1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển đội ngũ trí thức ở tây nguyên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

176 193 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, là một người con sinh sống, trưởng thành và công tác hơn 30 năm qua ở Tây Nguyên, với mong muốn đóng góp một phần sức lực nhỏ bé của mình vào quá trình phát triển, coi như một s

Trang 1

LƯƠNG HỮU NAM

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC

Ở TÂY NGUYÊN THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LƯƠNG HỮU NAM

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC

Ở TÂY NGUYÊN THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Lương Hữu Nam

Trang 4

1.2 Những công trình nghiên cứu về đội ngũ trí thức và phát triển đội ngũ trí

thức ở Tây Nguyên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá 16 1.3 Những giá trị của các công trình và vấn đề đặt ra tiếp tục nghiên cứu 25

Chương 2: PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC Ở TÂY NGUYÊN THỜI KỲ

ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ - NHỮNG VẤN ĐỀ

2.2 Mối quan hệ giữa phát triển đội ngũ trí thức ở Tây Nguyên với sự nghiệp

2.3 Những yếu tố cơ bản tác động đến sự phát triển đội ngũ trí thức ở

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC Ở TÂY

NGUYÊN THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ

3.1 Thực trạng phát triển đội ngũ trí thức ở Tây Nguyên 68 3.2 Những vấn đề chủ yếu đặt ra đối với sự phát triển đội ngũ trí thức ở

Chương 4: QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TIẾP TỤC

4.1 Những quan điểm cơ bản tiếp tục phát triển đội ngũ trí thức ở Tây Nguyên

4.2 Những giải pháp chủ yếu tiếp tục phát triển đội ngũ trí thức ở Tây Nguyên

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

Trang 5

CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNTT Công nghệ thông tin

Trang 6

Trang

Bảng 2.1: Cơ cấu GDP vùng Tây Nguyên giai đoạn 2001 - 2015 59 Bảng 2.2: GDP bình quân đầu người ở Tây Nguyên giai đoạn

Bảng 3.1: Tỉ lệ người có trình độ đại học trở lên theo trình độ và so

Bảng 3.2: Tỉ lệ trí thức dân tộc thiểu số trong cơ cấu đội ngũ trí

Biểu 3.5: Đánh giá của trí thức ở Tây Nguyên về các chính sách đối với

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trí thức là vốn quý của dân tộc, là hiện thân trí tuệ của thời đại Xã hội càng phát triển, vị trí, vai trò của trí thức càng được đề cao, nhất là trong bối cảnh cuộc cách mạng KHCN lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, với sự cạnh tranh về chất xám ngày càng tăng

Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định:

Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học

và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển [40, tr.81]

Bởi vậy, phát triển ĐNTT chính là nâng tầm trí tuệ, sức mạnh của dân tộc, qua đó góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng khẳng định “xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước” [42, tr.161]

Tây Nguyên là vùng đất giàu tiềm năng, thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên và việc khai thác các yếu tố này đã thúc đẩy kinh tế phát triển Tuy nhiên, do chưa tìm hiểu, đánh giá đầy đủ và thấu đáo dẫn đến sự hiểu biết về vùng đất, con người nơi đây còn nhiều hạn chế Tư duy khai thác mang tính tận thu, tận diệt vẫn là chủ đạo ở nhiều cấp, nhiều ngành và người dân ở đây, chưa hình thành tư duy khai thác gắn với bảo tồn, phát triển Hệ quả là rừng

bị tàn phá, môi trường sinh thái xuống cấp nghiêm trọng; cơ cấu dân cư có nhiều thay đổi và xáo trộn không theo quy hoạch; nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh, tác động xấu đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đe doạ đến sự

ổn định và phát triển Tây Nguyên, từ đó dễ tạo ra những lỗ hổng, kẽ hở cho các thế lực thù địch, phản động chống phá

Trang 8

Thực tế trên cho thấy, để đảm bảo sự ổn định, phát triển nhanh và bền vững thì Tây Nguyên cần phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang kết hợp chiều rộng với chiều sâu Trong đó, cần phải xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao làm bước đột phá Giải quyết bài toán này chính là

gỡ nút thắt cho sự đi lên nơi đây Song tìm ra lời giải cho bài toán không phải

là việc dễ dàng mà hết sức khó khăn Nhất là trong một thời gian dài Tây Nguyên là vùng trũng về GDĐT, kéo theo đó là nguồn nhân lực nói chung và ĐNTT nói riêng còn nhiều hạn chế, bất cập về số lượng, chất lượng và cơ cấu

Bên cạnh đó, trong những năm qua dù đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về Tây Nguyên nhưng dưới góc độ triết học chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về sự phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên Điều đó cũng đặt ra sự cần thiết phải tìm hiểu về lĩnh vực này

Xuất phát từ những lý do trên, việc tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá thực trạng phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên để xác định quan điểm, giải pháp tiếp tục phát huy, phát triển đội ngũ này có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về mặt

lý luận và thực tiễn Hơn nữa, là một người con sinh sống, trưởng thành và công tác hơn 30 năm qua ở Tây Nguyên, với mong muốn đóng góp một phần sức lực nhỏ bé của mình vào quá trình phát triển, coi như một sự tri ân đối với vùng đất và con người nơi đây đã nuôi dưỡng, đùm bọc mình, vì vậy, nghiên

cứu sinh chọn đề tài “Phát triển đội ngũ trí thức ở Tây Nguyên thời kỳ đẩy

mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” làm luận án tiến sĩ triết học, chuyên

ngành chủ nghĩa xã hội khoa học

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc đánh giá thực trạng phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, luận án đề xuất các quan điểm cơ bản, giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát triển đội ngũ này trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH Tây Nguyên

Trang 9

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án khái quát các công trình nghiên cứu về trí thức, phát triển ĐNTT nói chung và ở Tây Nguyên thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH nói riêng Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên Đưa ra quan niệm về phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên, những yếu tố tác động đến sự phát triển Trên cơ sở đó đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ này ở Tây Nguyên và chỉ rõ những vấn đề đặt ra, từ đó đề xuất các quan điểm, giải pháp

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu ĐNTT và phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án nghiên cứu ĐNTT và sự phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên từ năm 1996 đến nay

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Cơ sở lý luận, thực tiễn

- Cơ sở lý luận: Việc thực hiện luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ

nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước về trí thức, phát triển ĐNTT Luận án còn kế thừa có chọn lọc những thành tựu nghiên cứu lý luận của ngành khoa học xã hội và nhân văn liên quan đến đề tài

- Cơ sở thực tiễn: Thực trạng phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên thời kỳ

đẩy mạnh CNH, HĐH

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy

vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử vào quá trình nghiên cứu

- Nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Là những tài liệu thu thập được từ các

nghị quyết, quyết định, báo cáo, các công trình nghiên cứu đã công bố và các

tài liệu khác liên quan đến đề tài

- Phương pháp điều tra xã hội học: Xây dựng và sử dụng bảng hỏi để lấy

ý kiến Trên cơ sở dữ liệu thu thập được, tiến hành xử lý và phân tích theo mục

Trang 10

đích, yêu cầu và nội dung nghiên cứu Để đạt được mục đích, yêu cầu, nghiên cứu sinh tiến hành khảo sát 5 tỉnh Tây Nguyên Tổng số phiếu khảo sát là 750 phiếu Đối tượng được khảo sát là những người có trình độ đại học trở lên, đang công tác và làm việc ở các cơ quan, đơn vị trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên Thời gian tiến hành khảo sát từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 5 năm 2016

Sau khi lấy ý kiến, nghiên cứu sinh sử dụng phần mềm thống kê xã hội học (phần mềm SPSS) để xử lý và phân tích các dữ liệu thu được từ các phiếu khảo sát, trong đó có sự phân tích mối tương quan giữa các câu trả lời để làm

cơ sở cho việc nhận định, đánh giá thực trạng

- Phương pháp trình bày nội dung luận án: Lịch sử - lôgíc, phân tích -

tổng hợp, so sánh, thống kê

5 Đóng góp mới của luận án

- Luận án đưa ra quan niệm về ĐNTT, phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên Mối quan hệ giữa phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên với đẩy mạnh CNH, HĐH

và những yếu tố cơ bản tác động đến sự phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên

- Cung cấp một cách nhìn về thực trạng ĐNTT và phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển đội ngũ này

- Đề xuất và đưa ra các quan điểm cơ bản, giải pháp chủ yếu tiếp tục phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên trong những năm tới

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Ý nghĩa lý luận: Góp phần bổ sung một số nội dung lý luận về ĐNTT

và phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên để hoàn thiện thêm cơ sở cho việc xem xét, hoạch định chính sách đối với sự phát triển đội ngũ này

- Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần làm sáng tỏ thực trạng phát triển ĐNTT

ở Tây Nguyên và những giải pháp tiếp tục phát triển đội ngũ này

Luận án có thể làm tài liệu tham khảo trong học tập, nghiên cứu

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình đã công bố của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương, 10 tiết

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Cùng với sự phát triển nhanh chóng và ngày càng mạnh mẽ của KHCN, KTTT, những năm qua đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến các phương diện khác nhau của ĐNTT Điều đó thể hiện vị trí, vai trò của đội ngũ này ngày càng quan trọng đối với sự phát triển Liên quan đến vấn đề trên, có thể kể đến một số công trình khoa học tiêu biểu sau:

1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về đội ngũ trí thức

- Trí thức Việt Nam thời xưa, của Vũ Khiêu [59]: Khẳng định: Trí thức

Việt Nam dù ngày xưa hay hôm nay đều chung một dòng chảy Thời kỳ khác nhau có thể đem lại sự khác nhau giữa các thế hệ trí thức Việt Nam về hoàn cảnh xã hội, nhiệm vụ lịch sử, cách thức tư duy và hành động nhưng điều đó không làm lu mờ phẩm chất bền vững của họ từ xưa đến nay, đó là sự gắn bó máu thịt với dân tộc, cùng với dân tộc nổi chìm trong dòng chảy lịch sử: Hưng thịnh hay suy vong; vinh quang hay tủi nhục; thành công hay thất bại

