1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐÁNH GIÁ các CHỈ TIÊU CHẤT LƢỢNG của THUỐC NHỎ mắt CHLORAMPHENICOL

60 505 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 2,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, điều trị các bệnh viêm mắt Do đó chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài: “ĐÁNH GIÁ CÁC CHỈ TIÊU CHẤT LƢỢNG CỦA THUỐC NHỎ MẮT CHLORAMPHENICOL” để bước đầu xác định chất lượng của

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA CÔNG NGHỆ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

ĐÁNH GIÁ CÁC CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG CỦA THUỐC NHỎ MẮT

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quãng thời gian học tập và rèn luyện trên giảng đường Đại học Cần Thơ, tôi đã được học hỏi rất nhiều kiến thức, tích lũy được nhiều kinh nghiệm, kỹ năng quý báu Đặc biệt, trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp đã giúp tôi củng cố kiến thức chuyên môn, hiểu biết nhiều hơn về công việc cũng như môi trường làm việc thực tế của kỹ sư Công nghệ Hóa học Để đạt được những kết quả đó tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ vật chất đến tinh thần của các thầy cô, gia đình cũng như bạn bè, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:

- Quý thầy cô trường Đại học Cần Thơ nói chung, và quý thầy cô thuộc Bộ môn Công nghệ Hóa học, khoa Công Nghệ nói riêng – những thầy cô đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu

- Cô Nguyễn Thị Diệp Chi – giảng viên Bộ môn Hóa, khoa Khoa Học Tự Nhiên, trường Đại học Cần Thơ đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi làm luận văn tốt nghiệp

- Xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Đốc Trung Tâm Kiểm Nghiệm Thuốc, Thực Phẩm, Mỹ Phẩm Thành Phố Cần Thơ đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài này

- Xin cảm ơn cô Lê Thị Cẩm Thúy, chị Đồng Thị Mai Cầm cùng các anh chị phòng Vật Lý - Đo Lường, phòng Dược Lý - Vi Sinh, phòng Hóa đã tận tình giúp

đỡ, tạo điều kiện tốt nhất giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

- Xin cảm ơn cha, mẹ - những người đã sinh thành, nuôi nấng tôi, tạo điều kiện thuận lợi nhất về vật chất lẫn tinh thần để tôi an tâm học tập đến hôm nay

- Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn cùng tập thể lớp Công nghệ Hóa K35 đã động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong đời sống hiện nay, công nghệ thông tin ngày càng phát triển, con người phải thường xuyên tiếp xúc với các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, máy vi tính, … để phục vụ cho công việc, học hành, vui chơi giải trí Đồng thời vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng Tất cả những đều

đó làm xuất hiện nhiều vấn đề về sức khỏe đặc biệt là các bệnh viêm mắt ngày càng trở nên phổ biến nếu không chữa trị kịp thời sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như giảm thị lực nếu nặng hơn sẽ làm mất thị lực Do đó, điều trị các bệnh viêm mắt

Do đó chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài: “ĐÁNH GIÁ CÁC CHỈ TIÊU

CHẤT LƢỢNG CỦA THUỐC NHỎ MẮT CHLORAMPHENICOL” để bước

đầu xác định chất lượng của các loại thuốc nhỏ mắt và có những khuyến cáo đến các cơ quan chức năng có biện pháp bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực sản xuất dược phẩm

MỤC TIÊU CỤ THỂ

Đề tài được thực hiện với các mục tiêu sau:

- Khảo sát một số phương pháp cơ bản để đánh giá các chỉ tiêu chất lượng của thuốc nhỏ mắt chloramphenicol

- Áp dụng vào thực nghiệm đánh giá các chỉ tiêu chất lượng của 3 lô thuốc nhỏ mắt chloramphenicol 0,4 % trên thị trường thành phố Cần Thơ

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ii

LỜI MỞ ĐẦU iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC HÌNH vii

DANH MỤC BẢNG ix

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1

1.1 Giới thiệu một số bệnh về mắt thường gặp 1

1.1.1 Các bệnh thường gặp ở mắt 1

1.1.2 Thuốc nhỏ mắt 5

1.2 Giới thiệu chung về chloramphenicol 7

1.2.1 Tính chất, công thức và danh pháp 7

1.2.2 Dược lực, cơ chế tác dụng, dược động học của thuốc nhỏ mắt chloramphenicol 7

1.2.3 Chỉ định và chống chỉ định 9

1.2.4 Liều dùng 9

1.2.5 Một số loại thuốc nhỏ mắt chứa chloramphenicol trên thị trường 10

1.3 Các phương pháp đánh giá chất lượng của thuốc nhỏ mắt 10

1.3.1 Đánh giá cảm quan 10

1.3.2 Giới hạn cho phép về thể tích 10

1.3.3 Độ pH 11

1.3.4 Độ vô khuẩn 11

1.3.5 Một số phương pháp định tính và định lượng chloramphenicol 15

1.3.6 Giới thiệu phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) 17

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Phương tiện thực hiện 21

2.1.1 Thiết bị và dụng cụ 21

Trang 5

2.1.2 Hóa chất, dung môi 22

2.2 Đối tượng nghiên cứu 23

2.3 Phương pháp nghiên cứu 23

2.4 Quy hoạch thực nghiệm 23

2.5 Thực nghiệm 23

2.5.1 Đánh giá cảm quan 23

2.5.2 Giới hạn cho phép về thể tích 24

2.5.3 Độ pH 24

2.5.4 Độ vô khuẩn 24

2.5.5 Định tính và định lượng chloramphenicol bằng phương pháp sắc ký lỏng cao áp 25

