Bên cạnh đó cũng có rất nhiều vấn đề về môi trường cần được quan tâm, các đơn vị sản xuất trong KCN chưa có hệ thống xử lý chất thải hoặc chất lượng nước thải ra môi trường chưa đạt mức
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA CÔNG NGHỆ - -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
KHẢO SÁT MỘT SỐ THÔNG SỐ CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT Ở RẠCH SANG TRẮNG 1, ĐOẠN TỪ CẦU SANG TRẮNG 1 ĐẾN VÀM SANG TRẮNG
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN
ThS Nguyễn Thị Diệp Chi Phạm Thu Hương MSSV: 2082178 ThS Lưu Tấn Tài Nguyễn Kiều Xuân MSSV: 2082207
Cần Thơ, 04/2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHOA CÔNG NGHỆ Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ HÓA HỌC -
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2012
PHIẾU ĐỀ NGHỊ ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP
1 Cán bộ hướng dẫn: Th.s Nguyễn Thị Diệp Chi
2 Tên đề tài: “Khảo sát một số thông số chất lượng nước mặt ở rạch Sang Trắng 1,
đoạn từ cầu Sang Trắng 1 đến vàm Sang Trắng”
3 Địa điểm thực hiện:
+ Phòng Thí nghiệm Môi trường thuộc Trung tâm Quan Trắc Tài Nguyên
+ Phòng Thí nghiệm Hóa phân tích thuộc Bộ môn Hóa học, Khoa Khoa Học
Tự Nhiên, Trường Đại học Cần Thơ
4 Sinh viên thực hiện:
Phạm Thu Hương MSSV: 2082178 Nguyễn Kiều Xuân MSSV: 2082207
6 Nội dung chính của đề tài:
Đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt tại rạch Sang Trắng 1 quận Bình Thủy thành phố Cần Thơ
Khảo sát nồng độ một số thông số nước mặt tại rạch Sang Trắng 1, gồm có pH,
DO, Tổng chất rắn lơ lửng (TSS), COD, BOD5 20oC, Amoni (N-NH4+), Photphat (P-PO 3-)
Trang 3Thu mẫu 3 đợt, mỗi đợt: ở mỗi đợt thu mẫu, tại mỗi điểm thu mẫu khi nước
ròng thu 02 mẫu và nước lớn thu 02 mẫu Do đó, số lượng mẫu thu là: (4 điểm x 4 mẫu/ ngày)/ đợt x 3 đợt = 48 mẫu
Phương pháp thu thập số liệu: số liệu thu thập từ kết quả đo nhanh ngoài hiện trường kết hợp với phân tích trong phòng thí nghiệm Số liệu phân tích mẫu sau khi thu thập được xử lý bằng chương trình Microsolf Excel và vẽ đồ thị
Phỏng vấn các hộ dân sống xung quanh khu vực nghiên cứu
7 Kinh phí dự trù cho việc thực hiện đề tài: 800.000 VNĐ
Cán bộ hướng dẫn Sinh viên đề nghị
Th.s Nguyễn Thị Diệp Chi Phạm Thu Hương Nguyễn Kiều Xuân
Duyệt của Bộ môn Duyệt của HĐLV & TLTN
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHOA CÔNG NGHỆ Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ HÓA HỌC -
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2012
NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
1 Cán bộ hướng dẫn: Th.s Nguyễn Thị Diệp Chi
2 Tên đề tài: “Khảo sát một số thông số chất lượng nước mặt ở rạch Sang Trắng 1,
đoạn từ cầu Sang Trắng 1 đến vàm Sang Trắng”
3 Sinh viên thực hiện:
Phạm Thu Hương MSSV: 2082178 Nguyễn Kiều Xuân MSSV: 2082207
4 Lớp: Công Nghệ Hóa Học Khóa: 34
b Nhận xét về nội dung của LVTN (đề nghị ghi chi tiết và đầy đủ):
* Đánh giá nội dung thực hiện của đề tài:
Trang 5c Nhận xét đối với từng sinh viên tham gia thực hiện đề tài (ghi rõ từng nội dung chính do sinh viên nào chịu trách nhiệm thự hiện nếu có):
d Kết luận, đề nghị và điểm:
Cần Thơ, ngày tháng năm 2012
Cán bộ hướng dẫn
Th.s Nguyễn Thị Diệp Chi
Trang 6TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHOA CÔNG NGHỆ Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ HÓA HỌC -
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2012
NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN
1 Cán bộ phản biện:
2 Tên đề tài: “Khảo sát một số thông số chất lượng nước mặt ở rạch Sang Trắng 1,
đoạn từ cầu Sang Trắng 1 đến vàm Sang Trắng”
3 Sinh viên thực hiện:
Phạm Thu Hương MSSV: 2082178 Nguyễn Kiều Xuân MSSV: 2082207
4 Lớp: Công Nghệ Hóa Học Khóa: 34
b Nhận xét về nội dung của LVTN (đề nghị ghi chi tiết và đầy đủ):
* Đánh giá nội dung thực hiện của đề tài:
Trang 7c Nhận xét đối với từng sinh viên tham gia thực hiện đề tài (ghi rõ từng nội dung chính do sinh viên nào chịu trách nhiệm thự hiện nếu có):
d Kết luận, đề nghị và điểm:
Cần Thơ, ngày tháng năm 2012
Cán bộ phản biện
Trang 8LỜI CÁM ƠN
Lời đầu tiên, con xin ghi nhớ mãi công ơn cha mẹ đã sinh thành, nuôi nấng, dạy dỗ con nên người, tạo mọi điều kiện cho con được đến trường để theo đuổi việc học đến hôm nay và luôn dành cho con mọi điều tốt đẹp nhất
Qua đây em xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong Khoa Công nghệ - Đại học Cần Thơ, và đặc biệt là là quý Thầy, Cô trong Bộ môn Công nghệ Hóa, suốt bốn năm đã truyền đạt cho em nhiều kiến thức bổ ích, những hành trang quý báu để
em bước vào đời
Và em xin chân thành cảm ơn Cô Nguyễn Thị Diệp Chi, Bộ môn Hóa học - Khoa Khoa học - Tự nhiên, người đã truyền dạy cho em nhiều kiến thức quý báu, và cũng là người đã chỉ dạy hướng dẫn, giúp đỡ tận tình và luôn ủng hộ em từ ngày mới nhận đề tài luận văn này đến ngày hoàn thành đề tài
Em xin chân thành cảm ơn các Anh, chị ở phòng Thí nghiệm của Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường Cần Thơ, đặc biệt là ThS Lưu Tấn Tài, Phó Giám đốc Trung tâm đã hướng dẫn, chỉ bảo em tận tình, tạo mọi điều kiện thuận lợi trong những ngày em làm luận văn tại Trung tâm, và cũng là người truyền đạt nhiều kiến thức quý báu, những kinh nghiệm thực tiễn, luôn khích lệ và động viên em trong suốt quá trình làm luận văn
Nhân đây em xin cám ơn Ban lãnh đạo Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường Cần Thơ đã tạo điều kiện cho em thực tập tại đơn vị, giúp em có thêm nhiều kiến thức thực tế và khẳng định lại những kiến thức lý thuyết đã được học ở nhà trường Qua quá trình thực tập đã giúp em tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu cho công việc sau này của mình
Em cũng xin cảm ơn tập thể lớp Công nghệ Hóa học khóa 34 luôn ủng hộ em trong suốt quá trình học tập và trong suốt thời gian làm luận văn
Sinh viên thực hiện
Phạm Thu Hương Nguyễn Kiều Xuân
Trang 9TÓM LƯỢC
Đề tài “Khảo sát một số thông số chất lượng nước mặt ở rạch Sang Trắng
1, đoạn từ cầu Sang Trắng 1 đến vàm Sang Trắng” được thực hiện với mục tiêu
