Thứ nhất, Nghiên cứu những vấn đề lý luận về kiểm soát chất lượng HĐKT BCTC, các phương pháp và kỹ thuật cần áp dụng để nâng cao hiệu quả của công tác kiểm soát chất lượng HĐKT. Thứ hai, nghiên cứu, khảo sát và đánh giá tình hình thực hiện quy trình KSCL hoạt động kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Deloitte Việt Nam. Thứ ba, nêu ra phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình kiểm soát chất lượng HĐKT tại Công ty kiểm toán Deloitte Việt Nam.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
I Sự cần thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam những năm đầu của thế kỷ 21 đang diễn ra nhữngchuyển biến hết sức mau lẹ, những ngành nghề kinh doanh mới ra đời, sự xâm nhậpngày càng nhiều của những doanh nghiệp nước ngoài Kiểm toán là một lĩnh vựctiêu biểu, tuổi đời chưa tròn 20 năm nhưng đây được coi là ngành có sức bật mạnh
mẽ Cơ hội lớn để phát triển đang rộng mở với tất cả công ty kiểm toán ở VN,nhưng cơ hội cũng chia đều cho tất cả không phân biệt là doanh nghiệp trong nướchay nước ngoài, cạnh tranh là một điều tất yếu
Người Việt Nam vẫn có thói quen dùng “hàng hiệu”, vậy để chiếm lĩnh đượcthị trường, sản phẩm mà các công ty kiểm toán đưa ra phải thật sự có thương hiệu,
và lẽ dĩ nhiên thương hiệu được làm nên từ chất lượng của sản phẩm đó Vấn đề đặt
ra ở đây là mặc dù đã xây dựng được tiêu chuẩn chất lượng mà dịch vụ kiểm toáncủa mình phải đạt được nhưng liệu khi dịch vụ đó đến tay KH nó có thật sự có đápứng được tiêu chuẩn đó hay không? KSCL hoạt động kiểm toán đó chính là chìakhóa dể giải quyết vấn đề này
Sự sụp đổ của Athur Andersen không còn là một điều xa vời nữa khi mà năm
2008 sự kiện BCKT về BCTC của Công ty CP Bông Bạch Tuyết mà trước đó nữa là
vụ bê bối xung quanh BCKT về BCTC của Công ty CP Đồ hộp Hạ Long, đã giónglên một tiếng chuông cảnh tỉnh tình trạng KSCL hoạt động kiểm toán lỏng lẻo ởViệt Nam hiện nay, đặc biệt là đối với các Công ty kiểm toán Việt Nam
Xuất phát từ những lý do trên, qua thời gian thực tập tại Công ty TNHH
Deloitte VN, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện quy trình kiểm soát chất lượng hoạt
động kiểm toán BCTC do Công ty TNHH Deloitte VN thực hiện” nhằm giới thiệu
về quy trình KSCL HĐKT BCTC đang được áp dụng tại Công ty Đồng thời, mạnhdạn đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KSCL kiểm toán
Trang 2II Mục đích nghiên cứu của đề tài
Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài, về yêu cầu thực tiễn đối với công tácKSCL hoạt động kiểm toán BCTC, khóa luận này đặt ra các mục tiêu cần đạt đượcnhư sau:
Thứ nhất, Nghiên cứu những vấn đề lý luận về kiểm soát chất lượng HĐKT
BCTC, các phương pháp và kỹ thuật cần áp dụng để nâng cao hiệu quả của công táckiểm soát chất lượng HĐKT
Thứ hai, nghiên cứu, khảo sát và đánh giá tình hình thực hiện quy trình
KSCL hoạt động kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Deloitte Việt Nam
Thứ ba, nêu ra phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình kiểm
soát chất lượng HĐKT tại Công ty kiểm toán Deloitte Việt Nam
III Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu các vấn đề về chất lượng và
kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán BCTC do các công ty kiểm toán độc lậpthực hiện
Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận chỉ nghiên cứu vấn đề KSCL hoạt động
kiểm toán BCTC trong nội bộ Công ty TNHH Deloitte Việt Nam Các vấn đề kiểmsoát chất lượng dịch vụ kiểm toán một cách độc lập từ bên ngoài không thuộc đốitượng nghiên cứu của khóa luận này
Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận sử dụng phương pháp quan sát, tổng
hợp, phân tích, so sánh… Thông qua nghiên cứu các tài liệu tham khảo để tìm hiểu
về thực tiễn công tác KSCL hoạt động kiểm toán, và thông qua quá trình thực tế tạiCông ty kiểm toán Deloitte Việt Nam kết hợp với kiến thức đã học để tổng hợp,đánh giá thực trạng và phân tích đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tácKSCL hoạt động kiểm toán một cách hiệu quả, có hệ thống và có tính khả thi
Kết quả nghiên cứu: Khóa luận làm rõ những vấn đề cơ bản nhất trong lý
luận về kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán Từ đó, làm cơ sở cho việc tiếpcận thực tiễn quy trình này tại Công ty TNHH Deloitte Việt Nam Qua đó, khóaluận cũng rút ra những thành công và những hạn chế trong quy trình KSCL hoạt
Trang 3động kiểm toán do Công ty TNHH Deloitte Việt Nam thực hiện, trên cơ sở đó khóaluận cũng mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữaquy trình KSCL hoạt động kiểm toán do Công ty TNHH Deloitte Việt Nam thựchiện.
IV Nội dung của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của khóa luận bao gồm ba phần:
Phần 1: Lý luận chung về kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán Báo cáo tài chính.
Phần 2: Thực trạng công tác kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán BCTC do Công ty TNHH Deloitte Việt Nam.
Phần 3: Hoàn thiện quy trình kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán BCTC do Công ty TNHH Deloitte Việt Nam thực hiện.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Kế toán – kiểm toántrường Đại học Kinh tế quốc dân, đặc biệt là TS Tô Văn Nhật, cùng các anh chịtrong công ty TNHH Deloitte Việt Nam đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ để em hoànthành tốt khóa luận tốt nghiệp này
Trang 4PHẦN 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1 Khái quát về kiểm toán độc lập
1.1.1 Khái niệm về kiểm toán độc lập
“Kiểm toán” là thuật ngữ nghề nghiệp và là hoạt động nghiệp vụ đã xuất hiện
từ lâu trên thế giới và đuợc chấp nhận ở Việt Nam từ những năm đầu đổi mới Nói
về kiểm toán sẽ là sự đề cập đến một lĩnh vực khá rộng, bởi nó song song tồn tại đốivới tất cả mọi loại hình kinh doanh, nghành nghề và lĩnh vực kinh doanh đặc biệt làtrong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn này tôi chỉ đề cậpđến loại hình kiểm toán độc lập, bởi đây là loại hình kiểm toán tuy ra đời sau nhưnglại có vai trò qua trọng đối vói sự phát triển kinh tế, nó cũng mang đầy đủ nhất cácsắc thía của “kiểm toán” Đặc biệt , đối với kiểm toán độc lập vấn đề kiểm soát chấtlượng luôn là một bài toán khó nhưng bắt buộc các công ty kiểm toán, các nhàhoạch định chính sách phải tìm ra lời giải
Thực tế, có rất nhiều tiêu thức khách nhau để phân loại kiểm toán tuy nhiêncách thức thông dụng nhất là phân loại theo tổ chức bộ máy, bao gồm: kiểm toánnhà nước, kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập Trong đó, kiểm toán độc lập đượcxem là hoạt động đặc trưng của nền kinh tế thị trường Theo Liên đoàn kế toán quốc
tế ( Internation Federation of Acountants) thì: “Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra
và trình bày ý kiến của mình về các bảng khai tài chính” Nghị định số105/2004/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 30/03/2004 ghi rõ: “ Kiểm toán độclập là việc kiểm tra và xác nhận của KTV và các doanh nghiệp kiểm toán về tínhtrung thực hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính của cácdoanh nghiệp, tổ chức ( gọi chung là đơn vị được kiểm toán) khi có yêu cầu của đơn
vị này” Như vậy, kiểm toán độc laapjlaf loại kiểm toán được tiến hành bởi cácKTV thuộc các công ty, văn phòng kiểm toán chuyên nghiệp, là hoạt động dịch vụ
tư vấn được pháp luật thừa nhận và quản lý chặt chẽ Như vậy có thể thấy rõ, các
Trang 5khách hàng, sản phẩm chính mà họ đưa ra trên thị trường đó chính là dịch vụ kiểmtoán BCTC.
