tế, thì khu vực kinh tế ngoài Nhà nước đã có sự phát triển vượt trội nhờ cácchính sách kinh tế ngày càng thông thoáng Cho đến nay, cả nước đã có trên100.000 doanh nghiệp hoạt động thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó ướctính khoảng 5.300 doanh nghiệp Nhà nước và 2.300 doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài Đặc biệt khu vực tư nhân từ sau khi thi hành luật doanh nghiệp

1999 đã phát triển mạnh, góp phần tạo ra nhiều việc làm và đáp ứng nhu cầu đadạng cho các địa phương trong nước

Trang 23

Trên nền tảng của chính sách đổi mới, năng suất, chất lượng, hiệu quả củanền kinh tế đang ngày càng được tăng cường; sức cạnh tranh của các sản phẩm,các ngành và của chung toàn nền kinh tế đã tăng lên rõ rệt Từ đó đã tạo điềukiện để Việt Nam ngày càng tham gia chủ động và có chiều sâu vào quá trìnhhội nhập quốc tế và khu vực mà vẫn giữ vững được độc lập tự chủ về đường lối,

ổn định kinh tế vĩ mô; xây dựng được tiềm lực kinh tế đáng kể và nâng cao được

vị thế quốc gia vững chắc trên trường quốc tế

Thành tựu đổi mới kinh tế đất nước đã ghi đậm dấu ấn đóng góp của việckhia thác có hiệu quả khu vực kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế ngoàiquốc doanh Trước tiên, nó đã giải quyết được việc làm và thu hút một lực lượnglao động xã hội lớn Chỉ trong thập niên 90 của thế kỷ qua, tại các khu vực kinh

tế ngaòi Nhà nước, số lao động làm việc đã tăng hơn 7 triệu người, giúp giảmthấp tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn Trong khi đó, số lượng lao động trong khuvực Nhà nước chỉ tăng thêm 100.000 lao độngtrong 10 năm từ năm 1999 đến

2000 Với việc chuyển hoá đa dạng kinh tế nhiều thành phần đã giúp giảm tỷ lệthất nghiệp ở thành thị chỉ còn 6-7% và tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn chỉ còndưới 30% và đang ngày càng giảm đi

Những bước chuyển đổi quan trọng để tạo điều kiện cho việc khai thácmạnh các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh là:

+ Sự kiện có ý nghĩa lớn lao đối với một nước nông nghiệp như Việt Nam là

cơ chế “khoán 10” và “chỉ thị 100” trong nông nghiệp đã giúp đẩy mạnh sứcsản xuất nông nghiệp tăng trưởng vượt bậc đã cho phép Việt Nam có thể tăngtrưởng không ngừng khả năng xuất khẩu lương thực từ 1,4 triệu T năm 1989 lên1,6 triệu T năm 1990 và hiện nay đứng vào hàng thứ 2-3 trên thế giới về xuấtkhẩu lương thực Chính bước ngoặt tạo ra an ninh lương thực này đã trở thànhtiền để vững chắc để chúng ta đẩy nhanh công nghiệp hoá và đô thị hoá đất nướctrong gần hai thập kỷ qua

+ Chính phủ đã ban hành các nghị định ngày 9/3/1988 đã giúp khuyến khích

sự phát triển mạnh của các doanh nghiệp khu vực ngoài Nhà nước Đặc biệt cuốinăm 1987, Quốc hội đã thông qua luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã chínhthức công nhận lần đầu tiên một hình thức phát triển kinh tế mới với sự tham gia

Trang 24

của tư nhân nước ngoài ở Việt Nam Nhờ đó, nền kinh tế Việt Nam đã huy độngthêm vốn công nghệ, khai thác thị trường, đào tạo tay nghề và kỹ năng quản lý

từ các nhà đầu tư nước ngoài

+ Việc xoá bỏ tình trạng “ngăn sông, cấm chợ” trước đây cũng đã xoá bỏ vàtạo ra sự thông thoáng cho thị trường cho thị trường nội địa; từ đó giúp cácdoanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có điều kiện phát triểnmạnh

