Xuất phát từ những mục đích khác nhau hoặc là để khắc phục những mục đích yếu kém của doanh nghiệp nhà nước, hoặc là để giải quyết vấn đề huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp, hoặc để đa dạng sở hữu và xác định người chủ cụ thể của doanh nghiệp…
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế nước ta đang từngbước chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Trong điềukiện cơ chế quản lý thay đổi, khi hiệu quả sản xuất kinh doanh trở thành yếu tốsống còn của mỗi doang nghiệp thì các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhànước đã bộc lộ những yếu kém, lâm vào tình trạng sa sút và khủng hoảng Làmthế nào để cấu trúc lại khu vực kinh tế nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả và vaitrò chủ đạo của nó theo tinh thần các nghị quyết Đại hội VI và VII của Đảng?Một trong những giải pháp chiến lược để gải quyết những vấn đền này là: Tiếnhành cổ phần hoá (CPH) doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nhằm đa dạng hoá sởhữu, đưa các yếu tố cạnh tranh làm động lực để tăng hiệu quả kinh doanh và xáclập mô hình hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường Đây cũng là giải pháp có tínhphổ biến để cải cách khu vực kinh tế nhà nước ở hầu hết các nước trên thế giới
Xuất phát từ những mục đích khác nhau hoặc là để khắc phụcnhững mục đích yếu kém của doanh nghiệp nhà nước, hoặc là để giải quyết vấn
đề huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp, hoặc để đadạng sở hữu và xác định người chủ cụ thể của doanh nghiệp…nên khi nghiêncứu và giải quết vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước người ta có nhiềucách tiếp cận khác nhau Kinh tế Nhà nước là một bộ phận có vai trò quyết địnhtrong cơ cấu kinh tế XHCN Lý luận về kinh tế Nhà nước là một trong những vấn
đề lý luận trung tâm của các Đảng cộng sản Nhất là trong giai đoạn lãnh đạo đấtnước xây dựng và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN hiện nay lýluận đó vẫn mang ý nghĩa thực sự cấp bách cả về nhận thức lý luận và thực tiễn
Ở Việt Nam, trải qua các cuộc chiến tranh lâu dài và cơ chế kế hoạch hoátập trung quan liêu bao cấp, khu vực kinh tế Nhà nước nói chung và khu vực
Trang 2DNNN nói riêng vừa thiếu tính năng động sáng tạo vừa mang tính độc quyềndẫn tới tình trạng kém hiệu quả trong sản xuất kinh doanh, cuối cùng trở thànhnguyên nhân chủ yếu khiến cho nền kinh tế quốc dân lâm vào tình trạng kémphát triển
Do vậy, hơn bao giờ hết việc đổi mới và sắp xếp lại DNNN là một đòi hỏitất yếu Trong đó CPH được coi là một khâu đột phá, là giải pháp cơ bản nhất tạođộng lực nội tại mới trong các DN thông qua sự thay đổi các hình thức sở hữu và
cơ cấu tổ chức ở các DNNN Song CPH DNNN ở Việt Nam hiện nay vẫn đangcòn là vấn đề mới, nóng bỏng và còn gặp nhiều khó khăn vướng mắc Trong thờigian tới việc đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy tiến trình CPH DNNN ở nước
ta là một việc làm cực kì cần thiết Trong thời gian qua em có cơ hội được thựctập và học hỏi ở Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Vĩnh phúc nên có điều kiện tiếpxúc với các vấn đề mang tính cấp bách về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nướcnên em mạnh dạn nghiên cứu đề tài “ Công tác cổ phần hoá doanh nghiệp nhànước trên địa bàn tỉnh Vĩnh phúc - thực trạng và giải pháp” Làm nội dung nghiêncứu cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình
Kết cấu của chuyên đề gồm 3 phần chính:
Chương I: Sự cần thiết của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở nước ta
Chương II: Thực trạng công tác cổ phần hoá ở trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trongthời gian vừa qua
Chương III: Các giải pháp chính thúc đẩy cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nướctrên địa bàn tỉnhVĩnh phúc trong thời gian tới
Chuyên đề đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: thống kê, tổnghợp và phân tích số liệu; phương pháp quan sát; phương pháp duy vật biệnchứng…
Cuối cùng, để hoàn thành được chuyên đề thực tập tốt nghiệp này em xinbày tỏ lòng biết ơn của mình đến tập thể các thầy, cô giáo trường Đại học Kinh
Trang 3tế quốc dân đã dạy dỗ, dìu dắt em trong 4 năm vừa qua Đặc biệt các thầy, côgiáo trong khoa Khoa học quản lý
Một lần nữa, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Tiến sỹ BùiĐức Thọ đã hướng dẫn tận tình, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện chuyên đềnày
Ngoài ra, em cũng xin chân thành cảm ơn sự góp ý, giúp đỡ về mặt tài liệucủa các cán bộ chuyên viên phòng tổng hợp, đặc biệt là cán bộ hướng dẫn:Trưởng phòng Nguyễn Kim Khải đã tạo điều kiện tốt nhất cho em hoàn thànhđược chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình
Song do điều kiện về trình độ cũng như thời gian, chuyên đề này khôngtránh khỏi những thiếu sót Do vậy, để chuyên đề được hoàn thiện hơn em kínhmong được sự nhận xét, góp ý, phê bình của các thầy, cô giáo và của các bạn
Trang 4CHƯƠNG I - SỰ CẦN THIẾT CỦA CPH DNNN Ở NƯỚC TA
I KHÁI LUẬN VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC.
1 Tính chất và đặc điểm
1.1 Khái niệm:
Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là việc chuyển đổi hình thức sở hữu
từ doanh nghiệp Nhà nước (doanh nghiệp đơn sở hữu) sang công ty cổ phần(doanh nghiệp đa sở hữu), đồng thời chuyển doanh nghiệp từ chỗ hoạt động theoluật doanh nghiệp Nhà nước sang doanh nghiệp hoạt động theo các quy định vềcông ty cổ phần trong luật doanh nghiệp Do vậy, các lĩnh vực sản xuất kinhdoanh cũng có chuyển biến từ Nhà nước độc quyền sang nguyên tắc thị trường(cung cầu, cạnh tranh …)
Trong cổ phần hoá, tài sản của doanh nghiệp nhà nước được bán lại chonhiều đối tượng khác nhau bao gồm: các tổ chức kinh tế – xã hội, các cá nhântrong và ngoài doanh nghiệp, giữ lại một tỷ lệ cổ phần cho Nhà nước trong chínhdoanh nghiệp đó, hình thức sở hữu tại doanh nghiệp đã chuyển từ Nhà nước duynhất sang hỗn hợp
Để hiểu rõ hơn về tính chất và đặc điểm cổ phần hoá cũng như để phânbiệt với tư nhân hoá ta xét trên khía cạnh sau:
- Về khái niệm:
Trang 5Đã từ lâu trong thuật ngữ tiếng anh, người ta phân biệt cổ phần hoá làcorporatization còn tư nhân hoá là privatization.
- Về nội dung:
Tư nhân hoá có hai nghiã:
+ Một là, chuyển sở hữu tài sản của nhà nước vào tay tư nhân, đó là nghĩađen, nghĩa chính và truyền thống
+ Hai là, chuyển các lĩnh vực hoạt động xưa nay do Nhà nước độc quyềncho khu vực tư nhân (ví dụ như xuất nhập khẩu chẳng hạn)
Còn cổ phần hoá là chuyển sở hữu tài sản và lĩnh vực lâu nay Nhà nướcnắm giữ vào tay các thành phần kinh tế, trong đó có thành phần tư nhân và thànhthành phần quốc doanh
- Về phương pháp :
Tư nhân hoá có thể được thực hiện bằng nhiều cách như: bán toàn bộ, chokhông, bán một phần (cổ phần hoá) … Còn cổ phần hoá là bán toàn bộ hoặc bánmột phần doanh nghiệp cho các tư nhân nhưng không cho không
Ngoài ba khác biệt lớn nói trên, cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước cóđặc điểm là: bán doanh nghiệp nào và bán ở mức độ nào cho tư nhân (tỷ trọng cổphiếu phát hành) là do Nhà nước quyết định nên cũng không sợ rằng chủ trương
cổ phần hoá rốt cuộc là tư nhân hoá toàn bộ kinh tế Nhà nước, là mất CNXH nhưmột số người lo sợ
Nói cách khác, cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước chính là đa dạnghoá quyền sở hữu doanh nghiệp Nhà nước Kết quả của việc đa dạng hoá quyền
sở hữu bao giờ cũng làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
có hiệu quả hơn, khắc phục tình trạng kém hiệu quả và chứa đựng nhiều tiêu cựccủa khu vực kinh tế Nhà nước hiện nay
Trang 62 Mục đích và ý nghĩa của cổ phần hoá
Ý 39-42%… có thể nhiều nguyên nhân khác nhau, song tất cả các doanh nghiệpNhà nước đều có đặc điểm chung là kém hiệu quả Vì vậy, từ đầu thập kỷ 80, tất
cả các nước đều diễn ra quá trình chuyển doanh nghiệp Nhà nước trở thành công
ty cổ phần Không nằm ngoài quá trình này, ở Việt Nam trong tiến trình chuyểnđổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường, sự đa dạng hoácác hình thức sở hữu đã trở thành đòi hỏi tất yếu và ngày càng phổ biến trongtoàn xã hội Những thành tựu của công cuộc đổi mới cho phép đông đảo quầnchúng nhận thức ngày càng rõ hơn rằng, bên cạnh hình thức sỡ hữu Nhà nước,các hình thức sỡ hữu khác (tư nhân hay hỗn hợp), nếu được tạo những điều kiệnthuận lợi, cũng phát huy vai trò tích cực trong đời sống kinh tế Nhận thức sâusắc vấn đề này thực sự đóng vai trò nền tảng cho một giải pháp cần thiết, quantrọng, thậm chí về phương tiện nhất định, được coi là giải pháp trọng tâm củacông cuộc cải cách doanh nghiệp Nhà nước Đó là giải pháp cổ phần hoá doanhnghiệp Nhà nước Thật vậy, cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước nhằm ba mụctiêu chính sau đây:
Thứ nhất, góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của
doanh nghiệp; tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó cóđông đảo người lao động; tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng độngcho doanh nghiệp để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và củadoanh nghiệp
Trang 7+ Chỉ chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước công ty cổ phần chứ khôngphải chuyển tất cả các doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần Như thế làchỉ chuyển một bộ phận tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước sang các cổđông Đó là nói chung và đứng trên giác độ cả khu vực kinh tế quốc doanh màxét còn đối với một doanh nghiệp Nhà nước cụ thể thì có thể chuyển toàn bộquyền sở hữu tài sản của Nhà nước cho các cổ đông, tuỳ thuộc vai trò và tínhchất quan trọng của từng doanh nghiệp mà có tỷ lên chuyển thích hợp.