Từ đó tác giả khẳng định: Trí thức thời xưa vẫn còn gửi lại trí thức hôm nay những hoài bão chưa thực hiện được và những lo lắng khôn nguôi về vận mệnh của dân tộc, đất nước

- Bác Hồ với nhân sĩ trí thức, do Trần Đương (biên soạn) [44]: Cuốn

sách là sự chắt lọc, hệ thống hoá các nguồn tư liệu thành những bài viết về mối quan hệ và ảnh hưởng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với nhân sĩ, trí thức Việt Nam thời kỳ đất nước mới giành được độc lập, đang rất cần những người có tâm, có tài để phục vụ sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc Người đã quy tụ được đông đảo nhân sĩ, trí thức rất nổi tiếng và tài năng, cả những người đã từng phục vụ trong chế độ cũ, các nhà khoa học đã thành danh ở nước ngoài trở về với dân tộc, cống hiến tài năng cho sự nghiệp cách mạng

Trang 12

Qua cuốn sách cho ta thấy được những phẩm chất cao quý của trí thức chân chính đó là đức tính khiêm tốn, giản dị, tâm huyết với ngành, nghề của mình và luôn trung thành với Đảng, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng Đồng thời, thấy được tâm đức, nghệ thuật của Bác Hồ trong việc cảm hóa, thu hút và sử dụng trí thức, trong đó đầu tiên là việc phát hiện trí thức; sự chân thành, cầu thị và niềm tin của Người vào trí thức

- Về trí thức Nga, nhiều tác giả (Nga), do La Thành và Phạm Nguyên

Trường dịch [78]: Nhấn mạnh đến khía cạnh đạo đức trong định nghĩa trí thức Trí thức Nga được hiểu là một tầng lớp xã hội theo nghĩa một lớp người tương đối đông về số lượng và có sự liên kết nội tại mật thiết và thống nhất Đặc điểm phân biệt họ với các tầng lớp xã hội khác là họ có trình độ cao hơn

so với mặt bằng chung của xã hội trong những thời kỳ lịch sử nhất định, luôn

tự ý thức về sứ mệnh của mình đối với toàn thể cộng đồng và có thái độ dấn thân để thực hiện sứ mệnh đem lại tương lai tươi sáng cho cộng đồng

Các tác giả nhấn mạnh phẩm chất, tính cách trí thức trước hết là tính độc lập trong tư duy, “những con người tự do trong đức tin của mình, những con người không bị lệ thuộc bởi các ràng buộc về kinh tế, đảng phái, quyền chính, không phải tuân phục các khế ước tư tưởng, mới thuộc giới trí thức” [78, tr.240]

- Nguồn lực trí tuệ Việt Nam, lịch sử, hiện trạng và triển vọng, của

Nguyễn Văn Khánh (chủ biên) [58]: Từ phương pháp tiếp cận mang tính liên ngành, cuốn sách đánh giá nguồn lực trí tuệ Việt Nam và xây dựng, phát huy nguồn lực trí tuệ; những yếu tố thúc đẩy, cản trở việc phát huy nguồn lực này

Từ đó đề xuất giải pháp và khuyến nghị về mặt chính sách nhằm phát triển nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Trong đó nhấn mạnh ba giải pháp chủ yếu, đó là: Chống chảy máu chất xám; hoàn thiện chính sách bảo hộ tài sản trí tuệ; chú trọng xây dựng và phát huy nguồn lực trí thức nữ, DTTS và trí thức Việt kiều

Trang 13

- Trí thức Việt Nam tiến cùng thời đại, của Nguyễn Đắc Hưng [55]:

Khái quát về trí thức và ĐNTT, phân tích nội hàm khái niệm trí thức, theo đó: Trí thức là những người không chỉ có trình độ học vấn và chuyên môn cao, lao động bằng trí óc trên mọi lĩnh vực của đời sống KT-XH mà còn phải có khả năng sáng tạo ra tri thức và vận dụng tri thức vào thực tiễn, làm ra của cải, phục vụ nhu cầu con người và phát triển xã hội Tác giả cũng chỉ ra những thách thức mới đòi hỏi ĐNTT phải phát huy vai trò trong công tác dự báo và chủ động trước những biến đổi nhanh chóng của tình hình trong nước

và thế giới Đồng thời, qua phân tích vai trò của GDĐT, cho thấy sự cần thiết của việc đổi mới công tác GDĐT và chính sách thu hút, sử dụng trí thức

- Trí thức nữ Việt Nam trong công cuộc đổi mới hiện nay - tiềm năng

và phương hướng xây dựng, của Đỗ Thị Thạch [85]: Đây là công trình nghiên

cứu chuyên sâu về lực lượng trí thức nữ Tác giả đã có những đóng góp mới

cả về lý luận và thực tiễn khi kiến giải tiềm năng cũng như vai trò to lớn của lực lượng trí thức nữ Việt Nam đối với sự phát triển của đời sống xã hội Xuất phát từ thái độ tôn trọng, tin vào khả năng đóng góp của lực lượng này, tác giả đề xuất những phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm phát huy tiềm năng, vai trò của lực lượng trí thức nữ trong sự nghiệp cách mạng, nhất là trong quá trình đổi mới đất nước

- Trí thức người dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới,

của Trịnh Quang Cảnh [16]: Nghiên cứu dưới góc độ chính trị - xã hội về trí thức DTTS ở Việt Nam với tư cách là một bộ phận trong tầng lớp trí thức Việt Nam Trên cơ sở đánh giá thực trạng việc sử dụng nguồn lực trí tuệ, trí thức người DTTS và tình hình ĐNTT DTTS, tác giả đề xuất phương hướng

và một số giải pháp nhằm phát huy, phát triển tiềm năng trí tuệ của đội ngũ này đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH vùng miền núi, DTTS

- Trí thức Việt Nam trong phát triển kinh tế tri thức, của Nguyễn Công

Trí [97]: Từ cách tiếp cận tổng hợp, tác giả nêu lên những đặc trưng, tiêu chí

cơ bản để xác định trí thức, vai trò của đội ngũ này trong điều kiện phát triển

Trang 14

KTTT Trí thức là người lao động trí óc và thường có trình độ học vấn cao, được đào tạo hoặc tự đào tạo Giá trị quan trọng nhất của trí thức chân chính

đó là chân lý và lẽ phải; trí thức là người tự tin và ngay thẳng, có lòng tự trọng, khả năng hành xử đúng mực

- Đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam trong đào tạo nguồn nhân

lực chất lượng cao thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, của

Nguyễn Thị Thanh Hà [46]: Trình bày những quan niệm, đặc điểm và vai trò của ĐNTT giáo dục đại học đối với đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả đi vào phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất những quan điểm cơ bản, giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò ĐNTT giáo dục đại học trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

- Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức trong giai đoạn hiện nay, của Lê Công Lương [70]: Khẳng định trí thức là

vốn quý của dân tộc, là lực lượng tiêu biểu, thể hiện trình độ của một quốc gia Tác giả trình bày một số quan niệm về trí thức và công tác vận động trí thức Đánh giá thực trạng, chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm lãnh đạo công tác vận động trí thức làm cơ sở thực tiễn cho việc đổi mới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác vận động trí thức Dự báo thuận lợi, khó khăn, từ đó xác định mục tiêu, yêu cầu và đề xuất các giải pháp tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức đến năm 2025

- Quan điểm và chính sách của V.I.Lênin đối với trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, của Trịnh Quốc Tuấn [101]: Bài nghiên cứu khẳng

định trí thức có vai trò hết sức quan trọng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa,

vì vậy cần phải phát huy tiềm năng trí tuệ, nếu không “thì cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nổ ra và giành những thắng lợi rực rỡ sẽ ngừng lại bởi thiếu sự phát động khởi nguồn và xã hội khó tránh khỏi lâm vào khủng hoảng” [101, tr.8] Đồng thời, tác giả cũng nhấn mạnh, V.I.Lênin đã từ bản thân mình là một trí thức để nhìn nhận tầng lớp trí thức, qua đó có chính sách đúng đắn đối

Trang 15

với trí thức Tác giả khẳng định đặc trưng nổi bật nhất của trí thức là nhân cách sáng tạo Và để phát huy vai trò ĐNTT cần phải tạo điều kiện cho họ được làm việc theo nguyện vọng, sở trường và tài năng; quan tâm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần để tạo điều kiện cho họ làm việc, cống hiến; có môi trường tự do cho lao động sáng tạo, có không khí dân chủ để giao lưu

- Vài nét về vai trò của trí thức - quan điểm từ châu Âu, của Trần

Phương Hoa [52]: Khẳng định lịch sử văn hoá, văn minh châu Âu là lịch sử của các dòng chảy tư tưởng, trong đó có sự đóng góp của trí thức Đồng thời đưa ra những cách nhìn nhận về trí thức:

Trước hết, người Anh dùng khái niệm “intellectual” để nói về văn hóa của họ, một nền văn hóa được đúc kết từ trí tuệ của con người Sau sự kiện Dreyfus ở Pháp, nước Anh mới tập trung vào

“intellectual” như là một giai tầng đặc biệt và vấn đề trách nhiệm của họ đối với xã hội Trước thế kỷ XIX, khái niệm “intellectual” hoặc “intelligentsia” không được sử dụng để chỉ một “giai tầng” Những người làm việc trí óc được mô tả qua các từ “clerisy” (trí thức), “man of letter”, “literary men” (kẻ sĩ), hoặc “cultivators of science” (người vun trồng khoa học) Sau những năm 1870, 1880 mới dùng các từ “intellectual” [52]

Bài nghiên cứu cũng đề cập đến việc các nhà nghiên cứu châu Âu phân biệt 5 nghĩa khác nhau của khái niệm trí thức: Trí thức là “học giả”; trí thức được dùng như tính từ có nghĩa là “trí tuệ”: Trí thức là người có trí tuệ, thường có nghĩa bổ sung là người có học thức cao, phân biệt với những người làm việc tay chân; trí thức là người có tư duy độc lập và có đầu óc phê phán; trí thức là người thực hiện các chức năng xã hội hoặc vì xã hội; trí thức, ngoài chức năng định hướng văn hóa còn có vai trò định hướng chính trị và xã hội,

họ phải có vai trò can thiệp vào đời sống chính trị và có tiếng nói đối với nhà cầm quyền dựa trên quan điểm khoa học

