Trong cơ chế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại, đứng vững và phát triển thì chất lượng sản phẩm và dịch vụ phải được đặt lên hàng đầu, đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh.
Trang 1MỤC LỤC
Lời mở đầu 4
Chương I 6
Lí luận chung về sản phẩm và chất lượng sản phẩm 6
I Các vấn đề cơ bản về sản phẩm 6
1 Khái niệm về sản phẩm 6
2 Phân loại sản phẩm 7
II Khái niệm cơ bản về chất lượng sản phẩm 8
1 Khái niệm và vai trò về chất lượng sản phẩm 8
1.1 Khái niệm chất lượng sản phẩm 8
1.2 Vai trò của chất lượng sản phẩm 10
2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng sản phẩm 12
3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm 13
3.1 Những nhân tố thuộc môi trường bên ngoài 13
3.2 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp 15
4 Chi phí chất lượng 17
Chương II 19
Thực trạng hoạt động sản xuất tại Công ty in 19
Khoa học kỹ thuật 19
I Giới thiệu tổng quan về Công ty 19
1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty in Khoa học kỹ thuật 19
2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty 21
3 Cơ cấu, tổ chức bộ máy của Công ty 22
II Thực trang hoạt động sản xuất của Công ty 28
1 Một số kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong thời gian qua 28
Trang 22 Trình độ áp dụng khoa học công nghệ vào hoạt động sản xuất 32
2.1 Đặc điểm quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm 32
2.2 Đặc điểm thiết bị của Công ty 34
Chương III 35
Thực trạng về chất lượng sản phẩm của Công ty in 35
Khoa học kỹ thuật 35
1 Một số nét về chất lượng sản phẩm của Công ty 35
2 Tình hình thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm tại Công ty in Khoa học kỹ thuật 38
2.1 Từng bước hoàn thiện bộ máy quản lý chất lượng sản phẩm .39 2.2 Tình hình cung ứng nguyên vật liệu 40
2.3 Tình hình cải tiến máy móc thiết bị 42
2.4 Đào tạo nâng cao trình độ cho toàn thể cán bộ công nhân viên trong Công ty 42
2.5 Thực hiện chế độ khen thưởng đối với công nhân viên 43
3 Những ưu điểm trong công tác nâng cao chất lượng sản phẩm của Công ty in Khoa học kỹ thuật 44
4 Những khó khăn còn tồn tại ở Công ty in Khoa học kỹ thuật 45
5 Nguyên nhân của những tồn tại 46
Chương III 50
Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm tại Công ty in Khoa học kỹ thuật 50
I Phương hướng phát triển của Công ty in Khoa học kỹ thuật 50
II Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm tại Công ty in Khoa học kỹ thuật 51
1 Đối với Công ty 51
1.1 Xây dựng chiến lược chất lượng sản phẩm hợp lý 51
1.2 Hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý 52
1.3 Tiến hành áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000, TQM .53
1.4 Đầu tư nâng cao công nghệ sản xuất 54
Trang 31.6 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công nhân viên Công ty về
kiến thức chuyên môn cũng như trong quản lý chất lượng 58
1.7 Tăng cường công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm 60
1.8 Áp dụng chế độ thưởng phạt nhằm tạo động lực cho cán bộ công nhân viên 61
2 Một số kiến nghị đối với Nhà nước 63
2.1 Tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với chất lượng sản phẩm 63
2.2 Hoàn thiện các chính sách hỗ trợ hoạt động sản xuất 65
Kết luận 68
Danh mục tài liệu tham khảo 69
Trang 4Lời mở đầu
Trong cơ chế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại,đứng vững và phát triển thì chất lượng sản phẩm và dịch vụ phải được đặtlên hàng đầu, đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao khả năng cạnhtranh
Ngày nay do tình hình phát triển nhanh chóng về công nghệ khoahọc trên thế giới, của kinh tế thị trường và sự hội nhập với nền kinh tế thếgiới thì chất lượng ngày càng được nâng cao, hoàn thiện trên tất cả mọimặt
Trong thực trạng đất nước ta hiện nay, thì tình hình khoa học côngnghệ vẫn còn lạc hậu, có khoảng cách xa với công nghệ thế giới Mặt khác,
cơ chế quản lý, đầu tư chưa thỏa đáng nên ảnh hưởng đến chất lượng sảnphẩm rất lớn Điều này ảnh hưởng đến sự cạnh tranh giữa sản phẩm, dịch
vụ trong nước và trên thế giới Do đó đây chính là cơ hội cũng như tháchthức đối với các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và đối với Công ty inKhoa học kỹ thuật nói riêng
Với sự đòi hỏi nâng cao chất lượng cuộc sống đi đôi với việc nângcao tri thức thì nhu cầu về sách vở, báo chí, các ấn phẩm cao cấp…ngàycàng được nâng cao về nội dung, thể loại, chất lượng sản phẩm Thực tếnày đã đòi hỏi Công ty in Khoa học kỹ thuật phải nâng cao chất lượng sảnphẩm, năng lực sản xuất, đầu tư công nghệ, kỹ năng quản lý…
Như vậy vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm tại Công ty in Khoahọc kỹ thuật là một vấn đề cơ bản, quan trọng ảnh hưởng lớn đối với sựphát triển của Công ty Xuất phát từ lý luận trên và qua quá trình thực tập
tại Công ty em đã lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất
Trang 5lượng sản phẩm tại Công ty in Khoa học kỹ thuật.” cho bài báo cáo thực
tập của mình
Trong bài báo cáo này em xin trình bày những nội dung chính sau:
Chương I : Lí luận chung về sản phẩm và chất lượng sản phẩm
Chương II : Thực trạng hoạt động sản xuất của Công ty in Khoa học kỹ thuật
Chương III : Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm tại Công ty in Khoa học kỹ thuật
Trang 6mã Sản phẩm không chỉ đáp ứng nhu cầu về vật chất mà còn cả về tinhthần.
Hiện nay khái niệm về sản phẩm được nhiều người biết đến và được
sử dụng nhiều nhất là theo ISO 9000: 2000 thì sản phẩm được định nghĩa là
“kết quả của các hoạt động hay các quá trình” Như vậy tất cả mọi hoạtđộng đều tạo ra sản phẩm, bao gồm những hoạt động sản xuất ra những vậtphẩm vật chất cụ thể và những hoạt động tạo ra dịch vụ Một doanh nghiệptạo ra một yếu tố vật chất hay một hoạt động nào đó nhằm đáp ứng nhu cầubên trong và bên ngoài của doanh nghiệp mình đều được gọi là đã tạo rasản phẩm
Sản phẩm được tạo ra từ hai bộ phận cấu thành là phần cứng và phầnmềm Phần cứng của sản phẩm là các thuộc tính vật chất hữu hình đượcbiểu hiện dưới một hình thức cụ thể như nguyên vật liệu đã chế biến, sảnphẩm được lắp ráp Thuộc tính phần cứng phản ánh giá trị sử dụng nhưchức năng, công dụng kỹ thuật, kinh tế của sản phẩm Phần cứng phụ thuộcvào trình độ kỹ thuật, lao động, vốn đầu tư trong quá trình sản xuất ra sản
Trang 7khách hàng như các yếu tố về thông tin, các khái niệm, các dịch vụ đikèm… nhằm đáp ứng nhu cầu về tinh thần, tâm lý xã hội của khách hàng.Phần mềm nâng cao việc thu hút khách hàng Trong điều kiện cạnh tranhgay gắt ngày nay thì chính phần mềm tạo ra rất nhiều lợi thế trong cạnhtranh, nó càng ngày càng trở nên quan trọng và mang tính đặc trưng củamỗi sản phẩm.