+ Thay đổi quyền sở hữu là biện pháp, là điều kiện để đạt được mục tiêucuối cùng là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nếu đã đa dạng hoá quyền
sở hữu (gồm nhiều thành phần kinh tế) nhưng vẫn không nâng cao được hiệu quảsản xuất kinh doanh thì phải xem mức độ đa dạng hoá quyền sở hữu đã đủ haychưa? (ví dụ tỷ trọng cổ phần của Nhà nước vẫn còn 50%, 60%, 70% như thế
có còn nhiều quá hay không ?) hoặc do những nguyên nhân khác như: chính sáchquản lý, điều hành, thị trường…
Thứ hai, huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm: cá nhân, các tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ,phát triển doanh nghiệp Thật vậy, bán cổ phiếu cho các tổ chức và cá nhân đã vàđang là một biện pháp hữu hiệu thu hút vốn đầu tư sản xuất - kinh doanh Đặcbiệt, cho các tổ chức và cá nhân nước ngoài là rất có lợi
+ Ta đang thiếu vốn trong khi các nước, nhất là trong khu vực lại đang
“thừa vốn” (Hàn Quốc, Nhật Bản…) và muốn đầu tư vào Việt Nam
+ Ta đang rất cần những máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ tiên tiếnphù hợp với điều kiện nước ta (ngay cả khi chúng ta có tiền cũng không chắc đãmua được) thì nhiều nước đang muốn góp cổ phần với ta chính bằng các máymóc, thiết bị hiện đại …Đó chính là quá trình chuyển giao công nghệ dưới hìnhthức đầu tư (góp cổ phần)
Trang 8+ Ta đang thiếu kiến thức và kinh nghiệm quản lý kinh tế theo chơ chế thịtrường thì việc các chuyên gia nước ngoài mua cổ phần các công ty cổ phầnnứơc ta, và có thể trở thành thành viên của Hội đồng quản trị, thậm chí trở thànhgiám đốc điều hành, là cách học tốt nhất, nhanh nhất, rẻ nhất.
Đối với cán bộ, công nhân viên ở các doanh nghiệp Nhà nước thì đây làphương thức huy động vốn nhàn rỗi trong dân rất hiệu quả
Vì dấu hiệu cho thấy vốn “ trôi nổi” nằm “dưới chiếu”của dân khá phongphú
+ Số dư tiền gửi tiền tiết kiệm khá
+ Quy mô và tốc độ xây dựng và mua sắm đồ dùng đắt tiền tăng lênnhanh
+ Các đợt phát hành tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng …đã được dânủng hộ tích cực và thu được kết quả khả quan
+ Đầu tư cho sản xuất kinh doanh trong khu vực tư nhân mấy năm gần đâytăng nhanh
+ Những doanh nghiệp đã cổ phần hoá thì có nhiều doanh nghiệp có côngnhân viên đăng ký mua cổ phiếu bằng tiền túi của mình chiếm tỷ lớn
Những dấu hiệu đó chứng tỏ trong dân còn không ít vốn nhàn rỗi Đó là cơ
sở chắc chắn cho việc cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước
Thứ ba, phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của các cổ
đông; tăng cường sự giám sát của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp; bảo đảm hàihoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động
Lâu nay, chúng ta đã làm được rất nhiều việc xung quanh việc tự do hoá,thương mại hoá và luật pháp hoá các hoạt động của doanh nghiệp Nhưng vấn đềlàm chủ của người lao động thì cứ “loay hoay” mãi mà chưa giải quyết được:Làm chủ tập thể thì trở thành vô chủ, “của cải chung” đồng nghĩa với “khôngphải của ai”, mọi người đều tuỳ tiện sử dụng mà không phải bận tâm… Một
Trang 9trong những nguyên nhân cơ bản là chưa coi trọng và chưa có quy chế cụ thể đểngười lao động thực hiện quyền làm chủ về kinh tế (quyền sở hữu về vốn và tàisản), từ đó quyền làm chủ của người lao động chỉ dừng lại ở nguyên tắc, khẩuhiệu, chứ chưa đi vào thực chất Khi chuyển sang công ty cổ phần thì các cổđông có quyền hạn và trách nhiệm rất rõ ràng theo luật định và theo điều lệ củacông ty Các quyền hạn và trách nhiệm đều gắn với một số lượng tài sản nhấtđịnh của họ đóng góp Vì “của đau con xót” nên họ không cho phép bất cứ ailạm dụng tài sản của họ, họ tự giác tiết kiệm, làm việc hăng say để có thu nhậpcao… Và điều quan trọng là họ có toàn quyền lựa chọn những người thay mặt họquản lý công ty (các thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc) mà không bị mộtsức ép nào.
Ngoài những mục đích chính trên, việc cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhànước ở nước ta cũng còn kết hợp với các mục tiêu phụ như:
- Thu hồi vốn cho ngân sách Nhà nước để tái đầu tư cho các lĩnh vực cầnthiết
- Xoá bỏ triệt để bao cấp của Nhà nước đối với doanh nghiệp
- Tạo điều kiện phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Một kinh nghiệm của các nước đi trước cho thấy nếu Chính phủ có thamvọng quá lớn, tức là có quá nhiều mục tiêu thì hoặc là khó làm hoặc là thất bại
Vì thế, nước ta chỉ xác định 3 mục tiêu chính và không coi nhẹ mục tiêu nào
Ví dụ: Nếu trong quá trình chỉ đạo ở một bộ hoặc địa phương nào đó lãnhđạo chỉ chú trọng mục tiêu 1 là phải thay đổi quyền sở hữu và nâng cao hiệu quảsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì dễ sẽ xảy ra các hiện tượng sau:
+ Bán với bất cứ giá nào (bằng cách giảm giá tài sản cho dễ bán, thuênước ngoài xác định cho nhàn…) làm thất thoát tài sản của Nhà nước
Trang 10+ Bán bất cứ cho ai cần mua, kết quả có thể là sau khi mua, chủ mới sẽbiến một doanh nghiệp từ mục đích sản xuất kinh doanh này sang sản xuất kinhdoanh khác sa thải hàng loạt công nhân…
Những hậu quả vừa nêu trên mâu thuẫn với hai mục tiêu 2 và 3
Do vậy việc coi trọng kết hợp thực hiện ba mục đích chính trên là quantrọng, cần thiết, tiền đề cho cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước được thànhcông
2.2 Ý nghĩa:
Với mục đích như vậy, giải pháp cổ phần hoá đáp ứng những yêu cầu bứcthiết của công cuộc cải cách doanh nghiệp Nhà nước đang đòi hỏi giải toả nhữngkhó khăn trong ngân sách Nhà nước, khuyến khích người lao động đóng góp tíchcực và có trách nhiệm sức lực, trí tuệ của họ cho hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp Nói một cách khác cổ phần hoá doanh nghiệp có ý nghĩa cực
Trang 11Các công ty cổ phần hoạt động theo luật công ty trong đó đại hội cổ đông
có quyền quyết định phương hướng hoạt động của công ty cũng như giám sáthoạt động của Hội đồng quản trị và Giám đốc điều hành Người lao động đồngthời là cổ đông có quyền yêu cầu lãnh đạo doanh nghiệp trình trước Đại hộinhững vấn đề nguyên tắc thu chi ngân sách của doanh nghiệp, có quyền thắc mắc
về hiệu quả quản lý… Hơn nữa, do sự thay đổi về cơ chế tổ chức, vai trò tráchnhiệm của các bộ phận, các tổ chức quần chúng được phân định rõ ràng, côngđoàn có chức năng độc lập với người quản lý điều hành doanh nghiệp Vì vậy,các ý kiến đóng góp, dù từ bất kỳ phía nào, đều được nghiêm túc lắng nghe Bêncạnh việc quản lý tập trung, không khí sinh hoạt dân chủ thực sự được cải thiệntrong cổ phần hoá
- Lành mạnh hoá, hợp lý hoá ngân sách Nhà nước, đồng thời huy độngđược nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội
Thông qua giải pháp CPH DNNN, nhà nước thu hồi một phần không nhỏtài sản Nhà nước từ DNNN và tài sản đó sẽ được phân bố lại cho các dự án quốcgia giàu tính khả thi hoặc đầu tư vào những ngành mang lại nhiều lợi ích kinh tế
xã hội quan trọng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững Hơn nữa, cáccông ty cổ phần dưới quyền điều hành của chủ nhân mới, với động lực mới trongquản lý doanh nghiệp, phương hướng hoạt động thay đổi theo hướng khôngngừng củng cố sức mạnh cạnh tranh của công ty sẽ có thể huy động thêm nguồnvốn nhàn rỗi trong xã hội
Theo kết quả điều tra mức sống do Bộ Kế hoạch và đầu tư cùng Tổng cụcThống kê phối hợp thực hiện năm 1999: 44% tiền để dành của dân cư đượcdùng để mua vàng và ngoại tệ nhằm mục tiêu dự trữ, 17% gửi tiết kiệm (chủ yếu
là tiết kiệm có kỳ hạn), 19% dùng trực tiếp cho đầu tư, nhưng cũng chủ yếu chođầu tư ngứn hạn hoặc đầu tư vào bất động sản
Trang 12Thị trường vốn của Việt Nam vẫn còn non yếu, nên hiện nay, nguồn vốnduy nhất mà các doanh nghiệp có thể huy động là vốn tín dụng Song nguồn vốntín dụng hiện nay lại chủ yếu là tín dụng ngắn hạn đáp ứng các nhu cầu chi tiêuthường xuyên của doanh nghiệp còn nguồn tín dụng trung hạn và dài hạn rất hạnhẹp Mặt khác, các doanh nghiệp cũng không dễ dàng đáp ứng được yêu cầu chovay vốn của các ngân hàng Thương mại.