Kiểm toán độc lập ra đời không phải là hoạt động tự thân, vị thân mà là mộtnhu cầu tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường Mặt khác, khi nền kinh tế thịtrường ngày càng phát triển thì yêu cầu hoàn thiện hơn nữa kiểm toán độc lập, nângcao chất lượng kiểm toán đó chính là một tất yếu khách quan
1.1.2 Vai trò của kiểm toán độc lập trong nền kinh tế thi trường
Câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao lại khẳng định kiểm toán độc lập là nhu cầu tấtyếu khách quan của nền kinh tế thị trường, và nâng cao chất lượng hoạt động kiểmtoán cũng là một tất yếu khách quan? Lý giải điều này cần phải tìm hiểu đến vai tròcủa kiểm toán độc lập trong nền kinh tế thị trường
Chỉ qua hơn 15 năm hình thành và tham gia vào thị trường, hoạt động kiểmtoán độc lập đã đạt được những thành tựu đáng tự hào, khẳng định vai trò thiết yếucủa mình trong dời song kinh tế - xã hội của đất nước
Trước hết, kiểm toán độc lập làm tăng mức độ tin cậy của các thông tin tài
chính đồng thời làm lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế Bằng các nghiệp vụ chuyênmôn, bằng các hoạt động khách quan và độc lập, kiểm toán đánh giá, xác nhận mộtcách trung thực có căn cứ về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp, qua đó nâng cao độ tin cậy của thông tin kinh tế tài chính do kế toán xử lý
và cung cấp, giảm bớt hoạt động thanh tra, kiểm tra mang nặng tính hành chính.Đồng thời, kiểm toán sẽ đảm bảo sự trung thực, khách quan, tin cậy của các thôngtin kinh tế -tài chính khi cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin Cũng thôngqua quá trình kiểm toán, KTV còn đưa ra những ý kiến kiến nghị giúp doanh nghiệphoàn thiện hệ thống kiểm soát, nâng cao hiệu quả quản lý tài chính cũng như hoạtđộng sản xuất kinh doanh
Thứ hai, hoạt động kiểm toán giúp doanh nghiệp tìm được tiếng nói chung,
sự tin cậy lẫn nhau, thẳng thắn trung thực trình bày về thực trạng tài chính của mình
để có thể đánh giá lựa chọn đối tác kinh doanh phù hợp Hơn thế nữa, chi phí vàthời gian cho một cuộc kiểm toán cũng ít hơn chi phí doanh nghiệp phải bỏ ra nếu
Trang 6phải đàm phán để đánh giá, chứng minh tình hình tài chính của mỗi bên trước khi
có những thỏa thuận hợp tác kinh doanh
Thứ ba, kiểm toán độc lập đóng vai trò quan trọng trong mở rộng quan hệ
đối ngoại, góp phần tạo lập và duy trì môi trường đầu tư thuận lợi minh bạch tincậy, thúc đẩy hoạt động đầu tư Kiểm toán độc lập giúp các nhà đầu tư trong vàngoài nước có điều kiện tiếp cận, tăng cường hiểu biết về luật pháp Việt Nam nóichung, luật pháp kinh tế tài chính nói riêng, nguyên tắc và các quy định về kế toán,kiểm toán Việt Nam Ngoài ra, kiểm toán độc lập cũng giúp các nhà đầu tư trongnước hiểu được các thông lệ và chuẩn mực quốc tế Đó là quá trình rút ngắn tiếntrình mở cửa, hội nhập kinh tế của Việt Nam
Cuối cùng, với tư cách là một ngành dịch vụ hoạt động trong lĩnh vực tài
chính, kiêm toán độc lập góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế phát triển thịtrường dịch vụ tài chính tiền tệ vốn rất mới mẻ và nhiều tiềm năng ở Việt Namtrong thời kỳ hội nhập sâu với kinh tế thế giới
1.2 Chất lượng hoạt động kiểm toán
Với vị trí và vai trò thiết yếu trong nền kinh tế thị trường, vấn đề kiểm soátchất lượng hoạt động kiểm toán cũng được đặt ở một mức độ cấp thiết tương xứng.Đây là vấn đề nóng hổi, rất được quan tâm của giớ đầu tư nói riêng, những người sửdụng thông tin nói chung cũng là vấn đề sống còn mà mỗi công ty kiểm toán trêncon đường phát triển của mình phải đặt ra
1.2.1 Khái niệm chất lượng hoạt động kiểm toán
Đối với bất kỳ một nghành nghề, lĩnh vực hoạt động nào thì yếu tố chấtlượng luôn là cái đích cần phải nhắm tới trong bối cảnh cạnh tranh như hiện nay.Chất lượng sẽ phản ánh những giá trị, lợi ích mà sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đóđem lại cho người tiêu dùng Đây là một phạm trù khá phức tạp được nhìn nhậntheo nhiều góc độ và phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của nền kinh tế
Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị
của con người, một sự vật, sự việc”.Theo Từ điển Kinh tế: “Chất lượng là tất cả các đặc tính của hàng hóa hay dịch vụ đáp ứng yêu cầu của người mua hoặc khách
Trang 7hàng Vật liệu tạo thành sản phẩm, thiết kế và kỹ thuật của sản phẩm, hoàn chỉnh sản phẩm và uy tín là những đặc tính quan trọng của chất lượng”.Theo định nghĩa
của Tiêu chuẩn Việt Nam 5200-ISO9000 thì: “Chất lượng là mức độ phù hợp của
sản phẩm hoặc dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu đề ra hoặc định trước của người mua”
Quan điểm chất lương rất đa dạng nhưng tựu chung lại có thể hiểu đó là sựthỏa mãn nhu cầu tiêu dùng với những điều kiện nhất định, mà ở đây chính là chiphí hợp lý
Kiểm toán, về bản chất cũng là một ngành cung cấp dịch vụ do vậy việc theođuổi chất lượng là một điều cần thiết Tuy nhiên, để có được sự nhìn nhận đúng đắnnhất về khía niệm chất lượng hoạt động kiểm toán, cần phải đứng trên nhiều góc độkhác nhau.Theo cách thức và quan điểm chung về chất lượng như các định nghĩa đãnêu, tác giả Ngô Đức Long đã tiến hành điều tra tại các công ty kiểm toán đang hoạtđộng ở Việt nam với tư cách là nhà cung cấp dịch vụ và các khách hàng với tư cách
là đối tượng sử dụng dịch vụ, cho thấy các quan điểm về chất lượng kiểm toán hiệnnay như sau :
- Các quan điểm về chất lượng kiểm toán từ phía các đối tượng sử dụng dịch
vụ kiểm toán
Theo kết quả điều tra 54 đối tượng khách hàng, cho thấy các quan điểm vềchất lượng của họ đều tập trung vào các vấn đề như sau: 98% trong số các kháchhàng được phỏng vấn đều cho rằng chất lượng kiểm toán thể hiện việc tuân thủ theođúng chuẩn mực kiểm toán, 85% khách hàng cho rằng chất lượng kiểm toán thểhiện ở việc các KTV có nhiều ý kiến tư vấn, góp ý cho khách hàng trong quá trìnhkiểm toán, 44% khách hàng cho rằng chất lượng kiểm toán là việc tính phí kiểmtoán ở mức thấp và hợp lý, 63% khách hàng cho rằng chất lượng kiểm toán là việcKTV đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng, 85% khách hàng cho rằng chấtlượng kiểm toán thể hiện ở tính chuyên nghiệp của KTV
Cũng theo kết quả điều tra trên thì đa số các khách hàng đều cho rằng mongmuốn của họ đối với KTV là có được ý kiến chính xác, trung thực, khách quan về
Trang 8các thông tin tài chính đã được kiểm toán, đồng thời trong những trường hợp cầnthiết, đưa ra các hướng dẫn giúp khách hàng lập được báo cáo tài chính phù hợp vớicác chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành đồng thời nâng cao hiệu quả công tácquản lý của họ Các khách hàng cho rằng giá phí kiểm toán không thể hiện chấtlượng kiểm toán, tuy nhiên cũng không muốn việc để có được ý kiến kiểm toán màphải bỏ ra khoản chi phí với bất cứ giá nào
Một số khách hàng mà chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước và các doanhnghiệp ngoài quốc doanh mong muốn rằng, kiểm toán sẽ là sự đảm bảo chắc chắnrằng mọi sai sót, gian lận hoặc bất cứ điểm bất hợp lý nào trong công tác kế toánđều được phát hiện và báo cáo lại Ban giám đốc, đồng thời đưa ra phương án sửađổi chỉnh lý hoặc tiến hành các bước kiểm tra bổ sung nhằm đưa ra ý kiến chấpnhận toàn bộ đối với báo cáo tài chính
Do vậy có thể khái quát quan niệm về chất lượng kiểm toán theo góc độ củakhách hàng gồm các nội dung là: (1) Chất lượng kiểm toán thể hiện ở sự tuân thủtheo đúng chuẩn mực kiểm toán; (2) là sự thoả mãn nhu cầu của khách hàng về dịch
vụ mà họ được cung cấp trong đó rõ nét nhất là những ý kiến giúp khách hàng thựchiện hiệu quả công tác quản lý; (3) Chi phí cho dịch vụ kiểm toán thấp một cáchhợp lý và (4) thể hiện ở tính chuyên nghiệp của KTV
- Quan điểm của các công ty kiểm toán về chất lượng kiểm toán
Kết quả điều tra tại 5 công ty kiểm toán quốc tế và các công ty kiểm toán lớn
là doanh nghiệp nhà nước cùng một số đại diện các công ty kiểm toán tư nhân chothấy các quan điểm về chất lượng kiểm toán đều thống nhất và tập trung vào các nộidung sau:
- Chất lượng kiểm toán là việc thoả mãn mong muốn của khách hàng và không tráipháp luật
- Chất lượng kiểm toán là việc hoạt động kiểm toán tuân theo đúng chuẩn mực kiểmtoán
- Cuộc kiểm toán phải đem lại lợi nhuận cho công ty
Trang 9- Chất lượng kiểm toán là việc đồng thời đảm bảo mục tiêu là đưa ra ý kiến về báocáo tài chính và mang lại các lợi ích bổ sung cho khách hàng
Cũng giống như các quan điểm của các khách hàng, tất cả các công ty kiểmtoán được hỏi đều khẳng định rằng chất lượng kiểm toán phải là sự tuân thủ cácchuẩn mực kiểm toán, thoả mãn các mong muốn của khách hàng Tuy nhiên lợinhuận là bản chất của hoạt động kinh doanh, do vậy các công ty kiểm toán lại chorằng cuộc kiểm toán có chất lượng thì phải là mang lại lợi nhuận cho công ty.Ngược lại về phía người tiêu dùng thì chất lượng phải thể hiện mối quan hệ tỷ lệgiữa chi phí bỏ ra để thoả mãn nhu cầu đó, theo đó giá phí kiểm toán phải thấp mộtcách hợp lý Về hình thức thì dường như 2 quan điểm này mâu thuẫn nhau, nhưngtrong thực tiễn thì các yêu cầu đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, là tiền đề cho sựphát triển Các công ty kiểm toán lấy lợi ích, sự phát triển của khách hàng làm mụctiêu phục vụ theo đó quan niệm chất lượng kiểm toán cần phải mang lại lợi nhuậncho công ty là vấn đề đặt ra cho mục tiêu quản lý của bản thân các công ty kiểmtoán nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
- Dưới góc độ của người làm công tác quản lý hoạt động kiểm toán
Chất lượng kiểm toán được thể hiện tại Chuẩn mực kiểm toán số 220- Kiểm
soát chất lượng hoạt động kiểm toán “Chất lượng hoạt động kiểm toán là mức độ
thoả mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của KTV; đồng thời thoả mãn mong muốn của đơn vị được kiểm toán về những ý kiến đóng góp của KTV, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong thời gian định trước với giá phí hợp lý” Theo tôi, khái
niệm này chỉ giới hạn trong phạm vi ý kiến kiểm toán, là kết quả của hoạt độngkiểm toán mà không tính đến quá trình thực hiện kiểm toán Thực tế, kiểm toán làmột ngành khoa học độc lập, một nghề nghiệp được thừa nhận trong xã hội đồngthời cũng là một ngành cung cấp dịch vụ trong nền kinh tế thị trường Hoạt độngkiểm toán và kết quả hoạt động kiểm toán có những ảnh hưởng nhất định đối vớinền kinh tế Do vậy, cần phải thừa nhận rằng, chất lượng hoạt động kiểm toán vừa
Trang 10là cái làm nên phẩm chất, giá trị của hoạt động kiểm toán vừa là chất lượng dịch vụkiểm toán.
