Quản lý hành chính nhà nước có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, trong thời gian qua các cơ quan hành chính ở trung ương và địa phương đã có nhiều đóng góp cho sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Trang 1MỞ ĐẦU
Quản lý hành chính nhà nước có vị trí rất quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân, trong thời gian qua các cơ quan hành chính ở trung ương và địaphương đã có nhiều đóng góp cho sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội củađất nước Cơ chế chính sách của nhà nước đối với lĩnh vực này cũng có nhiềuchuyển biến, từng bước tạo điều kiện cho các cơ quan, đơn vị nâng cao chấtlượng và hiệu quả hoạt động
Tuy nhiên, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới và hoàn thiện thểchế kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng, cơ chếquản lý đối với cơ quan hành chính đã bộc lộ những hạn chế cần khắc phục,nhất là cơ chế quản lý tài chính và biên chế Chính vì vậy chính phủ đã banhành Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/09/2001 phê duyệt chươngtrình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 với 4 nộidung lớn là:
- Cách thể chế
- Cải cách tổ chức bộ máy hành chính
- Đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
- Cải cách tài chính công
Trong đó coi cải cách cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hànhchính nhà nước là bước đột phá Để triển khai chương trình này, ngày17/12/2001 Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg về mở rộng thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đốivới cơ quan hành chính nhà nước
Mục đích của sự đổi mới này là thực hiện việc trao quyền tự chủ và
tự chịu trách nhiệm cho cơ quan hành chính trong việc tổ chức công việc, sửdụng lao động và các nguồn lực tài chính của cơ quan theo hướng khoán biên
Trang 2chế và kinh phí quản lý hành chính, từ đó tạo điều kiện cho các đơn vị chủđộng sắp xếp lao động, tổ chức công việc, quản lý tài chính.
Sau hơn 4 năm thực hiện Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg đến nay
đã có 58/64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và 3 Bộ triển khai thí điểmkhoán Những kết quả đạt được cho thấy chủ trương này của chính phủ làhoàn toàn đúng đắn: các cơ quan đã có quyền tự chủ trong việc tổ chức bộmáy, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nâng cao hiệu suất lao động, hiệuquả công việc Nhưng bên cạnh những thành tựu đáng biểu dương thì cơ chếnày cũng bộc lộ những hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực thi
Để làm rõ và đánh giá một cách khách quan tình hình thực hiện vàkết quả đạt được của cơ chế khoán từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghịnhằm hoàn thiện và phát huy hiệu quả của cơ chế này, em đã lựa chọn đề tài:
“Một số giải pháp,kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan hành chính ở nước ta trong giai đoạn 2006-2010”
Đề tài gồm ba phần:
- Chương I : Cơ quan hành chính nhà nước và khoán chi ngân
sách cho cơ quan hành chính nhà nước
- Chương II : Thực trạng khoán chi ngân sách nhà nước cho cơ
quan hành chính nhà nước trong thời gian quan
- Chương III : Một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ
chế khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đoàn Thị Thu Hà đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành đề tài này.
Trang 3CHƯƠNG I
CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VÀ KHOÁN CHI NGÂN
SÁCH CHO CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
I KHÁI NIỆM VỀ CƠ QUAN QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1.Quản lý hành chính nhà nước
“Quản lý là tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên các đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường”.1
Quản lý xuất hiện ở bất cứ nơi nào có hoạt động chung của conngười Nhiệm vụ của quản lý là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung, hướngcác hoạt động chung theo những hướng thống nhất nhằm đạt được mục tiêu
đã định trước Cũng như vậy, quản lý hành chính nhà nước có thể hiểu là việcđiều khiển các quá trình xã hội do hệ thống hành chính nhà nước thực hiệnbằng quyền lực của nhà nước
“Quản lý hành chính nhà nước là tác động của chủ thể quản lý hành chính nhà nước,chủ yếu bằng pháp luật, tới các đối tượng quản lý để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao trong lĩnh vực hành pháp”.2
Quản lý hành chính nhà nước được thực hiện chủ yếu bởi hệ thống
cơ quan nhà nước mà đứng đầu là chính phủ và các cơ quan hành chính nhànước Hoạt động quản lý hành chính nhà nước là một hoạt động nằm trongnhóm ba loại hoạt động của nhà nước, đó là: hoạt động lập pháp, hoạt độnghành pháp và hoạt động tư pháp Mục đích của loại hoạt động này là bảo đảm
sự chấp hành pháp luật, pháp lệnh, nghị quyết của cơ quan quyền lực nhànước nhằm duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật trong
Trang 4công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Hay còn có thể nói quản lý hànhchính nhà nước là hoạt động chấp hành, điều hành của nhà nước.
Tính chấp hành của quản lý hành chính nhà nước thể hiện ở mụcđích của hoạt động này, đó là: đảm bảo tính hiệu lực của văn bản pháp luật do
cơ quan nhà nước cấp cao ban hành trong thực tế Mọi hoạt động của quản lýhành chính nhà nước đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm thựcthi pháp luật
Tính chất điều hành của hoạt động quản lý hành chính được biểuhiện ở chỗ để đảm bảo văn bản pháp luật của nhà nước được thực thi trongđời sống, chủ thể quản lý hành chính cần tiến hành tổ chức và chỉ đạo việcthực hiện đối với đối tượng quản lý
Tóm lại, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động nhằm thực hiệnquyền hành pháp của nhà nước đối với xã hội
2 Cơ quan hành chính nhà nước
2.1 Khái niệm
Cơ quan hành chính nhà nước là một bộ phận của bộ máy nhà nước,
do nhà nước lập ra để thực hiện chức năng quản lý hành chính Nhiệm vụ củacác cơ quan này là thực hiện hoạt động chấp hành, điều hành trên lãnh thổ haytrong từng ngành, từng lĩnh vực Đây là dấu hiệu chính để phân biệt cơ quanhành chính nhà nước với các cơ quan nhà nước khác Những cơ quan hànhchính nhà nước khác không có chức năng quản lý nhà nước mà chỉ tham giavào quá trình quản lý nhà nước thông qua các hoạt động cơ bản của mình Vídụ: Toà án nhân dân có chức năng xét xử các vụ án, Viện kiểm sát nhân dân
có chức năng kiểm sát chung, Ngân hàng trung ương có chức năng điều tiếttài chính tiền tệ
Trang 5Cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhànước theo hai hướng: thứ nhất, ban hành các văn bản pháp quy nhằm hướngdẫn thực hiện các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; thứ hai làchỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan hành chínhnhà nước dưới quyền và các đơn vị cơ sở khác thuộc thẩm quyền.
