1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP NHẰM BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN CA TRÙ TRONG KINH DOANH DU LỊCH TẠI ĐIỂM DU LỊCH HÀ NỘI

68 1,1K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Nhằm Bảo Tồn Và Phát Triển Ca Trù Trong Kinh Doanh Du Lịch Tại Điểm Du Lịch Hà Nội
Tác giả Nguyễn Thị Hoa
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Du Lịch
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 609,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Du lịch là một trong những nhu cầu tất yếu của con người, của xã hội. Một khi xã hội phát triển thì nhu cầu này càng phong phú và đa dạng. Nhu cầu du lịch thực chất là nhu cầu văn hóa, bởi đó là nhu cầu tìm hiểu, thưởng thức những giá trị văn hóa nghệ thuật thông qua các lọai hình cụ thể như di tích lịch sử, lễ hội, phong tục tập quán, nghệ thuật ẩm thực, nghệ thuật biểu diễn…

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Du lịch là một trong những nhu cầu tất yếu của con người, của xã hội Mộtkhi xã hội phát triển thì nhu cầu này càng phong phú và đa dạng Nhu cầu du lịchthực chất là nhu cầu văn hóa, bởi đó là nhu cầu tìm hiểu, thưởng thức những giá trịvăn hóa nghệ thuật thông qua các lọai hình cụ thể như di tích lịch sử, lễ hội, phongtục tập quán, nghệ thuật ẩm thực, nghệ thuật biểu diễn… và tìm hiểu những bản sắcvăn hoá của một dân tộc, một địa phương, một quốc gia

Trong thời đại ngày nay, khi kinh tế càng phát triển và các quốc gia trên thếgiới ngày càng xích lại gần nhau thì văn hóa dân tộc ngày càng trở thành trung tâmcủa sự chú ý Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa nhưng một cách chungnhất ta có thể hiểu văn hóa theo 2 định nghĩa:

 Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặtcủa cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ,cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỉ nó đã cấu thànhnên một hệ thống các giá trị truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên

đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình (định nghĩa củaUnesco)

 Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần docon người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sựtương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.(địnhnghĩa của PGS.TS Trần Ngọc Thêm)

Như vậy, văn hóa có vai trò, tầm quan trọng vô cùng lớn và tác động đếnmọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt là đối với ngành du lịch của ViệtNam

Văn hóa giải quyết vấn đề gia tăng lượng khách du lịch

Hiện nay, có rất nhiều loại hình du lịch: du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm,

du lịch công vụ, du lịch văn hóa,….Khi sản phẩm du lịch có sức hấp dẫn về mặt vănhóa sẽ dẫn đến số lượng khách du lịch đến Việt Nam sẽ tăng lên Đặc biệt, với loạihình du lịch văn hóa thì văn hóa chính là động cơ, mục đích của chuyến đí Hơn thếnữa, những ấn tượng về văn hóa sẽ làm cho khách du lịch khó quên về chuyến đicủa mình và quay trở lại Việt Nam, và sẽ giới thiệu và quảng cáo những giá trị ấy

Trang 2

Văn hóa giải quyết vấn đề bảo tồn và phát huy môi trường du lịch:

Trong tất cả các loại hình du lịch thì du lịch văn hóa là một hình thức du lịchmang lại nhiều lợi ích cho môi trường du lịch nhất Du lịch văn hóa là công cụ đểkhôi phục, duy trì và phát huy những giá trị văn hóa của cộng đồng địa phương mộtcách hữu hiệu nhất Du lịch văn hóa nếu khai thác tốt nó là một hình thức du lịchbền vững có lợi cho môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn của cộng đồngchủ nhà Khách du lịch văn hóa thường có ý thức bảo vệ môi trường du lịch tốt hơnkhách du lịch đại chúng

Văn hóa giải quyết vấn đề kiểm soát tác động tiêu cực

Vấn đề kiểm soát sự tác động tiêu cực của du lịch đối với môi trường tựnhiên và nhân văn là một trong những nhiệm vụ lớn của ngành du lich và của mọingười dân Những giải pháp kiểm soát tác động tiêu cực của du lịch đều có bóngdáng của công cụ văn hóa Chẳng hạn như việc làm thế nào để duy trì được bản sắcvăn hóa ứng xử của người Việt trong môi trường du lịch - không thể không sử dụngcông cụ văn hóa Hay làm thế nào để bảo vệ môi trường tự nhiên và nhân văn ở cácđiểm đến du lịch? Ngoài các biện pháp chế tài bắt buộc chúng ta cũng phải sử dụngđến công cụ văn hóa đề tuyên truyền, giáo dục…

Văn hóa giải quyết vấn đề nâng cao hình ảnh thương hiệu du lịch quốc gia.

Ngành du lịch đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam Bêncạnh việc thực hiện nhiệm vụ chỉ tiêu tăng trưởng, vấn đề nâng cao hình ảnh thươnghiệu quốc gia là một nhiệm vụ lớn nữa của ngành du lịch Phần lớn Khách du lịchđến Việt Nam hay quyết định quay trở lại Việt Nam vì những cuốn hút về mặt vănhóa Hình ảnh Việt Nam sẽ đẹp hơn trong mắt du khách thông qua những ấn tượng

về mặt văn hóa Khách du lịch sẽ khó quên những khoảnh khắc được thưởng thức

và hòa mình vào trong sinh hoạt văn hóa cồng chiêng, kỷ niệm những đêm ngủ tạingôi nhà lá ở vùng sông nước Mekong (Tour homestay), những giây phút được dạoquanh thành phố bằng xe xích lô, hay được lắng nghe những giai điệu trữ tình củaViệt Nam, …Chính những nét văn hóa này sẽ góp phần quan trọng làm tăng thêmhình ảnh thương hiệu du lịch Việt Nam Hình ảnh thương hiệu du lịch quốc gia sẽđẹp và ấn tượng hơn trong lòng du khách vì nhân tố văn hóa chứ không phải chỉ vì

cơ sở vật chất hay một logo du lịch đẹp

Trang 3

Từ những nhận định trên ta có thể thấy được rằng xu hướng du lịch văn hóangày càng phát triển mạnh Đồng thời yếu tố văn hóa ngày càng được chú trọngtrong vấn đề kinh doanh, đặc biệt trong kinh doanh du lịch.

Trong văn hóa Việt Nam thì yếu tố văn hóa tinh thần rất được coi trọng, gắnvới mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là mảng văn hóa nghệ thuật biểu diễn Nền vănhóa biểu diễn của Việt Nam rất phong phú như Múa rối nước, hát quan họ, hát catrù,… Nhưng thực tế, chỉ có múa rối nước là khá thu hút khách du lịch Trong dòngchảy của cuộc sống nhiều biến động, con người sẽ tìm về với những truyền thốngtốt đẹp của tổ tiên, vì thế cần phát triển hơn nữa các loại hình văn hóa nghệ thuậtbiểu diễn, mà trong đề tài này tôi xin được đề cập đến nghệ thuật biểu diễn ca trù

Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định ca trù là một bộ môn nghệ thuât lâuđời, độc đáo và có ý nghĩa đặc biệt trong kho tàng ca nhạc của người Việt Nam Catrù gắn liền với lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, văn chương, âm nhạc, tư tưởng, triết

lý sống của người Việt Do vậy nghiên cứu ca trù cũng là góp phần vào việc nghiêncứu các giá trị truyền thống trong văn hóa Việt Nam

Ca trù là một DI SẢN VĂN HÓA ĐẶC SẮC của Việt Nam Đặc sắc ở sựphong phú làn điệu, thể cách, cả không gian, thời gian biểu diễn và phương thứcthưởng thức; Đặc sắc còn vì từ cội nguồn nó gắn bó mật thiết với lễ nghi, phong tục,với sinh hoạt cộng đồng Ca trù làm người ta nhớ tới những tao nhân mặc khách vớilối chơi ngông, chơi sang, rất tinh tế và giàu cá tính sáng tạo của những danh nhânnhư Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà…Và cùng với đó làmối quan hệ giữa văn nhân (nhà thơ, nhà báo, họa sĩ) với Ả đào - mối quan hệ quantrọng nhất của lối thưởng thức ca trù Bởi quá trình tham gia sinh hoạt ca trù là quátrình văn nhân sáng tạo, thể nghiệm và thưởng thức các tác phẩm của mình

Sau năm 1945, trong một thời gian khá dài sinh hoạt ca trù vốn tao nhã vàsang trọng trước đây đã bị hiểu lầm và đánh đồng với các sinh hoạt thiếu lành mạnh

ở một số ca quán đô thị khiến cho xã hội chối bỏ và quyết loại sinh hoạt ca trù rakhỏi đời sống văn hóa Ca trù đã không được nuôi dưỡng và phát triển một cách tựnhiên, không được tôn vinh đúng mức, phải chịu tồn tại thiếu sinh khí và tàn lụi.Nhiều nghệ nhân, nghệ sĩ đã phải cố quên đi nghiệp đàn hát và giấu đi lai lịch củamình Khoảng chục năm trở lại đây dư luận xã hội và các cơ quan thông tấn báo chí

đã từng lên tiếng về nguy cơ thất truyền của ca trù Nguy cơ mai một dần và vĩnhviễn mất đi ca trù là một nguy cơ có thực, đòi hỏi chúng ta phải nhanh chóng sưutầm, nghiên cứu, bảo tồn ca trù như một vốn quý văn hóa của dân tộc, góp phần

Trang 4

chấn hưng nghệ thuật và sinh hoạt ca trù Trong thời gian gần đây, ca trù đang thuhút nhiều sự quan tâm, nó đã được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể củaViệt Nam ngày 1/10/2009

Chính vì những lý do trên, tôi muốn tìm hiểu sâu sắc hơn về ca trù Đồngthời, với vai trò là sinh viên du lịch, cùng với lòng yêu du lịch, sự yêu thích ca trù,tôi mong muốn đưa ca trù vào hoạt động kinh doanh du lịch, một mặt tạo nên sứchút cho du lịch, một mặt nhằm góp phần bảo tồn và phát triển ca trù

Kinh đô Thăng Long xưa từng là cái nôi phát triển của nghệ thuật ca trù Vàhiện nay, Hà Nội là thủ đô, là trung tâm văn hóa, chính trị của cả nước Chào đón

1000 năm Thăng Long – Hà Nội, hàng loạt các yếu tố văn hóa được hồi phục Catrù là một môn nghệ thuật bác học, nếu phát triển được thì sẽ góp phần tạo thêm nét

văn hóa đặc sắc cho thủ đô Hà Nội.Vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài “Các giải pháp

nhằm góp phần bảo tồn và phát triển ca trù trong kinh doanh du lịch tại điểm

du lịch Hà Nội.”

Trong chuyên đề, tôi có tham khảo các tài liệu sách, báo, luận văn, … về catrù cũng như liên hệ với các câu lạc bộ, các trung tâm ca trù Tôi xin cam đoan

những tài liệu về ca trù – được nêu trong phần Tài liệu tham khảo là hoàn toàn có

thật, và các thông tin đưa ra trong bài là đúng sự thật

2 Mục đích của chuyên đề.

- Hệ thống hóa kiến thức chung và đặc điểm nổi bật của ca trù

- Giá trị và khả năng phát triển của ca trù

- Biết được thực trạng ca trù hiện nay

- Biết được thực trạng ca trù trong kinh doanh du lịch

- Đưa ra các giải pháp trước mắt và lâu dài để bảo tồn và phát triển catrù, đưa ca trù vào kinh doanh du lịch

3 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu

3.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập thông tin và xử lý dữ liệu

- Phương pháp thống kê

Trang 5

doanh du lịch tại Hà Nội.

