1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở thái nguyên năm 2010 2013

182 248 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 182
Dung lượng 12,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, ở TháiNguyên tuổi dậy thì của trẻ có thể đến sớm hơn khiến cho việc phát triển cácchỉ số sinh học của trẻ cũng có thể xuất hiện sớm và nhanh

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Học sinh tuổi 12 đến 16 là giai đoạn trẻ đã và đang ở tuổi dậy thì Ởgiai đoạn này, trẻ có hiện tượng thay đổi mạnh mẽ về tâm-sinh lý, như tốc độtăng trưởng nhanh và nhiều thay đổi khác để hoàn thiện dần chức năng củacác cơ quan trong cơ thể Nghiên cứu đã cho thấy, tăng trưởng trong tuổi dậythì chiếm khoảng 15-20% chiều cao đạt được ở tuổi trưởng thành và có xuhướng phát triển sớm và nhanh hơn so với các năm trước [79] Tốc độ tăngtrưởng của trẻ có liên quan đến nhiều yếu tố như quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa, chủng tộc, dinh dưỡng…, nên sự tăng trưởng không giống nhaugiữa các vùng trong một nước, giữa các giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội,cũng như giữa quốc gia này với quốc gia khác Vì vậy, các đặc điểm sinh họccần được đánh giá thường xuyên, định kì theo từng 1 đến 2 thập niên Bêncạnh các chỉ số sinh học thì việc tìm hiểu các yếu tố làm xuất hiện tuổi dậy thìcũng rất cần thiết Hiện nay, một số nghiên cứu đã tìm thấy gen kiss có liênquan đến sự xuất hiện tuổi dậy thì [49], [67], [74], [112], [113]

Tại Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu về chỉ số sinh học đãcông bố [4], [5], [8], [29], [32]…, trong đó công trình của Nguyễn ThànhTrung đã nghiên cứu một số chỉ số hình thái-thể lực và trí tuệ (bằng testRaven) của trẻ em lứa tuổi học đường ở tỉnh Thái Nguyên (1998-2000) [42].Công trình gần đây mang tính quy mô nhất là "Các giá trị sinh học người Việt

Nam bình thường ở thập kỷ 90-thế kỷ XX", bao gồm cả các chỉ số sinh học

của trẻ em lứa tuổi học đường [4] Hầu hết các chỉ số sinh học được công bốtrong công trình này đều thay đổi rõ theo hướng tích cực so với các số liệu

nêu trong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” được công bố năm 1975.

Mặt khác, các nghiên cứu đã công bố ở Việt Nam được tiến hành khá lâu,không còn phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội của nước ta hiện nay; hoặc

Trang 2

chưa phản ánh đầy đủ về các chỉ số sinh học của các Dân tộc thuộc các địabàn vùng sâu, vùng xa Các nghiên cứu hầu như chỉ được tiến hành theophương pháp điều tra ngang, rất ít nghiên cứu theo dõi dọc Trong khi phươngpháp này cho phép đánh giá chính xác hơn sự phát triển của từng cá thể theothời gian, nhất là ở cơ thể trẻ có sự thay đổi mạnh lúc dậy thì Điều này sẽgiúp ích cho việc áp dụng các biện pháp chăm sóc, giáo dục, rèn luyện mộtcách thích hợp nhất với từng nhóm trẻ.

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi và trung du; theo thống kê năm

2011, tỷ lệ dân cư thành thị là 28,3%, miền núi là 71,7% Với cơ cấu dân tộc

có 75,23% là dân tộc Kinh, còn lại là các dân tộc thiểu số Tày, Nùng, Dao,Mông, Sán Dìu, Cao Lan… Nền kinh tế của Thái Nguyên đã phát triển hơn

so với thập kỷ trước nhưng vẫn ở mức thấp và chậm phát triển Đời sống nhândân tuy được cải thiện so với trước, nhưng sự chênh lệch mức sống giữa miềnnúi và thành thị vẫn còn lớn và thấp hơn so với nhiều vùng, miền thuộc đồngbằng của nước ta [13] Vậy trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, ở TháiNguyên tuổi dậy thì của trẻ có thể đến sớm hơn khiến cho việc phát triển cácchỉ số sinh học của trẻ cũng có thể xuất hiện sớm và nhanh hơn thập kỷ trước.Tuy nhiên, sự thay đổi đó có thực sự diễn ra và khác biệt như thế nào chúng tacần tiến hành nghiên cứu để trả lời Do đó, nghiên cứu các chỉ số sinh học củatrẻ lứa tuổi học đường các dân tộc khác nhau tại khu vực này rất cần thiết.Các kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp dữ liệu khoa học cho việc hoạch địnhchính sách, đề xuất các biện pháp thích hợp để tăng cường hiệu quả công tácgiáo dục, rèn luyện thể chất, chăm sóc sức khỏe nhằm nâng cao chất lượngthế hệ trẻ người Việt Nam nói chung và các dân tộc thiểu số ở vùng cao nói

riêng Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở Thái Nguyên năm 2010-2013”.

Trang 3

Mục tiêu:

1 Mô tả đặc điểm hình thái và chức năng của học sinh lứa tuổi 12 đến

16 ở một số trường thuộc tỉnh Thái Nguyên năm 2010.

2 Phân tích sự thay đổi hình thái, chức năng tim mạch của đối tượng nghiên cứu trong thời gian 2010-2012

3 Xác định mối liên quan giữa các chỉ số được nghiên cứu và mối liên quan giữa một số chỉ số hình thái, chức năng với mức độ biểu hiện gen kiss

và nồng độ hormon của học sinh nữ lứa tuổi 12 đến 16

Trang 4

CHƯƠNG 1TỔNG QUAN

1.1 Khái quát chung về tuổi sinh học của lứa tuổi 12 đến 16

Sau giai đoạn bào thai, con người được sinh ra và trải qua hai thời kỳ làthời kỳ trẻ em và thời kỳ người lớn Sở dĩ có sự phân chia thành hai thời kỳ là do

sự khác biệt về phát triển thể chất và tâm lý Trẻ em là một cơ thể đang lớn và pháttriển, không giống như người lớn, mỗi giai đoạn của thời kỳ trẻ em có đặc điểmsinh học riêng [15], [40] Sự phân chia các thời kỳ phát triển đã được nhiều tác giảnêu ra [15], [26], [33], [40], có tác giả phân chia theo sự phát triển toàn diện vềhình thái, chức năng tâm thần, có tác giả phân chia theo các giai đoạn mọc răng và

phát triển xương Tại Việt Nam, Nguyễn Quang Quyền chia tuổi phát triển của trẻ

em thành giai đoạn thiếu nhi bé (từ lúc mới sinh đến 2,5 tuổi), giai đoạn thiếu nhitrung bình (từ trên 2,5 tuổi đến 7 tuổi), giai đoạn thiếu nhi lớn (từ trên 7 tuổi đến

11 tuổi đối với nữ; từ trên 7 tuổi đến 13 tuổi đối với nam), giai đoạn thiếu niên(15-16 đối với nữ và 17-18 tuổi đối với nam) [33] Vì vậy, học sinh lứa tuổi từ 12đến 16 là giai đoạn chuyển tiếp giữa thiếu nhi lớn và thiếu niên Theo Tạ ThúyLan [26], trẻ 12-16 tuổi thuộc tuổi học sinh lớn hay tuổi dậy thì Như vậy, có thểnói sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối, không có mốc chuyển tiếp rõrệt do còn tùy thuộc vào từng cá thể Ngoài ra, các giai đoạn phát triển thườngchuyển tiếp đan xen vào nhau Trong quá trình phát triển của giai đoạn học sinhlớn, sự xuất hiện tuổi dậy thì là mốc quan trọng nhất

1.2 Cơ chế xuất hiện tuổi dậy thì

Thời điểm xuất hiện dậy thì tùy thuộc vào từng cá thể và chịu tác động bởinhiều yếu tố Yếu tố khởi phát tuổi dậy thì vẫn được giả thuyết là do sự trưởngthành của vùng limbic (hệ viền) đã kích hoạt vùng dưới đồi bài tiết đủ lượngGnRH (Gonadotropin releasing hormone) và phát động hoạt động chức năngcủa trục vùng dưới đồi - tuyến yên - tuyến sinh dục [10], [26] Tuổi dậy thì

Trang 5

được chia thành hai giai đoạn là tiền dậy thì và dậy thì hoàn toàn Khoảngthời gian tiền dậy thì kéo dài 3 - 4 năm, được đánh dấu bằng thể tích tinh hoàncủa nam tăng trên 4 mililit và tuyến vú bắt đầu phát triển ở nữ Tuổi dậy thìhoàn toàn được đánh dấu bằng lần xuất tinh đầu tiên ở nam và lần có kinhnguyệt đầu tiên ở nữ [10], [26].

Hiện nay, gen kiss đã được phát hiện là có liên quan đến sự xuất hiện

tuổi dậy thì Gen kiss sản xuất kisspeptin chủ yếu từ vùng dưới đồi [49] Ngoài

ra, người ta cũng tìm thấy sự có mặt của gen kiss ở nhau thai, tuyến yên, tủy sống,tuyến tụy, và ở một số mô khác (như các vùng khác nhau trong não, dạ dày, ruộtnon, tế bào bạch cầu…) [97] Kisspeptin lần đầu được phát hiện vào năm 1970,với vai trò là một gen ức chế di căn u ác tính [87] Đến năm 2003, các nghiên cứu

đã công nhận kisspeptin là cần thiết cho việc bắt đầu tuổi dậy thì ở người và chuộtbằng cách kích hoạt tế bào thần kinh ở vùng dưới đồi thông qua thụ thể GPR54,

thanh đã thấy, có tương quan với tăng LH và testosteron trong tất cả các giai đoạncủa tuổi dậy thì ở bé trai [52] Tương tự như vậy, ở các bé gái dậy thì nồng độkisspeptin huyết thanh có liên quan đến tuổi xương, hormon LH và FSH [103].Một nghiên cứu khác trên nam giới được tiêm kisspeptin vào cơ thể thì LH vàtestosteron trong máu tăng, tác giả đã đưa ra kết luận kisspeptin có vai trò điều hòa

nghiên cứu trên chuột và đưa ra giả thuyết về mối liên quan giữa estradiol vớikisspeptin trong khởi phát tuổi dậy thì [63] Theo tác giả, sau khi sinh đến trước

tuổi dậy thì không có sự sản xuất kisspeptin Đến giai đoạn trước tuổi tiền dậy thì,

kisspeptin bắt đầu được giải phóng, nó tác động vào vùng dưới đồi, tuyến yên vàkích thích tuyến sinh dục tiết estradiol Khi estradiol được bài tiết tăng sẽ làm tănggiải phóng kisspeptin Khi kisspeptin đủ lớn sẽ có khả năng kích hoạt và khuếchđại hoạt động của trục vùng dưới đồi-tuyến yên-tuyến sinh dục để làm xuất hiện

Trang 6

tuổi dậy thì Sau tuổi dậy thì, biểu hiện của kisspeptin dao động cùng với sự thayđổi của estradiol theo chu kỳ kinh nguyệt [63].