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ BÀN LUẬN 27

3.1 Tính chất E RROR ! B OOKMARK NOT DEFINED 3.2 Giới hạn thể tích cho phép 27

3.3 Độ pH 29

3.4 Độ vô khuẩn 30

3.5 Định tính 33

3.6 Định lượng 34

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 37

4.1 Kết luận 37

4.2 Kiến nghị 37

PHỤ LỤC 39

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Bệnh viêm kết mạc cấp 1

Hình 1.2 Bệnh đau mắt hột 3

Hình 1.3 Bệnh zona mắt 4

Hình 1.4 Công thức cấu tạo chloramphenicol 7

Hình 1.5 Một số thuốc nhỏ mắt chứa hoạt chất chloramphenicol 10

Hình 1.6 Sơ đồ máy HPLC 18

Hình 2.1 Máy HPLC L2000 21

Hình 2.2 Máy đo pH 211 21

Hình 2.3 Cân điện tử 22

Hình 2.4 Bể siêu âm 22

Hình 2.5 Máy cất nước siêu sạch 22

Hình 2.6 Thiết bị lọc áp suất thấp 22

Hình 2.7 Chất chuẩn 23

Hình 3.1 Biểu đồ thể hiện giới hạn cho phép về thể tích của 3 lô chế phẩm 28 Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện độ pH của 3 lô chế phẩm 30

Hình 3.3 Kết quả thử vô khuẩn trong môi trường thioglycolat của lô 1 31

Hình 3.4 Kết quả thử vô khuẩn trong môi trường thioglycolat của lô 2 31

Hình 3.5 Kết quả thử vô khuẩn trong môi trường thioglycolat của lô 3 31

Hình 3.6 Kết quả thử vô khuẩn trong môi trường casein lỏng của lô 1 32

Hình 3.7 Kết quả thử vô khuẩn trong môi trường casein lỏng của lô 2 32

Hình 3.8 Kết quả thử vô khuẩn trong môi trường casein lỏng của lô 3 32

Hình 3.9 Kết quả chạy HPLC của mẫu chuẩn 33

Trang 7

Hình 3.10 Kết quả chạy HPLC của mẫu thử 34 Hình 3.11 Biểu đồ thể hiện hàm lượng chloramphenicol trong 3 lô chế phẩm 36

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Giới hạn cho phép chênh lệch (%) về thể tích của các thuốc dạng

lỏng 11

Bảng 1.2 Số lượng tối thiểu của đơn vị đóng gói cho vào môi trường 14

Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra cảm quan bằng mắt thường 27

Bảng 3.2 Kết quả đo thể tích của 3 lô chế phẩm 28

Bảng 3.3 Kết quả đo pH của 3 lô chế phẩm 29

Bảng 3.4 Kết quả thử vô khuẩn 33

Bảng 3.5 Thời gian lưu của hoạt chất chloramphenicol chế phẩm so với chuẩn 34

Bảng 3.6 Kết quả hàm lượng chloramphenicol trong thuốc nhỏ mắt ở các lô

35

Trang 9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1Giới thiệu một số bệnh về mắt thường gặp 1.1.1 Các bệnh thường gặp ở mắt

1.1.1.1 Bệnh viêm kết mạc cấp [8][9][10]

Hình 1.1 Bệnh viêm kết mạc cấp

Viêm kết mạc cấp là tình trạng nhiễm trùng mắt hay còn gọi là đau mắt đỏ

Bệnh thường khởi phát đột ngột (cấp tính), lúc đầu ở một mắt sau lây sang mắt kia

Viêm kết mạc dễ lây lan và có thể gây thành dịch Khi một người trong gia đình mắc bệnh có thể lây cho cả nhà rồi lây lan ra cả cộng đồng, nhất là những nơi tập trung đông người như cơ quan, trường học … Bệnh thường kéo dài vài ngày, có thể đến vài tuần

Tỷ lệ viêm kết mạc cấp chiếm khoảng 0,03–1,10% trong toàn bộ dân số trên thế giới, nhưng trong môi trường có sự tiếp xúc gần gũi giữa người có bệnh và ngưới không có bệnh như công sở, trường học thì tỷ lệ này tăng đột biến từ 10-32%

Thời gian ủ bệnh viêm kết mạc có thể từ 1 đến 2 tuần và thời gian người bệnh

có thể lây sang người lành là từ 2 tuần trở lên

Trang 10

Nguyên nhân:

Có nhiều nguyên nhân gây viêm kết mạc cấp như nhiễm khuẩn tụ cầu, liên cầu, trực khuẩn, tạp khuẩn, ký sinh trùng; Các tác nhân vật lý: gió, bụi, ánh sáng, sức nóng, tia X; các tác nhân hóa học: acid,kiềm, cồn, iod … nhưng thường gặp

nhất và dễ tạo thành các đợt lây lan nhất là viêm kết mạc cấp tính do virus Adeno

gây ra Loại virus này gồm 47 chủng huyết thanh khác nhau, chia làm 6 nhóm nhỏ

ký hiệu bằng chữ cái từ A đến F Các chủng này được tìm thấy khắp mọi nơi trên thế giới, gây ra các bệnh cho đường hô hấp trên và cho mắt

Đường lây lan bệnh có thể do tiếp xúc trực tiếp với các chất tiết ra từ mắt thông qua khăn rửa mặt, quần áo, nước bể bơi hoặc lây qua tay người bệnh với người chưa mắc bệnh Hơn nữa, trong môi trường bệnh viện, bác sĩ hoặc nhân viên

y tế khám bệnh cho bệnh nhân có thể vô tình lây lan virus gây bệnh qua các trang thiết bị khám bệnh

Dấu hiệu nhận biết:

Khi bị viêm kết mạc cấp người bệnh thường xuất hiện các triệu chứng mắt đỏ, cộm mắt như có cát trong mắt, chói mắt, chảy nước mắt, vào buổi sáng khi mới ngủ dậy mắt có nhiều ghèn Bên cạnh đó mi mắt có thể bị sưng và xung huyết, ở giai đoạn này thị lực vẫn chưa bị giảm Một số dấu hiệu khác xuất hiện tương tự như bệnh cúm do virus, người bệnh bị sốt nhẹ 37oC - 38oC, viêm đường hô hấp trên:

ngứa họng, ho, hắt hơi, sưng hạch dưới hàm hoặc hạch trước tai

Giai đoạn tổn thương giác mạc là giai đoạn bệnh nghiêm trọng nhất mắt bị kích thích chói, chảy nước mắt, co quắp mi, thị lực giảm tùy mức độ tổn thương trên giác mạc, tổn thương trên biểu mô giác mạc dạng chấm, thâm nhiễm dưới biểu

mô Cá biệt có trường hợp trợt giác mạc rộng

Cách phòng trị:

Người bệnh cần có chế độ nghỉ ngơi hợp lý, tránh tiếp xúc gần gũi với mọi người xung quanh, sử dụng đồ dùng cá nhân riêng Khi có dấu hiệu của bệnh nên đi

khám ngay, để được chuẩn đoán xác định, điều trị đúng và kịp thời

Sử dụng thuốc tra mắt dạng nước khi bị bệnh:

- Nước mắt nhân tạo, dinh dưỡng kết - giác mạc, số lần tra mắt 8 đến 10 lần/ngày;

Trang 11

- Kháng sinh tra mắt như chloramphenicol 0,4%, tobramycine 0,3%, số lần từ

2 đến 4 lần/ngày;

- Bổ sung vitamin C theo đường uống hoặc uống nước cam, nước chanh;

Chú ý: không điều trị theo các phương pháp phản khoa học như đắp lá, xông nước lá trầu không Các phương pháp này dễ gây nhiễm khuẩn cho mắt và gây bỏng

mắt do sức nóng, làm cho tính chất bệnh càng phức tạp, khó điều trị hơn

1.1.1.2 Bệnh đau mắt hột [11]

Hình 1.2 Bệnh đau mắt hột

Đau mắt hột là một dạng viêm kết mạc lây lan mãn tính Tác nhân gây bệnh là

vi khuẩn Clamydia Trachomatis nhóm A, B, Ba và C

Bệnh thường xuất hiện ở những địa phương nghèo, chậm tiến tại châu Phi, Nam Á, Đông Nam Á và Trung Quốc

Đau mắt hột có thể khỏi tự nhiên hay phát triển gây tình trạng sẹo hóa kết mạc, dẫn đến những biến chứng quặm và lông xiêu

Nguyên nhân:

Tác nhân gây đau mắt hột là vi khuẩn Clamydia Trachomatis Bệnh xuất hiện

ở khắp mọi nơi trên thế giới đặc biệt ở những nước nghèo, kém phát triển Bệnh lây truyền chủ yếu do dùng tay bẩn sờ vào mắt, sử dụng nước bẩn trong sinh hoạt, đặc biệt là thói quen tắm ao và sử dụng nước ao hồ trong sinh hoạt ở các vùng nông thôn Bên cạnh đó việc sử dụng chung khăn mặt, thau rửa mặt cũng rất dễ gây ra bệnh đau mắt hột

Trang 12

Dấu hiệu nhận biết:

Biểu hiện của đau mắt hột rất đa dạng, đa hình, có thể từ rất nhẹ, không có triệu chứng gì cả đến những trường hợp bệnh nặng nề, kéo dài dai dẳng, nhiều biến chứng nguy hiểm và có thể dẫn đến mù lòa Thông thường khi bị bệnh đau mắt hột bệnh nhân sẽ có những triệu chứng xốn mắt, vướng mắt như có hạt bụi trong mắt, ngứa mắt, hay mỏi mắt, thường là lúc về chiều

Cách phòng trị:

Khi mắc bệnh người bệnh cần sử dụng thuốc nhỏ mắt, uống thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ Một số loại thuốc thường sử dụng hiện nay để điều trị đau mắt hột là Pomade tetracycline 1% tra mắt vào ban đêm trong 5 đến 10 ngày liền mỗi tháng kéo dài từ 6 tháng đến 1 năm Đối với trường hợp bị các biến chứng nặng như lông xiêu, lông quặm cần phải phẫu thuật để xử lý các biến chứng này

1.1.1.3 Bệnh zona mắt [12][13]

Hình 1.3 Bệnh zona mắt

Siêu khuẩn zona thường gây bệnh gọi là bệnh giời leo chiếm khoảng 20% dân

số trên thế giới trong đó zona ở mắt chiếm khoảng 11% Là một bệnh nhiễm siêu khuẩn cấp tính của hạch rễ thần kinh lưng, siêu khuẩn trú ngụ trong cơ thể dưới dạng bất hoạt hay ở trạng thái ngủ

Nguyên nhân:

Bệnh dễ bùng phát ở người lớn tuổi, người suy giảm miễm dịch, hoặc dùng thuốc ức chế miễn dịch, người bị nhiễm HIV-AIDS, ung thư, những người dùng các thuốc loại corticoid lâu ngày hoặc từng bị nhiễm virus thủy đậu lúc nhỏ thường dễ

bị zona sau này

Trang 13

Dấu hiệu nhận biết:

Những bệnh nhân có tổn thương zona ở vùng thần kinh sinh ba, chủ yếu ở

nhánh mắt (nhánh I) gọi là zona mắt, thường gặp nhiễm Varicella-Zoster ở mi mắt

và bờ mi với những tổn thương mụn nước

Các mụn này chỉ xuất hiện ở một bên cơ thể, phát triển thành từng nhóm nhỏ, trong có nước được gọi là những mụn nước, sau đó vỡ ra để lại sẹo vảy, kéo dài khoảng vài tuần

Trong những trường hợp nặng, mụn nước có thể để lại những vết sẹo vĩnh viễn, đau nhức hoặc có thể hơi tê và làm nhạt màu da

Điển hình là các triệu chứng đau nửa bên mặt và các tổn thương ở trán, vùng quanh nhãn cầu và mũi Có thể có biến chứng viêm giác mạc, viêm giác mạc nhu

mô, thậm chí loét giác mạc, viêm mống mắt, teo mống mắt, viêm thượng củng mạc… Một số trong các biến chứng này có tiềm năng gây mù

Cách phòng trị:

Điều trị triệu chứng giảm bỏng rát và đau gồm:

Đắp gạc lạnh, dùng thuốc chống viêm, thuốc chống virus, thuốc nhỏ kháng sinh chống bội nhiễm, thuốc dinh dưỡng bề mặt (nước mắt nhân tạo)

Liệu pháp kháng virus đường uống (acyclovir 800 mg) làm giảm các biến chứng mắt muộn từ khoảng 50% xuống còn từ 20-30%

Zona là một bệnh không lây, tuy nhiên người chưa từng bị thủy đậu hay chưa được chủng ngừa có thể bị thủy đậu khi tiếp xúc với người bệnh zona, đặc biệt người dễ nhiễm như trẻ em, phụ nữ có thai và những người có hệ miễn dịch yếu Có

thể dùng vaccin kháng Varicella-Zoster như zostavax Khi bệnh cần điều trị tích

cực, kịp thời để giảm nguy cơ bị những biến chứng nặng có thể đe dọa đến thị lực

Những bệnh nhân bị zona mắt nên được bác sĩ nhãn khoa có kinh nghiệm về xử trí các bệnh lý giác mạc thăm khám và đánh giá

1.1.2 Thuốc nhỏ mắt [1]

1.1.2.1 Định nghĩa

Thuốc nhỏ mắt là dung dịch nước, dung dịch dầu hoặc hỗn dịch vô khuẩn của một hay nhiều hoạt chất, dùng để nhỏ vào mắt Chế phẩm cũng có thể được bào chế dưới dạng bột khô (bột, bột đông khô, viên nén) vô khuẩn, được hòa tan hoặc phân tán vào một chất lỏng vô khuẩn thích hợp khi dùng

Trang 14

1.1.2.2 Yêu cầu chung

Thuốc nhỏ mắt phải được pha chế - sản xuất trong điều kiện vô khuẩn Các dụng cụ, thiết bị và đồ đựng dùng trong pha chế - sản xuất phải sạch và vô khuẩn

Dung môi để pha thuốc nhỏ mắt thường là nước tinh khiết hoặc các dung dịch nước thích hợp hoặc là dầu thực vật trung tính đạt tiêu chuẩn để pha thuốc tiêm

Trong thành phần của thuốc nhỏ mắt có thể có thêm các tá dược, để điều chỉnh

độ đẳng trương, độ nhớt, điều chỉnh hay ổn định độ pH của chế phẩm, tăng độ tan

và độ ổn định của hoạt chất, nhưng không được ảnh hưởng xấu đến tác dụng của thuốc và không gây kích ứng đối với mắt ở nồng độ sử dụng trong chế phẩm

Những chế phẩm thuốc nhỏ mắt được đóng nhiều liều trong một đơn vị đóng gói phải cho thêm chất sát khuẩn với nồng độ thích hợp, trừ khi tự chế phẩm có đủ tính chất tự sát khuẩn Chất sát khuẩn phải không tương kị với các thành phần khác

có trong chế phẩm và phải duy trì được hiệu quả sát khuẩn trong thời gian sử dụng chế phẩm kể từ lần mở nắp đầu tiên

Không được thêm chất sát khuẩn hoặc chất chống oxy hóa vào thuốc nhỏ mắt dùng cho phẫu thuật ở mắt Các thuốc nhỏ mắt này phải pha chế - sản xuất trong điều kiện vô khuẩn và đóng gói một liều

Không được cho thêm chất màu vào thuốc nhỏ mắt chỉ với mục đích nhuộm màu chế phẩm

Đồ đựng thuốc nhỏ mắt phải có đủ độ trong cần thiết để kiểm tra được bằng mắt độ trong của dung dịch hay độ đồng nhất của hỗn dịch nhỏ mắt chứa trong đó

Đồ đựng thuốc nhỏ mắt phải vô khuẩn và không có tương tác về mặt vật lý hay hóa học với thuốc Đồ đựng thuốc nhỏ mắt phải đáp ứng các yêu cầu nêu trong Phụ lục 17.3.3 (DĐVN IV) Đồ đựng thuốc nhỏ mắt chứa nhiều liều phải có bộ phận nhỏ giọt thích hợp, thể tích mỗi đơn vị đóng gói không nên vượt quá 10 ml

Ghi nhãn: Nhãn thuốc nhỏ mắt phải ghi theo quy chế Nhãn phải ghi tên chất sát khuẩn có trong chế phẩm Đối với đơn vị đóng gói nhiều liều, trên nhãn phải ghi rõ thời hạn sử dụng tính từ khi thuốc được sử dụng lần đầu, sau thời gian đó thuốc còn lại phải bỏ đi, thường không quá 4 tuần, trừ khi có chỉ dẫn khác

Trang 15

1.2 Giới thiệu chung về chloramphenicol 1.2.1 Tính chất, công thức và danh pháp [1][7]

- Công thức cấu tạo của chloramphenicol:

Hình 1.4.Công thức cấu tạo chloramphenicol

- Khối lượng phân tử: 323,1

- Danh pháp:

2,2-dicloro-N-[(1R,2R)-2-hydroxy-1-(hydroxymethyl)-2-(4-nitrophenyl)ethyl]

- Tên biệt dược: Chloramphenicol 0,4%; Beoxid 1%; chloramphenicol

1.2.3 Dƣợc lực, cơ chế tác dụng, dƣợc động học của thuốc nhỏ mắt chloramphenicol [7]

1.2.3.1 Dược lực, cơ chế tác dụng

 Dược lực:

Chlormphenicol là kháng sinh được phân lập từ Streptomyces venezuelae, nay

được sản xuất bằng phương pháp tổng hợp

Trang 16

Chloramphenicol cũng có thể ức chế tổng hợp protein ở những tế bào tăng sinh nhanh của động vật có vú

Chloramphenicol có thể gây ức chế tủy xương và có thể không hồi phục được

Chloramphenicol có hoạt tính ức chế miễn dịch nếu cho dùng toàn thân trước khi kháng nguyên kích thích cơ thể, tuy vậy đáp ứng kháng thể có thể không bị ảnh hưởng đáng kể khi dùng chloramphenicol sau kháng nguyên