Nhờ những kết quả nêu trên, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã có nhữngtác động mạnh đến kinh tế quốc dân Việt Nam trong suốt thời kỳ đổi mới Theokết quả thu được, đến cuối năm 2000, khu vực dân doanh đã có khoảng 8.000doanh nghiệp công nghiệp, 18.000 doanh nghiệp dịch vụ và hàng triệu hộ cá thểtrong nông nghiệp, công nghiệp, công nghiệp và dịch vụ góp phần ngày càngnhiều vào sự nghiệp phát triển đất nước (tính đến năm 2000 đã đóng góp 48%GDP) Việc thực thi luật doanh nghiệp từ năm 2000, khu vực công nghiệp ngoàiquốc doanh của tư nhân trong nước đã phát triển với tốc độ 20% mỗi năm, đónggóp khoảng 23,5% giá trị sản xuất công nghiệp năm 2000 Tuy chỉ chiếm 13,6%vốn sản xuất và 12,1% giá trị tài sản cố định ngành công nghiệp ngưng khu vựckinh tế này đã có vị thế quan trọng khi tạo việc làm và đáp ứng nhu cầu đa dạngcủa cư dân các địa phương Ngoài ra, các lĩnh vực thương mại, nhà hàng , kháchsạn và du lịch ngoài quốc doanh cũng đã góp phần chủ yếu trong lưu thông vật

tư hàng hoá đáp ứng ngu cầu tiêu dùng phong phú của các tầng lớp cư dân vớitốc độ tăng trưởng 12% hàng năm

Riêng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và năm 1990, có nghĩa làsau 3 năm thi hành làm Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, cònchưa có vị trí đáng kể thì đến năm 1995 đã sản xuất 6,3% GDP, năm 2000 sảnxuất 13,3% GDP, và năm 2002 chiếm 14% GDP trở thành một phần kinh tếquan trọng, đóng góp đáng kể trong việc nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranhcảu nền kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, đào tạo nguồn nhân lực, kỹ năng quản lý

và kinh doanh hiện đại, thực hiện chuyển giao công nghệ, nhất là các công nghệcao, công nghệ mới Đó là chưa kể tới một lương kiều hối quan trọng, khoảngtrên 2-3 tỷ USD mỗi năm do người Việt Nam đang lao động, công tác hoặc định

Trang 25

cư ở nước ngoài gửi về giúp người thân và gia đình, đã trở thành nguồn ngoại tệquý để cân đối thanh toán quốc tế, đáp ứng nhu cầu cải thiện đời sống và đầu tưphát triển.

Chính sách huy động mọi nguồn lực cho công cuộc phát triển:

- Khai thác khu vực kinh tế tư nhân nói chung và khu vực đô thị

- Các hình thức khai thác các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh

b Chính sách thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước

Hiện nay, Chính phủ tạo mọi điều kiện để thu hút các nhà đầu tư trong vàngoài nước đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng cần thiết cho Việt Nam Gần đây,Việt Nam khuyến khích các dự án BOT và đang có nhiều nhà đầu tư xêm xétkhả năng đầu tư Tuy nhiên, do có những trở ngại về cơ chế chính sách nên nóichung nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng còn rất hạn chế Đa số các công trình hạtầng kỹ thuật lớn đều do Nhà nước đầu tư trên cơ sở vốn vay của các nhà tài trợnước ngoài

Phát triển cơ sở hạ tầng mạnh mẽ trên toàn quốc là chính sách chung củaĐảng và Chính phủ Việt Nam Tuy nhiên, do nguồn vốn đầu tư có hạn nên hiệnnay Nhà nước Việt Nam mới tập trung đầu tư vào những khu vực trọng điểm.Trừ các cơ sở hạ tầng giao thông có tính chất liên vùng như các tuyến quốc lộ,các dự án hạ tầng kỹ thuật khác đa số tập trung vào các thành phố lớn, các đô thịtỉnh lỵ Các đô thị nhỏ và vừa ở các tỉnh nói chung vẫn trong tình trạng ít đượcđầu tư, cơ sở hạ tầng thiếu thốn