2 Phân loại sản phẩm.
Trong đời sống của con người, nhu cầu về vật chất và tinh thần là rấtlớn và càng ngày càng được nâng cao Đi đôi với điều này thì sản phẩm đểđáp ứng những nhu cầu đó cũng phải được hoàn thiện hơn về mọi mặt Cácdoanh nghiệp sản xuất ra hàng trăm nghìn các loại sản phẩm với nhữngchức năng tên gọi, công dụng khác nhau Để đảm bảo công tác quản lý thìviệc phân loại sản phẩm là rất cần thiết, có thể dựa vào rất nhiều tiêu chíkhác nhau như thời gian, lĩnh vực, mục đích, công dụng…nhưng cách phânloại phổ biến nhất, tiện lợi nhất là căn cứ vào công dụng và chức năng củasản phẩm
Theo mục đích sử dụng, sản phẩm được chia làm 3 loại: sản phẩmdùng để đáp ứng nhu cầu của sản xuất sản phẩm, sản phẩm dùng để tiêudùng và sản phẩm dùng để bán Mỗi loại sản phẩm lại chia thành nhữngnhóm nhỏ để đáp ứng với những đòi hỏi cụ thể như về giá trị sử dụng, yêucầu bảo quản, quản lý…
Trong quản lý sản phẩm có thể được chia thành sản phẩm hữu hình
và sản phẩm vô hình Trong đó sản phẩm hữu hình là những vật thể hayhàng hoá có ích chiếm dụng một khoảng không gian nhất định nhằm đápứng một hoặc một số nhu cầu của con người, chúng là những hàng hoá vàvật thể đem bán trên thị trường phục vụ cho khách hàng Ví dụ như ôtô, xemáy,quần, áo… Còn sản phẩm vô hình là những dịch vụ, tiện nghi hoặc các
Trang 8quyết định có giá trị Dịch vụ là những sản phẩm được tạo nên bởi sự cảmnhận của người tiêu dùng như dịch vụ cắt tóc, dịch vụ chở xe Các quyếtđịnh cũng là những sản phẩm không có hình dáng cụ thể, người bị tác độngchỉ có thể cảm nhận được sau một thời gian nhất định.
II Khái niệm cơ bản về chất lượng sản phẩm.
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay thì các doanh nghiệpmuốn tối đa lợi nhuận thì phải cạnh tranh với nhau trên mọi phương diện.Trong đó vấn đề chất lượng sản phẩm là vấn đề chủ chốt và luôn luôn đượcđánh giá là mục tiêu hàng đầu để giành thắng lợi
Với mục tiêu của các doanh nghiệp muốn đạt lợi nhuận cao thì vấn
đề chất lượng sản phẩm đã được nghiên cứu, giảng dạy, tuyên truyền ởnhiều lĩnh vực với nhiều phương tiện khác nhau
1 Khái niệm và vai trò về chất lượng sản phẩm
1.1 Khái niệm chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là khái niệm đã xuất hiện từ lâu, và được sửdụng rất rộng rãi trên nhiều lĩnh vực và thông dụng hàng ngày Đã có rấtnhiều nước trên thế giới nghiên cứu và đưa ra nhiều quan điểm khác nhautrong vấn đề này Chất lượng sản phẩm là một chủ đề rất rộng và phức tạp,phản ánh nhiều chỉ tiêu tổng hợp Do đặc điểm này mà đã có rất nhiều quanniệm khác nhau về chất lượng sản phẩm Mỗi quan niệm đều có những căn
cứ khoa học khác nhau, gắn với những thực tiễn nhất định Tùy thuộc vàogóc độ xem xét, quan niệm mỗi nơi, và vào từng giai đoạn khác nhau màngười ta đưa ra nhiều khái niệm về chất lượng sản phẩm Dưới đây là một
số quan điểm thường được đề cập đến
Xuất phát từ sản phẩm cho rằng chất lượng sản phẩm được phản ánhbởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đó Các nước trong hệ thống
Trang 9nội tại của sản phẩm được xác định bằng những thông số có thể đo đượchoặc so sánh được, những thông số này lấy ngay trong sản phẩm đó hoặcgiá trị sử dụng của nó.” Quan điểm này về cơ bản đã phản ánh đúng đượcmức độ chất lượng sản phẩm mà nó đạt được nhưng chưa phản ánh đượcbiến động của nhu cầu trên thị trường với tình hình cụ thể của từng doanhnghiệp.
Theo quan niệm của những nhà sản xuất thì chất lượng là sự hoànhảo và phù hợp của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêuchuẩn, quy cách đã xác định trước Với quan điểm này thì các nhà sản xuất
sễ đề ra chỉ tiêu chất lượng và có sự điều chỉnh trong quá trình sản xuấtnhằm đạt được chỉ tiêu đề ra
Nói một cách chung nhất thì nâng cao chất lượng sản phẩm là nhằmđặt mục tiêu thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng Do đó quan điểm chấtlượng phải được nhìn nhận một cách khách quan xem người tiêu dùngmuốn sản phẩm có những đặc tính gì Những quan niệm đó được gọi làquan niệm chất lượng sản phẩm xuất phát từ người tiêu dùng Nó đượcđịnh nghĩa là sự phù hợp của sản phẩm với mục đích sử dụng của ngườitiêu dùng Theo nhà kinh tế học phương tây Feigenbaum: “Chất lượng sảnphẩm là tập hợp các đặc tính kỹ thuật, công nghệ và vận hành của sảnphẩm, nhờ chúng mà sản phẩm đáp ứng được các yêu cầu của người tiêudùng khi sử dụng sản phẩm.”
Xuất phát từ mặt giá trị, chất lượng được hiểu là đại lượng đo bằng
tỷ số giữa lợi ích thu được từ người tiêu dung sản phẩm với chi phí phải bỏ
ra để đạt được lợi ích đó Theo A.P.Viavilov, một chuyên gia quản lý chấtlượng ở Liên Xô cũ thì: “Chất lượng là một tập hợp những tính chất củasản phẩm chứa đựng mức độ thích ứng của nó để thoả mãn những nhu cầunhất định theo công dụng của nó với những chi phí xã hội cần thiết”
Trang 10Xuất phát từ tính cạnh tranh của sản phẩm thì chất lượng cung cấpnhững thuộc tính mang lại lợi thế cạnh tranh nhằm phân biệt nó với sảnphẩm cùng loại trên thị trường.
Để phát huy mặt tích cực và những hạn chế của các quan điểm trên,
Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hoá (ISO) đã đưa ra khái niệm ISO 9000 vềđịnh nghĩa chất lượng: “Chất lượng là mức độ thoả mãn của một tập hợpcác thuộc tính đối với các yêu cầu” Đây là định nghĩa tổng quát nhất thểhiện sự thống nhất kỹ thuậtcác thuộc tính nội tại khách quan của sản phẩm
để đáp ứng nhu cầu chủ quan của khách hàng Do vậy nâng cao chất lượngsản phẩm của mình sẽ phải gắn bó với các yếu tố cơ bản của thị trường nhưgiá cả, nhu cầu, khách hàng, công nghệ
1.2 Vai trò của chất lượng sản phẩm
Hiện nay chất lượng sản phẩm là một yếu tố vô cùng quan trọng, làchỉ tiêu hàng đầu mà các doanh nghiệp muốn nâng cao và hoàn thiện Nókhông chỉ tác động tới sự tồn tại và phát triển trong phạm vi quốc gia mà
nó còn tác động tới thị trường trong khu vực và trên thế giới Một quốc gia
có sản phẩm chất lượng tốt sẽ giúp cho nền kinh tế vững vàng và phát triển
Trong điều kiện nền công nghiệp Việt Nam còn lạc hậu, kém khoảngcách xa với nhiều nước trên thế giới thì việc nâng cao chất lượng sản phẩm
để có tính cạnh tranh là rất quan trọng Mặt khác ngày nay người tiêu dùng
có nhu cầu lớn, họ có quyền lựa chọn nhà sản xuất, cung ứng một cáchrộng rãi hơn Yêu cầu về chất lượng của thị trường nước ngoài rất khắt khe.Các doanh nghiệp nước ngoài có sức cạnh tranh rất lớn do chất lượng sảnphẩm cao mà chi phí sản xuất lại hợp lý Tình hình đó đặt ra những tháchthức tạo cơ hội và những thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Namtrong việc nâng cao chất lượng sản phẩm và vấn đề cốt lõi là nâng cao côngnghệ sản xuất Do đó Việt Nam cần có những tác động về mọi mặt để rút
Trang 11ngắn khoảng cách về công nghệ với các nước đi trước Vậy nâng cao chấtlượng sản phẩm là một yêu cầu khách quan bởi các lý do cơ bản sau.