Thuốc không có tác dụng với Escherichia coli, Shigella flexneri, Enterobacter

spp., Staphylococcus aureus, Salmonella typhi, Streptococcus pneumoniae và ít tác

dụng đối với nấm

1.2.3.2 Dược động học

- Hấp thu: Chloramphenicol được hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa

Chloramphenicol palmitat thủy phân trong đường tiêu hóa và được hấp thu dưới dạng chloramphenicol tự do

Sau khi dùng tại chỗ ở mắt, chloramphenicol được hấp thu vào thủy dịch

- Phân bố: Chloramphenicol được phân bố rộng khắp trong phần lớn mô cơ thể kể cả nước bọt, dịch cổ trướng, dịch màng phổi, hoạt dịch, thủy dịch và dịch kính Nồng độ thuốc cao nhất trong gan và thận Chloramphenicol gắn kết với khoảng 60% protein huyết tương

- Chuyển hóa: Chloramphenicol bị khử hoạt chủ yếu ở gan do glucuronyl transferase

- Thải trừ: Khoảng 68-99% một liều uống chlormphenicol thải trừ trong nước tiểu trong 3 ngày, 5-15% liều này thải trừ dưới dạng không đổi trong nước tiểu qua lọc cầu thận và phần còn lại thải trừ qua ống thận dưới dạng những chất chuyển hóa không hoạt tính

Trang 17

1.2.4 Chỉ định và chống chỉ định

1.2.4.1 Chỉ định

Nhiễm trùng phần trước của mắt, mí và lệ đạo Phòng ngừa nhiễm trùng trước

và sau mổ, bỏng hóa chất và các loại bỏng khác Mắt hột và zona mắt Bơm rửa hệ thống dẫn lưu nước mắt với mục đích điều trị hay phòng ngừa

1.2.4.2 Chống chỉ định

Quá mẫn cảm với thành phần thuốc, rối loạn chuyển hóa porphyrin cấp từng cơn, suy gan nặng, bệnh về máu nặng do tủy xương, trẻ sơ sinh, tiền sử gia đình có suy tủy xương

Nếu bệnh cấp tính có thể nhỏ mỗi giờ 1 giọt Hiện nay vẫn chưa có khuyến cáo khi

sử dụng chloramphenicol cho trẻ em

Nếu sử dụng thuốc quá liều có thể gây ra một số biến chứng như thiếu máu, nhiễm toan chuyển hóa, hạ thân nhiệt và hạ huyết áp

Trang 18

1.2.6 Một số loại thuốc nhỏ mắt chứa chloramphenicol trên thị trường

Hình 1.5 Một số thuốc nhỏ mắt chứa hoạt chất chloramphenicol

1.3 Các phương pháp đánh giá chất lượng của thuốc nhỏ mắt

Hiện nay có nhiều tiêu chuẩn đánh giá các chỉ tiêu của thuốc nhỏ mắt, theo DĐVN IV thì việc đánh giá chất lượng của thuốc nhỏ mắt được tiến hành theo các tiêu chuẩn như sau:

Trừ thuốc tiêm đơn liều và các loại thuốc có qui định đặc biệt, các thuốc dạng lỏng có giới hạn cho phép về thể tích ghi trong bảng 1.1

Trang 19

Bảng 1.1 Giới hạn cho phép chênh lệch (%) về thể tích của các thuốc dạng lỏng.

Loại thuốc Thể tích ghi trên

nhãn Giới hạn cho phép Thuốc tiêm đa liều, thuốc

tiêm truyền

Tới 50 ml Trên 50 ml

+ 10%

+ 5%

Thuốc dạng lỏng để uống (Dung dịch, Hỗn dịch, Nhũ dịch, Rượu

Tới 20 ml Trên 20 ml đến 50 ml Trên 50 ml đến 150 ml Trên 150 ml

+ 10%

+ 8%

+ 6%

Thuốc nhỏ mắt, thuốc nhỏ mũi, thuốc nhỏ tai

Thuốc dùng ngoài Mọi thể tích + 10%

1.3.3 Độ pH [1][3]

Thuốc nhỏ mắt chloramphenicol 0,4 % có pH từ 7 đến 7,5 (Phụ lục 6.2 DĐVN IV)

Thông thường phép đo được thực hiện bằng máy đo pH Tất cả các phép đo đều cần phải tiến hành trong cùng một điều kiện nhiệt độ khoảng từ 20oC đến 25o

C, trừ những trường hợp có quy định khác trong chuyên luận riêng

1.3.4 Độ vô khuẩn [1][3]

Đây là một tiêu chuẩn rất quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người sử dụng Theo phụ lục 13.7 (DĐVN IV) thì độ vô khuẩn được kiểm tra như sau

Kỹ thuật này được áp dụng nhằm phát hiện sự có mặt của vi khuẩn, nấm trong các nguyên liệu, chế phẩm, dụng cụ mà theo tiêu chuẩn riêng cần phải vô khuẩn

Thử vô khuẩn phải được tiến hành trong điều kiện vô khuẩn như trong buồng thổi

Trang 20

khí vô khuẩn hoặc trong buồng sạch để mẫu thử không bị ô nhiễm Trong quá trình thử, mẫu không được tiếp xúc với các tác nhân có ảnh hưởng đến vi khuẩn, nấm (như tia tử ngoại, chất sát khuẩn, nhiệt độ cao…) Các dụng cụ, dung môi, môi trường nuôi cấy phải được tiệt khuẩn trước khi dùng

Nguyên tắc: Nếu vi khuẩn, nấm được cấy vào môi trường dinh dưỡng và

nước, được giữ ở điều kiện nhiệt độ thích hợp thì chúng sẽ phát triển Sự có mặt của

vi sinh vật làm cho môi trường biến đổi trạng thái từ trong sang đục, hoặc có lắng cặn ở đáy môi trường, hoặc thay đổi màu sắc môi trường