Như vậy: “ Cơ quan hành chính nhà nước là một dạng cơ quan nhà nước, thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước về mọi mặt của đời sống xã hội thông qua hoạt động chấp hành và điều hành, có thẩm quyền mang tính quyền lực nhà nước để thực hiện những nhiệm vụ chức năng do luật định.” 3
Nội dung quản lý hành chính nhà nước được thực hiện thông quacác mục tiêu, nhiệm vụ, chức năng hoạt động của từng cơ quan hành chínhnhà nước, từng cấp, từng ngành và toàn bộ hệ thống hành chính nhà nước
Các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng hành chínhnhà nước trên các lĩnh vực sau:
- Quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoạigiao
- Quản lý về tài chính, ngân sách nhà nước, tài sản công, kiểmtoán, bảo hiểm, ngân hàng, tín dụng, v.v
- Quản lý về khoa học, công nghệ, tài nguyên, môi trường
- Quản lý về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
- Quản lý về tổ chức bộ máy hành chính
2.2 Phân loại cơ quan hành chính nhà nước.
Xét theo tiêu chí quy mô lãnh thổ hoạt động thì các cơ quan hànhchính nhà nước được chia thành: cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương
và cơ quan nhà nước ở địa phương
Trang 6Các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương gồm: Chính phủ,các Bộ, các cơ quan ngang Bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ Trong đó,theo điều 109, hiến pháp 1992, quy định “Chính phủ là cơ quan chấp hànhcao nhất của Quốc hội và là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, “Chính phủ quản lý thống nhất cácnhiệm vụ: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoạicủa Nhà nước” Các văn bản của Chính phủ ban hành có hiệu lực với mọi cơquan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân trên cả nước Các quyết định củacác Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan thuộc Chính phủ có hiệu lực trongngành hay lĩnh vực mà nó quản lý trong phạm vi cả nước.
Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương gồm: Uỷ ban nhândân các cấp, các sở, phòng ban của Uỷ ban nhân dân Các hoạt động củanhững cơ quan này chỉ được thực hiện trên một đơn vị lãnh thổ hành chínhnhất định
Sơ đồ 1 sẽ cho ta hình dung về mối quan hệ quyền hạn giữa các cơquan hành chính nhà nước ở nước ta:
Trang 7Sơ đồ 1 Bộ máy quản lý hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay
(Nguồn: Những vấn đề cơ bản về Nhà nước và QLNN, NXB Thống Kê, 2005)
II CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1 Nội dung chi ngân sách nhà nước cho các cơ quan hành chính
Để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nhà nước đòi hỏi phải cómột nguồn tài chính để duy trì sự tồn tại và các hoạt động bình thường củacác cơ quan nhà nước Các cơ quan hành chính nhà nước có nhiệm vụ thựchiện lợi ích công cộng mà không yêu cầu người được phục vụ phải trả thù lao
Chính phủ
UBND tỉnh, thành phố
trực thuộc
Các Bộ, cơ quanngang Bộ
UBND quận, huyện, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh Các Sở, ban, ngành
UBND xã, phường, thị
Trang 8Vì vậy, ngân sách nhà nước phải chi kinh phí để duy trì các hoạt động của các
cơ quan này
Chi ngân sách nhà nước đối với các cơ quan hành chính nhà nước
là quá trình phân phối và sử dụng quỹ ngân sách để đáp ứng nhu cầu thực hiện các nhiệm vụ quản lý hành chính của nhà nước.
Quá trình phân phối là việc xác lập, xét duyệt và phân bổ ngân sáchnhà nước đối với cơ quan hành chính nhà nước Quá trình sử dụng là quá trìnhcấp kinh phí từ quỹ ngân sách nhà theo các phân bổ trên cho các cơ quan hànhchính nhà nước Sau khi nhận được kinh phí cấp phát, các cơ quan này sẽ chitiêu cho những hoạt động theo dự toán đã được phê duyệt
Nội dung chi ngân sách nhà nước đối với cơ quan hành chínhnhà nước bao gồm: chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển
Chi thường xuyên được chia thành những khoản mục sau:
- Chi thanh toán cho cá nhân ( lương, phụ cấp, )
- Chi hàng hoá dịch vụ: các dịch vụ công cộng, văn phòngphẩm, thông tin, tuyên truyền, liên lạc, hội nghị, công tácphí, chi phí thuê mướn,
Chi đầu tư phát triển:
- Xây dựng trụ sở làm việc
- Mua sắm tài sản cố định dùng cho công tác chuyên môn
2 Phương thức chi ngân sách nhà nước trước khi thực hiện khoán chi
Trên thế giới tồn tại nhiều phương thức chi ngân sách nhànước như: phương thức chi theo yếu tố đầu vào, phương thức chi theo kết quảđầu ra và phương thức chi theo chương trình dự án Mục tiêu của hệ thống cơchế quản lý tài chính này là nhằm phát huy tối đa hiệu quả của chi ngân sách
Trang 9nhà nước Tuy nhiên ở nước ta, chủ yếu chỉ áp dụng phương thức phân phốitheo yếu tố đầu vào
Theo phương thức này, mỗi cơ quan đơn vị thụ hưởng nguồn ngânsách muốn thực hiện các nhiệm vụ chức năng mà nhà nước giao cho thì cầnphải có nguồn lực nhất định, đó là các yếu tố đầu vào Chi ngân sách nhànước là tạo điều kiện vật chất để các cơ quan đơn vị đó có được các đầu vàocần thiết nhằm duy trì và thực hiện các hoạt động của mình
Trong giai đoạn từ khi đổi mới đến trước năm 1999, chi ngân sáchnhà nước đối với các cơ quan hành chính cũng được áp dụng theo phươngthức cấp phát theo yếu tố đầu vào, nội dung cụ thể được quy định trong Nghịđịnh số 74 – CP ngày 24/12/1960 của Hội đồng Chính phủ về quản lý tàichính đối với các cơ quan hành chính nhà nước
Nghị định này quy định kinh phí hoạt động bình thường của các cơquan hành chính nhà nước được ngân sách bao cấp 100% trên cơ sở chỉ tiêubiên chế được giao Cụ thể, các đơn vị thụ hưởng lập dự toán ngân sách đểtrình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dựa trên số biên chế và các khoản chithường xuyên tại đơn vị và được cấp phát kinh phí trong hạn mức, hết nămngân sách nếu đơn vị thụ hưởng sử dụng không hết phải trả về cho ngân sáchnhà nước Đồng thời các cơ quan hành chính cũng không được phép sử dụngbất cứ nguồn kinh phí nào khác để chi cho nhiệm vụ quản lý hành chính Cơchế này không những không khuyến khích đơn vị sử dụng tiết kiệm chi phí,lao động mà còn khuyến khích tăng thêm biên chế để được tăng thêm kinhphí
Thực trạng trên đã đòi hỏi phải sớm tìm ra phương thức quản lý mớinhằm nâng cao trách nhiệm của các đơn vị trong việc sử dụng ngân sách.Chính phủ cùng các Bộ, ngành và các địa phương đã có nhiều cơ chế chínhsách cải tiến quá trình chi tiêu Một trong những cải tiến đó là thực hiện thí
Trang 10III KHOÁN CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.