Hình 1.1 Sự thay đổi của kisspeptin và estradiol trong quá trình phát triển

* Nguồn: theo Clarkson J và cộng sự (2009) [63]

Gần đây, Ali A và cộng sự đã chứng minh được kisspeptin có tác dụnglàm trứng phát triển và chín khi điều trị IVF (In vitro fertilization - Thụ tinhtrong ống nghiệm) Ông đã tiêm kisspeptin cho các phụ nữ vô sinh và thấyrằng, sau tiêm 12 giờ thì LH huyết thanh tăng 9 lần so với lúc chưa tiêm, tế bàotrứng chín ở 45/47 bệnh nhân được điều trị bằng kisspeptin [50] Điều này cónghĩa là gen kiss không chỉ làm xuất hiện tuổi dậy thì mà còn có vai trò trongviệc duy trì khả năng sinh sản

1.3 Các nghiên cứu về hình thái, chức năng

1.3.1 Các nghiên cứu về hình thái

1.3.1.1 Các nghiên cứu về hình thái trên thế giới

Các nghiên cứu về hình thái được bắt đầu từ khi con người biết quantâm đến chiều cao, cân nặng của mình là bao nhiêu và cách đo như thế nào.Chính những câu hỏi đó đã thôi thúc con người tìm ra các phương pháp để đođạc Việc tiến hành đo lường và mô tả về hình dáng của con người đã đượccác nghệ sĩ của nền văn minh cổ đại vẽ lại Tuy nhiên, tỷ lệ các phần cơ thể

Trang 7

chưa thực sự đúng và chưa có nghiên cứu mang tính chất quy mô Chỉ đến khinhu cầu đo cơ thể với số lượng lớn và cần có hồ sơ lưu trữ phục vụ cho khámtuyển quân sự, phân loại nam giới trong các đơn vị quân đội ở thế kỷ thứXVII thì việc cần có một phương pháp để phân loại con người về hình tháimới thực sự cần thiết Từ lúc đó, phương pháp đo lường về chiều cao đượcxuất hiện mở đầu cho các nghiên cứu về nhân trắc học sau này

Ở thế kỷ XVIII, sự phát triển mạnh mẽ của các ngành khoa học cũng đãthúc đẩy các nghiên cứu về con người Vấn đề quan tâm chủ yếu của cácnghiên cứu thời đó là hình thái của con người trong một độ tuổi nhất định Họ

ít chú ý đến tìm hiểu về sự khác biệt tầm vóc giữa các nhóm tuổi hoặc sự thayđổi về tầm vóc theo thời gian [66] Theo dẫn liệu của Lancaster H O., nghiêncứu mô tả cắt ngang đầu tiên vào năm 1754 mang tính quy mô lớn củaJampert C F (1727-1758) đã công bố biểu đồ chiều cao của các đối tượng từ1-25 tuổi [85] Sau đó, để nghiên cứu sự thay đổi của chiều cao theo tuổi,Philibert G M (1720-1785) đã nghiên cứu trên chính con của mình trongsuốt 18 năm từ năm 1759 đến 1777, đây có thể coi là nghiên cứu dọc đầu tiên

về hình thái [85]

Trong thế kỷ XIX, công trình nghiên cứu về hình thái mở đầu cho nềnnhân trắc học hiện đại là nghiên cứu của Le R L và cộng sự trên các binh sĩPháp trong những năm 1960-1970 cho thấy, tầm vóc của tân binh Pháp rất đadạng và phù hợp với đặc điểm kinh tế-xã hội nơi họ sống [86] Tại Mỹ, cácnghiên cứu diễn ra muộn hơn, điển hình là một nghiên cứu vào cuối nhữngnăm 1970 trên các nô lệ Đến những năm 1980, nhiều công trình nhân trắchọc đã ra đời, phạm vi nghiên cứu mang tính quốc gia, thậm chí liên kết giữanhiều quốc gia Ví dụ, nghiên cứu có quy mô lớn của Cục nghiên cứu Kinh tế(NBER) ở Mỹ và Châu Âu Nghiên cứu này đã sử dụng thống kê nhân trắchọc để phân tích sự tác động của công nghiệp hóa, cũng như các đặc điểm củachế độ nô lệ tại Hoa Kỳ Sau đó, từ năm 1980 đến năm 1990, phạm vi của các

Trang 8

nghiên cứu đã phát triển mạnh, di chuyển ra ngoài châu Âu và Bắc Mỹ để đếnchâu Á, châu Úc và châu Phi

Tại Anh, vào thế kỷ XIX sự phát hiện về tầm vóc thấp bé của trẻ em đãtrở thành động lực cho các cuộc điều tra nhân trắc học có quy mô lớn, cũngnhư những nỗ lực phát triển các phong trào phúc lợi cho trẻ em Đến đầu thế

kỷ XX việc nghiên cứu các chỉ số hình thái được diễn ra đồng loạt hầu hết ởcác nước phát triển, như nghiên cứu theo chiều dọc ở Bắc Mỹ và Châu Âu.Những nghiên cứu đó có thể được xem như là bước chuyển tiếp giữa nhântrắc đương đại và lịch sử Từ những năm 1950, nhân trắc học đã được sử dụngcho nhiều mục đích trong các nước phát triển và nước kém phát triển Kết quảnghiên cứu được sử dụng làm giá trị tham chiếu tại thời điểm nghiên cứu,giám sát tình trạng dinh dưỡng của cá thể, quần thể và để đánh giá hiệu quảcủa các chương trình phát triển kinh tế

Nhìn chung, các chỉ số nhân trắc được mô tả trong các nghiên cứu sơkhai chỉ là các con số riêng lẻ, rời rạc, đơn độc Sau này, việc nghiên cứumang tính quy mô, với số lượng lớn hơn đã khiến các nhà khoa học phải đưatoán học, thống kê vào nghiên cứu để nhận định và phân tích, nhằm rút ra cáckết luận có ý nghĩa hơn

Quetelet A (1796-1874) là một nhà toán học người Bỉ, nhà thiên vănhọc và thống kê đã là người đầu tiên áp dụng thuật toán thống kê để xử lý kếtquả nghiên cứu Vào năm 1831-1832, Quetelet đã tiến hành đo các chỉ sốchiều cao của trẻ sơ sinh và trẻ em, sau đó ông mở rộng việc nghiên cứu trênngười lớn Chính việc áp dụng toán học đã giúp ông kết luận là từ sau khi sinhđến tuổi dậy thì tốc độ tăng trưởng ở mỗi giai đoạn không giống nhau Ôngkết luận "trọng lượng tăng theo bình phương của chiều cao” và tỷ số đó đượcgọi là chỉ số Quetelet Sau này, đến năm 1972 Keys A (1904-2004) đổi tênchỉ số này thành chỉ số BMI (Body Mass Index) Việc ghép các chỉ số nhântrắc lại với nhau khiến giá trị của chúng trở nên có ý nghĩa vì nó không chỉ

Trang 9

mô tả về kích thước mà còn tính được mối tương quan giữa các phần của cơthể [69]

Về mặt lý luận, nhân trắc học cho phép chúng ta tìm ra các quy luật về

sự phát triển cơ thể, phân loại dạng người, các nhóm chủng tộc và tìm hiểunguồn gốc loài người Hiện nay, tùy theo mục đích nghiên cứu mà người tachia ra các loại nhân trắc học chuyên nghiên cứu sự khác nhau về hình tháicác chủng tộc loài người là cách nghiên cứu cơ bản, thu thập số đo cơ thểtrong chu kỳ sống để xây dựng giá trị tiêu chuẩn về hình thái của con ngườithế kỷ XXI Nhân trắc học đường nghiên cứu thể lực và các tiêu chuẩn kiểmtra sức khỏe học sinh, nhân trắc thể dục thể thao, nhân trắc nghề nghiệp, nhântrắc y học nghiên cứu sự phát triển của trẻ em qua các thời kỳ…[33], [66]

Thành tựu lớn của nghiên cứu nhân trắc học từ trước đến nay trên thếgiới đã không chỉ xác định được xu hướng phát triển tầm vóc cơ thể của conngười, mà còn tập trung vào phân tích các mối liên quan đến sự phát triểnhình thái Sự hình thành tầm vóc trên trẻ em phụ thuộc vào sự tương tác phứctạp giữa nhiều yếu tố Các yếu tố đó tác động không giống nhau, có yếu tốthúc đẩy và có yếu tố làm hạn chế sự phát triển Về cơ bản, các yếu tố đượcphân thành yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh Yếu tố nội sinh bao gồm hệnội tiết, yếu tố di truyền, giới, chủng tộc, các bất thường bẩm sinh Yếu tốngoại sinh gồm môi trường và khuynh hướng tăng trưởng, trong đó yếu tốmôi trường bao gồm điều kiện kinh tế xã hội, dinh dưỡng, khí hậu, mùa, cácstress tâm lý, hoạt động thể chất, bệnh tật Các yếu tố này tương tác với nhautrong thời kỳ phát triển để đưa ra một kiểu hình đặc trưng cho từng trẻ [5],[15], [40], [44] Các kết luận đã được công bố về các yếu tố ảnh hưởng đến sựphát triển hình thái ở trẻ em rất nhiều Trong đó, các yếu tố di truyền, chủngtộc được quan tâm đặc biệt Các nghiên cứu thuộc lĩnh vực này đã xác địnhchiều cao là một đặc điểm di truyền do nhiều gen quy định [120], [127] Yếu

tố gia đình, chủng tộc tác động lên sự tăng trưởng của trẻ khá lớn [115] Ước

Trang 10

tính mức độ ảnh hưởng của yếu tố di truyền đến sự phát triển cơ thể được tácgiả Rogol A D thống kê là từ 41% đến 71% [105] Tầm vóc tối đa của trẻliên quan đến tầm vóc của cả cha lẫn mẹ Hình dáng của trẻ mập hay gầy cũngphụ thuộc vào thể trạng của cha mẹ và các thành viên trong gia đình Nếu trẻđược sinh ra trong gia đình có các thành viên bị béo phì thì sẽ có khả năng bịbéo phì (hệ số tương quan = 3,62) [121] Do phụ thuộc vào yếu tố di truyền nêncác chủng tộc khác nhau có hình thái khác nhau Một nghiên cứu trên ngườichâu Á và người da trắng cho thấy, người châu Á có chỉ số BMI thấp hơn sovới người da trắng, do cân nặng, chiều cao, và kích thước xương của ngườichâu Á nhỏ hơn người da trắng Tuy nhiên, người châu Á có lớp mỡ dưới dadày hơn so với người da trắng [126].

Nhóm yếu tố thứ hai là giới tính Nghiên cứu của Ellis J A đã tìm thấy mốiliên quan giữa chiều cao với gen chiều cao nằm trên nhiễm sắc thể Y, điều nàykhiến cho chiều cao của nam giới lớn hơn so với của nữ giới [70]

Nhóm yếu tố thứ ba là môi trường sống Bên cạnh yếu tố di truyền, yếu

tố môi trường sống ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển chiều cao và cânnặng của trẻ Yếu tố môi trường tương tác với yếu tố di truyền trong suốt thời

kỳ tăng trưởng của trẻ Trẻ em có các kiểu gen tương tự nhau, được nuôi trongđiều kiện tốt sẽ đạt được chiều cao trưởng thành lý tưởng hơn những trẻ cóhoàn cảnh bất lợi Các yếu tố môi trường quan trọng là điều kiện kinh tế xãhội, dinh dưỡng, khí hậu và stress tâm lý Đa số các nghiên cứu đều cho thấy,tình trạng kinh tế của gia đình, đất nước và nền văn hóa ảnh hưởng đến cácthông số tăng trưởng của trẻ em Những trẻ được sống trong môi trường cóđiều kiện tốt về kinh tế sẽ có khả năng tăng trưởng nhanh hơn trẻ sống trong

xã hội có nền kinh tế nghèo nàn, trẻ ở các nước phát triển có chiều cao lớnhơn so với trẻ sống ở các nước đang phát triển và kém phát triển Trẻ sống ởnông thôn nơi có điều kiện kinh tế khó khăn, thiếu thốn có tỷ lệ bị suy dinhdưỡng cao hơn so với các trẻ sống ở vùng thành thị [51], [88]

Trang 11

Điều kiện nuôi dưỡng như dinh dưỡng ở thời kỳ trong tử cung, dinhdưỡng sau sinh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tầm vóc và sự phát triểncủa trẻ sau này Nếu trong quá trình mang thai, chế độ dinh dưỡng của người

mẹ không đầy đủ hoặc do bị nhiễm độc thai nghén, thai sẽ bị chậm tăngtrưởng, trẻ khi sinh ra sẽ nhẹ cân [40] Còn nếu trẻ phải sống ở điều kiện kinh

tế xã hội kém phát triển, môi trường thiếu vệ sinh, không đủ nước sạch, không

đủ số lượng và chất lượng các chất dinh dưỡng cần thiết, cũng như chăm sóckhông tốt sẽ bị suy dinh dưỡng thấp còi