Kết hợp giữa mục đích, ý nghĩa của kiểm toán trên cơ sở nhìn nhận trên mọigóc độ, có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất về chất lượng kiểm toán như sau:
“Chất lượng kiểm toán là mức độ thoả mãn về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của những đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán, đồng thời thoả mãn về mong muốn có được những ý kiến đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính, kế toán của đơn vị được kiểm toán với thời gian định trước và giá phí thích hợp”.( Theo tác giả Ngô Đức long)
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán:
Trên cơ sở thống nhất định nghĩa chất lượng kiểm toán như đã nêu ở mụctrên, các chỉ tiêu dùng để đánh giá chất lượng hoạt động kiểm toán như sau:
- Mức độ thoả mãn về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán
của những người sử dụng kết quả kiểm toán
Tính khách quan, độc lập của KTV là điều kiện trước hết để đảm bảo ý nghĩa
và giá trị sử dụng của dịch vụ kiểm toán độc lập Những người sử dụng kết quảkiểm toán chỉ thật sự hài lòng và thoả mãn khi họ tin tưởng rằng ý kiến kiểm toánđưa ra dựa trên các cơ sở đó: (i) ý kiến kiểm toán được đưa ra bởi chuyên gia kiểmtoán có đủ năng lực, trình độ chuyên môn; (ii) tính độc lập, khách quan của ý kiếnkiểm toán Để đánh giá được chỉ tiêu này, người ta xem xét tính tuân thủ các chuẩnmực nghề nghiệp của KTV và của công ty kiểm toán, điều này thể hiện khá rõ quatính chuyên nghiệp của KTV trong quá trình thực hiện công việc kiểm toán.baogồm các khía cạnh sau: đảm bảo tính độc lập, khách quan và chính trực; kiến thức,
kỹ năng kinh nhiệm của KTV; các phương pháp thu thập và đánh giá bằng chứngkiểm toán; công tác giám sát, quản lý cuộc kiểm toán; các thủ tục soát xét, pháthành báo cáo kiểm toán; các khía cạnh khác
- Mức độ thoả mãn về sự đóng góp của KTV nhằm nâng cao hiệu quả quản
lý tài chính của đơn vị được kiểm toán theo đúng chế độ chính sách của nhà nước cũng như các qui định riêng của đơn vị
Trang 11Đối với các nhà quản lý đơn vị được kiểm toán, việc phát hiện và ngăn ngừacác sai sót trong quản lý tài chính, kế toán không phải lúc nào cũng hoàn hoản vàkiểm soát được toàn bộ Trách nhiệm của các KTV ngoài việc đảm bảo BCTC đókhông có sai sót trọng yếu thì phải chỉ ra những hạn chế yếu kém của hệ thốngKSNB, ảnh hưởng của những hạn chế đó cũng như các giải pháp hoàn thiện nângcao hiệu quả hoạt động SXKD của đơn vị được kiểm toán Đây chính là giá trị giatăng mà dịch vụ kiểm toán độc lập đưa lại cho những khách hàng của mình.
Mức độ thoả mãn của các nhà quản lý đơn vị đối với những đóng góp củakiểm toán không cụ thể hoá được bằng số lượng bởi có thể có hoặc không có cácphát hiện và kiến nghị góp ý hoàn thiện hệ thống kiểm soát của đơn vị mà chỉ có thểđánh giá ở sự hài lòng và đánh giá cao của các nhà quản lý doanh nghiệp về tínhchuyên nghiệp và trách nhiệm của KTV trong quá trình kiểm toán
- Báo cáo kiểm toán được lập và phát hành theo đúng thời gian đã đề ra trong thư hẹn kiểm toán và chí phí cho dịch vụ kiểm toán ở mức độ phù hợp
Một trong các yêu cầu của thông tin tài chính là tính kịp thời, các thông tinkhông được cung cấp đúng lúc sẽ trở nên không có giá trị sử dụng, đồng thời có thểgây nhiều khó khăn trong việc đưa ra các quyết định quản lý hoặc bỏ lỡ các cơ hộikinh doanh Mặc dù kiểm toán không phải là kênh cung cấp thông riêng biệt, nhưng
nó là một khâu thẩm định trong hệ thống cung cấp thông tin Do vậy mọi chậm trễtrong quá trình kiểm toán do nguyên nhân của việc tổ chức, giám sát quản lý cuộckiểm toán thiếu hiệu quả hoặc bất cứ lý do gì khác từ phía công ty kiểm toán dẫnđến sự chậm trễ không theo đúng kế hoạch đặt ra trong hợp đồng kiểm toán/ hayThư hẹn kiểm toán đều làm ảnh hưởng đến uy tín và giá trị của dịch vụ của công tykiểm toán
Về giá phí kiểm toán, đây cũng là chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượngkiểm toán Phí dịch vụ kiểm toán xác định trên cơ sở thời gian cần thiết để các KTVthực hiện công việc kiểm toán và đơn giá giờ công làm việc của KTV Việc xácđịnh và giảm thiểu thời gian kiểm toán mà vẫn đảm bảo thu thập được đầy đủ cácbằng chứng kiểm toán thích hợp sẽ là điều kiện để giảm thiểu giá dịch vụ cho khách
Trang 12hàng Đó chính là sự thể hiện và là một trong các chỉ tiêu đánh giá chất lượng kiểmtoán.
Chất lượng là khái niệm tương đối, biến đổi theo thời gian, không gian, theo
sự phát triển của nhu cầu xã hội và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật Ở nước ta,kiểm toán độc lập hình thành và phát triển chưa lâu, hành lang pháp lý đang từngbước hoàn thiện (các chuẩn mực kiểm toán đã và đang tiếp tục được nghiên cứu vàcông bố), và sự hiểu biết về kiểm toán của các đơn vị được kiểm toán còn hạn chế
Do vậy sự đánh giá về chất lượng kiểm toán vẫn còn nhiều bất cập và thiếu cơ sởtheo đó lý luận về chất lượng kiểm toán cần tiếp tục nâng cao và hoàn thiện
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán:
Hoạt động kiểm toán độc lập thực chất là hoạt động cung cấp dịch vụ do vậy
nó cũng chịu những ảnh hưởng từ các nhân tố bên trong doanh nghiệp và nhân tốbên ngoài của nền kinh tế, có thể khái quất lại như sau:
Nhóm các yếu tố bên trong: Là các yếu tố trong phạm vi của công ty kiểm
toán Đây là các yếu tố cơ bản quyết định đến chất lượng kiểm toán bao gồm:
- Yếu tố con người:
Đối với hoạt động kiểm toán, yếu tố con người (bao gồm cả các cấp quản lý)
là yếu tố chính, cơ bản nhất tạo nên giá trị của dịch vụ Kiểm toán là quá trình cácKTV thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán để đưa ra ý kiến của mình Trongquá trình này cần đến sự nhạy cảm và những đánh giá mang tính chủ quan củaKTV Do vậy có thể thấy, chất lượng kiểm toán phụ thuộc lớn vào chất lượng củađội ngũ KTV (nhân viên kiểm toán và các cấp quản lý của công ty kiểm toán)
- Yếu tố kỹ thuật:
Để cụ thể hoá các chuẩn mực chuyên môn, các công ty kiểm toán thiết kếriêng cho mình hệ thống các qui trình kỹ thuật, các bước và phương pháp thu thậpbằng chứng kiểm toán, để dựa vào đó KTV tiến hành thực hiện công việc đượcgiao Hệ thống các yếu tố kỹ thuật này sẽ đảm bảo cho các KTV thực hiện côngviệc một cách khoa học, thu thập được đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợpvới chi phí và thời gian hợp lý, hạn chế thấp nhất rủi ro kiểm toán Trong hệ thống
Trang 13các yếu tố kỹ thuật có thể kể đến sự hỗ trợ của các phần mềm máy tính được cácchuyên gia thiết lập áp dụng cho một số các thủ tục kiểm toán như giúp các KTV cóđược số liệu phân tích, đánh giá hoặc đưa ra kết quả lựa chọn phương pháp chọnmẫu, và các ứng dụng khác Với phương pháp khoa học trong quá trình thu thậpbằng chứng kiểm toán, KTV thể hiện cho đơn vị được kiểm toán thấy được tínhchuyên nghiệp, mặt khác hạn chế thấp nhất sự ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanhcủa đơn vị trong quá trình kiểm toán, tạo lòng tin nơi khách hàng Có thể nói yếu tố
kỹ thuật như là công nghệ của quá trình kiểm toán
- Các yếu tố về điều kiện phương tiện làm việc: Đây là những yếu tố quan
trọng giúp các KTV thực hiện tốt công việc của mình một cách hiệu quả Các yếu tốnày có thể kể như: máy tính, fax, mạng máy tính nội bộ, phương tiện liên lạc… Mặc
dù không tham gia trực tiếp tạo nên chất lượng kiểm toán nhưng những yếu tố này
có tác động tích cực trong chính sách thu hút nhân viên của công ty, mặt khác yếu
tố này cũng làm tăng thêm hình ảnh chuyên nghiệp của công ty kiểm toán trướckhách hàng, tạo niềm tin nơi khách hàng về tính chuyên nghiệp của kiểm toán
Nhóm các yếu tố bên ngoài: Là những yếu tố bên ngoài công ty kiểm toán
có ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán, bao gồm:
- Nhu cầu của nền kinh tế:
Không có sản phẩm dịch vụ nào cung cấp cho thị trường lại không nhằm đápứng nhu cầu nào đó của nền kinh tế Do vậy ở bất cứ trình độ nào, với mục đích sửdụng gì chất lượng sản phẩm, dịch vụ bao giờ cũng bị chi phối, bị ràng buộc bởihoàn cảnh, điều kiện và nhu cầu nhất định của nền kinh tế Ảnh hưởng của nhu cầucủa nền kinh tế đối với chất lượng kiểm toán thể hiện qua:
Trang 14Đòi hỏi của thị trường: Ở những thị trường khác nhau có những đòi hỏi
khác nhau và đối tượng khác nhau thì yêu cầu khác nhau … Mặc dù kiểm toán chođối tượng nào đi chăng nữa thì công việc kiểm toán cũng phải tuân theo pháp luật
và các chuẩn mực nghề nghiệp Tuy nhiên các điều kiện riêng của từng đối tượngnày là không giống nhau, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác với doanhnghiệp nhà nước và khác với công ty cổ phần, Luật pháp điều chỉnh đối với cácđối tượng này không giống nhau, hệ thống quản lý, kiểm soát nội bộ của họ cũng rấtkhác nhau và mục đích sử dụng kiểm toán cũng không thống nhất Điều này thực sự
sẽ ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán
Trình độ kinh tế, xã hội: Muốn có được sản phẩm có chất lượng phải dựa
trên cơ sở phát triển của nền kinh tế, xã hội Thực tế không thể đánh giá hoặc sosánh chất lượng kiểm toán ở Việt nam với chất lượng kiểm toán ở các nước pháttriển như Anh, Hoa Kỳ, Pháp,… Bởi hệ thống lý luận về kiểm toán, hệ thống vềqui trình kỹ thuật nghiệp vụ của Việt nam vẫn khác nhiều so với các nước đó hay vềđội ngũ chuyên gia kiểm toán ở Việt nam vẫn chưa được đào tạo đầy đủ và cơ bảnnhư các nước Tất cả những điều này đều ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán Dovậy, vấn đề nâng cao chất lượng kiểm toán cần phải xem xét trong quá trình pháttriển chung của nền kinh tế
