1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh các doanh nghiệp xản xuất thép xây dựng thuộc tổng công ty thép việt nam

75 414 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh các doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng thuộc tổng công ty thép việt nam
Trường học Tổng Công ty Thép Việt Nam
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề tài
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 780,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng thuộc Tổng Công ty Thép Việt Nam hiện nay và tiến hành đề xuất các chính sách, giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp này trên thị trường nội địa

Trang 1

Đề tài :

Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh các doanh nghiệp xản xuất thép xây

dựng thuộc Tổng Công ty thép Việt Nam

MỞ ĐẦU:

1.Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Ngành thép là ngành non trẻ thay thế nhập khẩu Trong những năm qua ngàythép đã có những bước phát triển đáng ghi nhận, tốc độ tăng trưởng bình quânkhoảng 10-15%/năm.Năng lực sản xuất thép đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu trongnước và đang từng bước tiến tới xuất khẩu.Tuy nhiên ,Nhà nước vẫn còn bảo hộsản xuất trong nước với mức thuế nhập khẩu cao do năng lực cạnh tranh cònthấp Để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt thìcon đường duy nhất cho doanh nghiệp là nâng cao năng lực canh tranh của hànghoá và dịch vụ.Đề tài nhằm định hướng cho chiến lược nâng cao năng lực cạnhtranh của các doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng thuộc Tổng Công ty ThépViệt Nam

2.Mục đích nghiên cứu:

Đề tài thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh củacác doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng thuộc Tổng Công ty Thép Việt Namhiện nay và tiến hành đề xuất các chính sách , giải pháp nhằm nâng cao nănglực cạnh tranh của các doanh nghiệp này trên thị trường nội địa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: lý thuyết về năng lực cạnh tranh và các nhân tố ảnhhưởng tới năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng

Chương I: Cơ sở lí luận nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản

xuất , kinh doanh thép xây dựng tại Việt Nam

Chương II: Phân tích năng lực cạch tranh của các doanh nghiệp sản xuất thép

xây dựng thuộc Tổng Công ty Thép Việt Nam

Trang 2

Chương III: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản

xuất thép xây dựng thuộc Tổng Công ty Thép Việt Nam

Chương I: Cơ sở lí luận nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất , kinh doanh thép xây dựng tại Việt Nam.

1 Các khái niệm cơ bản:

1.1.Khái niệm về cạnh tranh:

- Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thịtrường và cũng là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường.Sẽ không

có kinh tế thị trường nếu như không có cạnh tranh.Trong nền kinh tế thịtrường năng lực cạnh tranh là điều kiện sống còn của mỗi doanhnghiệp.Có thể hiểu cạnh tranh là là một quá trình kinh tế mà trong đó cácchủ thể kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp (cả nghệ thuật kinhdoanh lẫn thủ đoạn ) để đạt được mục tiêu kinh tế của mình như:chiếmlĩnh thị trường,giành lấy khách hàng cũng như đảm bảo tiêu thụ sao cho

có lợi nhất nhằm thu lợi nhuận cao nhất và nâng cao vị thế của mình.Mục đích cuối cùng các chủ thể trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóalợi ích, đối với doanh nghiệp là lợi nhuận, còn đối với người tiêu dùng làlợi ích tiêu dùng

- Cạnh tranh điều tiết nhu cầu thị trường :quan hệ cung -cầu từ đó dẫn tớiviệc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, cải tiến công nghệ và nâng caochất lượng sản phẩm để thu lợi nhuận.Đối với các doanh nghiệp, cạnhtranh là tất yếu trong nền kinh tế thị trường Các doanh nghiệp,nhà sảnxuất tham gia thị trường buộc phải chấp nhận sự cạnh tranh và trong cuộcchạy đua khốc liệt này doanh nghiệp nào không đáp ứng được sẽ bị đàothải.Mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, trong khi ngườitiêu dùng chỉ mua các sản phẩm, dịch vụ mà họ cho là tốt,phù hợp.Nhưvậy nhà sản xuất muốn bán được hàng,thu lợi nhuận thì phải tìm cáchnâng cao chất lượng sản phẩm,lựa chọn phương án sản xuất tối ưu với chiphí nhỏ nhất Cạnh tranh lành mạnh còn là động lực phát triển,cơ bản kếthợp hài hòa, hợp lí giữa lợi ích của doanh nghiệp,lợi ích của người tiêudùng và lợi ích toàn xã hội

- Cạnh tranh một mặt thúc đấy sản xuất phát triển mặt khác nó cũng dẫn tới

sự phân hoá giàu nghèo , cạnh tranh không lành mạnh…Vì vậy cần có sựquản lí của Nhà nước

1.2.Khái niệm năng lực cạnh tranh:

1.2.1 Năng lực cạnh tranh quốc gia:

2

Trang 3

- Theo diễn đàn kinh tế thế giới WEF năm 1997: “Năng lực cạnh tranhquốc gia là năng lực của nền kinh tế quốc dân đạt được và duy trì đượcmức tăng trưởng kinh tế cao trên cơ sở các chính sách, thể chế và các đặctrưng kinh tế khác tương đói vững chắc”.

- Uỷ ban cạnh tranh Công nghiệp của Mĩ thì : “Năng lực cạnh tranh quốcgia là mức độ mà ở đó dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng,

có thể sắp xếp các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thịtrường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng thu nhập thực tế cho nhândân nước đó trong điều kiện thị trường tự do và công bằng xã hội”

- Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu: “Năng lực cạnh tranh quốc gia làkhả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững vềmức sống, nghĩa là đạt được các tỉ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xácđịnh bằng những thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên ngườitheo thời gian”

- Diễn đàn cấp cao về năng lực cạnh tranh công nghiệp của tổ chức hợp tác

và phát triển kinh tế(OECD) thì định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh là khảnăng của các doanh nghiệp, ngành,quốc gia và vùng trong việc tạo việclàm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”

- Hiện tại về đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia có hai phương phápđược áp dụng rộng rãi.Phương pháp một do Diễn đàn kinh tế thếgiới(WEF) đưa ra trong bản Báo cáo cạnh tranh toàn cầu,phương pháphai do Viện quốc tế về quản lí và phát triển(IMD) đưa ra trong cuốn Niêngián cạnh tranh thế giới.Theo WEF và IMD thì năng lực cạnh tranh quốcgia được xác định bởi 8 yếu tố:

 Độ mở nền kinh tế : gồm hoạt động đầu tư và thương mạinhư: chính sách xuất nhập khẩu,chính sách thu hút vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài FDI,chính sách tỷ giá…

 Vai trò của Chính Phủ: mức độ can thiệp của Nhà nước,năng lực của Chính Phủ,chính sách thuế ,chính sách tài khóa …

 Năng lực tài chính - tiền tệ: hiệu quả của các trung gian tàichính,rủi ro tài chính,đàu tư và tiết kiệm…

 Kết cấu hạ tầng: năng lực và hiệu quả vận hành hệ thốngKCHT khả năng thu hút đầu tư FDI và tư nhân cho hệ thống hạtầng…

Trang 4

 Trình độ công nghệ: năng lực phát triển công nghệ trongnước,công nghệ qua vốn FDI và chuyển giao công nghệ của nướcngoài…

 Trình độ quản lí: xác định chiến lược kinh doanh của doanhnghiệp,tổ chức vận hành các bộ phận của doanh nghiệp…

 Lực lượng lao động : kĩ năng tay nghề,năng suất laođộng,tính linh hoạt thị trường lao động,quan hệ lao động giữa cácngành…

 Thể chế kinh tế, chính trị: sự phù hợp pháp luật với cơ chếthị trường,hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật…

1.2.2.Năng lực cạnh tranh ngành/doanh nghiệp:

Trên thực tế tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh

vụ với chất lượng tốt hơn và giá thành thấp hơn so với những đối thủcạnh tranh trong nước và quốc tế của mình”

- Bộ thương mại Hoa Kỳ thì cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp là khả năng tiêu thụ một cách bền vững có lợi nhuận những sảnphẩm,dịch vụ của mình và khách hàng của họ thì sẵn sang mua những sảnphẩm,dịch vụ này hơn so với các đối thủ cạnh tranh”

- Quan điểm khác cho rằng: năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp đó

có thể là sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giácủa nó trên thị trường,có nghĩa là doanh nghiệp nào có năng lực sản xuất

ra sản phẩm có chất lượng tương tự như các doanh nghiệp khác nhưngvới chi phí thấp hơn thì được coi là có năng lực cạnh tranh cao hơn” hay

“Năng lực cạnh tranh là năng lực giành được và duy trì thị phần trên thịtrường với một mức lợi nhuận nhất định”, “ Một ngành được coi là cókhả năng cạnh tranh nếu ngành đó có mức năng suất các yếu tố tổng hợpngang bằng hoặc cao hơn so với các quốc gia khác”

- Trong đề án quốc gia về năng lực cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ,

Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế đã đưa ra định nghĩa: “Nănglực cạnh tranh của ngành/doanh nghiệp là khả năng bù đắp chi phí ,duy

4

Trang 5

trì lợi nhuận và được đo bằng thị phẩn của sản phẩm,dịch vụ trên thịtrường”

Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng

thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm hànghoá dịch vụ hấp dẫn với người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu đượclợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh.Tổng hợp các trường phái lý thuyết, trên cơ sở quan niệm năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp là khả năng bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận vàđược đo bằng thị phần của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường, năng lực

cạnh tranh của một doanh nghiệp có thể được xác định trên 4 nhóm yếu tố cấu thành sau:

1 Chất lượng, khả năng cung ứng, mức độ chuyên môn hoá các đầu vào.

2 Các ngành sản xuất và dịch vụ trợ giúp cho doanh nghiệp.

3 Yêu cầu của khách hàng về chất lượng hàng hoá, dịch vụ.

4 Vị thế của doanh nghiệp so với đối thủ.

- Để lượng hóa năng lực cạnh tranh của ngành, người ta sử dụng hai chỉtiêu:Lợi thế so sánh (RCA) và Mức độ bảo hộ hiện hữu( ERP)

 Chỉ số RCA càng cao thì lợi thế so sánh càng lớn

Công thức tính RCA:

RAC=

Xn :kim ngạch xuất khẩu mặt hàng n của quốc gia

Xt :tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước đó

Xnw : tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng n của toàn thế giới Xtn : tổng kim ngạch xuất khẩu toàn thế giới.