Các yếu tố khiến trẻ bị stress có thể là do sống ở môi trường quá chậthẹp đông đúc, bạo lực gia đình, áp lực học tập, thiếu thốn tình cảm…đều gópphần làm chậm tăng trưởng ở trẻ Nguyên nhân gia đình quá đông sẽ khiến trẻphải chia sẻ không gian chơi, đặc biệt là trẻ không có một chỗ ngủ riêng tư,dẫn đến rối loạn giấc ngủ thường xuyên do bị quấy rầy, do tiếng ồn quá mức.Rối loạn giấc ngủ khiến cho sự bài tiết hormon tăng trưởng (GH) có thể bịgiảm, dẫn đến tăng trưởng của trẻ chậm lại [40], [57], [124] Một nghiên cứucho thấy, có 31,1% số trẻ em đã trải qua xung đột gia đình có tầm vóc thấphơn 20,2% so với số trẻ được sống trong môi trường hòa thuận, và có 44,0%

số trẻ em ở các hộ gia đình đông đúc có vóc người thấp bé hơn 16,4% so với

số trẻ sống ở những gia đình ít con [96]

Nhìn chung, khi nghiên cứu trên trẻ em, các kết luận được rút ra là sựtăng trưởng của trẻ có xu hướng tốt lên theo thời gian Ở thế kỷ XIX sự giatăng về chiều cao đạt được ở tuổi trưởng thành là 1-3 cm/thập kỷ [64] Tương

tự, xu hướng tăng cân nặng cũng theo chiều hướng tích cực Trẻ em ngày nay

có chiều dài thân, vòng ngực, độ dày lớp mỡ dưới da, khối lượng cơ, đặc biệt

là chiều dài của đùi, đã tăng lên rõ rệt ở cả hai giới [40] Tuy nhiên, theo một

số nghiên cứu, hiện nay sự gia tăng về chiều cao tối đa ở trẻ em để đạt đượcchiều cao lớn nhất ở tuổi trưởng thành đã ngừng ở một số nước như Na Uy,Anh, Hà Lan [104], [110]

Trang 12

Các nghiên cứu ở Châu Á ở thế kỷ XXI, Thái Lan (2012) đã công bố từnăm 1975 đến năm 2012 chiều cao trung bình của trẻ trai và trẻ gái đã tănglên tương ứng là 1,32 cm và 0,86 cm ở mỗi thập kỷ [81] Ở thế kỷ XXI, nhờ

sự tiến bộ vượt bậc của khoa học, các nghiên cứu về nhân trắc học không chỉđược thực hiện bằng các dụng cụ đo lường hình thái cổ xưa mà còn được thựchiện nhờ các máy quét đa chiều, giúp khảo sát chi tiết, chính xác hơn các phần

cơ thể

1.3.1.2 Các nghiên cứu về hình thái ở Việt Nam

Ở Việt Nam, các kích thước của cơ thể con người được chú ý từ nhữngnăm 30 của thế kỷ XX Các công trình nghiên cứu nhỏ về đo đạc một số kíchthước như chiều cao, cân nặng, vòng ngực của học sinh Hà Nội đã được thựchiện Tuy nhiên, các công trình này sử dụng các thuật toán còn đơn giản vàoviệc nhận định kết quả đo đạc, nên tính giá trị phần nào bị hạn chế Đến giaiđoạn nước ta bước vào xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, công tác điềutra cơ bản trên mọi mặt kinh tế quốc dân được đẩy mạnh, trong đó có điều tra

về cơ thể con người, do đó ngành nhân trắc học có điều kiện phát triển Cácnghiên cứu đã được tiến hành với quy mô khá lớn trên nhiều lứa tuổi, sốlượng đối tượng nghiên cứu tăng dần, toán thống kê đã được vận dụng để rút

ra ý nghĩa của các kết quả Từ các nghiên cứu đã xây dựng được một số tiêuchuẩn về thang phân loại các kích thước cơ thể, các chỉ số thể lực, một số quyluật về sự phát triển cơ thể và đặc điểm các dân tộc Việt Nam Theo NguyễnQuang Quyền (1974), có hàng trăm công trình nghiên cứu về nhân trắc học đãđược tổng kết và được tổng hợp tại hai Hội nghị toàn miền Bắc về hằng sốsinh học người Việt Nam bình thường vào năm 1967 và 1972 [33] Cácnghiên cứu về các đặc điểm hình thái của trẻ em ở thế kỷ XX tập trung vàocác kích thước hình thái, sự khác biệt giữa nam và nữ, phân biệt về vùngmiền, dân tộc… Một số nghiên cứu tiêu biểu về trẻ em ở giữa thế kỷ XX nhưnghiên cứu của Đỗ Xuân Hợp và Nguyễn Quang Quyền ở Hà Nội (1959-

Trang 13

1962) về "Sức lớn của học sinh Hà Nội từ 7-18 tuổi" Trong 4 năm nghiêncứu, các tác giả đã cho thấy, có sự gia tăng chiều cao ở từng lứa tuổi theo thờigian [33] Nghiên cứu của Phạm Năng Cường (1962) về vòng ngực của họcsinh Hà Nội đã được Nguyễn Quang Quyền ghi chép ở cuốn “Nhân trắc học

và sự ứng dụng nghiên cứu trên người Việt Nam” [33] cho thấy, có mối tươngquan giữa vòng ngực và cân nặng Theo Nguyễn Quang Quyền (1963), chỉ sốvòng ngực ở thanh niên Việt Nam có độ giãn trung bình (hiệu của vòng ngựchít vào trừ đi vòng ngực thở ra) là từ 6-7 cm, còn sự thay đổi chỉ là 1-2 cm khi

đo đường kính trước sau và đường kính ngang ngực [33] Các nghiên cứu đócũng tập trung vào các trẻ em thuộc các dân tộc khác nhau Nguyễn QuangQuyền (năm 1969) đã nghiên cứu trẻ em người Việt, Tày, Mường, Thái ởmiền Bắc Việt Nam [33] Từ các kết quả nghiên cứu về nhân trắc học, vàonăm 1974 quyển sách đầu tiên ở Việt Nam viết về nhân trắc học của NguyễnQuang Quyền đã ra đời với tiêu đề "Nhân trắc học và sự ứng dụng nghiên cứutrên người Việt Nam" Cuốn sách được coi như là một tài liệu tổng quan, tập hợpđược các kết quả của tác giả và các nhà khoa học nghiên cứu về nhân trắc họcthời đó Tài liệu này cũng đã đưa ra các phương pháp, kỹ thuật, dụng cụ đo vàtổng hợp các kết quả nghiên cứu của tác giả và các nhà khoa học khác Chínhông cùng cộng sự đã xây dựng nên chỉ số QVC (Quay-Vòng-Cao), để đánh giáthể lực thông qua chiều cao và các vòng chi thay thế cân nặng [33] Đến nay cácnghiên cứu cơ bản về nhân trắc vẫn sử dụng các phương pháp này

Đến năm 1975, Nguyễn Tấn Gi Trọng đã xuất bản cuốn sách "Hằng sốsinh học người Việt Nam" trong thế kỷ XIX, bộ số liệu được dùng làm tài liệutham khảo cho nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở trong nước và nướcngoài Tuy nhiên, mặt hạn chế của các công trình nghiên cứu nói trên là dohoàn cảnh đất nước Việt Nam bị chia cắt, vẫn còn chiến tranh, phương tiệnnghiên cứu còn nghèo nàn, việc trao đổi thông tin với nước ngoài còn hạn chế

Trang 14

và phần lớn nghiên cứu có tính tự phát, đối tượng tham gia nghiên cứu còn ít,

do đó các kết quả nghiên cứu có tính đại diện chưa cao [33]

Vào những năm 80, 90 của thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu diễn

ra trên khắp vùng miền tiếp tục ra đời, trong đó đối tượng trẻ em đã đượcnhiều nhà khoa học quan tâm đến

Năm 1991, Đào Huy Khuê [20] nghiên cứu 1487 trẻ em từ 6 đến 17tuổi ở Thị xã Hà Đông-Hà Sơn Bình đã cho thấy, tuổi có chiều cao tăng mạnhnhất ở nam là 13 lên 14 tuổi (8 cm) muộn hơn ở nữ 1 năm (12 lên 13 tuổi)nhưng giá trị tăng cao nhất của chiều cao ở nữ lại thấp hơn ở nam (6 cm) TạiBắc Kạn, năm 1992, Nguyễn Văn Lực và cộng sự [30] đã nghiên cứu chiềucao của các dân tộc khác nhau Kết quả cho thấy, trẻ em người Mông có chiềucao đứng thấp hơn so với trẻ em người Tày và người Kinh Ở khu vực HàNội, Vĩnh Phú, Thái Bình, Trần Văn Dần và cộng sự [6] đã nghiên cứu (1993đến 1997) trên 13.747 học sinh tuổi từ 8 đến 14 Tác giả nhận xét, các họcsinh ở Hà Nội vào năm 1993 có chiều cao và cân nặng lớn hơn rõ rệt so vớicác trẻ em năm 1971, còn các học sinh Vĩnh Phú không có sự khác biệt về chỉ

số này khi so với các trẻ em ở năm 1971 Tại một số vùng của Nghệ An, HàTĩnh, Nghiêm Xuân Thăng [35] đã nhận thấy, sự phát triển chiều cao củangười dân Nghệ Tĩnh thấp hơn so với cư dân ở vùng đồng bằng Bắc Bộ khinghiên cứu trên các đối tượng từ 1 đến 25 tuổi Phan Thị Sang [34] nghiêncứu trên địa bàn Huế năm 1996 cho thấy, ở cùng một độ tuổi, các học sinh nữ

đã có kinh nguyệt có chiều cao lớn hơn rõ rệt so với các học sinh chưa cókinh nguyệt Năm 1996, Cao Quốc Việt và Nguyễn Phú Đạt nghiên cứu trên

2506 trẻ từ 6 đến 17 tuổi ở nội thành Hà Nội đã thấy, đỉnh tăng trưởng ở trẻtrai là 13-14 tuổi, đến sau so với trẻ gái 1 năm (12-13 tuổi), đỉnh tăng trưởngnày xuất hiện trước khi trẻ xuất hiện hiện tượng dậy thì hoàn toàn khoảng 1năm [46]

Trang 15

Các nghiên cứu đã nêu trên đều là những nghiên cứu mô tả cắt ngang,các chỉ số nghiên cứu được khai thác tại cùng một thời điểm, đặc điểm sinhhọc được tính chung và mang tính phổ biến cho một quần thể Vì vậy, để tìm

ra được đặc tính phát triển riêng cho từng cá thể cần có những nghiên cứutheo dõi dọc Theo Thẩm Thị Hoàng Điệp [9] thì từ năm 1982 đến 1989 liên

Bộ Y tế - Giáo dục đã phối hợp theo dõi học sinh 7-13 tuổi về các chỉ số hìnhthái, thể lực, số lượng học sinh được nghiên cứu còn ít (37 nam và 35 nữ).Đến năm 1992, tác giả đã tiếp tục tiến hành nghiên cứu dọc trong 10 năm(1980 đến 1990) [9] Đây là công trình nghiên cứu được coi là công phu và đãtìm ra được các quy luật phát triển ở trẻ em Việt Nam Số học sinh lúc bắt đầunghiên cứu là 101 học sinh tại Hà Nội Trong quá trình theo dõi do biến động

về số học sinh tham gia nghiên cứu nên số liệu của tác giả khi công bố chỉ còn

26 trường hợp nam và 33 trường hợp nữ Kết quả cho thấy, chiều cao, cânnặng, các vòng của học sinh tăng dần từ 7-16 tuổi Chiều cao tăng mạnh nhất

ở cả nam và nữ là 11 lên 12 tuổi Đến 16 tuổi nam vẫn còn có sự gia tăngchiều cao trong khi nữ gần như không còn cao thêm nữa Cân nặng và cácvòng đùi, vòng cánh tay có chung quy luật phát triển, mức tăng cao nhất cácchỉ số này ở nữ là 12 lên 13 tuổi, ở nam là 13 lên 14 tuổi [9]