Trang 16

- Chính sách thu hút nhân tài của Singapore: Bài bản và chuyên

nghiệp, của Hà Minh [71]: Nêu lên những kinh nghiệm trong việc thu hút

nhân tài của Singapore, trong đó nhấn mạnh đến sự rõ ràng, bài bản và chuyên nghiệp trong chính sách; thực hiện mức lương tương xứng với giá trị chất xám; quan tâm đến giáo dục và có niềm tin mãnh liệt đối với nhân tài

Các Bộ trưởng Singapore cũng đều tốt nghiệp các trường đại học nổi tiếng tầm cỡ thế giới Ông Lý Quang Diệu có quan điểm rất rõ ràng: Lãnh đạo giỏi là đầu tàu định hướng cho đất nước phát triển, nên không thể thăng quan tiến chức nhờ quan hệ cửa trước cửa sau hay sẵn sàng ngã giá để mua danh bán tước Ông nói: "Lãnh đạo dốt sẽ ngáng chân những người giỏi, không cho họ ngồi vào những

vị trí quan trọng" Ở Singapore, những người tài thực sự được coi là thịt, là da đắp vào bộ khung lãnh đạo quốc gia [71]

Qua một số công trình khoa học tiêu biểu nêu trên cho thấy, ĐNTT được các nhà nghiên cứu đề cập khá đầy đủ ở nhiều khía cạnh khác nhau từ khái niệm, vị trí, vai trò, đặc điểm, phẩm chất đến thực trạng và giải pháp đối với đội ngũ này Ngoài các nội dung thống nhất thì vẫn còn những quan niệm khác nhau khi đề cập đến trí thức và ĐNTT Điều đó cho thấy, việc nghiên cứu đối tượng này đến nay vẫn đặt ra nhiều vấn đề cần phải tiếp tục làm rõ

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ trí thức

- Luận cứ khoa học cho các chính sách nhằm phát huy năng lực sáng tạo của giới trí thức và sinh viên, Phạm Tất Dong chủ nhiệm [33]: Từ việc

trình bày, phân tích một số quan niệm khác nhau về trí thức, qua đó nhấn mạnh 4 chức năng cơ bản của trí thức là: Chức năng sáng tạo văn hoá, sáng tạo và duy trì những giá trị cơ bản của xã hội: chân, thiện, mỹ; chức năng phê phán; chức năng đào tạo lớp trí thức mới và chức năng xã hội Từ đó đề tài đi đến kết luận những dấu hiệu đặc trưng của trí thức là: Sáng tạo, phổ biến và vận dụng văn hoá; thể hiện được trình độ, trí tuệ của thời đại; trăn trở với thời cuộc, luôn hướng đến sự nghiệp xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, bình

Trang 17

đẳng; có năng lực tư duy sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề, sự say mê, tập trung cao độ, dũng cảm theo đuổi công việc

Công trình cũng đánh giá thực trạng, tình hình cũng như tâm trạng, nhu cầu và xu thế phát triển của ĐNTT, từ đó xác định những quan điểm và đề xuất một số chính sách đối với ĐNTT Về quan điểm, tác giả nhấn mạnh: con người với trí tuệ thời đại là nhân tố quyết định sự phát triển KT-XH; đào tạo

và xây dựng ĐNTT là một vòng đua tranh của thời đại; lao động trí tuệ là lao động phức tạp mang lại những giá trị đặc biệt và đầu tư cho việc xây dựng ĐNTT phải là một ưu tiên Về chính sách: Thực hiện chính sách GDĐT; sử dụng và đãi ngộ trí thức; thực hiện đoàn kết và tập hợp rộng rãi ĐNTT

- Đào tạo nguồn nhân lực ở Nhật Bản, bài học cho Việt Nam, do

Nguyễn Tiến Lực (chủ biên) [69]: Một trong những yếu tố đưa Nhật Bản vươn lên là sự tích cực trong tiếp thu văn minh, thành tựu của nhân loại, tham gia giao thương quốc tế, cử người đi du học nước ngoài, mời chuyên gia nước ngoài đến Nhật làm việc để học cái hay nhất, cái tốt nhất Cuốn sách cũng cho thấy, con người là yếu tố quan trọng nhất để làm nên kỳ tích Nhật Bản Nhật Bản lấy con người làm trung tâm, có cả một triết lý đào tạo và giáo dục con người Nhật Bản rất coi trọng đào tạo nguồn nhân lực, có nền giáo dục đứng vào tốp đầu thế giới Trong quá trình phát triển của mình, Nhật Bản đã để lại những bài học quý báu về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Những bài học này có giá trị tham khảo trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp CNH, HĐH của Việt Nam

- Phát huy tiềm năng trí thức khoa học xã hội Việt Nam, của Nguyễn

An Ninh [79]: Hệ thống hoá những nội dung lý luận về tiềm năng của trí thức khoa học xã hội, cũng như những yếu tố quy định tiềm năng của trí thức khoa học xã hội Theo tác giả: “Tiềm năng của con người là những khả năng, năng lực, phẩm chất, xu thế phát triển, … hiện có trong con người song chưa có điều kiện bộc lộ ra hoặc chưa có điều kiện để thể hiện ra trọn vẹn” [79, tr.17]

Từ đó khẳng định việc khai thác tiềm năng của trí thức khoa học xã hội là xu thế tất yếu của thời đại

Trang 18

Trên cơ sở lý luận, tác giả đi vào phân tích đặc điểm, tiềm năng và thực trạng phát huy tiềm năng của trí thức khoa học xã hội Việt Nam trong tiến trình cách mạng, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới nhằm làm rõ mối quan hệ

có tính quy luật giữa tiềm năng của trí thức khoa học xã hội với nhu cầu phát triển đất nước Từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp phát huy tiềm năng của trí thức khoa học xã hội ở nước ta Trong đó nhấn mạnh việc nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò của khoa học xã hội; tạo động lực cho quá trình phát huy tiềm năng; tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển tiềm năng trí thức khoa học xã hội và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước để phát huy tiềm năng của đội ngũ này ở nước ta

- Xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại

hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh, do Nguyễn Khánh Bật, Trần Thị Huyền

(đồng chủ biên) [6]: Khái quát những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức, làm rõ sự vận dụng sáng tạo của Đảng và Nhà nước trong công tác xây dựng ĐNTT, đồng thời đánh giá những đóng góp, hạn chế của đội ngũ này, trên cơ sở đó nêu lên những giải pháp xây dựng ĐNTT ở nước ta giai đoạn 2011- 2020 đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

- Thực trạng và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự

nghiệp đổi mới đất nước, của Đàm Đức Vượng [117]: Cuốn sách làm rõ hơn

khái niệm trí thức, dẫn ra những khái niệm về trí thức ở một số nước trên thế giới Trong đó nhấn mạnh, việc xác định đúng nội dung cơ bản của khái niệm trí thức là cơ sở phát hiện, khai thác, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ này

Nó còn liên quan đến công tác tổ chức, việc hoạch định các chính sách, nhiệm

vụ và giải pháp xây dựng ĐNTT thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

Bên cạnh đó, tác giả phân tích những đặc trưng, chức năng cơ bản của trí thức nói chung và trí thức Việt Nam nói riêng, qua đó làm rõ đặc trưng cơ bản của các thế hệ trí thức Việt Nam từ khi Đảng ra đời đến nay Về phẩm chất của trí thức Việt Nam, tác giả nhấn mạnh đến đức và tài, thể hiện ở tư cách của con người, chất lượng NCKH Phẩm chất đặt ra cho trí thức là phải làm gì và làm như thế nào để góp phần vào sự nghiệp phát triển đất nước

Trang 19

Đã là trí thức thì ở nước nào cũng vậy, thời nào cũng vậy, đều phải

có phẩm chất, tính cách chung là đề cao giá trị chân - thiện - mỹ Để

có được phẩm chất, bản thân người trí thức, trước hết phải có tinh thần độc lập trong tư duy, và chế độ xã hội phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để người trí thức được tự do sáng tạo Tuy nhiên, mỗi dân tộc đều có tính cách riêng, tầng lớp trí thức của mỗi dân tộc cũng có bản sắc riêng [117, tr.39]

- Chiến lược phát triển nhân tài của Việt Nam hiện nay, của Cao Văn

Thông và Đỗ Xuân Tuất [87]: Đề cập đến các khái niệm tiềm năng, năng khiếu, năng lực, tài năng, nhân tài, thiên tài, trí thức cùng đặc điểm của nhân tài; những quan điểm của ông cha ta về hiền tài và việc chiêu hiền, đãi sĩ của các triều đại phong kiến Việt Nam; tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức và nhân tài; kinh nghiệm trong công tác đào tạo, sử dụng và đãi ngộ nhân tài của Trung Quốc và một số vấn đề rút ra qua các công tác này; những quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhân tài và một số kiến nghị đối với công tác đào tạo, sử dụng và đãi ngộ nhân tài của Việt Nam hiện nay Trong đó, các tác giả nhấn mạnh đến việc đề nghị Chính phủ sớm chỉ đạo nghiên cứu, xây dựng Chiến lược nhân tài quốc gia phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, cũng như trong công tác đào tạo, sử dụng

và đãi ngộ nhân tài

- Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình công

nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thành phố Đà Nẵng hiện nay, của Lê Văn Phục

[81]: Đề cập đến nguồn nhân lực chất lượng cao và vai trò của nó đối với quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Thành phố Đà Nẵng và những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển nguồn nhân lực này Trên cơ sở đó nêu lên một số quan điểm và đề xuất giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Đà Nẵng

- Động lực của trí thức trong lao động sáng tạo ở nước ta hiện nay, của

Phan Thanh Khôi [61]: Nêu và phân tích những kiểu lao động sáng tạo của trí thức, đồng thời xác định và sơ đồ hoá hệ thống động lực của quá trình lao