1 Khái niệm khoán chi ngân sách nhà nước cho cơ quan hành chính nhà nước
Nhằm khắc phục những bất cập trong việc quản lý biên chế và kinhphí hành chính như đã nêu trên, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số192/2001/QĐ-TTg ngày 17/12/2001 về mở rộng thí điểm khoán biên chế vàkinh phí quản ký hành chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước
Các cơ quan hành chính nhà nước căn cứ vào chức năng, nhiệm vụcủa mình, chi các nhiệm vụ thành thành các công việc nhỏ, trong đó xác định
số công chức tham gia, thời gian thực hiện và các phương tiện vật chất cầnthiết để thực hiện các công việc đó, như: số trang thiết bị, số văn phòng phẩm,tiền thông tin liên lạc Tổng hợp các số liệu đó thành ngân sách hoạt độngcủa năm Cơ quan quản lý cấp trên giao ngân sách này cho cơ sở Lãnh đạo cơ
sở tự xác định số lượng biên chế, hạn chế tối đa đầu vào nhằm tiết kiệmđược một khoản kinh phí trên cơ sở vẫn hoạt thành đúng chất lượng và tiến độcông việc Số ngân sách dôi dư được sử dụng vào việc tăng quỹ phúc lợi, cảithiện điều kiện làm việc cho cán bộ công chức, bổ xung quỹ lương
Như vậy, khoán chi ngân sách nhà nước cho cơ quan hành chính là nhà nước (trực tiếp là đơn vị có thẩm quyền duyệt dự toán ngân sách nhà nước) giao cho các cơ quan hành nhận mức khoán kinh phí ổn định trong một thời kỳ (có thể là một năm hoặc một số năm) để đơn vị chủ động sử dụng hiệu quả kinh phi được cấp phát trên cơ sở hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao 4
Các đơn vị được chủ động sử dụng nguồn kinh phí dôi dư trên cơ
sở đảm bảo tính công khai, dân chủ
4 Đặng Văn Thanh: Khoán chi hành chính-một giải pháp nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lý hành chính nhà nước, Tạp chí Quản lý nhà nước 8/1999
Trang 11Ở đây, cần lưu ý rằng, khoán chi ngân sách nhà nước cho cơ quanhành chính nhà nước là việc khoán chi cho việc thực hiện nhiệm vụ của cơquan hành chính, chứ không phải là khoán chi cho các công việc quản lý củatất cả các cơ quan thuộc khu vực nhà nước nói chung.
Hộp1 Ngân sách có kiểm soát chi tiêu ở Fairfield
ăm 1979, thành phố Fairfield
ở California đã sáng tạo ra
một giải pháp cho hệ thống ngân sách.
Giám đốc tài chính của Fairfield vốn là
một người nhập cư từ Philipin, nơi anh ta
từng là nhân viên ngân hàng Anh ta đề
xuất với ông Gala Wilson, một nhà quản
lý thành phố, làm theo cách của Philipin
tức là giống như cách thức lập ngân sách
của gia đình: lập các khoản chi cho
những khoản chi chính, nhưng có thể
chuyển được tiền từ tài khoản này sang
tài khoản khác khi thực sự phải làm như
vậy
năm 1981, California đã xác định Fairfield
là một trong những thành phố nổi tiếng nhất về tài khoá của bang Đến năm 1991, các cơ quan của thành phố này đã tiết kiệm được 6,1 triệu đôla Quỹ chung lúc đó là 30.2 triệu đôla, nhưng chỉ sử dụng hết 28.8 triệu đôla Điều này cho phép thành phố thực hiện được một số nhiệm vụ khác vốn không được cấp tiền và dành ra một khoản
dự trữ đề phòng suy thoái(Nguồn: Sáng tạo lại chính phủ, Viện
Trang 122 Nội dung chủ yếu của cơ chế khoán chi ngân sách nhà nước cho cơ quan hành chính nhà nước
Theo Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ,nội dung chủ yếu của cơ chế khoán chi ngân sách nhà nước cho cơ quan hànhchính nhà nước bao gồm những nội dung sau:
2.1 Đối tượng áp dụng khoán chi ngân sách nhà nước
Đối tượng thực hiện Quyết định này là tất cả các cơ quan hànhchính nhà nước và các tổ chức trực tiếp sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước.Không áp dụng cơ chế này đối với các đơn vị sự nghiệp thuộc cơ quan thựchiện khoán
Trang 13hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, không phải vì để tiết kiệm chi phí mà làmgiảm chất lượng công việc so với trước khi giao khoán.
- Không tăng biên chế và tổng kinh phí của các khoản chi thực hiệnkhoán so với trước khi thực hiện khoán
Tổng kinh phí của các cơ quan giao khoán không được tăng so vớitrước khi thực hiện khoán, điều này đòi hỏi cơ quan thực hiện thí điểm khoánphải tổ chức lại bộ máy, quy định lại chức năng nhiệm vụ của từng bộphận sao cho hệ thống hoạt động có hiệu quả nhất với số kinh phí được giaokhoán
- Thực hiện công khai, dân chủ và bảo đảm quyền lợi hợp pháp củacán bộ, công chức
Việc sử dụng kinh phí tiết kiệm hoàn toàn do đơn vị tự quyết địnhtrên cơ sở quy định tỷ lệ khung Trong điều kiện đó để tránh tình trạng phânphối không công bằng, gây mất đoàn kết trong tổ chức thì việc thực hiện quychế dân chủ cơ sở và công khai tài chính trong đơn vị thực hiện khoán là rấtcần thiết
2.4 Nội dung và mức giao khoán
2.4.1 Biên chế giao khoán:
Biên chế giao khoán là số biên chế do các cơ quan nhà nước cóthẩm quyền giao cho cơ quan, đơn vị thực hiện thí điểm khoán sau khi đã ràsoát lại trên cơ sở biên chế hiện có và được giao ổn định trong 3 năm kể từkhi thực hiện thí điểm giao khoán
2.4.2 Kinh phí ngân sách nhà nước giao khoán được ổn định trong
3 năm, bao gồm:
a) Tổng quỹ lương được xác định trên cơ sở số biên chế được giaokhoán và ngạch, bậc lương của cán bộ, công chức theo quy định tại Nghị định
Trang 14số 25/CP ngày 23/5/1993 của Chính phủ và các chế độ liên quan đến chínhsách tiền lương hiện hành của nhà nước.
b) Kinh phí quản lý hành chính được xác định căn cứ vào:
- Hệ thống định mức tiêu chuẩn, chế độ sử dụng kinh phí chithường xuyên của ngân sách nhà nước theo quy định;
- Tình hình thực tế sử dụng kinh phí trong 3 năm liền kề trước nămthực hiện thí điểm khoán, có xem xét đến các yếu tố tăng giảm đột biến
c) Mức khoán kinh phí hành chính được phép điều chỉnh trong cáctrường hợp sau:
- Nhà nước thay đổi chính sách tiền lương;
- Có sự thay đổi ở mức tối thiểu là 20% đối với các định mức, tiêuchuẩn, chế độ hiện đang là cơ sở cho việc lập dự toán và phân bổ kinh phí đốivới các khoản chi thực hiện khoán
- Nhà nước có chính sách tăng chi cho các lĩnh vực đang thực hiệnkhoán;
- Sáp nhập, chia tách cơ quan, đơn vị theo quyết định của cấp cóthẩm quyền
d) Không thực hiện khoán đối với các khoản chi sau:
- Chi sửa chữa lớn trang thiết bị, phương tiện, trụ sở và nhà công vụ
- Chi mua sắm tài sản cố định, cải tạo, xây dựng trụ sở, nhà công vụ
- Chi đoàn ra, đoàn vào
- Chi đào tạo cán bộ, công chức
2.5 Sử dụng kinh phí do tiết kiệm
- Kinh phí tiết kiệm từ quỹ lương do thực hiện tinh giảm biên chếđược sử dụng 100% tăng thu nhập cho cán bộ, công chức cơ quan
Trang 15- Kinh phí tiết kiệm từ chi hành chính, nghiệp vụ và khoản khác
+ Tăng thu nhập cho cán bộ, công chức cơ quan:
Từ nguồn tiết kiệm quỹ lương và nguồn này tăng thu nhậpcho cán bộ, công chức theo hệ số điều chỉnh mức tiền lương tốithiểu không quá 2,5 lần so mức lương tối thiểu chung do nhà nướcquy định
) x (
Hệ số lương cấp bậc bình quân của
cơ quan
+
Hệ số phụ cấp lương bình quân của cơ quan
) x Biênchế x
12 tháng
+ Chi khen thưởng + Chi phúc lợi+ Chi nâng cao hiệu quả, chất lượng công việc: mua sắm, sửachữa tài sản cố định, đào tạo cán bộ
+ Chi thêm cho những người thực hiện giảm biên chế+ Lập quỹ ổn định thu nhập
Thủ trưởng đơn vị quyết định mức sử dụng các nội dung trên
Trang 16- Kinh phí tiết kiệm chi không hết được chuyển sang năm sau tiếptục chi.