đánh giá chất lượng nguồn nước mặt rạch Sang Trắng 1 phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của các hộ dân sống kế cận KCN, nhằm bảo vệ nguồn nước và đảm bảo sức khỏe người dân
Kết quả nghiên cứu đề tài cho thấy nguồn nước mặt đoạn khảo sát đã bị ô nhiễm hơn so với vàm Sang Trắng (lưu vực tiếp giáp với sông Hậu) và đáng báo động Nguồn nước mặt tại khu vực khảo sát không còn thích hợp dùng làm nguồn nước cấp cho sinh hoạt, nguồn nước đã vượt tiêu chuẩn nước mặt QCVN 08:2008/BTNMT cột A1 rất nhiều lần với các giá trị cụ thể: pH dao động trong khoảng 6,4 – 7,2, nồng độ oxy hòa tan dao động từ 0,05 – 6,82 mg/L, nhu cầu oxy hóa học trong khoảng 19,2 – 60,8 mg/L, nhu cầu oxy sinh học từ 14 – 45 mg/L, hàm lượng N-NH4+ dao động từ 0,182 – 2,812 mg/L, và P-PO43- từ 0,434 – 2,577 mg/L Nồng độ các chất ô nhiễm bị ảnh hưởng rất đáng kể bởi con nước lớn ròng, chúng có khuynh hướng giảm lúc nước lớn và tăng cao vào lúc nước ròng
Qua kết quả phỏng vấn các hộ dân nơi nghiên cứu đề tài cho thấy khoảng 87% các hộ dân nơi đây thải nước thải sinh hoạt trực tiếp xuống kênh rạch, 3% đổ tràn trên mặt đất và chỉ có 10% là thải vào cống Rác thải được người dân xử lý bằng nhiều phương pháp: đốt (23%), chôn lấp (30%), được công ty chất thải đô thị thu gom (10%), còn lại 37% là được thải trực tiếp xuống sông Ý thức sử dụng nhà
vệ sinh hợp lí chưa cao, chỉ có 17% hộ dân có hầm tự hoại, đa số là dội nước (63%)
và sử dụng cầu cá (17%) Và hầu hết tất cả người dân nơi đây không sử dụng nước sông mà sử dụng nước máy, chỉ có 3% hộ dân nơi đây sử dụng nước giếng khoan rồi lắng phèn Được sự phản ánh của người dân nơi đây đều cho rằng từ khi KCN Trà Nóc 1 được đưa vào hoạt động thì tình trạng nước ngày càng xấu đi và mùi hôi, bụi ngày càng tăng cao
Theo ghi nhận của chúng tôi thì số hộ dân sống dọc bờ sông có chăn nuôi vịt, heo và thải nước thải trực tiếp xuống sông, còn có những bãi rác do người dân đổ cặp bờ sông gây ảnh hưởng đến môi trường Và một điều nữa là cống thải của KCN thải trực tiếp ra sông, màu nước rất đen và có mùi hôi
Trang 10MỤC LỤC
Phiếu đề nghị đề tài tốt nghiệp Nhận xét và đánh giá của Cán Bộ hướng dẫn Nhận xét và đánh giá của Cán Bộ phản biện
Lời cám ơn ii
Tóm lược iii
Mục lục iv
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Danh mục từ viết tắt x
Chương I MỞ ĐẦU 1
Chương II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
2.1 Tổng quan về môi trường nước 2
2.2 Hiện trạng về chất lượng nước sông ở Việt Nam và TP Cần Thơ 5
2.2.1 Hiện trạng về chất lượng nước sông ở Việt Nam 5
2.2.2 Hiện trạng về chất lượng nước sông ở TP Cần Thơ 8
2.3 Khái quát về ô nhiễm nước 10
2.3.1 Định nghĩa ô nhiễm nước 10
2.3.2 Các nguồn gây ô nhiễm 10
2.3.3 Tác nhân gây ô nhiễm 13
2.3.4 Ảnh hưởng của sự ô nhiễm nguồn nước 14
2.3.5 Khả năng tự làm sạch của nguồn nước 17
2.4 Các thông số khảo sát chất lượng nước 19
2.4.1 pH 19
2.4.2 Lượng oxy hòa tan (DO) 19
2.4.3 Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) 20
2.4.4 Nhu cầu oxy hóa học (COD) 20