Trong tình hình như vậy, việc chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công
ty cổ phần, chính là để thu hút vốn đầu tư sẵn có vào phát triển kinh tế và tậndụng ưu điểm vốn có của công ty cổ phần về huy động vốn Công ty cổ phần cóthể thu hút nguồn vốn lớn của các tổ chức từ ngân hàng Thương mại và công tytài chính đến các nguồn vốn nhỏ bé và phân tán của các thể nhân
* Phục vụ an ninh quốc phòng (sản xuất vũ khí, chất độc …)
* Là cơ sở để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô của nền kinh
tế và can thiệp vào thị trường khi cần thiết (dầu khí, điện, khai thác vàng và đãquý …)
* Là các doanh nghiệp rất cần cho phát triển kinh tế nhưng các thànhphần kinh tế khác chưa đủ sức đầu tư như: thuỷ điện nhỏ, sản xuất phân bón,thuốc trừ sâu…
Trang 13* Phục vụ công cộng, xã hội, hạ tầng cơ sở (đường sắt, hàng không, sảnxuất dụng cụ cho người tàn tật, vận chuyển hàng hoá ra miền núi, hải đảo…)
+ Loại DNNN còn lại đều có thể thực hiện CPH và áp dụng các hình thứcchuyển đổi sở hữu khác trong đó Nhà nước không nắm cổ phần chi phối, cổ phầnđặc biệt hoặc không nắm giữ cổ phần
Từ việc phân loại đó cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước có 4 hình thứcsau đây:
Thứ nhất: giữ nguyên giá trị phần vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp,
phát hành cổ phiếu, thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp: theo hình thứcnày, giá trị cổ phần của Nhà nước góp vào công ty bằng giá trị thực tế phần vốnNhà nước tại doanh nghiệp trừ đi chi phí cổ phần hoá, giá trị ưu đãi cho ngườilao động và giá trị phần trả dần của người lao động nghèo theo quy định của Nhànước
Thứ hai: bán một phần giá trị vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp:
theo hình thức này thì Nhà nước sử dụng một phần giá trị thực tế vốn Nhà nướctại doanh nghiệp để bán cho các cổ đông
Thứ ba: tách một bộ phận của doanh nghiệp để cổ phần hoá Theo hình
thức này, một bộ phận của doanh nghiệp có thể hoạt động độc lập và hạch toánriêng giá trị tài sản, được tách ra để cổ phần hoá (phân xưởng sản xuất, cửa hàng,
bộ phận dịch vụ)
Thứ tư: bán toàn bộ giá trị vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp để
chuyển thành công ty cổ phần: theo hình thức này, Nhà nước không tham gia cổphần ở công ty cổ phần
4 Công ty cổ phần là sản phẩm của nền kinh tế thị trường.
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường có rất nhiều loại hình doanh nghiệpcùng tồn tại, đan xen với nhau tạo thành mộ cấu trúc nhiều tầng, trong đó công ty
cổ phần chiếm vị trí thống trị
Trang 14“Trong những năm 80 có hơn 16 triệu đơn vị kinh doanh Mỹ Đa số nhữngđơn vị có quy mô nhỏ và thuộc quyền sở hưu của một người – Sở hữu cá thể.Một số là những đơn vị chung vốn Những đơn vị kinh doanh lớn hơn có khuynhhướng trở thành những công ty”
Về mặt số lượng hình thức, sở hữu các thể là hình thức kinh doanh có tính
áp đảo Nhưng về giá trị đô la, về quyền lực chính trị và kinh tế, về quy mô trảlương hoặc thuê người làm, vài trăm công ty khổng lồ chiếm được vị trí chiếnlược Paul Samuelson đã mô tả các tổ chức kinh tế chính trong nền kinh tế Mỹvới lưu ý rằng tuy số lượng công ty cổ phần có ít nhưng chúng chiếm một tỷtrọng lớn trong khối lượng hàng hoá doanh số bán hành và các dịch vụ khác
Bức tranh về các loại hình doanh nghiệp ở Mỹ có phản ánh mối liên hệbên trong nào gắn liền với nguồn gốc hình thành và phát triển của công ty cổphần hay không?
Sự hình thành ở trên về quá trình xã hội hoá sở hữu trong nền kinh tế thịtrường tách biệt với sự hai mặt của sở hữu đã đạt đến sự độc lập tương đối vàbiểu hiện ra bên ngoài thành quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền kinh doanh, cóthể cung cấp cho chúng ta chìa khoá để hiểu thực chất quá trình phát triển củahình thái doanh nghiệp từ chỗ thuộc sở hữu của người lao động tự mình kinhdoanh đến công ty cổ phần với sự sở hữu của nhiều chủ tham gia
4.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần.
Để hiểu được lịch sử hình thành và phát triển của hình thái công ty cổphần, chúng ta sẽ bắt đầu từ việc xem xét hình thái sơ khai của nó là doanhnghiệp có một chủ sở hữu độc lập và theo dõi sự vận động của nó trong quá trìnhphát triển nền kinh tế thị trường
Dựa trên tiêu thức về sở hữu, chúng ta có thể chia thành ba hình thái pháttriển doanh nghiệp Đó là: (1)- Hình thái doanh nghiệp một chủ; (2)- Hình thái
Trang 15doanh nghiệp chung vốn và (3)- Hình thái công ty cổ phần Do thời gian có hạn
ở đây em chỉ xin đề cập tới hình thái công ty cổ phần
Sự ra đời và phát triển của chế độ tín dụng đã góp phần đẩy nhanh quátrình tập chung tư bản bằng việc đẩy nhanh quán trình tuần hoàn và chu chuyểncác loại vốn, tăng nhanh quy mô sản xuất và thúc đẩy quá trình xã hội hoá sởhữu trong nên kinh tế thị trường TBCN Với sự ra đời và phát triển của hệ thốngngân hàng đã làm cho hoạt động tín dụng chuyển biến một cách cơ bản Quy mô
và nhịp độ giao dịch cũng như huy động vốn đầu tư ngày càng tăng thì uy lựccủa tín dụng ngày càng mở rộng Cùng với sự phát triển của thương nghiệp thếgiới Tín dụng ngân hàng ngày càng mở rộng và ăn sâu trong các hoạt động kinhdoanh thì các loại chứng khoán ngày càng phát triển và cấu thành một thị trường
mà lúc đầu có những kẻ môi giới, đầu cơ tranh thủ kiếm lời, cho đến khi hìnhthành các sở giao dịch
Như vậy, sự phát triển của chế độ tín dụng đã tạo cơ sở cho việc hìnhthành thị trường vốn đầu tư thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng đã gópphần tạo tiền đề cho sự ra đời các công ty cổ phần Sự hình thành và phát triểnthị trường chứng khoán đã giúp cho các công ty mở rộng và sâm nhập ngày càng
mạnh mẽ vào nền kinh tế thị trường Có thể nói, thị trường chướng khoán là trung tâm phản ánh hoạt động của các công ty trong nền kinh tế thị trường.
Sự ra đời và phát triển loại hình công ty cổ phần đánh dấu sự chuyển hướng nền kinh tế từ trạng thái vay mượn chủ yếu qua ngân hàng hoặc chung vốn sang huy động vốn trên thị trường tài chính Các công ty cổ phần là nguồn
cung cấp sản phẩm cho sự phồn vinh của thị trường này Đổi lại, sự thịnh vượngcủa thị trường tài chính tạo điều kiện cho các công ty cổ phần sinh sôi nảy nở.Ngay từ thời kỳ phát triển ban đầu của sở giao dịch và thị trường chứng khoán,Ăng-ghen đã nhận định: “Ngày nay, sở giao dịch có một tầm quan trọng lớn hơnnhiều và ngày càng tăng; những thay đổi ấy, trong sự phát triển về sau của
Trang 16chúng, có xu thế tích tụ vào tay những nhà giao dịch chứng khoán toàn bộ nềnsản xuất – công nghiệp cũng như nông nghiệp – và toàn bộ lưu thông – cả nhữngphương tiện giao thông liên lạc cũng như chức năng trao đổi; như vậy, sở giaodịch trở thành người đại biểu nổi bật nhất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa”.
Sự mở rộng của thị trường thế giới bằng việc chinh phục các thuộc địa làmcho khối lượng tín dụng được huy động theo phương thức truyền thống ngàycàng không đáp ứng đủ so với yêu cầu tăng nhanh về quy mô thương mại và sản
xuất Tình hình đó khiến cho các hình thức công ty cổ phần trong thương mại và ngân hàng lần lượt ra đời như là kết quả của sự phát triển tín dụng thương nghiệp và tín dụng ngân hàng Nhờ đó, nó đã tạo ra cơ sở tín dụng cần thiết cho
sự hình thành công ty cổ phần trong các ngành công nghiệp mà trước hết là cácngành cần khối lượng vốn đầu tư rất lớn như chế tạo máy, đường sắt, hoá chất,khai khoáng Có thể nói, chế độ tín dụng dựa trên sự phát triển hệ thống ngânhàng cổ phần đã duy trì được sự hoạt động hiệu quả của thị trường tài chính vàgóp phần thúc đẩy các công ty cổ phần trong các ngành công nghiệp ra đời, hoạtđộng và phát triển
Do những ưu điểm của nó, hình thái công ty cổ phần vừa mới ra đời đã lầnlượt chiếm lĩnh hết ngành này sang ngành khác từ lĩnh vực này sang lĩnh vựckhác Vào thời đại của mình, Ăng-ghen đã nhận xét rằng: với tốc độ tích luỹngày càng tăng và các tư bản cá biệt không thể sử dụng hết vào công việc kinhdoanh của mình, cùng với tư bản tiền tệ được giải phóng do đám người thực lợităng lên, thì hiện nay “ở tất cả những nơi nào trước đây chưa có, người ta đềuthành lập các hình thức mới được pháp luật thừa nhận là những công ty tráchnhiệm hữu hạn, còn trách nhiệm các cổ đông trước đây là vô hạn thì ít nhiềuđược giảm bớt Ăng ghen viết tiếp: “Do đó, công nghiệp dần dần biến thànhnhững xí nghiệp cổ phần Lần lượt hết ngành này đến ngành khác phải chịu sốphận đó…”
Trang 17Trải qua thời gian, hình thái công ty cổ phần ngày càng được hoàn thiện, phát triển và đa dạng hóa Có thể nói công ty cổ phần là một phát minh quantrọng nhất trong lịch sử phát triển các hình thái tổ chức doanh nghiệp từ cuộccách mạng trong công nghiệp của CNTB, chứ không đơn thuần chỉ là sản phẩmthụ động của sự phát triển kinh tế thị trường.