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2010 Sinh viên thực hiện chuyên đề

Nguyễn Thị Hoa

Trang 6

CHƯƠNG 1:

TỔNG QUAN VỀ CA TRÙ VÀ KHẢ NĂNG KHAI THÁC

CA TRÙ ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1.1 Lịch sử hình thành ca trù

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc cần cù lao động, yêu nhạc, yêu thơ Nền âmnhạc của Việt Nam có từ rất sớm với tinh thần khoáng đạt, tâm hồn nhạy cảm, tinh

tế và đa cảm, nên đã có rất nhiều điệu thơ ca, hò, vè ra đời trên khắp các vùng miền,

và đã cho ra đời một loại hình diễn xướng riêng Nghệ thuật ca trù ra đời và pháttriển chính trong lòng cái nôi thơ, nhạc đó Từ nhân dân mà ra, gắn liền với lịch sửnước nhà, ca trù trải suốt mười thế kỷ trước đây được nhân dân ta vô cùng ưa thích

Ca trù đi sâu vào xã hội Việt Nam từ làng xóm nông thôn đến triều đình vua chúa,không chỉ vì nó đã đạt tới đỉnh cao về nghệ thuật, mà còn vì phần nội dung tưtưởng của nó phản ánh đầy đủ mọi góc độ của bản sắc Văn hóa dân tộc Việt Nam:lạc quan, nhân ái, rất nhạc, rất thơ, yêu cuộc sống yên lành, bình dị nhưng tràn đầy

tự hào dân tộc, kiên cường đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ Quốc Cũng chính vì nộidung tư tưởng lành mạnh đó mà trong ca trù có đủ các thể loại văn học: trữ tình lãngmạn, anh hùng ca, sử thi, thơ ca giáo huấn (giảng kinh truyện, khuyên đạo đức)

Ca trù chỉ một lối hát cổ truyền của người Việt Tên gọi ca trù cũng đã đượctài liệu cổ ghi nhận Trên các tài liệu Hán Nôm chữ “trù” trong “ca trù” đều dùngchữ “trù” Theo đó Trù là thẻ làm bằng tre, trên thẻ có ghi số tiền (hoặc quy địnhngầm với nhau là mỗi thẻ tương ứng với một khoản tiền), dùng để thưởng cho đào

và kép ngay trong khi biểu diễn thay cho việc thưởng bằng tiền mặt; cuối chầu hát

sẽ căn cứ vào số thẻ mà tính tiền trả cho đào và kép hoặc giáo phường Người quyếtđịnh việc thưởng này chính là vị quan viên (khách nghe hát), sử dụng trống chầu(gọi là cầm chầu) Đó là nguồn gốc của tên gọi ca trù; cũng là thuật ngữ sử dụngtrong chuyên khảo này Tuy nhiên ca trù, với ý nghĩa là một lối hát có dùng thẻ đểthưởng như đã nói ở trên thì chỉ có ở hát ca trù ở đình đền, tức là hát thờ

Ca trù sử dụng ba nhạc khí đặc biệt (không chỉ về cấu tạo mà còn về cáchthức diễn tấu) là đàn đáy, phách và trống chầu Về mặt văn học ca trù làm nảy sinhmột thể loại văn học độc đáo là hát nói Đây là một bộ môn nghệ thuật ca nhạc

“thính phòng” được hình thành trên nền tảng âm nhạc dân gian Bắc bộ, người nghecũng tham gia vào cuộc hát bằng việc cầm chầu Ca trù còn có những cái tên khácnhư: hát cửa đình, hát nhà trò (hát ở đình, đền, miếu), hát cửa quyền (trong cung

Trang 7

phủ), hát nhà tơ (hát ở dinh quan, tư gia các gia đình quyền quý), hát ả đào, hát côđầu (hát ở các ca quán)

Ca trù đã để lại những dấu ấn sâu đậm về đời sống tinh thần của con ngườiViệt nam xưa Theo một số nhà nghiên cứu: ca trù có thể có từ thời Triệu đà, thời

Lý, Trần và hưng thịnh từ Triều Lê, được bắt nguồn từ những lối ca vũ trong cungvua chúa thời xưa Ca vũ của ta một phần chịu ảnh hưởng của ca vũ Trung Quốc,một phần chịu ảnh hưởng của điệu múa Chiêm Thành và của các rợ do các cuộcchinh phục thời Lý, Trần du nhập vào

Tương truyền vào thời vua Lý Thái Tổ ( 1010 – 1028) đã từng có một ca nhihát hay múa giỏi tên là Đào Thị biểu diễn xuất sắc dòng nhạc này và rất được vuakhen ngợi Người thời đó mộ danh tiếng của Đào Thị nên cứ phàm là con hát thì

đều gọi là “Ả đào” Vì vậy nên từ những ngày đầu ca trù được biết đến với cái tên

hát ả đào

Tuy vậy, ca trù lại có cội nguồn từ lối hát cửa đình - một lối hát tín ngưỡngthờ thành hoàng làng Lối hát cửa đình từ những ngày đầu được các trưởng tộc,trưởng làng dùng vào việc cầu trời đất, thánh thần Lấy âm nhạc làm tín hiệu truyềnlời thỉnh cầu của dân làng đến các đấng thần linh Do đó, ca trù gắn liền với nghithức tế thần ở các đình làng, ngoài những điệu hát còn có các nghi lễ với vũ điệu và

cả các cách thi tuyển tại đình làng trong dân gian nên các lề lối biểu diễn ca trùđược gọi là thể cách Thể cách ca trù vừa bao gồm làn điệu, vừa bao gồm các hìnhthức diễn xướng khác như múa, biểu diễn kỹ thuật nghề (đàn, trống) Trong 49 tàiliệu Hán Nôm có liên quan đến ca trù được khảo sát trong có 8 bản mang tên Ca trùthể cách Các học giả Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề trong sách Việt Nam ca trùbiên khảo cũng gọi là các thể ca trù Về sau, các bậc vua chúa cũng lấy dòng nhạcnày để hát cúng trời đất và tổ tiên nơi thái miếu

Theo như dân gian truyền miệng thì vào đời nhà Lê, Đinh Lễ - tự là NguyênSinh, người làng Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, con nhà gia thế, tínhtình phóng khoáng, không thích công danh bó buộc thường ôm cây đàn nguyệt đếnbên bờ suối gẩy rồi hát để hoà với tiếng suổi chảy trong khe Một hôm Nguyên Sinhđem đàn và rượu vào rừng thông để tiêu khiển bỗng nhiên gặp được hai cụ già Đóchính là Lý Thiết Quài và Lã Động Tân (hai vị trong bát tiên), hai vị tiên ông đưacho Nguyên Sinh khúc gỗ ngô đồng và tờ giấy vẽ kiểu mẫu đàn rồi dặn đóng đàntheo kiểu mẫu như trong giấy Tiếng đàn đó sẽ giải trừ được ma quỷ và mọi phiền

Trang 8

muộn Nguyên Sinh sụp xuống lạy tạ, lúc ngẩng lên hai vị tiên ông đã hóa ra đámmây trắng bay về lối tây.

Nhờ tiếng đàn kỳ diệu, Nguyên Sinh đã chữa được bệnh cho rất nhiều người.Một lần Nguyên Sinh đến Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, với tiếng đàn của mìnhNguyên Sinh đã chữa khỏi bệnh cho cô gái tên Hoa, con gái của vị quan châu -Bạch Đình Sa khỏi bệnh câm Cả nhà quan châu và dân làng mừng khôn xiết Nhờthế, quan châu đã tác thành cho Nguyên Sinh và Bạch Hoa nên duyên chồng vợ,sống với nhau rất hoà hợp Nguyên Sinh đặt ra lối múa hát mới rồi lấy hai thanh trevót thật đẹp để cho vợ gõ lên những mảnh gỗ theo nhịp mà hát Sau đó hai vợ chồng

từ biệt ông bà nhạc dẫn nhau về quê Nguyên Sinh là làng Cổ Đạm để lập nghiệp

Ít lâu sau, Nguyên Sinh gặp lại hai vị tiên ông, được ghi tên vào tiên phả vàcùng nhau hoá đi Vợ Nguyên Sinh biết chuyện, bèn phát tán hết tài sản rồi đóngcửa dạy cho đám con em trong làng hát múa Sau khi nàng lâm bệnh mà chết, dân

làng Cổ Đạm và đệ tử nhớ ơn lập đền thờ gọi là đền Tổ cô đầu hay là đền Bạch Hoa

công chúa Triều đình phong tặng Đinh Lễ (Nguyên Sinh) là Thanh Xà Đại Vương,

Bạch Hoa là Mãn Đào Hoa Công chúa.

Nhưng cho đến nay thì tư liệu chữ viết cho thông tin về ca trù sớm nhất là

vào thế kỷ XV, trong “Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn” của Tiến sĩ Lê Đức

Mao soạn khoảng trước năm 1505 chép trong “ Lê tộc gia phả” Bên cạnh đó,những tư liệu khảo cổ học sớm nhất ghi nhận ca trù là bức chạm khắc đàn Đáy, tìmthấy ở một số ngôi đình, chùa Bắc bộ thế kỷ XVI

Ca trù tuy có nguồn cội từ lối hát dân gian nhưng khi vào đến chốn cungđình đã được sự nghiên cứu chỉnh sửa của các chuyên gia về âm luật trong chốncung đình nên đã trở thành một bộ môn nghệ thuật sâu sắc, có tính thẩm mỹ cao.Thường được dùng trong các dịp yến tiệc, khánh tiết và tiếp đãi sứ thần

Theo nhiều nguồn sử liệu thì từ xa xưa, giáo phường ca trù (ả đào) là một tổchức xã hội nghề nghiệp có tính thống nhất, được Nhà nước phong kiến công nhận

và đặt định một chức sắc trông coi giáo phường - gọi là quản giáp Ca trù có mặt ởnhiều tỉnh miền bắc, đến tận Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, trung bình cứ mỗihuyện có vài làng ả đào Các làng lại liên kết với nhau để hợp nhất thành từng giáophường có tên gọi riêng, chia nhau chấn giữ các cửa đình, cửa đền trên địa bànhuyện để kiếm kế sinh nhai Trong giáo phường, người quản giáp (còn gọi ông trùmhàng huyện) chịu trách nhiệm trông coi, sắp đặt mọi việc Ðây là chức vị đượcchính những người làm nghề trong giáo phường bầu chọn, phải là một kép đàn có

Trang 9

đủ tài đức song toàn Dưới ông ta là hội đồng các ông trùm họ (còn gọi là ông trùmcửa đình) Mọi việc làm ăn đều được phân chia rõ ràng, không bao giờ có chuyệnlấn sân, tranh giành quyền lợi Xưa, giáo phường được xem như một tổ chức rất ổnđịnh, người trong giáo phường có những luật tục riêng, duy trì mối quan hệ nghềnghiệp, yêu thương đùm bọc lẫn nhau.