Trang 112.4.5 Nhu cầu oxy sinh học (BOD5 200C) 20
2.4.6 Amoni (N-NH4+) 21
2.4.7 Phosphate (P-PO43-) 21
2.5 Tổng quan khu vực nghiên cứu 22
2.5.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên phường Trà Nóc 22
2.5.2 Điều kiện kinh tế-xã hội phường Trà Nóc 22
2.5.3 Khu vực nghiên cứu 24
Chương III PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Phương tiện nghiên cứu 25
3.1.1 Dụng cụ và hóa chất 25
3.1.2 Thiết bị thí nghiệm 25
3.2 Phương pháp đánh giá kết quả 27
3.2.1 Phương pháp xử lý số liệu 27
3.2.2 Phương pháp đánh giá 27
3.3 Phương pháp nghiên cứu 27
3.3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 28
3.3.2 Phương pháp thu mẫu, bảo quản mẫu 31
3.3 Phương pháp phân tích 32
Chương IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42
4.1 Kết quả phân tích một số chỉ tiêu 42
4.1.1 pH 42
4.1.2 Lượng oxy hòa tan (DO) 44
4.1.3 Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) 46
4.1.4 Nhu cầu oxy hóa học (COD) 48
4.1.5 Nhu cầu oxy sinh học (BOD5 200C) 51
4.1.6 Amoni (N-NH4+) 53
4.1.7 Phosphate (P-PO43-) 56
Trang 124.2 Hiện trạng sử dụng nước và điều kiện vệ sinh môi trường tại vùng
nghiên cứu 57
4.2.1 Một số hoạt động ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước của người dân 57
4.2.2 Tình hình sử dụng nước sinh hoạt của hộ dân ở rạch Sang Trắng 1 59
4.2.3 Hiện trạng bảo vệ môi trường của người dân 60
Chương V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
5.1 Kết luận 65
5.2 Kiến nghị 66
Tài liệu tham khảo 67
Phụ lục 69
Phụ lục 1 69
Phụ lục 2 71
Phụ lục 3 73
Phụ lục 4 79
Trang 13DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Nước trong sinh quyển 3
Bảng 2.2 Tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt tại một số rạch ở TP Cần Thơ năm 2007 9
Bảng 2.3 Số ca mắc bệnh và tử vong liên quan đến ô nhiễm nước từ 1990 – 2003 15
Bảng 2.4 Một số bệnh ở người do nước bị ô nhiễm gây nên 16
Bảng 4.1 Giá tri pH qua 3 đợt thu mẫu 42
Bảng 4.2 Kết quả phân tích thống kê pH qua 3 đợt thu mẫu 43
Bảng 4.3 Giá trị DO (mg/L) qua 3 đợt thu mẫu 44
Bảng 4.4 Kết quả phân tích thống kê DO qua 3 đợt thu mẫu 46
Bảng 4.5 Giá trị của TSS (mg/L) qua 3 đợt thu mẫu 47
Bảng 4.6 Kết quả phân tích thống kê TSS qua 3 đợt thu mẫu 48
Bảng 4.7 Giá trị COD (mg/L) qua 3 đợt thu mẫu 49
Bảng 4.8 Kết quả phân tích thống kê COD qua 3 đợt thu mẫu 50
Bảng 4.9 Giá trị của BOD5 (mg/L) qua 3 đợt thu mẫu 51
Bảng 4.10 Kết quả phân tích thống kê BOD5 qua 3 đợt thu mẫu 53
Bảng 4.11 Giá trị của Amoni (N-NH4+) (mg/L) qua 3 đợt thu mẫu 54
Bảng 4.12 Kết quả phân tích thống kê N-NH4+ qua 3 đợt thu mẫu 55
Bảng 4.13 Giá trị thu được qua 3 đợt của P-PO43- 56
Bảng 4.14 Kết quả phân tích thống kê P-PO43- qua 3 đợt thu mẫu 57
Trang 14DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 7
Hình 3.1 Máy đo pH 26
Hình 3.2 Máy đo DO 26
Hình 3.3 Tủ BOD5 26
Hình 3.4 Tủ hút 26
Hình 3.5 Máy đo độ hấp thụ quang DR4000U 26
Hình 3.6 Các điểm thu mẫu nước trên rạch Sang Trắng 1 28
Hình 3.7 Vị trí thu mẫu ST 1 29
Hình 3.8 Vị trí thu mẫu ST 2 29