Các dự án hạ tầng cơ sở được đầu tư hiện nay chủ yếu thuộc về các lĩnh vựcgiao thông cho việc xây dựng các tuyến đường huyết mạch của đất nước, cấpnước cho các đô thị tỉnh lỵ, xử lý chất thải rắn cho một số đô thị lớn như HàNội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng,… Các đô thị nhỏ khác như các thị xã, thị trấnthông thường không có các dự án đầu tư xây dựng hệ thống giao thông, cấpđiện, cấp thoát nước,… nhưng Nhà nước vẫn bố trí ngân sách hàng năm cho cáclĩnh vực này tuy nguồn vốn không nhiều và nhỏ giọt

c Huy động sự tham gia của cộng đồng - quy chế dân chủ

Ngay sau khi thống nhất đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra Nghịquyết xây dựng chế độ làm chủ tập thể và con người mới xã hội chủ nghĩa Từ

Trang 26

đó phương châm Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ đã đượcquán triệt trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Trong những năm gần đây, quy chế dân chủ đã được đưa ra như kim chỉnam cho việc thực hiện dân chủ mọi hoạt động kinh tế - xã hội ở Việt Nam Quychế thực hiện dân chủ nhằm khuyến khích mọi nguồn lực trong lao động sảnxuấtvà sáng tạo, tạo môi trường để mọi người có khả năng đóng góp cho xã hộiđược nhiều nhất, bảo đảm quyền lợi chính đáng về lao động sản xuất và sángtạo, sở hữu trí tuệ, quyền lợi vật chất, tinh thần; đánh giá công bằng sự cốnghiến, đóng góp chống độc đoán, độc tôn, chuyên quyền, chống quan liêu thamnhũng, lãng phí của công; tạo điều kiện để công dân tham gia vào quá trình quản

lý các hoạt động kinh tế - xã hội Theo đó các nguyên tắc thực hiện dân chủgồm:

Thực hiện dân chủ trong hoạt động kinh tế - xã hội trên cơ sở phát huyquyền làm chủ của mọi thành viên tham gia, vai trò của các tổ chức đoàn thểquần chúng bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức Đảng (CSVN) và thực hiện chế độthủ trưởng của đơn vị chính quyền

Thực hiện dân chủ trong khuôn khổ của hiến pháp, pháp luật cảu nhà nước,bảo đảm cho các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đượcthực hiện nghiêm chỉnh và có hiệu quả trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội.Trên cơ sở của quy chế dân chủ, nhiều hoạt động có liên quan đến xã hộihoá phát triển trong cộng đồng dân cư đã được phát động và được mọi tầng lớpdân cư hưởng ứng và triển khai tích cực trên tinh thần dân biết, dân làm, dânkiểm tra Theo đó nhiều hoạt động trong phát triển đô thị - nông thôn như xâydựng nhà ở, cơ sở hạ tầng kỹ thuật (giao thông, điện nước, vệ sinh môi trường),giáo dục, y tế, văn hoá,… đã thực sự đi vào cuộc sống, đáp ứng đúng mong đợicủa người dân, được nhân dân tham gia, đóng góp tích cực cả về vật chất lẫntinh thần Từ đó đã hình thành được nhiều khu ở do Nhà nước và nhân dân cùnglàm, xây dựng được nhiều địa phương các hệ thống công trình liên kết chặt chẽ

về giáo dục phổ thông; các hoạt động văn hoá nghệ thuật quần chúng, giữ gìnbản sắc dân tộc, địa phương; lưu thông trao đổi hpọ lý các hoạt đốngản xuất,dịch vụ, thương mại trong nội bộ địa phương và giữa các địa phương với nhau…

Trang 27

Đặc biệt công tác quy hoạch xây dựng đã từng bước được sự tham gia chặt chẽcủa cộng đồng trong từng giai đoạn tìm hiểu hiện trạng, dự kiến ý đồ, lập đồ án,xét duyệt đồ án Hiện nay ở nhiều địa phương, nhất là các đô thị lớn như HàNội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế…các đồ án quy hoạchxây dựng đô thị thường xuyên được trưng bày, công bố rộng rãi để nhân dânbiết, theo dõi và góp ý

II HỆ THỐNG CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG

Trong thực tiễn không thể tách biệt các văn bản quản lý kinh tế với quản lý

xã hội, bởi vì các vấn đề kinh tế với các vấn đề xã hội thường đan xen chặt chẽvới nhau Tuy vậy, để thuận lợi cho người làm công tác quản lý trong phần naytạm nhóm các văn bản quản lý phát triển đô thị bên vững vào 3 nhóm sau đây:

1 Các văn bản quản lý kinh tế phát triển bền vững

Chỉ thị số 32/1998/CT-TTg ngày 13/9/1998 của Thỉ tướng Chính phủ vềcông tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ đến 2010;

Thông tư số 05/2003/TT-BKH ngày 22/7/2003 của Bộ Kế hoạch và Đầu tưhướng dẫn về nội dung, trình tự, thẩm định và quản lý các dự án quy hoạch pháttriển ngành và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội lãnh thổ;

Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 (Văn kiệnĐại Hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng);

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 (Văn kiện Đại hội đại biểutoàn quốc lần thức IX của Đảng);

Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm được Quốc hội thông qua

2 Các văn bản quản lý xã hội phát triển bền vững

Mục tiêu thiên nhiên kỷ;

Chương trình nghị sự 21;

Chiến lược tổng thể xoá đói giảm nghèo

3 Các văn bản quản lý đô thị phát triển bên vững

Luật Đất đai, nghị định 88/CP ngày 17/8/1994 về quản lý và sử dụng đất đôthị;

Luật Xây dựng;

Trang 28

Luật Bảo vệ môi trường;

Chiến lược phát triển giao thông đến 2020

III ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HỆ THỐNG CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ ĐÔ THỊ

1 Vấn đề phát triển kinh tế - xã hội và động lực phát triển đô thị

Cơ sở kinh tế - kỹ thuật hoặc động lực phát triển đô thị còn yếu, tăng trưởngkinh tế chưa cân đối với tăng trưởng dân số Điều này được phản ánh qua tốc độtăng trưởng kinh tế đô thị trung bình hàng năm của đô thị tuy đạt 13-15%, mỗinăm đã giải quyết được việc làm cho trên dưới 1 triệu lao động, nhưng haingành dịch vụ và công ngiệp - những động lực phát triển đô thị quan trọng nhấtmới chỉ thu hút được 27,7% tổng số lao động xã hội Trên thực tế tỷ lệ dân sốtrong độ tuổi lao động chưa có việc làm tại các đô thị vẫn chưa cao, nhất là các

đô thị lớn chiếm khoảng 15-20% Số người sống lang thang, cơ nhỡ,vô gia cư,các khu định cư bất hợp pháp, kém chất lượng đang là một trong những vấn đề

xã hội và môi trường bức xúc, cũng phần lớn xảy ra ở các đô thị lớn

Động lực phát triển đô thị về cơ bản vẫn là trên cơ sở chuyển dịch cơ cấukinh tế Theo Viện Chiến lược phát triển, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

và thực trạng của vấn đề này chỉ tính trong thời kỳ 10 năm 1990-2000 cho thấy:

Cơ cấu công nghiệp tăng từ 22,7% năm lên 33,3% năm 1990 lên 33,3% năm

2000 tương ứng với tỷ lệ đô thị hoá tăng từ 19% năm 1999 lên 22-23% năm

2000 Như vậy, có sự thay đổi một bước đáng kể theo hướng công nghiệp hiện đại hoá Điều này đồng nghĩa với việc tạo động lực phát triển đô thị mộtcách lành mạnh, đúng hướng

hoá-Cơ cấu lao động cũng sẽ được chuyển dịch theo hướng Công Thương mại-Dịch vụ nhiều hơn, có lợi hơn, tạo được nhiều thành phần lao độngphi nông nghiệp, một yếu tố làm nên động lực phát triển đô thị và đô thị hoá cóchiều sâu, hợp lý và hiệu quả

nghiệp-2 Vấn đề khai thác và sử dụng đất đai đô thị

Xem xét tình hình chung sử dụng đất đai trên toàn quốc trong thời kỳ

1980-2000 được tổng hợp trên bang sau:

Bảng 2: Tình hình sử dụng đất toàn quốc thời kỳ 1980-2000

Trang 29

và sông suối, núi đá 12.967,0 39,0 14.924,9 45,1 12.604,1 37,80 10.027,2 30,46

Nguồn: Viện quy hoạch Đất đai-Bộ Tài nguyên môi trường

Qua bảng trên cho ta thấy các chỉ số diện tích đất có liên quan đến đô thịhoá là đất chuyên dùng và đất ở đô thị đều tăng trưởng và chủ yếu được pháttriển từ việc sử dụng vào đất canh tác nông nghiệp và đát ở nông thôn Tính đếnnăm 2000 đất chuyên dùng chiếm 1.532.800ha và đất ở (đô thị và nông thôn)chiếm 440.400ha Nguồn đất chưa khai thác sử dụng là 10.027.000ha