Từ khi Thăng Long không còn là kinh đô nữa, dòng nhạc ca trù ngoài phầnlàm hát cúng, mang tính chất linh thiêng thì ca trù vẫn được những gia đình quan lại

và những bậc hào hoa kẻ sĩ trong các Phường, Hội trên đất cố đô ưa chuộng

Dòng nhạc ca trù ở đất Hà Thành vẫn phát triển theo nhịp sống riêng của nó.Chỉ mới nói sơ đến địa văn hóa của giáo phường, đã thấy được cả nghìn năm lịch sửcủa nghệ thuật ca trù Việt Nam Từ không gian cung đình đến nơi thôn dã, từ môitrường nghi lễ tín ngưỡng đến nơi bầu rượu, túi thơ tri âm tri kỷ, ở đâu cũng thường

có sự hiện diện của ca trù Trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam, có thểkhẳng định tính kinh điển mẫu mực của loại hình nghệ thuật đặc biệt này Nhưngvào đầu thế kỷ XX , lối ăn chơi của người phương Tây đã tràn vào Việt Nam, cả HàNội và các tỉnh thành lân cận rộ lên cơn sốt đào rượu Các quán cô đầu thi nhaumọc lên và các chủ quán lợi dụng lối hát ả đào để câu khách bằng cách thuê vài cặpđào kép giỏi nghề cầm ca hát mua vui, còn các cô không biết hát thì chuốc rượu cho

khách, các cô này thời đó được gọi là đào rượu Các nhóm đào kép từ các nơi

chuyển dần về các thành phố lớn để mở nhà hát Ðây là hình thức ca hát giải trí, đơnthuần phục vụ nhu cầu thụ hưởng nghệ thuật của giới thức giả thành thị Rất nhanhchóng, nhà hát ả đào được thiết lập một cách có hệ thống ở các thành phố lớn như

Hà Nội, Hải Phòng, Nam Ðịnh cũng như các trung tâm tỉnh lỵ khắp các tỉnh miềnbắc Phương thức làm ăn với cấu trúc phường hội mới cũng nhanh chóng được thiếtlập Giờ đây, người nghệ sĩ dân gian nơi thôn dã chính thức bước vào sân chơi nghệthuật chốn đô thị, cạnh tranh cùng nhiều bộ môn nghệ thuật khác Hiện tượng đócho thấy nghệ thuật ca trù với sức sống mới đã thật sự lan tỏa trên một bình diệnrộng

Ra chốn thị thành, các nghệ sĩ sống quần tụ lại thành từng nhóm trên các địabàn cư trú, gọi là xóm cô đầu Ở đây, dù lề luật buộc phải thay đổi ít nhiều theo đờisống thương mại, song, phong hóa cơ bản của giáo phường vẫn được bảo lưu, như

lệ hát thờ tổ, hay những quy chuẩn đạo đức gìn giữ thanh danh của giới nghề.Chẳng hạn đào nương nào mà có quan hệ không lành mạnh với các quan viên thìđều bị người đứng đầu - gọi là quản ca quở trách, kỷ luật Bên cạnh đào kép biểu

Trang 10

diễn nghệ thuật, môi trường thương mại mới nảy sinh một tầng lớp mới - gọi là các

cô đào rượu Họ là những cô gái xinh đẹp, được đào tạo bài bản để chuyên lo việctiếp tân, mời rượu quan khách đến nghe hát Khác với những người tiếp viên thôngthường, các đào rượu buộc phải học ít nhiều vài làn điệu của ca trù, ít thì vài câumời khách uống rượu, nhiều thì tùy vào năng lực nghệ thuật của từng người Nóichung, trình độ của các đào rượu thiên về khả năng trình bày ẩm thực, cung cáchsắp mâm bát, bày rượu, chia bài tổ tôm nhằm đáp ứng một thú chơi thời thượngcủa giới tri thức, phong lưu chốn phồn hoa đô thị Rồi chốn ăn chơi ấy cũng nảysinh các nhu cầu "đời thường", cũng vì thế mà nghệ thuật ca trù đã từng bị chụp cái

là ký ức của một thời Các nghệ sĩ tài danh lần lượt nối gót về cõi vĩnh hằng Cácđào nương, kép đàn đã từng một thời vang bóng cũng dấu phách, dấu đàn chỉ muốngiấu nghề, mai danh ẩn tích, vì không chịu nổi điều tiếng thế gian và không dámnhắc đến hai từ ca trù nữa Cũng có người chuyển qua làm nghề khác, thi thoảng tụhọp để nhớ về một thuở hoàng kim Dòng nhạc này cũng từ đó bị lãng quên và mấtdần Sự mai một của ca trù đã nghiêm trọng đến mức giờ đây, khi tái tạo, phục dựngtrong đời sống âm nhạc đương đại, phần lớn công chúng không khỏi ngỡ ngàng bởi

dự cho bà vì công lao đặc biệt trong việc bảo tồn một bộ môn âm nhạc truyền thống

có giá trị văn hoá nghệ thuật cao

Năm 1977, mới bắt đầu thấy lác đác sống dậy làn điệu ca trù qua sóng củaĐài Tiếng Nói Việt Nam

Trang 11

Năm 1988, tại liên hoan tiếng hát âm nhạc truyền thống tại Bình Nhưỡng với

sự tham gia của 29 quốc gia, băng ghi âm tiếng hát của bà Quách Thị Hồ đã đạidiện cho Việt Nam được xếp thứ hạng cao nhất

Và đến năm 1991, với sự nỗ lực của đào nương Lê Thị Bạch Vân câu lạc bộ

ca trù Hà Nội ra đời và theo sau đó là một vài câu lạc bộ nhỏ lẻ tiếp bước thế nhưngtất cả đều chỉ dừng lại ở mức độ hoạt động tự phát

Năm 2000, Liên hoan ca trù Hà Nội mở rộng lần thứ nhất được tổ chức với

sự tham gia của nghệ nhân 14 tỉnh thành, trong đó nhiều nghệ nhân đã bỏ nghề cảnửa thế kỷ

Phải đến năm 2002 với sự tài trợ của quỹ Ford, Cục nghệ thuật biểu diễn đã

tổ chức được một lớp học trong hai tháng và dạy được ba bài hát

Năm 2005, liên hoan ca trù toàn quốc lần đầu tiên được tổ chức

Và cũng trong năm 2005, Bộ Văn Hóa chỉ đạo Viện âm nhạc Việt Nam hoàntất hồ sơ về ca trù để đề nghị Unesco công nhận ca trù là di sản văn hoá phi vật thểtruyền miệng của nhân loại

Theo tư liệu Hán Nôm thì ca trù có khoảng 99 thể cách, cho đến ngày hômnay thì chúng ta chỉ còn lưu giữ được 26 thể cách và 3 thể cách không được tài liệuHán Nôm ghi nhận nhưng đã được tư liệu tiếng ghi lại

Ca trù là một loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc Việt Nam, là mộtmôn nghệ thuật đặc sắc vừa mang tính dân gian vừa mang tính bác học Vì vậykhông phải ai cũng nghe và hiểu được ca trù, nhưng khi nghe và hiểu rồi thì lại rấtsay mê, thấy được tính nghệ thuật độc đáo và chất thơ, chất nhạc của môn nghệthuật cổ truyền này

Ngày 1/10/2009, Ca Trù của Việt Nam được UNESCO ghi danh vào Danhsách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp

1.2 Đặc điểm của ca trù

1.2.1 Âm luật ca trù

Từ rất sớm, người Việt Nam đã có một nền âm nhạc riêng, nằm chung trong

hệ thống thang năm âm phổ thong của nhiều nước Đông Nam Á và Bắc Á Cái khácbiệt là tính dân tộc của âm nhạc từng nước với các yếu tố phong tục tập quán, ngônngữ, tình cảm, ảnh hưởng thiên nhiên địa lý tạo thành Các triều Lý, Trần đều cóngiên cứu âm luật để xây dựng nền âm nhạc nước nhà Âm luật đời Hồng Đức (LêThánh Tông) có tham khảo thêm âm nhạc phương Bắc nhưng căn bản vẫn dựa trên

hệ thống năm âm với chất dân tộc là chủ đạo: “Âm nhạc nước ta không giống âm

Trang 12

nhạc Trung Hoa”… “cũng đủ các thứ tiếng cao, tiếng trầm, tiếng trong, tiếng đục,

đủ cả năm cung, bảy thanh” (Vũ trung tùy bút)

Âm luật ca trù, với những cung bậc đàn hát còn lại đến nay, chững tỏ rõ rangđiều đó với sắc thái dân tộc rõ rệt và nhiều điểm sáng tạo độc đáo trong việc vândụng năm âm căn bản Âm luật ca trù có năm cung chính:

- Cung Nam: Điệu nhanh, hơi trong, nhưng bằng phẳng và xuống thấp.

- Cung Bắc: Điệu khoan, hơi đục, nhưng rắn rỏi và lên cao.

- Cung Huỳnh: Điệu xúc, ngặt, hát dính vào nhau, giọng rất trong.

- Cung Pha: Trong với đục pha lẫn, hơi ai oán, giọng hát chệch đi, lơ lớ.

- Cung Nao: Điệu chênh chênh, đục ở dưới, trong ở trên, đang ở cung nọ

chuyển sang cung kia, cung Nao chen vào giữa (gọi là nửa cung)

Những tên gọi năm cung: Nam, Bắc, Huỳnh, Pha, Nao với định nghĩa cáccung như trên hoàn toàn là do nghệ nhân kể lại, qua kinh nghiệm thực tiễn đàn, hát

cổ truyền

Hát ca trù thời cổ có cả một dàn nhạc lớn Sách cổ cho biết ở giáo phườngcó: Một phách lớn bằng tre già, hình dẹt, dài 3 – 4 thước, khi các nhạc công đứngvào vị trí rồi, thì 1 ả đào già ngồi gõ phách cầm nhịp cho các buổi hòa tấu Các nhạc

khí khác gồm: sáo, tiêu, đàn đáy, trống cơm, sinh tiền, sênh, trống mảnh, …

- Hát trong cung đình có trúc sinh (đàn khô) giống như cái thùng vuông trên

có từng miếng tre già ken vào nhau, gõ bằng dùi cầm nhịp Có đàn tranh, đànchin dây, đàn cổ cầm, kèn các loại hòa theo Dàn nhạc ca trù thời cổ lớn nhưvậy

- Hát Cửa Đình nông thôn thời cận đại chỉ còn một số nhạc khí bát âm và đànđáy, phách, sênh, chiêng, trống

- Hát ca quán, thính phòng càng đơn giản hơn, chỉ gồm có một người hát và 3nhạc khí: đàn, phách, trống (trống con)

1.2.2 Tiếng hát và cách hát ca trù:

Hát ca trù là một lối hát rất khó Để thực hiện được các cung chính và biếncung của âm luật ca trù, người đào nương thời xưa không có một bộ kí âm pháp nào

để học, mà trước hết phải học “ca đàn” tức là đàn bằng miệng cho đúng làn điệu

của các cung đó để sau này hát cho đúng các thể loại đảm bảo nhạc tính và nhạccảm

Hát ca trù lại chính là hát lên các bài thơ, với yêu cầu diễn cảm ý thơ, tình

thơ rất cao Vì vậy, đào nương phải học “nhả chữ” cho thật giỏi Lão nghệ sĩ Quách

Trang 13

Thị Hồ thường dạy các học trò: Khi hát “cái lộc bình nó rơi” thì hình như nó rơi

thật trước mặt người đang nghe hát Muốn đạt đến trình độ ấy phải học “luyến”

chữ cho thật khéo Nghe bà Hồ “luyến” từng chữ của bài Tỳ Bà Hành, bà Phúc

“luyến” chữ “đạo” của câu “trong nhân luận đạo vợ nghĩa chồng” của bài hát ru, bà

Mùi “luyến” thật sâu chữ “say” trong câu “say mà ai biết rằng say bao giờ” của bài cung Bắc hay bà Kim Đức “luyến” chữ “cảm” trong câu “Yên thủy mang mang vô

hạn cảm” của bài hát nói “chơi Hồ Tây” thì cứ như mỗi chữ là một cái hình tròn,

tiếng hát công phu uốn cho đủ hết các vành tròn của chữ, không để hở một ly nàokhông “luyến”, lột tả hết mọi cảm hứng và kịch tính trong lời thơ Vì vậy, tiếng hát

ca trù đẹp lung linh, giống như một cái vòng vàng, vòng bạc chạm trổ công phutừng nét một

Như thế vẫn chưa đủ Để đạt đúng tinh thần cảm xúc trong lời thơ, người đào

nương nhả chữ còn phải luôn luôn sáng tạo: nhả chữ theo kiểu “buông chữ”, “bắt

chợt”, hoặc “bắt tròn” cho thật tài tình, khiến người quan viên có trình độ cao

nhiều khi muốn buông cả roi trầu để ngồi im nghe hát Hát ca trù sử dụng toàn hơitrong, hơi thật Để giữ hơi được lâu, người hát không bao giờ mở to miệng, miệnglúc nào cũng như mím chặt, tiếng nào cũng từ trong cổ họng phát ra, gằn nén côngphu, dư âm rền rĩ Các ả đào chuyên hát Cửa Đình còn phải có cách giữ hơi thật giỏi

để hát suốt đêm này sang đêm khác, và hát thật to, thật rõ để những người đứng xanghe thấy Do đó, người ả đào khi hát lại có thêm vẻ đoan trang, đứng đắn, không

hề nhí nhoẻn làm duyên lộ liễu

Có hai lỗi hát: hát khuôn và hát hàng hoa

- Hát khuôn là hát theo khuôn bậc, nắn nót từng tiếng, luyến láy công phu,tròn vành rõ chữ, không một tiếng hát nào thừa ra ngoài đàn Hát Cửa Đình

tế thần, giỗ tổ phải hát khuôn thật giỏi

- Hát hàng hoa là hát theo tính cách tài tử, phóng khoáng, nơi lỏng phần nào

về khuôn bậc, tiếng hát ít công phu hơn hát khuôn Nhưng hát hàng hoa cũng

có những cái hay của nó với tính chất phóng khoáng, luôn luôn sáng tạo

Dù là hát khuôn hay hát hàng hoa, người đào nương đều phải đảm bảo cáctiêu chuẩn nghệ thuật dưới đây:

- Hát hay:

Trang 14

Thét: tiếng vút cao như suối vọt lên cao.