Đến cuối thế kỷ XX vào những năm 90, với sự phát triển của các thiết

bị y tế hiện đại và chuẩn bị cho việc hoạch định chiến lược phát triển conngười trong thế kỷ XXI, để đáp ứng công cuộc xây dựng đất nước côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, một dự án "Điều tra cơ bản một số chỉ tiêu sinh họcngười Việt Nam bình thường thập kỷ 90” được thành lập Dự án có sự thamgia của nhiều nhà khoa học trên cả nước, với trang thiết bị hiện đại hơn, đủ độchính xác và với các kỹ thuật được chuẩn hóa và phổ biến trên thế giới đang

sử dụng Nghiên cứu đã được thực hiện với quy mô lớn, triển khai ở nhiềuvùng miền gồm khu vực miền núi phía Bắc, khu vực Hà Nội và đồng bằngsông Hồng, khu vực ven miền Trung, khu vực Tây Nguyên, khu vực đồng

Trang 16

bằng sông Cửu Long Các chỉ tiêu sinh học được nghiên cứu phong phú hơnnhững năm trước (siêu âm tim, mạch, định lượng các yếu tố vi lượng…), cácđối tượng được nghiên cứu theo lớp tuổi để có được giá trị đặc thù sinh họccho mỗi lứa tuổi Cuốn sách "Các giá trị sinh học người Việt Nam bìnhthường thập kỷ 90-thế kỷ XX" (GTSH-2003) do Bộ Y tế công bố đã đánh dấu

sự thành công của các nghiên cứu cơ bản về con người [79]

Sang những năm đầu của thế kỷ XXI, nền khoa học và công nghệ đã cónhững bước phát triển kỳ diệu, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghệ thôngtin Sự phát triển cực kỳ nhanh chóng của các ngành công nghệ cao như côngnghệ sinh học, công nghệ nanô đang hội tụ với nhau để tạo thành nền tảngcho một hệ thống công nghệ mới của thế kỷ XXI Hệ thống này đã và đanglàm biến đổi sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội loài người nói chung,trong việc ảnh hưởng đến thể chất và trí tuệ của con người nói riêng và là yếu

tố quyết định chất lượng giống nòi của mỗi quốc gia Nó đòi hỏi Y học ViệtNam phải cập nhật các giá trị sinh học người bình thường theo từng thập kỷ.Đây cũng là điều cần thiết để đánh giá sự ảnh hưởng của mỗi giai đoạn pháttriển kinh tế-xã hội đến con người Việt Nam nói chung và đến trẻ em ViệtNam nói riêng Bên cạnh đó, một đề án về phát triển tầm vóc người Việt Namđược Chính phủ phê duyệt đã thúc đẩy việc nghiên cứu các giá trị sinh học ởngười bình thường, nó là cơ sở cần thiết để cung cấp bằng chứng khoa họctrước khi thực hiện đề án [36] Hiện nay, nếu so sánh với một số nước ở khuvực Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia, Singapore thì tầm vóc thân thểthanh niên Việt Nam đều thua kém so với tầm vóc thanh niên các nước trongkhu vực Do đó, đề án mới của Chính phủ đã được phê duyệt nhằm phát triểnthể lực, tầm vóc người Việt Nam trong 20 năm tới để nâng cao chất lượngnguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;từng bước nâng cao chất lượng giống nòi, tăng sức khỏe và tuổi thọ của ngườiViệt Nam [36]

Trang 17

Một số công trình đã được thực hiện trong những năm đầu thế kỷ XXInhư, năm 2000, Trần Thị Loan [29] đã nghiên cứu trên các học sinh phổ thông

từ lớp 1 đến lớp 12 của bốn trường phổ thông thuộc quận Cầu Giấy, Hà Nội,các chỉ số nghiên cứu là chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình Tácgiả nhận thấy, các chỉ số trên tăng dần lên theo tuổi, tuy nhiên, mức tăngkhông đều giữa các năm Thời điểm tăng vọt về chiều cao đến trước 2 năm sovới cân nặng và vòng ngực Mốc thời gian tăng nhanh nhất cả ba chỉ số chiềucao, cân nặng, vòng ngực ở nữ xuất hiện sớm hơn ở nam 2 năm

Năm 2001, Nguyễn Phú Đạt đã tiến hành nghiên cứu về tuổi dậy thìcủa trẻ em và một số yếu tố ảnh hưởng ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam Kếtquả đã cho thấy, lứa tuổi tăng chiều cao mạnh nhất ở trẻ trai là 13 lên 14 tuổi(8,83 cm/năm), và ở trẻ gái là 11 lên 12 tuổi (7,68 cm/năm) Tác giả cũng đãđưa ra được phương trình tương quan tuyến tính giữa phát triển tinh hoàn vàtuổi ở trẻ trai từ 12 đến 17 tuổi (y = 0,507x - 66,504) với hệ số tương quan r =0,587 Kết quả cũng đã cho thấy, đỉnh tăng trưởng phát hiện được vào thờiđiểm tiền dậy thì [8]

Năm 2009, Đỗ Hồng Cường khi nghiên cứu trên các đối tượng là họcsinh trung học cơ sở độ tuổi 11-15 của 5 dân tộc Kinh, Mường, Tày, Dao,Thái đã cho thấy, tốc độ tăng chiều cao, cân nặng và các vòng (vòng ngựctrung bình, vòng đùi phải, vòng cánh tay phải co, vòng bụng) lớn nhất ở họcsinh nam là 13 đến 15 tuổi, ở nữ là 11 đến 13 tuổi Học sinh người dân tộcThái, Kinh và Mường có thể lực tốt hơn so với học sinh người dân tộc Dao,Tày [5]

Năm 2012, nghiên cứu cắt ngang có quy mô lớn của Lê Thị Hợp vàcộng sự ở 21.626 học sinh từ lớp 1 đến lớp 12 ở Hà Nội, Hải Dương và BắcGiang cho thấy, học sinh ở thành thị luôn cao hơn học sinh ở nông thôn vàmiền núi Tình trạng dinh dưỡng của học sinh thành thị tốt hơn học sinh ởmiền núi, tỷ lệ thấp còi ở học sinh miền núi là 23,9% [17]

Trang 18

Năm 2013, một nghiên cứu khác của Trần Long Giang trên đối tượng làcác học sinh trung học cơ sở người dân tộc đã cho thấy, các chỉ số chiều caođứng, cân nặng, vòng ngực trung bình, BMI của học sinh người dân tộc Kinhđều lớn hơn của học sinh người dân tộc Dao và Mông [11] Cùng thời điểmnăm 2013, ở địa bàn tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc, Nguyễn Thị Bích Ngọc cũng

đã tiến hành nghiên cứu một số chỉ số hình thái trên học sinh người dân tộcKinh, Mường và Sán Dìu ở độ tuổi 11-17 Tác giả cũng nhận thấy, các chỉ sốhình thái về chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình của học sinhngười dân tộc Kinh tốt hơn so với người dân tộc Mường và Sán Dìu [32].Mức tăng vọt chiều cao của các học sinh nữ là ở tuổi 12 lên 13, còn ở đa sốhọc sinh nam là 13 lên 14

Như vậy là vào đầu thế kỷ XXI, các công trình về nhân trắc học đường

đã tập trung vào các chỉ số hình thái của trẻ em các dân tộc Việt Nam ở cácvùng miền khác nhau, nhằm cung cấp các chỉ số phục vụ cho các ngành sinhhọc, y học và giáo dục Tuy nhiên, các nghiên cứu này đều là các nghiên cứu

mô tả cắt ngang, chưa theo dõi được sự phát triển của các học sinh theo tuổinên chưa đánh giá đúng thực chất tình trạng phát triển của từng cá thể

Tại Thái Nguyên, năm 2000 đã có công trình nghiên cứu của NguyễnThành Trung "Nghiên cứu sự phát triển thể chất và trí tuệ trẻ em lứa tuổi họcđường tỉnh Thái Nguyên" [42] Trong nghiên cứu này, tác giả đã công bố kếtquả điều tra ngang một số chỉ số phát triển thể lực của học sinh trung học cơ

sở thuộc tỉnh Thái Nguyên như: khối lượng cơ thể, chiều cao đứng, chiều caongồi, vòng ngực, vòng đùi, vòng cánh tay duỗi, các chỉ số BMI, Pignet,Skélie Nghiên cứu đã chỉ ra có sự khác biệt giữa thể lực học sinh nông thôn

và thành phố Tuy nhiên, đây cũng là một nghiên cứu mô tả cắt ngang và dokinh phí có hạn nên các chỉ số trong nghiên cứu của tác giả còn hạn chế Vìvậy, thực hiện một nghiên cứu dọc là cần thiết để giúp đánh giá chính xác hơn

sự phát triển của mỗi cá thể, và cũng cần đánh giá lại sau 10 năm hình thái,

Trang 19

thể lực trẻ em ở Thái Nguyên có phát triển tốt hơn hay không Cùng với sự trợgiúp của các phương tiện máy móc hiện đại việc đánh giá các chỉ số thể lực,các yếu tố liên quan đến sự phát triển của học sinh sẽ được rõ ràng và có ýnghĩa hơn, để có thể rút ra được các kết luận có giá trị góp phần thúc đẩy sựphát triển thể chất của trẻ.

1.3.2 Các nghiên cứu về chức năng

1.3.2.1 Các nghiên cứu về chức năng hệ tuần hoàn và máu

Từ thời kỳ cổ xưa, khi đứng trước các hiện tượng xảy ra của bản thâncon người đã luôn đặt các câu hỏi tại sao Để giải thích các hiện tượng nàyngười ta thường dựa vào những luận thuyết huyền bí như mọi hoạt động củacon người hay sự sống tồn tại được là nhờ có linh hồn Quan niệm này chính

là nguồn gốc của tôn giáo

Vào thế kỷ thứ V trước Công Nguyên, Hippocrate là người đầu tiên giảithích nguyên nhân không theo tôn giáo Ông đưa ra thuyết hoạt khí để giảithích một số hiện tượng như không khí từ bên ngoài vào phổi rồi vào máu vàlưu thông trong máu Hippocrate cũng là người đầu tiên đưa ra khái niệm "cânbằng nội môi" để duy trì sức khỏe Đến thế kỷ thứ II, Galen đã dựa trên kháiniệm của Hippocrate để giải thích một số hiện tượng khác Ông đã cho rằng,

cơ thể có não và dây thần kinh là phần chịu trách nhiệm về cảm giác và suynghĩ [111]

Từ khoảng thế kỷ thứ XVI đến nửa đầu thế kỷ XX, nền kinh tế của cácnước Châu Âu phát triển, chế độ tư bản ra đời và khoa học tự nhiên có nhữngbước tiến bộ quan trọng Song song với những phát minh về vật lý học đã cónhiều phát hiện như việc tìm ra tuần hoàn phổi nhờ phương pháp giải phẫucủa Servet (1511-1553), phát hiện hệ thống tuần hoàn máu của Harvey (1587-1657) [111] Sau này, với sự trợ giúp của kính hiển vi Malpighi đã là người cóđóng góp lớn khi phát hiện ra các cấu trúc vi thể của các cơ quan để từ đó xâydựng giả thuyết về chức năng của chúng Ông tìm ra tuần hoàn phổi khi

Trang 20

nghiên cứu trên ếch (1628-1694) Ông cũng là người đầu tiên mô tả các nhúlưỡi và chứng minh vai trò của nó trong cảm nhận hương vị Khi nghiên cứucấu trúc của da, ông đã mô tả một lớp tế bào mà hiện nay mang tên ông (tếbào Malpighi) Việc phát hiện ra các tiểu cầu thận giúp giải thích được đơn vịchức năng của thận Các cấu tạo nhỏ của cơ quan bạch huyết trong lách saunày được đặt tên là tiểu thể Malpighian Đối với hệ thần kinh, ông cũng đãphát hiện ra các bó sợi và gọi tên nó là chất trắng [128]…