RCA <1 : Mặt hàng không có lợi thế so sánh1<RCA<2.5: Mặt hàng có lợi thế so sánh,mức độ ngày càng cao khi nó tiệm cận cận trên

Trang 6

RCA>2.5 : Mặt hàng có lợi thế cạnh tranh cao

 Chỉ số ERP đo lường phạm vi mức độ bảo hộ và can thiệp củaChính Phủ tới tỉ lệ bồi hoàn đối với các nhân tố sản xuất như: đấtđai,lao động,vốn so với khi không có sự can thiệp của ChínhPhủ.Công thức tính ERP đối với ngành j là:

VAdj : giá trị gia tăng của ngành j theo giá nhận định( biểu hiện tác động của chính sách thương mại và các can thiệp của Chính Phủ)

VAwj :giá trị của ngành j theo giá thế giớiERP>0 :giá trị gia tăng của ngành lớn hơn trong trường hợp thương mại tự do

ERP<0 và VAw >0:ngành sẽ thuận lợi hơn khi tự do hóa thương mại

ERp<0 và VAw<0 : ngành đang được bảo hộ quá cao

1.2.3 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm:

- Theo định nghĩa của Viện nghiên cứu quản lí trung ương (CIEM) vàchương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) thì năng lực canh tranhsản phẩm đựơc đo bằng : thị phần của sản phẩm/dịch vụ trên thị trường Năng lực canh tranh của một sản phẩm được thể hiện qua lợi thế so sánh đốivới sản phẩm cùng loại.Lợi thế so sánh của sản phẩm bao gồm cả các yếu tốbên trong và bên ngoài:năng lực cạnh tranh,chi phí sản xuất,chiến lược sảnphẩm, thị phần…Khi nói sản phẩm A của doanh nghiệp B có năng lực cạnhtranh hơn sản phẩm A do doanh nghiệp C sản xuất thì điều đó có nghĩa lànói đến những lợi thế vượt trội của sản phẩm do doanh nghiệp B sản xuấtnhư doanh nghiệp này có chi phí sản xuất/ một đơn vị sản phẩm thấphơn,sản phẩm có chất lượng tốt hơn…Còn nếu so với sản phẩm cùng loạinhập khẩu thì yếu tố được thể hiện cơ bản qua giá bán sản phẩm

- Một sản phẩm được coi là có sức cạnh tranh và có thể đứng vững khi cómức giá thấp hơn hoặc khi cung cấp các sản phẩm tương tự với chất lượnghay dịch vụ ngang bằng hay cao hơn

6

Trang 7

Theo lý thuyết thương mại truyền thống, năng lực cạnh tranh được xem xétqua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất lao động

Theo M Porter, năng lực cạnh tranh phụ thuộc vào khả năng khai thác các

năng lực độc đáo của mình để tạo sản phẩm có giá phí thấp và sự dị biệt củasản phẩm

Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải xác định lợi thếcạnh tranh của mình

Lợi thế cạnh tranh của sản phẩm được hiểu là những thế mạnh mà sản phẩm

có hoặc có thể huy động để đạt thắng lợi trong canh tranh Có hai nhóm lợithế cạnh tranh:

 Lợi thế về chi phí: tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnhtranh Các nhân tố sản xuất như đất đai, vốn và lao động thường đượcxem là nguồn lực để tạo lợi thế cạnh tranh

 Lợi thế về sự khác biệt hóa: dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làmtăng giá trị cho người tiêu dùng hoặc giảm chi phí sử dụng sản phẩmhoặc nâng cao tính hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm Lợi thế này chophép thị trường chấp nhận mức giá thậm chí cao hơn đối thủ

Thông thường việc xác định khả năng cạnh tranh của sản phẩm dựa vào 4tiêu chí:

- Tính cạnh tranh về chất lượng và mức độ đa dạng hóa sản phẩm

- Tính cạnh tranh về giá cả

- Khả năng thâm nhập thị trường mới

- Khả năng khuyến mãi, lôi kéo khách hàng và phương thức kinhdoanh ngày càng phong phú hơn

Nhìn chung đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm phải xem xét cácmặt: chất lượng sản phẩm, chủng loại sản phẩm, tính đa dạng, mẫu mã, bao

bì của sản phẩm, uy tín thương hiệu của sản phẩm, nguồn hàng cung cấp ổnđịnh, giá cả sản phẩm và công tác Marketing sản phẩm

Tóm lại năng lực cạnh tranh là một khái niệm động , được cấu thành bởi

nhiều yếu tố, chịu sự tác động của cả các yếu tố vi mô và vĩ mô

1.2.4 Mối quan hệ giữa các cấp độ cạnh tranh:

- Năng lực cạnh tranh sản phẩm là cơ sở để tạo sự cạnh tranh củadoanh nghiệp,của ngành và tổng thể các ngành các doanh nghiệp lạitạo nên sức cạnh tranh của mỗi quốc gia.Một nền kinh tế có nănglực cạnh tranh quốc gia có nghĩa là có nhiều doanh nghiệp có nănglực cạnh tranh và ngược lại.Để tạo điều kiện cho doanh nghiệp cónăng lực cạnh tranh thì môi trường kinh doanh của nền kinh tế phải

Trang 8

thuận lợi, chính sách vĩ mô rõ ràng có tính dự báo cao, bộ máy Nhànước phải trong sạch, hoạt động hiệu quả Do vậy khi phân tích vềnăng lực cạnh tranh phải lồng ghép các cấp độ cạnh tranh với nhau

để có cái nhìn tổng thể

- Doanh nghiệp là một tổ chức có thể sản xuất được nhiều sản phẩmkhác nhau với năng lực cạnh tranh khác nhau Năng lực cạnh tranhcủa một sản phẩm thể hiện sản phẩm đó có thể thay thế một sảnphẩm khác đồng chất hoặc khác biệt.Năng lực cạnh tranh của sảnphẩm là một trong những yếu tố cấu thành nên năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp

- Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra khi họ cung ứng nhữngsản phẩm hoàn toàn giống nhau hoặc có sự khác biệt nhưng có thểthay thế cho nhau Nếu doanh nghiệp nào bán được nhiều sản phẩm

và ngày càng chiếm được thị phần nhiều hơn thì danh nghiệp đónăng lực cạnh tranh hơn Nếu một sản phẩm nào đó ngày càngchiếm được thị phần lớn hơn trên thị trường thì cũng có thể nói rằngsản phẩm đó có năng lực cạnh tranh cao hơn

Chúng ta thường phân biệt năng lực cạnh tranh của sản phẩm và củadoanh nghiệp nhưng trên thực tế chúng rất gần với nhau Vì một doanhnghiệp có năng lực cạnh tranh tốt thì sản phẩm của nó có năng lực cạnhtranh tốt và ngược lại Trên thực tế, ta hay dùng khái niệm năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm nhưnhững thuật ngữ có thể thay thế cho nhau Các doanh nghiệp sản xuấtthép xây dựng của Tổng Công ty hiện chỉ sản xuất thép xây dựng làchủ yếu nên ta có thể coi năng lực cạnh tranh của sản phẩm như nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp

2 Vai trò nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm thép xây dựng trong điều kiệnhội nhập kinh tế khu vực và thế giới:

- Hội nhập kinh tế là quá trình mở của nền kinh tế và chấp nhận đặtnền kinh tế quốc dân trong sự cạnh tranh khốc liệt và phức tạp vớicác nền kinh tế khác để tồn tại và phát triển.Việc cạnh tranh đượcdựa trên việc thiết lập các mối quan hệ kinh tế phụ thuộc đan xennhiều chiều với nhau.Trong bối cảnh hiện nay hội nhập kinh tế là

xu hướng có tính quy luật.Do vậy để phát triển nền kinh tế trongbối cảnh nhu vậy thì từng quốc gia phải chủ động hội nhập vào nềnkinh tế khu vực và thế giới mà ở đó doanh nghiệp phải là nhữngngười đi tiên phong

8

Trang 9

- Hiện nay, Việt Nam là thành viên chính thức của Hiệp hội cácquốc gia Đông Nam Á – ASEAN (Association of South East AsianNations); Hợp tác kinh tế trong khuôn khổ khu vực thương mại tự

do ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Hàn Quốc; Diễn đàn hợp tácChâu Á Thái Bình Dương APEC (Asian Pacific EconomicCooperation) và mới đây là Tổ chức thương mại thế giới WTO(World Trade Organization) Thực hiện chính sách mở cửa, hộinhập kinh tế quốc tế và tự do thương mại mang lại cho Việt Namnhiều lợi ích về thương mại, mở rộng khả năng thâm nhập vào thịtrường thế giới đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam; cải thiện cơchế giải quyết tranh chấp trong thương mại với các nước, khuyếnkhích đầu tư nước ngòai vào Việt Nam, và quan trọng hơn là thúcđẩy công cuộc cải cách và phát triển kinh tế Đây cũng là động lựcquan trọng đẩy nhanh tiến trình cải cách kinh tế, đặc biệt là thúcđẩy các doanh nghiệp trong nước tự sắp xếp lại, chủ động chuyểnhướng đầu tư, nâng cao trình độ kinh doanh, thực hiện chuyển giaocông nghệ để tăng khả năng cạnh tranh; tạo ra tư duy làm ăn mớithúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao hiệu quả sản xuất.Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội do hội nhập đem lại thì ViệtNam phải thực hiện những nghĩa vụ và quy tắc bắt buộc, trong đó

có các quy định về cắt giảm thuế quan và dỡ bỏ hàng rào phi thuếquan để tiến tới tự do hóa thương mại Giảm thuế nhập khẩu và dỡ

bỏ hàng rào phi thuế quan đồng nghĩa với việc giảm hàng rào bảo

hộ đối với các ngành sản xuất trong nước nói chung và ngành sảnxuất thép nói riêng, vì vậy các ngành sản xuất trong nước sẽ đứngtrước những thách thức rất lớn khi không còn sự bảo hộ của Nhànước.

- Hiện nay, đa số các doanh nghiệp nước ta đang sử dụng công nghệlạc hậu so với mức trung bình của thế giới từ 2 đến 3 thế hệ, 76%máy móc, dây chuyền công nghệ được sản xuất từ những năm 1950

- 1960, 75% số thiết bị đã hết khấu hao, 50% số thiết bị là đồ tântrang Tóm lại, máy móc, thiết bị đang được sử dụng ở các doanhnghiệp Việt Nam chỉ có 10% hiện đại, 38% trung bình và 52% làlạc hậu và rất lạc hậu; tỷ lệ sử dụng công nghệ cao mới chỉ có 2%(tỷ lệ này ở Thái Lan là 31%, Ma-lai-xi-a là 51% và Xin-ga-po là73%) Trong khi đó, các doanh nghiệp nước ta đầu tư cho đổi mớicông nghệ rất thấp, chi phí khoảng 0,2% - 0,3% tổng doanh

Trang 10

thu.Theo đánh giá của Viện nghiên cứu quản lí kinh tế trung ươngthì chỉ có 20% doanh nghiệp Việt Nam có đủ sức cạnh tranh để tồntại trong quá trình hội nhập Mà nguyên nhân chủ yếu là: sản xuấtqui mô nhỏ, công nghệ lạc hậu,hiệu quả sản xuất thấp,quản líyếu,trình độ lao động thấp,kĩ năng trong thương mại quốc tế kém…Nhận thức được tính cấp thiết và tầm quan trọng của việc nâng caonăng lực cạnh tranh nền kinh tế trong điều kiện hội nhập,Đảng vàChính Phủ đã đề ra nhiều chủ trương nhằm thúc đẩy phát triển kinh

tế và chủ động hội nhập.Từ nghị quyết Đại hội Đảng lầnVIII(1996),NQ 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ chính trị vềhội nhập kinh tế quốc tế đã xác định:’ “…các ngành, địaphương,doanh nghiệp khẩn trương sắp xếp lại hoạt động,nâng caohiệu quả sản xuất,nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh,bảođảm hội nhập kinh tế có hiệu quả” và “Đi đôi với việc nâng caonăng lực cạnh tranh sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp cần rasức cải thiện môi trường kinh doanh , khả năng cạnh tranh quốc giathông qua việc khẩn trương đổi mới và xây dựng đồng bộ hệ thốngpháp luật phù hợp với đường lối của Đảng và thông lệ quốc tế, pháttriển mạnh kết cấu hạ tầng,đẩy mạnh cải cách hành chính”.Qua đó

có thể thấy nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanhnghiệp có vai trò hết sức quan trọng quyết định sự sống còn củadoanh nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

- Thép là ngành non trẻ, thay thế nhập khẩu, năng lực cạnh tranhthấp.Khi chúng ta hội nhập kinh tế khu vực và thế giới bảo hộ củaNhà nước sẽ dần được gỡ bỏ.Đó là thách thức không nhỏ cho cácdoanh nghiệp thép trong nước.Vì vậy nâng cao năng lực cạnh tranhsản phẩm thép xây dựng có ý nghĩa sống còn đối với các doanhnghiệp sản xuất và kinh doanh thép trong môi trường hội nhập

3 Các chỉ tiêu đánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thép:

- Sản lượng ,doanh thu của sản phẩm:có nhiều phương pháp khácnhau để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm trong đó sảnlượng và doanh thu là một trong các chỉ tiêu quan trọng.Nếu sảnlượng tiêu thụ hàng hóa tăng cao qua các năm tức là hàng hóađược duy trì và giữ vững thị phần.Tương tự nếu doanh thu hằngnăm cao và tăng với tốc độ hợp lí qua các năm chứng tỏ giá cảhàng hóa được duy trì và hàng hóa đó đứng vững trong cạnh tranh

và có năng lực cạnh tranh cao được thị trường chấp nhận.Còn nếu

10

Trang 11

như khối lượng tiêu thụ lớn nhưng doanh thu không tương ứng thìchứng tỏ giá bán sản phẩm có sự giảm sút và năng lực cạnh tranhcủa hàng hóa đó giảm đi.