2.6 Tổ chức thực hiện (Theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 17/2002/ TTLT-BTC-BTCCBCP)
- Các cơ quan được lựa chọn thực hiện khoán chi xây dựng đề ánkhoán chi của cơ quan mình theo đề án mẫu gửi Bộ, ngành chủ quản (đối vớicác cơ quan thuộc trung ương quản lý), Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương (đối với các cơ quan thuộc địa phương quản lý) phêduyệt
- Các đề án chi sau khi được phê duyêt, cơ quan phê duyệt đề án gửi
về Bộ Tài chính, Ban tổ chức cán bộ chính phủ (đối với cơ quan trung ươngquản lý); Ban tổ chức chính quyền, Sở Tài chính-Vật giá (đối với cơ quanthuộc địa phương quản lý) để theo dõi, giám sát việc thực hiện
3 Sự cần thiết phải khoán chi ngân sách nhà nước cho cơ quan hành chính
3.1 Xuất phát từ mối quan hệ giữa cải cách tài chính công và cải cách hành chính.
Ở nước ta công cuộc cải cách hành chính bắt đầu được triển khai từkhi Nghị quyết 38/CP ngày 04/05/1994 cả Chính phủ về cải cách một bướcthủ tục hành chính trong giải quyết công việc của công dân, tổ chức ra đời.Đặc biệt, Nghị quyết hội nghị Trung ương 8 khoá VII tháng 01/1995 đã đặtcải cách hành chính thành một nội dung quan trọng trong sự nghiệp đổi mớitoàn diện ở nước ta và xác định cải cách hành chính là trọng tâm của côngcuộc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam
Trang 17Ngày 17/09/2001 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định 136/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giaiđọan 2001-2010 Bao gồm bốn nội dung là:
- Cải cách thể chế
- Cải cách tổ chức bộ máy hành chính
- Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
- Cải cách tài chính công
Như vậy cải cách hành chính và cải cách tài chính có mối quan hệmật thiết với nhau Chỉ có thể thực hiện cải cách hành chính thành công khitiến hành đồng thời với cải cách tài chính công
“Mối quan hệ khăng khít giữa cải cách hành chính với cải cách tàichính công thể hiện trên những mặt sau:
- Việc thực thi hoạt động của bộ máy nhà nước gắn liền với cơ chếtài chính hỗ trợ cho các hoạt động đó
- Việc phân cấp quản lý hành chính phải tương ứng với sự phân cấpquản lý ngân sách nhà nước để đảm bảo kinh phí cho hoạt động có hiệu quả ởmỗi cấp
- Các cấp chính quyền trong bộ máy hành chính đều có trách nhiệm
và quyền hạn có ý nghĩa quyết định trong quản lý tài chính công ở phạm viquản lý của mình
- Các thể chế về tài chính công có tác dụng chi phối hoạt động củacác cơ quan nhà nước theo ý định của Chính phủ
- Tỷ trọng và cơ chế chi tiêu kinh phí ngân sách để trả lương chođội ngũ cán bộ công chức trong bộ máy nhà nước có tác động quan trọng đếnviệc phát huy năng lực của cán bộ công chức trong công việc
Trang 18- Thông qua tài chính công, nhà nước thực hiện giám sát bằng tiềnđối với mọi hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước.
Từ những mối quan hệ hữu cơ nói trên có thể thấy công cuộc cảicách hành chính không thể tách rời với cải cách tài chính công Xét trên phạm
vi rộng, cải cách tài chính công là cải cách các hoạt động thu chi bằng tiền củanhà nước từ đó tác động đến toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước và cung ứngdịch vụ công trên các lĩnh vực Xét trên phạm vi hẹp, vai trò của tài chínhcông được xem xét thông qua các tác động trực tiếp tới cách thức tổ chức bộmáy, cơ cấu tổ chức, quan hệ phân cấp trong bộ máy, tiền lương côngchức ”5
Một trong những mục tiêu của cải cách tài chính công là: trên cơ sởphân biệt rõ cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụcông thực hiện đổi mới cơ bản cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quanhành chính và đơn vị sự nghiệp Trên tinh thần đó Quyết định số192/2001/QĐ-TTg ngày 17/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ về khoán biênchế và kinh phí hành chính đã ra đời, góp phần tạo ra cơ chế tài chính chophép các đơn vị chủ động hơn trong việc tổ chức và sắp xếp bộ máy hợp lý,nâng cao hiệu quả hoạt động của mình
3.2 Xuất phát từ hạn chế của phương thức cấp phát trước đây
Cơ chế quản lý và phương thức cấp phát kinh phí đối với cơquan hành chính trước đây được thực hiện theo hạn mức kinh phí cho từngmục chi theo mục lục ngân sách Hết năm ngân sách nếu đơn vị không sửdụng hết thì phải trả lại nhà nước
Phương thức này có mặt tích cực là khắc phục được tình trạng sửdụng kinh phí không đúng mục đích và tồn đọng kinh phí ở các cơ quan nhànước Tuy nhiên, do việc xác định số lượng biên chế, kinh phí thường xuyên
5 Cải cách hành chính vấn đề cấp thiết để đổi mới bộ máy nhà nước, NXB Tổng hợp TPHCM, 2004
Trang 19một cách chính xác là công việc rất khó khăn phức tạp, dẫn đến tình trạng các
cơ quan hành chính có kinh phí thừa ở mục này nhưng lại thiếu ở mục kháccho nên nhiều công việc không thể hoàn thành được
Để khắc phục tình trạng định mức không phù hợp, hàng năm bêncạnh việc tính chi hành chính theo định mức, các cơ quan tài chính còn phảicân đối thêm một số nội dung chi ngoài định mức Những nội dung này mangnhiều cảm tính, thiếu chính xác Ví dụ trong cân đối dự toán ngân sách trungương năm 1998 cho chi hành chính là 2542 tỷ đồng thì phần chi ngoài địnhmức là 1392 tỷ đông, chiếm 52% tổng chi hành chính, điều đó làm cho địnhmức chi trở nên không còn ý nghĩa
Hạn chế thứ hai của cơ chế này là: việc cấp kinh phí thường xuyênhàng năm của các cơ quan hành chính thường dựa vào chỉ tiêu biên chế đượcgiao Do vậy xu hướng muốn tăng biên chế để có thêm kinh phí diễn ra kháphổ biến ở các bộ, ngành, địa phương Cách làm này không những không thúcđẩy được các cơ quan tích cực sắp xếp hoàn thiện bộ máy, mà còn tạo điềukiện để bộ máy tổ chức ngày càng cồng kềnh hơn
Bên cạnh đó phương thức cấp phát kinh phí cũ còn tạo nên cơ chếxin cho giữa cơ quan thụ hưởng ngân sách và cơ quan duyệt dự toán, dẫn đếncác tệ: quan liêu, cửa quyền, tham nhũng
Mặt khác hãy thử hình dung, chuyện gì sẽ xảy ra nếu đến cuối năm
mà các cơ quan hành chính vẫn không chi hết số ngân sách của mình Họ sẽphải hoàn trả lại cho nhà nước và năm sau họ sẽ được nhận ngân sách ít hơn.Trong hoàn cảnh đó thì chẳng ai muốn tiết kiệm chi phí cả Như vậy hệ thốngngân sách của chúng ta đã khuyến khích các nhà quản lý phung phí tiền của
Có thể thấy rằng trước khi thực hiện khoán kinh phí hành chính thì
tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho cơ quan hành chính nhà nước là rất cao, gâylãng phí nguồn lực của quốc gia
Trang 20Bảng 1 Tình hình chi ngân sách nhà nước cho quản lý hành chính
(Nguồn: Số liệu của Bộ Tài chính, 2000)
3.3 Hiệu quả của phương thức khoán chi hành chính