Trang 20

động của trí thức; cách xác định lực lượng trí thức với tính cách là nguồn nhân lực trí tuệ của đất nước; những biểu hiện của tình trạng chưa phát huy hết khả năng sáng tạo của trí thức Việt Nam Tác giả còn nêu lên một cách có

hệ thống các yếu tố động lực trực tiếp của trí thức như lý tưởng - tình cảm, trí tuệ - tinh thần và kinh tế - vật chất

- Phát huy nguồn lực trí tuệ trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện

nay, của Bùi Thị Ngọc Lan [62]: Phân tích cấu trúc, đặc trưng và nội dung

nguồn lực trí tuệ trong tương quan với nguồn lực con người và các nguồn lực khác Dự báo xu hướng phát triển, đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước

- Xây dựng đội ngũ trí thức ngành kiến trúc trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, của Lê Quang Quý [82]: Nêu lên quan niệm, đặc điểm,

nhiệm vụ và vai trò của ĐNTT ngành kiến trúc ở nước ta Trên cơ sở đó điều tra, khảo sát thực trạng đội ngũ này trong công cuộc đổi mới, từ đó đưa ra dự báo về những xu hướng vận động, phát triển và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục xây dựng đội ngũ này

- Xây dựng đội ngũ trí thức tại thành phố Hồ Chí Minh trong sự nghiệp

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, của Trương Văn Tuấn [102]: Trên

cơ sở lý luận về trí thức và xây dựng ĐNTT, tác giả đánh giá thực trạng việc xây dựng và phát triển ĐNTT thành phố Hồ Chí Minh trong sự nghiệp CNH, HĐH về mặt số lượng, chất lượng, cơ cấu và chủ trương, chính sách xây dựng, phát triển, từ đó đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục xây dựng đội ngũ này, trong đó nhấn mạnh đến cơ chế, chính sách; về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng ĐNTT; về đầu tư phát triển cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ; về mở rộng hợp tác trong nước và quốc tế

- Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam: Kinh nghiệm của Phần Lan, của

Nguyễn Thành Huy [56]: Nêu lên quan niệm về giới trí thức Phần Lan, đó là:

“Giới trí thức được hiểu là những người có văn hóa hoặc nhóm người có văn

Trang 21

hóa, những người này là những nhà tư tưởng và được xem là báu vật quốc gia Giới trí thức là thuật ngữ dùng để chỉ cộng đồng những người có ảnh hưởng tới toàn bộ nền khoa học và văn hóa của xã hội” [56]

Tác giả cũng nêu lên những bài học kinh nghiệm nhằm phát huy vai trò của trí thức, trong đó trước hết cần phải có môi trường tự do và tính độc lập trong phản biện; phản biện được khuyến khích Đồng thời nhấn mạnh việc xây dựng ĐNTT cần phải bắt nguồn từ giáo dục, đặc biệt là giáo dục phổ thông vì “trẻ em thất học từ nhỏ không những sẽ là một gánh nặng cho xã hội

mà còn không thể và không bao giờ trở thành một trí thức” [56]

- Thu hút và trọng dụng nhân tài trong giai đoạn hiện nay, của Đinh

Ngọc Giang [45]: Khẳng định việc sử dụng, trọng dụng nhân tài là truyền thống quý báu của dân tộc, được kế thừa, phát triển lên tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh Chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài là vô cùng cần thiết để cách mạng thành công, là một nội dung trong công tác cán bộ Muốn

có kết quả tốt, cần phải xem xét, kiểm tra việc thu hút và trọng dụng nhân tài,

từ đó có chính sách hợp lý Cần nhận thức sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về thu hút và trọng dụng nhân tài, qua đó đề cao trách nhiệm của các cấp ủy; đổi mới cách đánh giá ĐNTT, coi trọng và thường xuyên xem xét, đánh giá nhân tài để có chủ trương, giải pháp đào tạo, bồi dưỡng, phát triển và sử dụng nhân tài; thu hút và trọng dụng nhân tài là một nghệ thuật; cùng với việc hỗ trợ tài chính, cần đặc biệt quan tâm tạo môi trường, điều kiện làm việc thuận lợi để

họ phát huy tài năng, cống hiến cho đất nước; chống kéo bè, kéo cánh, dùng người thân, hẹp hòi trong thu hút và trọng dụng nhân tài

- Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,

hiện đại hóa, của Phùng Hữu Phú [80]: Nêu lên sự cần thiết của việc ban

hành nghị quyết về ĐNTT và một số điểm mới, nội dung cơ bản của đề án như: Khái niệm về trí thức; đánh giá tình hình ĐNTT nước ta; bối cảnh, mục tiêu, quan điểm chỉ đạo công tác xây dựng ĐNTT; về nhiệm vụ, giải pháp xây dựng đội ngũ này trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, hội nhập quốc tế Trong đó nhấn mạnh việc hoàn thiện môi trường và điều kiện thuận lợi cho

Trang 22

hoạt động của trí thức; xây dựng, thực hiện chính sách trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức; tạo chuyển biến căn bản trong đào tạo, bồi dưỡng trí thức;

đề cao trách nhiệm của trí thức, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động các hội của trí thức; nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với ĐNTT

1.2 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC Ở TÂY NGUYÊN THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ

Tây Nguyên là vùng đất còn nhiều bí ẩn chưa được khám phá hết, vì vậy trong thời gian qua đã thu hút nhiều nhà khoa học đến nghiên cứu, qua đó cho ra đời nhiều công trình khoa học có giá trị cả về lý luận và thực tiễn Liên quan đến ĐNTT và phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên, trong những năm qua có một số công trình khoa học tiêu biểu sau:

1.2.1 Những công trình nghiên cứu về đội ngũ trí thức ở Tây Nguyên

Thực tế cho thấy có rất nhiều công trình nghiên cứu về Tây Nguyên, nhưng việc nghiên cứu chuyên sâu về ĐNTT ở Tây Nguyên lại chưa nhiều, vì vậy đây vẫn là chủ đề còn nhiều hấp dẫn, cần có sự nghiên cứu, nhìn nhận và đánh giá đầy đủ hơn Liên quan đến vấn đề nay trong những năm qua có thể

kể đến một số công trình sau:

- Tây Nguyên cuối thế kỷ XX vấn đề dân cư và nguồn nhân lực, của

Nguyễn Tuấn Triết [98]: Đề cập đến những vấn đề chủ yếu về dân cư và nguồn nhân lực ở Tây Nguyên Về nguồn nhân lực, tác giả nêu lên những thành tựu, hạn chế của nguồn nhân lực nơi đây, qua đó khẳng định: “Nâng cao dân trí là yêu cầu bức thiết để phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là trong

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hướng tới nền kinh tế tri thức, chủ động hội nhập quốc tế ở nước ta Yêu cầu này đối với Tây Nguyên càng trở nên bức thiết hơn” [98; tr.111]

- Y Ngông Niê Kđăm cuộc đời và trong lòng bạn bè, đồng nghiệp, của

nhiều tác giả [121]: Đề cập những bài viết, ý kiến về một trí thức, một nhân cách lớn của người Êđê nói riêng và Tây Nguyên nói chung, đại biểu quốc hội

từ khoá I đến khoá IX, chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội Thông qua

Trang 23

đó, có thể thấy Ông “là một trí thức giàu lòng yêu nước, sớm giác ngộ và gắn

cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đồng chí luôn tin tưởng và đi theo sự lãnh đạo của Bác Hồ và Đảng Cộng sản Việt Nam” [121, tr.14] Cuốn sách cũng nêu lên những trăn trở, suy tư của Y Ngông Niê Kđăm đối với con người và vùng đất Tây Nguyên, đó là những mong muốn, khát vọng phát triển Tây Nguyên

- Hướng tới phát triển bền vững Tây Nguyên, của Lê Văn Khoa và

Phạm Quang Tú (chủ biên) [60]: Đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của Tây Nguyên, từ đặc điểm tự nhiên, lịch sử và xã hội, cộng đồng các dân tộc đến việc quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực nhằm phát triển bền vững Tây Nguyên Trên cơ sở đó nêu lên những quan điểm, định hướng chiến lược và giải pháp phát triển Cuốn sách cho thấy, nhu cầu phát triển bền vững Tây Nguyên là tất yếu của quá trình đi lên ở đây Muốn vậy phải khai thác có hiệu quả các nguồn lực phát triển, trong đó có nguồn nhân lực chất lượng cao

- Về nguồn nhân lực và chính sách khoa học và công nghệ trên địa bàn

tỉnh, báo cáo của Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Kon Tum [66]:

Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực trên địa bàn tỉnh, trong đó khẳng định những mặt mạnh của nguồn nhân lực như: trung thành, kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng; giữ vững phẩm chất đạo đức; được đào tạo, rèn luyện, phấn đấu và trưởng thành; có tinh thần, ý chí vượt khó vươn lên, có nhiều đóng góp trong việc phát triển KT-XH; tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;

áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống Nhiều trí thức trẻ

đã thể hiện được tính năng động, sáng tạo, thích ứng nhanh với kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế

Bên cạnh đó, báo cáo cũng chỉ ra những bất cập và hạn chế: Cơ cấu về ngành nghề bất hợp lý; trí thức đầu ngành hầu như không có; trí thức có trình

độ cao về CNTT, công nghệ sinh học, ngoại ngữ còn thiếu; các chuyên gia kỹ thuật có khả năng chuyển giao công nghệ, ứng dụng khoa học kỹ thuật còn quá ít Sự phân bố mất cân đối Khả năng làm chủ công nghệ mới gặp nhiều

Trang 24

khó khăn, việc ứng dụng KHCN vào thực tiễn rất lúng túng; kỹ năng phân tích và hoạch định chính sách, phản biện hạn chế Một bộ phận trí thức là cán

bộ, công chức thiếu tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật kém; phong cách, lề lối làm việc chậm đổi mới; tinh thần thái độ phục vụ nhân dân chưa cao đã gây nên sự trì trệ, cản trở cho công cuộc cải cách hành chính, tiếp thu cái mới, công nghệ mới Số lượng trí thức là người DTTS còn ít, chưa tương xứng với tỉ lệ dân số và yêu cầu của sự phát triển