- Thị phần của doanh nghiệp:trong một thời kì (một năm) là tỉ lệphần trăm giữa tổng lượng sản phẩm tiêu thụ của doanh nghiệp sovới tổng lượng tiêu thụ trên thị trường trong thời kì đó.Chỉ tiêu nàycũng có thể đo bằng tỉ lệ phần trăm giữa doanh thu của doanhnghiệp về một loại sản phẩm nào đó so với tổng doanh thu về sảnphẩm đó trên thị trường.Thị phần sản phẩm của doanh nghiệp đượctính:

Sqi(t):thị phần sản phẩm Q hoặc tỉ trọng doanh thu sản phẩm Q của doanh nghiệp i thời kì t

Trang 12

Sqi(t-1):thị phần sản phẩm Q hoặc tỉ trọng doanh thu sản phẩm Q của doanh nghiệp i thời kì t-1

Mức độ biến động thị phần sản phẩm của doanh nghiệp tỉ lệ thuận với năng lực cạnh tranh sản phẩm, thị phần sản phẩm của doanh nghiệp tăng điều đó thể hiện năng lực cạnh tranh của sản phẩm cao,sản phẩm của doanh nghiệp ngày càng được thị trường chấp nhận ,ngược lại thị phần sản phẩm của doanh nghiệp giảm thể hiện

sự giảm sút năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Do năng lực sản xuất thép xây dựng của Việt Nam đang dư thừa, rất nhiều doanh nghiệp mới đầu tư với qui mô lớn đi vao hoạt động.Do vậy doanh nghiệp chiếm giữ thị phần cao và có mức tăng trưởng thị phần là doanh nghiệp thể hiện được vị thế của mình và

có năng lực cạnh tranh tốt

- Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp: đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp,phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường được đo bằng tỉ số phần trăm giữa lợi nhuận

so với doanh thu hoặc vốn đầu tư.Tỷ suất lợi nhuận càng cao thì chứng tỏnăng lực cạnh tranh sản phẩm càng tốt.Để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp người ta sử dụng chỉ tiêu sự biến động tỉ suất lợi nhuận của doanh nghiệp qua các thời kì khác nhau:

Li(t):tỉ suất lợi nhuận doanh nghiệpi thời kì t

Li(t-1):tỉ suất lợi nhuận doanh nghiệpi thời kì t-1

Chỉ tiêu biến động tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp cũng tỷ lệ thuận với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Tỷ suất lợi nhuận càng lớn thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao, hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng tăng và ngược lại

- Mối quan hệ giữa sự biến động doanh thu và biến động chi phí: chỉtiêu (Hc) được đo bằng tương quan giữa tỷ lệ doanh thu của năm t

so với năm t-1 và tỷ lệ chi phí của năm t so với năm t-1 Chỉ tiêunày càng lớn thì chứng tỏ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệpcàng lớn và ngược lại

12

Trang 13

Di(t) :doanh thu của doanh nghiệp i thời kì tDi(t-1):doanh thu của doanh nghiệp i thời kì t-1Ci(t) :chi phí của doanh nghiệp i thời kì tCi(t-1):chi phí của doanh nghiệp i thời kì t-1

- Sức cạnh tranh khu vực thị trường và cạnh tranh của nhãn hiệu sảnphẩm: chỉ tiêu này đánh giá khả năng phát triển của nhãn hiệu sảnphẩm và các loại sản phẩm trên cùng một khu vực thị trường nhấtđịnh, phản ánh sức cạnh tranh tương đối giữa sản phẩm của doanhnghiệp với các sản phẩm khác cùng loại Xác định các chỉ tiêu nàycho phép định hướng lựa chọn các nhãn hiệu sản phẩm thuộc danhmục mặt hàng kinh doanh có khả năng tiếp cận nhiều nhất đối vớingười tiêu dùng Các doanh nghiệp so sánh các chỉ tiêu này ở cáckhu vực khác nhau để lựa chọn các khu vực thị trường có sức épcạch tranh phù hợp với khả năng

 Công thức xác định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp:

Kc :khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Ci :thông số i được tính theo thang điểm 10(tham số i

là nhân tố có tác động, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như giá cả, chất lượng,dịch vụ hỗ trợ khách hàng…)

Zi :hệ số quan trọng của tham số i6<Kc≤10: khả năng cạnh tranh mạnh5<Kc≤6 :khả năng cạnh tranh trung bình1<Kc≤5 :khả năng cạnh tranh yếu

Trang 14

 Hệ số năng lực cạnh tranh của sản phẩm là tỷ số giữa chỉ sốchất lượng sản phẩm và gia cả của sản phẩm đó.

K

K :năng lực cạnh tranh của sản phẩm nào đó

C :chỉ tiêu chất lượng tổng hợp của sản phẩm, bao gồm các chỉ tiêu kĩ thuật và các chỉ tiêu kinh tế,xã hội khi sử dụng sản phẩm

g :giá tiêu dùng sản phẩm,bao gồm chi phí mua sắm và chi phí sử dụng sản phẩm

K=0.99-1: sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao

4 Nhân tố ảnh hưởng năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp sản xuất thépxây dựng:

Ngoài các chỉ tiêu định lượng, trong thực tế khi xác định khả năng cạnh tranh của ngành,doanh nghiệp,sản phẩm trên thị trường người ta còn sử dụng các mô hình,ma trận,mô hình SWOT,mô hình chuỗi giá trị…

 TheoMichael Porter nhà quản trị chiến lược nổi tiếng của trường đại học Harvard trong cuốn sách " Competitive Strategy :Techniques Analyzing Industries and Competitors" đã đưa ra nhận định về các áp lực cạnh tranh trong mọi ngành sản xuất kinh doanh

a Áp lực cạnh tranh của nhà cung cấp

Số lượng và quy mô nhà cung cấp: Số lượng nhà cung cấp sẽ quyết định đến áp lực cạnh tranh, quyền lực đàm phán của họ đối với ngành, doanh nghiệp Nếu trên thị trường chỉ có một vài nhà cung cấp có quy mô lớn sẽ

14

Trang 15

tạo áp lực cạnh tranh, ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành.

Khả năng thay thế sản phẩm của nhà cung cấp : Trong vấn đề này ta nghiên cứu khả năng thay thế những nguyên liệu đầu vào do các nhà cungcấp và chi phí chuyển đổi nhà cung cấp (Switching Cost)

Thông tin về nhà cung cấp : Trong thời đại hiện tại thông tin luôn là nhân

tố thúc đẩy sự phát triển của thương mại, thông tin về nhà cung cấp có ảnh hưởng lớn tới việc lựa chọn nhà cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp

b Áp lực cạnh tranh từ khách hàng

Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp tới toàn

bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành

Trang 16

phẩm, dịch vụ đi kèm và chính họ là người điểu khiển cạnh tranh trong ngành thông qua quyết định mua hàng.

Tương tự như áp lực từ phía nhà cung cấp ta xem xét các tác động đến áp lực cạnh tranh từ khách hàng đối với ngành

+ Quy mô

+Tầm quan trọng

+Chi phí chuyển đổi khách hàng

+Thông tin khách hàng

Đặc biệt khi phân tích nhà phân phối ta phải chú ý tầm quan trọng của họ,

họ có thể trực tiếp đi sâu vào uy hiếp ngay trong nội bộ của doanh

nghiệp

c.Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn:

Theo M-Porter, đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện chưa có mặt trêntrong ngành nhưng có thể ảnh hưởng tới ngành trong tương lai Đối thủ tiềm ẩn nhiều hay ít, áp lực của họ tới ngành mạnh hay yếu sẽ phụ thuộc vào các yếu tố sau

+ Sức hấp dẫn của ngành: Yếu tố này được thể hiện qua các chỉ tiêu như

tỉ suất sinh lợi, số lượng khách hàng, số lượng doanh nghiệp trong ngành.+Những rào cản gia nhập ngành : là những yếu tố làm cho việc gia nhập vào một ngành khó khăn và tốn kém hơn như vốn,kĩ thuật,các yếu tố thương mại( hệ thống phân phối, thương hiệu , hệ thống khách

hàng ),các nguồn lực đặc thù( nguyên vật liệu đầu vào ( Bị kiểm soát ), Bằng cấp , phát minh sáng chế, Nguồn nhân lực, sự bảo hộ của Chính Phủ) …

d Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế

Sản phẩm và dịch vụ thay thế là những sản phẩm, dịch vụ có thể thỏa mãn nhu cầu tương đương với các sản phẩm dịch vụ trong ngành.Áp lực cạnh tranh chủ yếu của sản phẩm thay thế là khả năng đáp ứng nhu cầu sovới các sản phẩm trong ngành, thêm vào nữa là các nhân tố về giá, chất lượng , các yếu tố khác của môi trường như văn hóa, chính trị, công nghệ cũng sẽ ảnh hưởng tới sự đe dọa của sản phẩm thay thế

Tính bất ngờ, khó dự đoán của sản phẩm thay thế : Ngay cả trong nội bộ ngành với sự phát triển của công nghệ cũng có thể tạo ra sản phẩm thay thế cho ngành mình

e Áp lực cạnh tranh nội bộ ngành

Các doanh nghiệp đang kinh doanh trong ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp với nhau tạo ra sức ép trở lại lên ngành tạo nên một cường độ cạnh tranh

16

Trang 17

Trong một ngành các yếu tố sau sẽ làm gia tăng sức ép cạnh tranh trên các đối thủ

+ Tình trạng ngành : Nhu cầu, độ tốc độ tăng trưởng ,số lượng đối thủ cạnh tranh

+ Cấu trúc của ngành : Ngành tập trung hay phân tán

 Ngành phân tán là ngành có rất nhiều doanh nghiệp cạnh tranh với nhau nhưng không có doanh nghiệp nào có đủ khả năng chi phối các doanh nghiệp còn lại