Về cơ bản, phương thức khoán chi hành chính góp phần tăng cườngsức mạnh cho các cơ quan hành chính để chúng thực hiện nhiệm vụ của mình,khoán chi sẽ tăng cường tính tự chủ cho đơn vị cơ sở thể hiện ở những điểmsau:
Đối với vấn đề về biên chế, tổ chức bộ máy và hiệu quả công việc của cơ quan, đơn vị được khoán chi: Căn cứ vào nhiệm vụ của cấp có thẩm
quyền duyệt, người đứng đầu đơn vị sắp xếp công chức dưới quyền vào từng
vị trí phù hợp với năng lực của họ và yêu cầu của công việc Trường hợp cầnthiết có thể áp dụng các cơ chế như thuê thêm chuyên gia ngắn hạn mà khôngcần xin thêm biên chế, từ đó góp phần làm cho bộ máy gọn nhẹ, nâng caohiệu quả và chất lượng công việc
Về vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức: Thông
qua khoán chi, đội ngũ cán bộ công chức sẽ phát huy được tinh thần tráchnhiệm và năng lực chuyên môn, phong cách làm việc cũng như tính tự giáccũng được nâng cao, do đó tư duy tầm nhìn của mỗi cán bộ sẽ được đổi mới
Về hiệu quả sử dụng kinh phí ngân sách đối với cơ quan hành chính nhà nước: Khi khoán ngân sách hoạt động, từng cấp quản lý sẽ tìm mọi cách
khai thác các nguồn lực sẵn có để thực thi nhiệm vụ với kinh phí ít nhất Tăngcường được ý thức tiết kiệm trong sử dụng kinh phí của mỗi đơn vị, nâng
Trang 21hiệu quả cho hoạt động tài chính, thúc đẩy tư duy sáng tạo của cán bộ côngchức.
Về thu nhập của từng cán bộ, công chức: Việc cho phép các đơn vị
nhận khoán có quyền sử dụng phần kinh phí tiết kiệm được đã tạo điều kiện
để tăng thu nhập cho cán bộ, công chức, phát huy được tối đa hiệu quả làmviệc của họ Mặt khác việc tinh giảm biên chế đặt người lao động dưới áp lựcphải tự hoàn thiện, nâng cao nghiệp vụ nếu không muốn bị đào thải Như vậy,khoán chi hành chính là đòn bẩy khuyến khích người lao động cả về vật chất
và tinh thần, tạo tâm lý làm việc tích cực hơn
Cuối cùng, khoán chi hành chính cho phép các nhà lãnh đạo tậptrung vào những vấn đề quan trọng hơn Họ không còn mất thời gian vào việcthảo luận về từng khoản mục ngân sách cho các cơ quan hành chính nhà nướcnữa, mà sẽ tận dụng thời gian để giải quyết những vấn đề vĩ mô hơn: như xâydựng chính sách thuế, chiến lược cho quá trình hội nhập v.v
Tóm lại, khoán chi hành chính đối với cơ quan hành chính nhà nước
là một biện pháp quan trọng có tính đột phá, nhằm sử dụng tiết kiệm, nângcao hiệu quả sử dụng kinh phí nhà nước, chống tham nhũng lãng phí đồngthời góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nướcđiều kiện hội nhập quốc tế
Trang 22CHƯƠNG II THỰC TRẠNG KHOÁN CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TRONG THỜI GIAN QUA
I.TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KHOÁN CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG THỜI GIAN QUA
1 Mô hình thí điểm ở thành phố Hồ Chí Minh và những kết quả đạt được
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 7 khoá VIII đã khẳng định: “ chỉ đạo thí điểm việc khoán biên chế và khoán kinh phí quản lý hành chính ổn định một số năm để khuyến khích việc giảm biên chế và tiết kiệm kinh phí quản lý hành chính ở các cơ quan, đơn vị Khắc phục tình trạng các cơ quan tăng thêm biên chế dưới bất cứ hình thức nào”6
Nhận thức đầy đủ mục tiêu và tầm quan trọng của cải cách tài chínhcông nói chung và cải cách tài chính đối với cơ quan hành chính nói riêng,trong những năm qua cơ chế quản lý tài chính theo hướng khoán chi đã đượcThủ tướng Chính phủ đặc biệt quan tâm và thúc đẩy quá trình xây dựng cơchế cùng với tổ chức thực hiện
Căn cứ đề nghị của UBND thành phố Hồ Chí Minh, ngày 17/12/1999Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 230/QĐ-TTg về thực hiện thí điểmkhoán biên chế và quản lý kinh phí quản lý hành chính đối với 10 cơ quanthuộc thành phố Hồ Chí Minh gồm 3 sở (Sở Giao thông công chính, Sở tưpháp, Sở Lao động thương binh xã hội), 4 quận (quận: 1, 3, 5, 11) và 3 huyện(huyện: Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè)
Sau khi có Quyết định 230/QĐ-TTg, Ban Tổ chức Cán bộ Chínhphủ đã ra Thông tư số 30/2000/TT-BTCCBCP về hướng dẫn tiền lương, tiền
6 Nghị quyết trung ương lân 7 khoá VIII
Trang 23thưởng, phúc lợi cho các đơn vị thực hiện thí điểm Tiếp đó Bộ Tài chính raThông tư số 33/2000/TT-BTC ngày 27/04/2000 về hướng dẫn lập dự toán,cấp phát, thanh toán, quyết toán kinh phí quản lý hành chính đối với các đơn
vị này Về phía thành phố, uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã phâncông Ban Tổ chức chính quyền thành phố phối hợp với Sở Tài chính vật giá
tổ chức triển khai hướng dẫn các đơn vị nhận khoán xây dựng và hoàn thiệnphương án khoán, với các định mức khoán như sau:
- Về biên chế: Các đơn vị được sử dụng mức biên chế mà uỷ bannhân dân thành phố đã giao năm 2000 với tổng số biên chế là 1067 người
- Về kinh phí quản lý hành chính: Đối với đơn vị cấp quận, huyện:
23 triệu đồng/người/năm Đối với đơn vị cấp sở, ngành là 19,5 triệuđồng/người/năm
Định mức này được thực hiện từ ngày 01/01/2000 và được áp dụngtrong 3 năm (2000-2002)
Sau hơn 2 năm thực hiện (2000, 2001) tại 7 quận-huyện, 3 ngành, theo đánh giá của UBND thành phố Hồ Chí Minh các đơn vị đã chủđộng sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giảm biên chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quảhoạt động của cơ quan nhà nước, thực hiện tốt quy chế dân chủ, ý thức tráchnhiệm và tăng thu nhập cho cán bộ công chức Kết quả cụ thể là:
sở Cơ cấu bộ máy của các đơn vị được sắp xếp tinh gọn theo hướng
tổ chức đa ngành, đa lĩnh vực gắn với cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế
“một cửa, một dấu” Hầu hết các đơn vị nhận khoán đã giảm được số đầu mốiquản lý Trong năm 2000, với 6 đơn vị đã giảm được 24 đầu mối, sang năm
2001 giảm thêm được 3 đầu mối nữa Như vậy sau 2 năm thực hiện khoán, 10đơn vị ở thành phố Hồ Chí Minh số phòng ban đã giảm từ 113 xuống còn 86,tương ứng tỷ lệ 24% Đơn vị giảm được nhiều đầu mối nhất là huyện BìnhChánh, từ 13 đầu mối xuống còn 6 đầu mối
Trang 24- Giảm biên chế (cả 10 đơn vị khoán) nhưng vẫn đảm bảo giải quyếtcông việc bằng hoặc tốt hơn trước khi được giao khoán Tính đến 31/12/2003tổng số biên chế của các đơn vị thực hiện khoán giảm 140 người bằng 13% sovới số biên chế được giao khoán Trong số này có 16 người về hưu, 102người chuyển công tác và 22 người thôi việc Một thành công ở đây là cácđơn vị đều đã thực hiện chủ trương tinh giảm biên chế và số lượng giảm làđáng kể Có được kết quả này là do các đơn vị đã áp dụng nhiều biện phápnhư: Giải quyết nghỉ hưu cho các trường hợp đã đến tuổi, những trường hợpkhông đáp ứng được yêu cầu công việc đã áp dụng chế độ trợ cấp để hỗ trợ,động viên họ tự nguyện xin nghỉ Thêm vào đó thuyên chuyển công tác sangđơn vị sự nghiệp có thu, hoặc các doanh nghiệp cũng là những biện pháp hiệuquả.