Hình 3.9 Vị trí thu mẫu ST 3 30
Hình 3.10 Vị trí thu mẫu ST 4 30
Hình 3.11 Đồ thị biểu diễn phương trình đường chuẩn của phosphate 38
Hình 3.12 Đồ thị biểu diễn phương trình đường chuẩn của Amoni 40
Hình 4.1 Giá trị pH giữa các điểm thu qua 3 đợt 43
Hình 4.2 Giá trị DO tại các vị trí qua 3 đợt thu mẫu 45
Hình 4.3 Giá trị của TSS qua 3 đợt thu mẫu 47
Hình 4.4 Giá trị COD qua 3 đợt thu mẫu 49
Hình 4.5 Giá trị BOD5 qua 3 đợt thu mẫu 52
Hình 4.6 Giá trị N-NH4+ qua 3 đợt thu mẫu 54
Hình 4.7 Giá trị của P-PO43- qua 3 đợt thu mẫu 56
Hình 4.8 Bông cặn nổi trên mặt nước ở rạch Sang Trắng 1 58
Hình 4.9 Biểu đồ tình hình sử dụng nước sinh hoạt của hộ dân tại rạch Sang Trắng 59
Hình 4.10 Tình trạng nước ở rạch Sang Trắng 1 60
Hình 4.11 Biểu đồ phương pháp xử lí nước thải của người dân 61
Hình 4.12 Rác thải bỏ xung quanh nhà 62
Trang 15Hình 4.13 Biểu đồ tình hình sử dụng nhà vệ sinh của hộ dân 63 Hình 4.14 Cầu ao cá 63
Trang 16DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
QCVN: Quy chuẩn Việt Nam
BTNMT: Bộ Tài Nguyên Môi Trường
KCN: Khu Công Ngiệp
BOD5: biochemical oxygen demand (nhu cầu oxy sinh học trong 5 ngày)
TSS: Total suspended solids (tổng chất rắn lơ lửng)
FAS: ferrous ammonium sulfate
Trang 17CHƯƠNG I
MỞ ĐẦU
Trong xu hướng phát triển kinh tế - xã hội trên toàn thế giới, Việt Nam cũng đang từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để hội nhập với kinh tế thế giới Vấn đề phát triển ngành công nghiệp của nước ta đang là một trong những chính sách hàng đầu Cùng với sự phát triển đó, vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với hệ thống sông ngòi chằng chịt nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các khu công nghiệp tập trung, đặc biệt là thành phố Cần Thơ nằm ở trung tâm vùng ĐBSCL, là trung tâm kinh tế, văn hóa của toàn vùng Với các điều kiện thuận lợi nên trong những năm gần đây tốc độ phát triển ngành công nghiệp ở Cần Thơ tăng rất nhanh, thu hút rất nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đến sản xuất, kinh doanh tại các khu công nghiệp (KCN) Bên cạnh đó cũng có rất nhiều vấn đề về môi trường cần được quan tâm, các đơn vị sản xuất trong KCN chưa có
hệ thống xử lý chất thải hoặc chất lượng nước thải ra môi trường chưa đạt mức quy định và các KCN chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, xả thải trực tiếp ra kênh rạch nên làm cho môi trường nước mặt khu vực lân cận KCN ngày càng bị ô nhiễm
KCN Trà Nóc 1 được đưa vào hoạt động từ năm 1994 nhưng cho đến nay vẫn chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung theo quy định Nước thải của các đơn vị sản xuất trong KCN Trà Nóc 1 được thải trực tiếp vào các kênh rạch kế cận trong
đó có rạch Sang Trắng 1 Đây là rạch nằm tiếp giáp giữa KCN Trà Nóc 1 và khu vực dân cư, và cũng là nơi tiếp nhận nước thải trực tiếp từ các cống thải của khu công nghiệp, nên ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến người dân là rất lớn Do đó,
đề tài “Khảo sát một số thông số chất lượng nước mặt ở rạch Sang Trắng 1, đoạn