- Cơ chế quản lý kinh tế:
Bất cứ hoạt động kinh tế nào, dưới chế độ nào đều chịu tác động, chi phốibởi cơ chế quản lý kinh tế nhất định Cơ chế quản lý kinh tế tác động đối với chấtlượng kiểm toán thể hiện ở qua các nội dung sau:
Về mục tiêu kinh tế: Mục tiêu phát triển kinh tế có thể làm thay đổi lớn đến
nhu cầu về kiểm toán kéo theo những ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán Ví dụ
về chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước hoặc qui định khi công bố báocáo tài chính phải được kiểm toán xác nhận đã tạo ra thị trường lớn về nhu cầu kiểmtoán Hoặc định hướng phát triển dịch vụ kiểm toán của Đảng cũng tạo ra nhiều cơhội cho sự phát triển của hoạt động này
Trang 15Các chính sách kinh tế: Chính sách kinh tế có tác động rõ nét đến chất lượng
kiểm toán Trên cơ sơ xác định mục tiêu phát triển kiểm toán, Nhà nước đã có hàngloạt các biện pháp đảm bảo cho sự phát triển như việc đầu tư nghiên cứu các chuẩnmực kiểm toán, kế toán Đây là những nỗ lực lớn nhằm phát triển hoạt động kiểmtoán và đảm bảo chất lượng kiểm toán Ngược lại cũng có những chính sách làmhạn chế khả năng nâng cao chất lượng Cụ thể như việc qui định về khung giá phíkiểm toán hoặc cơ chế tiền lương của các KTV trong các công ty kiểm toán làdoanh nghiệp nhà nước làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng làm việc, nghiên cứu củaKTV, …
- Tổ chức quản lý chất lượng: Hình thành cơ chế quản lý chất lượng trong cơ
chế chung của quản lý kinh tế Cơ chế quản lý chất lượng sẽ đảm bảo sự hài hoàgiữa lợi ích của công chúng đối với kiểm toán và sự phát triển của hoạt động kiểmtoán Cơ chế kiểm quản lý chất lượng hữu hiệu sẽ đảm bảo cho sự phát triển có chấtlượng và hiệu quả của hoạt động kiểm toán Tổ chức quản lý chất lượng có thể làcác tổ chức nghề nghiệp độc lập, ví dụ ở Việt Nam hiện nay có Hiệp hội kiểm toánviên hành nghề Việt Nam (VACPA) chính thức hoạt động tư năm 2006 Đây chính
là một trong những bước đi quan trọng của Chính phủ nhằm tăng cường kiểm soátchất lượng hoạt động kiểm toán ở nước ta
1.3 Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán
1.3.1 Khái niệm kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán
Chất lượng hoạt động kiểm toán là một yếu tố định tính, khó xác định mộtcách chính xác trong những trường hợp cụ thể Do vây, KSCL hoạt động kiểm toáncũng là một quy trình khá phức tạp với những cách hiểu, cách xây dựng và thựchiện rất đa dạng
Theo Từ điển Thuật ngữ Kế toán - Kiểm toán, kiểm soát chất lượng HĐKT
được hiểu là “Các chính sách và các quy trình do một hãng thông qua để đảm bảo
một cách tương đối rằng tất cả các cuộc kiểm toán do hãng tiến hành được thực hiện theo đúng mục đích và các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán đã được quy định trong các chuẩn mực kiểm toán quốc tế” Khái niệm này là chưa đầy đủ do nó chỉ
Trang 16đề cập tới trách nhiệm của các công ty kiểm toán (hãng) trong việc xây dựng vàthông qua các chính sách hay quy trình kiểm soát chất lượng mà không đảm bảoviệc tuân thủ thực hiện các chính sách đó, bên cạnh đó nó cũng chưa đề cập đến vaitrò của Nhà nước và các hiệp hội nghề nghiệp.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 220 – Kiểm soát chất lượng hoạt động
kiểm toán KSCL hoạt động kiểm toán là việc “KTV và công ty kiểm toán phải thực
hiện các chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng đối với toàn bộ hoạt động kiểm toán của công ty kiểm toán và đối với từng cuộc kiểm toán” để “đảm bảo tất cả các cuộc kiểm toán đều được tiến hành phù hợp với Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hoặc chuẩn mực kiểm toán quốc tế được Việt Nam chấp nhận nhằm không ngừng
nâng cao chất lượng của các cuộc kiểm toán” Tuy nhiên, đây cũng chưa hẳn là
một định nghĩa khái quát nhất bởi nó chỉ dừng lại ở trách nhiệm của KTV và công
ty kiểm toán, trong khi kiểm toán chất lượng hoạt động kiểm toán lại yêu cầu sựphối kết hợp của Chính phủ, các hiệp hội nghề nghiệp và sự quan tâm của toàn xãhội
Tóm lại, có thể khái quát: Kiểm soát chất lượng HĐKT là việc các cơ quan quản lý Nhà nước, Hiệp hội nghề nghiệp, các công ty kiểm toán và bản thân KTV xây dựng, thực hiện và giám sát sự tuân thủ hệ thống các chính sách, quy trình hỗ trợ cho hoạt động kiểm toán nhằm đảm bảo phù hợp với các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và quốc tế và không ngừng nâng cao chất lượng nghề nghiệp
Khái niệm trên có thể coi là đã đề cập đầy đủ các nhân tố của KSCL hoạtđộng kiểm toán, bao gồm: Chủ thể của hoạt động kiểm soát là các cơ quan quản lýNhà nước, Hiệp hội nghề nghiệp, các công ty kiểm toán và chính bản thân cácKTV Khách thể kiểm soát là công ty kiểm toán Đối tượng kiểm soát là việc KTV
và công ty kiểm toán có tuân theo các chính sách và quy trình đặt ra đối với hoạtđộng kiểm toán hay không Do chất lượng hoạt động kiểm toán chịu ảnh hưởng củanhiều nhân tố khác nhau nên khi tiến hành kiểm soát, chủ thể kiểm soát phải đánhgiá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đối với chất lượng hoạt động kiểm toán
Trang 17Ảnh hưởng của các nhân tố được các chủ thể kiểm soát nhìn nhận và đánh khácnhau sẽ dẫn đến cách thức tiến hành kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán sẽ làhiệu quả hay không hiệu quả.
1.3.2 Mục tiêu, phân loại và đặc điểm kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán
Mục tiêu của kiểm soát chất lượng HĐKT trước hết và quan trọng nhất là
đảm bảo được mục tiêu kiểm toán Do vậy, mục tiêu đầu tiên của kiểm soát chấtlượng là bảo đảm việc xác minh và bày tỏ ý kiến được tiến hành theo đúng cácchuẩn mực và quy tắc, và quy định của công ty, các kết luận kiểm toán đưa ra dựatrên những bằng chứng đầy đủ và đáng tin cậy Nói cách khác, KSCL hoạt độngkiểm toán là biện pháp nhằm hạn chế thấp nhất rủi ro BCKT được phát hành khôngdựa trên những chuẩn mực, quy tắc, quy định có hiệu lực
Bên cạnh đó, với tư cách là một sản phẩm dịch vụ nên mục tiêu thứ hai củakiểm soát chất lượng là bảo đảm dịch vụ cung cấp thỏa mãn được những nhu cầucủa khách hàng Hoạt động kiểm soát phải nắm bắt được sự phản hồi từ phía kháchhàng về mức độ thỏa mãn đối với chất lượng dịch vụ nhận được, từ đó không ngừngnâng cao chất lượng HĐKT
Cuối cùng, KSCL hoạt động kiểm toán còn là một bộ phận trong hệ thốngKSNB của các công ty kiểm toán, nên nó đồng thời phải đảm bảo các mục tiêu vềhiệu năng quản lý
Hiện nay, trên thế giới và ở Việt Nam có hai hình thức KSCL hoạt độngkiểm toán chính, bao gồm: KSCL từ bên trong và KSCL từ bên ngoài
Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài: là quá trình kiểm soát chất lượng dịch
vụ kiểm toán mà công ty kiểm toán đã cung cấp cho khách hàng được thực hiện bởicác tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp hoặc các cơ quan chức năng của Nhà nước Kiểmsoát hoạt động kiểm toán từ bên ngoài đối với công ty kiểm toán sẽ làm tăng độ tincậy của chất lượng hoạt động kiểm toán Sự cần thiết đối với hoạt động kiểm soátchất lượng từ bên ngoài đã được Liên đoàn kế toán quốc tế khẳng định trong báocáo về chính sách của hội đồng như sau: “…quan trọng là tất cả các công ty hành
Trang 18nghề kế toán mà cung cấp dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ có liên quan phải đốimặt với khả năng công việc của họ sẽ bị kiểm tra”.
Tùy thuộc vào từng quốc gia mà việc kiểm soát này do các tổ chức khácnhau thực hiện: có thể là hội nghề nghiệp, ủy ban quốc gia về kiểm toán hay cơquan chức năng của Nhà nước nhưng có thể được tiến hành theo các hình thức chủyếu như sau:
Kiểm tra bắt buộc đối với công ty kiểm toán: Quá trình này được thực hiện
bởi các cơ quan chức năng của Nhà nước hoặc các tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp
Kiểm soát chéo: Là sự kiểm tra được thực hiện giữa các công ty kiểm toán
với nhau Việc chọn lựa các công ty thực hiện kiểm soát có thể do công ty bị kiểmsoát chỉ định hoặc các hiệp hội, cơ quan chức năng chỉ định
Việc kiểm soát từ bên ngoài không chỉ nhằm phục vụ cho người bên ngoài
mà còn cho cả công ty kiểm toán, giúp công ty kiểm toán hoàn thiện quy trình kiểmtoán, giảm thiểu rủi ro trong quá trình thực hiện kiểm toán
Kiểm soát chất lượng từ bên trong, là các hệ thống các chính sách, thủ tục,
quy trình mà các công ty kiểm toán phải xây dựng và thực hiện để có cam kết hợp
lý rằng mọi phần việc, mọi cuộc kiểm toán mà công ty đã thực hiện là đảm bảo tuântheo các chuẩn mực quốc tế hay chuẩn mực và thông lệ quốc gia và những quy địnhkhác của bản thân doanh nghiệp KSCL từ bên trong được thực hiện thường xuyên
và xuất phát từ yêu cầu của quản trị nội bộ
Nội dung, thời gian và mức độ của các chính sách và thủ tục kiểm tra chấtlượng của một công ty kiểm toán phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Quy mô, tínhchất của loại hình hoạt động của công ty, địa bàn hoạt động, cơ cấu tổ chức vànhững tính toán về hiệu quả kinh doanh của công ty Vì vậy, những chính sách vàthủ tục kiểm soát chất lượng sẽ do từng công ty kiểm toán xây dựng cho phù hợpvới điều kiện công ty mình và chuẩn mực kiểm toán hiện hành
Một quy trình KSCL đạt yêu cầu và hoạt động có hiệu quả cần phải đảm bảocác yếu tố sau:
Trang 19+ Tập trung vào yếu tố con người, cụ thể là trình độ, năng lực và phẩm chấtđạo đức của các KTV Bởi đối với lĩnh vực kiểm toán, lao động trí óc của KTV làyếu tố cơ bản để tạo ra sản phẩm dịch vụ kiểm toán có chất lượng Chính vì vậy,KSCL hoạt động kiểm toán đòi hỏi phải bao trùm được yếu tố con người.