 Ngành tập trung : Ngành chỉ có một hoặc một vài doanh nghiệp nắm giữ vai trò chi phối ( Điều khiển cạnh tranh- Có thể coi là độc quyền)

+ Các rào cản rút lui (Exit Barries) : Giống như các rào cản gia nhập

ngành, rào cản rút lui là các yếu tố khiến cho việc rút lui khỏi ngành của doanh nghiệp trở nên khó khăn :

 Rào cản về công nghệ, vốn đầu tư

 Ràng buộc với người lao động

 Ràng buộc với Chính Phủ, các tổ chức liên quan (Stakeholder)

 Các ràng buộc chiến lược, kế hoạch

 Theo sơ đồ nhân tố tác động khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp theotác giả Nguyễn Đình Phan trong cách tiếp cận mới về năng suất và ứngdụng vào Việt Nam ta có thể chia những nhân tố ảnh hưởng đến năng lựccạnh tranh thành hai nhóm:nhóm nhân tố bên trong và nhóm nhân tố bênngoài hay là nhóm các nhân tố trực tiếp và nhóm các nhân tố gián tiếp

Trang 18

-Nhu cầu -Cạnh tranh -Giá cả -Chất lượng

Chính sách kinh tế:

-Vĩ mô -Chính sách đối ngoại

-Chính sách tiền tệ

-Trình độ quản lí

-Cơ chế điều

hưởng tới khảnăng cạnh tranh

-Hình thức tổ chức sản xuất -Qui mô -Chuyên môn hóa

-Liên doanh, liên kết

-Tình hình tài chính

Công nghệ -Máy móc, thiết bị

-Qui trình sản xuất

Trang 19

:nhân tố bên ngoài

:nhân tố bên trong

 Các nhân tố trực tiếp:

+ Nguồn lực tài chính: doanh nghiệp có năng lực tài chính lớn sẽthuận lợi cho đổi mới công nghệ cũng như mua sắm các trang thiết bị,đào tạo đội ngũ lao động có trình độ cao để nâng cao năng lực cạnhtranh giữa các doanh nghiệp Trên thị trường các đối thủ cành tranhvới nhau chủ yêu bằng hình thức hạ giá bán sản phẩm hoặc cung cấptín dụng cho khách hàng Nếu doanh nghiệp không có năng lực tàichính tốt thì sẽ không trụ vững được trong cạnh tranh Đó là lý dochính hiện nay các doanh nghiệp, tập đoàn sát nhập vào nhau tạo ratiềm lực tài chính mạnh, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh trênthị trường Đối với các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thép xâydụng đòi hỏi phải có vốn lớn cho đầu tư công nghệ đổi mới máy mócthiết bị, thời gian thu hồi vốn chậm và thường phải cung cấp tín dụngcho khách hàng nên doanh nghiệp có năng lực tài chính mạnh thì mớiđáp ứng được những đòi hỏi này

+ Lực lượng lao động: con người luôn là yếu tố quan trong quyết địnhhoạt động sản xuất của doanh nghiệp được thể hiện qua quy mô, cơ cấulao động, khả năng, trình độ của đội ngũ quản lý, người lao động Laođộng tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp qua các yếutố: năng suất lao động, sự sáng tạo… Các yếu tố này ảnh hưởng trựctiếp tới nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất Lao động

có tay nghề cao, vận hành thiết bị máy móc hiệu quả sẽ giúp nâng caonăng suất lao động, chất lượng sản phẩm Từ đó nâng cao năng lựccạnh tranh của sản phẩm Dễ dàng tiếp thu và làm chủ công nghệ mới,thích nghi với sự thay đổi trong sản xuất điều này càng quan trọng đối

Trang 20

với doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng Theo ông L.Thurow, mộttrong những nhà kinh tế học hàng đầu của Mỹ: “Vũ khí cạnh tranhquyết định trong thế kỷ 21 là giáo dục và kỹ năng của người lao động.Đặc biệt trước sự phát triển mạnh của nền kinh tế tri thức, yếu tố conngười ngày càng trở lên quan trọng là chìa khóa tạo ra sự thành công

và tạo ra năng lực cạnh tranh mới”

+ Yếu tố công nghệ: máy móc thiết bị thưc hiện năng lực sản xuất củadoanh nghiệp, tác động trực tiếp tới chất lượng, năng suất, giá thànhsản phẩm Một doanh nghiệp có công nghệ phù hợp thì đó là một lợithế cạnh tranh lớn và ngược lại Tuy nhiên khi thay đổi hoặc nâng cấpcông nghệ đòi hỏi phải giải quyết vấn đề tài chính hiệu quả Trong sảnxuất thép xây dựng, công nghệ sản xuất quyết định lớn đến chi phí sảnxuất và là yếu tố then chốt trong cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Vớicông nghệ hiện đại, tiêu hao nguyên nhiên liệu đăc biệt là phôi thép ởmức thấp, giá của sản phẩm sẽ thấp hơn so với các doanh nghiệp cócông nghệ lạc hậu.Thực tế ở Việt Nam không có đủ vốn đầu tư, quy

mô sản xuất nhỏ, manh mún, trình độ sản xuất thấp, trình độ chuyênmôn hạn chế nên khi xây dựng xong nhà máy thường phát sinh vấn đề

về công nghệ: xuất hiện hiện tượng không đồng bộ và chắp vá nênkhông thực sự nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn gây lãng phí, thấtthoát đầu tư Đây cũng là tình trạng phổ biến của các doanh nghiệpthuộc Tổng Công ty thép Việt Nam

+ Ngoài ra còn các yếu tố khác như các nhà cạnh tranh tiềm ẩn vớiquy mô sản xuất, sự khác biệt của sản phẩm, quy mô vốn, chi phí, khảnăng tiếp cận thị trường.Đây cũng là nguy cơ cạnh tranh cần xét tới

- Mức độ cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh hiện tại phụthuộc vào số lượng đối thủ, quy mô đối thủ, tốc độ tăng trưởng sảnphẩm, tính khác biệt sản phẩm

- Áp lực từ sản phẩm thay thế có cùng công năng phụ thuộc vàomức giá, nếu giá cả sản phẩm cao khách hàng sẽ chuyển sang sử dụngsản phẩm thay thế

- Áp lực từ nguồn cung cho ra đời nhiều loại nguyên vật liệu mới

có tính ưu việt, cung cấp cho sản xuất với mục đích tạo ra sản phẩmmới có nhiều ưu điểm hơn sẽ giành được ưu thế cạnh tranh

- Áp lực từ phía khách hàng buộc tập trung thỏa mãn khách hàngvới chất lượng sản phẩm tốt, mới lạ và chất lượng phục vụ khách hàngcao

20

Trang 21

 Các nhân tố gián tiếp:

+ Môi trường kinh doanh: khi nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ caokéo theo sự tăng thu nhập dẫn tới tiêu dùng cũng tăng lên đây là cơ hộicho các doanh nghiệp phát triển Tuy nhiên, do sự tăng trưởng của nềnkinh tế sẽ kéo theo sự gia tăng một cách nhanh chóng số lượng cácdoanh nghiệp tham gia vào thị trường làm tăng mức độ cạnhtranh.Doanh nghiệp nào đi trước sẽ có lợi thế trong cuộc cạnh tranh này

và sẽ thắng Ngược lại khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, tỷ lệ lạm pháttăng lúc đó thu nhập,tiêu dùng sẽ giảm và cạnh tranh trên thị trường sẽ

vô cùng khắc nghiệt Chính sách của Nhà nước ảnh hưởng lớn đến nănglực cạnh tranh của sản phẩm.Các chính sách bảo hộ sản xuất, chính sáchthuế, chính sách ưu đãi đầu tư, kiểm soát đầu tư, quy hoạch phát triểnngành…có tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Lãi suất cho vay của ngân hàng,chi phí phục vụ sản xuấtkinh doanh, cơ sở hạ tầng cũng là nhân tố ảnh hưởng quan trọng đếnnăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

+ Môi trường chính trị , pháp luật: chính trị, pháp luật là nền tảng chophát triển kinh tế Trên cơ sở pháp luật của Nhà nước doanh nghiệp tiếnhành hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường Luật pháp rõ ràng,chính trị ổn định, đó chính là môi trường thuận lợi đảm bảo sự bìnhđẳng cho các doanh nghiệp khi tham gia khiến hoạt động cạnh tranhhiệu quả

+ Môi trường KHCN(khoa học công nghệ):tác động mạnh đến chấtlượng sản phẩm và giá bán Bất kỳ một sản phẩm nào sản xuất ra đềugắn liền với một công nghệ, kỹ thuật nhất định Khoa học công nghệhiện đại sẽ giúp các doanh nghiệp thu thập,xử lý,lưu trữ, truyền đạtthông tin một cách nhanh, đầy đủ, chính xác nhất về thị trường,về đốithủ cạnh tranh và khách hàng.Đây là tiền đề để các doanh nghiệp có giảipháp hợp lý nâng cao năng lực cạnh tranh của mình

+ Môi trường tự nhiên,văn hóa,xã hội: điều kiện tự nhiên của từngvùng tạo điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn cho doanh nghiệp trongcạnh tranh.Vị trí địa lý thuận lợi như gần nơi tiêu thụ,tiện giaothông,gần nguồn nguyên liệu sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp giảmgiá thành sản phẩm.Song mức độ cạnh tranh ở những vùng này thườngquyết liệt nên doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh củamình để tồn tại và phát triển.Trong sản xuất thép xây dựng sử dụngnguồn nguyên liệu trong nước là cực kỳ quan trọng để cạnh tranh với

Trang 22

sản phẩm nhập khẩu.Bên cạnh đó phong tục, tập quán, lối sống, thịhiếu,trình độ văn hóa ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng do đó nó cũngtác động gián tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

+ Bối cảnh quốc tế như xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa đang giatăng trở thành đặc điểm mới nổi bật của nền kinh tế thế giới sẽ đưa đếncác mặt thuận lợi, những cơ hội cũng như những thách thức cho cạnhtranh của các sản phẩm

5 Khả năng tác động nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm thép:

 Từ phía doanh nghiệp:

- Tiếp tục chuyển đổi sở hữu, tái cơ cấu bằng nhiều biện pháp: cổphần hoá, bán, khoán, cho thuê hoặc giải thể Cần xác định phạm vi

và tiêu chí cụ thể các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, Nhà nướcchiếm cổ phần chi phối

- Doanh nghiệp xác định chiến lược kinh doanh và tầm nhìn dài hạn

- Chủ động tiếp cận nguồn vốn:thuê mua tài chính,vốn trả trước củakhách hàng,nhận vốn góp của Công ty liên doanh liên kết …

- Xây dựng hệ thống phân phối,phân tích thông tin về thị trường,chiếnlược kinh doanh, chiến lược sản phẩm, thương hiệu… từng bướcnâng cao năng lực quản trị trong các doanh nghiệp Bên cạnh đó, cácdoanh nghiệp cũng cần đầu tư nghiên cứu phát triển sản phẩm mới,đổi mới công nghệ, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến

- Nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm đi đôi với cắtgiảm chi phí nhằm hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm bằngnhiều biện pháp là một trong những yếu tố “quyết định” khả năngcạnh tranh của mỗi doanh nghiệp

- Đổi mới tổ chức quản lý, nắm vững pháp luật trong và ngoàinước,hoàn thiện các công cụ quản lý doanh nghiệp áp dụng cácphương pháp quản lý tiên tiến, tăng cường kỹ năng kinh doanh hiệnđại, khả năng tiếp cận và phát triển thị trường, khả năng bán hàng …

- Cần có lộ trình đào tạo, thu hút, sử dụng nhân tài trong kinh doanh.Đội ngũ cán bộ quản lý, kinh doanh trong các doanh nghiệp, các tậpđoàn kinh tế phải thực sự nhà nghề, vừa đảm bảo yêu cầu đạo đức,văn hoá truyền thống của con người Việt Nam, vừa có đủ kỹ năng,trình độ hội nhập với thị trường thế giới Họ không chỉ làm giàu chobản thân, cho đơn vị mà còn biết chăm lo lợi ích cộng đồng

22

Trang 23

- Xây dựng các liên kết kinh tế, kỹ thuật giữa các doanh nghiệp vớicác doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế nhằm phát huy sứcmạnh, khai thác lợi thế, khắc phục yếu kém trong hội nhập kinh tếquốc tế.