từ cầu Sang Trắng 1 đến vàm Sang Trắng” được thực hiện với mục tiêu đánh giá
chất lượng nguồn nước mặt rạch Sang Trắng 1 phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của các hộ dân sống kế cận KCN là rất cần thiết, nhằm bảo vệ nguồn nước và đảm bảo sức khỏe người dân Mục tiêu chi tiết của đề tài là:
- Khảo sát nồng độ một số thông số nước mặt tại rạch Sang Trắng 1, gồm có
pH, DO, Tổng chất rắn lơ lửng (TSS), COD, BOD5 20oC, Amoni (N-NH4+), Phosphate (P-PO43-)
- Đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt ở khu vực nghiên cứu theo Quy chuẩn Việt Nam (QCVN 08:2008/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt)
Trang 18CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về môi trường nước[7], [8], [9], [10], [16], [18]
Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước; mặt khác nước cũng có thể gây ra tai họa cho con người và môi trường
Nước là yếu tố chủ yếu của hệ sinh thái, là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên trái đất và cần cho các hoạt động kinh tế - xã hội của loài người Cùng với các dạng tài nguyên thiên nhiên khác, tài nguyên nước là một trong bốn nguồn lực cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội Các nguồn nước hầu hết là tài nguyên tái tạo, nằm trong chu trình tuần hoàn của nước dưới các dạng: mây, mưa, trong các vật thể chứa nước: sông, suối, đầm, ao hồ,… nước dưới đất có áp và không có áp, ở tầng nông hay tầng sâu của đất đá và nước ở các vùng biển và đại dương thế giới Mặc
dù lượng nước trên trái đất là khổng lồ, song lượng nước ngọt cho phép con người
sử dụng chỉ chiếm một phần rất nhỏ bé Hơn nữa, sự phân bố của các nguồn nước ngọt lại không đều theo không gian và thời gian càng khiến cho nước trở thành một dạng tài nguyên đặc biệt cần phải được bảo vệ Khoảng 97% tổng lượng nước trên trái đất tồn tại dưới dạng nước mặn trong các đại dương Nước ngọt chỉ chiếm 3%, hơn nữa 75% lượng nước ngọt này lại nằm dưới dạng rắn ở các lớp băng tại các cực của trái đất Trong số chưa đầy 1% còn lại thì ít nhất 90% tồn tại dưới dạng nước dưới đất, chỉ còn rất nhỏ bé tồn tại trong các thể nước mặt: hồ, sông, … Phần tồn tại dạng hơi nước là nhỏ bé, phần này tích trữ, vận chuyển và phân phối nước ngọt và nhiệt
Theo quan điểm của người Babylon, người Ai Cập, Ấn Độ và Ba Tư cổ thì
“mọi sự sống đều có nguồn gốc từ nước”, nước là cội nguồn của mọi sự tồn tại
Phần lớn các nhà nghiên cứu cho rằng môi trường để phát sinh sự sống trên trái đất
là các vùng biển ấm áp mà trong đó lúc đầu xuất hiện các hợp chất hữu cơ phức tạp Từ đó, trong những điều kiện khác nhau, những hợp chất đó dần dần biến thành những chất vô cơ hòa tan, một phần khác sẽ tạo nên các cơ thể sống ngày càng phức tạp và cao cấp hơn Ngoài ra, hơi nước trong khí quyển cùng một số
“khí nhà kính” đã quyết định lên thế cân bằng nhiệt của trái đất vì nó có khả năng
cho tia tới của mặt trời đi qua và giữ lại một phần đáng kể các tia phản xạ
Bảng 2.1 Nước trong sinh quyển