+ Thiết kế các quy trình, thủ tục kiểm soát cần phải dựa trên sự tuân thủ cácchuẩn mực kế toán kiểm toán và các quy định pháp luật có hiệu lực khác Cần phảinhận thức đúng đắn rằng sự thỏa mãn như cầu của khách hàng phải đạt được trên cơ
sở các chuẩn mực chung
+ Xây dựng cơ chế kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện các chính sách, thủtục KSCL hoạt động kiểm toán của công ty
1.3.3 Vai trò của kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán
Để tương xứng với vị trí của hoạt động kiểm toán trong nền kinh tế thịtrường, vai trò của KSCL hoạt động kiểm toán cũng phải được nhìn nhận một cáchthích đáng Đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao đối với thông tin và chất lượng hoạtđộng kiểm toán, tăng niềm tin của khách hàng, đồng thời nâng cao uy tín nghềnghiệp cho công ty kiểm toán thì KSCL hoạt động kiểm toán ra đời là một vấn đềcấp bách và cần thiết cho một nền kinh tế hội nhập Thực tế cho thấy tại nhiều nướctrên thế giới, KSCL hoạt động kiểm toán đã được hình thành và trở thành hoạt động
có tính chất tự nguyện từ giữa những năm 1970 và trở thành hoạt động bắt buộc vàonhững năm 1980 Kiểm soát chất lượng HĐKT đóng vai trò quan trọng đối với đơn
vị được kiểm toán và bản thân công ty kiểm toán thể hiện ở những điểm sau:
+ Giúp nâng cao chất lượng của dịch vụ kiểm toán cung cấp cho khách hàng,thỏa mãn nhu cầu sử dụng kết quả kiểm toán của các đối tượng quan tâm
+ Giúp công chúng nhận thức tốt về chất lượng dịch vụ nghề nghiệp của cáccông ty kiểm toán Từ đó, họ có thể lựa chọn được các công ty kiểm toán có chấtlượng cao
+ Góp phần vào việc tổ chức tốt công tác kiểm toán và hoàn thiện phươngpháp làm việc
+ Đánh giá việc áp dụng các quy tắc và chuẩn mực nghề nghiệp
Trang 20+ Thông qua hoạt động kiểm soát chất lượng HĐKT, các công ty kiểm toán
sẽ thấy được những khuyết điểm có thể gây tổn hại đến công việc và uy tín củamình Từ đó, đưa ra những giải pháp điều chỉnh, sửa chữa
+ Thông báo cho các cấp nghề nghiệp biết về những vấn đề mà các công tykiểm toán đã gặp phải khi tiến hành các nghiệp vụ của họ và như vậy sẽ giúp cáccấp này đưa ra được những quyết định trên cơ sở ý thức được mọi vấn đề
Tóm lại, KSCL kiểm toán đó là cách duy nhất và hữu hiệu nhất giúp cáccông ty kiểm toán tồn tại và phát triển trong bối cảnh cạnh tranh như hiện nay Bàihọc từ sự sụp đổ của Athur Andersen là minh chứng rõ nét nhất về sự cần thiết phảitạo lập và thực hiện một quy trình KSCL hoạt động kiểm toán hiệu quả
1.3.4 Quy trình kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán
Do những giới hạn về phạm vi và thời gian nghiên cứu, khóa luận chỉ dừnglại ở sự giới thiệu sơ bộ hoạt động KSCL từ bên ngoài như trên mà tập trung đi sâuvào vào nghiên cứu nội dung quy trình, phương pháp KSCL hoạt động kiểm toán dobản thân các công ty kiểm toán thực hiện làm cơ sở cho việc tìm hiểu thực tiễnKSCL hoạt động kiểm toán do Công ty TNHH Deloitte Việt Nam thực hiện đượctrình bày ở chương 2
KSCL từ bên trong bao gồm hai quy trình là kiểm soát chất lượng cho toàn
bộ hoạt động kiểm toán và kiểm soát chất lượng cho từng cuộc kiểm toán cụ thể
Đối với toàn bộ hoạt động kiểm toán của công ty
Kiểm soát chất lượng HĐKT cho toàn bộ công ty kiểm toán thường tập trungvào các nội dung: Công tác tuyển dụng và đào tạo nhân viên; quy trình kỹ thuậtkiểm toán; hoạt động kiểm tra tính tuân thủ chẩn mực nghề nghiệp; trang thiết bịphục vụ cho hoạt động kiểm toán và đánh giá lựa chọn khách hàng Đây là nhữngnội dung được thực hiện thường xuyên, song song với hoạt động sản xuất kinhdoanh của các công ty kiểm toán
Bên canh đó, một số nội k\dung kiểm soát sẽ được áp dụng trong một số thờiđiểm nhất định như là một sự kiểm tra đối với việc tuân thủ hoạt động này Ví dụkiểm tra chất lượng toàn bộ hoạt động kiểm toán của công ty thực hiện sau mỗi mùa
Trang 21kiểm toán hoặc theo sự chỉ định đặc biệt của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.Khi có quyết định tiến hành kiểm tra, một nhóm kiểm tra viên được thành lập vàtiến hành chọn mẫu các hồ sơ kiểm toán để tiến hành soát xét lại Nhóm kiểm traviên này có thể bao gồm các nhân viên trong công ty, chi nhánh hay những chuyêngia từ các cơ quan chức năng.
Quy trình kiểm tra này bao gồm các bước: Chuẩn bị kiểm ta, thực hiện kiểmtra và giám sát sau kiểm tra
Chuẩn bị kiểm tra: Trong bước này, chủ thể kiểm tra sẽ tiến hành chọn lựa
các thành viên của nhóm kiểm tra Các thành viên được lựa chọn phải thỏa mãnnhững yêu cầu về trình độ, năng lực, kinh nghiệm và đạo đức nghề nghiệp Sau khiđội ngũ kiểm tra viên được lựa chọn, chương trình kiểm tra sẽ được thiết lập.Chương trình này bao gồm cách thức chọn ra một số hồ sơ kiểm toán để kiểm tra vànội dung của từng công việc cụ thể, thời gian thực hiện gắn với trách nhiệm củatừng thành viên khi thực hiện kiểm tra hồ sơ kiểm toán
Thực hiện kiểm tra: Bước này được chia thành hai bước nhỏ liên tiếp là kiểm
tra cơ cấu và kiểm tra kỹ thuật Sau khi kết thúc kiểm tra kỹ thuật, nhóm kiểm traviên phải lập báo cáo về chất lượng HĐKT Báo cáo kiểm tra ngoài những đánh giá
về chất lượng HĐKT còn có thể bao gồm những kiến nghị nhằm nâng cao chấtlượng kiểm toán
Giám sát sau kiểm tra: Bước này nhằm mục tiêu theo dõi việc thực hiện các
kiến nghị và sự tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp của công ty kiểm toán sau khikết thúc kiểm tra
Đối với một cuộc kiểm toán cụ thể
Quy trình kiểm tra chất lượng cho một cuộc kiểm toán cụ thể bao gồm kiểmtra chất lượng trước cuộc kiểm toán, kiểm tra chất lượng trong quá trình kiểm toán
và kiểm tra chất lượng sau cuộc kiểm toán Kiểm tra chất lượng cho từng cuộc kiểmtoán không thuộc trách nhiệm của một nhóm kiểm tra viên cụ thể mà được tiến hànhbởi tất cả các thành viên trong nhóm kiểm toán và các thành viên của BGĐ chịutrách nhiệm đến chất lượng HĐKT Việc tra xét theo trình tự của cuộc kiểm toán
Trang 22giúp cho quá trình kiểm tra được chặt chẽ, kịp thời để có biện pháp nâng cao chấtlượng của cuộc kiểm toán.
- Kiểm soát chất lượng trước cuộc kiểm toán
Trong giai đoạn này hoạt động kiểm soát phải đảm bảo cuộc kiểm toán tuânthủ các quy định về đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán Nếu hợp đồngđược chấp nhận và ký kết thì công ty có trách nhiệm chuẩn bị các yếu tố cần thiếtcho cuộc kiểm toán cả về các điều kiện vật chất kỹ thuật và nhân sự nhóm kiểmtoán
- Kiểm soát chất lượng trong quá trình kiểm toán
Đây là một hoạt động kiểm soát nội bộ và tùy từng công ty kiểm toán khácnhau sẽ có những quy định cụ thể khác nhau Thủ tục soát xét đầu tiên trong giaiđoạn này là soát xét kế hoạch kiểm toán Việc soát xét kế hoạch kiểm toán phải đảmbảo rằng:
+ Kế hoạch kiểm toán được xây dựng một cách phù hợp có tính đến các sựkiện xảy ra sau ngày lập kế hoạch kiểm toán
+ Trình tự kiểm toán được xác định bởi BGĐ và nhóm kiểm toán đã đượctập hợp đầy đủ trong kế hoạch kiểm toán
+ Các phương pháp được đề xuất trong kế hoạch kiểm toán là phù hợp vớichuẩn mực kiểm toán và phù hợp với mục tiêu hiệu năng, hiệu quả
+ Những lưu ý của BGĐ trong việc xác định vấn đề cần phải được giải quyếttrước khi bắt đầu tiến hành kiểm toán hoặc phải được giải quyết bởi BGĐ trong suốtquá trình kiểm toán
Sau khi kiểm soát về lập kế hoạch, thủ tục kiểm soát tiếp theo và cơ bản nhấtcủa giai đoạn này là soát xét lại giấy tờ làm việc của các trợ lý KTV và KTV do cácKTV cấp cao hơn thực hiện Công việc này được thực hiện xuyên suốt cuộc kiểmtoán nhằm đảm bảo kế hoạch kiểm toán được lập và tuân thủ thực hiện bởi các KTVmột cách nghiêm túc, các thủ tục kiểm toán được thực hiện là thích hợp, các giấy tờlàm việc và các bằng chứng thu được là khoa học, đầy đủ và thuyết phục để làm cơ
Trang 23sở cho việc ra kết luận kiểm toán Soát xét kết quả của các thủ tục kiểm toán nhằmđảm bảo:
+ Cuộc kiểm toán được thực hiện trong sự phù hợp với chuẩn mực kiểm toán
và các quy định khác và phù hợp với kế hoạch kiểm toán đã được lập
+ Mục tiêu của các thủ tục kiểm toán đã đạt được
+ Kết luận của cuộc kiểm toán là phù hợp với công việc đã được thực hiện.Thủ tục kiểm soát sau khi tiến hành soát xét các thủ tục kiểm toán là soát xétBCTC Việc soát xét BCTC giúp các KTV đảm bảo rằng:
+ Số liệu được trình bày trên BCTC là phù hợp với giấy tờ làm việc củaKTV và phù hợp với sổ sách kế toán của khách hàng
+ BCTC phù hợp với các thông tin khác đính kèm và phù hợp với sự hiểubiết về hoạt động kinh doanh của khách hàng
+ BCTC được lập phù hợp với Luật kế toán, Chuẩn mực kế toán, Chế độ vàcác quy định tài chính khác của doanh nghiệp
Thủ tục kiểm soát cuối cùng trong quá trình kiểm toán là soát xét ý kiếnkiểm toán:
+ Ý kiến kiểm toán đưa ra rõ ràng và phù hợp với các chuẩn mực kiểm toán
Trang 24các sự kiện được soát xét; tất cả các giấy tờ làm việc được thực hiện bởi chủ nhiệmkiểm toán; ý kiến kiểm toán, các thông tin phát hành kèm theo BCKT.