Thứ nhất chất lượng sản phẩm sẽ tạo ra sức hấp dẫn để thu hút ngườimua Mỗi sản phẩm đều có các thuộc tính chất lượng cơ bản để tạo nên lợithế cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp Nó phụ thuộc vào sở thích tình hìnhtài chính, nhu cầu, điều kiện của mỗi người Do vậy với các sản phẩm cómục đích sử dụng giống nhau thì họ sẽ lựa chọn sản phẩm nào có chấtlượng tốt nhất Bởi vậy chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng khả năng cạnhtranh, tạo uy tín và mở rộng thị trường sản phẩm của doanh nghiệp đó
Thứ hai nâng cao chất lượng sản phẩm dẫn đến làm tăng tính năngtác dụng đặc biệt là đối với các sản phẩm là công cụ, phương tiện sản xuấthoặc tiêu dùng có sử dụng nguyên liệu, năng lượng trong quá trình tiêudùng Nếu chất lượng sản phẩm càng cao thì tuổi thọ sẽ lớn, mức tiêu haonguyên liệu năng lượng trong sử dụng ít, giúp tiết kiệm được tài nguyêncũng như chi phí trong sản xuất hay tiêu dùng sản phẩm, nhờ đó tăng khảnăng cho tái sản xuất mở rộng Sản phẩm hiện đại còn có tác dụng làmgiảm phế thải trong quá trình sản xuất tiêu dùng và qua đó sẽ giảm mứcgây ô nhiễm môi trường
Thứ ba đối với doanh nghiệp thì nâng cao chất lượng sản phẩm làgiải pháp quan trọng nhất tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm, nhờ đó sẽ làmtăng doanh thu lợi nhuận, thu hồi vốn nhanh, giúp doanh nghiệp ngày càngphát triển Qua đây cũng sẽ nâng cao thu nhập cho ngưòi lao động, chủdoanh nghiệp cũng thu nhập tăng lên và đặc biệt nhà nước cũng sẽ có lợi vềmặt ngân sách và giải quyết được các vấn đề xã hội
Thứ tư đối với người tiêu dùng thì việc nâng cao chất lượng sảnphẩm giúp cho người tiêu dùng sẽ tiết kiệm được thời gian và sức lực Đâychính là điểm chung mà nhà sản xuất và người tiêu dùng cùng hướng tới
Trang 12kỳ thời điểm nào thì chất lượng sản phẩm cũng được hợp thành bởi một hệthống các chỉ tiêu mà khách hàng mong muốn Những chỉ tiêu này:
- Tuổi thọ sản phẩm phản ánh số năm hoạt động bình thường củasản phẩm ( sản phẩm hoạt động đúng các yêu cầu về kỹ thuật, điều kiện sửdụng…)
- Tính thẩm mỹ của sản phẩm đó là đặc trưng của sản phẩm về hìnhthức bên ngoài như kích cỡ, màu sắc và sự kết hợp hài hoà cân đối giữa các
bộ phận cấu thành sản phẩm
- Chức năng hoạt động của sản phẩm được phản ánh bởi các tácdụng của sản phẩm Chức năng này được tạo nên bởi các yếu tố cơ lý hoánằm trong chỉ tiêu kỹ thuật của sản phẩm
- Tính kinh tế của sản phẩm phản ánh sự tiêu hao nguyên vật liệu,năng lượng trong quá trình sản phẩm hoạt động
- Chỉ tiêu về giá cả phản ánh mức độ chi phí mà người tiêu dùng bỏ
ra để có được sản phẩm đó Chỉ tiêu này phụ thuộc lớn vào chi phí để sảnxuất ra sản phẩm
- Tính an toàn của sản phẩm thể hiện mức độ an toàn của người sửdụng về sức khoẻ trong khi sử dụng sản phẩm Nó còn phản ánh mức độtác động đến môi trường của sản phẩm trong khi hoạt động
Trang 13- Các chỉ tiêu khác như bao bì đóng gói vận chuyển Đây là nhữnghoạt động nằm sau quá trình sản xuất ra sản phẩm nhằm đảm bảo độ antoàn, khả năng vận chuyển sản phẩm Ngoài ra nó còn có tác dụngmaketing trong quá trình tiêu thụ sản phẩm…
Nói chung mỗi doanh nghiệp đều sản xuất ra những sản phẩm có cáclợi thế cạnh tranh đặc trưng riêng phù hợp với phần thị trường mà doanhnghiệp tác động Nó tạo nên tính trội về sản phẩm của doanh nghiệp đó, tạo
ra sắc thái riêng biệt, độc đáo với những sản phẩm đồng loại trên thịtrường
3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm.
Một sản phẩm để được hoàn thành và đi vào tiêu dùng thì nó phảitrải qua một công đoạn sản xuất nhất định với nhiều khâu từ khâu mua sắmnguyên vật liệu tới khâu tiêu dùng Do đặc điểm này mà vấn đề chất lượngsản phẩm chịu tác động của nhiều nhân tố Ta có thể chia ra thành các nhân
tố thuộc môi trường kinh doanh bên ngoài và các nhân tố bên trong củadoanh nghiệp Các nhân tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và tạo ratác động tổng hợp đến chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp
3.1 Những nhân tố thuộc môi trường bên ngoài.
3.1.1 Thực trạng tình hình phát triền kinh tế thế giới.
Trong tình hình nền kinh tế thế giới đang phát triển mạnh mẽ đã tạo
ra sự nhận thức mới đối với tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm Với
sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học công nghệ đã nâng cao chất lượng sảnphẩm Điều này đòi hỏi cần phải có sự thích ứng nhanh của các doanhnghiệp
Với xu hướng đẩy mạnh tự do thương mại hoá quốc tế thì doanhnghiệp nào có sự nâng cao chất lượng sản phẩm mới có khả năng đứngvững và cạnh tranh với các nước khác trên thế giới Nhu cầu của khách
Trang 14hàng cũng được nâng cao tỷ lệ thuận với thu nhập của họ, vì vậy người tiêudùng có vai trò ngày càng lớn trong việc lựa chọn sản phẩm.