- Tích cực chủ động trong đối thoại với cơ quan Nhà nước để khaithác lợi thế cạnh tranh khu vực,tạo môi trường kinh doanh thôngthoáng…

- Tăng cường liên kết kinh doanh qua các hoạt động hiệp hội để chia

sẻ thông tin và giảm bớt rủi ro

 Từ phía Nhà nước:

- Cải thiện môi trường đầu tư,tạo điều kiện thuận lợi để khuyến khíchdoanh nghiệp phát triển.Ban hành các chính sách để doanh nghiệpxây dựng các chiến lược định hướng lâu dài,tạo sân chơi bình đẳngcho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia,hướngdẫn doanh nghiệp làm quen với môi trường hội nhập,hỗ trợ cácdoanh nghiệp có chiến lược xuất khẩu

- Cải cách các thủ tục hành chính, tiếp tục rà soát,kiên quyết bãi bỏcác giấy phép kinh doanh không cần thiết,những quy định gây phiền

hà cho doanh nghiệp góp phần làm giảm chi phí của doanh nghiệpgóp phần nâng cao sức cạnh tranh.Khắc phục tình trạng thiếu nhấtquán, không đồng bộ, chồng chéo, mâu thuẫn trong các chính sách

và việc thực hiện không thống nhất giữa các cấp, các ngành Chođến nay, chính sách vẫn còn nhiều thay đổi bất thường, khó dự đoán,làm đảo lộn các tính toán chiến lược của doanh nghiệp, chuyển lãithành lỗ, rủi ro đầu tư cao

- Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng,khai thác lợi thế cạnh tranh của từngđịa phương

- Hoàn thiện chính cách thuế và hải quan

- Tạo môi trường khuyến khích xuất khẩu đẩy mạnh cơ chế của Nhànước về xúc tiến thương mại

- Mở rộng và phát triển thị trường dịch vụ,thị trường lao động ,thịtrường tài chính,tiền tệ,tỷ giá hối đoái

- Từng bước giảm giá các hàng hoá và dịch vụ công, ổn định giá cáchàng hoá đầu vào có tác động làm tăng chi phí sản xuất như giá điện,nước, bưu chính viễn thông, năng lượng, cước phí vận tải, phí dịch

vụ bến cảng, sân bay, dịch vụ hành chính

Trang 24

Chương II: Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm thép xây dựng của các doanh nghiệp trong Tổng Công ty Thép Việt Nam.

1 Môi trường , đặc điểm hoạt động của các doanh nghiệp thuộc Tổng Công

ty Thép Việt Nam

1.1.Đặc điểm hoạt động:

Công ty mẹ - Tổng Công ty Thép Việt Nam (VSC) là Công ty Nhà nước,

có tư cách pháp nhân, con dấu, Điều lệ tổ chức và hoạt động; được mở tàikhoản tiền đồng Việt Nam và ngoại tệ tại Kho bạc Nhà nước, các ngânhàng trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật; trực tiếp thực hiệncác hoạt động sản xuất, kinh doanh và đầu tư vốn vào các Công ty khác;chịu trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước tại Công ty mẹ vàvốn đầu tư vào các Công ty khác; có trách nhiệm kế thừa các quyền, nghĩa

vụ pháp lý và lợi ích hợp pháp của Tổng Công ty Thép Việt Nam trướcđây

Tên gọi đầy đủ: Tổng Công ty Thép Việt Nam

Tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh:

VIETNAM STEEL CORPORATION

Tên gọi tắt: Việt NamSTEEL

Viết tắt là: VSC

Trụ sở chính: số 91 Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Trụ sở phía Nam: số 56 phố Thủ Khoa Huân, quận 1, thành phố Hồ Chí

Minh

Ngành, nghề kinh doanh của Tổng Công ty Thép Việt Nam:

- Sản xuất thép và các kim loại khác, vật liệu chịu lửa, thiết bị phụ tùng luyện kim và sản phẩm thép sau cán;

- Khai thác quặng sắt, than mỡ và các nguyên liệu trợ dung cho công nghiệp sản xuất thép;

- Xuất nhập khẩu và kinh doanh các sản phẩm thép và nguyên nhiên liệu luyện, cán thép; phế liệu kim loại; cao su, xăng, dầu, mỡ, ga và

24

Trang 25

các loại vật tư, phụ tùng, thiết bị phục vụ cho sản xuất thép, xây dựng, giao thông, cơ khí và các ngành công nghiệp khác;

- Thiết kế, tư vấn thiết kế, chế tạo, thi công xây lắp các công trình sản xuất thép, các công trình công nghiệp và dân dụng; sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng;

- Đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đào tạo nghề cho ngành sản xuất thép và sản xuất vật liệu kim loại;

- Kinh doanh, khai thác cảng và dịch vụ giao nhận, kho bãi, nhà

xưởng, nhà văn phòng, nhà ở; đầu tư, kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp, khu đô thị và bất động sản khác;

- Kinh doanh khí ôxy, nitơ, argon (kể cả dạng lỏng); cung cấp, lắp đặt

hệ thống thiết bị dẫn khí;

- Kinh doanh tài chính;

- Kinh doanh khách sạn, nhà hàng ăn uống, dịch vụ du lịch, lữ hành;

- Xuất khẩu lao động;

- Các ngành, nghề khác theo quy định của pháp luật

Cơ cấu quản lý, điều hành của Tổng Công ty Thép Việt Nam bao gồm: Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc, các Phó tổng giám đốc, kế toán trưởng và bộ máy giúp việc

Cơ cấu tổ chức Tổng Công ty Thép Việt Nam tại thời điểm thành lập gồm: Văn phòng Tổng Công ty Thép Việt Nam, các đơn vị hạch toán phụ thuộc, đơn vị sự nghiệp và chi nhánh sau:

- Công ty Thép tấm lá Phú Mỹ;

- Công ty Thép Phú Mỹ;

- Công ty Luyện cán thép Nhà Bè;

- Công ty Luyện cán thép Thủ Đức;

- Công ty Luyện cán thép Biên Hoà

- Trung tâm Hợp tác lao động với nước ngoài;

Trang 26

- Công ty Tư vấn thiết kế luyện kim;

- Khách sạn Phương Nam;

- Viện Luyện kim đen;

- Trường Đào tạo nghề cơ điện luyện kim Thái Nguyên;

- Chi nhánh miền Trung;

- Chi nhánh miền Tây

1.2.Môi trường sản xuất, kinh doanh thép xây dựng của các doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty Thép Việt Nam:

1.2.1.Môi trường sản xuất kinh doanh chung:

a.Thị trường và cạnh tranh:

Những năm qua, Nhà nước kéo dài thời gian đánh thuế nhập khẩu cácloại théo xây dựng tới 40%, trong khi đó thuế đánh vào phôi thép nhậpkhẩu từ 3%, sau tăng lên dần 7% Vì vậy, cả nước bùng phát tình trạngđầu tư tràn lan các nhà máy cán kéo các loại thép xây dựng, tạo nêncung vượt cầu, làm cho cuộc cạnh tranh trong nước hết sức sôi động

và thiếu lành mạnh Tính đến đầu năm 2003, cả nước ta có đến hơn 20nhà máy cán kéo các loại thép xây dựng với tổng công suất danh địnhgần 5 triệu tấn thành phẩm/năm Nhưng đến thời điểm này, chỉ mới có

5 Công ty liên doanh giữa nước ngoài với VSC, Công ty Gang ThépThái Nguyên và Công ty Thép Miền Nam sản xuất vượt và gần đạtcông suất thiết kế, tiêu thụ hết sản phẩm, tồn kho không vượt địnhmức Nhiều doanh nghiệp khác mới chỉ khai thác được từ 30 đến 50%năng lực hiện có Ðầu tư sản xuất thép đi từ nguyên liệu cơ bản đòihỏi nguồn vốn rất lớn, thời gian thu hồi vốn rất lâu, hiệu quả khôngcao, có nhiều rủi ro Do đó, cho đến nay, tất cả các Công ty liêndoanh, Công ty 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp thuộc nhiềuthành phần kinh tế chỉ mới đầu tư vào các dây chuyền chế biến, giacông sản phẩm thép xây dựng, tôn lợp và các sản phẩm thép khác chứchưa đầu tư vào sản xuất thép đi từ nguyên liệu cơ bản Chỉ có Công

ty Gang Thép Thái Nguyên, Công ty Thép Miền Nam, Công ty Thép

Ðà Nẵng thuộc VSC đã đầu tư sản xuất được một số thép chế tạo,nhưng sản lượng chưa lớn và gần 40.000 tấn phôi thép/năm bằng lò

26

Trang 27

điện hồ quang Vì vậy, nước ta vẫn phải nhập khẩu hầu hết các chủngloại thép chuyên dùng và phôi thép để sản xuất các loại thép xây dựng.