- Kiểm soát chất lượng sau cuộc kiểm toán
Thủ tục này chủ yếu được thực hiện thông qua việc đánh giá sự hài lòng củakhách hàng và tiến hành kiểm soát chéo giữa các nhóm kiểm toán
Việc thực hiện đánh giá sự hài lòng của khách hàng diễn ra ngay sau khicuộc kiểm toán kết thúc hoặc được tiến hành đồng thời với tất cả các khách hàngsau mùa kiểm toán Mục đích của công việc này là thu thập các phản hồi từ phíakhách hàng, đánh giá sự hiểu biết của công ty kiểm toán về những nhu cầu củakhách hàng và mức độ đáp ứng những mong đợi đó Từ đó, công ty kiểm toán đề ranhững biện pháp để nâng cao chất lượng phục vụ, duy trì các khách hàng thườngxuyên và phát triển các khách hàng mới
Kiểm soát chéo được thực hiện giữa các nhóm kiểm toán hay giữa các chinhánh trong cùng một công ty Công tác kiểm soát này nhằm cung cấp một cái nhìnđộc lập về chất lượng cuộc kiểm toán đã thực hiện, từ đó rút ra những kinh nghiệmcho các cuộc kiểm toán sau
1.3.5 Kinh nghiệm của các nước về kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán
Giữa các thông lệ và chuẩn mực kiểm toán quốc tế và Việt Nam quy địnhcho kiểm soát chất lượng HĐKT tuy có những điểm khác nhau nhưng thống nhấtvới nhau về những nguyên tắc kiểm soát chất lượng sau:
- Nguyên tắc đồng nghiệp: Việc KSCL hoạt động kiểm toán do chính các
nhà chuyên nghiệp thực hiện Theo đó, mục đích đầu tiên của kiểm soát là giúp cácnhà chuyên nghiệp hoàn thiện hơn chất lượng công việc của họ
- Nguyên tắc toàn thể: Tất cả các nhà chuyên nghiệp được các tổ chức nghề
nghiệp thừa nhận, trong đó có công ty kế toán kiểm toán đều phải kiểm soát chấtlượng
- Nguyên tắc phù hợp: Việc KSCL hoạt động kiểm toán phải phù hợp với
bản chất của chương trình mà đơn vị thực hiện và tầm cỡ của đơn vị
Trang 25- Nguyên tắc điều hoà: Việc kiểm soát chất lượng kết hợp sẽ được áp dụng
đối với các đơn vị, đồng thời phải chịu sự kiểm soát chất lượng của tổ chức Hiệphội kế toán và công ty kiểm toán
- Nguyên tắc bí mật: KTV phải tuyệt đối giữ bí mật nghề nghiệp Khi kiểm
soát kết thúc phải chuyển cho hội đồng có thẩm quyền toàn bộ tài liệu liên quan đếnđơn vị bị kiểm soát Hội đồng này phải đảm bảo bí mật tuyệt đối cho các thông tin
mà họ nắm giữ
Ở phần lớn các nước có nền kinh tế phát triển, các cơ quan chức năng Nhànước không trực tiếp quản lý hoạt động kiểm toán của các tổ chức kiểm toán độclập mà giao cho Hiệp hội nghề nghiệp đảm trách nhiệm vụ này
Tại Hoa Kỳ, các chuẩn mực kiểm toán do Ủy ban Chuẩn mực kiểm toánthuộc Viện kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (American Institute of Certified PublicAccountant - AICPA) ban hành AICPA đã ban hành chuẩn mực kiểm toán số 25(SAS 25, AU 161) yêu cầu mỗi công ty kiểm toán phải xây dựng các chính sách vàquy trình kiểm soát chất lượng riêng cho mình tùy theo quy mô và bản chất dịch vụcủa công ty
Tại Anh và Ireland, các tổ chức kiểm toán phải thực hiện chương trình kiểmsoát tuân thủ kiểm toán hàng năm Việc kiểm soát này nhằm mục đích đảm bảo các
tổ chức kiểm toán đã tuân thủ các văn bản chỉ đạo kiểm toán của Viện KTV chuyênnghiệp Anh và xứ Wales
Tại Trung Quốc, hệ thống kiểm soát chéo đã được áp dụng và thực thi Cáccông ty phải được kiểm soát ít nhất mỗi năm một lần Công ty kiểm soát được lựachọn do công ty bị kiểm soát chỉ định hoặc do Viện kế toán viên công chứng TrungQuốc gửi đến một đội ngũ kiểm soát
Tại Việt Nam, trước kia Bộ tài chính đảm nhận việc kiếm soát chất lượngkiểm toán Điều này gây ra nhiều hạn chế đối với công tác kiểm soát chất lượng dothiếu tính chuyên nghiệp và chuyên môn hóa Tuy nhiên hiện nay, công tác kiểmsoát chất lượng đã giao cho Hiệp hội nghề nghiệp thực hiện nên hứa hẹn công táckiểm soát chất lượng HĐKT sẽ có nhiều ý nghĩa hơn
Trang 26Về mặt chính sách, ngày 14/3/2003, Chuẩn mực kiểm toánViệt Nam số 220
về Kiểm soát chất lượng HĐKT (Phụ lục) đã ra đời Nhà nước đã có quy định vềkiểm soát chất lượng HĐKT để các công ty kiểm toán nghiên cứu và xây dựng quytrình kiểm soát chất lượng cho mình để phù hợp với điều kiện của từng công ty.Hàng năm, Bộ tài chính thông báo cho các công ty kiểm toán để kiểm soát chấtlượng định kỳ Tuy nhiên, việc kiểm soát chỉ ở mức sơ bộ, chưa khái quát được hếtchất lượng HĐKT Đồng thời, kết quả kiểm soát vẫn chưa được sử dụng hiệu quả
để nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp
Trang 27PHẦN 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT SOÁT CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN DO CÔNG TY
TNHH DELOITTE VN THỰC HIỆN
2.1 Tổng quan về Công ty TNHH Deloitte VN
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty TNHH Deloitte VN
Là một trong những hãng kiểm toán quốc tế lớn có mặt tại thị trường ViệtNam, với lịch sử hình thành và phát triển đã làm nên những điểm khác biệt củaDeloitte VN so với các Big four khác và đây cũng chính là một trong những lý dotạo ra sự vượt trội trong chất lượng cung cấp dịch vụ của Deloitte VN
Deloitte VN tiền thân là Công ty kiểm toán Việt Nam (gọi tắt là VACO)được thành lập vào ngày 13/05/1991, đây cũng là cột mốc đánh dấu sự ra đời củacác công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam, mở đầu cho quá trình hình thành vàphát triển của lĩnh vực kiểm toán độc lập tại Việt Nam
Đồng thời với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, VACO cũng từngbước kiện toàn bộ máy tổ chức để đáp ứng yêu cầu về đặc thù ngành nghề lĩnh vựchoạt động và phù hợp với thông lệ quốc tế
Ngay từ những ngày đầu đi vào hoạt động VACO là công ty kiểm toán đầutiên của Việt Nam đã sớm hoà nhập và bắt tay hợp tác kinh doanh với các hãngkiểm toán lớn trên thế giới VACO bắt đầu hợp tác với hãng DTT từ năm 1992 vàngày 01 tháng 10 năm 1997, VACO - với sự đại diện của phòng dịch vụ quốc tế(ISD), đã chính thức được công nhận là thành viên của hãng kiểm toán quốc tếDTT Đây được xem là sự kiện quan trọng nhằm chuẩn bị về mọi mặt cho sự ra đờicủa Deloitte VN
Ngày 7 tháng 5 năm 2007 là một dấu mốc quan trọng đối với VACO, kể từ
đó VACO trở thành Deloitte VN, với tư cách là thành viên đầy đủ và nhận được sự
Trang 28hỗ trợ toàn diện của hãng Deloitte Việc gia nhập Deloitte Đông Nam Á đã mở ramột thế vận hội mới đối với Deloitte VN bởi từ đây Deloitte VN được hưởng đặcquyền từ việc sử dụng một thương hiệu danh tiếng và chia sẻ những niềm tin và giátrị chung giữa các hãng thành viên trong Deloitte Đông Nam Á Do đó, DeloitteViệt Nam không chỉ nâng cao dịch vụ khách hàng, nâng cao trình độ nguồn nhânlực mà còn tăng cường khả năng cạnh soátnh của công ty trước bối cảnh toàn cầuhoá nền kinh tế
Theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0102030181 ngày 18/10/2007Công ty kiểm toán Việt Nam từ ngày 1/11/2007 chính thức đổi tên thành Công tyTNHH Deloitte VN
Tên gọi đầy đủ : Công ty TNHH Deloitte VN
Tên tiếng Anh : Deloitte Vietnam Company Limited
Biểu tượng công ty :
2.1.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý công ty TNHH Deloitte Việt Nam
Deloitte VN được tổ chức hoạt động theo mô hình phân tán với trụ sở chínhtại Hà Nội và các chi nhánh tại TP.HCM và Hải Phòng Mô hình hoạt động nàygiúp Công ty mở rộng mạng lưới kinh doanh, bắt kịp các cơ hội thị trường và đápứng nhanh nhu cầu của KH Bên cạnh đó, cơ cấu các phòng ban được tổ chức kháchặt chẽ và hợp lý với 4 bộ phận chính thực hiện cung cấp dịch vụ cho KH Bốn bộphận này sẽ được hỗ trợ bởi các phòng ban khác nhằm tạo ra một thể thống nhấthoạt động nhịp nhàng dưới sự chỉ đạo và phân công công việc của BGĐ