Những phát hiện về hoạt động của các bộ phận trong cơ thể của các nhàkhoa học thông qua thực nghiệm ngày càng nhiều và cụ thể hơn Họ bắt đầutìm cách giải thích bản chất các hiện tượng sống như bản chất của quá trình

hô hấp của Lavoisier A L (1743-1794) [82], hoạt động của dòng điện sinhvật để giải thích sự chuyển động cơ bắp của Luigi G (1737-1798) [101] Nửa sau thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX, nhờ nhịp độ phát triển củakhoa học kỹ thuật ngày càng mạnh nên nhiều thành tựu về sinh lý học cũngđạt được trong thời kỳ này Các thành tựu đó là quan niệm về hằng tính nộimôi của Bernard C (1813-1873) [95], nghiên cứu về chức năng hệ thần kinhcủa Sherrington C S (1857-1952) [56], Broca (1861), Wernicke (1874),Lichtheim (1885) [102] Đặc biệt, Pavlov trong nghiên cứu thực nghiệm trên

cơ thể sống đã sử dụng học thuyết về hoạt động thần kinh cấp cao để giảithích cơ chế điều hoà các hoạt động chức năng Học thuyết của Pavlov là nềntảng cho các nghiên cứu cụ thể về hoạt động chức năng của các cơ quan trong

cơ thể

Năm 1940, kính hiển vi điện tử ra đời, nhờ có nó mà một loạt các thànhtựu mới đã đạt giải thưởng Nobel như phát minh về cấu trúc xoắn kép củaacid nucleic của Watson và Crick (1953) [68] Năm 1658, nhà tự nhiên họcngười Hà Lan, Swammerdam J (1637-1680) là người đầu tiên quan sát các tếbào máu màu đỏ dưới kính hiển vi, sau đó Van Leeuwenhoek A (1632-1723)

đã mô tả kích thước và hình dạng của hồng cầu và đưa ra hình ảnh minh họa

Trang 21

đầu tiên vào năm 1695 [77] Andral G (1797-1876), một giáo sư y học ngườiPháp và Addison W (1802-1881) đã đồng thời báo cáo mô tả hình ảnh củabạch cầu (1843) [77] Donne A (1801-1878) vào năm 1842 ông phát hiện racác tiểu cầu Đến năm 1901, Landsteiner đã phát hiện ra kháng nguyên hệnhóm máu ABO, và gen quy định nhóm máu nằm trên nhiễm sắc thể số 9.Đến năm 1940, cùng với Wiener ông tìm thêm được nhóm máu hệ Rh [71].Theo dẫn liệu của Pearson H.A., giữa năm 1932-1942, Guest G M (1898-1967) [99] đã thực hiện một nghiên cứu sâu rộng về các chỉ số hồng cầu trênmột số lượng lớn trẻ em bình thường và thiếu máu Nghiên cứu không chỉ giúpxác định các giá trị tham chiếu theo tuổi mà còn xác định được tỷ lệ thiếu máu

do thiếu sắt ở trẻ sơ sinh và trẻ em Ông cho rằng, có sự sụt giảm của thể tíchtrung bình hồng cầu (MCV), huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCH) trước khixuất hiện dấu hiệu thiếu máu và những thay đổi này có thể được ngăn ngừabằng cách sử dụng sắt

Hệ tuần hoàn được phát hiện ngay từ khi con người tìm ra hệ thốngtuần hoàn máu Đến năm 1847, Carl Ludwig (1816-1895) là người đầu tiênghi lại dao động tuần hoàn chính là các sóng áp lực động mạch biến thiên theonhịp thở [54] Sau đó, sự khám phá của Einthoven W (1860-1927) về dòngđiện tim khởi nguồn cho việc chế tạo ra máy để ghi điện tâm đồ [53] Cáccông trình nghiên cứu về huyết áp đều cho thấy, huyết áp tâm thu và huyết áptâm trương tăng lên theo tuổi ở giai đoạn cơ thể đang phát triển [62], [123].Nghiên cứu của Voors A W (1976) trên 3524 trẻ em từ 5-14 tuổi ở Bogalusa,Louisiana cho thấy, trẻ em da đen có huyết áp cao hơn so với trẻ em da trắng

Sự khác biệt này xảy ra bắt đầu trước 10 tuổi, nguyên nhân là do sự thay đổicủa chiều cao và cân nặng Tác giả cũng nhận thấy, hemoglobin cũng là yếu tốtác động lên huyết áp [125]

Tại Việt Nam, song song với các nghiên cứu về hình thái thì các nghiêncứu chức năng các cơ quan cũng được tiến hành Năm 1960, các chỉ số huyết

Trang 22

học lần đầu tiên được Lê Nam Trà trình bày trong báo cáo “Góp phần nghiêncứu về những con số trung bình huyết học ở người Việt Nam” [38] Tác giảcho thấy, số lượng hồng cầu và huyết cầu tố ở người Việt Nam bình thường íthơn so với người Châu Âu, bạch cầu ưa acid, bạch cầu mônô và lympho lạităng Ông cho rằng các chỉ số đó nói lên con người Việt Nam thời điểm đó cótình trạng thiếu máu nhẹ và nhiễm kí sinh trùng mạn tính Công trình nghiêncứu của Vũ Triệu An, Nguyễn Ngọc Lanh và Phạm Quốc Cầm (1975) được

Lê Nam Trà ghi lại cho thấy, khi mới sinh số lượng hồng cầu và huyết cầu tố

ở trẻ em Việt Nam khá cao, tương đương với người Âu-Mỹ nhưng sau đógiảm xuống nhất là chỉ số huyết cầu tố Còn trong công thức bạch cầu, thìbạch cầu lympho và acid tăng Các tác giả đã cho rằng, nguyên nhân ở đây làdinh dưỡng của trẻ em Việt Nam kém nên nhanh chóng mất dự trữ khi mới lọtlòng và hay bị viêm nhiễm nên có sự thay đổi công thức bạch cầu Năm 1993,

Vũ Triệu An đã nhận thấy, số lượng hồng cầu ở những người sống ở nôngthôn thấp hơn so với người sống ở thành thị Ngược lại, số lượng bạch cầuacid của những người ở nông thôn lại cao hơn của người sống ở thành thị.Điều này chứng tỏ tình trạng dinh dưỡng của những người sống ở nông thônkém hơn và dễ bị nhiễm kí sinh trùng hơn so với người ở thành thị [38] Chỉ

số hồng cầu được tập hợp trong cuốn hằng số sinh học người Việt Nam năm

1975 và giá trị sinh học người Việt Nam thập kỷ 90 thế kỷ XX cho thấy, giátrị của các chỉ số này chưa có xu hướng tăng lên

Bên cạnh các chỉ số về máu, các chỉ số tuần hoàn cũng được các nhàkhoa học Việt Nam quan tâm Theo dẫn liệu của Lê Nam Trà [38], năm 1961

và năm 1971 các nhà chuyên khoa tim đã đo huyết áp trên hàng vạn người,năm 1982 Trịnh Bỉnh Di đã công bố kết quả, huyết áp của người Việt Namthấp hơn của người Âu-Mỹ, huyết áp tăng dần theo tuổi nhưng cũng tăngchậm hơn so với người Âu-Mỹ Tác giả cho rằng, đặc điểm trên liên quan với

cơ thể ít mỡ và nồng độ cholesterol máu của người Việt thấp

Trang 23

Đến cuối những năm 90 thế kỷ XX, với điều kiện cơ sở vật chất đượcnâng cao, các nhà khoa học đã sử dụng các trang thiết bị hiện đại để khai thácthêm nhiều chỉ số sinh học, đã được thống kê ở cuốn “Các giá trị sinh họcngười Việt Nam bình thường thập kỷ 90 thế kỷ XX”[4] Các chỉ số tế bào máungoại vi đã được công bố gồm các thông số bạch cầu (tỷ lệ bạch cầu trungtính, acid, mono, lympho), hồng cầu (số lượng hồng cầu, hemoglobin,hematocrit, huyết sắc tố trung bình hồng cầu, nồng độ huyết sắc tố trung bìnhhồng cầu, hồng cầu lưới), tiểu cầu (số lượng tiểu cầu, độ ngưng tập tiểu cầu)[4] Giá trị các chỉ số hồng cầu của đối tượng 7-17 tuổi thấp hơn so với ngườitrưởng thành, trong khi số lượng tiểu cầu lại lớn hơn, còn số lượng bạch cầutương đương Đối với hệ tim mạch, các hình ảnh về điện tâm đồ, siêu âm tim,lưu huyết não, siêu âm động mạch, tần số tim, huyết áp đã được nghiên cứu.Các kết quả cho thấy, tần số tim ở lứa tuổi trẻ em giảm dần, còn huyết áp tăngdần theo tuổi, đến 16 tuổi tần số tim và huyết áp của trẻ gần tương đương ngườitrưởng thành [4].

Đầu thế kỷ XXI, các tác giả tiếp tục nghiên cứu về tế bào máu ngoại vi,tần số tim, huyết áp như Đỗ Hồng Cường [5], Nguyễn Phú Đạt [8], Trần ThịLoan [29], Nguyễn Thị Bích Ngọc [32]

Kết quả nghiên cứu các chỉ số hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu trong nghiêncứu của Đỗ Hồng Cường [5] đều trong giới hạn bình thường và không có sựkhác biệt giữa học sinh các dân tộc Kinh, Mường, Tày, Dao và Thái

Kết quả về chỉ số tuần hoàn trong nghiên cứu của Trần Thị Loan [29]cho thấy, học sinh nam 12-17 tuổi có tần số tim lớn hơn so với học sinh nữ.Tần số tim giảm dần theo tuổi, ngược lại huyết áp tâm thu và tâm trương tănglên theo tuổi Nguyễn Thị Bích Ngọc [32] cũng đã nghiên cứu xu hướng thayđổi của các chỉ số huyết áp và tần số tim trên các đối tượng nghiên cứu củamình Theo tác giả, tần số tim của học sinh giảm mạnh nhất lúc 12-14 tuổi đốivới nam, và 11-13 tuổi đối với nữ, còn thời điểm tăng huyết áp mạnh nhất là

Trang 24

tuổi 12-13 đối với nữ, và ở nam là 12-14 tuổi Theo Đỗ Hồng Cường [5],huyết áp tâm thu của học sinh nam mỗi năm tăng trung bình là 4,3 mmHg,còn ở học sinh nữ tăng 3,5 mmHg; các giá trị này cao hơn so với kết quảnghiên cứu của Trần Thị Loan [29].