Trong đất chuyên dùng, đất xây dựng chiếm 126.490ha và đất có liên quannhiều đến đô thị hoá là giao thông chiếm 37.965ha Diễn biến sử dụng đấtchuyên dùng thể hiện trên bảng sau:

Trang 30

Bảng3: Diễn biến sử dụng đất chuyên dùng

Nguồn: Viện Quy hoạch Đất đai-Bộ Tài nguyên và Môi trường

Phân tích đát chuyên dùng có liên quan đến phát triển đô thị cho thấy đấtchuyên dùng trong khu dân cư 362.167ha và ngoài khu dân cư 1.170.676ha.Xét về đất đô thị, thống kê cho thấy trong đất đô thị đất nông nghiệp-lâmnghiệp và đất chưa sử dụng chiếm 78,52% (777.580ha) Những loại đất thật sựthuộc về đô thị đó là đất ở và đất chuyên dùng chỉ chiếm 21,48% (212.696ha)

Có tình trạng trên là do trong vài năm gần đây nhiều đô thị mở rộng lấy cào đấtven đô và đang trong quá trình đô thị hoá và hơn nữa theo quy định hiện hànhcác thị trấn tuy được thống kê vào đất đô thị song đất đai của các thị trấn chủyếu là đất nông nghiệp (Có 557 thị trấn là đất ruộng lúa chiếm gần 10 vạn ha).Nếu tính theo ranh giới hành chính, đất đô thị bình quân đầu người hiện nay

là 532m2, trong đó đất chuyên dùng và đất ở là 114m2, thấp nhất là vùng đồngbằng sông Hồng và Đô Nam Bộ 70-80m2, cao nhất là các vùng miền núi và Tâynguyên 180m2 Như vậy đất đô thị (chỉ tính đất ở và đất chuyên dùng) bình quânđầu người của Việt Nam không phải là thấp so với yêu cầu của thành phố hiệnđại Đối với các đô thị lớn của Việt Nam có thể áp dụng định mức 80-100m2/người, tuy nhiên cần có quy hoạch xây dựng phù hợp với định mức sửdụng đất trên (nâng hệ số tầng để sử dụnghợp lý không gian đô thị) Đối với các

đô thị khác để phù hợp với mức độ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương cóthể áp dụng định mức đất cao hơn Từ năm 1991 đến nay, Nhà nước đã ban hành

Trang 31

nhiều văn bản xoá bỏ bao cấp, khuyến khích nhân dân tự xây dựng nhà ở Từchính sách đầu tư có tính chất bao cấp chuyển sang chính sách tạo điều kiện đãkhơi dậy được tiềm năng của nhân dân trong xây dựng nhà ở Vì vậy, trongnhững năm qua quỹ nhà ở đã tăng lên đáng kể, cùng với quỹ đất ở đô thị từ57.500 ha năm 1995 tange lên 72.200ha năm 2000 Năm 1990, tại các đô thị cókhoảng 81 triệu m2 nhà ở và bình quân đầu người là 5,8m2 thì năm 2000 diệntích nhà ở đô thị Việt Nam khoảng 147 triệu m2, bình quân là 7,7m2/người (riêng

Hà Nội 6,8m2/người, thành phố Hồ Chí Minh 7,8m2/người)

Tình trạng phân bố dân cư và sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích xâydựng đô thị đang tiềm ẩn mối nguy cơ không nhỏ đối với vấn đề an toàn lươngthực và thực phẩm Thực tế hiện nay cho thấym trên 70% đô thị và dân số đô thịđược phân bố tại các vùng đồng bằng, ven biển, nơi tập trung chủ yếu quỹ đấtnông nghiệp cả nước, trong đó phần lớn là đất tốt cho năng suất sản phẩm câylương thực cao Nếu giữ nguyên tình trạng phân bố dân cưnhư hiện nay thì quỹđất nông nghiệp sẽ giảm đi trung bình mỗi năm khoảng 3.800ha Một côn sốđáng báo động cho vấn đề an toàn lương thực thực phẩm