Trang 29Có thể tóm tắt bộ máy quản lý Công ty theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty TNHH Deloitte VN
(Nguồn: Tài liệu đào tạo nội bộ công ty)
Quan hệ kiểm soát:
Quan hệ điều hành:
Quan hệ hỗ trợ :
Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận, phòng ban được chi tiết như sau:
Các chức danh lãnh đạo:
Chủ tịch công ty: là người đứng đầu công ty, có toàn quyền quyết định các
chiến lược hoạt động của công ty, chịu trách nhiệm về tất cả các vấn đề liên quanđến công ty
P Tư vấn tài chính
Bộ phận thuế:
P Thuế
Bộ phận tư vấn giải pháp doanh nghiệp
Chi nhánh
TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng
Bộ phận hỗ trợ:
P IT, P.Nhân sự, P.Tài chính - Kế toán,
P Hành chính, P.Văn thư…
Hội đồng thành viên Chủ tịch HĐTV
Ban kiếm soát
Trang 30Ban giám đốc: có trách nhiệm lập các định hướng chung như chiến lược kinh
doanh, chính sách tuyển dụng và đào tạo….TGĐ là đại diện toàn quyền của công ty,chịu trách nhiệm trước Bộ Tài chính và công ty DTT về mọi hoạt động của công ty,
có quyền điều hành, quyết định mọi hoạt động của công ty và các văn phòng đạidiện PTGĐ là người phụ trách soát xét kỹ thuật kiểm toán và nghiên cứu khoa họctại các bộ phận mình phụ trách, giúp TGĐ điều hành một số lĩnh vực, chịu tráchnhiệm trước TGĐ về nhiệm vụ được TGĐ uỷ quyền và phân công thực hiện
Đội ngũ chuyên gia nước ngoài: Thực hiện sự hỗ trợ về mặt nghiệp vụ đối
với các phòng ban và các hợp đồng kiểm toán của Công ty
Các phòng ban trong công ty được chia thành hai nhóm: nhóm các bộ phậnliên quan đến hoạt động cung cấp dịch vụ cho khách hàng và nhóm các bộ phậnkhông liên quan đến hoạt động cung cấp dịch vụ cho khách hàng
Các bộ phận liên quan đến hoạt động cung cấp dịch vụ cho khách hàng gồm:
Phòng kiểm toán: Nhân lực kiểm toán của công ty hiện chia thành 3 phòng
kiểm toán, Phòng kiểm toán 1 chuyên về kiểm toán các doanh nghiệp, tổng công tyNhà nước, Phòng kiểm toán 2 chuyên thực hiện các hợp đồng kiểm toán dự án,doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Phòng kiểm toán 3 thực hiện kiểm toánlĩnh vực ngân hàng tài chính
Phòng tư vấn thuế: hoạt động trên các lĩnh vực: hoạch định chiến lược thuế,
cơ cấu kinh doanh có hiệu quả cho mục đích thuế, soát xét tính tuân thủ luật thuếcủa doanh nghiệp, lập kế hoạch, tính toán và kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp vàthuế thu nhập cá nhân cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, thuế nhà thầunước ngoài, tư vấn và trợ giúp doanh nghiệp khi gặp vướng mắc trong quá trìnhquyết toán với cơ quan thuế, tổ chức hội thảo và đào tạo kiến thức về thuế
Phòng tư vấn tài chính và giải pháp doanh nghiệp : thực hiện tư vấn tài
chính, giải pháp quản lý, tư vấn kế toán và tư vấn nghiên cứu thị trường, hỗ trợkhách hàng trong việc đánh giá, quản lý rủi ro, tăng cường độ tin cậy của hệ thốngcũng như chu trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
Trang 31Phòng Quản lý và đào tạo: thực hiện quản lý hồ sơ nhân sự, lưu trữ văn thư,
giải quyết các thủ tục liên lạc, giao dịch hành chính, cập nhật thông tin, văn bảnmới, cập nhật, xây dựng các chương trình, các khoá học để nâng cao năng lực, kiếnthức chuyên môn cho cán bộ, công nhân viên
Phòng Kế toán tài chính: thực hiện thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về
tài sản và các hoạt động kinh tế, tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinhdoanh của công ty nhằm phục vụ công tác quản lý, công tác tín dụng
Phòng công nghệ thông tin: Thực hiện hỗ trợ, soát xét chất lượng của hệ
thống CNTT của khách hàng từ đó tư vấn các giải pháp hoàn thiện hệ thống CNTT,cung cấp các phần mềm cho khách hàng Ngoài ra, phòng CNTT thực hiện chứcnăng hỗ trợ cung cấp, cập nhật các chương trình phần mềm ứng dụng mới phục vụcho công việc của các nhân viên trong công ty
Văn phòng chi nhánh TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng: đại diện cho
công ty hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực kiểm toán, tư vấn và thuế Do nhữngcản trở về mặt địa lý công ty mở các chi nhánh nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu củakhách hàng, đồng thời mở rộng mạng lưới kinh doanh thu hút thêm các khách hàngmới Khi cần các chi nhánh sẽ được hỗ trợ từ trụ sở chính ở Hà Nôi
2.1.3 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh
2.1.3.1 Các mảng hoạt động chính của Công ty
Deloitte VN là hãng chuyên ngành cung cấp các dịch vụ kiểm toán, thuế, tưvấn, dịch vụ tư vấn tài chính doanh nghiệp và tái cơ cấu doanh nghiệp, các dịch vụkiểm soát rủi ro doanh nghiệp và giải thể doanh nghiệp, đào tạo và quản lý nguồnnhân lực cho nhiều loại hình khách hàng từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài các doanh nghiệp nhà nước đến các dự án quốc tế Có thể tổng quát các dịch
vụ chính mà Deloitte đang cung cấp bao gồm:
- Dịch vụ kiểm toán:,
Với đội ngũ nhân lực bao gồm các KTV xuất sắc nhất của ngành kiểm toánViệt Nam, được soátng bị những công cụ, nguồn lực và phương pháp kiểm toán
Trang 32hiệu quả dịch vụ kiểm toán được xem là dịch vụ có chất lượng cao nhất của công tyvới hình ảnh sản phẩm dịch vụ kiểm toán đó là “Sự thông hiểu môi trường kinhdoanh và luật pháp tại Việt Nam kết hợp với kỹ thuật tiên tiến của hãng kiểm toánhàng đầu quốc tế”
Ngoài dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm là dịch vụ chiếm tỷtrọng lớn nhất, công ty còn cung cấp các dịch vụ như thực hiện việc soát xét khảnăng sát nhập và mua bán doanh nghiệp, hay cung cấp dịch vụ kiểm toán như kiểmtoán báo cáo tài chính theo luật định, soát xét báo cáo tài chính theo luật định, soátxét báo cáo tài chính hàng quý hoặc sáu tháng, thực hiện hợp nhất báo cáo tài chínhcho các tập đoàn quốc tế
Với chất lượng cung cấp dịch vụ đã được khẳng định và sự đa dạng trongloại hình dịch vụ, Công ty thường xuyên cung cấp dịch vụ kiểm toán cho một sốlượng các khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau, từ các tổng công tyNhà nước, các doanh nghiệp hoạt động theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam,các dự án trong và ngoài nước…
- Dịch vụ tư vấn thuế
Trên cơ sở nhóm tư vấn thuế của Deloitte VN gồm các chuyên gia tư vấnthuế trong nước am hiểu sâu sắc về chế độ thuế Việt Nam, có mối quan hệ chặt chẽvới các cơ quan chức năng; cùng với sự hỗ trợ và tham gia của các chuyên gia tưvấn thuế quốc tế giàu kinh nghiệm có thể cung cấp tới khách hàng các giải phápthuế tầm cỡ toàn cầu, Deloitte VN đưa ra hình ảnh sản phẩm dịch vụ tư vấn thuế đó
là “chất lượng dịch vụ đạt tiêu chuẩn quốc tế”
Dịch vụ tư vấn thuế gồm Tư vấn dịch vụ kê khai và làm các thủ tục thuế, hoạchđịnh chiến lược thuế, tư vấn thuế trong nước và quốc tế, trợ giúp giải quyết cáckhiếu nại về thuế, soát xét tính tuân thủ luật về thuế của doanh nghiệp …Từ việctuân thủ cho đến hoạch định thuế, Deloitte Việt Nam xây dựng chiến lược thuếnhằm hỗ trợ khách hàng đạt được các mục tiêu kinh doanh Dịch vụ tư vấn thuếkhông chỉ hỗ trợ cho các doanh nghiệp mà còn góp phần tăng cường công tác quản
Trang 33lý thuế qua việc cung cấp thông tin cho cơ quan thuế và đề xuất các giải pháp thuếphù hợp.