1.3.2.2 Các nghiên cứu về chức năng hệ sinh dục

Nghiên cứu tuổi dậy thì được coi là một hướng nghiên cứu đánh giá sựphát triển con người theo thời gian Từ sau khi xuất bản cuốn sách giáo khoađầu tiên về sự tăng trưởng của con người của Stoeller J A năm 1729, xuhướng phát triển tuổi dậy thì đã được nghiên cứu trên toàn thế giới Dữ liệuđược báo cáo từ các nghiên cứu trên các quần thể người Châu Âu Ví dụ, ở Na

Uy và Đan Mạch tuổi có kinh nguyệt đã giảm đáng kể từ thế kỷ thứ 19, lênđến 12 tháng mỗi thập kỷ [98]

Từ trước đến nay, trên thế giới việc nghiên cứu các chỉ số sinh họctrong đó có các chỉ số chức năng như sinh lý dậy thì được nghiên cứu theotừng thập kỷ [79] Ở Nhật Bản, việc nghiên cứu tuổi dậy thì đã được thực hiện

ở những phụ nữ sinh từ năm 1930 đến năm 1980 [94] Nghiên cứu ở Thái Lancông bố là tuổi dậy thì ở trẻ gái đã giảm 0,39 năm/thập kỷ còn ở trẻ trai là0,12 năm/thập kỷ [81] Một nghiên cứu ở Trung Quốc từ năm 1985-2010 chothấy, tuổi có kinh nguyệt rất khác nhau giữa các dân tộc thiểu số (25 dân tộc),

độ tuổi có kinh nguyệt ở nữ dân tộc thiểu số Trung Quốc giảm đáng kểkhoảng 4,5 tháng mỗi thập kỷ [119]

Tại Việt Nam, theo báo cáo của Lê Nam Trà thì tuổi có kinh nguyệt lầnđầu của trẻ gái giảm dần Ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, tuổi có kinh lần đầu là16,99 ± 1,91 tuổi, đến thập kỷ 60 giảm xuống còn 15,96 ± 2,10 tuổi, thập kỷ

70 là 15,99 ± 1,90 tuổi, thập kỷ 80 là 16,05 ± 1,70 tuổi, đến thập kỷ 90 thì cáctrẻ em ở thành phố có tuổi dậy thì hoàn toàn là 14,00 ± 1,14 tuổi, còn học sinhnông thôn là 15,38 ± 1,38 tuổi [39] Theo hằng số sinh học năm 1975 [41],tuổi có kinh nguyệt lần đầu ở trẻ gái ở thành thị là 168 ± 14 tháng và bằng

Trang 25

180 ± 40 tháng ở trẻ nông thôn Đào Huy Khuê [20] chỉ ra rằng, tuổi dậy thìhoàn toàn ở trẻ gái Hà Tây là 164 ± 20 tháng Báo cáo của Cao Quốc Việt[47] năm 1994 cho thấy, tuổi dậy thì hoàn toàn khác nhau giữa các vùng, giữanam và nữ Ở học sinh nam Hà Nội là 14 tuổi 3 tháng, Bắc Thái (Thái Nguyênhiện nay) là 15 tuổi 10 tháng Đối với trẻ gái, ở Hà Nội là 13 năm 2 tháng, trẻ

ở Bắc Thái là 13 năm 2 tháng

Đến cuối thập kỷ 90 thế kỷ XX, Phan Thị Sang và Phạm Thị Minh Đức[4] đã tìm hiểu tuổi dậy thì trên các nữ sinh ở nhiều vùng miền Việt Nam Kếtquả nghiên cứu đã được ghi nhận là giá trị tham chiếu trong cuốn “GTSH-2003” của người Việt Nam tại thời điểm đó Nghiên cứu cho thấy, các nữ sinhsống ở thành thị có tuổi dậy thì đến sớm hơn so với các nữ sinh ở nông thôn

và miền núi [4] Độ dài chu kỳ kinh nguyệt và số ngày hành kinh không có sựkhác biệt giữa các nữ sinh ở các vùng miền khác nhau

Tiếp tục đến những năm đầu thế kỷ XXI, tuổi dậy thì được coi là chỉ sốsinh học cần thiết khi nghiên cứu về đặc điểm sinh học của trẻ em NguyễnPhú Đạt, đã tìm hiểu tuổi dậy thì của các trẻ gái và đã thấy, tuổi có kinhnguyệt lần đầu tính chung cho các trẻ gái ở Miền Bắc là 159 tháng [8] Trẻ emđến từ Hà Nội có tuổi dậy thì hoàn toàn đến sớm nhất (158 ± 11 tháng), tuổinày đến muộn hơn ở trẻ Thái Bình (161 ± 15 tháng) và Hà Tây (163 ± 14tháng), muộn nhất là trẻ ở Tuyên Quang (166 ± 14 tháng) và Thái Nguyên(167 ± 17 tháng) [8] Theo Đỗ Hồng Cường, tuổi dậy thì hoàn toàn của các nữhọc sinh người Kinh (154 ± 15 tháng) ở Hòa Bình đến sớm hơn so với họcsinh người Mường (171 ± 15 tháng) và người Sán Dìu (160 ± 20 tháng) [5].Tác giả cho rằng, sự khác biệt này là do yếu tố di truyền và điều kiện dinhdưỡng của người Kinh tốt hơn so với người Mường và Sán Dìu Nguyễn ThịBích Ngọc [32] cũng khảo sát tuổi dậy thì của học sinh các dân tộc ở tỉnh PhúThọ, Vĩnh Phúc Tác giả đã cho thấy, học sinh người Kinh có tuổi dậy thì

Trang 26

hoàn toàn là 154 ± 15 tháng, người Mường là 158 ± 15 tháng, và người SánDìu là 160 ± 20 tháng

1.3.2.3 Các nghiên cứu về chức năng hệ thần kinh

Đối với nghiên cứu về chức năng hệ thần kinh thì vào đầu thế kỷ XX,Pavlov đã chứng minh được hiện tượng tiết nước bọt tâm lý, sau này được đặttên là phản xạ có điều kiện Hiện tượng này được coi là phát kiến vĩ đại vềnghiên cứu chức năng hệ thần kinh Khi nền khoa học ở thế kỷ XX tiến nhanhnhư vũ bão, các kiến thức mới về chức năng trí tuệ thu thập được ngày càngnhiều thì hoạt động của trí tuệ được nghiên cứu đồng thời với phản xạ có điềukiện Tiếp theo, để phản ánh được đầy đủ bản chất hoạt động hành vi của conngười các khái niệm điều kiện hóa typ I, II được ra đời [7]

Sinh lý học hiện nay không quy chức năng trí tuệ cho riêng phần nàocủa não mà chú trọng tính toàn vẹn của mọi cấu trúc thần kinh, bao gồm vỏnão và các cấu trúc dưới vỏ, mọi cấu trúc của não và tủy sống (thuyếtholistic) Do đó chúng ta nên hình dung hoạt động trí tuệ là một tổng thể tếbào thần kinh dẫn truyền xung động, bài tiết hóa chất có tác dụng tâm thần,lưu giữ và xử lý thông tin [7] Trí tuệ và mối liên quan chặt chẽ của nó với cáchoạt động chức năng của thần kinh đã được các công trình khoa học chứngminh [7], [21], [65], [114] Để đánh giá trí tuệ cần có nhiều phương pháp vàcông cụ khác nhau nhằm phát hiện ra khả năng của một con người Không thểtin tưởng tuyệt đối một phương pháp hay một test trắc nghiệm nào để đánhgiá toàn bộ khả năng của một con người Mỗi loại test chỉ đánh giá được mộthoặc một số khía cạnh của người, giúp ta tham khảo về trí tuệ của họ đứng vềmột phương diện nào đó Ví dụ, các bài tập để đánh giá sự chú ý, đánh giákhả năng tư duy, đánh giá trí nhớ ngắn hạn, đo phản xạ… Các test trắcnghiệm lâm sàng được áp dụng để khảo sát trí tuệ như test phân tích nghiêncứu trí tuệ của Meili R (1928) test được sử dụng vào tư vấn nghề nghiệp và tưvấn học đường; test trí tuệ đa dạng của Gille (1944); các test thông minh cho

Trang 27

trẻ em Wisc (1949) và cho người lớn Wais (1955) của Wechsler D.; Test hìnhphức hợp của Rey; test khuôn hình tiếp diễn chuẩn của Raven (1936); test cấutrúc trí tuệ của Amthauer (1953) để đánh giá trí tuệ và cấu trúc của nó đối vớinhững người từ 15 đến 61 tuổi

Ở Việt Nam, các chỉ số đánh giá chức năng hệ thần kinh đã đượcnghiên cứu từ những năm 60 của thế kỷ XX Phạm Minh Hạc (1962-1963)cùng với các cộng sự của mình lần đầu tiên nghiên cứu về sự ghi nhớ của cáchọc sinh từ lớp 3 đến lớp 8 cho thấy, các học sinh ở Hà Nội không có sự khácbiệt về trí nhớ so với các học sinh ở các nước khác [12] Nghiên cứu về chứcnăng hệ thần kinh ở Việt Nam trước năm 80 thế kỷ XX còn hạn chế Sau năm

80, các nghiên cứu đã sử dụng các công cụ đánh giá chức năng hệ thần kinhnhư đánh giá phản xạ bằng phản xạ cảm giác-vận động, khả năng chú ý, trínhớ ngắn hạn [1] Để đánh giá năng lực trí tuệ các nghiên cứu cũng đã sửdụng các test như test Raven, Wisc

Đến những năm 90 của thế kỷ XX, các phương pháp tìm hiểu sự biếnđổi hoạt động điện trong hệ thống thần kinh và cơ thể khi đang hoạt động trítuệ cũng là hướng đánh giá mới khi có sự hỗ trợ của các trang thiết bị thăm dòchức năng Năm 1991, Tạ Thúy Lan và Đào Phong Tần cho thấy [37] giai đoạntrẻ từ 5-9 tuổi là giai đoạn hoàn thiện các chỉ số điện não, nhịp trội β giảm dầnbiên độ và tăng tần số, từ 10-13 tuổi biên độ sóng β tiếp tục giảm, đến tuổi dậythì (14-16 tuổi) hình ảnh điện não đồ tiếp tục thay đổi, hình ảnh nhịp trội βgiảm ở vùng trán so với lứa tuổi trước 14 và sau tuổi 16 Từ 17 đến 19 tuổi trở

đi hoạt động điện não bước vào giai đoạn hoàn thiện Năm 1995, Võ Văn Toànnghiên cứu sự phát triển khả năng hoạt động trí tuệ của học sinh phổ thông cơ

sở ở Hà Nội và Quy Nhơn [37] bằng test Raven và hình ảnh điện não đồ Tácgiả nhận xét, hoạt động trí tuệ của học sinh cấp 2 ở Việt Nam cao hơn so vớiđiểm chuẩn quốc tế, hình ảnh điện não đồ thay đổi thể hiện sự hoàn chỉnh của

vỏ não vùng chẩm [37] Cả Tạ Thúy Lan, Đào Phong Tần và Võ Văn Toàn đều

Trang 28

tìm thấy khả năng hoạt động trí tuệ của trẻ em có tương quan với quá trìnhhoàn chỉnh hóa nhịp α ở vùng chẩm và nhịp β ở vùng trán, trẻ em có mức trítuệ xuất sắc có hình ảnh điện não đồ hoàn chỉnh sớm hơn [37].

Phản xạ thính giác vận động và thị giác-vận động được tác giả Đỗ Công

Biên Hòa, Bắc sân bay Biên Hòa và xã Vạn Phúc Hà Đông, Hà Tây [18]

Vào cuối thế kỷ XX, nhờ có các máy móc hiện đại, các nghiên cứu vềgiá trị sinh học thăm dò chức năng thần kinh được công bố trong cuốn

"GTSH-2003" [4] Các chỉ số đó gồm: các giá trị sinh học về dẫn truyền thầnkinh, điện thế kích thích thính giác thân não

Đến đầu thế kỷ thứ XXI, các công trình nghiên cứu của Việt Nam áp dụngcác phương pháp đánh giá chức năng hệ thần kinh khá nhiều Các nghiên cứucủa những năm đầu của thế kỷ XXI là của Trần Thị Loan [29], Tạ Thúy Lan vàNguyễn Thị Bích Ngọc [22], [23], [24], [32], Nguyễn Thị Hiên [14] về thời gianphản xạ cảm giác-vận động chỉ số IQ ở thanh thiếu niên Việt Nam trên cácvùng miền khác nhau trong cả nước Các nghiên cứu về chức năng hệ thần kinhđều cho thấy, trí nhớ ngắn hạn, sự chú ý, phản xạ, chỉ số IQ của học sinh tốt dầnlên theo tuổi [29], [32] Theo Trần Thị Loan [29], các học sinh có độ tập trungchú ý càng cao thì có phản xạ càng ngắn Nguyễn Thị Bích Ngọc đã nhận xét,các học sinh người Kinh có khả năng nghi nhớ và khả năng tập trung chú ý tốthơn học sinh người Mường và Sán Dìu, thời gian phản xạ thị giác ngắn hơn sovới thời gian phản xạ thính giác [22], [23], [32]

Năm 2007, Nguyễn Thanh Bình, Bùi Mỹ Hạnh và Nguyễn Công Hoan [2]

đã nghiên cứu một số đặc điểm điện não đồ ở trẻ em bình thường 10 đến 14 tuổi.Kết quả cho thấy, tần số sóng α tăng dần theo tuổi, biên độ của sóng tương tựnhư người trưởng thành Sóng β ở vùng chẩm thấp hơn so với vùng thái dương.Bằng nghiệm pháp tăng thông khí khi ghi điện não, tác giả nhận thấy, có 10% sốtrường hợp có các đợt kịch phát kiểu động kinh, lý giải của các tác giả là do biểu

Trang 29

hiện tăng phản ứng, tăng hoạt tính của neuron của lứa tuổi đang có sự thay đổimạnh mẽ về tâm sinh lý Vì vậy, bài báo đã khuyến cáo cần chú ý đặc điểm nàytrên trẻ em để cân nhắc khi có những kết luận về bản ghi điện não

Ở Thái Nguyên, năm 2000 Nguyễn Thành Trung đã nghiên cứu về nănglực trí tuệ của học sinh trung học cơ sở bằng test Raven [42] Kết quả cho thấy,mức trí tuệ của học sinh tăng dần theo tuổi, nhóm học sinh miền núi có mức trítuệ thấp hơn so với học sinh thành phố, học sinh người Kinh, Tày, Nùng không

có sự khác biệt về năng lực trí tuệ.