Từ trước đến nay các cuộc khảo sát đã cho thấy rằng những doanhnghiệp nào mà tạo ra sản phẩm có chất lượng cao thì sẽ bảo đảm cho sựphát triển lâu dài bền vững của doanh nghiệp đó Vì vậy các doanh nghiệptrên thế giới phải nâng cao chât lượng sản phẩm thì mới có khả năng cạnhtranh
3.1.2 Trình độ tiến bộ khoa học công nghệ
Chất lượng sản phẩm muốn nâng cao thì điều cơ bản nhất là tiến bộ
về khoa học công nghệ Các chỉ tiêu kỹ thuật của sản phẩm phụ thuộc vàocác thiết bị công nghệ, kỹ thuật sử dụng để tạo ra nó Ngày nay tiến bộ củakhoa học công nghệ là không ngừng và không có giới hạn do vậy các chỉtiêu về kỹ thuật của sản phẩm cũng không ngừng được nâng cao
Cũng nhờ tiến bộ khoa học công nghệ mà tìm ra các nguồn nguyênliệu mới tốt hơn, rẻ hơn nguồn nguyên liệu có sẵn Từ đó giảm chi phí sảnxuất, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm giảm giá thành sẽ thoả mãn hơncho người tiêu dùng cũng như đem lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp
3.1.3 Tình hình thị trường
Đây là nhân tố quan trọng nhất, tạo ra định hướng cho sự phát triểnchất lượng sản phẩm Xu hướng phát triển của chất lượng sản phẩm phụthuộc chủ yếu vào đặc điểm và xu hướng vận động của nhu cầu trên thịtrường Hiện nay nhu cầu càng phong phú đa dạng và thay đổi nhanh đòihỏi sự đáp ứng kịp thời của chất lượng sản phẩm Nói chung nhu cầu thịtrường về sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ với chất lượng sản phẩm,chúng tác động qua lại lẫn nhau và thúc đẩy nhau phát triển
Trang 153.1.4 Cơ chế chính sách quản lý của mỗi quốc gia
Mỗi doanh nghiệp hoạt động đều nằm trong một môi trường kinhdoanh nhất định Môi trường này chịu sự tác động của các chính sách củanhà nước Các chính sách này sẽ có những tác dụng nhất định như tạo rađịnh hướng hoạt động của doanh nghiệp, thúc đẩy cạnh tranh, mở rộng thịtrường qua đó sẽ khuyến khích và tạo áp lực cho doanh nghiệp nâng caochất lượng sản phẩm của mình Mặt khác cơ chế quản lý của nhà nướccũng tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh, công bằng là công cụ để thúcđẩy cạnh tranh Do vậy với một cơ chế phù hợp sẽ thúc đẩy các doanhnghiệp đầu tư cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của mình và ngượclại nếu cơ chế không khuyến khích sẽ tạo ra sự trì trệ trong doanh nghiệp
3.1.5 Các yếu tố về văn hoá, xã hội
Mỗi vùng lãnh thổ, mỗi giai đoạn phát triển của kinh tế đều có nhữngtruyền thống văn hoá đặc trưng Từ những đặc trưng này thì người tiêudùng cũng có những thói quen tiêu dùng mà nó ảnh hưởng tới chất lượngsản phẩm Để thoả mãn được những đặc tính tiêu dùng thì mỗi sản phẩmđều phải có đặc tính nhất định phù hợp
3.2 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
3.2.1 Lực lượng lao động của doanh nghiệp
Cho dù công nghệ có hiện đại đến đâu đi chăng nữa thì nó chưa hẳn
đã tạo ra một sản phẩm có chất lượng tốt mà phải nhờ con người tác động,chỉ huy Do vậy chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng lao động.Chất lượng lao động được thể hiện qua trình độ chuyên môn, kinh nghiệm,
ý thức trách nhiệm, tinh thần hợp tác phối hợp trong lao động Vì vậydoanh nghiệp phải có chính sách tuyển dụng, đào tạo, quản lý lao động một
Trang 16cách hợp lý, đồng thời phải có những chính sách khuyến khích lao động để
họ gắn bó với công việc hơn
3.2.2 Nguyên liệu đầu vào
Nguyên vật liệu là yếu tố trực tiếp tạo ra sản phẩm Vì nguyên vậtliệu cấu thành nên sản phẩm nên chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào chấtlượng nguyên vật liệu Để thực hiện mục tiêu chất lượng sản phẩm thìtrước hết phải đảm bảo chất lượng nguyên vật liệu Muốn vậy các doanhnghiệp phải đảm bảo từ khâu cung ứng nguyên vật liệu Khâu này đòi hỏinguyên vật liệu phải đảm bảo đủ chủng loại, chất lượng, số lượng mà cònphải đúng thời gian Muốn hệ thống cung ứng tốt thì doanh nghiệp phải cóquan hệ lâu dài, tin tưởng, ổn định với các nhà cung ứng nguyên vật liệu đểđảm bảo chất lượng sản phẩm
3.2.3 Trình độ quản lý và tổ chức sản xuất của doanh nghiệp
Trình độ quản lý và tổ chức sản xuất của doanh nghiệp có ảnh hưởngrất lớn đến chất lượng sản phẩm Một doanh nghiệp nếu có sự phối hợpnhịp nhàng, đồng bộ giữa các bộ phận chức năng thì sẽ đẩy mạnh việcnâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp Điều này đòi hỏi cán bộquản lý trong doanh nghiệp phải vạch ra được đường lối chiến lược kinhdoanh quan tâm tới chất lượng Trình độ của cán bộ quản lý sẽ ảnh hưởngtới khả năng vạch ra những chiến lược, đưa ra những quyết định, cách thứcchỉ đạo đúng đắn Việc tổ chức, quản lý không chỉ đòi hỏi thực hiện trongquá trình sản xuất mà còn gián tiếp thông qua việc thực hiện công tác cán
bộ như khen thưởng, hay phạt hành chính để qua đó thúc đẩy, khuyếnkhích công nhân nâng cao tinh thần, trách nhiệm làm việc qua đó sẽ tácđộng tới hoạt động sản xuất và ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
Trang 173.2.4 Trình độ về máy móc thiết bị, công nghệ của doanh nghiệp
Trình độ về máy móc thiết bị, công nghệ có ảnh hưởng lớn tới chấtlượng sản phẩm Đặc biệt là các doanh nghiệp công nghiệp có đặc trưngchủ yếu là sử dụng nhiều loại máy móc, thiết bị khác nhau để sản xuất rasản phẩm Với công nghệ và máy móc thiết bị phù hợp, hiện đại sẽ làm ranhững sản phẩm có chất lượng cao, góp phần làm giảm chi phí… Ngoài raviệc quản lý máy móc, thiết bị tốt và xác định đúng phương hướng đầu tưphát triển sản phẩm mới là một biện pháp quan trọng nâng cao chất lượngsản phẩm của mỗi doanh nghiệp Vấn đề này đòi hỏi phải sử dụng tiết kiệm
có hiệu quả thiết bị hiện có, kết hợp giữa công nghệ hiện có với sự đầu tưcông nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng sản phẩm là một trong nhữngmục tiêu chiến lược quan trọng của doanh nghiệp
Tóm lại việc nâng cao chất lượng sản phẩm đòi hỏi phải kết hợp hàihoà nhiều yếu tố Tuỳ thuộc vào tình hình thực tế của mỗi doanh nghiệp màxác định yếu tố nào quan trọng để đầu tư, cải tiến Ngoài ra doanh nghiệpcũng phải tận dụng những lợi thế bên ngoài để nâng cao chất lượng sảnphẩm của mình
4 Chi phí chất lượng
Khi mà mình muốn chế tạo một sản phẩm vụ thì xác định mục tiêutiện ích mà sản phẩm sẽ đạt được là chưa đủ Chúng ta cần phải dựa trên sựcân bằng giữa hai yếu tố là chất lượng và chi phí để sản xuất ra sản phẩm
đó
Tất cả các chi phí có liên quan đến việc đảm bảo chất lượng sảnphẩm dịch vụ đều được coi là chi phí chất lượng Do vậy nhiệm vụ của nhàsản xuất là phải sản xuất ra những sản phẩm đạt được các tiêu chuẩn quycách đẫ được xác định trước với chi phí sản xuất thấp nhất
Trang 18Hiện nay có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về chi phí chấtlượng Đối với khái niệm truyền thống thì cho rằng: Chi phí chất lượng làtất cả các chi phí có liên quan đến việc đảm bảo rằng các sản phẩm đượcsản xuất ra hoặc các dịch vụ được cung ứng phù hợp với tiêu chuẩn, quycách đã được xác định trước và các chi phí có liên quan đến các sản phẩmdịch vụ không phù hợp với các tiêu chuẩn đã được xác định trước.