3 Vấn đề phát triển không gian đô thị

Cơ cấu tổ chức không gian hệ thống phân bố dân cư trên địa bàn cả nướcmất cân đối, đang tạo ra sự cách biệt giữa đô thị-nông thôn, giữa vùng pháttriển-kém phát triển còn lớn và đang có xu thế diễn biến ngày một xấu hơn mốiquan hệ này Thực tế cho thấy hình thức phân bố dân cư đô thị-nông thôn ở ViệtNam trước đây có mối quan hệ tương đối gắn bó giờ đây đang trở nên cách biệthơn về kinh tế, xã hội, văn hoá, dịch vụ và nghỉ ngơi giải trí Tình trạng nàyđang duy trì một tỷ lệ cách biệt lớn giữa vung chậm phát triển và chưa phát triểnchiếm 82% diện tích tự nhiên cả nước, trong khi chỉ có 18% diện tích thuộcvùng phát triển Về toàn cục thế cân bằng chiến lược phát triển giữa ba vùngBắc-Trung-Nam chưa hình thành Điểm cốt yếu là khu vực miền Trung vẫnchưa có được các trung tâm kinh tế lớn xứng đáng làm đối trọng với các vùngkinh tế trọng điểm miền Bắc và miền Nam Trong khi đó hệ thống các đô thịtrung tâm vẫn chưa hình thành đều khắp các vùng; có đến gần 50% dân số đô thịhiện đang tập trung tại hai thành phố lớn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Tại

Trang 32

các vùng trung du, miền núi và hải đảo còn thiếu các đô thị-trung tâm tạo cựctăng trưởng cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội trong vùng Ngược lạicác đô thị lớn có sức thu hút mạnh đang tạo ra sự tập trung dân cư - công nghiệpquá tải, gây áp lực lớn cho môi trường sống dân cư ở các nơi đó Trên thực tếcác đô thị nhỏ và vừa hiện nay còn kém sức hấp dẫn, rất khó có khả năng đảmnhiệm một cách trọn vẹn vị trí và vai trò trung tâm của minh trong mạng lưới đôthị của tỉnh, vùng cũng như Quốc gia.

Quá trình đô thị hoá và phát triển đô thị chưa phản ánh thật đậm đà bản sắcvăn hoá dân tộc, các đặc thù sinh thái nhân văn và sinh thái tự nhiên trong quyhoạch và kiến trúc đô thị Điều này rất dễ nhận dạng khi không ít những đô thịmiền núi phía Bắc, Tây nguyên, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng ven biển,vùng đồng bằng sông Cửu Long được nghiên cứu qua những đồ án quy hoạch vàtriển khai xây dựng không khác biệt nhau nhiều để thể hiện tính đặc thù trongcác nét bản địa, tính đặc trưng văn hoá, nét kiến trúc địa phương, các biểu trưng

về sinh thái tự nhiên, sinh thái xã hội Trong các giải pháp quy hoạch tổ chứckhông gian, bố cục cơ cấu chức năng và xây dựng từng công trình thường chỉhướng đến đô thị hiện đại mà quá ít đầu tư cho những đặc thù truyền thống củamỗi đô thị

4 Vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng

Qua 10 năm thực hiện các chính sách đô thị hoá, cơ sở hạ tầng đô thị nhìnhchung còn yếu kém, không đảm bảo các tiêu chuẩn phát triển các đô thị trongđiều kiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá

Về hạ tầng xã hội: diện tích nhà ở tại các đô thị mới đạt trên 80 triệu m2 cácloại, bình quân 5,8m2/người Cơ sở hạ tầng xã hội và kỹ thuật tại các khu dân cư

đô thị nhìn chung không đồng bộ, lại bị xuống cấp nên chất lượng môi trường ởrất thấp

Mạng lưới giao thông trong và ngaòi đô thị chưa phát triển, gây trở ngại chocác mối liên hệ giữa đô thị với các vùng lân cận và nông thôn và các dịchchuyển đối với hoạt động: làm việc, sinh hoạt và nghỉ ngơi giải trí trong đô thị.Tại các đô thị lớn, giao thông công cộng đang chiếm tỷ lệ rất thấp; tình trạng ách

Trang 33

tắc giao thông rất phổ biến tại hai thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh Tỷ lệ đấtdành cho giao thôn, nhất là giao thông tính mới đạt 5% diện tích đất đô thị.Cấp nước tại các đô thị mới chỉ đảm bảo cho khoảng 47% số dân đô thị,trong khi đó tỷ lệ thất thoát nước lên tới 45%; nguồn cấp nước cho đô thị, côngnghiệp chưa có quy hoạch và kế hoạch khai thác hợp lý.