Chọn một trong hai phương pháp thử thường dùng là phương pháp màng lọc hoặc phương pháp cấy trực tiếp Khi tiến hành thử phải làm sạch bề ngoài của ống (hoặc chai, lọ, bình…) đựng chế phẩm bằng một chất sát khuẩn thích hợp Sau đó, lấy một lượng chế phẩm đủ dùng theo qui định, cấy trực tiếp vào môi trường (nếu phương pháp cấy trực tiếp) hoặc đem chế phẩm sau khi đã được hòa loãng với dung môi thích hợp lọc qua màng lọc, cắt các màng lọc thành miếng nhỏ, nhúng vào môi trường (nếu theo phương pháp màng lọc) Ủ môi trường đã cấy chế phẩm hoặc cấy màng lọc trong thời gian qui định

Chuẩn bị môi trường và dung môi:

Để kiểm tra độ vô khuẩn, người ta thường sử dụng hai loại môi trường là: Môi trường thioglycolat (để phát hiện vi khuẩn hiếu khí và kị khí) và Môi trường

Soybean-casein (để phát hiện vi khuẩn hiếu khí và nấm)

Cả hai môi trường trên phải được pha chế và kiểm tra chất lượng theo đúng qui định ở mục “Cách pha chế và kiểm tra chất lượng các môi trường” trước khi dùng

Dung môi dùng để hòa loãng:

Khi những mẫu thử không ở dạng dung dịch lỏng, cần hòa loãng để thử nghiệm Chất lỏng được dùng làm dung môi hòa loãng phải không có tính kháng khuẩn và không tác động đến độ xốp của màng lọc Thường dùng các dung môi sau đây:

Dung môi A: Hòa tan 1,0 g peptone vào nước cho vừa đủ 1 lít Lọc (hoặc ly tâm) cho trong Điều chỉnh pH bằng 7,1 ± 0,2 Đựng vào nhiều bình, mỗi bình khoảng 100 ml Hấp ở 121oC trong 15 phút

Dung môi B: Như dung môi A, nhưng thêm 1,0 ml polysorbat 80 cho 1 lít dung môi, dùng để hòa loãng những chế phẩm thử có chứa lecithin

Trang 21

Dung môi C: Isopropyl myristat Dùng để pha loãng những chế phẩm dạng dầu hay dung dịch dầu

Tiến hành thử theo phương pháp màng lọc

Dụng cụ

Các dụng cụ dùng trong thí nghiệm phải đảm bảo vô khuẩn gồm:

Các ống nghiệm hoặc các bình đựng môi trường

Bộ lọc gồm có: Phễu lọc, giá đỡ màng lọc, bình hứng và các phụ kiện để ghép nối; hệ thống hút chân không

Màng lọc: Thường dùng loại có đường kính lỗ lọc khoảng 0,2 µm Loại màng

lọc nitrat được dùng cho các chế phẩm dạng nước, dạng dầu và các dung dịch cồn thấp độ Loại màng lọc cenlulose acetate được dùng cho các chế phẩm cồn cao độ

Đặc biệt đối với các chế phẩm kháng sinh cần phải chọn loại màng lọc thích hợp đảm bảo không còn dư lượng kháng sinh trên màng sau khi lọc

Kéo cắt màng lọc

Lượng mẫu cần dùng cho một lần thử nghiệm Tùy theo từng loại mẫu thử, lấy số lượng thích hợp theo qui định ở bảng 1.2

Trang 22

Bảng 1.2 Số lượng tối thiểu của đơn vị đóng gói cho vào môi trường.

Số lượng trong một đơn vị đóng gói

Số lượng tối thiểu cho vào môi trường

- Toàn bộ đơn vị đóng gói

- ½ đơn vị đóng gói nhưng không dưới 1 ml

- 20 ml

- 10% đơnvị đóng gói nhưng không dưới 20 ml Chất lỏng kháng sinh 1 ml

Các chế phẩm khác tan trong nước hoặc isopropyl myristat

Lấy lượng tương ứng với ít nhất 200 mg thuốc

Chế phẩm không tan, chế phẩm dạng kem, mỡ phải phân tán thành nhũ dịch

Lấy lượng tương ứng với ít nhất 200 mg thuốc

- Toàn bộ đơn vị đóng gói

- ½ đơn vị đóng gói nhưng không dưới 50 mg

- 150 mg

- 500 mg Dụng cụ:

- Chỉ khâu phẫu thuật và chỉ khâu dùng trong thú y

- Băng, bông, gạc phẫu thuật được đóng gói kín

- Chỉ khâu phẫu thuật và các dụng

cụ khác được đóng gói dùng một lần

- Các dụng cụ y tế khác

- 3 sợi (mỗi sợi dài 30 cm)

- 100 mg mỗi gói

- Toàn bộ đơn vị đóng gói

- Toàn bộ dụng cụ, cắt nhỏ dụng cụ hoặc tháo rời dụng cụ ra

Tiến hành thử theo phương pháp cấy trực tiếp

Dụng cụ

Các dụng cụ dùng cho thử nghiệm đều phải đảm bảo vô khuẩn mới được sử dụng vào thử nghiệm Dụng cụ dùng cho phương pháp cấy trực tiếp gồm: Bơm tiêm, pipet, các ống nghiệm hoặc các bình đựng môi trường

Lượng chế phẩm cần dùng để thử nghiệm:

Trang 23

Tùy theo từng loại mẫu thử, lấy lượng chế phẩm thích hợp theo qui định ở bảng 1.2

1.3.5 Một số phương pháp định tính và định lượng chloramphenicol 1.3.6 Một số phương pháp định tính chloramphenicol [1]

Lấy một thể tích dung dịch chứa chloramphenicol vào bình lắng gạn, thêm nước Chiết 4 lần với ether dầu Gộp các dịch chiết rồi để bay hơi đến khô Cắn thu được phải đáp ứng các phép thử sau:

1.3.6.1 Phương pháp định tính bằng sắc ký lớp mỏng

Thực hiện trên bản mỏng Silicagel GF245

Dung môi triển khai: Cloroform – methanol – nước (90:10:1) Dung dịch thử: lấy cắn thu được pha thành dung dịch chloramphenicol khoảng 1% trong ethanol

Dung dịch đối chiếu: Dung dịch 1% chất chuẩn chloramphenicol trong ethanol

Cách tiến hành:

Chấm riêng biệt dung dịch chuẩn và dung dịch mẫu trên lên bản mỏng

Triển khai sắc ký đến khi dung môi đi được khoảng 15 cm

Lấy bản sắc ký ra và để khô ngoài không khí

Quan sát dưới ánh sáng đèn tử ngoại ở bước sóng 254 nm Trên sắc ký đồ vết chính của dung dịch thử phải có giá trị Rf tương ứng với dung dịch chuẩn đối chiếu

1.3.6.1.1 Phương pháp so màu

Nguyên tắc:

Phương pháp này dựa vào phản ứng khử của nhóm nitro trong phân tử chloramphenicol thành nhóm amino Chất này sau khi diazo hóa sẽ phản ứng với N-(1-naptyl)etylendiamin thành một chất màu đỏ

Tiến hành:

Hòa tan cắn thu được trong ethanol 50% (TT), thêm dung dịch sulfuric acid 1M, bột kẽm để yên 10 phút, gạn lớp chất lỏng ở trên hoặc lọc nếu cần thiết Làm lạnh dung dịch thu được trong nước đá, thêm dung dịch natri nitrit 10%, sau 2 phút

Trang 24

thêm ure, dung dịch 2-naphtol trong kiềm và dung dịch natri hydroxyd 10 M, màu

1.3.6.2 Một số phương pháp định lượng chloramphenicol l [1]

1.3.6.2.1 Phương pháp quang phổ UV-VIS Phương pháp này dùng để định lượng nguyên liệu chloramphenicol

Lấy chính xác một thể tích chế phẩm có chứa chloramphenicol pha loãng với nước Lấy dung dịch này cho vào bình định mức, thêm nước vừa đủ đến vạch Lắc

kỹ và đo độ hấp phụ của dung dịch thu được ở bước sóng cực đại 278 nm, cốc đo dày 1 cm, dùng nước làm mẫu trắng Tính hàm lượng chloramphenicol theo A (1%,

1 cm) Lấy 297 là giá trị (1%, 1 cm) của chloramphenicol ở cực đại 278 nm

1.3.6.2.2 Phương pháp tạo phức và đo trên máy quang phổ VIS

UV-Phần lớn phương pháp này đều dựa trên phản ứng khử của nhóm nitro trong phân tử chloramphenicol thành nhóm amino

- Chất này sau khi diazo hóa sẽ phản ứng với N-(1-naptyl)etylendiamin

thành một chất màu đỏ mà cường độ màu được đo ở vùng 500 – 555

nm

- Tác nhân được dùng trong phản ứng khử chloramphenicol có thể là thiếc

(II) clorua, bột kẽm hay titan (III) clorua

Có thể dùng phản ứng của nhóm nitro với dimethylformamit khi có mặt của tetramethylamonium hydroxyd và acetone để định lượng chloramphenicol Thêm acetone làm xúc tác cho phản ứng sao cho ngay màu đỏ với cực đại hấp thụ ở 520nm sau khi thêm thuốc thử, nếu không có acetone làm xúc tác thì phản ứng diễn

ra rất chậm và cho một màu giữa lục và lục lam Nhưng chỉ nên cho vừa đủ acetone

để tránh tạo sản phẩm màu vàng của phản ứng dimethylformamit

Ngoài ra còn nhiều phản ứng khác có thể dùng để định lượng chloramphenicol:

Trang 25

- Phản ứng thủy phân và oxy hóa chloramphenicol tạo thành

p-nitrobenzadehyde Chất này phản ứng với 2,4-dinitrophenylhydrazine tạo hydrazon có màu

- Phản ứng thủy phân chloramphenicol thành

1(p-nitrophenyl)-2-aminopropan-1,3-diol, chất này sau khi cho phản ứng với 1,2-naphto quinon-4-sulfonate có thêm acetic acid và ascorbic acid sẽ cho một màu vàng với độ hấp phụ cực đại ở 440 nm

- Chloramphenicol cũng cho sản phẩm có màu đỏ có thể định lượng bằng

quang phổ với piric acid hay 3,5-dinitrosalicylic acid

Tất cả các phương pháp định lượng bằng sắc ký đều dựa trên nguyên tắc: nồng

độ của chất tỷ lệ với chiều cao hoặc diện tích peak của nó

1.3.7 Giới thiệu phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) [2][4][5][6]

HPLC là chữ viết tắt của 4 chữ cái đầu bằng tiếng Anh của phương pháp sắc

ký lỏng hiệu năng cao (High Performance Liquid Chromatography) phương pháp này ra đời từ năm 1967 – 1968 trên cơ sở phát triển và cải tiến từ phương pháp sắc

ký cột cổ điển

Sắc ký lỏng hiệu năng cao là một phương pháp tách hóa lý dựa vào ái lực khác nhau của các chất khác nhau với hai pha luôn tiếp xúc và không trộn lẫn, một pha động và một pha tĩnh Trong đó pha động là chất lỏng chảy qua cột với một tốc độ nhất định, pha tĩnh chứa trong cột là chất rắn đã được phân chia dưới dạng tiểu phân hoặc một chất lỏng phủ lên một chất mang rắn, hay một chất mang đã được biến đổi bằng liên kết hóa học với các nhóm chức hữu cơ Quá trình sắc ký lỏng dựa trên cơ chế hấp phụ, phân bố, trao đổi ion hay phân loại theo kích cỡ (rây phân tử)