- Hát kém:

Sa: hát sau nhịp.

Hát đúng cung bậc là để đảm bảo về Nhạc Để đảm bảo diễn cảm ý thơ, tìnhthơ, thì đào nương còn phải hát đúng lời thơ, bên cạnh việc học thuộc các bài thơ thìngười hát ca trù còn phải hiểu được ý thơ, nội dung bao trùm của các bài thơ mộtcách trọn vẹn nhất Hát nói có thể nói là thể hát ca trù phổ biến nhất của ca trù, chủyếu là hát lên cá bài thơ, đặc biệt là cá bài thơ chữ Hán, chữ Nôm, những câu thơtheo Luật Đường, hoặc phá cách, hay những câu thơ khúc khuỷu, lắt léo cũng đượcđặt vào trong bài hát, bắt buộc người hát và người thưởng thức đều phải có vốn hiểubiết nhất định về các thể thơ đó

1.2.3 Các nhạc khí:

1.2.3.1 Phách – tiếng hát thứ hai của người đào nương

Phách là một bộ phận nhạc cụ của hát ả đào, cùng cho ả đào gõ nhịp khi hát.Phách và sênh là hai bộ phận hợp thành một nhạc cụ Cô đầu dùng một cái sênhbằng gỗ hay bằng tre và hai cái phách bằng gỗ để gõ khi hát Gõ phách nhanh haychậm đều có khuôn khổ nhất định

Người đào nương học hát đã khó, trong khi hát lại còn phải gõ phách giữ nhịp cho tiếng hát Cỗ phách rất đơn giản, chỉ gồm một bàn phách bằng tre (hoặc bằng gỗ dắn) hai lá phách dẹt cầm ở tay phải tạo nên âm thanh dẹt và một lá phách

tròn (gọi là tay ba) cầm ở tay trái tạo nên âm thanh tròn Phách dẹt và phách tròn

đều làm bằng gỗ, hai lá phách dẹt là hai nửa của một lá phách tròn chẻ dọc “cây

đàn, lá phách”, chữ nghĩa của ca trù thật là hình tượng, nhưng cũng nói lên phần

nào yêu cầu nghệ thuật cao của việc gõ phách

Trang 15

Phách của ca trù khác hoàn toàn với tất cả các loại phách khác Nó không chỉ

làm công việc gõ nhịp mà cũng phải “luyến” như tiếng hát để diễn đạt tình cảm

trong câu thơ, bài hát

Phách có 5 khổ: Khổ sòng, khổ giữa, khổ rải (khổ siết), khổ lá đầu, khổ sòng Trong cuốn Việt Nam ca trù biên khảo thì phách có bốn khổ: khổ sòng, khổ đơn,

khổ rải, khổ lá đầu

 Khổ sòng: Gõ trước tiên

 Khổ đơn: Sau khổ song, tiếp đến khổ đơn và khổ kép Khổ đơn vàkhổ kép là một sắp nhạc liền nhau

 Khổ rải: Sau khổ đơn đến khổ rải Khổ này dài phách gõ thư thả

 Khổ lá đầu: Sau khổ rải đến khổ lá đầu Khổ này thường gõ trướccâu hát, nhưng cũng có lúc gõ trong câu hát như ở hát Mưỡu hay Gửi thư.Sau những khi ngâm Sa mạc, để hát sang Tỳ bà thì gõ phách rung

Hát khổ nào dóc cho thành khổ ấy thì gõ phách dóc

Hát khoan hát rải thì gõ phách thưa

Hát dồn, hát dựng, hát khổ xếp thì gõ phách mau

Khổ phách phải không thiếu, không thừa, quyện với tiếng hát, tiếng đàn làmmột Nhưng không phải bén, quyện một cách thụ động, mà tùy theo ý thơ, tình thơ,tiếng phách khi mau, khi thưa, róc rách như suối reo, ríu ran như chim hót, đồng catheo tiếng hát của đào nương, càng nổi bật trong những quãng không hát, chỉ cóphách gõ như “khổ siết” Chưa nghe hát chỉ nghe phách đã có thể biết trình độngười hát rồi

Tiếng phách giòn lắng xa…câu hát của nhạc sĩ Văn Cao trong bài Thiên Thai

chính là tiếng phách ca trù Ả đào muốn hát hay thì gõ phách phải giỏi, phải “sắctay” Trong các kì thi “chầu cử”, “chầu cầm”, ả đào hát hay đáng bậc thủ khoa màphách nhụt thì cũng bị hạ xuống á nguyên như trường hợp mẹ bà Quách Thị Hồ thờixưa Năm 1984, một số nhạc sĩ của Hội âm nhạc Việt Nam đến gặp bà Phẩm – tay

phách số một của ấp Thái Hà 50 năm trước đây, tiếng khoan như gió thoảng ngoài,

tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa, xứng đáng với tiếng đồn “Phách Phẩm” bao

thời lẫy lừng

1.2.3.2 Đàn đáy:

Trang 16

Đàn đáy ra đời có thể là vào đời Lê, như các thần phả Tổ ca trù đã nói Trong

thư tịch đời Lê để lại có cây “Đới cầm” tức là cây đàn đeo vào người để đứng mà

gẩy cho đỡ mỏi “Đới” còn có nghĩa là “đái”, gọi chệch ra là “đáy”

Người kép gảy cây đàn đáy thùng vuông rọc dài Cây đàn đáy có một chiếc

cần đàn dài 1m20, và 3 dây to, nhỏ khác nhau: dây đài (to), dây trung (vừa), và dây

tiểu (nhỏ) Nhiều nơi gọi dây đài là dây hàng, và có 11 phím.

Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát nói về quan hệ hòa tấu giữa cây đàn đáy và

tiếng phách và tiếng hát như sau: “Khi hòa tấu thì đàn ghìm với giọng hát, nhưng

tiết tấu lại đan chặt chẽ với phách”, đi sâu vào cái tinh vi của nghệ thuật hòa tấu ca

trù Trước hết, đàn và phách phải quyện chặt lấy nhau Đàn có 5 cung chính: Cungnam, cung bắc, cung nao, cung pha, cung huỳnh, sau them một cung nữa là cungphú Phách có 5 khổ thì đàn cũng có 5 khổ: sòng đàn, khổ giữa, khổ rải (khổ siết), láđầu, sòng đàn Trong khi tiếng hát tung hết khả năng nghệ thuật, kỹ thuật của nó ra

với các ngón “luyến”, “bắt tròn”, “bất chợt”, đàn và phách cũng “luyến” chặt với

nhau để bạn tấu cho tiếng hát Hát cao thì đàn cao, hát thấp thì đàn thấp Nhưng dùđàn réo rắt, bay lượn, phóng khoáng đến đâu cũng phải đảm bảo một nguyên tắc:

tiếng đàn và tiếng hát là một, và khi hát dứt lời thì đàn cũng vừa im tiếng.

Cũng như hát, đàn có hai lối: đàn khuôn và đàn hàng hoa Đàn khuôn nhấnnhá công phu từng tiếng một, đảm bảo thật đúng các lề lối đã trở thành kinh điển.Đàn khuôn cô đầu hát mới công phu, quan viên thưởng trống mới hay Người ta víđàn khuôn như chữ tốt viết chân phương Đàn hàng hoa cũng như hát hàng hoa, ítvất vả hơn, phóng túng tùy theo sáng tạo của người đàn, gảy dựa vào tiếng hát rồithêm vào, bớt ra, đệm những tiếng khéo léo, nghe hay nhưng không công phu.Người ta ví đàn hàng hoa như chữ tốt viết thảo Hát cô đầu đàn khuôn hát khuôn

mới là Giáo phường đệ nhất bộ Nhưng dù đàn khuôn hay đàn hàng hoa cũng đều

phải đảm bảo ghim chặt chẽ với phách và phục vụ tốt nhất cho tiếng hát Kép mớihọc đàn cũng phải học “ca đàn” như đào học hát Phải học từng tiếng một rồi tiến

lên học thành thạo những ngón đàn cơ bản: “vê” (tạo ra tiếng gió), “vẩy” (ngược đầu que gẩy phát ra tiếng như tiếng kim loại), “cáp” (đàn them tiếng trong khuôn

khổ), v.v… Kép cũng phải thi từ các giáo phường ở xã lên đến huyện, rồi tỉnh, vàtranh ngôi thủ khoa, á nguyên như ả đào thi hát

Không một cây đàn nào khác có thể thay cho cây đàn đáy trong nghệ thuật catrù Bởi chỉ có nó với chiếc cần đàn dài và ba dây dài to nhỏ khác nhau mới bén,quyện chặt chẽ được với tiếng hát đến mức tiếng đàn với tiếng hát là một, và người

Trang 17

đàn có thể dùng tiếng đàn để “kiệu” cho người hát nhớ ra lời khi nửa chừng lỡ quênkhuấy đi Và cũng chính vì tiếng đàn, tiếng hát là một, nên đàn ca trù chỉ có 5 khổquanh đi quẩn lại, mà vẫn đàn bài nào ra bài ấy, không như các loại đàn khác, mỗiđiệu hát là một bản đàn khác nhau.

1.2.3.3 Trống chầu

Kép gảy đàn, cô đầu gõ phách và hát, còn quan viên thì đánh trống Tiếngtrống chầu là điểm độc đáo nhất của nghệ thuật ca trù Bởi vì người đánh trống, hòatấu với đàn, phách và tiếng hát không phải là nhạc công mà chính là người khách –người quan viên (cũng gọi là cầm chầu) mất tiền thuê đàn hát Trong lối hát cửađình, người cầm chầu đánh trống lớn là tiên chỉ, hoặc thứ chỉ, những người chứcsắc, vai vế nhất làng Ở ca quán, thính phòng, nhà tư, người cầm chầu ở mọi tầnglớp: quan lại, công chức, nhà nho, nhà văn, nhà buôn,… Nhưng bất cứ ai, nếu đàn,hát hay mà trống chầu bập bõm, đánh không đúng phép tắc hoặc thô tục thì cả chầuhát nhạt nhẽo hẳn đi vì không đảm bảo tính nghệ thuật, chất thơ, chất nhạc

Trống chầu phải làm các việc: ngắt mạch câu văn, khổ phách, khen câu thơhay, tiếng đàn, tiếng hát tài tình Vì vậy, người cầm chầu vừa phải am hiểu nghệthuật ca trù, sành nghe đàn, hát, phách, vừa phải có trình độ văn hóa hiểu vănchương, có tâm hồn thơ Người ta ví người đánh trống như quan trường, người hátnhư học trò đi thi: văn chương phải theo ý quan trường; người đánh trống nhưtướng cầm quân, người hát như quân lính ra trận: tiến thoái phải theo lệnh ôngtướng điều khiển

Trống Cửa Đình là trống lớn, như trống trường thời xưa Dùi lớn bằng gỗ.Trống có chiêng kèm theo với nguyên tắc trống phải đánh trước khi phách ngắtnhịp để chiêng điểm vào đúng phách Đàn, hát hay thì thưởng bằng những chiếc thẻtre hoặc gỗ sơn son, mỗi thẻ có quy định là bao nhiêu tiền, để cộng lại trao cho đàokép sau chầu hát

Trống ca quán, thính phòng là loại trống nhỏ, cao 22cm, mặt trống rộng20cm Roi bằng gỗ nguyệt quí, gỗ khổng, hoặc gỗ duối, gỗ găng, dài khoảng 36cm,

gọi là “roi chầu” Roi chầu đánh vào mặt trống thành tiếng “tom”, đánh vào tang trống thành tiếng “chát”.