4.2 Vai trò của công ty cổ phần trong sự phát triển nền kinh tế thị trường.
Sự trình bày ở trên về quá trình hình thành công ty cổ phần cho thấy chế
độ tín dụng và ngân hàng là đòn bẩy cho quá trình xã hội hoá sở hữu và tạo điềukiện ra đời công ty cổ phần Công ty cổ phần đã đóng vai trò lịch sử hết sức tolớn trong sự phát triển nền kinh tế thị trường Có thể hình dung vai trò của nó ởmột số điểm sau:
* Là sản phẩm của xã hội hoá sở hữu phản ánh quá trình tích tụ và tậptrung tư bản, công ty cổ phần ra đời đã góp phần đẩy nhanh hơn quá trình này vềtốc độ, quy mô và làm xuất hiện những xí nghiệp mà với tư bản riêng lẻ khôngthể nào thiết lập được
* Là kết quả của sự vận động tách biệt hai mặt của sở hữu bằng thể hiện ởmối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền kinh doanh, công ty cổ phần ra đời chophép mở rộng qui mô sản xuất nhanh chóng mà không bị giới hạn bởi tích luỹcủa từng tư bản riêng biệt, tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình xã hội hoá sản xuất
do đó, nó khiến xã hội phải tiếp nhận các yêu cầu phát triển của nó và làm cho hệthống ngân hàng, thị trường chứng khoán và nhà nước trở thành một bộ máykinh tế hoạt động và thực hiện các chức năng quản lý mà lâu nay vẫn nằm trongcác nhà tư bản các bệt Mác đã viết như sau: “ Công ty cổ phần là điểm quá độ
để biến tất cảc chức năng trong quá trình tái sản xuất cho đến nay vẫn còn gắnliền với quyền sở hữu tư bản, đơn thuần thành những chức năng của nhữngngười sản xuất liên hiệp, tức là thành những chức năng xã hội”
Trang 18* Việc thành lập công ty cổ phần, theo Mác đã “trực tiếp mang hình thái tưbản xã hội (tư bản của những cá nhân trực tiếp liên hiệp lại với nhau) đối lập với
tư bản tư nhân; Còn các xí nghiệp của nó biểu hiện ra là những xí nghiệp xã hộiđối lập với những xí nghiệp tư nhân trong khuân khổ của bản thân phương thứcsản xuất tư bản chủ nghĩa”
Công ty cổ phần là một tổ chức doanh nghiệp phổ biến trong nền kinh tếthị trường, có vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế, góp phần hoànthiện cơ chế thị trường Thể hiện:
Do quan hệ sở hữu trong công ty cổ phần là thuộc về các cổ đông nên quy
mô sản xuất có khả năng được mở rộng to lớn và nhanh chóng, mà không có cánhân riêng lẻ nào có thể thực hiện được Kiểu tích tụ dựa vào cá nhân riêng lẻdiễn ra chậm chạp, còn tập trung theo kiểu công ty cổ phần bằng cách thu hútđược các nguồn vốn của các nhà đầu tư và tiết kiệm của quảng đại quần chúng,lại cho phép tăng quy mô rất nhanh
Vốn huy động dưới hình thức công ty cổ phần, khác với vốn cho vay trên
cơ sở tín dụng bởi vì nó không cho vay hưởng lãi mà kiểu đầu tư chịu mạo hiểm
và rủi ro Cho nên các công ty cổ phần có thể tồn tại ngay cả trong trường hợpchúng chỉ đem lại lợi tức (lợi nhuận của công ty cổ phần mang hình thức lợitức)
Công ty có thời gian tồn tại là vô hạn (nếu không có quy định thời hạnhoạt động và loại trừ trường hợp bị phá sản) vì vốn góp cổ phần có sự độc lậpnhất định đối với các cổ đông Người bỏ tiền ra mua cổ phiếu của công ty cổphần không có quyền rút vốn mà chỉ có quyền sở hữu cổ phiếu Các cổ phiếu cóthể tự do mua bán trên thị trường và được quyền thừa kế Vì vậy khác với loạicông ty khác, vốn cổ phiếu đã được góp tồn tại với quá trình “sống” của công ty,còn chủ sử hữu có thể thay đổi Sự tồn tại của công ty cổ phần không bị ảnhhưởng bởi các cổ đông chết hay tù tội
Trang 19Trong công ty cổ phần, chức năng của vốn tách rời quyền sở hữu của nócho phép sử dụng các nhà quản lý chuyên nghiệp Giám đốc kinh doanh trởthành một nghề, không cần phải mang chức vụ hành chính Công ty cổ phần cóthể thuê giám đốc trên cơ sở hợp đồng quản trị (đại diện chủ sở hữu) với giámđốc chủ kinh doanh Quy định quá chặt chẽ quyền và trách nhiệm của giám đốc
sẽ giảm bớt tính năng động và sáng tạo; linh hoạt trong quản lý sẽ giảm bớt hiệuquả kinh doanh Ngược lại, có thể lạm dụng hoặc lợi dụng làm ảnh hưởng đếnlợi ích của chủ sở hữu
Công ty cổ phần tạo ra một cơ chế phân bố rủi ro đặc thù: chế độ tráchnhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ trong mức vốn của công ty là san sẻ rủi rocho các chủ nợ khi công ty bị phá sản Vốn tự có của công ty huy động thôngqua phát hành cổ phiếu là vốn của nhiều cổ đông khác nhau, do đó san sẻ rủi rocho nhiều cổ đông Chính vì cách thức huy động vốn của công ty cổ phần đã tạođiều kiện cho các nhà đầu tư tài chính có thể mua cổ phiếu, trái phiếu của cáccông ty ở nhiều ngành khác nhau để giảm bớt tổn thất khi bị phá sản so với việcđầu tư tài chính vào một hay một số công ty của cùng một ngành
Việc ra đời của các công ty cổ phần với việc phát hành các loại chứngkhoán và cùng với việc chuyển nhượng, mua bán chứng khoán đến một mức độnhất định sẽ tạo điều kiện cho sự ra đời thị trường chứng khoán:
Thị trường chứng khoán ra đời lại là nơi để cho các nhà kinh doanh có thểtìm kiếm được các nguồn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh; là nơi khaithông các nguồn tiết kiệm của những người tích luỹ đến các nhà đầu tư; là cơ chếphân bổ các nguồn đầu tư theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường; là cơ sở quantrọng để Nhà nước thông qua đó để sử dụng các chính sách tiền tệ can thiệp vàohoạt động của nền kinh tế nhằm đạt được những mục tiêu lựa chọn Thiếu thịtrường chứng khoán không có nền kinh tế thị trường phát triển Song sự ra đờicủa thị trường chứng khoán không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con gười,
Trang 20mà là kết quả của sự phát triển chung về kinh tế – xã hội, trong đó sự ra đời vàphát triển, hoạt động một cách hoàn hảo của các công ty cổ phần giữ vai tròquyết định.
Công ty cổ phần tạo điều kiện tập hợp được nhiều lực lượng khác nhau vàohoạt động chung nhưng vẫn tôn trọng sở hữu riêng cả về quyền, trách nhiệm và lợiích của các cổ đông theo mức góp vốn Mở rộng sự tham gia của các cổ đông vàocông ty cổ phần, đặc biệt là người lao động là cách để họ tham gia vào hoạt độngcủa công ty với tư cách là người chủ sở hữu đích thực chứ không phải với tư cách
là người làm thuê Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý
Công ty cổ phần tuy có vai trò to lớn đối với quá trình phát triển kinh tế –
xã hội, nhưng không có nghĩa là nó không có những hạn chế, chẳng hạn: công ty
cổ phần với chế độ trách nhiệm hữu hạn đã đem lại những thuận lợi cho công ty,nhưng lại chuyển bớt rủi ro cho các chủ nợ Công ty cổ phần gồm đông đảo các
cổ đông tham gia, nhưng trong đó đa số các chủ nhân không biết nhau và nhiềungười trong họ không hiểu kinh doanh, mức độ tham gia góp vốn vào công ty có
sự khác nhau, do đó mức độ ảnh hưởng của các cổ đông đối với các công tykhông giống nhau, điều đó có thể dẫn đến việc lợi dụng và lạm dụng hoặc nảysinh tranh chấp và phân hoá lợi ích giữa các cổ đông khác nhau Công ty cổ phầntuy có tổ chức chặt chẽ nhưng việc phân công về quyền lực và chức năng củatừng bộ phận cho hoạt động của công ty có hiệu quả lại rất phức tạp công ty cổphần là tổ chức có tính dân chủ cao trong kinh tế phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn, do
đó quyền kiểm soát công ty trên thực tế vẫn ở trong tay các cổ đông lớn
Việc khắc phục các hạn chế trên phụ thuộc vào trình độ phát triển chungcủa nền kinh tế, trình độ dân trí, trình độ điều hành quản lý của Nhà nước và sựhoàn hảo của hệ thống pháp luật
Trang 21Tóm lại, công ty cổ phần là hình thức tổ chức mang tính chất xã hội hoácao, không những được thể hiện ở phương diện sở hữu mà còn thể hiện tập trung
ở việc sử dụng vốn
Một lần nữa khẳng định, công ty cổ phần là thể chế kinh doanh huy độngvốn có cơ chế mở và linh hoạt nhất, có khả năng huy động vốn một cách rộng rãinhất, có khả năng tích tụ và tập trung vốn có quy mô lớn nhất Công ty cổ phầnxuất hiện và phát triển tạo điều kiện và môi trường thúc đẩy vốn luân chuyểntrong nền kinh tế thị trường, làm cho nguồn vốn được phân bổ và sử dụng hợp lý
và hiệu quả hơn Chính Các mác đã từng nói: “…không chỉ phát minh ra đầumáy hơi nước mà đã phát minh ra công ty cổ phần đã đẩy nhanh quá trình pháttriển của CNTB”
Ở Việt Nam, trong 10 năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiềuchủ trương, biện pháp tích cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN, trong
đó chuyển DNNN sang hoạt động theo chế độ công ty cổ phần được xem là khâuquan trọng tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả DNNN, điều đóđem lại kết quả rất đáng khích lệ, góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mớicủa đất nước Cho thấy, đây là hướng chỉ đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng vàNhà nước
4.3 Đặc điểm của công ty cổ phần.