- Văn hoá và con người Tây Nguyên trong văn xuôi nghệ thuật 1945 -

2000, của Đặng Văn Vũ [116]: Nêu lên vẻ đẹp, sự phong phú của các giá trị

văn hóa Tây Nguyên được thể hiện một cách độc đáo trong các tác phẩm văn xuôi; những yếu tố tiêu cực trong các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của người Tây Nguyên; thực trạng biến đổi văn hóa ở Tây Nguyên theo hướng tích cực lẫn tiêu cực; hình ảnh người Tây Nguyên với những phẩm chất tốt đẹp của họ trong chiến đấu cũng như trong cuộc sống thường nhật; sự thay đổi về phẩm chất con người Tây Nguyên trong quá trình hội nhập với các dân tộc khác

- Một lớp trí thức mới của Tây Nguyên, hoàn toàn là hiện thực, của

Nguyên Ngọc [73]: Bài viết đặt ra những vấn đề và dấu hỏi lớn đối với sự phát triển Tây Nguyên, đó là:

Phải giữ cho được bản sắc độc đáo của các dân tộc trên vùng đất đặc biệt về nhiều phương diện này, nhưng Tây Nguyên, ngay hôm nay và sắp đến, chắc chắn không thể đứng ngoài sự phát triển chung của đất nước, thậm chí của thế giới, tất phải hiện đại hóa, Tây Nguyên sẽ có còn là mình trong hiện đại hóa không? Hoặc nói một cách thẳng thắn và rõ ràng hơn: Con người Tây Nguyên, văn hóa Tây Nguyên có đủ khả năng trụ vững và phát triển trong hiện đại hóa tất yếu không? [73]

Trên cơ sở đó, tác giả nhìn nhận, phân tích, đánh giá và đi đến kết luận: Hoàn toàn có thể đào tạo nên cả một tầng lớp trí thức mới của Tây Nguyên, trao cho họ những tri thức cao nhất trong tất cả các lĩnh vực cả tự nhiên lẫn xã hội, mà họ chắc chắn sẽ làm chủ được một

Trang 25

cách vững vàng Vững vàng và uyên thâm hơn rất, rất nhiều những người đang định đến đấy để làm thay họ, với những ý định có thể là tốt lành đấy nhưng vẫn tiềm ẩn một thứ tâm lý dân tộc lớn mà chính mình có khi không nhận ra [73]

- Giải pháp chủ yếu phát triển nguồn nhân lực trí thức tỉnh Đắk Lắk

đến năm 2020, của Phạm Thế Trịnh [99]: Khái quát những đóng góp của

ĐNTT ở Đắk Lắk đối với thành tựu 30 năm đổi mới của tỉnh, đặc biệt là trong công tác xoá đói, giảm nghèo và chuyển giao KHCN vào sản xuất và đời sống Đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế của đội ngũ này trong thời kỳ hội nhập như số lượng, chất lượng còn bất cập; cơ cấu ngành, nghề bất hợp lý; trí thức trong lĩnh vực công nghệ và đầu ngành ít; năng lực sáng tạo, khả năng tư vấn, phản biện và giám định xã hội yếu; trí thức DTTS có trình độ đại học và sau đại học ít Hiệu quả khai thác, sử dụng chất xám thấp; một số đề tài nghiên cứu chưa gắn với sản xuất và đời sống

Từ thực trạng trên, tham luận đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy, phát triển ĐNTT, trong đó nhấn mạnh giải pháp xây dựng, quy hoạch phát triển nhân lực trí thức gắn với chiến lược phát triển KT-XH đến năm 2020

Qua việc khái quát các công trình nghiên cứu về ĐNTT ở Tây Nguyên nêu trên cho thấy, mặc dù chưa có công trình khoa học nào nêu lên quan niệm

về ĐNTT ở Tây Nguyên nhưng đã có những ý niệm, tư tưởng bước đầu hết sức quan trọng về đội ngũ này Đây là một trong những cơ sở cho việc kế thừa, tiếp thu của luận án để từ đó đưa ra quan niệm về ĐNTT ở Tây Nguyên

1.2.2 Những công trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ trí thức ở Tây Nguyên

- Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp

huyện người các dân tộc ở Tây Nguyên, do Lê Hữu Nghĩa (chủ biên) [72]: Đi

sâu trình bày, phân tích, đánh giá một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp huyện người dân tộc ở Tây Nguyên như: vị trí, vai trò đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện người các dân tộc; các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành đội ngũ cán bộ người các dân tộc ở Tây Nguyên; thực

Trang 26

trạng, định hướng và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người các dân tộc ở Tây Nguyên Trong đó nhấn mạnh:

Trong cơ cấu đội ngũ cán bộ ở Tây Nguyên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện người các dân tộc giữ vị trí rất quan trọng Đó là những người gắn bó với quê hương, hiểu được tập quán, tâm tư, nguyện vọng của đồng bào, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với các dân tộc và cũng là trụ cột để giữ vững ổn định chính trị, củng

cố khối đoàn kết dân tộc trên vùng địa bàn chiến lược này Chính

vì vậy, việc xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện người các dân tộc là một yêu cầu quan trọng

- Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát huy trí tuệ của đội ngũ trí thức trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, do Y Ghi Niê làm chủ nhiệm

[120]: Khẳng định trí thức có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của nhân loại nói chung, của đất nước và Đắk Lắk nói riêng Coi trọng trí thức chính là coi trọng con người, coi trọng sự phát triển, đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển ĐNTT ở Đắk Lắk trong thời gian qua đã có sự chuyển biến nhanh chóng cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu, đóng góp

Trang 27

quan trọng vào quá trình phát triển KT-XH của tỉnh Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự phát triển, số lượng trí thức còn ít, chất lượng hạn chế, cơ cấu và

sự phân bố trí thức có nhiều bất cập, chính sách sử dụng, đãi ngộ đối với trí thức bất hợp lý

- Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển

kinh tế - xã hội tỉnh Đắk Nông đến năm 2020, do Nguyễn Võ Linh chủ nhiệm

[68]: Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực, đề tài đi vào nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực của tỉnh Đắk Nông, hiện trạng việc làm và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, những kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở một số tỉnh có nét tương đồng với Đắk Nông Từ đó đánh giá tác động,

dự báo khả năng, nhu cầu phát triển nguồn nhân lực đến năm 2020, cũng như

đề xuất một số mô hình đào tạo áp dụng tại Đắk Nông cùng một số giải pháp phát triển nguồn lực này Trong đó nhấn mạnh các giải pháp về công tác dân

số và lao động; phát triển ngành y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân; phát triển hệ thống GDĐT; tạo việc làm cho lao động và sử dụng lao động sau khi được đào tạo; tăng cường hợp tác với các tỉnh và mở rộng thị trường; thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực

- Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh Lâm Đồng, do Trương Trổ chủ nhiệm [100]: Qua việc trình bày một

số đặc điểm về dân số, lao động, doanh nghiệp, cơ cấu kinh tế Lâm Đồng thời

kỳ 2005-2010 và các mục tiêu, giải pháp phát triển KT-XH đến 2015 và định hướng 2020, đề tài đi vào đánh giá thực trạng ĐNTT của tỉnh, trong đó nhấn mạnh sự phát triển và những đóng góp của đội ngũ này trong thời kỳ đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc và hiện nay Đồng thời chỉ ra những bất cập, hạn chế của ĐNTT cũng như chính sách đối với đội ngũ này Từ đó đưa

ra những giải pháp nhằm tiếp tục phát triển trong thời gian tới như ưu tiên trọng dụng, đề bạt, bổ nhiệm, trả lương cao cho những trí thức có đề tài, công trình đem lại giá trị tăng thêm cho địa phương; tăng cường công tác xây dựng quy hoạch nguồn nhân lực và thực hiện quy hoạch trên cơ sở đào tạo và trọng dụng ĐNTT; có chiến lược cụ thể trong việc khai thác, sử dụng lực lượng trí

Trang 28

thức của các cơ quan trung ương đóng trên địa bàn tỉnh; tăng cường đầu tư cho các hoạt động sáng tạo văn học nghệ thuật, nghiên cứu ứng dụng KHCN, phát triển GDĐT, chăm sóc sức khoẻ nhân dân; đổi mới nhận thức về vấn đề tập hợp trí thức của các tổ chức chính trị - xã hội; hỗ trợ doanh nghiệp thu hút

và sử dụng lao động chất lượng cao, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật hiện đại

- Tạo nguồn cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số các tỉnh

Tây Nguyên giai đoạn hiện nay, của Trương Thị Bạch Yến [119]: Trên cơ sở

những vấn đề lý luận chung về nguồn và tạo nguồn cán bộ, công chức cấp xã các DTTS ở Tây Nguyên, tác giả đánh giá thực trạng nguồn, tạo nguồn cán

bộ, công chức cấp xã người DTTS ở Tây Nguyên, dự báo những yếu tố tác động và đề xuất phương hướng, giải pháp tạo nguồn cán bộ công chức cấp

xã người DTTS ở Tây Nguyên Về giải pháp, tác giả đề xuất hai giải pháp có tính đặc thù, khả thi nhằm đẩy mạnh tạo nguồn cán bộ, công chức cấp xã người DTTS đến năm 2020: Một là, củng cố, phát triển và giao trách nhiệm

cụ thể cho hệ thống các trường dân tộc nội trú, các cơ sở GDĐT trên địa bàn Tây Nguyên tham gia tạo nguồn cán bộ, công chức cấp xã người DTTS; Hai

là, xây dựng, củng cố và phát huy vai trò hệ thống chính trị xã, người có uy tín trong cộng đồng ở thôn, buôn trong tạo nguồn cán bộ, công chức xã người DTTS

- Phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường trung học phổ thông các tỉnh

bắc Tây Nguyên trong bối cảnh đổi mới giáo dục, của Cao Thị Thanh Xuân

[118]: Đề cập đến nhiều vấn đề về phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường trung học phổ thông trong mối quan hệ với phát triển nguồn nhân lực ở các tỉnh bắc Tây Nguyên, nội dung và những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của đội ngũ này, cũng như thực trạng của sự phát triển Từ đó đưa ra định hướng, quan điểm và giải pháp phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường trung học phổ thông ở các tỉnh bắc Tây Nguyên

- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở các tỉnh

Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay, của Nguyễn Thành Dũng [36]: Trên cơ

sở lý luận về cán bộ, đội ngũ cán bộ chủ chốt, tác giả đánh giá, phân tích vai

Trang 29

trò, thực trạng việc nâng cao đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở các tỉnh Tây Nguyên, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ này

Về đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, tác giả đưa ra 3 phương diện chủ yếu

là số lượng, chất lượng và cơ cấu Đồng thời nêu lên tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ này trên 3 yếu tố: Mức độ tín nhiệm, số lượng và cơ cấu phù hợp; chất lượng toàn diện và kết quả hoàn thành nhiệm vụ

- Phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch khu vực duyên hải nam

Trung Bộ và Tây Nguyên, của Trần Sơn Hải [47]: Nêu lên khái niệm nguồn

nhân lực, phát triển nguồn nhân lực, các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch, phân tích thực trạng phát triển nhân lực ngành

du lịch về số lượng, chất lượng và cơ cấu; công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ngành này ở các tỉnh khu vực duyên hải nam Trung Bộ và Tây Nguyên Từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực của ngành

du lịch đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường quản

lý nhà nước và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành du lịch

- Xây dựng đội ngũ trí thức các tộc người ở Tây Nguyên thời kỳ đổi

mới, của Trương Minh Dục [34]: Bài nghiên cứu khẳng định việc xây dựng

ĐNTT các tộc người ở Tây Nguyên là một trong những yếu tố quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc, qua đó phát huy tính tích cực và khả năng của các tộc người ở đây Tác giả khái quát một số chủ trương của Đảng bộ các tỉnh Tây Nguyên về xây dựng ĐNTT các tộc người, trong đó nhấn mạnh sự đặc biệt quan tâm đào tạo, sử dụng và xây dựng đội ngũ này có

đủ năng lực, phẩm chất hoàn thành nhiệm vụ đề ra

- Kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (Khóa X) về xây

dựng đội ngũ trí thức ở tỉnh Gia Lai, của Phạm Thị Thu Dung [35]: Đề cập

đến những đóng góp quan trọng của ĐNTT đối với quá trình phát triển

KT-XH, giữ vững an ninh chính trị của tỉnh Nhiều đề tài nghiên cứu về khoa học

xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên được ĐNTT đảm nhận đã góp phần quan trọng vào quá trình phát triển KT-XH địa phương

Trang 30

Bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn còn những hạn chế: Cơ cấu và

sự phân bố ĐNTT theo ngành, nghề chưa phù hợp với cơ cấu KT-XH Đa số trí thức tập trung nơi có điều kiện phát triển Số trí thức là người đồng bào DTTS tăng nhưng rất chậm Thiếu đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn cao, thiếu chuyên gia giỏi Một số trí thức còn hạn chế về trình độ ngoại ngữ, thiếu tính chuyên nghiệp Các cơ sở GDĐT trong tỉnh liên kết đào tạo đại học, sau đại học chưa gắn với yêu cầu, nhiệm vụ công tác Chất lượng đào tạo chưa cao Số lượng đề tài khoa học được nghiên cứu và áp dụng vào thực tiễn còn ít, chất lượng thấp Việc tham gia hoạt động tư vấn, phản biện, giám định còn hạn chế

- Phát triển và đào tạo nguồn nhân lực vùng Tây Nguyên trong thời kỳ

đổi mới và phát triển, của Bùi Tất Thắng [86]: Đề cập đến những yêu cầu đặt

ra đối với sự phát triển, đào tạo nguồn nhân lực ở Tây Nguyên; đặc điểm phát triển và đào tạo nguồn nhân lực của vùng, từ đó đề xuất quan điểm, giải pháp cho vấn đề này, trong đó nhấn mạnh các giải pháp: Tăng các nguồn vốn đầu

tư và kinh phí cho phát triển GDĐT và nguồn nhân lực Tây Nguyên; đổi mới quản lý nhà nước về GDĐT và phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn Tây Nguyên; cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh để tạo việc làm có năng suất cao và chuyển dịch cơ cấu lao động; mở rộng hợp tác liên vùng trong nước và quốc tế để phát triển nguồn nhân lực Tây Nguyên

- Phát triển và đào tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ đổi mới, tham luận

của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Lắk [84]: Nêu lên quan niệm về đào tạo nguồn nhân lực trí thức; vai trò của đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trí thức; thực trạng và giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực trí thức ở Đắk Lắk Trong đó nhấn mạnh chất lượng đào tạo là yếu tố cực kỳ quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực làm việc sau khi ra trường Chính vì vậy cần quan tâm đến chất lượng đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, nội dung và loại hình đào tạo Đồng thời cần đổi mới cơ chế, chính sách thu hút nhân tài

- Đào tạo đại học với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở vùng

Tây Nguyên hiện nay, của Trương Thị Hạnh [48]: Tham luận nêu lên thực

Trang 31

trạng đào tạo đại học và chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Tây Nguyên hiện nay, những vấn đề đặt ra và những giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đại học, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

ở Tây Nguyên Tác giả cũng nhấn mạnh về khoảng cách giữa chất lượng đào tạo và nhu cầu xã hội, số lượng đào tạo ngày càng gia tăng nhưng chất lượng của nguồn lao động qua đào tạo, khả năng thích ứng công việc và phát huy kết quả đào tạo lại rất thấp

Qua việc tổng quan các công trình nghiên cứu về phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên nêu trên cho thấy: Các công trình đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau của sự phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên - mà chủ yếu là ở mỗi tỉnh, như chỉ ra mặt tích cực, ưu điểm và hạn chế, khuyết điểm trong phát triển đội ngũ này, việc đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm tiếp tục phát triển đội ngũ này trong thời gian tới Dù vậy, chưa có công trình nghiên cứu nào đưa ra quan niệm về phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên, vì vậy tác giả luận án tiếp thu,

kế thừa có chọn lọc một số nội dung của các công trình trên, từ đó tìm hiểu, nghiên cứu đưa ra quan niệm về phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên

1.3 NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.3.1 Những giá trị của các công trình

Qua tổng quan những tài liệu trên liên quan đến luận án có thể khẳng định, vấn đề phát triển ĐNTT không phải là vấn đề mới mà đã được đề cập khá nhiều trong các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước Song không

vì thế mà tính thời sự và hấp dẫn của nó mất đi Ngược lại, cùng với sự phát triển của KHCN và KTTT, thì vấn đề này ngày càng đặt ra nhiều điều mới mẻ cần được tiếp tục nghiên cứu và giải đáp Và những công trình NCKH trên đã

đi vào nghiên cứu, phân tích những vấn đề về phát triển ĐNTT, mà có thể khái quát thành những giá trị, đóng góp sau:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về trí thức và phát triển ĐNTT đã

đề cập đến nhiều khía cạnh như quan niệm, vị trí, vai trò và đặc điểm của trí thức Mặc dù vẫn còn những cách hiểu khác nhau, song hầu hết các công trình

Trang 32

đều thừa nhận những đóng góp hết sức quan trọng của ĐNTT đối với tiến trình phát triển của xã hội Trong bối cảnh toàn cầu hoá và KTTT, thì ĐNTT chính là lực lượng “tiên phong” trong sự phát triển Ở đâu có ĐNTT lớn mạnh, ở đó có tiền đề cơ bản cho sự phát triển ổn định và bền vững Phát triển ĐNTT là đòi hỏi tất yếu của mỗi quốc gia, dân tộc trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang chuyển sang nền KTTT

Thứ hai, nhiều công trình khoa học đã đi sâu trình bày, phân tích và

khái quát những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

và của Đảng Cộng sản Việt Nam về ĐNTT và phát triển đội ngũ này Trong

đó đều thừa nhận và nhấn mạnh sự coi trọng trí thức cũng như những đóng góp to lớn của ĐNTT đối với sự phát triển

Thứ ba, trên cơ sở lý luận về ĐNTT và phát triển ĐNTT, các công trình

đã đi vào đánh giá, phân tích thực trạng phát triển đội ngũ này, những mặt mạnh, hạn chế và nguyên nhân, từ đó đưa ra phương hướng và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm tiếp tục phát triển ĐNTT Về sự phát triển ĐNTT, các công trình nhấn mạnh sự phát triển về số lượng, chất lượng, cơ cấu và chính sách đối với đội ngũ này

Thứ tư, trong các công trình nghiên cứu về phát triển ĐNTT ở Tây

Nguyên (chủ yếu ở mỗi tỉnh của Tây Nguyên) đã có những nhận định, phân tích bước đầu về thực trạng ĐNTT và phát triển ĐNTT, nêu lên những vấn đề cần giải quyết và giải pháp để tiếp tục phát triển đội ngũ này ở Tây Nguyên

Tóm lại, các công trình nghiên cứu về ĐNTT và phát triển ĐNTT nêu

trên đã có nhiều đóng góp hết sức quan trọng cả về phương diện lý luận và thực tiễn

1.3.2 Những kế thừa của luận án và vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu trên đã đạt được nhiều kết quả to lớn trong việc giải quyết một số vấn đề lý luận, thực tiễn về ĐNTT và phát triển ĐNTT Những kết quả đó là cơ sở quan trọng cho nghiên cứu sinh tiếp thu, kế thừa

Trang 33

vào quá trình nghiên cứu Luận án kế thừa những thành quả về phương pháp luận nghiên cứu ĐNTT nói chung, phương pháp triển khai nghiên cứu ĐNTT

ở Tây Nguyên nói riêng Tham khảo những gợi ý bước đầu về phân tích thực trạng và tìm kiếm giải pháp phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Tiếp thu và sử dụng vào luận án một số dữ liệu, số liệu được một

số công trình nêu ra đã được xác minh về xuất xứ

Tuy nhiên, dưới góc độ phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên thì đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào đề cập một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về lý luận, thực tiễn và thực trạng phát triển ĐNTT nơi đây, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Chính vì vậy, luận án tập trung giải quyết một số tồn tại đó, cụ thể là:

Một là, trình bày quan niệm về ĐNTT, phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên,

mối quan hệ giữa phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên với việc đẩy mạnh CNH, HĐH và những yếu tố tác động đến sự phát triển đội ngũ này;

Hai là, phân tích và đánh giá thực trạng phát triển ĐNTT ở Tây

Nguyên, thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra đối với sự phát triển đội ngũ này;

Ba là, trên cơ sở thực trạng phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên và những

vấn đề đặt ra, luận án đề xuất những quan điểm cơ bản, hệ giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát triển đội ngũ này thời gian tới, đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH Tây Nguyên

Luận án là một công trình khoa học độc lập, không trùng lặp với các công trình đã nghiên cứu trước đó

Trang 34

Chương 2 PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC Ở TÂY NGUYÊN

THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ -

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 MỘT SỐ QUAN NIỆM CƠ BẢN

2.1.1 Quan niệm về đội ngũ trí thức và đội ngũ trí thức ở Tây Nguyên

2.1.1.1 Quan niệm về đội ngũ trí thức

Hiện nay, thuật ngữ “trí thức” được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới và không chỉ trong các công trình khoa học, mà còn được dùng trong quan hệ giao tiếp hàng ngày Dù được sử dụng phổ biến nhưng ở mỗi nước, mỗi thời kỳ lịch sử, thậm chí ở nhiều nhà khoa học trong một quốc gia lại có những quan điểm, cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau khi bàn về trí thức, cũng như vị trí, vai trò, chức năng và đặc điểm của họ

Sinh thời, C.Mác và Ph.Ăngghen đã quan tâm đến vấn đề trí thức nhưng chưa đưa ra một định nghĩa về trí thức Dù vậy, hai ông đã nêu lên một phương pháp tiếp cận khoa học (vấn đề giai cấp) cho việc nghiên cứu vấn đề này Dưới góc độ triết học, trí thức được xem là một phạm trù lịch sử, chỉ xuất hiện khi trình độ phát triển xã hội đến một giai đoạn nhất định (có sự phân công lao động xã hội, nhất là giữa lao động trí óc và chân tay)

Trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã nghiên cứu đầy đủ hơn về trí thức với tư cách là một tầng lớp, nhất là sau cách mạng tháng Mười Nga (1917) Ông đã đi sâu nghiên cứu về đặc điểm, tính chất của tầng lớp trí thức, từ đó thu hút, lôi kéo trí thức cũ và đào tạo trí thức mới cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Nga V.I.Lênin viết:

Tôi dùng chữ trí thức, giới trí thức, để dịch những danh từ Đức Literat, Literatentum là những danh từ có nghĩa bao hàm không những chỉ các nhà trước tác mà thôi, mà còn bao hàm tất cả mọi người có học thức, các đại biểu của những nghề tự do nói chung, các đại biểu của lao

Trang 35

động trí óc (tức là những người mà người Anh gọi là brain worker), khác với những đại biểu của lao động chân tay [112, tr.372]

Như vậy, trí thức trong quan niệm của V.I.Lênin không chỉ là những nhà tư tưởng vĩ đại (nhà trước tác), mà còn là những người có học thức và đại biểu lao động trí óc của các tầng lớp trong xã hội V.I.Lênin không đồng nhất lao động trí óc với trí thức, mà chỉ có những người tiêu biểu trong hàng ngũ lao động trí óc mới được coi là trí thức

Kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:

Trí thức là hiểu biết Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: Một là hiểu biết sự tranh đấu sinh sản Khoa học tự nhiên do đó mà ra Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội Khoa học xã hội do đó

mà ra Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào khác Một người học xong đại học, có thể gọi là trí thức Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác Nói tóm lại: Công việc thực tế, y không biết gì cả Thế là y chỉ

có trí thức một nửa Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải biết đem trí thức đó áp dụng vào thực tế [49, tr.235]

Theo cách tiếp cận này thì trí thức không chỉ là người hiểu biết, có tri thức về tự nhiên, xã hội mà còn phải đem sự hiểu biết, tri thức đó vào thực tiễn đời sống Đồng thời, một trong những tiêu chí cụ thể để có thể được coi

là trí thức về mặt học vấn là từ tốt nghiệp đại học trở lên Quan niệm này cũng cho thấy sự hình thành trí thức và chức năng, nhiệm vụ của trí thức

Trên cơ sở lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn của Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định "Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội” [40, tr.82]

Trang 36

Có thể nhận thấy quan niệm của Đảng về trí thức ngày càng toàn diện, đầy đủ và sâu sắc trên cơ sở tiếp thu, kế thừa, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức cùng với thực tiễn vận động của đất nước và thực trạng ĐNTT nước ta Theo cách tiếp cận này thì có 3 tiêu chí cơ bản để phân biệt trí thức với các bộ phận khác:

Thứ nhất, về trình độ học vấn, trí thức phải là những người có trình độ

học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định

Lao động của trí thức mang tính sáng tạo, phức tạp và không tự nhiên hình thành mà chủ yếu thông qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện một cách có hệ thống ở các trường đại học, học viện, viện nghiên cứu Kết quả của quá trình này được biểu hiện thông qua trình độ học vấn và sự công nhận về bằng cấp Theo chúng tôi, nếu xét về bằng cấp cũng phải từ tốt nghiệp đại học trở lên, vì bắt đầu từ trình độ này, sự sáng tạo trong lao động mới bộc lộ tương đối rõ nét

Tuy nhiên, không phải tất cả những người có trình độ học vấn cao đều

là trí thức và những người không có trình độ học vấn cao (thể hiện qua bằng cấp) không phải là trí thức Vì trong thực tế, có những người có trình độ học vấn cao nhưng lao động của họ mang ít tính sáng tạo thì không thể coi là trí thức và cũng có những người không được đào tạo, không có bằng cấp nhưng lao động sáng tạo, phức tạp thì họ là trí thức Do đó, trình độ học vấn là một trong những yếu tố quan trọng để xem một cá nhân là trí thức hay không nhưng còn phải căn cứ vào các yếu tố khác mới có một quan niệm đầy đủ

Thứ hai, về phương thức lao động và chức năng Trí thức lao động

bằng trí óc, có năng lực độc lập trong tư duy, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức cho xã hội Trí thức là người lao động trí óc nhưng không phải tất cả lao động trí óc đều là trí thức, mà phải là những người lao động trí óc sáng tạo

và có tính độc lập trong tư duy Họ không chỉ có chức năng sáng tạo mà còn truyền bá, phổ biến và làm giàu tri thức cho xã hội thông qua lao động của mình, làm cho sự hiểu biết của con người ngày càng đa dạng, phong phú, đi

Trang 37

sâu vào nhận thức bản chất của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội Chúng tôi cho rằng, đây là tiêu chí quan trọng nhất để nhận biết trí thức

Thứ ba, sản phẩm lao động của trí thức là những giá trị tinh thần và vật

chất Thước đo đối với trí thức chính là sản phẩm mà họ tạo ra cho xã hội, sản phẩm là kết quả lao động sáng tạo của trí thức, do đó để sản phẩm càng có giá trị thì lao động của trí thức càng khó khăn, phức tạp Không ít trí thức hy sinh

cả cuộc đời của mình chỉ để theo đuổi niềm say mê khám phá, sáng tạo của mình và khi sản phẩm ra đời đã mang lại những giá trị hết sức to lớn đối với

sự vận động và phát triển xã hội, qua đó ghi đậm dấu ấn sáng tạo của họ

Theo từ điển Triết học thì "Trí thức - tập đoàn xã hội gồm những người làm nghề lao động trí óc Giới trí thức bao gồm kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật sư, nghệ sĩ, thầy giáo và người làm công tác khoa học, một bộ phận viên chức” [76, tr.598]

Từ điển Chủ nghĩa Cộng sản khoa học xác định:

Trí thức - một nhóm xã hội bao gồm những người chuyên làm nghề lao động trí óc phức tạp và có học vấn chuyên môn cần thiết cho ngành lao động đó Sự tồn tại của trí thức với tính cách là một nhóm

xã hội đặc biệt gắn liền với việc phân công xã hội giữa lao động trí

óc và lao động chân tay [75, tr.360]

Từ điển Bách khoa Việt Nam khẳng định "Trí thức là tầng lớp xã hội làm nghề lao động trí óc, trong đó, bộ phận chủ yếu là những người có học vấn cao, hiểu biết sâu rộng về chuyên môn của mình, có sáng tạo và phát minh” [77, tr.582]

Từ điển Tiếng Việt xác định "Trí thức là người chuyên làm việc lao động trí óc và có tri thức chuyên môn cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của mình” [114, tr.999]

Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về trí thức, thể hiện tính đa dạng cũng như phức tạp khi tiếp cận, nhìn nhận và đánh giá họ Trong mỗi quan niệm đều có những nhân tố hợp lý và khoa học Chúng tôi cho rằng, quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức là sự phản ánh khá đầy

Trang 38

đủ, sâu sắc về trí thức, nhất là trí thức Việt Nam, là cơ sở, định hướng để nghiên cứu về trí thức và phát triển ĐNTT hiện nay

2.1.1.2 Quan niệm về đội ngũ trí thức ở Tây Nguyên

Trên cơ sở quan niệm về trí thức nêu trên cùng với tính đặc thù của các điều kiện tự nhiên, xã hội, văn hoá và dân tộc ở Tây Nguyên, chúng tôi cho

rằng: ĐNTT ở Tây Nguyên là một bộ phận của ĐNTT Việt Nam, bao gồm

những người lao động trí óc sáng tạo, có năng lực tư duy độc lập và trình độ hiểu biết, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm có giá trị

cho xã hội, đang sinh sống, công tác ở các tỉnh Tây Nguyên

Từ quan niệm trên, có thể hiểu ĐNTT ở Tây Nguyên được xác định thông qua một số nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, ĐNTT ở Tây Nguyên là một bộ phận của ĐNTT Việt Nam,

do đó nó mang trong mình những đặc điểm cơ bản của trí thức Việt Nam, là

bộ phận không thể tách rời và gắn bó với vận mệnh của đất nước, dân tộc

Thứ hai, ĐNTT ở Tây Nguyên gồm những người lao động trí óc sáng

tạo, có năng lực tư duy độc lập và trình độ hiểu biết Trong đó, trình độ hiểu biết có thể đo lường thông qua trình độ học vấn hoặc cũng có thể không Nếu thông qua trình độ học vấn phải từ tốt nghiệp đại học trở lên