Theo TCVN ISO 8102:9000 thì: “chi phí liên quan đến chất lượng làchi phí nảy sinh để tin chắc và đảm bảo chất lượng thoả mãn những thiệthại nảy sinh khi chất lượng không thoả mãn”
Có nhiều khái niệm chi phí chất lượng khác nhau thì phân loại chiphí chất lượng cũng có nhiều cách phân loại khác nhau dựa vào nhiều tiêuchí khác nhau
Căn cứ vào hình thức biểu hiện người ta phân ra thành chi phí vôhình và chi phí hữu hình
Căn cứ vào đối tượng, phạm vi ảnh hưởng có chi phí của người sảnxuất, chi phí của người tiêu dùng và chi phí của xã hội
Căn cứ vào các giai đoạn và sử dụng có chi phí trong thiết kế, trongsản xuất và trong tiêu dùng
Căn cứ vào tính chất có chi phí phòng ngừa, chi phí kiểm tra, đánhgiá và chi phí sai hỏng, thất bại…
Mặc dù chi phí chất lượng được định nghĩa theo nhiều cách khácnhau và được phân chia theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau thì dù trên phươngdiện nào đi nữa mục tiêu của nhà doanh nghiệp đều là giảm chi phí chấtlượng đi đôi với việc đảm bảo chất lượng của sản phẩm Tuỳ từng loại sảnphẩm và quy trình sản xuất ra sản phẩm mà nhà doanh nghiệp có các cáchthực hiện khác nhau để phù hợp với thực tiễn
Trang 19Chương II
Thực trạng hoạt động sản xuất tại Công ty in
Khoa học kỹ thuật
I Giới thiệu tổng quan về Công ty
1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty in Khoa học kỹ
thuật
Công ty in Khoa học kỹ thuật là một doanh nghiệp nhà nước, mộtthành viên của tổng Công ty sách Việt Nam trực thuộc Bộ văn hoá- Thôngtin Trụ sở Công ty in Khoa học kỹ thuật nằm tại 101A, phố NguyễnKhuyến, quận Đống Đa, Hà Nội
Công ty in Khoa học kỹ thuật được thành lập ngày 1/ 7/ 1959 với têngọi ban đầu là: Công tư hợp doanh xưởng in Minh Sang, đến tháng 5 năm
1978 đổi tên thành nhà máy in sách Khoa học kỹ thuật, đến tháng 8 năm
1995 nhà máy in sách Khoa học kỹ thuật được Bộ văn hoá- Thông tin đổitên thành Công ty in Khoa học kỹ thuật Từ khi thành lập đến nay đã tròn
45 năm, cùng với thời gian Công ty đã lớn lên phát triển không ngừng, từcông nghệ in Typo chất lượng sản phẩm kém, năng suất thấp với sản lượng40-50 triệu trang in (13 x 19)/năm Đến nay Công ty đã chuyển đổi sangcông nghệ in Offset với dây chuyền sản xuất tiên tiến, hiện đại với chấtlượng cao, sản lượng đã đạt tới 3 tỉ trang in ( 13 x19) tỉ/năm Chức năngnhiệm vụ chính của Công ty là chuyên ngành in ấn các loại ấn phẩm, sáchbáo, tạp chí, các giấy tờ quản lý, tem nhãn, bao bì phục vụ cho nền kinh tếquốc dân Hiện nay Công ty hoạt động với số vốn cố định là 7541 triệuđồng, vốn lưu động là 978 triệu đồng
Trong tình hình đổi mới cơ chế xoá bỏ bao cấp chuyển sang nền kinh
tế thị trường, Công ty đã gặp rất nhiều khó khăn như: khai thác nguồn công
Trang 20việc bởi vì các cơ sở in ấn mở ra rất nhiều, kể cả tư nhân Mặc dù vậy trongquá trình phát triển Công ty đã có nhiều cố gắng để đạt được những kết quảnày Sự cố gắng của Công ty đựơc thể hiện qua một số lĩnh vực sau:
Về cơ sở xây dựng hạ tầng: vừa đảm bảo sản xuất vừa xây dựng nơisản xuất, năm 2003 Công ty đã đầu tư 9,5 tỷ đồng để xây dựng lại khu vựcsản xuất một nhà 4 tầng với 4000m2 diện tích sản xuất Với việc đầu tưchiều sâu về thiết bị máy móc và cơ sở hạ tầng đã đưa Công ty từ sản xuấttrung bình lên sản xuất tiên tiến, đủ năng lực, công nghệ kỹ thuật để đấuthầu cạnh tranh với thị trường trong giai đoạn hiện nay
Về mặt tổ chức: Công ty luôn ổn định, làm tốt các công tác Đảng,Công đoàn, thanh niên và các phong trào thi đua Nội bộ từ trên xuống dướiluôn đoàn kết, nhất trí giữa Đảng, chính quyền, Công đoàn có mối quan hệmật thiết
Về công ăn việc làm của cán bộ công nhân viên: Công ty tích cựctìm kiếm khai thác nguồn hàng, giữ được uy tín và có mối quan hệ chặt chẽvới khách hàng nên đảm bảo đủ công ăn việc làm liên tục cho toàn Công
ty, từng bước nâng cao thu nhập hàng tháng cho cán bộ công nhân viên, cụthể: năm 2000 thu nhập bình quân đầu người là 945 ngàn đồng/tháng; năm
2002 đã đạt 1111,9 ngàn đồng/tháng; năm 2003 đạt được 1224,5 ngànđồng/ tháng, năm 2004 là 1300 ngàn đồng/ tháng và đến năm 2005 đã đạt
1355 ngàn đồng/ tháng
Về công tác đào tạo: để xác định lâu dài nắm bắt những thành tựukhoa học mới đáp ứng được những nhu cầu đòi hỏi trong công nghệ sảnxuất, hàng năm Công ty mở lớp học bổ túc nâng cao tay nghề, mời giáoviên của trường trung học kỹ thuật in đến giảng dạy Trên cơ sở đó để kếthợp thi nâng bậc cho công nhân
Trang 21Về hoạt động Công đoàn: ban chấp hành Công đoàn và Ban Giámđốc luôn luôn quan tâm đến đời sống sức khoẻ của người lao động, hàngnăm Công ty đều tổ chức cho cán bộ công nhân viên được đi nghỉ mát đểphục hồi sức khỏe tái sản xuất Mời các bác sĩ đến kiểm tra sức khỏe trongtoàn Công ty, trên những kết quả đó có hướng điều trị cho những ngườimắc bệnh, cần thiết có thể thay đổi việc làm cho phù hợp với sức khoẻ.