Trống cũng có khổ như đàn và phách nhưng đánh biến hóa thêm rất nhiềucách với các tên gọi rất đẹp: thùy châu, liên châu, song châu, phi nhạn, xuyên tâm,thượng mã, hạ mã,…

Phân loại khổ trống:

Trang 18

Phép đánh trống ngày xưa phân làm 3 thời kì:

phách: thời kì này có một khổ trống gọi là thôi cổ: đánh 2 tiếng trống

khoan thai để giục đào kép

Nhưng bên cạnh đó, cũng có ý kiến cho rằng, trống cũng có 5 khổ như đàn,phách:

Phép đánh trống chầu.

Trong một cuộc hát ca trù, người cầm chầu điều khiển hoàn toàn việc đàn hátbằng roi chầu, không phải dùng đến lời nói Nhưng vì ca trù là lối chơi thưởng thức,nhạc thơ tao nhã, nên phong cách cầm chầu cũng phải rất tao nhã, rất thơ Từ cáchthức cầm roi, đánh trống, đến thưởng đàn, thưởng hát đều có quy định:

- Không để trống trước mặt mình mà đặt chếch sang trái, cách đầu gốikhoảng 15 – 20 cm (nếu ngồi trên chiếu)

- Cầm roi một cách nhẹ nhàng, ngửa bàn tay giơ roi lên, rồi đảo úp bàn tayđập roi xuống mặt trống

- Trước khi đánh trống phải đè một phần bàn tay trái xuống mặt trống đểxem thử tình hình mặt trống căng hay chùng để xử lý âm thanh cho chuẩn

Trang 19

Nếu mặt trống tốt thì đánh lối “phóng diện” tức là không bịt mặt trống Nếu

mặt trống chùng hoặc mới bưng, mới hơ lửa, quá căng thì đè bàn tay trái lênmặt trống mà đánh Trống mới thì đè gần mặt, trống cũ thì đè xa mặt Tuyệtđối không cầm roi chầu đánh thử hết mặt trên đến mặt dưới, như thế là tỏ ratrình độ đánh trống còn thấp kém

Tiếng trống đánh phải thanh tao, rắn rỏi, tròn trĩnh, xinh xắn, đều đặn.

Không được lập cập, do dự, hấp tấp, lỡ cỡ với đàn phách

Tiếng “chat” gõ vào tang trống rất quan trọng “Chát” để khen thưởng,

“chát” để thau cho cả một khổ trống để giảm tiếng động khi cần thiết trong nhữngbài hát cần thưởng văn là chính, ít đánh trống Trống phải vụ về tinh thần mới tuyệtdiệu, nếu hay về hình thức thì chỉ là người theo lề lối, đúng đàn, đúng phách, chớ

không có ý nhị gì Người ta nói: văn là người, tiếng trống cầm chầu cũng vậy Bậc

quân tử tiếng trống đĩnh đạc, người giang hồ tiếng trống ly kỳ bay bướm, người lịchthiệp duyệt tiếng trống tao nhã, người quê mùa tiếng trống thô lỗ, người bịp bợmtiếng trống láu lỉnh Khách chơi lão luyện có thể nghe tiếng trống mà đoán được tưcách con người

1.2.4 Những lối ca trù

1.2.4.1 Hát chơi.

Hát chơi có hai cách, một là hát hàng hoa, hai là hát khuôn Hát hàng hoa ít

công phu hơn hát khuôn Hát khuôn là hát theo khuôn bậc, uốn nắn từng tiếng chothật hay, lên xuống cho tròn vành, ngâm cho rõ chữ, tiếng nào cũng có dư âm rền rĩ,phải dụng công lấy tiếng gằn gừ trong cổ họng, không có tiếng nào thừa ra ngoàiđàn

Hát chơi gầm có 15 thể: Bắc phản, Mưỡu, Hát nói, Gửi thư, Đọc thơ – thổng– dồn, Đọc phú, Chừ khi, Hát ru, Nhịp ba cung bắc, Tỳ bà, Kể truyện, Hãm, Ngâmvọng, Sẩm cô đầu, Ả phiền

1.2.4.2 Hát cửa đình.

Nước ta ngày xưa vốn trọng thần quyền, mỗi làng đều có một ngôi đền thờThành Hoàng Các vị Thành hoàng là những người công thần khai quốc, hoặcnhững người con hiếu tôi trung, hoặc những người lúc sinh thời giàu lòng nhân đức,

có công cứu giúp đồng bào, khi chết dân làng nhớ ơn, lập đền thờ kỷ niệm, rồi đượctriều đình xét công lao, phong làm Thành Hoàng để bảo quốc hộ dân Các vị thànhhoàng được dùng nghi vệ như vua chúa cho nên ngày Thần đản hoặc ngày mở hội

Trang 20

cũng coi như ngày khánh điển của Vua chúa, dân làng tìm cô đầu về hát thờ gọi làhát cửa đình.

Lối hát cửa đình còn gọi là hát giai Kép hát câu một (Mưỡu) và hát nói thìgọi là hát giai Đào hát câu một ( Mưỡu) và hát nói giọng hát giai thì gọi là Hà Liễu.Khi kép hát một câu rồi đến đào hát một câu thì gọi là Đào luồn kép vói, nghĩa làkép mở ra một câu, đào kết lại một câu

Cách hát phải bắt rõ rang, cần nhiều hơi mà cao giọng cho mọi người nghe

rõ, điệu bộ đoan chính, không được hát lối lẳng lơ, cung bậc dập dờn tiếng to tiếngnhỏ Những bài hát giai ở Cửa đình chọn trong những bài hát nói ý tứ trang nghiêm,hoặc bàn về sử sách, hoặc sự tích các danh nhân, hoặc diễn tả phong cảnh chứkhông được hát những bài tình tứ lãng mạn Cô đầu luân phiên nhau hát từ 9 giờ tốitới sáng là một chầu đêm

Hát cửa đình tuy nghi tiết nghiêm túc kính cẩn, nhưng đàn phách nhàn nhã,không công phu bằng hát khuôn

Hát cửa đình gồm có 12 thể: Giáo trống, Giáo hương, Dân hương, Thét nhạc,Hát giai, Đọc phú, Đọc thơ, Gửi thư, Đại thạch, Bỏ bộ, Múa bài bong, tấu nhạc vàmúa tứ linh

1.2.4.3 Hát thi.

Hát thi chia làm bốn giai đoạn: Vãn, Chầu thi, Chầu cầm, và thi lại (Phúc

hạch).

- Vãn: Thoạt tiên, ban giám khảo sát hạch sơ qua tài năng của đào kép để lựa

chọn người vào hát Chầu thi, Vãn là đào hát mấy câu Gửi thư, hoặc Thổngthiên thai, kép hát mấy câu Thơ cách để tỏ ra mình hát được

- Chầu thi: những đào kép đã qua kỳ Vãn, được ban giám khảo chứng nhận

và yết lên bảng mới được vào hát Chầu thi Các khúc hát trong Chầu thi là:

 Kép: giáo đầu, ca đàn, thơ cách, hát giai câu một, hát nói giai, giáo

thơ phòng, Hà nam câu một, nói Hà nam, dạo đọc phú, đọc phú

 Đào: Thơ phòng; Hà liễu câu một; nói Hà liễu; trở tay ba; nhạc nhang;

chúc Tam Thanh; thét nhạc; ngâm vọng; bắc phản; mưỡu; hát nói;nhịp ba cung bắc hoặc Chừ khi; đại thạch; hãm; gửi thư; dóng chinhphu; dựng huỳnh

 Đào kép cùng hát: Vói luồn

- Chầu cầm: những người đã trúng tuyển kì thi hát Chầu thi mới được vào

Chầu cầm Các khúc hát trong Chầu cầm:

Trang 21

 Kép: Ngâm sang hát giai; hát giai câu một; hát nói giai; xướng tầng;

ngâm phú; hát sử và dã sử; phản huỳnh; làm trò vui (trai thi mạnh)

 Đào: Màn đầu hát gái; Hà liễu câu một; nói Hà liễu; trở tay ba; màn

đầu hát truyện; hát truyện; dựng huỳnh; làm trò vui (gái thi mềm)

- Thi lại (phúc hạch): Đào kép qua Chầu cầm mới được vào kỳ Thi lại để ban

giám khảo cân nhắc hơn kém mà định giải nhất nhì

Khi đào kép vào hát thi, nếu đàn được mà hát kém thì ban giám khảo tuyểnngười khác hát thay; nếu hát được mà đàn kém thì tuyển người khác đàn thay Chọnxong đàn hát mới lấy đến sắc đẹp Hội đồng lại xét xem ả đào có đứng đắn haykhông, nếu là người hạnh kiểm xấu, dẫu có hát hay đến mấy cũng bị đánh tụt xuốnghạng bốn, hạng năm

Trúng giải nhất gọi là thủ khoa, giải nhì là á nguyên, đi đầu hàng bên trái là

Thủ khoa rồi đến các giải ba, bốn, năm, sáu; đi đầu hàng bên phải là Á nguyên rồiđến các cô trúng giải bẩy, tám, chín, mười, có đệ tử theo sau, vào đền làm lễ dânghương, vừa múa, vừa hát

1.2.5 Nét đặc sắc của ca trù:

Đã có rất nhiều bài viết về xuất xứ, bề dầy lịch sử và chiều sâu nghệ thuậtcủa Ca trù Sau đây là vài yếu tố cho thấy nghệ thuật Ca trù vô cùng độc đáo không

chỉ trong nước Việt Nam mà trên toàn thế giới

Ca trù là một sự phối hợp đa dạng, tinh vi, nhuần nhuyển giữa thi ca và

âm nhạc, đôi khi với cả múa Ca trù có những qui luật chặt chẽ, rõ ràng

trong thơ và nhạc, nhưng không quá khắt khe, mà có chấp nhận một vàingoại lệ

Ca trù có những nét đặc thù trong hai lĩnh vực thanh nhạc và khí nhạc

không tìm thấy trong các bộ môn âm nhạc khác

Ca trù dùng ít nhân lực mà hiệu quả biểu diễn và nghệ thuật rất cao.

Ca trù có nguồn gốc Việt, không du nhập từ nước ngoài, có tổ chức theo

giáo phường, có qui chế đào tạo đào nương trong chương trình Hát thi vàhình thức phát giải

1.2.5.1 Về thơ:

Hầu hết các loại hình nhạc cổ Việt Nam đều có sự phối hợp giữa thơ và nhạc.Trong dân gian, Vè, đồng dao có thơ 3 chữ, 4 chữ; hầu hết các bài dân ca Hát ru,

Trang 22

Hò, Lý, đối ca nam nữ, lời ca của các làn điệu Chèo, Hát văn là thơ lục bát (một câu

6 chữ, một câu 8 chữ), lục bát biến thể (2 câu lục bát có thêm những tiếng đệm cónghĩa hay vô nghĩa để cho nét nhạc và tiết tấu hai câu thơ thay đổi), song thất lụcbát (2 câu 7 chữ tiếp theo câu lục bát) Trong nhạc truyền thống bác học có thơ lụcbát, lục bát biến thể, lại có thêm các thể thơ theo Đường luật ngũ ngôn thất ngôn

Ca trù sử dụng tất cả các thể thơ trên, ngoài ra còn dùng thơ 8 chữ không cótrong thi ca cổ, chỉ sau nay mới thông dụng trong Thơ mới Việt Nam Thơ 8 chữdùng trong Hát nói, gồm 11 câu chia làm 3 khổ:

Khồ đầu: 4 câu gồm 2 câu lá đầu và 2 câu xuyên thưa

Khổ giữa: 4 câu gồm 2 câu chữ Hán ngũ ngôn hay thất ngôn và 2 câu xuyên

mau

Khổ xiết: 3 câu gồm câu dồn, câu kết và câu keo

Qui định theo lề lối gọi là đủ khổ, nhưng vẫn có thể gặp những câu 11, 12, 13 chữ, hoặc thêm khổ, gọi là dôi khổ.