Những đánh giá của Mác về vai trò của công ty cổ phần cho thấy mô hìnhkinh doanh này đã mang những đặc điểm mới, cho phép thích ứng với những đòihỏi của sự phát triển nền kinh tế thị trường mà những hình thái khác không thểđấp ứng được Điển hình ở một số đặc điểm sau đây:
* Xét về mặt pháp lý, công ty cổ phần là một tổ chức kinh doanh có tưcách pháp nhân mà vốn kinh doanh do nhiều người đóng góp dưới hình thức cổphần Khác với doanh nghiệp chung vốn, các cổ đông – người cấp vốn cho công
ty, chỉ có trách nhiệm với các cam kết tài chính của công ty trong giới hạn số
Trang 22tiền của họ đóng góp dưới hình thức mua cổ phiếu, nghĩa là các cổ đông chỉ chịutrách nhiệm về cac khoản nợ của công ty trong phạm vi số tiền mà họ bỏ ra.Trong trường hợp công ty bị phá sản thì họ cũng chỉ mất số tiền mà họ đã đầu tưvào công ty mà thôi, không chịu trách nhiệm vô hạn như hình thức kinh doanhmột chủ hoặc chung vốn Nhờ đặc điểm này, nó đã khắc phục được chở ngạiquan trọng mà các hình thái doanh nghiệp khác không mấy khi dám mạo hiểm
để thực hiện các dự án kinh doanh lớn Bằng cách bán các cổ phiếu, trái phiếucho những người có vốn muốn đầu tư để gia tăng thu nhập, nó đã làm nhữngngười này không phải e ngại những hậu quả tài chính có thể xẩy ra đối với toàn
có khả năng khai thác ngay cảc những số tiền tiết kiệm nhỏ nhất trong côngchúng Nhà kinh tế học Samuelson đã đánh giá như sau: “ Sản xuất lớn có hiệuquả về mặt kỹ thuật và một công ty lớn và một cách có lợi để các nhà đầu tư chia
sẻ rủi ro không thêt khắc phục được của đời sống kinh doanh Không có tráchnhiệm pháp lý hữu hạn và công ty, thì điều đơn giản là nền kinh tế thị trườngkhông thể nào thu hái lợi ích có được khi những tư bản lớn cần được thu hút vàonhững công ty với quy mô có hiệu quả, sản xuất ra nhiều loại sản phẩm bổ sungcho nhau, chia sẻ rủi ro và sử dụng tốt nhất kinh tế của những đơn vị nghiên cứulớn và kiến thức quản lý”
* Xét về mặt huy động vốn: Công ty cổ phần đã giải quyết hết sức thànhcông Bởi vì những số tiền nhỏ dành dụm từng gia đình riêng không thể để lập
Trang 23thành doanh nghiệp nhỏ và đó không thể đem kinh doanh được, thì rõ ràng sự cómặt của các công ty cổ phần đã tạo điều kiện cho họ có cơ hội đầu tư một cách
có lợi và an toàn những khoản vốn nhỏ nhưng gộp lại sẽ trở thành rất lớn Cáctiền khoản nhỏ trên có thể được gửi ở ngân hàng hay mua trái phiếu…Song hìnhthức cổ phần có sức hấp dẫn riêng mà các hình thức khác không thể thay thế
được Thứ nhất, việc mua cổ phiếu không những đem lại cho cổ đông lợi tức cổ
phần (bằng hoặc cao hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng) mà còn hứa hẹn mang đếncho cổ đông một khoản thu nhập “ngầm” nhờ việc tăng giá trị cổ phiếu khi công
ty làm ăn có hiệu quả Thứ hai, các cổ đông có quyền được tham gia quản lý theo
điều lệ của công ty và được pháp luật bảo đảm, điều đó làm cho quyền sở hữu
của cổ đông trở lên cụ thể và có sức hấp dẫn hơn Thứ ba, cổ đông có quyền
được ưu đãi trong việc mua những cổ phiếu mới phát hành của công ty trước khiđem bán rộng rãi cho công chúng
+ Hình thái công ty cổ phần đã thực hiện được việc tách quan hệ sở hữu
khỏi quá trình kinh doanh, tách quyền sở hữu với quyền quản lý và sử dụng, tạo
nên một hình thái xã hội hoá sở hữu của đông đảo công chúng ở một bên, còn
bên kia là tầng lớp các nhà quản trị kinh doanh chuyên nghiệp sử dụng tư bản xãhội cho các công cuộc kinh doanh quy mô lớn Khi các công ty cổ phần ra đời,Mác đã chỉ rằng: “Quyền sở hữu của tư bản bây giờ đã hoàn toàn tách khỏi chứcnăng của tư bản trong quá trình tái sản xuất thực tế, cũng hệt như chức năng đóthể hiện thông qua người quản lý, tách khỏi quyền sở hữu tư bản”
Những người đóng vai trò sở hữu trong công ty cổ phần không trực tiếpđứng ra kinh doanh mà uỷ thác chức năng đó cho bộ máy quản lý của công ty.Bản thân công ty được pháp luật thừa nhận như một pháp nhân độc lập tách rờivới các cá nhân đóng góp vốn và kiểm soát nó Nhờ đó, công ty cổ phần tiếnhành tất cả các hoạt động kinh doanh dưới danh nghĩa của chính mình và nhậntrách nhiệm đến cùng với cam kết tài chính của công ty
Trang 24Trong cơ cấu tổ chức của một công ty cổ phần, phản ánh rất rõ đặc điểm
về sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh Luật công tycủa nhiều nước đều nêu ra hai tổ chức chính đại diện cho quyền sở hữu của các
cổ đông trong công ty: Đại hội cổ đông và Hội đồng quản trị Quyền sở hữu tối
cao đối với công ty thuộc Đại hội cổ đông Đại hội cổ đông thường được tổ chứcmỗi năm một lần để lựa chọn và bãi miễn Hội đồng quản trị, quyết định sửa đổiĐiều lệ công ty, phân chia lợi nhuận cổ phần, phát hành thêm cổ phiếu hoặc hợpnhất vào các công ty khác…Hội đồng quản trị được bầu ra có trách nhiệm bảotoàn và phát triển giá trị các khoản vốn đầu tư của cổ đông Chức năng chủ yếucủa nó là đưa ra những chỉ dẫn mang tính chiến lược bao gồm những kế hoạchtài chính và những quyết định đầu tư lớn Toàn bộ hoạt động quản lý kinh doanh
thuộc về Ban giám đốc điều hành Bên cạnh đó, Đại hội cổ đông cũng bầu ra Ban kiểm soát thực hiện việc kiểm tra, giám sát hoạt động của công ty để bảo vệ
lợi ích cho những người góp vốn
Sự mô tả giản lược hệ thống tổ chức trong công ty cổ phần: Đại hội cổđông – Hội đồng quản trị – Ban giám đốc điều hành – Ban kiểm soát, phản ánh
sự tách biệt hợp lý giữa quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh, do đó, nóđáp ứng được một cách khá lý tưởng những yêu cầu của kinh doanh qui mô lớn.Nhờ đặc điểm này, mà trong nền kinh tế thị trường hiện đại, các công ty cổ phần
đã phát triển đến qui mô khổng lồ, hình thành các tập đoàn công ty có tính quốcgia và xuyên suốt quốc gia Quyền sở hữu của nó thuộc về hàng vạn, hàng triệucác cổ đông nhỏ và không một ai hoặc nhóm nào có thể nắm được cổ phần tối
đa Có thể nói ngày nay, sự tồn tại và phát triển của một công ty cổ phần ngàycàng ít dựa vào mối quan hệ sở hữu của các cổ đông mà tuỳ thuộc ngày càngnhiều vào nhân tố chủ yếu ở hiệu năng quản trị và điều hành công ty Sự thay đổinày đã cho phép Samuelson đi đến kết luận rằng: “Các doanh nghiệp ngày nay
do thị trường chứ không do các cổ đông kiểm soát” và cho rằng một cuộc cách
Trang 25mạng về quản lý công ty đã ra đời thay thế “người chỉ huy thời xưa của nền côngnghiệp, với tất cả tài năng sáng tạo và khả năng tính toán những rủi ro cần thiết
để xây dựng một xí nghiệp lớn, thường có đôi chút đặc tính của kẻ phiêu lưu vàthái độ bất chấp công chúng “ bằng” đội ngũ những người quản lý chuyênnghiệp có tầm quan trọng ngày càng tăng”
+ Các cổ phiếu và trái phiếu thông thường của công ty cổ phần có thểđược chuyển nhượng dễ dàng trên thị trường chứng khoán Các cổ đông có thểrút lại vốn của mình để đầu tư vào một công cuộc kinh doanh khác bằng cáchbán các cổ phiếu, trái phiếu và mua các cổ phiếu, trái phiếu ở những công ty màmình muốn Mặt khác, các cổ phiếu của một công ty cổ phần chỉ được thanh lýkhi công ty phá sản, vì thế bất kể có bao nhiêu cổ đông bán cổ phiếu hoặc chết đi
và bất kể cổ phiếu được chuyển chủ bao nhiêu lần do bán hoặc do thừa kế, cuộcsống của doanh nghiệp vẫn tiếp tục một cách bình thường mà không bị ảnh
hưởng Có thể nói, công ty cổ phần và thị trường chứng khoán vừa duy trì được
sự ổn định của doanh nghiệp, đồng thời vừa tạo nên sự di chuyển linh hoạt của các luồng vốn xã hội Như vậy, đặc điểm này của công ty cổ phần tồn tại không
thể tách rời với sự duy trì và phát triển của thị trường chứng khoán
Nhờ sự phát triển và hoàn thiện của thị trường chứng khoán, khả năng huyđộng vốn đầu tư được mở rộng ra hết sức rộng rãi, nó cung cấp cho thị trườngnhững cơ hội đầu tư đa dạng, đơn giản, dễ dàng và thuận tiện cho đông đảo quầnchúng
Với những đặc điểm trình bày ở trên, các công ty cổ phần đã thực sự đóngvai trò tổ chức trong nền kinh tế theo những yêu cầu của thị trường Có thể nói,với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, chủ nghĩa tư bản đã lợi dụng được
mô hình công ty cổ phần về những khả năng biến đổi và thích nghi nhanh nhạyvới của nó trong cơ chế thị trường Ngày nay, hành ngàn tập đoàn công ty khổng
lồ có tính chất quốc gia và xuyên quốc gia đang góp phần tạo nên sức mạng kinh
Trang 26Đại hội đồng cổ đông
tế mỗi nước và tham gia đắc lực vào quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế quốctế
4.3 Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần.