Do sản xuất các loại thép trong nước từ phôi thép nhập của nước ngoài

là chủ yếu, phụ thuộc vào thị trường và giá cả của thế giới, phí vậnchuyển lớn, nên hiệu quả kinh cao chưa cao, sức cạnh tranh kém.Theo VSC, bình quân một tấn thép thành phẩm dùng cho xây dựng,giá xuất xưởng 303,89 USD thì phôi thép nhập khẩu đã chiếm tới255,8 USD, trong lúc đó, tiền công lao động chỉ được 1,47 USD Năm

2002, VSC mới xuất khẩu được 21.000 tấn thép thành phẩm và 2.000tấn gang đúc, trị giá 5,61 triệu USD, nhưng phải nhập tới 585.500 tấnphôi thép, nhập siêu gấp nhiều lần Năm 2003, VSC dự định xuất khẩucác loại thép xây dựng và gang đúc trị giá 6,36 triệu USD, tăng 13%

so với năm trước Tuy kim ngạch xuất khẩu còn thấp, nhưng cho đếnnay, VSC vẫn là doanh nghiệp dẫn đầu xuất khẩu thép của Việt Nam

và có triển vọng tăng khá trong những năm tới

Công bằng mà nói, 19 năm đổi mới là thời gian ngành thép Việt Nam

có cơ hội phát triển, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thép trong nước Thực tếcho thấy, trước năm 1990, sản xuất thép của Việt Nam chưa bao giờvượt quá 100.000 tấn, những năm đầu thập kỷ 1990, Việt Nam phảinhập khẩu thép từ Liên Xô cũ với số lượng lớn nhằm giải quyết nhucầu sử dụng thép trong nước không ngừng gia tăng Tuy nhiên, giốngnhư nhiều nước đang phát triển, do không hội đủ các điều kiện vềnăng lực tài chính, các chính sách đầu tư thượng nguồn… nên các lòluyện phôi thép không thể ra đời, sản xuất thép Việt Nam thời giannày chủ yếu tập trung vào công nghệ hạ nguồn, cung ứng các sảnphẩm dài như thép dây, thép cây cho xây dựng – cho đến những nămđầu thế kỷ 21, nguyên liệu (phôi thép) vẫn phải nhập khoảng từ 80% -90%

Theo số liệu từ Hiệp hội Thép Việt Nam, mức tiêu thụ thép xây dựngnội địa năm 2006 khoảng 3,6 triệu tấn, trong khi năng lực sản xuấtthép đã đạt mức từ 5 triệu – 5,5 triệu tấn/năm, lượng phôi thép nhậpkhẩu cũng “đạt ngưỡng” 1,8 triệu tấn, mặc dù sản lượng phôi théptrong nước đã tăng lên 1,4 triệu tấn Giới chuyên môn dự báo năm

2007, nhu cầu tiêu thụ thép sẽ tăng 10%, theo đó mức sản xuất và tiêuthụ khoảng 3,8 – 3,9 triệu tấn, sản lượng luyện phôi trong nước sẽnâng lên 1,7 triệu tấn/ năm Theo chiến lược đầu tư thượng nguồn đếnnăm 2010, ngành thép sẽ cho ra đời một số lò luyện nhằm nâng sản

Trang 28

lượng phôi thép qua từng năm 2008: 2,5 triệu tấn, năm 2009: 3,3 triệutấn và năm 2010: 3,6 triệu tấn phôi/năm

Mặc dù đã cảnh giác và có sự chuẩn bị, nhưng ngành thép Việt Namkhông thể so sánh với Trung Quốc Ngành thép Việt Nam chỉ thực sựphát triển từ năm 1995, đến năm 2007, năng lực sản xuất có thể đạtkhoảng 6 – 7 triệu tấn/năm, trong khi Trung Quốc đã có một thời giandài phát triển trước đó Những năm gần đây, Trung Quốc đã trở thànhquốc gia có sản lượng, và mức tiêu thụ thép lớn nhất thế giới với trên

400 triệu tấn/năm, chiếm tỷ trọng trên 30% sản lượng thép toàn cầu.Hiện nay,với sự gia nhập của nhiều các doanh nghiệp vào lĩnh vực sảnxuất thép xây dựng đã đưa năng lực sản xuất thép xây dựng trongnước tăng mạnh và hiện đã vượt xa nhu cầu.Do đó,cạnh tranh tiêu thụthép xây dựng giữa các doanh nghiệp sản xuất trong nước diễn ra ngàycàng quyết liệt.Môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp thuộcTổng Công ty vì thế có sự thay đổi lớn, từ chỗ hầu như không có sựcạnh tranh với các doanh nghiệp sản xuất trong nước trướcnăm1995,thị phần Tổng Công ty giảm xuống còn 54% khi có sự thamgia của một vài liên doanh và chỉ còn 30,1% trong năm 2003 và34,1% trong năm 2004.Tương ứng với sự giảm sút thị phần của TổngCông ty là sự thay thế thị phần của các doanh nghiệp khác

Bên cạnh đó, mức độ cạnh tranh với hàng nhập khẩu cũng tăng lên khithời hạn hiệu lực của các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế đang ngàymột rút lại Thực tế, trong giai đoạn 1996-2003, thép xây dựng hầunhư không được nhập khẩu vào Việt Nam vì mức thuế nhập khẩu cao,chỉ lượng nhỏ thép xây dựng nhập khẩu là thép cường độ cao trongnước chưa sản xuất được phục vụ một vài công trình đặc biệt và thépdây lõi que hàn nhập khẩu gian lận bán cho mục đích xây dựng Tuynhiên, khi thuế nhập khẩu giảm xuống 0% trong vài tháng đầu năm

2004, thì các doanh nghiệp đã phải đương đầu với sức cạnh tranhquyết liệt của sản phẩm nhập khẩu Do vậy, theo hiệp định AFTA,mức cắt giảm thuế nhập khẩu sẽ giảm rất nhiều đối với thép xây dựng

từ các nước ASEAN ( chỉ còn 0 – 5%) và cạnh tranh với sản phẩmthép từ Trung Quốc vì Trung Quốc đang thương lượng tham gia vàoAFTA với các nước ASEAN Thêm nữa, việc Việt Nam gia nhập vào

tổ chức thương mại quốc tế cũng sẽ đòi hỏi việc cắt giảm thuế nhậpkhẩu thép từ các nước khác trên thế giới Do đó, sẽ càng làm gia tăng

áp lực cạnh tranh trong thời gian tới Theo đánh giá của Trung tâm

28

Trang 29

thương mại quốc tế thì chỉ số lợi thế so sánh biểu hiện (RAC) và mức

độ bảo hữu hữu hiệu (ERP) của ngành thép Việt Nam năm 2002 tươngứng là 0,21 và 54,6 Qua đó cho ngành thép Việt Nam không có lợithế cạnh tranh mặc dù đang được bảo hộ cao Theo phân loại về mức

độ cạnh tranh của Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế thì sảnphẩm thép xây dựng của Việt Nam được xếp vào danh mục sản phẩmcạnh tranh có điều kiện

b.Về môi trường công nghệ:

Xét một cách tổng thể, ngành thép Việt Nam hiện nay vẫn là ở tìnhtrạng kém phát triển,sản xuất phân tán với quy mô nhỏ,công nghệ lạchậu,cơ cấu sản xuất thiếu cân đối,nặng về gia công chế biến từ phôithép và bán thành phần nhập khẩu,chưa khai thác được những tiềmnăng của đất nước,hiệu quả các dự án đầu tư thấp,chi phí và giá thànhsản xuất cao,chưa có nhà máy hiện đại đủ sức chi phối toàn ngành,chiphí thị trường và thu hút các vệ tinh.Sản xuất trong nước chủ yếu ởkhâu hạ nguồn giá trị gia tăng thấp.Phần lớn nguyên liệu cho sản xuấtthép trong nước vẫn phải nhập khẩu

Thép xây dựng bao gồm thép thanh,thép cuộn,thép hình.Hoạt độngsản xuất thép ở Việt Nam tập trung nhiều ở công đoạn hạ nguồn,chủyếu ở khâu cán thép.Hiện tại năng lực sản xuất thép xây dựng khoảng5,1 triệu tấn/năm, trong khi đó năng lực sản xuất phôi thép chỉ đạtkhoảng 1 triệu tấn/năm chưa được 20%.Phôi thép chủ yếu được sảnxuất từ nguồn thép phế liệu nhập khẩu và thu mua trong nước.Mộtphần nhỏ phôi thép được sản xuất từ công đoạn luyện gang của Công

ty Thép Thái Nguyên.Tổng năng lực luyện gang hiện nay khoảng 0.2triệu tấn /năm , chiếm phần rất nhỏ so với nhu cầu gang để luyệnthép.Ở khâu luyện gang cũng phải nhập khẩu khoảng 30-40% nhu cầuthan cốc.Lượng cốc sản xuất trong nước hiện tại chỉ đạt hơn 0.1 triệutấn/năm và cũng phải nhập khẩu một phần than mỡ.Lượng than mỡhiện tại khai thác trong nước rất hạn chế và khai thác hết trữ lượng.Donăng lực sản xuất mất cân đối giữa các công đoạn sản xuất nên khảnăng đáp ứng nhu cầu đầu vào ở các công đoạn đều rất thấp.Côngđoạn luyện thép hiện chỉ đáp ứng khoảng 20% nhu cầu phôi thép.Sảnxuất phôi thép ở nước ta hiện nay hầu hết vẫn sử dụng công nghệngắn(sản xuất từ thép phế) mà chưa có đầu tư theo công nghệ dài (sảnxuất từ quặng sắt) nên giá thành cao Hơn nữa , sản xuất phôi thép

Trang 30

không được Nhà nước bảo hộ mạnh mẽ như thép xây dựng vì vậykhông hấp dẫn đầu tư.

Về công nghệ sản xuất , mặc dù đã có nhiều nỗ lực hiện đại hóa nhưngnhìn chung công nghệ sản xuất thép của nước ta vẫn chỉ ở trình độtrung bình so với các nước trên thế giới.Theo đánh giá của các chuyêngia thì công nghệ sản xuất thép của Việt Nam hiện nay khá lạc hậubình quân khoảng 10 năm so với thế giới,tính đồng bộ của thiết bịkhông cao.Sự lạc hậu về mặt công nghệ làm cho các chỉ tiêu tiêu haonguyên liệu , thời gian sản xuất cao,từ đó làm tăng giá thành sản xuấtnên năng lực cạnh tranh thấp.Đặc thù của ngành công nghiệp thép chothấy công nghệ sản xuất là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn tới năng lựccạnh tranh.Một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc mặc dù tương đốikhan hiếm về tài nguyên nhưng với công nghệ sản xuất cao mà cóngành thép có năng lực cạnh tranh cao

c.Các ngành công nghiệp phụ trợ:

Một nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất thép đó làcác ngành công nhiệp phụ trợ và các ngành liên quan.Nhìn chung đềuảnh hưởng bất lợi cho ngành thép Một trong những ngành hỗ trợ trựctiếp là ngành năng lượng-ảnh hưởng lớn tới chi phí sản xuất thép thìgiá điện ở Việt Nam lại khá cao,ngành công nghiệp khai thác khí chưaphát triển, ngành công nghiệp khai thác cũng ở tình trạng công nghệlạc hậu và hiệu suất thấp.Hệ thống cơ sở hạ tầng nhìn chung kém pháttriển đã làm tăng chi phí vận chuyển, bốc xếp

d.Tình hình tài nguyên trong nước phục vụ ngành thép:

Nguyên liệu phục vụ cho ngành thép chủ yếu là quặng sắt, thanmỡ,than antraxit và các loại than gầy,khí thiên nhiên ,nguyên liệu sảnxuất ferro,gạch chịu lửa và nguyên liệu thép phế.Các nguồn nguyênliệu đó của nước ta phong phú nhưng không toàn diện, không thuậnlợi cho phát triển ngành thép

- Quặng sắt: nước ta có khoảng 200 điểm quặng lớn nhỏ, trong đó

có khoảng gần 100 mỏ và điểm quặng có trữ lượng trên 1 tỷ tấnvới quy mô và chất lượng khác nhau.Một số mỏ quặng lớn làThạch Khê,Quý Xa,Trại cau, Tiến Bộ, Cao Bằng,Hà Giang cótrữ lượng 850 triệu tấn và trữ lượng chắc chắn có khả năng khaithác 400 triệu tấn Hiện chỉ có mỏ Trại Cau được khai thác côngnghệp cho Công ty Gang Thép Thái Nguyên, các mỏ khác mớichỉ dừng ở mức thăm dò Với trữ lượng quặng lớn, nhưng các

30

Trang 31

mỏ phân tán, chất lượng không đồng đều Mỏ Thạch Khê có trữlượng lớn nhưng lại nằm sâu dưới mực nước biển, đầu tư khaithác lớn, chi phí khai thác cao, hàm lượng kẽm trong quặng lớnnên giá trị thương mại lớn Tuy nhiên quặng sắt trong nước sẽnắm vai trò hết sức quan trọng để phát triển ngành thép ViệtNam, đảm bảo ngành thép độc lập, tự chủ trong tương lai.