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi và trung du, nằm ở khu vực Đông Bắc Việt Nam Tỉnh Thái Nguyên có một thành phố, 180 xã, trong đó có

báo cáo năm 2010, dân số Thái Nguyên có khoảng 1,2 triệu người, gồm một

số dân tộc trong đó chủ yếu là người dân tộc Kinh (75,23%) Ngoài ra, có dântộc Tày (10,15%), Nùng (5,22%), Sán dìu (3,57%), Sán Chay (2,79%), Dao(2,08%), Mường (0,09%), Thái (0,04%), Mông (0,46%), Ngái (0,04%), Hoa(0,24%) [43] Theo kết quả tổng điều tra dân số năm 2009, độ tuổi của dân sốtỉnh Thái Nguyên như sau: dân số có độ tuổi 0-14 chiếm 29,6%, dân số có độtuổi 15-59 chiếm 63,0%, dân số có độ tuổi trên 60 là 7,4% Năm học 2010-

2011 trên địa bàn Thái Nguyên có 178 trường trung học cơ sở với 59668 họcsinh [13] Dựa vào đây có thể thấy, Thái Nguyên là tỉnh có dân số trẻ, nguồnlao động tương lai khá dồi dào Do đó, việc nghiên cứu các chỉ số sinh họctrên các đối tượng học sinh ở Thái Nguyên là cần thiết để góp phần cho việchoạch định các chính sách kinh tế-xã hội phù hợp cho phát triển nguồn nhânlực của tỉnh trong những năm đầu thế kỷ XXI

Trang 30

CHƯƠNG 2ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện tại 7 trường trung học cơ sở thuộc tỉnh TháiNguyên, gồm 1 trường ở thành phố (Trường trung học cơ sở Nha Trang) và 6trường ở miền núi (trung học cơ sở Tân Long, trung học cơ sở Hòa Bình,trung học cơ sở Nguyễn Bỉnh Khiêm, trung học cơ sở Văn Lăng, trung học cơ

sở Minh Lập, trung học cơ sở Quang Sơn) từ năm 2010 đến năm 2013

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Học sinh từ 12 đến 16 tuổi ở 7 trường trung học cơ sở thuộc tỉnh TháiNguyên tự nguyện tham gia vào nghiên cứu Đối tượng được chia thành 3 nhóm:

- Nhóm 1: học sinh người dân tộc Kinh ở thành phố

- Nhóm 2: học sinh người dân tộc Kinh ở miền núi

- Nhóm 3: học sinh người dân tộc Nùng ở miền núi

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang và theo dõi dọc

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện năm 2010 cung cấp các số liệu chomục tiêu 1 Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện năm 2013 cung cấp các sốliệu cho mục tiêu 3

- Nghiên cứu theo dõi dọc từ năm 2010 đến năm 2012 cung cấp các số liệucho mục tiêu 2

2.3.1 Cỡ mẫu và chọn mẫu

2.3.1.1 Cỡ mẫu

* Cỡ mẫu cho phương pháp mô tả cắt ngang năm 2010 (mục tiêu 1) về các chỉ

số hình thái và chức năng (trừ máu ngoại vi) được tính theo công thức xácđịnh giá trị trung bình của quần thể:

Trang 31

Trong đó:

n - cỡ mẫu của nghiên cứu

Z1- α /2 - Hệ số tin cậy tại mức ý nghĩa α, chọn α = 0,05 → Z1- α /2 = 1,96

d - độ sai lệch mong muốn giữa kết quả tính toán được từ mẫu so vớikết quả thực của quần thể, chọn d = 0,25

σ - độ lệch chuẩn Chúng tôi chọn độ lệch chuẩn = 5,2 là giá trị độ lệchchuẩn của chiều cao đứng trong nghiên cứu của Nguyễn Thành Trung năm

2000 tại Thái Nguyên [42] Lý do chọn chỉ số chiều cao vì chỉ số này thể hiệnrất rõ sự phát triển của học sinh ở lứa tuổi 12 đến 16

Thay số vào công thức tính được cỡ mẫu là 1662 đối tượng Thực tế đềtài đã thực hiện nghiên cứu trên số đối tượng như sau:

+ Số lượng học sinh đã được đo các chỉ số hình thái, chức năng tim mạchphân bố theo nhóm, theo tuổi và giới (bảng 2.1)

Bảng 2.1 Phân bố các đối tượng nghiên cứu theo nhóm, theo tuổi

+ Số lượng học sinh đã được đo các chỉ số chức năng hệ thần kinh gồm tổng

số đối tượng được đo phản xạ thị giác vận động là 1726 (bảng 2.2); tổng sốđối tượng được đánh giá khả năng chú ý là 2241; và tổng số đối tượng đượcđánh giá trí nhớ ngắn hạn là 2238

Bảng 2.2 Phân bố các đối tượng theo nhóm, theo tuổi và giới đã được đo

phản xạ thị giác vận động

Trang 32

Bảng 2.3 Phân bố các đối tượng theo nhóm, theo tuổi và giới đã được làm

xét nghiệm công thức máu năm 2010

Trong đó: n - cỡ mẫu của nghiên cứu

Z1- α /2 - Hệ số tin cậy tại mức ý nghĩa α, chọn α = 0,05

Δ - Sự khác biệt giữa của giá trị trung bình giữa 2 nhóm nghiên cứu là 5,2

Trang 33

Đây là sự khác biệt về chiều cao giữa 2 nhóm tuổi liên tiếp của các họcsinh trong nghiên cứu của Nguyễn Thành Trung năm 2000 tại Thái Nguyên[42], có giá trị trung bình khoảng bằng 3,5 cm.

σ - độ lệch chuẩn Chúng tôi chọn độ lệch chuẩn = 6 là giá trị độ lệchchuẩn của chiều cao đứng của các học sinh trong nghiên cứu của NguyễnThành Trung năm 2000 tại Thái Nguyên [42] Đây là chỉ số thể hiện rõ sựphát triển của học sinh tuổi 12 đến 16

Thay số vào công thức tính trên được cỡ mẫu là 31 đối tượng cho mỗinhóm Thực tế số đối tượng được nghiên cứu cho mỗi nhóm như phân bốtrong bảng 2.4

Bảng 2.4 Phân bố các đối tượng theo nhóm, theo tuổi và giới đã được theo

dõi 3 năm liên tục (từ năm 2010 đến năm 2012)

Trang 34

2.3.1.2 Chọn mẫu

* Chọn mẫu cho nghiên cứu mô tả cắt ngang năm 2010 theo cách chọn mẫunhiều giai đoạn

Dựa vào mục đích của nghiên cứu là lựa chọn các học sinh có các tiêu chí:

từ 12 đến 16 tuổi, ở cả khu vực miền núi và thành phố, người dân tộc Kinh vàNùng, dựa vào điều kiện triển khai của nhóm nghiên cứu nên chúng tôi đãtiến hành như sau:

+ Giai đoạn 1: chọn khu vực

Tỉnh Thái Nguyên chỉ có 1 Thành phố và 5 huyện thuộc miền núi(Định Hóa, Võ Nhai, Phú Lương, Đồng Hỷ và Đại Từ) Ở miền núi chúng tôiliệt kê các xã có nhiều người dân tộc Nùng ở 2 huyện là huyện Đồng Hỷ vàhuyện Võ Nhai

+ Giai đoạn 2: chọn trường

- Liệt kê các trường trung học cơ sở của thành phố Thái Nguyên (30trường), và liệt kê các trường ở 2 huyện miền núi (9 trường ở huyện Đồng

Hỷ, 23 trường ở huyện Võ Nhai) Đánh số thứ tự các trường theo khu vực

- Liệt kê số lượng các học sinh ở mỗi trường

- Bốc thăm chọn trường ở thành phố dựa trên số học sinh cần lấy theo

cỡ mẫu (1662/2) Chọn được 1 trường ở thành phố là trường Nha Trang Bốcthăm chọn trường ở miền núi, chúng tôi đã chọn được 6 trường để đảm bảo

đủ số lượng học sinh theo cỡ mẫu (1662/2)

+ Giai đoạn 3: chọn học sinh

Chúng tôi lấy tất cả các học sinh tự nguyện tham gia nghiên cứu của cảtrường để đo các chỉ số hình thái, chức năng tim mạch Các học sinh đảm bảokhỏe mạnh không vi phạm tiêu chuẩn loại trừ dưới đây:

- Dị tật bẩm sinh liên quan đến cột sống: gù, vẹo cột sống

- Bệnh di truyền, bệnh nội tiết: lùn tuyến yên, bệnh khổng lồ, bệnh tuyến giáp, Down

- Bệnh bẩm sinh: bệnh tim, câm, điếc

Trang 35

- Bệnh tâm thần.

- Bệnh về máu

* Chọn mẫu cho nghiên cứu dọc dựa trên số lượng các học sinh ở các trường

đã chọn ở giai đoạn 2 Để đảm bảo đủ số lượng mẫu dự tính chúng tôi đã tiếnhành nghiên cứu trên chính một cá thể và theo dõi liên tục 3 năm liên tiếp.Cách chọn là toàn bộ các học sinh tuổi 12 (các học sinh lớp 6) và 13 (các họcsinh lớp 7) ở 7 trường đã được đo ở năm 2010 sẽ được tiến hành đo tiếp ở 2năm tiếp theo là năm 2011 và 2012

Các học sinh được chọn cũng yêu cầu khỏe mạnh và không vi phạmcác tiêu chuẩn loại trừ ở mục tiêu 1 Ngoài ra, các học sinh cần phải tham gianghiên cứu đủ 3 năm liên tiếp (từ năm 2010 đến 2012)

* Chọn mẫu cho các xét nghiệm máu ngoại vi, định lượng hormon và gen kisstheo cách chọn mẫu thuận tiện vì sự hạn chế về kinh phí Đảm bảo các emtình nguyện tham gia và đủ tiêu chuẩn làm xét nghiệm (tuổi, giới, tình trạngkinh nguyệt)

2.3.2 Các biến số, chỉ số nghiên cứu

2.3.2.1 Các biến số, chỉ số nghiên cứu của mục tiêu 1

+ Các chỉ số về các yếu tố liên quan đến sự phát triển thể lực và chức năng

- Tuổi được tính theo ngày tháng năm sinh so với ngày lấy số liệu cáchtính tuổi học sinh như sau:

- Dân tộc: các đối tượng được chọn theo dân tộc là học sinh người Kinh ởThành phố, học sinh người Kinh ở miền núi và học sinh người Nùng ở Miền núi

Trang 36

- Kết quả học tập cuối năm của các môn học và kết quả xếp loại học lựclấy theo sổ điểm của giáo viên và cách phân loại theo quy định của bộ Giáodục và Đào tạo ở cấp THCS.