- Nâng cao ý thức tiết kiệm trong việc sử dụng kinh phí quản lýhành chính như xăng dầu, điện, nước, điện thoại và văn phòng phẩm, giúp cácđơn vị chủ động trong việc mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác Cụ thể ởđây 10 đơn vị khoán đã tiết kiệm được 10 tỷ 485 triệu đồng ứng với 21,2%(11.985/48.817) kinh phí được giao khoán Các đơn vị thực hiện khoán đãtích cực chủ động, áp dụng nhiều biện pháp để thực hành tiết kiệm, cụ thể là:Xây dựng và thực hiện nội quy cơ quan trong đó quy định chi tiết việc sửdụng điện, điện thoại, văn phòng phẩm , áp dụng các biện pháp kiểm trathích hợp trong nội bộ cơ quan, tiến hành bình xét thi đua cho những bộ phận
đã tiết kiệm được những khoản chi theo quy định
- Việc sử dụng tài chính công của đơn vị nhận khoán có nhiều thuậnlợi so với trước khi nhận khoán Quá trình thực hiện mang lại kết quả thiếtthực là tăng thu nhập cho cán bộ, công chức: mức trung bình là 73% số kinhphí tiết kiệm được dành để tăng thu nhập cho người lao động, bình quân mỗingười tăng 390.000đ/tháng tương ứng với tăng mức lương tối thiểu lên 1,83lần Sau 2 năm thực hiện khoán, tổng số kinh phí tiết kiệm để tăng thu nhập
Trang 25cho cán bộ, công chức của 10 đơn vị thực hiện khoán là 8056 triệu đồngNgoài ra các đơn vị còn trích 19% để lập quỹ khen thưởng và 8% để lập quỹphúc lợi (Riêng huyện Nhà Bè dùng 10% để lập quỹ dự phòng) Nhìn chungcác đơn vị đã sử dụng nguồn kinh phí do tiết kiệm theo đúng quy định.
- Qua thực hiện khoán, việc thực hiện quy chế dân chủ trong cơquan hành chính được phát huy tích cực hơn, đồng thời thực hiện khoán biênchế được công khai đã góp phần khắc phục được những nhược điểm trong xétduyệt, giao định mức biên chế và quỹ tiền lương hàng năm, từng bước khắcphục được cơ chế xin cho
Trên cơ sở những kết quả đạt được, UBND thành phố Hồ Chí Minh
đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho tiếp tục thí điểm khoán đối với 10 đơn vị và
mở rộng đối với tất cả các sở, ban ngành, quận huyện còn lại của thành phố
Hồ Chí Minh
Đến cuối năm 2002, uỷ ban nhân dân thành phố đã thực hiện mởrộng khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các sở-ngành,quận- huyện, đồng thời thực hiện thí điểm khoán biên chế và kinh phí hoạtđộng đối với phường-xã, thị trấn
Từ thực tiễn triển khai cơ chế khoán theo Quyết định số TTg của Thủ tướng Chính phủ tại thành phố Hồ Chí Minh, ngày 17/12/2001Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 192/2001/QĐ-TTg về mởrộng thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quanhành chính nhà nước
230/QĐ-2 Tình hình thực hiện Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về mở rộng thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan hành chính nhà nước:
Trang 26Sau khi Quyết định 192/2001/QĐ-TTg ra đời, Bộ Tài chính đã phốihợp với các cơ quan có liên quan ban hành các văn bản để hướng dẫn các địaphương trong cả nước thực hiện cơ chế khoán này Cụ thể:
- Thông tư Liên tịch Bộ Tài chính – Ban tổ chức cán bộ Chính phủ
số 17/2002/TTLT-BTC-BTCCBCP ngày 8/2/2002 hướng dẫn thực hiệnQuyết định số 192/2001/QĐ-TTg
- Thông tư số 81/2002/TT-BTC ngày 16/09/2002 của Bộ Tài chínhhướng dẫn kiểm soát chi đối với các cơ quan hành chính nhà nước thực hiệnkhoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính, đơn vị sự nghiệp thực hiệnchế độ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có thu
- Thông tư số 03/2004/TT-BTC ngày 13/02/2004 của Bộ Tài chínhhướng dẫn kế toán các đơn vị hành chính, sự nghiệp thực hiện Luật Ngânsách nhà nước và khoán chi hành chính
Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ theo sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo cảicách hành chính của Chính phủ đã tổ chức hội nghị toàn quốc đánh giá 1 nămthực hiện Quyết định 192/QĐ-TTg vào tháng 8/2003, nhằm rút kinh nghiệm,tháo gỡ vướng mắc và phổ biến kinh nghiệm thực hiện khoán biên chế vàkinh phí quản lý hành chính cho trên 50 bộ, ngành, cơ quan trung ương và 61tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Đồng thời đề nghị lãnh đạo các bộ,ngành, uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiếp tục phổbiến quán triệt và chỉ đạo tổ chức thực hiện quyết định này Sau hội nghị toànquốc, việc thực hiện cơ chế đã phát triển nhanh chóng và đạt được những kếtquả khả quan
Sau hơn 3 năm thực hiện đã có 53/64 tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương và 3 Bộ triển khau thí điểm khoán Trong đó các địa phương đãgiao khoán cho 682 cơ quan hành chính trực thuộc, đạt tỷ lệ 36% tổng số cơquan hành chính thuộc tỉnh, so với năm 2003 đã tăng được 283 cơ quan, đạttốc độ tăng 35,29%
Trang 27Tính từ khi Quyết định 192/2001/QĐ-TTg ra đời thì số lượng các
cơ quan đăng ký thực hiện khoán tăng lên nhanh chóng (Sơ đồ 1)
Nếu đến cuối năm 2002 mới có 22/61 tỉnh, thành phố thực hiệnkhoán đạt tỷ lệ 36 %, với 116 đơn vị trực thuộc thực hiện cơ chế khoán và sốbiên chế giao khoán là 6067 người, thì đến cuối năm 2003 đã có 50/61 tỉnh,thành phố thực hiện giao khoán, đạt tỷ lệ 82% với 399 cơ quan hành chínhtrực thuộc thực hiện khoán và tổng số biên chế giao khoán là 19578 người Vàđến tháng 10 năm 2005 thì hầu hết các tỉnh, thành trên cả nước đã đồng loạtthực hiện cơ chế khoán (58/64 tỉnh, thành phố), với 1516 cơ quan hành chínhtrực thuộc thực hiện khoán, đạt tỷ lệ 59,84% cơ quan hành chính trực thuộctỉnh