Về mặt hoạt động văn hoá xã hội: Công ty đã thành lập đội bóng đá,bóng bàn, cờ tướng Hàng năm đều tổ chức thi đấu giải trong Công ty vàtham gia đầy đủ các hoạt động thể dục thể thao của ngành tổ chức
Những nhiệm vụ khác như: vấn đề bảo vệ công tác an ninh quốcphòng, chính trị nội bộ luôn được ban giám đốc, Chi Bộ Đảng quán triệt,kết hợp với các cơ quan chức năng của nhà nước về huấn luyện như: quân
sự, phòng cháy chữa cháy, nghiệp vụ an ninh bảo vệ vì vậy trong Công tyluôn luôn ổn định về chính trị, không có tuyên truyền nhảm bậy bạ, không
để xảy ra hoả hoạn
Công ty luôn tham gia các hoạt động xã hội như ủng hộ đồng bào lũlụt, các hội từ thiện, lấy phương châm là lành đùm lá rách
Tuy trong cơ chế thị trường như hiện nay thì Công ty in đã gặp khánhiều khó khăn tuy nhiên với sự cố gắng của ban lãnh đạo và cán bộ trongCông ty thì đã đạt được nhiều thành tích trong lĩnh vực sản xuất cũng nhưtrong các lĩnh vực khác
Để triển khai thực hiện Nghị quyết Trung Ương III khoá 9 về sắpxếp đổi mới doanh nghiệp, hiện nay Công ty đang trình tự tiến hành cácbước cổ phần hoá Với quá trình cổ phần hoá sẽ thúc đẩy công nhân trongCông ty hăng hái, nhiệt tình làm việc hơn, giúp thu lợi nhuận cao hơn
2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty
Trang 22Công ty in Khoa học kỹ thuật là thành viên của Tổng Công ty SáchViệt Nam trực thuộc Bộ Văn hoá- Thông tin, có nhiệm vụ chính là in cácloại ấn phẩm, sách, báo, tạp chí, các giấy tờ quản lý, tem nhãn, bao bì phục
vụ cho nền kinh tế quốc dân
Công ty còn khai thác khả năn tiềm tàng của nhà máy, tận dụng mọiphế liệu, sản xuất mặt hạng phụ tăng thêm thu nhập cho nhà máy
Ngoài ra Công ty còn chủ động khai thác mọi nguồn lực, mở rộngcác hoạt động sản xuất kinh doanh đúng pháp luật, có hiệu quả nhằm bảotồn và phát triển vốn, nâng cao lợi nhuận, qua đó có thể cải tiến, đổi mớimáy móc trang thiết bị công nghệ, bồi dưỡng nâng cao tay nghề và chăm lođời sống cho cán bộ công nhân nhằm thúc đẩy sản xuất
Do vậy có thể thấy rằng bên cạnh sản phẩm truyền thống thì Công ty
in có xu hướng đa dạng hoá sản phẩm, ngành nghề kinh doanh, đáp ứng cácnhu cầu ngày càng cao của khách hạng và tăng thu nhập cho Công ty
3 Cơ cấu, tổ chức bộ máy của Công ty
Cơ cấu bộ máy của Công ty có vai trò hết sức quan trọng trong việctiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh để đạt kết quả cao Cơ cấu ảnhhưởng lớn đế phương hướng hoạt động, tác động tới cách thức làm việc,khả năng phát huy năng lực của các phòng ban Kể từ khi thành lập đến nayCông ty đã có nhiều lần cải tổ bộ máy nhằm phù hợp với nền kinh tế hiệnnay đáp ứng nhu cầu của thời đại Hiện nay bộ máy Công ty in Khoa học
kỹ thuật được tổ chức theo mô hình trực tuyến - chức năng cho phù hợp vớitình hình hiện nay Cơ cấu tổ chức của Công ty được biểu hiện theo sơ đồsau:
Trang 23
Với mô hình trên ta thấy rằng cơ cấu của Công ty bao gồm mộtGiám đốc, 02 phó Giám đốc, 05 phòng chức năng nghiệp vụ, 03 phânxưởng sản xuất chính với nhiệm vụ như sau:
Giám đốc chịu trách nhiệm quản lý toàn diện, trực tiếp phụ tráchquản lý kế hoạch, tổ chức, tài chính, sản xuất kinh doanh, bảo vệ và nhữngcông tác có liên quan đến quốc phòng Giám đốc có các phó giám đốc vàmột kế toán trưởng giúp việc
Các phó giám đốc là người cộng sự đắc lực của Giám đốc và chịutrách nhiệm trước Giám đốc về phần việc được phân công Giám đốc phải
Giám đốc
Phó giám đốc
kỹ thuật
Phó giám phụ trách tổ chức
Phòng
sản xuât
Phòng thị trường
Các phân xưởng
Phân xưởng chỉ bản
Phân xưởng máy in
Phân xưởng đóng sách
Trang 24bàn bạc tập thể với các phó giám đốc, nhưng Giám đốc là người quyết địnhcuối cùng Trong khi thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn được giao, các phógiám đốc thay mặt giám đốc chủ động giải quyết công việc theo đúng chế
độ, thể lệ của Nhà nước, đúng chủ trương và nội quy của Công ty, giúpGiám đốc đề bạt lựa chọn cán bộ và tham gia xét duyệt nâng cấp, nâng bậclương cho cán bộ công nhân viên chức trong lĩnh vực mình phụ trách
Đối với phó giám đốc sản xuất kỹ thuật vật tư sẽ tổ chức và chỉ đạocông tác xây dựng tiến độ sản xuất cho phân xưởng và toàn Công ty, chỉhuy thống nhất sản xuất kỹ thuật hàng ngày, giúp Giám đốc chuẩn bị về tổchức cơ cấu sản xuất và bộ máy quản lý các phân xưởng và phòng nghiệp
vụ, tổ chức chỉ đạo xây dựng kế hoạch và tổ chức cung cấp vật tư bảo quảnvật tư Ngoài ra phó giám đốc sản xuất còn phải nghiên cứu kế hoạch tiến
độ kỹ thuật, tổ chức công tác thiết kế và chế thử sản phẩm mới, tổ chức vàchỉ huy việc nghiên cứu khoa học kỹ thuật, kiểm tra công trình mở rộng sảnxuất phát triển kỹ thuật, đào tạo và bồi dưỡng công nhân, nhân viên kỹthuật về trình độ nghề nghiệp…
Đối với phó giám đốc hành chính đời sống có trách nhiệm tổ chức vàkiểm tra việc bồi dưỡng hiện vật cho công nhân, thường xuyên chăm lo đếnsức khỏe của cán bộ công nhân viên, tổ chức sinh hoạt các câu lạc bộ củaCông ty…Ngoài ra được sự uỷ nhiệm của Giám đốc thì phó giám đốc hànhchính tổ chức được quyền ký các hợp đồng, tổ chức chỉ đạo và nghiệm thucác công trình sửa chữa nhỏ, các công trình lớn như mở rộng Công ty hoặckhu vực tập thể…
Kế toán trưởng nhà máy là người giúp việc giám đốc chỉ đạo toàn bộcông tác kế hoạch, thống kê, hạch toán kinh tế và thông tin kinh tế củaCông ty, đồng thời là kiểm tra viên kinh tế tài chính của Nhà nước tại Công
ty Kế toán trưởng chịu trách nhiệm trước giám đốc Công ty đồng thời chịu
Trang 25trách nhiệm trước kế toán trưởng cấp trên trực tiếp và trước Nhà nước vềcông việc thuộc nhiệm vụ và quyền hạn của mình.
Vị trí, chức năng của các phòng chức năng là những bộ môn thammưu của giám đốc không trực tiếp chỉ đạo các phân xưởng, nhưng có tráchnhiệm theo dõi, hướng dẫn đôn đốc kiểm tra việc thực hiện kế hoạch, tiến
độ sản xuất, các quy trình, quy phạm, các tiêu chuẩn và định mức kinh tế
kỹ thuật, các chế độ chính sách, quản lý kinh tế ở các phân xưởng, giúpGiám đốc nắm bắt tình hình sản xuất và tổ chức ghi chép các số liệu banđầu phục vụ cho việc chỉ huy sản xuất và công tác hạch toán kinh tế
Trong đó phòng tổ chức hành chính có trách nhiệm chuẩn bị các vănbản trình Giám đốc, tham mưu giúp việc cho Giám đốc về các vấn đề quản
lý hồ sơ của Công ty, nghiên cứu các chính sách chế độ ( chế độ khenthưởng, kỷ luật…) quản lý hành chính, y tế, lái xe, phục vụ, bảo vệ an ninhCông ty
Phòng kế toán tài chính có nhiệm vụ tham mưu giúp việc cho Giámđốc về các mặt tài chính kế toán, thống kê việc thực hiện sản xuất kinhdoanh, thanh quyết toán với Nhà nước
Phòng kinh doanh có nhiệm vụ tiếp thị, chuẩn bị các văn bản, kí hợpđồng kinh tế, cung ứng vật tư cho sản xuất tiêu thụ sản phẩm