Thứ ba, chức năng chủ yếu của ĐNTT ở Tây Nguyên là truyền bá, làm

giàu tri thức và tạo ra những sản phẩm có giá trị tinh thần, vật chất phục vụ cho sự phát triển của xã hội, mà trực tiếp và trước hết là Tây Nguyên

Thứ tư, ĐNTT ở Tây Nguyên gồm những người có phẩm chất đạo đức

và bản lĩnh chính trị; tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là các chủ trương, chính sách liên quan đến sự ổn định và phát triển Tây Nguyên

Thứ năm, ĐNTT ở Tây Nguyên gồm những trí thức đang sinh sống,

công tác ở các tỉnh Tây Nguyên Họ sinh ra, lớn lên ở đây và cũng có thể từ nơi khác tới đây sinh sống, lập nghiệp, hiện đang làm việc trong các cơ quan, đơn vị, lĩnh vực, ngành nghề khác nhau ở Tây Nguyên, bao gồm những trí

Trang 39

thức công tác trong các cơ quan, đơn vị của Trung ương đóng trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên

Do đặc thù của Tây Nguyên, nhiều già làng là những người tiêu biểu về mặt trí tuệ của cộng đồng các DTTS tại chỗ ở Tây Nguyên Nếu như quan niệm trí thức là những người có trình độ học vấn cao thể hiện qua bằng cấp, thì các già làng ở Tây Nguyên không có, nhưng nói về sự am hiểu điều kiện địa lý, tự nhiên, xã hội, lịch sử và văn hoá truyền thống thì phải kể đến những người này Họ không chỉ là người đại diện cho sự đoàn kết, gắn bó của cộng đồng các dân tộc ở đây mà còn là hiện thân của trí tuệ, tinh hoa của DTTS tại chỗ ở Tây Nguyên Lao động của họ mang tính sáng tạo

Phần lớn già làng là những người có uy tín, là chỗ dựa tinh thần, là người hướng dẫn trong làm ăn, sản xuất, đồng thời trực tiếp giải quyết nhiều vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội của cộng đồng các DTTS tại chỗ ở Tây Nguyên Họ là kho kinh nghiệm và tri thức sản xuất, là pho sử thi sống, là thủ lĩnh của cộng đồng các DTTS tại chỗ ở Tây Nguyên

Việc truyền bá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các tri thức mới tới cộng đồng các DTTS ở Tây Nguyên có hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào tiếng nói, việc làm của các già làng Đồng thời, tâm tư, nguyện vọng của cộng đồng các dân tộc ở đây cũng được thể hiện chủ yếu thông qua lực lượng này

Mặc dù, hiện nay vai trò của già làng so với trước đã có phần giảm sút nhưng chưa có lực lượng, cá nhân nào có thể đảm đương, thay thế được họ trong đời sống xã hội của cộng đồng các DTTS tại chỗ ở Tây Nguyên Họ vẫn

là đại diện cho tinh hoa, trí tuệ của DTTS tại chỗ nơi đây

Trong thực tế, đa số các già làng ở Tây Nguyên đã đảm nhiệm vai trò của trí thức và họ xứng đáng được xã hội và nhà nước tôn vinh là những trí thức theo một danh tính nào đó

2.1.2 Quan niệm về phát triển đội ngũ trí thức ở Tây Nguyên

Phát triển là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong nhiều ngành khoa học, lĩnh vực khác nhau, vì vậy có nhiều cách hiểu không giống nhau Dưới

Trang 40

góc độ triết học, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin thì phát triển là sự vận động theo hướng đi lên cả về lượng và chất Nguồn gốc của sự phát triển nằm trong chính bản thân sự vật, hiện tượng, là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập

Từ điển tiếng Việt xác định “Phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi

từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [115, tr.769]

Theo giáo trình triết học Mác-Lênin thì: “Phát triển là một phạm trù triết học dùng để khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn” [53, tr.227]

Từ những lý giải nêu trên có thể thấy một số đặc điểm chủ yếu của phát triển như sau:

Phát triển là quá trình vận động của sự vật, hiện tượng theo hướng ngày càng hoàn thiện Là quá trình vận động từ thấp lên cao, từ ít đến nhiều, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện

Phát triển là kết quả tự thân của sự vật, hiện tượng do các yếu tố, mối liên hệ bên trong, cũng như bên ngoài quy định Trong đó mối liên hệ bên trong mang tính tự thân vận động quyết định Còn các yếu tố, mối liên hệ bên ngoài tác động, thâm nhập vào bên trong sự vật, hiện tượng

Nội dung của sự phát triển được thể hiện trên các mặt chủ yếu là số lượng, chất lượng và cơ cấu

Như vậy, sự phát triển là quá trình hoàn thiện về số lượng, chất lượng

và cơ cấu Nguyên nhân chủ yếu của sự phát triển do chính các yếu tố nội tại bên trong sự vật, hiện tượng quyết định

Qua sự trình bày, phân tích về ĐNTT và quan niệm phát triển nêu trên,

chúng tôi xác định: Phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên là quá trình vận động

tăng lên về số lượng, chất lượng, hợp lý về cơ cấu của ĐNTT ở Tây Nguyên,

do sự tác động hợp quy luật của các chủ thể Từ quan niệm này, có thể hiểu

sự phát triển ĐNTT ở Tây Nguyên bao gồm:

Thứ nhất, nội dung phát triển:

Phát triển về số lượng được thể hiện ở số lượng trí thức thời kỳ sau nhiều hơn thời kỳ trước và tỉ lệ này tăng lên trong cơ cấu dân số, phù hợp với

Ngày đăng: 12/10/2017, 08:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đức Bách (2015), Báo cáo kết quả đề tài khoa học công nghệ: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đào tạo nguồn và sử dụng hiệu quả nhân lực trí thức DTTS tại chỗ tỉnh Đắk Lắk, Viện Khoa học Môi trường và Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả đề tài khoa học công nghệ: "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đào tạo nguồn và sử dụng hiệu quả nhân lực trí thức DTTS tại chỗ tỉnh Đắk Lắk
Tác giả: Nguyễn Đức Bách
Năm: 2015
2. Ban Chấp hành Trung ương (2002), Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001-2010
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2002
3. Ban Chấp hành Trung ương (2011), Kết luận số 12-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị (Khoá IX) phát triển vùng Tây Nguyên thời kỳ 2011- 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 12-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị (Khoá IX) phát triển vùng Tây Nguyên thời kỳ 2011-2020
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2011
4. Ban Chỉ đạo Tây Nguyên (2011), Báo cáo tổng kết Nghị quyết 10- NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển KT-XH và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển KT-XH và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001-2010
Tác giả: Ban Chỉ đạo Tây Nguyên
Năm: 2011
5. Báo điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam (2014), Đào tạo Đại học - Cao đẳng ở Tây Nguyên: Sinh viên tốt nghiệp và… thất nghiệp (bài 1), tại trang http://vov.vn, [truy cập ngày 30/8/2016] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo Đại học - Cao đẳng ở Tây Nguyên: Sinh viên tốt nghiệp và… thất nghiệp (bài 1)
Tác giả: Báo điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam
Năm: 2014
6. Nguyễn Khánh Bật, Trần Thị Huyền (2012), Xây dựng ĐNTT thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng ĐNTT thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Khánh Bật, Trần Thị Huyền
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển KT-XH vùng Tây Nguyên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển KT-XH vùng Tây Nguyên
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2010
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Thông báo số 1394/TB-BGDĐT kết luận tại Hội nghị các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề về công tác đào tạo nguồn nhân lực cho Tây Nguyên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo số 1394/TB-BGDĐT kết luận tại Hội nghị các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề về công tác đào tạo nguồn nhân lực cho Tây Nguyên
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2013
9. Bộ Giao thông Vận tải (2010), Báo cáo số 4478/BC-BGTVT tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển KT-XH vùng Tây Nguyên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 4478/BC-BGTVT tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển KT-XH vùng Tây Nguyên
Tác giả: Bộ Giao thông Vận tải
Năm: 2010
10. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2010), Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên và bảo đảm quốc phòng an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên và bảo đảm quốc phòng an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001-2010
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Năm: 2010
11. Bộ Nội vụ (2010), Báo cáo số 42/BC-BNV về kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên và bảo đảm quốc phòng an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 42/BC-BNV về kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên và bảo đảm quốc phòng an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001-2010
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2010
12. Bộ Y tế (2010), Báo cáo số 667/BC-BYT về tình hình y tế Tây Nguyên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 667/BC-BYT về tình hình y tế Tây Nguyên
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2010
13. C.Mác, Ph.Ăngghen (1983), Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1983
14. C.Mác, Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
15. C.Mác, Ph.Ăngghen (2002), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
16. Trịnh Quang Cảnh (2002), Trí thức người DTTS ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới, Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí thức người DTTS ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới
Tác giả: Trịnh Quang Cảnh
Năm: 2002
17. Chính phủ (2003), Quyết định số 253/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án một số giải pháp củng cố, kiện toàn chính quyền cơ sở vùng Tây Nguyên giai đoạn 2002-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 253/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án một số giải pháp củng cố, kiện toàn chính quyền cơ sở vùng Tây Nguyên giai đoạn 2002-2010
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
18. Chính phủ (2004), Chỉ thị số 45/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục phát triển vùng Tây Nguyên toàn diện, bền vững, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 45/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục phát triển vùng Tây Nguyên toàn diện, bền vững
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
19. Chính phủ (2004), Chỉ thị số16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh xoá bỏ tổ chức phản động FULRO đang nhen nhóm phục hồi trên một số địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh xoá bỏ tổ chức phản động FULRO đang nhen nhóm phục hồi trên một số địa bàn các tỉnh Tây Nguyên
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
20. Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (2016), Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2015, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2015
Tác giả: Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2016

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w