Sơ đồ 1 Tình hình thực hiện khoán trên cả nước
Đã có 14 địa phương thực hiện mở rộng thí điểm cơ chế khoán đốivới tất cả các cơ quan hành chính, các cơ quan Đảng và các đoàn thể chính trịtrên địa bàn như: Tỉnh Bình Dương, tỉnh Bến Tre, tỉnh Đồng Nai, tỉnh BìnhPhước, tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Cao Bằng, thành phố Hồ Chí Minh
Ở trung ương các Bộ Lao động thương binh và xã hội, Bộ Giao
Trang 28hành chính cho trên 160 cơ quan hành chính trực thuộc Riêng Bộ Tài chínhnăm 2002 đã thực hiện cơ chế khoán đối với các đơn vị ngành dọc thuộcTổng cục Thuế, Kho bạc nhà nước với 124 cơ quan hành chính (tính đến cấptỉnh) và năm 2003 đã mở rộng việc thực hiện cơ chế khoán với 33 đơn vịquản lý nhà nước thuộc Tổng cục Hải quan, nâng tổng số cơ quan hành chínhtrực thuộc Bộ Tài chính tham gia thực hiện khoán lên 157 cơ quan Bộ Laođộng thương binh xã hội có 1 đơn vị thực hiện thí điểm khoán là Cục phòngchống tê nạn xã hội, Bộ Giao thông vận tải có 2 đơn vị thực hiện cơ chếkhoán là Cục Hàng hải và Cục đường sông.
Bảng 2 sẽ cho ta thấy cụ thể tình hình thực hiện cơ chế khoán củacác tỉnh thành trên cả nước tính đến tháng 10 năm 2005
Trang 29Kết quả chung cho thấy hoạt động quản lý nhà nước của các đơn vịhành chính thực hiện thí điểm khoán được nâng lên một bước về chất lượng,quy trình xử lý công việc được xây dựng mới hợp lý, khoa học, giảm thờigian chờ đợi của người dân, giảm thủ tục hành chính phiền hà, công khainhững nội dung, tiêu chuẩn thủ tục theo yêu cầu quản lý hành chính Nhiều cơquan tổ chức trưng cầu ý kiến của dân, làm sổ để dân góp ý kiến, nhờ vậythực hiện được công khai dân chủ cơ sở, được nhân dân đồng tình ủng hộ.Các kết quả cụ thể trên một số lĩnh vực như sau:
2.1 Đổi mới tổ chức bộ máy và sắp xếp biên chế hợp lý:
Hầu hết các cơ quan đã chủ động sắp xếp lại cơ cấu tổ chức theohướng hợp lý, xây dựng nhiệm vụ cụ thể cho từng phòng, ban, từ đó bố tríhợp lý lao động và phân công nhiệm vụ rõ ràng hơn cho từng cán bộ Bêncạnh đó còn khuyến khích lợi ích vật chất đối với số cán bộ dôi dư hoặc ho đinâng cao nghiệp vụ để nâng cao năng lực công tác hoặc hỗ trợ cho nhữngngười thôi việc và chuyển sang công tác khác Thực hiện một người có thểkiêm nhiệm nhiều công việc để khắc phục tình trạng chồng chéo nhiệm vụkéo dài từ nhiều năm từ đó nâng cao được chất lượng và hiệu suất công việc
“Theo báo cáo thực hiện năm 2002 của 22 tỉnh thành phố với 116
cơ quan quản lý hành chính thực hiện thí điểm khoán đã giảm biên chế được
306 người, đạt tỷ lệ giảm 5% so với tổng biên chế được giao khoán (306/6067người) Một số địa phương có tỷ lệ giảm cao như: Tây Ninh (12,7%), Hà Nội(7,72%), Bến Tre (7,57%), Tiền Giang (6,9%), Ninh Bình (6,8%)
Báo cáo thực hiện năm 2003 của 50 tỉnh, thành phố với 399 cơ quanquản lý hành chính thực hiện khoán đã giảm biên chế 1512 người đạt tỷ lệgiảm 7,7% so với tổng biên chế giao khoán Một số địa phương có tỷ lệ giảmcao như: Thành phố Hồ Chí Minh (giảm 21,6%), Tây Ninh (giảm 15,7%),Sóc Trăng (giảm 14,3%), Đà Nẵng (giảm 11,3%), Hà Nội (giảm 8,1%)
Trang 30So sánh kết quả thực hiện năm 2003 với năm 2002 cho thấy sốlượng các cơ quan thực hiện khoán biên chế tăng nhanh, tỷ trọng biên chếgiảm của năm 2002 là 5% thì năm 2003 đã lên đến 7,7% Điều đó cho thấy đã
có sự chuyển biến tích cực theo thời gian trong việc thực hiện sắp xếp tinhgiảm biên chế của các cơ quan thực hiện khoán.”7
Như vậy có thể thấy các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện thíđiểm khoán đã tích cực tinh giảm biên chế để làm gọn nhẹ bộ máy quản lýnhà nước Tuy nhiên cũng cần xem xét đến nguyên nhân thực tế của số biênchế được tinh giảm này Trong số biên chế được tinh giảm thì được chia ra lànhững người đã đến tuổi nghỉ hưu, những người được chuyển công tác sangđơn vị khác và những người tự nguyện xin thôi việc
Với những người đến tuổi nghỉ hưu thì có thể dễ dàng thấy rằng dùkhông thực hiện khoán thì họ cũng sẽ nghỉ việc trong thời gian đó Do vậycon số này chưa phải là do hiệu quả của phương thức khoán Nhưng mặt tíchcực của cơ chế này lại thể hiện ở chỗ, nếu không thực hiện khoán thì khi cóngười nghỉ hưu, cơ quan hành chính sẽ lập tức tuyển thêm người thế chỗ
Thứ hai là với những người chuyển công tác khác Nếu nhữngngười đó được chuyển sang những cơ quan đúng với chuyên môn đang thiếucán bộ hoặc những đơn vị sự nghiệp có thu thì điều này hoàn toàn hợp lý, tuynhiên nếu thuyên chuyển họ sang những cơ quan chưa thực hiện khoán đểgiảm biên chế ở những cơ quan đã thực hiện khoán thì xét một cách tổng thểtrong toàn ngành không hề giảm được số biên chế nào Như vậy đây cũng làvấn đề cần quan tâm của những nhà hoạch định chính sách
Với những người vì lý do sức khoẻ hoặc trình độ chuyên mônkhông đáp ứng được yêu cầu công việc, tự nguyện xin nghỉ việc thì đay mới
là con số thực chất của việc tinh giảm biên chế Nó góp phần củng cố, hoànthiện bộ máy quản lý, đưa dần những người không đủ sức khoẻ, không đủ
7 Báo cáo của Bộ Tài chính về kết quả 2 năm thực hiện Quyết định 192/2001/QĐ-TTg
Trang 31chuyên môn ra khỏi hệ thống Các cơ quan hành chính cần mạnh dạn hơn nữatrong việc sử dụng những khuyến khích lợi ích vật chất để những người làmviệc không hiệu quả tự nguyện xin nghỉ nhằm làm giảm bớt số lao động dưthừa trong bộ máy hành chính.