- Dịch vụ tư vấn và giải pháp doanh nghiệp:
Deloitte VN nổi tiếng về khả năng cung cấp dịch vụ tài chính doanh nghiệp
có chất lượng cao.Với đội ngũ nhân viên tư vấn giàu kinh nghiệm, hiểu biết sâu sắc
về ngành nghề lĩnh vực kinh doanh của khách hàng cũng như đặc thù nền kinh tếViệt Nam do đó có khả năng đánh giá hiện trạng doanh nghiệp, làm rõ mọi vấn đềtồn tại và đem đến niềm tin về triển vọng phát triển cho khách hàng
Ngoài ra công ty còn cung cấp cho khách hàng mọi dịch vụ kế toán từ ghi sổ,lập kế hoạch ngân sách đến lập Báo cáo tài chính Điểm nổi bật có thể nhận thấytrong dịch vụ kế toán của Deloitte VN là khả năng xây dựng hệ thống kế toán đápứng mọi yêu cầu cụ thể của các công ty mẹ ở nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tếtrong khi hệ thống này vẫn tuân thủ Chế độ Kế toán Việt Nam theo quy định của BộTài Chính
- Dịch vụ đào tạo và quản lý nguồn nhân lực:
Đội ngũ các chuyên gia đào tạo của Deloitte VN bao gồm những chuyên giagiàu kinh nghiệm trong lĩnh vực giảng dạy, nghiên cứu và thực hành kế toán, kiểmtoán thuế và quản trị kinh doanh ở Việt Nam và các chuyên gia của DTT đã nỗ lựcđưa đến cho khách hàng hình ảnh sản phẩm dịch vụ đào tạo đó là “Luôn sẵn sàngtrợ giúp khách hàng đạt được mục tiêu của mình”
Chương trình đào tạo của Deloitte VN bao gồm kế toán, kiểm toán và quảntrị kinh doanh đã đem lại những thông tin hữu ích cho doanh nghiệp về nội dungcác Chuẩn mực kế toán quốc tế, Chế độ Kế toán và Chuẩn mực Kiểm toán ViệtNam Các thông tin này cũng bao gồm cả nội dung các chế độ, chính sách hiện hànhtại Việt Nam, được vận dụng cụ thể cho từng loại doanh nghiệp, từng ngành kinhdoanh hoặc từng doanh nghiệp cụ thể
2.1.3.2 Khái quát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Về tình hình kinh doanh trong những năm gần đây
Trang 34Trong những năm gần đây cùng với sự bùng nổ của nhu cầu kiểm toán, sự
nỗ lực của từng con người trong công ty đã đem lại một kết quả rất khả quan chứng
tỏ đường lối lãnh đạo đúng đắn của BGĐ công ty cũng như sự phát triển mạnh mẽcủa Deloitte VN
.Bảng 1.2: Kết quả hoạt động của công ty trong 3 năm gần đây
Đơn vị: VNĐ
(Nguồn: Bảng cáo bạch Công ty TNHH Deloitte VN- Năm 2008)
Chỉ trong vòng 3 năm trở lại đây doanh thu của công ty đã tăng 1,5 lầncho thấy hoạt động của công ty ngày càng hiệu quả, uy tín công ty ngày càng đượcnâng cao, hình ảnh, vị thế của công ty ngày càng đựoc củng cố Trong những nămvừa qua, từ một doanh nghiệp hoạt động dựa vào nguồn kinh phí sự nghiệp Deloitte
VN đã từng bước tự chủ về tài chính và đóng góp vào Ngân sách Nhà nước mộtkhoản đáng kể và có xu hướng tăng lên qua các năm
Để tìm hiểu rõ hơn về tình hình kinh doanh của công ty trong thời gian vừaqua, tôi xin được phân tích rõ hơn về cơ cấu doanh thu
Về cơ cấu doanh thu theo khách hàng, Doanh thu của Deloitte VN chủ yếu
mang lại từ mảng dịch vụ cung cấp cho các DN có vốn đầu tư nước ngoài Nguyênnhân chính xuất phát từ đặc thù của nền kinh tế VN khi mà lượng DN trong nước cónhu cầu kiểm toán tuy có tăng hơn nhưng vẫn chỉ là số ít so với các DN hoạt độngtheo Luật đầu tư nước ngoài Tiếp đến là các DN Nhà nước, hiện nay công ty cungcấp dịch vụ kiểm toán cho hầu hết các tập đoàn và Tổng công ty Nhà nước, đây lànhóm khách hàng truyền thống mà Deloitte VN được thừa hưởng từ thương hiệuVACO trước đây Đối với nhóm khách hàng là các dự án quốc tế, hành chính sựnghiệp và các công ty cổ phần khác tỷ lệ này khá thấp
1` Doanh thu 82.074.809.345 98.762.685.216 118.515.222.325
2 Nộp Ngân sách 12.078.584.846 13.705.314.208 16.446.376.821
Trang 35Biểu 1.3: Cơ cấu doanh thu theo khách hàng
(Nguồn: Bản cáo bạch công ty TNHH Deloitte VN- Năm 2008)
Về cơ cấu doanh thu theo loại hình dịch vụ: Dịch vụ chính mà Deloitte VN
cung cấp là kiểm toán BCTC, đây là dịch vụ truyền thống và là thế mạnh củaDeloitte VN Với đội ngũ KTV được đào tạo bài bản từ các trường đại học uy tíntrong và ngoài nước Deloitte VN thường xuyên nhận được các hợp đồng cung cấpdịch vụ kiểm toán BCTC lớn, điều này đã đưa lại một con số doanh thu khổng lồ và
áp đảo hầu hết các hãng kiểm toán trên thị trường VN Tư vấn và thuế cũng lànhững mảng đang có xu hướng phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây làm giatăng nguồn thu cho công ty Ngoài ra Deloitte VN cũng nhận được những hợp đồngkiểm toán các dự án có vốn đầu tư nước ngoài, các dự án của các tổ chức phi chínhphủ, của Ngân hàng thế giới…, tuy nhiên lĩnh vực kểm toán này và dịch vụ khác chỉchiếm chưa tới 5% trong tổng doanh thu của công ty, đây có thể xem là một lỗ hổngtrên thị trường mà Deloitte VN cần phải nỗ lực để lấp đầy, tạo ra một sự đa dạng vàcân bằng trong cung cấp dịch vụ và hướng tới trở thành một hãng cung cấp dịch vụchuyên nghiệp
Trang 36Biểu 1.4: Cơ cấu doanh thu theo loại hình dịch vụ
Tư vấn Dịch vụ khác
(Nguồn: Bản cáo bạch Công ty TNHH Deloitte VN - Năm 2008)
- Về tốc độ phát triển và cơ cấu nhân viên
Hiện nay, Deloitte VN có gần 400 nhân viên chuyên nghiệp với trình độchuyên môn 100% đại học, trong đó có 22% nhân viên đạt chứng chỉ KTV quốc gia(CPA Việt Nam), 9% đạt chứng chỉ KTV quốc tế (CPA Mỹ, CPA Úc, ACCA) và10% đạt trình độ thạc sỹ về quản trị kinh doanh, tài chính, kế toán quốc tế (Anh,
Mỹ, Úc, Nhật, Pháp, Singapore) Nguồn nhân lực đạt trình độ quốc tế với những nétvăn hoá riêng có của Deloitte VN không chỉ là niềm tự hào mà còn là một trongnhững điểm mạnh của Deloitte VN
Biểu 1.5: Cơ cấu nhân viên chuyên nghiệp của Deloitte VN
( Nguồn: Mẫu chào hàng kiểm toán Công ty TNHH Deloitte VN- Năm 2008)
Trang 37Có thể nói đội ngũ nhân viên của Deloitte VN là sự kết hợp giữa kiến thứcquốc tế, kỹ thuật kiểm toán tiên tiến nhất và kinh nghiệm hoạt động sản xuất kinhdoanh cũng như luật pháp của VN
2.1.3.3 Mục tiêu chiến lược và định hướng phát triển của công ty
- Mục tiêu chiến lược
Tiếp tục khẳng định thương hiệu VACO trước đây là "The First, the Best and
Still the Leader" ("Là công ty đầu tiên, là công ty tốt nhất và luôn là công ty đứng
đầu").Mục tiêu của Deloitte VN là trở thành sự lựa chọn số một trong số những
hãng hàng đầu của khu vực, và do đó, Deloitte VN cần phải cung cấp dịch vụ cóchất lượng cao nhất cho khách hàng
Mở rộng thị phần và hướng đến trở thành một hãng cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp:
Bên cạnh những thị phần và khách hàng truyền thống, trong những năm tiếptheo Deloitte VN sẽ nỗ lực mở rộng đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp hoạtđộng trong lĩnh vực tài chính ngân hàng nhằm giữ vững vị thế của Deloitte tại thịtrường Việt Nam và gia tăng nguồn thu cho công ty
Trang 38Bên cạnh thế mạnh là DN cung cấp dịch vụ kiểm toán có uy tín, Deloitte VN tiếptục nỗ lực để khẳng định thương hiệu của mình ở các mảng tư vấn, hướng đến trởthành một hãng cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp
1.3.4 Quy trình kiểm toán
Quy trình kiểm toán được hiểu đơn giản là các bước tiến hành trong quá trìnhthực hiện một cuộc kiểm toán nói chung Quy trình này được Deloitte thiết kế ápdụng thống nhất cho tất cả các thành viên của mình Đây là quy trình khá phức tạp
và chặt chẽ, với sự hỗ trợ đắc lực của hệ thống AS/2; bắt đầu từ khi chấp nhận hợpđồng kiểm toán đến khi kết thúc cuộc kiểm toán Trong đó có quy định cụ thể và bắtbuộc đối với các bước công việc đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán nói riêngcũng như kiểm soát chất lượng kiểm toán nói chung Quy trình này có thể chiathành sáu bước công việc như sau:
Trang 39Bảng 1.6: Quy trình kiểm toán tại Deloitte VN
(Nguồn: Deloitte Policies Manual)
Quản lý hợp đồng kiểm toán
Những công việc trước khi
thực hiện
hợp đồng kiểm toán
- Đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán
- Thiết lập nhóm kiểm toán
Lập kế hoạch
kiểm toán
tổng quát
- Lập kế hoạch kiểm toán chiến lược
- Tìm hiểu khách hàng và môi trường hoạt động kinh doanh
- Tìm hiểu về HTKSNB
- Tìm hiểu về chu trình kế toán
- Thực hiện những thủ tục phân tích sơ bộ
- Xác lập mức trọng yếu
Lập kế hoạch
kiểm toán
chi tiết
- Tổng hợp đánh giá rủi ro và kế hoạch kiểm toán
- Lập kế hoạch các thủ tục kiểm soát hiệu quả hoạt động của HTKSNB
- Lập kế hoạch kiểm toán chi tiết
- Tổng hợp và thảo luận về kế hoạch kiểm toán
- Thực hiện thử nghiệm cơ bản và đánh giá kết quả đạt được
- Đánh giá khái quát các sai phạm và phạm vi kiểm toán
- Thực hiện xem xét lại BCTC
Kết thúc công việc
kiểm toán và
lập báo cáo kiểm toán
- Xem xét lại những sự kiện diễn ra sau ngày kết thúc niên
độ kế toán
- Thu thập thư giải trình của BGĐ
- Tổng hợp các ghi chép
- Phát hành báo cáo kiểm toán
Những công việc thực hiện
sau hợp đồng kiểm toán
- Đánh giá chất lượng hợp đồng
Chuẩn bị, xem xét lại và kiểm soát các giấy tờ làm việc
Đánh giá và quản lý rủi ro
Chất
lượng
kiểm
toán
Trang 40Mỗi giai đoạn kiểm toán được thực hiện bởi một nhóm kiểm toán Trước hết,những công việc đánh giá, xử lý rủi ro cuộc kiểm toán và thiết lập các điều khoảnhợp đồng kiểm toán là những công việc mà BGĐ có sự tham mưu của các chuyêngia, thực hiện trước khi kiểm toán Sau khi tiến hành lựa chọn nhóm kiểm toán, trên
cơ sở phân công của cấp trên, các trưởng nhóm và các KTV có kinh nghiệm sẽ tiếnhành lập kế hoạch kiểm toán tổng quát và chi tiết Tiếp đó, các KTV cùng các trợ lýKTV sẽ thu thập bằng chứng phục vụ cho việc đưa ra kết luận kiểm toán Sau đó,KTV phụ trách sẽ phát hành báo cáo dự thảo để thống nhất với khách hàng và cácbước điều chỉnh cuối cùng để đưa ra Báo cáo kiểm toán chính thức (chi tiết các
công việc trong từng bước xem Phụ lục 1: Chi tiết các công việc trong quy trình
kiểm toán tại Công ty TNHH Deloitte VN)
Hầu như tất cả các cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty thực hiệnđều tuân thủ theo quy trình này, nó tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đảm bảo được chấtlượng cuộc kiểm toán Nói như thế không có nghĩa là áp dụng một cách cứng nhắcquy trình mà Công ty đã xây dựng, tuỳ theo những đặc điểm cụ thể của từng cuộckiểm toán mà KTV có thể có những thay đổi cho hợp lý, điều này phụ thuộc rấtnhiều vào kinh nghiệm KTV
1.3.5 Đặc điểm tổ chức hồ sơ kiểm toán
Nhờ sự hỗ trợ của AS/2, hệ thống hồ sơ kiểm toán, giấy tờ làm việc đượctrình bầy và quản lý một cách tiên tiến, hiệu quả HSKT được trình bày theo thứ tựcông việc và rất chi tiết cho từng giai đoạn được kiểm toán Tất cả các giấy tờ làmviệc của KTV đều được lưu trong HSKT Thông qua hệ thống hồ sơ kiểm toán chủnhiệm kiểm toán có thể soát xét giấy tờ làm việc của KTV, phát hiện các điểm yếu,sai sót hoặc các điểm chưa hoàn thiện để định hướng cho các KTV tiếp tục thu nhập