Phòng thị trường có nhiệm vụ giữ vững và mở rộng thị trường củaCông ty, giúp việc mở rộng khách hàng, nâng cao việc tiêu thụ sản phầmcho Công ty
Phòng sản xuất có trách nhiệm sản xuất ra sản phẩm với những điềukiện về chi phí, kỹ thuật theo quy định Phòng sản xuất trong quá trình hoạtđộng sản xuất phải bảo đảm về đúng tiến độ, số lượng, chất lượng, thờigian giao hàng
Trang 26Các phân xưởng là một bộ phận trong dây chuyền sản xuất của Công
ty Phân xưởng có nhiệm vụ tổ chức quản lý mọi hoạt động sản xuất củaphân xưởng nhằm thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch của Công ty giao, đảmbảo hoàn thành kế hoạch sản xuất; số lượng, chất lượng, thời gian sảnphẩm theo đúng tiến độ sản xuất đã quy định Các phân xưởng gồm có:phân xưởng chỉ bản, phân xưởng máy in và phân xưởng đóng sách
Qua quá trình phát triển và mở rộng sản xuất Hiện nay trong Công
ty có tổng số 230 cán bộ công nhân viên trong đó có 46 lao động gián tiếp
và 184 lao động trực tiếp Với sự nỗ lực đào tạo nâng cao trình độ hàngnăm của cán bộ công nhân viên thì hiện nay Công ty có: 23 người có trình
độ đại học; 9 người có trình độ cao đẳng; 41 người có trình độ trung cấp;
41 người có trình độ tay nghề từ bậc 6 trở nên Hiện nay số lao động trongCông ty được phân bố trong các phòng ban, các tổ như sau:
Tổ phục vụ phân xưởng máy: 6 người;
Tổ cơ điện: 10 người;
Phân xưởng sách 1: 41 người;
Trang 27Đặc điểm về cơ cấu lao động của Công ty luôn thay đổi với số lượng,chất lượng được nâng cao qua các năm nhờ việc sắp xếp lại lao động kếthợp với việc đào tạo mới, tiếp nhận thêm công nhân, tổ chức biên chế vàocác bộ phận sản xuất để kịp thời đáp ứng việc nâng cao năng suất, đầu tưcông nghệ mới Dưới đây là bảng cơ cấu lao động đã được thay đổi trongmột vài năm gần đây:
Bảng 1: Cơ cấu lao động
TT Chỉ tiêu
Số LĐ (người )
%
∑
Số LĐ (người)
%
∑
Số LĐ (người)
2005 tăng 2,2% so với năm 2004 Điều này có thể do các nguyên nhân như
là Công ty đã tăng cường mở rộng sản xuất hoặc khách hàng tăng phải cầnnhiều hơn nguồn nhân lực thì mới bảo đảm đúng tiến độ sản xuất
Lao động quản lý trong Công ty đều tăng qua các năm và chiếm 15,6năm 2005 đã tăng so với năm 2004 (14.7%) và năm 2003 (14.4%).Trong
đó tỷ lệ lao động quản lý có trình độ đại học cũng tăng Đây là điều rất tốt
Trang 28cho Công ty Tuy nhóm lao động này không trực tiếp tạo ra sản phẩmnhưng có tác dụng chỉ đạo, quản lý, điều hành hoạt động sản xuất Tuy vậynhưng tỷ lệ phần trăm số lao động được đào tạo qua đại học còn thấp, vìvậy đòi hỏi Công ty phải đầu tư để tạo điều kiện cho cán bộ nâng cao trình
2005 Còn đối với công nhân dưới bậc 6 thì tỷ lệ thay đổi không đáng kể
Do vậy ta có thể thấy rằng trong những năm gần đây Công ty đã có sự đầu
tư vào nâng cao tay nghề công nhân và khâu tuyển chọn công nhân Điềunày là rất tốt vì với sự am hiểu về công nghệ tốt hơn sẽ giúp họ thích nghivới công nghệ mới tốt hơn và Công ty nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm
số lượng sản phẩm hỏng
Tuy nhiên ta thấy rằng xu hướng thay đổi lao động là tốt đối vớiCông ty nhưng sự thay đổi còn quá ít qua các năm gần đây Với tiến bộkhoa học phát triển mạnh mẽ trong thời đại hiện nay thì cần phải chú trọngnhiều vào sự nâng cao trình độ cho cán bộ, công nhân trong Công ty
II Thực trang hoạt động sản xuất của Công ty
1 Một số kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong thời
gian qua
Với đặc điểm của Công ty là in các loại sản phẩm sách, báo, tạp chí,các giấy tờ quản lý, tem nhãn, bao bì phục vụ cho nền kinh tế quốc dân Dovậy các sản phẩm của Công ty không phải là tự thiết kế mà đều do kháchhàng yêu cầu Thường thì kế hoạch được ban giám đốc kết hợp với các
Trang 29phòng ban của Công ty đề ra vào khoảng tháng 11,12 hàng năm Quyếtđịnh sẽ được đưa ra chính thức vào cuối tháng 12
Trong quá trình thực hiện kế hoạch có sự phối hợp đồng bộ của tất
cả các cấp và các phòng ban Các phân xưởng phấn đấu vượt định mức đề
ra trong thời gian ngắn nhất và đảm bảo an toàn lao động
Trong tình hình đổi mới cơ chế, xoá bỏ bao cấp chuyển sang nềnkinh tế cạnh tranh thị trường, Công ty đã gặp rất nhiều khó khăn như khaithác nguồn công việc bởi vì các cơ sở in mở ra rất nhiều Các chi phí vật tư
và các chi phí khác ngày một cao dẫn đến giá thành sản phẩm tăng cao
Mặc dù gặp nhiều khó khăn như vậy song ban lãnh đạo Công ty cùngtoàn thể cán bộ công nhân viên luôn đoàn kết, đồng sức đồng lòng để cùngnhau tháo gỡ những khó khăn, để từng bước đưa Công ty ngày càng pháttriển, liên tục nhiều năm hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chỉ tiêu mà đạihội công nhân viên chức đề ra năm sau cao hơn năm trước
Cho đến nay Công ty đã đủ năng lực sản xuất tất cả những ấn phẩmcao cấp, chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường, vì vậy Công tyluôn trúng thầu của Nhà xuất bản Giáo dục
Cùng với những thuận lợi đó thì Công ty trong quá trình sản xuấtvẫn xảy ra một số sai sót làm ảnh hưởng tới kết quả hoạt động sản xuất nhưcông tác quản lý chất lượng sản phẩm, xảy ra những sai hỏng đáng tiếc,lãng phí vật tư…
Năm 2005 Công ty In Khoa học kỹ thuật gặp rất nhiều khó khăn: vừađảm bảo sản xuất vừa xây dựng cơ bản, đã xây dựng xong nhà sản xuất 4tầng với diện tích sản xuất 4000 m2 Với những khó khăn như vậy xongCông ty vẫn đạt được kết quả sản xuất kinh doanh đáng khích lệ được thểhiện dưới bảng dưới đây:
Trang 30Bảng 2: Kết quả sản xuất kinh doanh năm 2005
TT Các chỉ tiêu Đơn vị tính Thực hiện
2005
So sánh
Kế hoạch 2006
KH
TH-2004
1 2 3 4 5 6 7
1 Sản lượng trang in công
Trong đó doanh thu
Để đạt được những kết quả đó, Ban Giám đốc Công ty luôn phát huyđược năng lực của mình, đề ra những quyết sách phù hợp, đúng đắn để đẩymạnh nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của Công ty
Trong thị trường sách hiện nay thì tình hình sử dụng sách thay đôỉtheo thời điểm Vì Công ty có số lượng in phần lớn là sách giành cho giáodục nên thời điểm trước khi vào năm học, vào khoảng tháng 6, tháng 7,tháng 8, đầu tháng 9 thì tình hình sản xuất là ở mức cao nhất Sau đó làtháng 2, tháng 3 là thời điểm Công ty in các loại tài liệu phục vụ cho việctuyển sinh vào các trường Đại học, cao đẳng, trung cấp Do vậy vào nhữngthời điểm này toàn bộ cán bộ công nhân viên nhà máy phải tập trung mọi
Trang 31nguồn lực, thời gian để hoàn thành được các nhiệm vụ được giao Thườngthì vào thời điểm này thì cán bộ công nhân của nhà máy tự nguyện làmthêm vào ngày nghỉ, tăng thời gian làm việc trong ngày để hoàn thành côngviệc đúng thời gian Với tình hình như vậy thì ban lãnh đạo Công ty cũng