Chưa thể loại nhạc cổ nào đa dạng về thơ như vậy

Ca trù là một loại nhạc thính phòng, như Ca Huế miền Trung, ca Tài tử miềnNam Nhưng trong các loại ca nhạc thính phòng khác, bài ca có nét nhạc cố định,nếu đặt lời mới cũng phải tuân theo nét nhạc đó Riêng Ca trù, trong các « lối» hay

« thể» (khoảng 15 thể Hát chơi, 12 thể Hát cửa đình), giai điệu không cố định màtùy theo thanh giọng của lời thơ Thành ra, những bài Gửi thư, Hát ru, Bắcphản, Mưỡu có những giai điệu khác nhau, cùng một thể Hát nói có cả trăm bài

(theo sách Ca trù biên khảo - Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề)

Mỗi loại thơ đều có nét nhạc và tiết tấu đặc biệt tạo ra nhiều thể trong Ca trù.Lục bát và lục bát biến thể có trong Mưỡu, Bắc phản, Xẩm huê tình, hay ngâm theo

Sa Mạc hoặc Bồng Mạc, thơ 8 chữ trong Hát nói

Đào nương hát không há miệng to, nhìn cứ như mím môi, không đẩy mạnhhơi từ buồng phồi ra mà phải «ém hơi» trong cổ, phải biết « ậm ự» mà lời ca nghe

Trang 23

vẫn rõ ràng Hát phải « tròn vành rõ chữ» Hát trong cửa đình không cần ngân nga.

Hát chơi có cách đổ hột, đổ con kiến, khác hẳn cách luyến ngân «tahir» trong cổ nhạc Ba Tư, «tremolo» trong nhạc Âu, «yodel» trong nhạc Thụy Sĩ Đổ hột làm cho

câu hát thêm duyên, có khi như tiếng nức nở, thở than TS Trần Quang Hải từngnghiên cứu đối chiếu nhiều truyền thống thanh nhạc trên thế giới, đã phân tích kỹ

thuật đổ hột của Ca trù qua hình ảnh hiện lên máy sonagraph và cho biết kỹ thuật

này rất độc đáo, không có trong các kỹ thuật thanh nhạc khác

Về khí nhạc:

a) Cỗ phách: gồm 3 phần: một thanh tre hay một mảnh gỗ gọi là bàn phách,

hai chiếc dùi gỗ là phách cái và phách con Trên thế giới không đâu dùng hai chiếcdùi mà trong đó có một chiếc tròn đầu hơi nhọn, chiếc kia tròn và chẻ hai Dùi nhọn

như dương vật (linga, theo cách gọi của Ấn độ), dùi chẻ hai là âm vật (yoni theo

cách gọi của Ấn độ) Gõ hai dùi vào cỗ phách tạo nên tiếng mạnh tiếng nhẹ, tiếngcao tiếng thấp, tiếng trong tiếng đục, tiếng dương tiếng âm Tay cầm phách cái,phách con, tay nào đưa lên cao tay nào để dưới thấp, động tác nhịp nhàng uyểnchuyển như múa, cách gõ phách theo 5 khổ qui định, đoạn «lưu không» (chỉ cótiếng đàn đáy và tiếng phách không có lời ca) cũng có lề lối…, tất cả cho thấy đây

là một nghệ thuật không tìm thấy trong các bộ gõ khác Tiếng phách phải rõ ràngphân minh, khi gõ riêng từng dùi, khi gõ hai dùi một lượt là «chát», hai phách âmdương chen nhau, xen kẽ, pha trộn, có nhịp mà nghe như không có nhịp, có mà nhưkhông, thực mà như hư, hiện mà như ẩn

Người Ấn độ luôn hãnh diện với cách đánh trống Tabla và Bahya của họ, trong đó người nghe có thể cảm nhận được tiết tấu Tala như bước đi đều đặn của phụ nữ và laya như chiếc váy phất phơ theo bước chân, đếm được bước đi mà

không đếm được cái phất phơ của chiếc váy Hai chiếc phách cái, phách con trong

Ca trù của người Việt cũng tạo được một loại tiết tấu hiện ẩn như thế

b) Đàn đáy: chỉ dùng duy nhất trong Ca trù Thùng đàn hình chữ nhựt hay

hình thang, mặt đàn bằng cây ngô đồng, có mặt mà không có đáy, cần rất dài, gắn

10 hay 11 phím bằng tre rất cao, phím đầu ở ngay giữa bề dài của dây đàn Đàn mắc

3 dây tơ, lên cách nhau một quãng 4, đánh dây không nhấn cho tiếng trầm, bấmphím thành tiếng cao Không có cầu đàn ở đầu đàn trước khi quấn dây vào trục, nêntrên đàn đáy có cách nhấn khác thường: «nhấn chùn » lẽ ra phải có độ cao hơn mộtquãng 2 thì lại phát ra một âm đồng độ cao mà màu âm khác Phím đàn gắn theothang âm chia quãng 8 thành 7 quãng đồng đều (equiheptatonic), thể hiện dễ dàng

Trang 24

quãng ba trung bình giữa thứ và trưởng (neutral 3rd between the minor 3rd and themajor 3rd), một quãng đặc thù của lưu vực sông Hồng thường gặp trong Hát ru, Hátnói và Sa mạc Nhạc công phải đánh rõ tiếng vê, tiếng vẩy, tiếng lia, tay trái phảibiết cách nhấn, rung, nhấn chùn, bấm 3 dây khi đàn chữ «dinh dinh dinh» Khi chânphương khi dìu dặt, khi mạnh khi nhẹ, tiếng đàn trong đoạn sòng đầu, lưu khônghay phụ hoạ theo lời ca chẳng những có nét nhạc, mà còn tạo nên «hồn nhạc».

c) Trống chầu Trống chầu Ca trù khác trống chầu trong Tuồng, Hát bội, từ

kích thước đến cách đánh Kích thước và hình thức rất gần trống đế của Chèo nhưngcách đánh và chức năng hoàn toàn khác Dùi trống không gọi là “dùi” mà là “roichầu” Roi chầu bằng gỗ, dài hơn dùi trống khác Người đánh trống cầm roi trongtay mặt, gõ vào tang trống - gọi là “chát”, đánh roi sát trên mặt trống - gọi là “tom”.Người cầm chầu gọi là “quan viên”, phải sành Ca trù, biết rõ các khổ đàn, khổphách, biết đàn thế nào là hay, hát thế nào là “khuôn”, là “hàng hoa” và không đánhtrống “bịt miệng ả đào”, lại phải nắm rõ các công thức xuyên tâm, song châu, liênchâu, hạ mã, lạc nhạn để khen chê, thưởng phạt đúng nơi đúng cách, dáng ngồi, taycầm roi, tay vịn mặt trống phải phong lưu đài các Nghe tiếng chầu, thính giả biếtgiá trị và phong cách của người cầm chầu

Trên thế giới, không có loại trống nào giữ 3 chức năng như trống chầu Catrù:

 Tham gia vào cuộc diễn bằng những tiếng trống mở đầu, chấm câu, và kếtthúc

 Khích lệ nghệ sĩ, phê phán, khen thưởng để ca nương kép đàn thêm hào hứng

 Hướng dẫn cho thính giả vì không phải ai cũng biết giọng ca tiếng đàn hay ởchỗ nào và hay đến đâu Tiếng trống chầu của người sành điệu giúp chothính giả biết thưởng thức và trở nên sành điệu hơn

1.2.5.3 Hiệu quả nghệ thuật trong Ca trù

Không thể loại nhạc cổ truyền nào dùng ít nhân lực mà thời gian biểu diễn vàhiệu quả nghệ thuật cao như Ca trù

Trong nước Việt:

Trong nhạc thính phòng cổ truyền, chương trình biểu diễn ca nhạc Huế trênmột tiếng đồng hồ cần có dàn ngũ tuyệt tức là 5 nhạc công Dàn tam tấu (nguyệt,tranh, nhị) không có trống phách phụ hoạ, không có lời ca trộn với tiếng đàn, khó

Trang 25

làm cho thính giả say mê trên một tiếng đồng hồ, nếu thêm người ca thì tổng sốngười biểu diễn là bốn, không còn là tam tấu nữa

Trong sân khấu truyền thống thì số người biểu diễn rất đông Riêng Hát bàichòi trước lúc “từ đất lên giàn“ có một người hát các vai khác nhau, một đàn nhị vàmột sanh sứa, tức là cũng chỉ có 3 diễn viên, nhưng nghệ thuật rất thô sơ so với Catrù

Trên thế giới:

Trung Quốc, Nhật Bản có những chương trình độc tấu trong một buổi trình

diễn: đàn pipa (tỳ bà Trung Quốc), đàn guzheng (đàn tranh Trung Quốc 16, 19, 22 dây), đàn koto (Nhật) Nhưng chỉ có khí nhạc không có thanh nhạc và trống phách phụ hoạ Nhật Bản còn có nhóm biểu diễn Sankyoku gồm 3 nhạc công đàn Koto,

Shamisen, Shakuhachi, không có hát và nhịp phách phụ hoạ

Triều Tiên có biểu diễn độc tấu đàn Kayageum với phụ hoạ của trống Chang

gu (trượng cổ), nhưng không có hát.

Các nước Á rập có thanh nhạc là chánh, phụ hoạ chỉ có đàn dây khảy Ud, đàn cung kéo Keman, đôi khi có trống Daff.

Người Ba Tư có hát là chánh, phụ hoạ có đàn dây khảy Târ hoặc Setâr, có đàn cung kéo Kemantche, và trống Zarb cũng gọi là Tombak

Ấn Độ có nhiều phong cách hát những câu thơ, những bài thơ như Dhrupad

cổ điển, Kheyal bán cổ điển, bay bướm, Thumri tình cảm, phóng khoáng Nhạc khí

phụ hoạ chỉ làm nền mà không hòa theo giai điệu, có trống phụ hoạ nhưng không cótiếng phách

Và trong tất cả các loại nhạc kể trên đếu không có trống chầu phê phán

1.2.5.4 Ca trù là một truyền thống xuất phát từ nước Việt

Ca trù xuất phát từ Việt Nam chứ không du nhập từ nước ngoài, có huyền

thoại về xuất xứ cây đàn đáy, về các vị Tổ sư (theo sách Ca trù biên khảo của Đỗ

Trọng Huề và Đỗ Bằng Đoàn)

Ca trù được tổ chức chặt chẽ thành phường, giáo phường, do trùm phường vàquản giáp cai quản Ca trù có qui chế về sự truyền nghề, cách học đàn học hát, cónhững phong tục trong sự nhìn nhận đào nương rành nghề, như lễ mở xiêm áo (thầycho phép mặc áo đào nương để biểu diễn chánh thức lần đầu tiên trong đình lànggọi là Hát cửa đình), có nhũng qui chế về việc chọn đào nương đi hát thi (ngoài tàinăng và sắc diện cần phải có đức hạnh tốt)

Trang 26

Các cuộc Hát thi và phát giải được tổ chức rành rẽ, các lễ hội được cử hànhrất nghiêm chỉnh.