Mô hình tổ chức quản lý của công ty cổ phần được thể hiện như sau:
Mô hình tổ chức quản lý của công ty cổ phần về nguyên tắc được thiết lậptheo mô hình phổ biến là: Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền caonhất quyết định mọi vấn đề quan trọng có liên quan đến sự tồn tại và phát triểncủa công ty Đại hội đồng cổ đông bầu ra một hội đồng quản trị để thay mặt các
cổ đông thực hiện các chức năng của chủ sở hữu đối với công ty Đồng thời đạihội đồng cổ đông cũng bầu ra một ban kiểm soát để thanh tra, kiểm tra, kiểmsoát mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Chủ tịch Hội đồng quản trị
Trang 27có thể kiêm tổng giám đốc cũng có thể cử một người trong hội đồng quản trịhoặc thuê người khác làm tổng giám đốc Tổng giám đốc (giám đốc) công ty lựachọn và bổ nhiệm các phó giám đốc và các phòng (ban) giúp việc.
II VIỆC CẦN THIẾT TĂNG CƯỜNG CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC.
1 Một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng hoạt động kém hiệu quả của khu vực kinh tế nhà nước trên địa bàn tỉnh Vĩnh phúc.
* Thứ nhất: Khu vực kinh tế nhà nước được sinh ra và trưởng thành trong
cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp kéo dài hàng chục năm Với chính sách cấpphát – giao nộp, các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong điều kiện vốn nhànước cấp, vật tư được nhận theo chỉ tiêu, sản phẩm sản xuất được giao nộp theođịa chỉ quy định Các điều kiện vật chất được Nhà nước cân đối theo chỉ tiêuđịnh mức Doanh nghiệp đơn thuần chỉ là một đơn vị “gia công” cho Nhà nước.Trong điều kiện bao cấp chàn lan như vậy, ro ràng doang nghiệp không còn làmột đơn vị kinh tế có quyền tự chủ trong hoạt động sảng xuất kinh doanh củamình Vì vậy, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường cả một khu vực kinh tế nhànước đồ sộ, cồng kềnh bộc lộ tất cả những yếu kém về hiệu quả hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp, cơ cấu chắp vá, không đồng bộ và sơ cứngtrong việc thích ứng với cơ chế mới
* Thứ hai: Các doanh nghiệp nhà nước đã từ lâu không được đặt trong môitrường cạnh tranh, không gắn với thị trường, do đó chậm đổi mới công nghệ vànâng cao chất lượng sản phẩm Trong một nền kinh tế thiếu hụt chiền miên vì bịcông hữu hoá và thi hành chính sách đóng cửa thì những sản phẩm do các doanhnghiệp này làm ra đều buộc xã hội phải chấp nhận, mặc dù chất lượng thấp, mẫu
mã, kiểu dáng cũ kỹ lạc hậu, thêm vào đó chế độ bao cấp bù lỗ tràn lan đã làmcho hạch toán kinh tế trong các doanh nghiệp nhà nứơc chỉ là hình thức giả tạo,sản xuất không tính chi phí, nhưng hiện tượng lãi giả - lỗ thật lại hết sức phổ
Trang 28biến Điều tất yếu xẩy ra là vốn liếng của doanh nghiệp không được quan tâmbảo toàn, thiết bị cũ kỹ, công nghệ lạc hậu hàng chục năm so với mức trung bìnhcủa thế giới
*Thứ ba: Tổ chức bộ máy trong các doang nghiệp nhà nước không phùhợp do quan niệm về sở hữu trong các doanh nghiệp không rõ ràng Không có sựphân biệt đầy đủ quyền sở hưu nhà nước và quyền quản lý kinh doanh của giámđốc và tập thể người lao động trong doanh nghiệp Tình trạng làm chủ tập thểchung chung kéo dài mà thực chất là vô chủ phổ biến ở hầu hết doanh nghiệpnhà nước
* Thứ tư: Việc phân phối về thực chất không dựa trên quyền phân phốitheo lao động mà chủ yếu nhằm phục vụ chính sách xã hội, mang nặng tính bìnhquân chủ nghĩa, không kích thích người quản lý và công nhân trong doanhnghiệp nhà nước nâng cao hiệu quả công tác và năng xuất lao động Thêm vào
đó, đội ngũ cán bộ với kiến thức và trình độ quản lý không phù hợp với kinh tếthị trường, thiếu sự năng động và sự mạo hiểm trong kinh doanh
Tựu trung lại, có thể thấy tình trạng kém hiệu quả của khu vực kinh tế nhànước trên địa bàn tỉnh Vĩnh phúc về cơ bản là do kế hoạch hoá tập trung, quanliêu, bao cấp tồn tại trong mấy chục năm qua Trước đây do điều kiện lịch sử củacuộc kháng chiến chống Mỹ, nền kinh tế được quản lý như vậy để đảm bảo huyđộng ở mức cao nhất mọi nguồn lực cho kháng chiến thắng lợi mà không cầntính đến hiệu quả Tuy nhiên khi đất nước chuyển sang thời bình xây dựng kinh
tế thì việc kéo dài quá lâu cơ chế quản lý này đã làm kìm hãm nền kinh tế vàbiến nó rơi vào khủng hoảng
Sự đổi mới tư duy về phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có
sự điều tiết định hướng của Nhà nước đã cho phép thực hiện việc phê phán vàtừng bước xóa bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ
Trang 29chế quản lý mới thích ứng với nền kinh tế thị trường Trong đó có những chínhsách, biện pháp nhằm đổi mới khu vực kinh tế nhà nước.
BIỂU 1: TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA MỘT SỐ DNNN TRƯỚC
KHI CỔ PHẦN HOÁ.
(Kèm theo báo cáo số /BC-ĐMDN ngày 10/10/2004 của
Ban đổi mới và PTDN tỉnh)
ST
Đơn vị tính
Tổng tài sản
Nợ phải trả
Nguồn vốn chủ sở hữu
1
Công ty Vật liệu xây dựng
Bồ sao 1.000 7.771.000 9.124.000 (1.353.000)
2 Công ty Sản xuất -XNK '' 5.443.540 4.977.027 466.5133
Công ty Du lịch và
Khách sạn VP '' 10.207.986 2.258.833 1.635.1897
Công ty tư vấn xây dựng
Trang 30CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC.
I CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG BỘ VĨNH PHÚC VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG THỜI GIAN QUA.
1.1 Quan điểm thứ nhất.
Việc lựa chọn những doanh nghiệp để chuyển thành công ty cổ phần phảiđược đặt trong trương trình tổng thể đổi mới khu vực kinh tế nhà nước và xắpxếp lại các khu vực kinh tế nhà nước Thực hiện Nghị quyết TW 3, TW 9 (khoáIX) về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhànước; Quyết định số 39/QĐ-TTg ngày 08/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc phê duyệt phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước trựcthuộc tỉnh Vĩnh phúc đến năm 2005
Ban đổi mới & Phát triển doanh nghiệp tỉnh uỷ Vĩnh phúc đánh giá kếtquả công tác sắp xếp, đổi mới và chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp nhànước trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua (1998 - nay) với nội dung sau, có thểchia làm 3 nhóm doanh nghiệp nhà nước với những giải pháp đổi mới khác nhau
* Nhóm thứ nhất: Là các doanh nghiệp mà trong điều kiện hiện nay cầnphải giữ lại hình thức doanh nghiệp nhà nước 100% vốn Thuộc vào nhóm này lànhững doang nghệp hoạt động trong các lĩnh vực sau:
+ Các doang nghiệp thuộc lĩnh vực an ninh và quốc phòng như sản xuất vũ khí,thuốc nổ, các phương tiện thu phát sóng… Tuy nhiên, trong lĩnh vực này có rấtnhiều doanh nghiệp được thành lập theo Quyết định 268/HĐBT thì không nằmtrong diện nêu trên và phải sử lý theo tinh thần Quyết định 315/HĐBT và Quyếtđịnh 196/CT
Trang 31+ Các doanh nghiệp đóng vai trò then chốt của nền kinh tế mà Nhà nước cầnphải nắm để thực hiện các chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế như các lĩnh vựckinh doanh tiền tệ, ngân hành ngoại thương, năng lượng, dầu khí, khai khoáng.+ Các doanh nghiệp thuộc về cơ sở hạ tầng có tính chất nền tảng giúp cho cácngành khai thác phát triển Đó là những ngành đòi hỏi đầu tư vốn lớn, thời gianthu hồi vốn chậm, tỷ suất lợi nhuận thấp như đường xá, cầu cống, bến cảng, sânbay, các ngành văn hóa, giáo dục, y tế, thuỷ lợi… Nói chung là những ngànhkhông hấp dẫn và chưa đủ sức đối với tư nhân.
+ Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cần thiết cho quốc kế dân sinhnhưng các thành phần kinh tế khác không đầu tư vì không có lãi và Nhà nướcphải đứng ra tổ chức và tài chợ cho hoạt động này
Các doanh nghiệp Nhà nước thuộc các lĩnh vực nêu trên thực hiện các giảipháp đổi mới tổ chức và cán bộ quản lý, áp dụng kỷ luật của thị trường vào trongdoanh nghiệp, thực hành trao quyền tự chủ trong việc bảo toàn vốn được giaođồng thời kiểm soát chặt chẽ theo luật doanh nghiệp nhà nước Đối với cácdoanh nghiệp này trong một số trường hợp và trong những điều kiện nhất định
có thể được Nhà nước trợ cấp hoặc bù lỗ
Với việc ban hành luật doanh nghiệp nhà nước áp dụng một số giải phápđối với nhóm này như sau:
- Thực hiện quy chế Hội đồng quản trị để tách biệt rõ ràng quyền sở hữu vàquyền quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp
- Thực hiện chế độ bảo toàn và phát triển vốn được giao
- Bỏ chế độ chích lập ba quỹ, chỉ khống chế tỷ lệ quỹ tích luỹ và quỹ doanh
dự phòng, còn phần lợi nhuận sau khi đã làm đầy đủ nghĩa vụ đối với ngânsách nhà nước thì Hội đồng quản trị và tập thể lao độngtự quyết định mụcđích và mức độ sử dụng cho khen thưởng, phúc lợi…
Trang 32- Áp dụng hệ thống định mức về chi phí và tiền lương, chịu sự kiểm toánthống nhất của UBND tỉnh.
* Nhóm thứ hai: Là các doanh nghiệp thuộc các ngành, các lĩnh vực xétthấy không cần thiết phải duy trì hình thưc sở hữu nhà nước thì nên thu hẹp dầnbằng quá trình đa dạng hoá và cổ phần hoá để khuyến khích cạnh tranh và nângcao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này
Có thể nêu ra một số giải pháp phụ hợp áp dụng cho các doanh nghiệpthuộc nhóm này:
- Cho tư nhân hoặc tập thể lao động tại doanh nghiệp thuê, nhận khoán hoặcđấu thầu kinh doanh bằng các hợp đồng quản lý, Nhà nước vận giữ quyền
Trang 33thuê, nhượng bán và giải thể Kiên quyết không duy trì trợ cấp dưới mọi hìnhthức làm tăng thêm gánh năng cho ngân sách Nhà nước và xã hội.
UBND tỉnh Vĩnh phúc đã và đang tiến hành đồng thời ba hệ thống giạipháp với ba nhóm doanh nghiệp khác nhau để đổi mới khoảng 60-70% tổng sốdoanh nghiệp nhà nước hiện nay, chiếm vị trí hàng đầu trong các giải pháp vìkhối lượng công việc to lớn và thời gian lâu dài đòi hỏi Giải pháp cơ bản chonhóm này chủ yếu là tiến hành cổ phần hoá để từng bước tạo ra loại hình doanhnghiệp công ty cổ phần trong cơ chế thị trường ngày càng được xác lập và củngcố
1.2 Quản điểm thứ hai.
Việc lựa chọn các doanh nghiệp để cổ phần hoá thuộc thẩm quyền và chứcnăng của Tỉnh với tư cách là người sở hữu chứ không tuỳ thuộc vào ý kiến củagiám đốc và tập thể lao động trong doanh nghiệp Nguyên tắc này được đưa ra
để làm cơ sở cho các cơ quan chủ quản của tỉnh Vĩnh phúc phân loại doanhnghiệp do mình quản lý để thực hiện cổ phần hoá Về cơ bản có thể sắp xếpdoanh nghiệp thành ba loại:
a) Loại doanh nghiệp không chuyển thành công ty cổ phần vì nhữngngành, những lĩnh vực Nhà nước cần có sự kiểm soát và độc quyền như đã nêutrong quan điểm thứ nhất
b) Loại doanh nghiệp có thể chuyển thành công ty cổ phần nhưng trongvài năm với các điều khiện chủ quan và khách quan chưa thuận lợi Chẳng hạnnhững doanh nghiệp quy mô quá lớn, lợi nhuận chưa đủ hấp dẫn để có thể bánđược cổ phiếu hoặc những doanh nghiệp đang là nguồn thu ngân sách chủ yếucủa Tỉnh
c) Loại doanh nghiệp ưu tiên chuyển thành công ty cổ phần Loại nàyđược sắp xếp theo thứ tự ưu tiên trong vòng một vài năm tới Về đại thể, trong
Trang 34giai đoạn đầu của thử nghiệm, các doanh nghiệp tiến hành cổ phần hoá cần phảithoả mãn một số yêu cầu sau:
- Trước hết, nên thực hiện ở những doanh nghiệp có quy mô vừa phải, vìphần lớn các doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn tỉnh Vĩnh phúc có quy mô vừa
và nhỏ Nếu làm ở những doanh nghiệp có quy mô nhỏ thì chi phí để làm thíđiểm quá tốn kém so với khả năng thu hồi vốn, nếu làm những doanh nghiệp cóquy mô lớn thì không rút ra được những bài học có tính phổ biến cho việc tiếptục triển khai mô chương trình, vì những doanh nghiệp lớn thường sống trongmôi trường độc quyền của Nhà nước bảo hộ hơn là trong môi trường cạnh tranhvới các doanh nghiệp khác
Theo cách phân loại trên, vốn pháp định được ban hành với Nghị định222/HĐBT ngày 23-7-1991 để cụ thể hoá một số điều quy định trong Luật công
ty thì doanh nghiệp quy mô lớn có vốn pháp định tối thiều là: 1000-1500 triệuđồng, 500- 1000 triệu đồng là quy mô vừa, quy mô nhỏ là 50-500 triệu đồng.Như vậy, việc lựa chon các doanh nghiệp làm thí điểm cổ phần hoá nên lấy cácdoanh nghiệp có quy mô vốn pháp định từ 500 triệu đồng trở lên là thích hợp
- Các doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi hay tuytrước mắt gặp khó khăn nhưng có triển vọng về thị trường và thuận lợi Yêu cầunày là cần thiết để thực hiện thành công các mục tiêu đã đề ra trong chương trìnhthí điểm, vì nếu lựa chọ các doanh nghiệp có thành tích hoạt động kinh doanhthua lỗ thì không thể bán được cổ phiếu, vì vậy không thực hiện được đa dạnghoá sở hữu và thu hut các nguồn vốn trong xã hội Tỷ xuất lợi nhuận ở các doanhnghiệp này phải có đủ sức hấp dẫn cho người đầu tư chấp nhận rủi ro Thườngmức này phải cao hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng trong điều kiện lạm phát duytrì ở mức dưới 10%
Trang 351.3 Quan điểm thứ ba.
Dựa trên bảng cân đối tài sản và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp, cần xã định các mục tiêu chủ yếu và cụ thể đối với từng doanhnghiệp được lựa chọn cổ phần hoá Dựa trên ba mục tiêu được nêu ra ở trên cóthể xác định từng loại doanh nghiệp cụ thể sau đây:
* Thứ nhất: Nếu nhằm mục đích thu hồi vốn để đầu tư vào lĩnh vực khácthì điều kiện doanh nghiệp lợi ít được chú ý hơn là bảng cân đối tài sản Thựcchất cổ phần hoá doanh nghiệp loại này là nhà nước không định hướng vào mụctiêu huy động vốn để tiếp tục kinh doanh mà là bán doanh nghiệp với tình trạngpháp lý đầy đủ để nhiều tư nhân muốn hùn vốn kinh doanh “mua lại pháp nhân”
để hoạt động Nói chung cách này phù hợp với những ngời mua tư nhân vì họkhông thể mua một doanh nghiệp chưa đầy đủ về mặt pháp lý Đây là một hướngchuyển các doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần tư nhân
* Thứ hai: Nếu nhằm mục tiêu huy động vốn để Nhà nước tiếp tục kinhdoanh thì điều kiện về doanh lợi và nhất là điều kiện kinh doanh cần được nhấnmạnh hơn Như vậy sẽ có những trường hợp sau đây:
+ Doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường, bảng cân đốitài sản thực dương Việc phát hành thêm cổ phiếu tạo điều kiện mở rộng sản xuấtkinh doanh
+ Doanh nghiệp bị thâm hụt nặng cán cân thanh toán tài chính nhưng chưađến mức phát mại, tuy nhiên sản phẩm đã có thị trường ổn định và khả năng mởrộng ở trong và ngoài nước Việc cổ phần hóa sẽ góp phần huy động thêm vốnhoặc chuyển vốn nợ thành vốn góp để khai thác thế mạng thị trường
+ Doanh nghiệp mới xây dựng trong vòng vài năm trở đây có công nghệ
và trang thiết bị tương đối hiện đại, nhưng thiếu vốn lưu động, bộ máy quản lýyếu kém, kinh doanh kém hiệu quả thì nên tiến hành cổ phần hóa để thay đổi
Trang 36hình thức tổ chức và nhân sự cũng như huy động thêm vốn lưu động cho hoạtđộng của doanh nghiệp.
+ Doanh nghiệp đã có những hợp đồng lớn với nước ngoài, có quan hệbạn hàng chặt chẽ với thị trường nước ngoài, đang thiếu vốn để tăng thêm quy
mô sản xuất hoặc để đối tác Việc cổ phần hoá sẽ tạo thêm điều kiện để liên kết,liên doanh với các nhà đầu tư nước ngoài về công nghệ, quản lý kinh doanh vàkhai thác thị trường
+ Doanh nghiệp có mức lợi nhuận cao, nếu đầu tư thêm công nghệ mới sẽthu được lợi nhuận siêu ngạch Việc cổ phần hóa sẽ tạo điều kiện thuận lợi tậndụng các lợi thế này
Như vậy, dựa vào những điều kiện cụ thể của từng loại doanh nghiệp nêutrên thì tiến hành cổ phần hoá là để chuyển sang một mô hình doanh nghiệp lưuđộng, quản lý và sử dụng vốn đạt hiệu quả cao
* Thứ ba: Nếu nhằm mục tiêu hữu sản hoá công nhân, tạo điều kiện đểngười lao động làm chủ doanh nghiệp thì Nhà nước cần chú ý đến điều kiện mứcthu nhập của công nhân và khả năng mua cổ phần dưới dạng trả góp cũng như tỷtrọng “vốn tự có” trong tổng số vốn pháp định của doanh nghiệp Về vấn đề này,Nhà nước có chỉ thị 84 – TTg của Thủ tướng chính phủ cụ thể hoá thêm các biệnpháp nhằm đẩy mạnh chương trình cổ phần hoá, trong đó hỗ trợ công nhân viêncủa doanh nghiệp vay vốn để mua cổ phiếu với điều kiện ưu đãi như sau: Vaykhông phải tra lãi thời gian 5 năm với mức bình quân không quá 3 triệu đồng vàmức cao nhất 5 triệu đồng/ người tuỳ theo mức lương và thâm niên công tác Đểgiải quyết khó khăn ban đầu về tài chính đối với cán bộ công nhân viên trongdoanh nghiệp, Nhà nước đã cho phép doanh nghiệp dùng số dư quỹ phúc lợi vàkhen thưởng chia cho cán bộ công nhân viên để mua cổ phiếu Ngoài ra, Nhà
Trang 37nước cũng dùng một phần vốn tự có để trợ giúp thêm với phương châm khônglấy lãi và thời gian hoàn trả lâu dài.