đã có nhiêu khuyến khích về mặt vật chất và tinh thần đối với cán bộ, côngnhân trong Công ty để động viên mọi người cùng cố gắng
Với sự đầu tư vào cơ sở hạ tầng và trang thíêt bị sản xuất cùng với sự
cố gắng, nỗ lực, lòng quyết tâm của cán bộ công nhân trong Công ty thìtình hình sản xuất của Công ty trong những năm gần đây đã có sự phát triển
rõ được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3: Một số kết quả kinh doanh của Công ty (2001-2005)
TT Các chỉ tiêu chính Đơn vị tính Kết quả các năm đã đạt được
1 Tổng doanh thu Triệu đồng 18061 19999 20581 27.245
2 Doanh thu công in đã
trừ tiền giấy Triệu đồng 8055,6 8583 9513 10.208
Trang 32tương đương với 126,7% Lợi nhuận tăng 23 triệu đồng năm 2005 so với
2002 tương đương với 129,8% Đặc biệt ta thấy rằng các khoản phải nộpngân sách trong năm 2005 tăng rất nhanh (năm 2005 tăng 394,4 triệu đồng
so với năm 2002 tương đương với 208.5%, và so với năm 2004 tăng 314triệu đồng tương đương với 182%) Cùng với sự tăng lên của các chỉ tiêusản xuất kinh doanh thì mức thu nhập của công nhân viên cũng tặng Đây làyếu tố quan trọng giúp cán bộ công nhân viên có trách nhiệm hơn trongcông việc và trong sản xuất, đảm bảo các sản phẩm đúng chất lượng, giảm
số sản phẩm hỏng
2 Trình độ áp dụng khoa học công nghệ vào hoạt động sản xuất
Đặc điểm về sản phẩm của Công ty in Khoa học kỹ thuật là sảnphẩm được sản xuất phần lớn theo đơn đặt hàng của khách hàng Vì thế nókhông đòi hỏi quá trình thiết kế ra những nội dung của sản phẩm mà nó thuhút khách hàng ở ngay trong chất lượng sản phẩm tạo ra
2.1 Đặc điểm quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm
Để Công ty có thể đi vào sản xuất các sản phẩm cho khách hàng thìtrước tiên Công ty phải ký nhận hợp đồng ký kết để in sản phẩm theo đúngcác thủ tục pháp lý Khi ký hợp đồng phòng sản xuất, kinh doanh có tráchnhiệm tính giá và thoả thuận với khách hàng về các nội dung có liên quan.Sau khi đã có hợp đồng sản xuất kinh doanh thì sẽ viết phiếu giao cho cácphân xưởng thực hiện sản xuất
Trước đây sản phẩm của Công ty áp dụng công nghệ in Typo nênchất lượng sản phẩm kém, không ổn định, năng suất thấp và hình thức chưađẹp Với sự đầu tư của Công ty thì ngày nay các sản phẩm của Công ty inđược sản xuất theo công nghệ in Offset với dây chuyền sản xuất tiên tiến,hiện đai, với sản phẩm có chất lượng cao giúp chinh phục được nhiềukhách hàng
Trang 33Hiện nay, Công ty tổ chức sản xuất theo một dây chuyền khép kín,được chia làm 3 giai đoạn như sau:
Để tạo ra sản phẩm thì nguyên vật liệu là yếu tố không thể thiếuđược, nó ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm Các nguyên vật liệu
có nhiều loại nên được mua ở nhiều nơi, có thể trong nước hoặc nướcngoài Vì vậy việc thu mua nguyên vật liệu có nhiều phần khó khăn nhưtốn thời gian, dễ gây hư hỏng Với sự cố gắng của ban lãnh đạo Công tynhằm mục đích nâng cao chất lượng sản phẩm thì hầu hết các nguyên vậtliệu đều có chất lượng tốt, đáp ứng kịp thời hoạt động sản xuất
Dưới đây là danh mục nguyên vật liệu chính được sử dụng cho nhucầu sản xuất:
Trang 34Bảng 4: Số lượng nguyên vật liệu được sản xuất trung bình
2.2 Đặc điểm thiết bị của Công ty
Máy móc thiết bị của Công ty hầu hết đều được nhập từ nước ngoài.Đối với những thiết bị nhập vào những năm 1960-1970 có đặc điểm đều làmáy gia công, có năng xuất thấp, độ chính xác không cao, thường xuyên bịhỏng Do việc sử dụng những máy này có công nghệ lạc hậu nên Công ty
đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm
Tuy nhiên, trong thời kỳ hiện nay cùng với sự phát triển nhanhchóng của khoa học kỹ thuật thì Công ty đã tận dụng những tiến bộ này đểđầu tư, phát triển hoạt động sản xuất Do vậy trong những năm gần đâyCông ty đã mở rộng hoạt động sản xuất của mình bằng cách đầu tư nhữngmáy móc có công suất lớn hơn, quy trình sản xuất hiện đại hơn Với vốnđầu tư có hạn nên ngoài việc đầu tư vào những máy mới sản xuất thì bêncạnh đó còn đầu tư vào những thiết bị đã qua sử dụng nhưng chất lượngvẫn tốt và đáp ứng được đòi hỏi về công nghệ sản xuất phù hợp với nhu cầucủa thị trường Dưới đây là danh mục các máy móc, thiết bị sản xuất cơ bản
Trang 3501 máy in Komory S228 in 2 màu khổ (56x76)
01 máy in Komỏy LP44 in 2 mặt khổ (72x100)
01 máy in Heidenbeg in 2 màu khổ (72x102)
01 máy in Bettech in 4 màu khổ (69x100)
01 máy vào bìa keo nhiệt
1 Một số nét về chất lượng sản phẩm của Công ty
Mỗi sản phẩm đều có những thuộc tính riêng đặc trưng Các thuộctính này phản ánh hệ thống chất lượng của sản phẩm Để tiêu thụ được sảnphẩm thì các doanh nghiệp phải xây dựng được hệ thống các chỉ tiêu chấtlượng mà được Nhà nước hoặc cơ quan quản lý chất lượng quy định Để từ
đó các doanh nghiệp dựa vào hệ thống các chỉ tiêu này mà thực hiện hoạtđộng sản xuất Và cũng dựa vào hệ thống các chỉ tiêu này mà các cơ quanNhà nước làm cơ sở để giám sát, kiểm tra tình hình chất lượng, đồng thờicũng là cơ sở để cán bộ quản lý Công ty đánh gia được chất lượng của
Trang 36Công ty mình Tùy từng lĩnh vực, giai đoạn phát triển mà hệ thống các chỉtiêu là khác nhau.
Với tình hình đất nước ta chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơchế thị trường cạnh tranh thì Công ty in Khoa học kỹ thuật đã gặp rất nhiềukhó khăn trong việc cải tạo bộ máy cũng như việc áp dụng những tiến bộkhoa học kỹ thuật vào sản xuất Và để đáp ứng được nhu cầu của thịtrường, ban lãnh đạo Công ty đã chỉ đạo tiến hành nâng cao chất lượng sảnphẩm Các bộ phận, phòng ban trong Công ty đã nghiên cứu các tiêu chuẩn
về chất lượng của Nhà nước đề ra, của ngành, nhu cầu khách hàng để kịpthời hoàn thiện chất lượng sản phẩm của Công ty mình
Hiện nay, trên thị trường các sản phẩm in: sách, báo, quảng cáo…ngày càng nhiều nhằm phục vụ nhu cầu nâng cao dân trí, truyền bá và tiếpcận thông tin… Với lượng cung ngày càng lớn như vậy thì khách hàng sẽ
có cơ hội lựa chọn nhiều, do vậy những sản phẩm nào tốt sẽ được kháchhàng chấp nhận Để đạt được điều này thì những sản phẩm in ngoài việc cónội dung đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì về mặt hình thức phảiđặt được những tiêu chuẩn chung Đó là sản phẩm in phải hợp lệ về hìnhthức, màu sắc hài hòa có sức cuốn hút, nguyên vẹn về kết cấu, hoàn thiện
về sản xuất, độ ổn định sản phẩm cao Điều này được thể hiện từng chi tiết
cụ thể trong sản phẩm như: giấy, mực, thứ tự sắp xếp, tỷ lệ sai hỏng…
Dựa vào những tiêu chuẩn trên của ngành in nói chung thì Công ty inKhoa học kỹ thuật đã đưa ra những tiêu chuẩn sản phẩm của Công ty mìnhnhư sau:
- Đối với nguyên liệu để sản xuất ra sản phẩm:
+ Giấy in: bắt mực, không bị rách, không bị nhòe, mịn Tùy từng sảnphẩm in mà giấy in phải đúng màu sắc, chủng loại, kích cỡ;