Ca trù được nhiều nhạc sĩ, nhạc học gia nước ngoài theo học, tìm hiểu,

nghiên cứu: TS Barley Norton (Anh) Thạc sĩ Alienor Anisensel (Pháp) GS Stephen

Addiss (Mỹ) Ca trù được giới thiệu tại Đại học Sorbonne Paris, Đại học Hawaii atManoa Honolulu (GS Trần Văn Khê thuyết giảng)

Ca trù được cơ quan, tổ chức quốc tế tôn vinh và xuất bản dưới dạng đĩa hát.Tổng thư ký Hội đồng quốc tế Âm nhạc thuộc Unesco Jack Bornoff, Giám đốc Việnquốc tế nghiên cứu Âm nhạc với phương pháp đối chiếu tại Tây Bá Linh (Đức), GSAlain Danielou đã tặng Bản danh dự cho NSND Quách Thị Hồ, người đã tham giavào việc thực hiện đĩa hát Ca trù và Quan họ do Unesco phát hành Đĩa hát nầyđược Unesco gởi tặng trên 400 trường Đại học và Nhà Văn hoá của nhiều nước Âu,

1.3 Khả năng khai thác ca trù để phục vụ khách du lịch.

Một nhóm chỉ có hai nghệ sĩ biểu diễn và một quan viên vừa tham gia biểudiễn vừa phê phán mà tập hợp nhiều yếu tố nghệ thuật làm cho thính giả có thể nghehằng giờ, hằng đêm, có khi ngày nầy qua ngày khác Người biết nghe sẽ cảm nhậnđược văn chương bóng bẩy của câu thơ, thang âm điệu thức dồi dào của giai điệu,tiết tấu rộn ràng của tay phách, chữ đàn gân guốc hay bay bướm của anh kép, khôngkhí nghiêm trang hay rộn rã của buổi trình diễn, trong đó thơ và nhạc quyện vàonhau như bóng với hình

Một loại hình âm nhạc có bề dầy lịch sử (theo sử liệu và văn bia), chiều sâunghệ thuật, tuy có nguy cơ bị quên lãng, nhưng hiện đang chiếm được sự quan tâmcủa Nhà nước, chính quyền, sự thiết tha gìn giữ của nghệ nhân, sự đón nhận nồng

Trang 27

hậu của người trong nước và nước ngoài, sự tôn vinh và tài trợ của các tổ chức quốc

tế Đặc biệt ca trù hiện là di sản phi vật thể của Việt Nam vừa được Unesco côngnhận đã đánh dấu bước ngoặt lớn trong việc bảo tồn và phát triển ca trù, cũng nhưđưa ca trù vào kinh doanh du lịch, bằng việc tổ chức các chương trình du lịch thamquan thưởng thức ca trù

1.3.1 Định nghĩa và phân loại chương trình du lịch:

“Chương trình du lịch là một tập hợp các dịch vụ, hàng hóa được sắp đặt trước, liên kết với nhau, để thỏa mãn ít nhất hai nhu cầu khác nhau trong quá trình tiêu dùng du lịch của khách với mức giá gộp xác định trước và bán cho khách trước khi tiêu dùng của khách.”

Chương trình du lịch như là một dịch vụ tổng hợp, mang tính trọn vẹn đượctạo nên từ các dịch vụ riêng lẻ của các nhà cung cấp khác nhau Do vậy, chươngtrình du lịch mang đầy đủ các đặc điểm của dịch vụ Các đặc điểm đó là: Tính vôhình, tính không đồng nhất, tính phụ thuộc vào nhà cung cấp, tính dễ dàng bị saochép, tính thời vụ cao, tính khó đánh giá chất lượng và tính khó bán

Phân loại chương trình du lịch:

 Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh:

Chương trình du lịch chủ động

Chương trình du lịch bị động

Chương trình du lịch kết hợp: là sự kết hợp hai loại trên

 Căn cứ vào các dịch vụ cấu thành và mức độ phụ thuộc trong tiêu dùng:

Chương trình du lịch trọn gói có người tháp tùng

Chương trình du lịch có Hướng dẫn viên từng chặng

Chương trình du lịch độc lập tối thiểu

Chương trình du lịch độc lập đầy đủ

Chương trình tham quan

 Căn cứ vào mức giá:

Chương trình du lịch theo mức giá trọn gói

Chương trình du lịch theo mức giá cơ bản

Chương trình du lịch theo mức giá tự chọn

 Căn cứ vào mục đích chuyến du lịch và loại hình du lịch:

Chương trình du lịch nghỉ ngơi, giải trí, chữa bệnh

Chương trình du lịch theo chuyên đề: văn hóa, lịch sử, phong tục tậpquán

Trang 28

Chương trình du lịch công vụ MICE (hội họp, khuyến thưởng, hội nghị,triển lãm).

Chương trình du lịch tàu thủy

Chương trình du lịch tôn giáo tín ngưỡng

Chương trình du lịch sinh thái

Chương trình du lịch thể thao, khám phá, mạo hiểm

Chương trình du lịch đặc biệt như tham quan chiến trường xưa cho cáccựu chiến binh

Chương trình du lịch tổng hợp: là sự tập hợp của hai hay nhiều chươngtrình du lịch trên

Ta có thể thấy, ca trù thuộc vào yếu tố văn hóa của Việt Nam nói chung, của

Hà Nội nói riêng Đồng thời dựa vào sự phân loại chương trình du lịch trên, chúng

ta xếp ca trù vào chương trình du lịch theo chuyên đề, thường là chương trình dulịch văn hóa – lịch sử để xây dựng các chương trình du lịch cụ thể

1.3.2 Quy trình xây dựng một chương trình du lịch:

Gồm sáu bước:

 Bước 1: nghiên cứu thị trường, gồm thị trường cung và cầu

 Bước 2: Xây dựng chương trình khung

 Bước 3: Xây dựng chương trình chi tiết

 Bước 4: Lựa chọn dịch vụ, điểm tham quan, nhà cung cấp

 Bước 5: Tính giá thành, giá bán, điểm hòa vôn

 Bước 6: Xác định điều khoản thực hiện

Một chương trình du lịch phải đảm bảo chất lượng – năng suât – hiệu quả:

 Phải bán được – chương trình du lịch phù hợp với nhu cầu

 Phải khả thi – Nhà cung cấp dịch vụ phù hợp với giá bán

 Phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý từng loại khách

1.3.3 Khả năng khai thác ca trù trong kinh doanh du lịch:

1.3.3.1 Mối quan hệ giữa nhu cầu của khách du lịch với chương trình du lịch

tham quan thưởng thức ca trù:

Hà Nội luôn tự hào là thành phố có bề dầy truyền thống văn hóa lịch sử,mảnh đất ngàn năm văn hiến; là điểm đến hấp dẫn của khách du lịch trong nước vàquốc tế Cùng với những thắng cảnh, di tích lịch sử; các loại hình văn hóa phi vậtthể đang tạo bản sắc rất riêng cho thành phố du lịch này, nhất là khi nhiều loại hình

Trang 29

văn hóa đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới, Hà Nội càng trở thành địachỉ được quan tâm đối với khách du lịch

Giá trị của văn hóa phi vật thể có sức hút lớn (Ảnh: Cát Tường)

Còn ngành du lịch thành phố cũng tích cực đưa loại hình du lịch văn hóa phivật thể vào khai thác, nhằm chuyển tải đến bạn bè quốc tế về một Thủ đô hào hoa,thanh lịch, giàu nhân văn

Loại hình văn hóa hấp dẫn của du lịch

Ông Mai Tiến Dũng, Phó Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nộikhẳng định: “Trong những năm qua, tạp chí du lịch có uy tín của Mỹ Travel &Leisure liên tiếp bình chọn Hà Nội là một trong những thành phố du lịch tốt nhấtchâu Á và năm 2009, Hà Nội được bình chọn đứng thứ 3 Sở dĩ Hà Nội đạt được vịtrí bình chọn cao do có nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn phong phú, hấp dẫn;trong đó văn hóa phi vật thể đóng góp một vai trò rất quan trọng Chính vì vậy, vănhóa phi vật thể là nguồn tài nguyên du lịch rất đặc sắc”

Văn hóa phi vật thể của Hà Nội được các nhà nghiên cứu văn hóa, các nhà

du lịch đánh giá cao với nhiều loại hình đặc sắc như ca trù, rối nước, các điệu múacổ thậm chí cả phong tục tập quán sinh hoạt của người Hà Nội gốc Theo đó, cácloại hình văn nghệ dân gian như xẩm, ca trù, rối nước, rối cạn, chèo Tàu, quan họ,múa rồng, các điệu múa cổ thu hút không ít khách nước ngoài tìm đến tìm hiểukhi khám phá về văn hóa Hà Nội Đặc biệt, quan họ Bắc Ninh và ca trù được côngnhận là di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam đã góp phần khẳng định những giátrị to lớn của các loại hình biểu diễn nghệ thuật

Trang 30

"Năm 1994, đĩa hát của nhóm Ca trù Thái Hà được báo Thế giới Âm nhạc(Le Monde de la Musique) gọi là chấn động âm nhạc Viện trưởng Âm nhạc Pháp

gọi ca trù là một trong những đỉnh cao của âm nhạc nhân loại” Khán phòng 250

chỗ ngồi của L’Espace dường như quá chật so với nhu cầu thưởng thức của khángiả Dù nhu cầu đến từ nhiều lý do (say mê, tò mò, trào lưu…) thì con số khán giảtới với đêm diễn cũng là một thực tế tích cực với những người tổ chức và biểu diễn.Trong số những khán giả tới với đêm diễn, có rất nhiều nhân sỹ, trí thức nổi tiếngnhư Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Tiến sỹ Nguyễn Quang A, dịch giả DươngTường… nhiều văn nghệ sỹ và không ít khán giả trẻ tuổi

Điều đó chứng tỏ văn hóa Hà Nội, hay các loại hình nghệ thuật biểu diễn như

ca trù có sức hút mạnh mẽ, phù hợp với nhu cầu và xu hướng của du khách nướcngoài, đặc biệt với khách du lịch với mục đích tìm hiểu văn hóa, mà tiêu biểu ở đây

Hơn nữa, Hà Nội được công nhận là thành phố vì Hòa Bình, được biết đến làtrung tâm văn hóa, chính trị của cả nước Hà Nội hiện có hệ thống khách sạn khácao cấp (9 khách sạn 5 sao, 9 khách sạn 4 sao, 23 khách sạn 3 sao, nhiều khách sạn

2 sao và các cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn tối thiểu), tuy nhiên với lượng khách được

dự báo là sẽ tăng đột biến trong năm 2010 thì Hà Nội sẽ phải tính toán đến nhu cầuphòng nghỉ cho khách lưu trú Theo đó, trong số những công trình trọng điểm chàomừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, có nhiều khách sạn cao cấp (trong

số 23 dự án đã đăng ký) sẽ được hoàn thành vào năm 2010

Điều kiện phục vụ đi lại, an ninh trật tự và môi trường tự nhiên xã hội đượcđảm bảo

Tại Hà Nội hiện nay tập trung nhiều nhất các nghệ nhân ca trù, các câu lạc

bộ, các trung tâm ca trù, và đã ra đời một nhà hát ca trù

Từ những điều trên đã cho ta thấy khả năng đáp ứng nội dung của chươngtrình du lịch tham quan thưởng thức ca trù

Trang 31

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CA TRÙ

ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI HÀ NỘI

Khi nói tính đặc trưng trong âm nhạc Hà Nội, không gì bằng nói đến khotàng âm nhạc dân gian của vùng đó, để khi nét nhạc ấy vang lên thì người nghenhận ra ngay, nó là ngôn ngữ âm nhạc của Hà Nội mà không cần phải kèm theo ca

từ là những địa danh như: Hoàn Kiếm, Đông Đô nữa Chẳng hạn như Dân ca Quan

họ Bắc Ninh, ví dặm Nghệ Tĩnh, Ca Huế và các điệu Lý ở phía Nam v.v Âm nhạc

Trang 32

dân gian cổ truyền của Hà Nội chính là dòng nhạc Ca Trù Dòng nhạc ấy ngay từthời Lý đã phát triển rực rỡ, từng có một ca sĩ tên là Đào Thị: Hát hay, múa giỏiđược vua Lý Thái Tổ (1010 - 1028) ban thưởng nên dòng nhạc ấy về sau còn có tên

là hát Ả Đào (theo Đại Việt Sử ký Toàn thư tập 1 kỷ nhà Lý)

Việc khẳng định Ca Trù là âm nhạc dân gian truyền thống của Hà Nội có cộinguồn từ nhạc Cung Đình xưa kia là góp phần gìn giữ và phát huy di sản văn hóacủa triều Lý để lại; trong đó có dấu tích của Người sáng lập ra kinh đô Thăng Long,

đã từng khen ngợi dòng nhạc này, bằng việc ban thưởng cho nữ nghệ sĩ Đào Thị,điều đó như một Chiếu chỉ hay lời Di huấn Nhờ vậy mà dòng nhạc Ca Trù đạt đến

độ thẩm mỹ cao như ngày nay, không những chúng ta mà người sành âm nhạc củanước ngoài cũng ngưỡng mộ Và mặc dù, nó có tỏa về lại các nơi tạo ra những dịbản, nhưng không có Ca Trù của nơi nào lại có đủ tư chất thanh cao, tao nhã như lối

Ca Trù của Hà Nội

2.1 Thực trạng khai thác giá trị ca trù tại một số cơ sở:

2.1.1 Các câu lạc bộ ca trù

Câu lạc bộ ca trù Bích Câu Đạo Quán

Sinh hoạt: sáng chủ nhật tuần thứ hai và tuần thứ tư của tháng.Địa điểm: 14 Cát Linh – Đống Đa – Hà Nội

Chủ nhiệm: Lê Thị Bạch Vân

Số điện thoại: 0913 544 876

Câu lạc bộ ca trù Thăng Long.