Trang 26

Nguyên tắc

Hình 1.6 Sơ đồ máy HPLC

Sắc ký lỏng là phương pháp tách sắc ký các chất dựa trên sự phân bố khác nhau của chúng giữa hai pha không trộn lẫn, trong đó pha động là một chất lỏng chảy qua pha tĩnh chứa trong cột

Sắc ký lỏng được tiến hành chủ yếu dựa trên cơ chế hấp phụ, phân bố khối lượng, trao đổi ion, loại trừ theo kích thước hoặc tương tác hóa học lập thể

Thiết bị

Thiết bị bao gồm một hệ thống bơm, bộ phận tiêm mẫu, cột sắc ký (bộ phận điều khiển nhiệt độ có thể được sử dụng nếu cần thiết), detector và một hệ thống thu

dữ liệu (hay một máy tích phân hoặc một máy ghi đồ thị) Pha động được cung cấp

từ một hoặc vài bình chứa và chảy qua cột, thông thường với tốc độ không đổi và sau đó chạy qua detector

Hệ thống bơm

Hệ thống bơm trong sắc ký lỏng phải giữ cho pha động luôn chảy với một lưu lượng không đổi Những biến đổi áp suất sẽ được giảm thiểu, ví dụ cho dung môi chạy qua một thiết bị giảm xung Ống dẫn và ống nối phải là loại chịu được áp suất sinh ra do hệ thống bơm Các bơm có thể được lắp với thiết bị loại bỏ bọt khí

Trang 27

Hệ thống điều khiển bằng bộ vi xử lý có khả năng cung cấp pha động hoặc hằng định (rửa giải đẳng dòng) hoặc thay đổi tỷ lệ thành phần (rửa giải gradient) theo một chương trình xác định.Trong trường hợp rửa giải gradient, hệ thống bơm lấy các dung môi từ một vài bình chứa và các dung môi có thể được trộn lẫn ở áp suất thấp hoặc áp suất cao

Bộ phận tiêm mẫu

Dung dịch mẫu thử được đưa vào dòng pha động hoặc vào vị trí gần đầu hoặc đầu cột nhờ một bộ phận tiêm mẫu có khả năng hoạt động ở áp suất cao Có thể dùng vòng chứa mẫu thử, có thể tích cố định hoặc thiết bị có thể tích thay đổi, có thể vận hành bằng tay hoặc tự động Khi tiêm mẫu bằng tay có thể gây ra sai số do thể tích tiêm vào vòng chứa mẫu không đủ

Cột sắc ký

Cột chứa pha tĩnh, nó là một yếu tố quyết định hiệu quả sự tách sắc ký của một hỗn hợp chất mẫu, Cột được làm bằng thép không gỉ trừ khi có chỉ dẫn khác trong chuyên luận riêng, có chiều dài và đường kính trong () khác nhau được sử dụng cho phân tích sắc ký, chiều dài cột thường từ 10-30 cm, đường kính trong từ 4-10

mm, cỡ hạt pha tĩnh từ 3-10m Thường dùng cột dài 15 cm, 25 cm, đường kính trong 4,6 mm, cỡ hạt 5m

Cột với đường kính trong nhỏ hơn 2 mm thường được coi là vi cột Hiện nay, trong các sắc ký lỏng siêu hiệu năng (UPLC) có cột dài 5-10 cm, đường kính trong 1-4,6 mm, cỡ hạt 1,7m

Ở đầu cột sắc ký lỏng thường gắn cột bảo vệ: giữ lại phần bẩn từ dung môi, bảo vệ cột phân tích

Nhiệt độ của pha động và cột phải được giữ ổn định trong suốt thời gian phân tích Phần lớn quá trình tách được thực hiện ở nhiệt độ phòng, nhưng cột có thể được làm nóng nhằm thu được hiệu quả cao hơn Tuy nhiên thông thường nhiệt độ cột không được phép vượt quá 60oC vì khả năng phân hủy của pha tĩnh hoặc sự thay đổi thành phần của pha động có thể xảy ra

Detector

Detector hấp thụ tử ngoại/ khả kiến gồm cả detector chuỗi diod là được sử dụng phổ biến nhất Detector huỳnh quang, detector khúc xạ vi sai, detector điện hóa, detector khối phổ, detector tán xạ ánh sáng, detector phổ phát xạ hoặc các loại detector đặc biệt khác cũng có thể được sử dụng

Trang 28

Hệ thống ghi nhận tín hiệu, xử lý số liệu và điều khiển hệ thống

Có nhiều loại, nhưng đơn giản và phổ biến nhất là các máy tự ghi (recorder)

để ghi nhận tín hiệu đo dưới dạng các peak của các chất, rồi đến bộ tích phân kế (intergrater), chúng được kết nối với máy tính và máy in để xử lý và xuất kết quả

Phương pháp tiến hành

Làm cân bằng cột với pha động và tốc độ dòng theo quy định, ở nhiệt độ phòng hoặc nhiệt độ quy định trong chuyên luận riêng, cho đến khi đường nền ổn định Chuẩn bị các dung dịch chuẩn và dung dịch thử theo yêu cầu các dung dịch phải không được có các tiểu phân rắn

Trang 29

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

- Thiết bị cất nước siêu sạch

- Giấy lọc và đầu lọc kích thước lỗ 0,45µm

- Màng lọc vi khuẩn 0,2 µm

- Bơm tiêm

- Bình định mức, pipet, ống đong đạt cấp độ chính xác loại A

Hình 2.1 Máy HPLC L2000 Hình 2.2 Máy đo pH

Trang 30

Hình 2.3 Cân điện tử Hình 2.4 Bể siêu âm

Hình 2.5 Máy cất nước siêu sạch Hình 2.6 Thiết bị lọc áp suất thấp

2.1.2 Hóa chất, dung môi

- Nước siêu sạch

- Acetonitril (Hãng Merck dùng cho HPLC)

- Methanol (Hãng Merck dùng cho HPLC)

- Kali dihydro phosphate

- Môi trường thioglycolat

- Môi trường Soybean-casein

Ngày đăng: 12/10/2017, 00:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w