- Than mỡ: đây là nguyên liệu chưa thể thay thế trong công nghệsản xuất gang bằng lò cao Than mỡ có trữ lượng 18 triệu tấn,

có độ tro cao ở vùng Thái Nguyên, Tây Bắc, Nghệ An, không

đủ cho phát triển ngành luyện kim nếu lựa chọn công nghệ lòcao Đây là hạn chế lớn nhất, khó khăn nhất, cản trở sự pháttriển của ngành Nếu phát triển sản xuất gang theo công nghệ lòcao thì phải nhập khẩu than mỡ, than cốc

- Than Antraxit và các loại than gầy khác: nước ta có tiêm nănglớn, trữ lượng khoảng 6,6 tỷ tấn và khả năng khai thác là 3,4 tỷtấn Đây là tiềm năng lớn cho công nghệ luyện kim phi cốc Tuynhiên công nghệ này trên thế giới mới trong giai đoạn thửnghiệm, chưa đảm bảo cho sản xuất quy mô lớn

- Khí thiên nhiên: nước ta có trữ lượng ngoài biển và trên đất liềntương đối lớn, khoảng 250 tỷ m3, đây là nguyên liệu quan trọngtrong lò nung, lò ủ thay dầu FO, làm chất hoàn nguyên sản xuấtsắt xốp Tuy nhiên giá khí thiên nhiên ở nước ta rất cao gâykhókhăn cho ngành thép

- Nguyên liệu sản xuất ferro, gạch chịu lửa: Nước ta có qặng Mn,Crôm, Niken, Titan, Silic,…, đặc biệt có trữ lượng lớn đất hiếm

và nguyên liệu sản xuất gạch chịu lửa Tuy nhiên do chất lượngquặng không đáp ứng yêu cầu nên vẫn phải nhập khẩu ferro vàgạch chịu lửa cao cấp

- Thép phế: nguồn thép phế trong chiến tranh, Việt Nam đã xuấtkhẩu và sử dụng hết từ nhiều năm trước Thép phế thải ra từ sảnxuất và tiêu dùng trong xã hội rất hạn chế do nền kinh tế kémphát triển, mức sống dân cư thấp, lượng thép tiêu thụ cònthấp.Hiện thu gom hàng hàng năm chỉ đạt khoảng 400000tấn,các năm tới tình hình chưa có nhiều chuyển biến nên pháttriển sản xuất bằng lò điện bắt buộc phải sử dụng thép phế liệunhập khẩu

Trang 32

Tóm lại, nước ta không có tiềm năng than mỡ, thép phế cho ngành thép

nhưng có tiềm năng về quặng sắt, khí thiên nhiên, chất trợ dung, nguyênliệu sản xuất ferro, gạch chịu lửa, tuy nhiên, chất lượng, trữ lượng, khaithác, vận chuyển,… hiện không thuận lợi để phát triển sản xuất thép hoàntoàn từ nguyên liệu trong nước, do vậy để phát triển ngành thép nhanhchóng phải ngập khẩu quặng sắt, than mỡ,than cốc,thép phế và các loạivật liệu cao cấp.Nguồn tài nguyên trong nước cần được khảo sát nghiêncứu, phân tích sâu và lựa chọn công nghệ phù hợp thì mới phát huy được.e.Môi trường Môi trường pháp lý và thể chế đối với vai trò của Tổng Công tyThép Việt Nam:

Là doanh nghiệp Nhà nước, Tổng Công ty cũng như các doanh nghiệpthành viên bị điều tiết bởi một khuôn khổ nhiều quy định, mỗi quy địnhlại có chính sách và yêu cầu hoạt động được xác định cụ thể, ảnh hưởngnhiều mặt trong công tác kinh doanh và không được định hướng hay cùngchung một định hướng tới khả năng tồn tại và năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp Hiện Tổng Công ty và các doanh nghiệp thành viên hoạtđộng như những quan thực hiện chính sách và kế hoạch của Chính Phủhơn là một doanh nghiệp kinh doanh tự chủ theo cơ chế thị trường TạiTổng Công ty, vấn đề về quyền sở hữu, vốn và vai trò quản lý đôi khikhông rõ ràng Từ đó dẫn đến sự chậm chễ trong việc ra quyết định vàphê duyệt các đề nghị của doanh nghiệp thành viên – thường là mang tínhđối phó thụ động hơn là chủ động và có dự báo trước Ngoài ra, theo quyđịnh của Chính Phủ quản lý việc bổ nhiệm các vị trí chủ chốt của TổngCông ty và doanh nghiệp trực thuộc, chức năng và quyền hạn của Tổnggiám đốc và Chủ tịch Hội đồng quản trị Những vướng mắc trong khuônkhổ pháp lý đôi khi không tạo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệptrực thuộc với các doanh nghiệp khác trong thị trường mở và cũng làmảnh hưởng tới hiệu quả và khả năng tồn tại của các doanh nghiệp

Trong môi trường khuôn khổ pháp lý hiện nay, Tổng Công ty đangphải thực hiện rất nhiều vai trò khác nhau, thậm chí còn mâu thuẫn lẫnnhau Nhưng vai trò này có thể tóm lược ở những điểm sau:

+ Là một đơn vị kinh doanh

+ Là cơ quan giám sát, hỗ trợ các đơn vị thành viên

+ Là cơ quan thực thi các chính sách của Chính Phủ

Sẽ rất khó cho Tổng Công ty vừa hoạt động như một đơn vị kinh doanhvừa là cơ quan thực hiện các chính sách của Chính Phủ trong đó mục đíchchính trị, xã hội hơn là mục tiêu kinh doanh Thực tiễn xây dựng kế

32

Trang 33

hoạch theo trình tự các cấp từ Chính Phủ đến doanh nghiệp thành viêncho thấy Tổng Công ty và các doanh nghiệp trực thuộc vẫn chịu sự quản

lý chung từ Trung ương và Tổng Công ty giữ vai trò là cơ quan tham giavào quá trình xây dựng kế hoạch và thực thi các quy định Nhà nước hơn

là một tổ chức kinh doanh tự chủ nhưng vai trò của Tổng Công ty lại lànâng cao tính độc lập, tự chủ và năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp thành viên Hàng năm, Chính Phủ giao kế hoạch sản xuất kinhdoanh cho Tổng Công ty, trên cở đó Tổng Công ty tiếp tục giao cho cácdoanh nghiệp và chỉ đạo, điều hành để hoàn thành kế hoạch được giao,nhưng đồng thời Tổng Công ty phải tham gia bình ổn thị trường thép, từ

đó Tổng Công ty chỉ đạo và quản lý giá bán của các doanh nghiệp nhằmđảm bảo kiềm chế và ổn định giá cả thị trường Thực chất để hoàn thànhđược nhiệm vụ trên trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, lại không có sự hỗtrợ tài chính từ Chính Phủ quả không dễ Có thể nói, khung khổ pháp lýhiện tại đang là một rào cản đối với Tổng Công ty cũng như các doanhnghiệp trực thuộc trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh

Đánh giá một cách tổng quan khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, thì sản

phẩm thép Viêt Nam có lợi thế cạnh tranh thấp do:

- Về khoáng sản của nước ta có trữ lượng thấp so với các nước trên thế giới

và so với cả các nước trong khu vực ASEAN,lại không đầy đủ,khôngtoàn diện

- Lao động của ngành thép Việt Nam đông về lượng và kém về chất Độingũ chuyên gia lành nghề và có tay nghề cao ít Đây cũng là tình trạngchung của lao động Việt Nam

- Điều kiện sản xuất vốn có về công nghệ của các nước cao hơn Việt Nam

So sánh trong khu vực ASEAN thì một số nước đã cao hơn hẳn so vớiViệt Nam, hơn nữa các nước này có chiến lược hướng về xuất khẩu sớmhơn Việt Nam Một số nước trong khu vực đã xuất khẩu lượng lớn sảnphẩm, trong khi đó xuất khẩu thép xây dựng của Việt Nam mới chỉ mangtính chất thăm dò sang một số thị trường như Lào, Campuchia,…

- Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thép của Việt Nam cao

Về cơ cấu thị trường, hiện năng lực sản xuất tập trung ở Miền Bắckhoảng 60%, Miền Nam 38%, Miền Trung 2% Trong khi đó tiêu dùngthép xây dựng ở Miền Bắc khoảng 43%, Miền Nam 45%, Miền Trung12% Do sự khác biệt khá lớn giữa tiêu dùng và năng lực sản xuất từngvùng nên mức độ cạnh tranh cũng khác nhau Ở khu vực phía Nam chỉtập trung khoảng 05 nhà sản xuất lớn, nhưng tiêu dùng thép cao nên mức

Trang 34

độ cạnh tranh không gay gắt như khu vực phía Bắc – nơi có đến 12 nhàsản xuất lớn Ở khu vực miền Trung, chỉ có 02 đơn vị sản xuất thuộcTổng Công ty với năng lực sản xuất 60.000 tấn/năm nhưng tiêu dùngchiếm đến 12% ( khoảng 350.000 tấn năm 2004) nên các nhà sản xuất ởkhu vực phía Bắc và khu vực phía Nam đều cạnh tranh đưa sản phẩm vàotiêu thụ Đây chính là môi trường cạnh tranh quyết liệt giữa các nhà sảnxuất để giành thị phần tiêu thụ Thông thường chi phí vận chuyển thép từMiền Bắc và Miền Nam vào Miền Trung khoảng 150 – 200 đồng/kg tùytheo phương thức và khoảng cách vận chuyển, nhưng hầu hết các doanhnghiệp sản xuất hiện nay áp dụng phương thức hỗ trợ vận chuyển chokhách hàng nên giá bán giữa các vùng miền nhìn chung không có sựchênh lệch.