Từ các số liệu báo cáo ở trên cho thấy đa số các cơ quan hành chínhnhà nước đều giảm biên chế nhiều hơn số định mức biên chế khoán Điều này
đã hợp lý hay chưa? Nếu số biên chế giảm quá mức cần thiết sẽ dẫn đến tìnhtrạng tăng gánh nặng công việc cho số cán bộ, công chức còn lại, thêm vào đósau khi thực hiện giảm biên chế thì cơ cấu đội ngũ cán bộ có đảm bảo khônghay lại xảy ra tình trạng thiếu cán bộ chuyên trách trong một số lĩnh vực Nhưvậy bên cạnh thành công của số lượng tinh giảm biên chế thì cũng cần kiểmtra chất lượng của công tác này đã hợp lý hay chưa
2.2 Về thực hành tiết kiệm
Một trong những mục đích của cơ chế khoán biên chế và kinh phíquản lý hành chính là chống lãng phí, thực hành tiết kiệm Để thực hiện mụctiêu này, nhiều cơ quan đã tích cực thực hiện các biện pháp giảm chi triệt để
“Nhiều cơ quan đã xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, cân nhắc việc cử cán bộ
đi công tác và tổ chức hội nghị, không mua sắm những tài sản đắt tiền vàkhông thật cần thiết, xây dựng tiêu chuẩn định mức văn phòng phẩm, xâydựng quy chế sử dụng điện thoại công vụ và định mức cước phí điện thoại,quy chế sử dụng điện và thiết bị điện (máy photo, đèn điện, máy điều hoà,không dùng điện thoại cơ quan trao đổi việc riêng ), quy chế sử dụng ô tô đicông tác Nhờ những giải pháp trên các cơ quan hành chính thực hiện thíđiểm khoán đã tiết kiệm được chi phí khoảng từ 3% đến 26% tổng kinh phíđược giao khoán ”8
Trang 32Báo cáo thực hiện năm 2002, 2003 của 50 tỉnh thành phố cho thấy:Năm 2002, với 116 cơ quan thực hiện thí điểm khoán đã tiết kiệm được14.998 triệu đồng bằnh 16,7% tổng kinh phí khoán Năm 2003 với 399 cơquan thực hiện thí điểm khoán đã tiết kiệm được 39.737 triệu đồng bằng 9,1%tổng kinh phí khoán Một số địa phương có kết quả thực hiện tốt so với kinhphí được giao:
- Thành phố Hà Nội: năm 2002 tiết kiệm được 18,5%,
năm 2003 tiết kiệm 14,7%
- Thành phố Đà Nẵng: năm 2002 tiết kiệm được 24,6%,
năm 2003 tiết kiệm 21%
- Thành phố Hồ Chí Minh: năm 2003 tiết kiệm 16,3%%
- Tỉnh Tiền Giang : năm 2002 tiết kiệm được 13,8%, năm
2003 tiết kiệm 6,6%
Theo số liệu báo cáo của các tỉnh thành phố thực hiện khoán thì sốkinh phí tiết kiệm từ cắt giảm chi phí hành chính cao hơn số tiết kiệm được từgiảm biên chế Đây là một tín hiệu đáng mừng cho công tác quản lý hànhchính, vì trong báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội (kỳ họp thứ 7, khoá XI)đánh giá về tình hình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí có nhận định: “Mặc
dù việc triển khai các văn bản pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãngphí đã thu được một số kết quả khả quan ban đầu nhưng tình trạng chống lãngphí vẫn còn diễn ra khá phổ biến, thậm chí có nơi, có lĩnh vực lãng phí cònxảy ra nghiêm trọng hơn” Năm 2002, 2003 kết quả kiểm tra 1361 đơn vịhành chính trên cả nước cho thấy nhiều cơ quan trang bị ô tô vượt quá tiêuchuẩn hoặc không đúng quy định, tổng số xe mua vượt là 467 xe với số tiềngần 60 tỷ Về trang bị, thanh toán cước điện thoại, số tiền chi sai mục đích,chi sai đối tượng là 10,43 tỷ đồng Đứng trước tình hình này thì việc tiết kiệmchi phí hành chính của những đơn vị thực hiện khoán là một thành công đángbiểu dương
Trang 33Tuy nhiên nếu số tiền tiết kiệm từ chi phí hành chính quá lớn thì cótốt hay không? Thực tế cho thấy với số kinh phí khoán tương đối hạn hẹp(năm 2002 là 1.768,784 tỷ đồng và năm 2003 là 2.814,225 tỷ đồng) trongđiều kiện nhiệm vụ của cácc cơ quan hành chính ngày một nhiều lên như hiệnnay thì để có được các khoản tiết kiệm hành chính quá lớn thì chỉ có thể là cắtgiảm các khoản mua sắm trang thiết bị, sửa chữa tài sản xuống dưới mứccần thiết, nếu điều này là có thật thì chắc chắn sẽ làm giảm chất lượng côngviệc được giao Các cơ quan có thẩm quyền cần kiểm tra, giám sát để điềuchỉnh những sai phạm kịp thời, tránh để tình trạng các cơ quan hành chính vìmuốn có số kinh phí tiết kiệm lớn mà ảnh hưởng đến công vịêc chuyên môn.
2.3 Về tăng thu nhập cho cán bộ, công chức.
“ Từ những kết quả về đổi mới phương thức quản lý, sắp xếp cơ cấu
tổ chức bộ máy, tinh giảm biên chế, chống lãng phí thực hành tiết kiệm , các
cơ quan thực hiện khoán đã tạo được nguồn kinh phí để tăng thu nhập cho cán
bộ, công chức Theo báo cáo thực hiện năm 2003 của 50 địa phương với 399
cơ quan hành chính thực hiện thí điểm khoán, số thu nhập tăng bình quân sovới tiền lương trước khi thực hiện khoán đạt 130.000/người/ tháng, trong đódao động 55.000/người/tháng đến 500.000/ngừơi/tháng
Một số địa phương khi thực hiện khoán chi, mức thu nhập của cán
bộ tăng cao so với thu nhập trước khi thực hiện khoán như:
- Hà nội thu nhập bình quân của cán bộ năm 2002 tăng 183.300đồng/người/tháng, năm 2003 tăng 292.000 đồng/người/tháng
- Đà Nẵng: thu nhập bình quân của cán bộ năm 2002 tăng thêm283.300 đồng/người/tháng, năm 2003 tăng 250.000 đồng/người/tháng
- Bà Rịa – Vũng Tàu: thu nhập bình quân của cán bộ tăng 208.000