1.4 Quan điểm thứ tư.
Mọi tài sản của doanh nghiệp đều thuộc sở hữu Nhà nước, trừ quỹ phúclợi xã hội của tập thể là phần tiền lương không chia để lại cho mọi cán bộ côngnhân viên trong doanh nghiệp cùng hưởng Phần “ vốn tự có” của các doanhnghiệp nhà nước hiện nay thực chất là phần lợi nhuận và quỹ khấu hao được Nhànước cho phép giữ lại để tái sản xuất mở rộng, nên đương nhiên là thuộc về Nhànước và trở thành cổ phần của Nhà nước trong công ty cổ phần sẽ được hìnhthành Điều này là hợp lý xét về mặt pháp lý trong hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp khi tất cả các khoản có và nợ của doanh nghiệp đềuthuộc về Nhà nước Không thể quy kết các khoản nợ của doanh nghiệp cho tậpthể Vì vậy, lẽ đương nhiên khi tiến hành lập bảng cân đối tài sản trong doanhnghiệp, xác lập vấn đề giá trị còn lại để cổ phần hóa cũng không thể đưa vốn tự
có ra ngoài bảng cân đối vì nó là của tập thể Xác định quan điểm này để bảođảm chống lại sự phân tán tài sản của Nhà nước và phân phối không công bằngtrong quá trình chuyển đổi hình thức sang công ty cổ phần
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận vấn đề này có tính lịch sử và đặc thù trong
cơ chế quản lý sản xuất của các doanh nghiệp trước đây của Nhà nước Cơ chếtrích lập ba quỹ hết sức đặc thù của Việt Nam là nguồn gốc hình thành vốn tự cócủa doanh nghiệp Và có không ít doanh nghiệp đã huy động vốn đầu tư vào sảnxuất bổ xung lấy từ quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi mà lẽ ra người lao độngtrong doanh nghiệp được quyền sử dụng hết Vì vậy, khi tiến hành cổ phần hoávới từng doanh nghiệp cụ thể, cần xem xét kỹ lưỡng để tránh sự đánh đồngnhững doanh nghiệp làm ăn tốt do đầu tư thêm nhiều với những doanh nghiệpchỉ dựa vào vốn đầu tư của Nhà nước
Trang 381.5 Quan điểm thứ năm.
Việc xác định giá trị của doanh nghiệp nhà nước để cổ phần hoá phải chú
ý đến cả hai yếu tố cấu thành: Giá trị hữu hình và giá trị vô hình: Giá trị toàn bộtài sản hiện có ở doanh nghiệp và đất đai mà doanh nghiệp đang sử dụng làmmặt bằng sản xuất kinh doanh Trong yếu tố giá trị vô hình như uy tín và nhãnhiệu sản phẩm của doanh nghiệp, ưu thế về thị trường và khả năng cạnh tranh,các điều kiện về địa điểm, quảng cáo, bạn hàng… tựu chung lại, đều biểu thị khảnăng sinh lợi và tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp
Như vậy, xem xét đầy đủ hai yếu tố cấu thành này của giá trị doanhnghiệp có sự kết hợp hai phương pháp xác định giá trị của doanh nghiệp
- Phương pháp tính giá trị doanh nghiệp dựa trên cơ sở hệ thống kếtoán hiện hành Phương pháp này là cách khả thi để có được một hình dung vềđại lượng tài sản hữu hình của doanh nghiệp
- Phương pháp tính giá trị doanh nghiệp dựa trên cơ sở tỷ suất lợinhuận bình quân Đây là phương pháp cần thiết để bổ xung thêm phần giá trị tàisản vô hình của doanh nghiệp
Trên thực tế, sự kết hợp của hai phương pháp tính giá trị nêu trên hết sứclinh hoat, tuỳ thuộc vào những điều kiện thực tế và quan hệ cung cầu cụ thể đốivới từng doanh nghiệp Do điều kiện đặc thù của nước ta chưa có thị trườngchứng khoán, nên công việc này cần tranh thủ sự chợ giúp của các công ty kiểmtoán, các tổ chức tài chính quốc tế Và điều quan trọng hơn là cần thành lập một
cơ quan chuyên trách về vấn đề này để theo dõi, hướng dẫn, điều chỉnh và rútkinh nghiệm trong quá trình cổ phần hoá Công việc xác định giá trị của doanhnghiệp là một vấn đề khó khăn và phức tạp Tuy nhiên phải cũng không nên quácâu nệ vào trở ngại này mà làm chậm trễ quá trình chuyển đổi các doanh nghiệp
Trang 39nhà nước sang các hình thức công ty cổ phần để thích ứng kịp với quá trình pháttriển nền kinh tế thị trường mở cửa nước ta.
1.6 Quan điểm thứ sáu.
Phương pháp bán cổ phiếu ở những doanh nghiệp được cổ phần hoá cầnthực hiện công khai, rõ ràng, thủ tục đơn giản, dễ hiểu đối với mọi người Về cơbản có thể vận dụng một hoặc kết hơp ba phương pháp cổ phần hoá sau:
+ Bán cho các đối tượng xác định trước, áp dụng cho các doanh nghiệp có
bộ máy quản lý yếu kém Các đối tượng được lựa chọn thường đóng vai trò cổđông chủ lực để tạo lập cơ sở cho việc tiếp tục cổ phần hoá rộng rãi sau này Vìvậy thường là những người có vốn, có trình độ trình độ kỹ thuật hoặc có kinhnghiệm về quản lý Áp dụng phương pháp này thường thích hợp cho loại hìnhdoanh nghiệp nhà nước sẽ được chuyển thành công ty cổ phần tư nhân
+ Bán rộng rãi cho mọi đối tượng, áp dụng cho các doanh nghiệp có thànhtích kinh doanh khả quan, mức độ lợi nhuận đảm bảo Đối với những doanhnghiệp này, mức giá cổ phiếu cần phải được nghiên cứu cụ thể theo quan hệcung cầu của thị trường những người mua tiềm tàng
+ Bán cho nội bộ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, áp dụng chocác doanh nghiệp quy mô nhỏ và họ có khả năng mua đại bộ phận cổ phiếu củadoanh nghiệp
Việc bán cổ phiếu có thể bán trực tiếp tại trụ sở chính và các chi nhánhcủa doanh nghiệp hoặc uỷ thác cho ngân hành, công ty tài chính làm đại lý
1.7 Quan điểm thứ bảy.
Để thực hiện thành công chương trình cổ phần hóa Tỉnh Vĩnh phúc khôngchỉ chú ý đến thu hồi vốn mà cần phải biết chấp nhận một khoản phí tổn nhấtđịnh Đó là những khoản phí tổn cần thiết mà ở nước nào cũng có như những phíbảo hiểm, trợ cấp cho người lao động bị mất việc làm và tìm nghề mới, những
Trang 40chi phí do bán giá thấp nhằm ưu đãi những tầng lớp dân cư nhất định theo nhữngmục tiêu chính trị, xã hội của tỉnh Vĩnh phúc, những chi phí cho bộ máy cơ quanthực hiện và những chi phí cho cơ quan môi giới, quảng cáo… Ngoài ra, nhữngđiều kiện đặc thù riêng so với các tỉnh khác thì cần phải có thêm những phí tổnkhác như vì lợi ích lâu dài của việc chuyển đổi mô hình kinh doanh có thể chấpnhận bán các doanh nghiệp thấp hơn giá thị trường chút ít để khuyến khích mọingười, mọi thành phần tham gia; hoặc vì các mục tiêu đa dạng hoá sở hữu và tạođiều kịên cho người lao động làm chủ doanh nghiệp Tỉnh Vĩnh phúc có thể chấpnhận những chi phí về trợ cấp, cho vay với những điều kiện ưu đãi đặc biệt, bángiá thấp cho một số tầng lớp nhân dân và cán bộ công nhân viên trong doanhnghiệp… Thực tiễn của việc thí điểm cho thấy khoản phí tổn này là cần thiết cho
sự nghiệp cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Vĩnh phúc
1.8 Quan điểm thứ tám.
Theo tinh thần Quyết định 202-HĐBT thì các doanh nghiệp đã được cổphần hoá đương nhiên sẽ hoạt động trong khuân khổ Luật công ty (có hiệu lực từngày 15/01/1991) cả về hình thức hoạt động quản lý lẫn hoạt động tài chính Vìvậy cần phải có điều lệ và quy chế hoàt động tuân thủ theo các quy dịnh của Luậtcông ty Một vấn đề đặt ra: Ai sẽ là người thay mặt sở hữu nhà nước trong công
ty này? Vì theo những quy định bổ sung của Luật công ty thì viên chức Nhànước không được làm sáng lập viên hoặc quản trị viên trong công ty Điều nàyđòi hỏi cùng với việc chuyển doanh nghiệp Nhà nước sang công ty cổ phần, tỉnhVĩnh phúc phải gấp rút xây dựng một đội ngũ các nhà sáng lập viên hoạt độngđộc lập không phụ thuộc hành ngũ công chức ở cac Bộ chủ quản và địa phương
để thay mặt Nhà nước quản lý các nguồn vốn trong công ty cổ phần có sự thamgia của Nhà nước Xét về mặt tổ chưc, đội ngũ này sẽ thuộc cơ quan của Nhànước hoạt động như một công ty tài chính, chuyên trách quản lý và thực hiện cáchoạt động đầu tư thông qua hình thức các công ty cổ phần nhằm bảo toàn và phát