Giỏi Điểm trung bình các môn >=8; không có môn nào điểm trung bình dưới 6,5

Khá Điểm trung bình các môn >=6,5; không có môn nào điểm trung bình dưới 5,0

Trung bình Điểm trung bình các môn >=5,0; không có môn nào điểm trung bình dưới 3,5 Yếu Điểm trung bình các môn >=3,5; không có môn nào điểm trung bình dưới 2,0

Kém Điểm trung bình các môn dưới 3,5

- Nơi ở

+ Các chỉ số hình thái, thể lực

- Chiều cao đứng (đơn vị tính là centimet - cm), chiều cao ngồi (cm),chiều dài chân (cm), trọng lượng cơ thể (đơn vị tính là kilogam - kg), vòngngực trung bình (cm), vòng ngực hít vào hết sức (cm), vòng cánh tay phảiduỗi (cm), vòng cánh tay phải co (cm), vòng đùi phải (cm)

- Chỉ số BMI, Skélie

+ Các chỉ số chức năng các hệ thống cơ quan

- Các chỉ số huyết học máu ngoại vi: số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểucầu; hàm lượng huyết sắc tố; thể tích trung bình hồng cầu; nồng độ huyết sắc

tố trung bình hồng cầu; tỷ lệ từng dòng bạch cầu, nhóm máu hệ ABO và Rh

- Các chỉ số hệ tuần hoàn: tần số mạch, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương

- Các chỉ số liên quan đến tuổi dậy thì: tuổi dậy thì (chia thành hai giaiđoạn: giai đoạn tiền dậy thì và giai đoạn dậy thì hoàn toàn theo sinh lý trẻ em[15]), vòng kinh, số ngày hành kinh

- Các chỉ số chức năng hệ thần kinh: thời gian phản xạ thị giác-vậnđộng đơn giản, thời gian phản xạ thị giác-vận động phức tạp, khả năng chú ý,trí nhớ ngắn hạn

2.3.2.2 Các biến số, chỉ số nghiên cứu của mục tiêu 2

Trang 37

Tiếp tục tiến hành nghiên cứu các chỉ số hình thái (chiều cao đứng,chiều cao ngồi, cân nặng, vòng ngực trung bình, vòng ngực hít vào hết sức,vòng cánh tay phải duỗi, vòng cánh tay phải co, vòng đùi phải) và chức năngtim mạch (huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương và tần số mạch) của họcsinh 12 và 13 tuổi (năm 2010) thêm 2 năm tiếp theo (năm 2011-2012).

2.3.2.3 Các biến số, chỉ số nghiên cứu của mục tiêu 3

Thực hiện trên 68 học sinh nữ các chỉ số:

- Các chỉ số hình thái: chiều cao đứng, cân nặng

- Các chỉ số liên quan đến tuổi dậy thì: tuổi dậy thì

- Các chỉ số hệ tuần hoàn: tần số mạch, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương

2.3.3 Phương tiện, máy móc sử dụng trong nghiên cứu

- Phương tiện đo các chỉ số về hình thái-thể lực: thước dây vải không dãn kếthợp với chất dẻo tổng hợp của Trung Quốc độ chính xác đến 0,1 cm để đo cácvòng; cân bàn của hãng TANITA Nhật Bản độ chính xác đến 0,1kg; thướcthẳng đứng phẳng có gắn băng chia vạch ổn định, chính xác đến 0,1 cm đượcchuẩn theo thước GPM của Thụy Sĩ

- Phương tiện, máy móc đo chức năng của hệ tuần hoàn: ống nghe và huyết áp

kế điện tử của Nhật Bản

- Phần mềm đánh giá thị giác-vận động, được cung cấp từ Học viện Quân Y

- Các chỉ số về công thức máu được làm trên máy xét nghiệm huyết học tựđộng Mindray của Trung Quốc

- Nhóm máu hệ ABO, Rh được xác định bằng các kit của hãng Bio-Rat, xétnghiệm được làm theo phương pháp Beth Vincen

- Máy định lượng hormon là: E170, Immulite 2000 và CeMNaur XP

- Máy định lượng gen kiss: Máy Real-time PCR trên máy LightCycler củaRoche version 2.0

Trang 38

2.3.4 Phương pháp thu thập số liệu

2.3.4.1 Các chỉ số hình thái và thể lực

- Cân nặng được xác định khi đối tượng mặc quần áo mỏng và không mang bất

cứ vật gì khác trên người, đứng thẳng trên cân sao cho trọng tâm rơi vào điểmgiữa của cân Kết quả được ghi chính xác đến 0,1 kg

- Chiều cao đứng được xác định khi đối tượng đứng thẳng, dựa lưng vàothước, hai gót chân chạm nhau, chân thẳng, vai thả lỏng, cánh tay để xuôi dọctheo thân, bàn tay úp vào mặt ngoài đùi, mắt nhìn thẳng về phía trước Bốnđiểm trên thân người: chẩm, lưng, mông và gót phải chạm vào thước đo Hạthanh trượt vuông góc chạm đến đỉnh đầu với áp lực chỉ đủ để nén tóc

- Chiều cao ngồi của học sinh được xác định ở tư thế ngồi chuẩn, bàn chân khôngchạm đất Đo từ mặt ghế đến đỉnh đầu, lưng và mông chạm thước, mắt nhìn thẳng

- Vòng ngực trung bình được đo khi đối tượng hít thở bình thường, đo ở tư thếđứng, vòng thước dây quanh ngực, mép dưới của thước đi qua mũi ức

- Vòng ngực hít vào hết sức đo bằng cách vòng thước dây qua ngực, mép dướithước đi qua mũi ức, cho đối tượng hít vào, đến khi đối tượng đã hít vào gầnnhư hết sức, cố gắng động viên đối tượng cố sức hít vào thêm nữa, di chuyển

độ rộng của thước theo kích thước lồng ngực Đọc kết quả khi lồng ngực củađối tượng ở vị trí lớn nhất

- Vòng cánh tay phải duỗi đo khi đối tượng đứng, tay để thả lỏng xuôi theothân, úp tay vào đùi, vòng thước dây qua cánh tay phải, đo ở 1/3 dưới củacánh tay

- Vòng cánh tay phải co đo khi đối tượng đứng, lên gân co hết sức cẳng tayvào cánh tay bên tay phải, vòng thước dây vào vị trí 1/3 dưới cánh tay

- Vòng đùi phải đo ở tư thế đối tượng đứng thẳng, đặt thước vòng xung quanhđùi bên chân phải ngay dưới nếp lằn mông (là rãnh trên mặt da, ngăn cáchgiữa mông với khu đùi sau) Thước vòng đủ chặt, không gây thắt

Kết quả các chỉ số chiều cao, các vòng ở trên được ghi chính xác đến 1 mm

Trang 39

- Chỉ số BMI (Body Mass Index)

Phân loại BMI theo tiêu chuẩn của tổ chức Y tế Thế giới cho trẻ em (biểu đồ 2.1) như sau:

Loại thể trạng theo BMI Giới hạn điểm

Biểu đồ 2.1 Phân loại chỉ số BMI của trẻ em từ 2 đến 20 tuổi

(Trong đó: obese = béo phì; overweight = thừa cân; healthy weight = cân

nặng bình thường; underweight = thiếu cân)

Nguồn: Foundation/KidsHealth (2015) [73]

Tuổi (năm)

Tuổi (năm) Tuổi (năm)

Trang 40

áp Đảm bảo băng quấn cần che phủ 2/3 chiều dài cánh tay trẻ, bề dài củabăng cần đủ bao trọn chu vi cánh tay.

+ Đếm mạch bằng cách bắt mạch quay ở cổ tay bên phải, dùng đồng hồ bấmgiây theo dõi Lấy mạch 3 lần, mỗi lần 1 phút, giá trị mạch được tính trungbình của 3 lần đếm

* Các chỉ số đánh giá tuổi dậy thì

Sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn để nghiên cứu về tuổi dậy thì: lần xuấthiện kinh nguyệt đầu tiên, độ dài chu kỳ kinh nguyệt, số ngày hành kinh, vòngkinh đều hay không đều

* Các chỉ số đánh giá chức năng hệ thần kinh

+ Đánh giá phản xạ thị giác-vận động: thời gian phản xạ thị giác-vận động được

đo trên máy vi tính theo phương pháp của Trần Trí Bảo [1]

Cách đo:

Đối tượng ngồi, hai ngón tay thuận đặt vào nút chuột phải và trái ở tưthế chuẩn bị bấm Yêu cầu đối tượng bấm thật nhanh khi tín hiệu xuất hiệntrên màn hình

- Đối với thời gian phản xạ thị giác-vận động đơn giản: khi xuất hiện màuxanh trên màn hình máy tính đối tượng bấm nhanh vào nút chuột trái (động tác này

Ngày đăng: 12/10/2017, 08:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Sự thay đổi của kisspeptin và estradiol trong quá trình phát triển - Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở thái nguyên năm 2010 2013
Hình 1.1. Sự thay đổi của kisspeptin và estradiol trong quá trình phát triển (Trang 6)
Bảng 2.1. Phân bố các đối tượng nghiên cứu theo nhóm, theo tuổi - Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở thái nguyên năm 2010 2013
Bảng 2.1. Phân bố các đối tượng nghiên cứu theo nhóm, theo tuổi (Trang 31)
Bảng 2.3. Phân bố các đối tượng theo nhóm, theo tuổi và giới đã được làm - Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở thái nguyên năm 2010 2013
Bảng 2.3. Phân bố các đối tượng theo nhóm, theo tuổi và giới đã được làm (Trang 32)
Bảng 2.4. Phân bố các đối tượng theo nhóm, theo tuổi và giới đã được theo - Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở thái nguyên năm 2010 2013
Bảng 2.4. Phân bố các đối tượng theo nhóm, theo tuổi và giới đã được theo (Trang 33)
Bảng 3.1. Chiều cao đứng (cm) của học sinh ( X ± SD) - Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở thái nguyên năm 2010 2013
Bảng 3.1. Chiều cao đứng (cm) của học sinh ( X ± SD) (Trang 49)
Bảng 3.3. Chiều dài chân (cm) của học sinh ( X ± SD) - Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở thái nguyên năm 2010 2013
Bảng 3.3. Chiều dài chân (cm) của học sinh ( X ± SD) (Trang 51)
Bảng 3.5. Vòng cánh tay duỗi (cm) của học sinh ( X ± SD) - Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở thái nguyên năm 2010 2013
Bảng 3.5. Vòng cánh tay duỗi (cm) của học sinh ( X ± SD) (Trang 53)
Bảng 3.6. Vòng đùi (cm) của học sinh ( X ± SD) - Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở thái nguyên năm 2010 2013
Bảng 3.6. Vòng đùi (cm) của học sinh ( X ± SD) (Trang 54)
Bảng 3.7. Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh ( X ± SD) - Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở thái nguyên năm 2010 2013
Bảng 3.7. Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh ( X ± SD) (Trang 55)
Bảng 3.8. Chỉ số BMI của học sinh ( X ± SD) - Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở thái nguyên năm 2010 2013
Bảng 3.8. Chỉ số BMI của học sinh ( X ± SD) (Trang 56)
Bảng 3.9. Chỉ số Skélie của học sinh ( X ± SD) - Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở thái nguyên năm 2010 2013
Bảng 3.9. Chỉ số Skélie của học sinh ( X ± SD) (Trang 57)
Bảng 3.23. Tỷ lệ nhóm máu theo dân tộc (%) - Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở thái nguyên năm 2010 2013
Bảng 3.23. Tỷ lệ nhóm máu theo dân tộc (%) (Trang 69)
Bảng 3.33. Phương trình hồi quy giữa chiều cao, cân nặng với nồng độ - Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở thái nguyên năm 2010 2013
Bảng 3.33. Phương trình hồi quy giữa chiều cao, cân nặng với nồng độ (Trang 94)
Bảng 3.35. Phương trình hồi quy tuyến tính giữa kết quả các môn học, học lực với thời gian phản xạ thị giác-vận động với khả năng chú ý, trí nhớ ngắn - Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở thái nguyên năm 2010 2013
Bảng 3.35. Phương trình hồi quy tuyến tính giữa kết quả các môn học, học lực với thời gian phản xạ thị giác-vận động với khả năng chú ý, trí nhớ ngắn (Trang 95)
Bảng 3.39. Mối liên quan giữa tần số mạch, huyết áp với chiều cao đứng, cân - Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở thái nguyên năm 2010 2013
Bảng 3.39. Mối liên quan giữa tần số mạch, huyết áp với chiều cao đứng, cân (Trang 98)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w