- Về phân phối, các nhà phân phối thép ở Việt Nam hầu hết có quy mô nhỏ

và mức độ cạnh tranh cũng rất quyết liệt, mỗi nhà phân phối thường kinhdoanh sản phẩm của nhiều nhà sản xuất, không có nhà phân phối độcquyền Quan hệ giữa các nhà sản xuất và các nhà phân phối bán buônphụ thuộc lớn vào sự biến động giá cả, không có sự hợp tác chặt chẽ vàbền vững Tuy nhiên, quan hệ giữa các nhà phân phối bán buôn và cácnhà phân phối bán lẻ lại khá chặt chẽ do được xây dựng trên cở sở tin cậylẫn nhau, nhà phân phối bán buôn là nguồn cấp tín dụng cho nhà phânphối bán lẻ và biến động giá ít ảnh hưởng đến sự lựa chọn nhà cung cấpcủa người bán lẻ Do đó, các doanh nghiệp sản xuất thường phải cạnhtranh bằng chính sách giá và cung cấp tín dụng cho nhà phân phối bánbuôn nhưng hầu hết các doanh nghiệp sản xuất lại không có khả năng tàichính đủ mạnh để thực hiện chính sách này

Trong điều kiện ngành thép Việt Nam chưa được Nhà nước áp dụng cácchính sách bảo hộ sản xuất trong nước, phần nguyên liệu (phôi) phải nhập

từ Trung Quốc, sản lượng nhỏ hơn khoảng 60 lần, giá thành sản phẩmkhông có lợi thế cạnh tranh… Có thể nói, ngành thép Việt Nam đang gặprất nhiều khó khăn

1.2.2.Quan điểm xây dựng, phát triển ngành thép Việt Nam:

a Quan điểm chung:

Ngành sản xuất thép phải tiếp tục duy trì được mức tăng trưởng ổnđịnh bền vững trên cơ sở đảm bảo tính hiệu quả để đáp ứng yêu cầucủa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từng bước pháttriển thành một trong những ngành công nghiệp trụ cột của nền kinh tếnước nhà Trong giai đoạn đầu sẽ phát triển các khâu hạ nguồn trước

34

Trang 35

như sản xuất thép cán tròn xây dựng, thép cán tấm nóng, cán tấmnguội đi từ thép phôi, thép nhập khẩu và một phần thép phế liệu.Trong quá trình phát triển sẽ tiếp tục đầu tư chiều sâu các cơ sở hiện

có, nghiên cứu phát triển khâu thượng nguồn có sử dụng quặng sắttrong nước và một phần quặng sắt nhập khẩu phù hợp với trình độcông nghệ đã thuần thục Cần kết hợp chặt chẽ phát huy nội lực vàtranh thủ tận dụng có hiệu quả nguồn ngoại lực (vốn, công nghệ )chú ý tới xu hướng hội nhập, không bỏ qua các cơ hội có được nhờ xuthế hợp tác và phân công lao động quốc tế để đảy nhanh tốc độ pháttriển ngành Phát triển cân đối giữa luyện thép và cán kéo gia công,giảm dần tỷ lệ nhập phôi, tiến tới đáp ứng cơ bản nguồn phôi cho sảnxuất thép cán kéo Kết hợp giữa đa dạng hóa chủng loại, quy cách sảnphẩm để phục vụ nhu cầu thị trường, phát triển có chọn lựa một sốnhóm sản phẩm chủ yếu

Cần đầu tư phát triển để Tổng Công ty thép Việt Nam trở thành tậpđoàn kinh tế đủ mạnh, giữ vai trò chủ đạo trong trong sản xuất théptrong nước đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện cho các thànhphần kinh tế khác đầu tư vào sản xuất thép Kết hợp chặt chẽ, hài hòagữa mục tiêu phát triển sản xuất thép với việc khai thác và sử dụnghợp lý, hiệu quả, tiết kiệm nguồn tài nguyên trong nước (trước hết lànguồn quặng sắt)

Dự báo nhu cầu các sản phẩm thép xây dựng các giai đoạn như sau:

I- Tăng trưởng GDP (%); II- Tăng trưởng công nghiệp (%); III- Tăng

trưởng sản xuất thép (%); IV- Tăng tiêu thụ thép (%); V- BQ đầu người (kg/ người)

Trang 36

2016-2020 6,5 7-8 8-8,5 8-8,5 240

b.Mục tiêu phát triển ngành thép đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020:

Mục tiêu tổng quát: Phát triển ngành thép Việt Nam nhanh chóng trở

thành một ngành phát triển hoàn chỉnh theo công nghệ truyền thống, sử dụng tối đa nguồn quặng sẳn có trong nước, trên cơ sở xây dựng khu liênhợp luyện kim công suất 4-5 triệu tấn thép /năm, sử dụng tối đa và có hiệu quả nguồn nguyên liệu khoáng trong nước, áp dụng các công nghệ mới hiện đại đang được sử dụng trên thế giới, cố gắng thoả mãn tối đa nhu cầu trong nước về thép cán (cả về số lượng, chủng loại, quy cách và chất lượng sản phẩm) Từ thay thế nhập khẩu tiến tới xuất khẩu sản phẩm thép Phấn đấu đến 2020 sẽ có một ngành thép phát triển bền vữngvới tốc độ tăng trưởng cao, bảo đảm tốt về chất lượng, đầy đủ về số lượng và chủng loại sản phẩm thép, đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh

tế xã hội của đất nước

Như vậy nhu cầu thép vào năm 2005 sẽ là 6.480 ngàn tấn; năm 2010 là

10 triệu tấn; năm 2015 là 16 triệu tấn và năm 2020 là 20 triệu tấn Trong

đó sản xuất trong nước theo mốc năm tương ứng chỉ đạt 51%; 61%; 62%

và 70% vào năm 2020

c Những mục tiêu chính trong 5 năm đến 10 năm tới của Tổng Công ty:

Sản xuất thép không thuộc loại ngành công nghiệp sinh lời cao, lại đòihỏi vốn đầu tư lớn, lâu thu hồi vốn nên kém hấp dẫn đối với các nhà đầu

tư (cả trong nước và ngoài nước) Song một đất nước đã quyết tâm trởthành nước công nghiệp thì không thể không phát triển ngành thép Điều

đó đòi hỏi Nhà nước phải có sự quan tâm đặc biệt đối với ngành côngnghiệp thép.Để tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 vàNghị quyết Trung ương 9, Khoá IX và quy hoạch phát triển Tổng Công

ty theo Quyết định số 134/2001/QĐ-TTg ngày 10 tháng 9 năm 2001 củaThủ tướng Chính Phủ, mục tiêu của Tổng Công ty giai đoạn 5 năm2005-2010, cụ thể:

 Trong giai đoạn 5 năm 2006-2010, phấn đấu sản lượng thép cántăng trưởng bình quân 10-15%/năm (thép cán đạt 50% thị phầnthép cả nước); phôi thép cơ bản đáp ứng nhu cầu cho sản xuất củaTổng Công ty và đáp ứng một phần nhu cầu về thép chất lượngcao, thép dự ứng lực cho nền kinh tế Đầu tư đổi mới công nghệ,đưa trình độ công nghệ của Tổng Công ty đạt mức tiên tiến chungcủa khu vực, đảm bảo khả năng cạnh tranh của các sản phẩm théptại thị trường trong nước và quốc tế

36

Trang 37

 Tiếp tục đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất, nâng cao trình độcông nghệ các cơ sở hiện có; đầu tư mở rộng Công ty Gang ThépThái Nguyên giai đoạn II để đạt công suất 75 vạn tấn phôithép/năm; tiếp tục đầu tư Nhà máy cán Thép Đà Nẵng 25 vạn tấn/năm; đầu tư liên doanh khai thác mỏ quặng sắt Quý Xa và liên hợpluyện kim Lào Cai; đầu tư Nhà máy Thép Phú Mỹ II, công suất 50vạn tấn phôi thép/năm; đầu tư dự án Nhà máy phôi thép phía Bắc,công suất 50 vạn tấn phôi thép/năm; đầu tư mở rộng Công ty ThépTấm lá Phú Mỹ nâng công suất lên 60 đến 65 vạn tấn/năm; đầu tư

dự án Nhà máy thép tấm cán nóng 1,5 -2 triệu tấn/năm Tích cựcchuẩn bị để triển khai đầu tư khai thác Mỏ quặng sắt Thạch Khê

và Nhà máy thép liên hợp 4,5 triệu tấn/năm vào cuối kế hoạch 5năm 2006-2010

 Năm 2009, song song với đầu tư phát triển, mục tiêu được ViệtNamSteel đặt ra là đảm bảo sản xuất kinh doanh ổn định, tốc độtăng trưởng cao, mở rộng thị phần trong nước và đẩy mạnh xuấtkhẩu sản phẩm thép cán Cụ thể, Tổng Công ty phấn đấu đạt tổnggiá trị sản xuất công nghiệp 4.590 tỷ đồng, tăng 4,1%; tổng doanhthu 21.000 tỷ đồng; sản lượng thép cán 1,1 triệu tấn, tăng 5,6%;sản lượng phôi thép 730.000 tấn, tăng 14,1%; tiêu thụ thép cán1,12 triệu tấn, tăng 12,1% so với năm 2008

 Bên cạnh xây dựng xong chiến lược phát triển Tổng Công ty đếnnăm 2015 - tầm nhìn đến 2025, Việt NamSteel phấn đấu đảm bảochất lượng, an toàn và tiến độ đối với 4 dự án chuyển tiếp gồm:

Dự án mở rộng Công ty Gang Thép Thái Nguyên giai đoạn II, dự

án liên doanh khoáng sản và luyện kim Việt Trung, dự án nhà máycán nóng ESSAR - Việt Nam và dự án nhà máy thép cán nguội -Công ty cổ phần thép tấm lá Thống Nhất Đồng thời, Tổng Công

ty sẽ hoàn thành công tác chuẩn bị đầu tư và khởi công các dự án:

Dự án nhà máy thép liên hợp, dự án nhà máy cán thép Thái Trung

- Công ty cổ phần cán thép Thái Trung, dự án nhà máy sản xuấtmăng - gan tại Bình Định, dự án đầu tư tại đường Hoàng QuốcViệt, dự án sàn giao dịch điện tử thép Việt Nam, dự án đầu tưTrung tâm logistics thép Hà Nội và dự án nhà Nghĩa Đô

Những mục tiêu phấn đấu của ngành thép đã tính đến cả những khókhăn, thách thức mà ngành thép sẽ gặp (về vốn đầu tư, về cạnhtranh ) Song đó là những mục tiêu cần phải phấn đấu để đạt được,nếu không sẽ khó mà đảm bảo được những mục tiêu chiến lược lâu dài

về công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước

2 Phân tích năng lực cạnh tranh các sản phẩm thép xây dựng của các doanhnghiệp thuộc Tổng Công ty Thép Việt Nam

Ngày đăng: 17/07/2013, 14:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

-Tình hình kinh tế thế giới - Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh các doanh nghiệp xản xuất thép xây dựng thuộc tổng công ty thép việt nam
nh hình kinh tế thế giới (Trang 18)
Nhóm sản phẩm thép hình, hiện chỉ có hai đơn vị của Tổng Công ty sản xuất chính với nhiều chủng loại thép hình cỡ nhỏ,chiếm khoảng 9-10% trong cơ cấu sản phẩm của Tổng Công ty. - Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh các doanh nghiệp xản xuất thép xây dựng thuộc tổng công ty thép việt nam
h óm sản phẩm thép hình, hiện chỉ có hai đơn vị của Tổng Công ty sản xuất chính với nhiều chủng loại thép hình cỡ nhỏ,chiếm khoảng 9-10% trong cơ cấu sản phẩm của Tổng Công ty (Trang 38)
Bảng 8: Các cơ sở sản xuất thép phôi - Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh các doanh nghiệp xản xuất thép xây dựng thuộc tổng công ty thép việt nam
Bảng 8 Các cơ sở sản xuất thép phôi (Trang 51)
01 Thép Lưu Xá 30 225 - Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh các doanh nghiệp xản xuất thép xây dựng thuộc tổng công ty thép việt nam
01 Thép Lưu Xá 30 225 (Trang 52)
Từ các số liệu ở bảng trên ta thấy các lò điện sản xuất thép của ta đều rất nhỏ trừ nhà máy thép Phú Mỹ được trang bị lò điện hồ quang kiểu DANARC 70 tấn/mẻ mới được đưa vào vận hành - Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh các doanh nghiệp xản xuất thép xây dựng thuộc tổng công ty thép việt nam
c ác số liệu ở bảng trên ta thấy các lò điện sản xuất thép của ta đều rất nhỏ trừ nhà máy thép Phú Mỹ được trang bị lò điện hồ quang kiểu DANARC 70 tấn/mẻ mới được đưa vào vận hành (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w