Ca trù Thăng Long do nghệ nhân Nguyễn Phú Đẹ và nghệ nhân Nguyễn ThịChúc thành lập hồi tháng 8/2006 tới nay đã được 4 năm Các cụ đã đều ở tuổi ngoài

80, nay việc truyền dạy cũng đã được một số ca nương kép đàn vững nghề lại có thểđảm đương việc phục dựng lối hát thờ cửa đình phục vụ trong các dịp lễ hội và đềuđặn dạy trống chầu miễn phí cho thính giả mong ca trù tới gần hơn với người dân.Việc lập giáo phường đã được ấp ủ bấy lâu, nay thuận tiết trời xin ra mắt công bốchính thức lập lại tổ chức giáo phường xưa kia để tiện cho việc gìn giữ, bảo tồnnghệ thuật ca trù của tổ tiên để lại

Điều vinh dự và đặc biệt của Lễ ra mắt này chúng ta sẽ được gặp gỡ và tròchuyện với giáo sư Trần Văn Khê người đã mang nghệ thuật ca trù truyền bá khắpthế giới từ những 1978 Và, người có công trong cuộc điện dã tìm lại những thư tịch

cổ, nghệ nhân trong khắp 14 tỉnh thành để xây dựng hồ sơ đệ trình UNESCO dòng

dã suốt mấy năm qua- nhà nghiên cứu âm nhạc Đặng Hoành Loan

Trang 33

 Địa chỉ: số 40 ngõ 32, Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội.

 Điện thoại: 01.223.266.897

 Email: info@catruthanglong.com

 Sinh hoạt: 8h tối chủ nhật hàng tuần

Câu lạc bộ ca trù Lỗ Khê

Thôn Lỗ Khê thuộc xã Liên Hà, huyện Đông Anh, Hà Nội tên nôm là làng

Rỗ, trước 1945 là xã Lỗ Khê, tổng Hà Lỗ, phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh năm 1961chuyển về Hà Nội Hát Ca trù ở Lỗ Khê có lịch sử phát triển gần 600 năm nay, sựtích truyền lại rằng năm 1426 Đinh Dự ( con trai đầu của tướng quân Đinh Lễ) và

vợ là Mẫn Đường Hoa sáng lập ra giáo phường Lỗ Khê chuyên hát phục vụ chocung đình, hát mừng thọ, hát mừng đăng quang, mừng khao vọng, động viên binh sĩ

và hát giải sầu giải bệnh cho vua chúa Ngoài giáo phường Lỗ Khê, Đinh Dự vàMẫn Đường Hoa còn thành lập nhiều giáo phường khác và được thờ làm tổ nghề catrù

Giáo phường Lỗ Khê trước đây hoạt động trong một số huyện của tỉnh BắcNinh cũ, với 12 họ phân bố ở 12 làng xã có tổ chức Cách đây chừng 70 năm, một

số gia đình ra sinh sống ở Hà Nội, mở nhà hát hình thành 3 lớp " Cô đầu, đầu chú,còn đại bộ phận giáo phường đi hát cửa đình ở một số tỉnh bắc bộ Chương trình hátcửa đình rất phong phú, gồm 4 phần nội dung : phần tế tự có 8 tiết mục và phầndiễn trò của các đào kép Ngày trước hát ca trù là một nghề kiếm sống, trong giađình chồng đàn vợ hát, cha đàn con hát, từ nhỏ con các đã làm quen với nghề và khiđến 18 tuổi vào nghề chính thức

Hát ca trù ở Lổ Khê đã có từ lâu đời, nhưng ,mấy chục năm qua đã sa sút,nhưng cơ may khôi phục lại ca trù đã đến với Lỗ Khê, các nghệ nhân ca trù hoạtđộng trở lại một cách hào hứng Ngày 12-11-1995 Câu lạc bộ chính thức thành lậpvới 80 hội viên trong số đó có 20 hội viên biết đàn hát, đó là các nghệ nhân dạy đànNguyễn Văn Hành, Nguyễn Văn Hoan nghệ nhân dạy hát Dương Thị Nhiên, ĐỗThị Nguyệt , Nguyễn Thị Vân, cùng với sự cố gắng của Câu lạc bộ cơ quan văn hóathành phố tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho câu lạc bộ hoạt động

Chủ nhiệm câu lạc bộ là nghệ nhân trống chầu Nguyễn Văn Phùng Hiện tạiCLB ca trù Lỗ khê có một đội ngũ đông đảo thế hệ nghệ nhân Có những nghệ nhâncao niên 70-80-90 tuổi, đã từng đàn hát từ trước năm 1945, như cụ Phạm thị Mùi,

cụ bà Dương Thị Nhiên và nhiều cụ bà trên 70 được dạy hát từ khi còn bé và đãnhiều và sau đó đã được học lại một cách bài bản đây là lực lượng sung sức, lực

Trang 34

lượng nền cho câu lạc bộ, thế hệ thứ ba dưới 40 tuổi Câu lạc bộ có nhiều thành viênđược học lớp diễn viên ca trù trẻ do cục nghệ thuật biểu diễn tổ chức, qũy FORD tàitrợ, và đặc biệt là các cháu từ 10-19 tuổi hiện rất đông, có đến 62 cháu được nghệnhân trẻ Phạm Thị Mận truyền dạy nghề một cách tận tình và kinh nghiệm, chị cũng

là người có giọng hát ca trù hay, thế hệ thứ 3 - 4 này sẽ là tương lai vàng xa của Câulạc bộ Ca trù Lỗ Khê

Câu lạc bộ Ca trù Lỗ Khê từ khi tái thành lập đến nay đã có nhiều hoạt độngphong phú như đào tạo, dàn dựng chương trình biểu diễn,ghi chép lại các bài bảntruyền thống và sáng tác bài bản mới Ngoài biểu diễn ở địa phương, Câu lạc bộ

Ca trù Lỗ Khê còn phục vụ khán thính giả yêu thích ca trù trong nhiều tỉnh, địaphương khác

Với thành tích đóng góp của mình, Câu lạc bộ ca trù Lỗ Khê được trao nhiềuphần thưởng qúy như : Sở VHTT Hà Nội tặng bức tượng : " Liên hoan ca trù HàNội mở rộng năm 2000" Bộ Văn hóa Thông tin tặng Huy chương Vàng cho lớp nữ "Múa Bỏ Bộ" ,"Giấy khen của Cục nghệ thuật biểu diễn" Câu lạc bộ đã phục vụ hátcữa đình 16 lần ở nhiều địa điểm và thường xuyên biểu diễn phục vụ mừng thọ,mừng công, các dịp lễ tết tại địa phương và Hà nội Một vinh dự lớn đối với câu lạc

bộ - đã được biểu diễn phục vụ Đại hội 8 của Đảng

Câu lạc bộ cũng có nhiều thành viên tặng thưởng như nghệ nhân Nguyễn ThịMùi được tặng " Huy chương vàng vì sự nghiệp văn hóa" chị Phạm Thị Mận đượctặng 1 Huy chương vàng ,2 huy chương bạc và nhiều bằng khen, giấy khen của các

cơ quan văn hóa đặc biệt đình Lỗ Khê thờ nhiều vị thần, trong đó có Đình Dự vàMẫn Đường Hoa được xếp hạng cấp quốc gia là di sản văn hóa qúy báu cho nhândân Lỗ Khê và Câu lạc bộ ca trù Lỗ Khê

Câu lạc bộ là nơi tập trung những người có cùng sở thích, để sinh hoạt, traođổi đơn thuần và không mang tính chất kinh doanh Chính vì vậy, sự sinh hoạt của

ba câu lạc bộ này nhằm duy trì ca trù, chưa có sự liên doanh, liên kết kinh tế với cáccông ty lữ hành Vốn thường là do sự đóng góp của các hộ viên, từ sự ủng hộ giúp

đỡ của Nhà nước, hoặc tổ chức nào đó

2.1.2 Trung tâm UNESCO ca trù

Trung tâm UNESCO Ca trù là một tổ chức trực thuộc Hiệp hội CLBUNESCO Việt Nam.Chuyên sưu tầm, nghiên cứu khoa học, đào tạo, biểu diễn vàphổ biến ca trù, góp phần vào việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy ca trù - môn nghệthuật hát đặc sắc và độc đáo của Dân tộc

Ngày đăng: 17/07/2013, 19:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bảo tồn ca trù không thể làm theo lối “luyện thi cấp tốc”, vnmedia.vn, 7/04/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn ca trù không thể làm theo lối “luyện thi cấp tốc”
2. Biểu diễn và giao lưu ca trù Hà Nội, web-du-lich.com, 6/4/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu diễn và giao lưu ca trù Hà Nội
3. Bùi Kim Dung, Hát nói ở thế kỷ XX, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, ĐHSP Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát nói ở thế kỷ XX
4. Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề, Việt Nam ca trù biên khảo, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam ca trù biên khảo
Nhà XB: Nxb TP. Hồ Chí Minh
5. Đỗ Thị Hồng Vân, Những đổi mới của hát nói cuối thế kỷ XIX, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, ĐHSP Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới của hát nói cuối thế kỷ XIX
6. Ca trù đã thực sự hồi sinh, báo Lao động, 23/10/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca trù đã thực sự hồi sinh
7. Ca trù đã qua vòng thẩm định của Unesco, thethaovanhoa.vn, 21/04/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca trù đã qua vòng thẩm định của Unesco
8. Ca trù đón xuân, tuoitre.com.vn, 17/01/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca trù đón xuân
9. Ca trù một cốt cách độc đáo của nghệ thuật truyền thống, dangcongsan.com, 14/05/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca trù một cốt cách độc đáo của nghệ thuật truyền thống
10. Ca trù Thăng Long vừa khai trương đã bị ca cẩm, tintuc.timnhanh.com, 04/04/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca trù Thăng Long vừa khai trương đã bị ca cẩm
11. Ca trù - văn hoá - cội nguồn dân tộc, my.opera.com, 8/4/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca trù - văn hoá - cội nguồn dân tộc
12. “Cô Tây” mặc áo ca trù... Báo Thanh niên, 07/04/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cô Tây” mặc áo ca trù
15. Hạnh An, Đề nghị bảo vệ khẩn cấp Ca trù, toquoc.gov.vn, 21/4/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề nghị bảo vệ khẩn cấp Ca trù
16. Hồ sơ ca trù đã qua vòng thẩm định của UNESCO!, Báo Thể thao và văn hoá, 21/4/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ ca trù đã qua vòng thẩm định của UNESCO
17. Hồng Minh, Chuyên nghiệp hóa ca trù làm du lịch, báo Nhân dân, 28/ 3/ 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên nghiệp hóa ca trù làm du lịch
18. Kim Thanh, Giữ lửa cho ca trù, vovnews.vn, 28/01/2009 19. Kỳ Ninh, 86 tuổi truyền lửa ca trù, sggp. org.vn,14/9/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ lửa cho ca trù", vovnews.vn, 28/01/200919. Kỳ Ninh, "86 tuổi truyền lửa ca trù
20. Lận đận một chốn “thiên tiên”, Báo Hà Nội mới cuối tuần, 11/4/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lận đận một chốn “thiên tiên”
21. Mai Lan, Người hát ca trù đất phương Nam, giadinh.net.vn, 22/2/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người hát ca trù đất phương Nam
22. Mạnh Duy, Truyền nhân ca trù, vietbao.vn, 21 /11/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền nhân ca trù
23. Ngô Linh Ngọc, Ngô Văn Phú, Tuyển tập thơ ca trù, Nxb Văn hoá, H.1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập thơ ca trù
Nhà XB: Nxb Văn hoá

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG GIÁ -  GIẢI PHÁP NHẰM BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN CA TRÙ  TRONG KINH DOANH DU LỊCH TẠI ĐIỂM DU LỊCH HÀ NỘI
BẢNG GIÁ (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w