Mạng lưới thoát nước và vệ sinh đô thị giải quyết chưa tốt nên hiện tượngngập úng, ô nhiễm môi trường còn khá phổ biến, nhất là tại các đô thị lớn

Công tác phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn chưa đượcgiải quyết đầy đủ Mới có khoảng trên dưới 50% chất thải rắn được thu gom và

xử lý tại các thành phố lớn Các thị xã, thị trấn hầu như chưa được xem để xemxét để có giải pháp khắc phục

Cơ sở hạ tầng đô thị còn phát triển hạn chế không nhìn nhận đồng bộ trêndiện rộng, nhiều nơi còn xây dựng manh mún và nói chung còn yếu kém, khôngđảm bảo các tiêu chuẩn phát triển đô thị tương xứng với điều kiện công nghiệphoá - hiện đại hoá

Công tác phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn cũng đang làmột vấn đề bức xúc vè hiện nay mới có khoảng 50% chất thải rắn được thu gom

và xử lý tại các thành phố lớn Khu vực các thị xã, thị trấn thì hầu như chưađược xem xét để có giải pháp khắc phục

5 Phát triển đô thị với vấn đề bảo vệ môi trường và môi trường đô thị

Những vấn đề thời sự có tầm vĩ mô trong mối quan hệ vùng, đô thị với côngtác bảo vệ môi trường đang là mối quan tâm lớn đối với sự phát triển bền vữngcủa Việt Nam Đó là việc tài nguyên thiên nhiên sử dụng chưa thật sự hợp lý,thiếu kế hoạch đang làm cho quỹ rừng bị suy giảm rất nghiêm trọng, nhất là đốivới rừng phòng hộ và rừng đầu nguồn nên khí hậu đang có nhiều biến động vớithiên tai thường xảy ra và ngày càng đe doạ nghiêm trọng cuộc sống dân cư ởnhiều nơi Trong đó ở các vùng đô thị hoá, bộ khung bảo vệ thiên nhiên đang bịxâm phạm, không được quy hoạch và có biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt đối vớicác vành đai xanh, hệ thống công viên, vườn hoa, mạng lưới hồ điều hoà… Tiêuchuẩn đất dành cho cây xanh đô thị quá thấp, trung bình mới chỉ đạt 0,5-1,0m2/người Nhiều di sản văn hoá, lịch sử có giá trị cũng chưa được quan tâm

Ngày đăng: 17/07/2013, 20:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số hộ nghèo cao hơn mức bình quân cả nước (62,9% dân số). - Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý phát triển đ« thị bền vững
Bảng 1 Số hộ nghèo cao hơn mức bình quân cả nước (62,9% dân số) (Trang 18)
Bảng 4: Đánh giá hệ thống chính sách đô thị hoá theo ma trận SWOT - Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý phát triển đ« thị bền vững
Bảng 4 Đánh giá hệ thống chính sách đô thị hoá theo ma trận SWOT (Trang 39)
Bảng 5: Những văn bản pháp lý cần nghiên cứu chỉnh sửa. - Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý phát triển đ« thị bền vững
Bảng 5 Những văn bản pháp lý cần nghiên cứu chỉnh sửa (Trang 46)
Hình hiện nay Kết quả mong đợi - Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý phát triển đ« thị bền vững
Hình hi ện nay Kết quả mong đợi (Trang 51)
Bảng 7: Dân số đô thị và tỷ lệ đô thị hoá trên thế giới thời kỳ 1950-2025 Năm tổng dân số thế giới - Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý phát triển đ« thị bền vững
Bảng 7 Dân số đô thị và tỷ lệ đô thị hoá trên thế giới thời kỳ 1950-2025 Năm tổng dân số thế giới (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w