Trang 19Nơi chứa V (1.000km 3 ) % của tổng số Thời gian đổi mới
Đại dương 1.370.000,0 97,61 3- 100 năm Băng ở cực và núi cao 29.000,0 2,08 16.000 năm Nước ngầm 4.000,0 0,29 300 năm Nước hồ 125,0 0,009 1- 100 năm Các hồ nước mặn 104,0 0,008 10- 1.000 năm
Độ ẩm của đất 67,0 0,005 280 ngày Các dòng sông 1,2 0,00009 20- 120 ngày Hơi nước trong thủy quyển 14,0 0,0009 9 ngày Nước đóng vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của sự sống
Nước là thành phần quan trọng của tế bào, và là môi trường của các quá trình sinh hóa cơ bản Trong cơ thể con người nước tham gia vào quá trình chuyển hóa các chất, điều hòa thân nhiệt, vận chuyển và cung cấp các yếu tố cần thiết cho cơ thể
Đồng thời, giúp cơ thể lọc sạch và đào thải các chất độc, chất bã bên trong cơ thể ra ngoài
Nước không những cần cho sự sống của mọi sinh vật mà còn là nhân tố quyết định sự phát triển nền văn minh của xã hội loài người Đối với từng vùng hoặc một quốc gia riêng biệt thì nó là một trong những yếu tố chủ yếu quyết định sự phân bố của lực lượng sản xuất Do đó, các quốc gia đều xem trọng việc bảo vệ và sử dụng hợp lí tài nguyên nước
Nước là nhu cầu thiết yếu cho mọi sinh vật Nếu không có nước thì sẽ không
có sự sống trên trái đất Tuy nhiên, ngày nay với sự phát triển công nghiệp, đô thị
và sự gia tăng dân số đã làm cho nguồn nước tự nhiên bị hao kiệt và ô nhiễm dần
Vì thế, con người phải biết quản lý bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước để đảm bảo số lượng, chất lượng cho mọi nhu cầu tồn tại và phát triển của chính mình
Nước mặt là khái niệm chung chỉ các nguồn nước trên mặt đất, bao gồm ở các dạng động (chảy) như sông, suối, kênh rạch và dạng tĩnh hoặc chảy chậm như ao,
hồ, đầm, phá… Nước mặt có nguồn gốc chính là nước chảy tràn do mưa hoặc có
Trang 20thể từ nước ngầm chảy ra do áp suất cao hay dư thừa độ ẩm trong đất cũng như dư thừa số lượng trong các tầng nước ngầm
Cũng như các nguồn nước tự nhiên khác, thành phần và chất lượng nước mặt chịu ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, nguồn gốc xuất xứ, các điều kiện xung quanh và cả các tác động của con người khi khai thác và sử dụng nguồn nước
Nước dùng cho sinh hoạt, trong công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ… sau khi được
sử dụng đều trở thành nước thải bị ô nhiễm với các mức độ khác nhau và được đưa trở lại các nguồn nước, nếu không xử lý thì sẽ làm ô nhiễm môi trường Hơn nữa, hàng năm nạn chặt phá rừng trên toàn cầu rất lớn làm cho lớp thực vật che phủ đất
bị suy giảm, lượng nước ngọt càng dễ bay hơi và mực nước ngầm bị hạ xuống
Như vậy, lượng nước ngọt từ các ao hồ, sông ngòi và một phần nước ngầm bị cạn kiệt dần và chất lượng nước cũng bị suy giảm Thông thường trong nước mặt có thể tìm thấy các thành phần sau:
- Các chất hòa tan dưới dạng ion và phân tử, có nguồn gốc vô cơ hoặc hữu
Khi lập kế hoạch khai thác, đánh giá môi trường nước cho một vùng hoặc một lưu vực cần phải đánh giá đầy đủ ba loại đặc trưng của tài nguyên nước:
- Số lượng: là đặc trưng biểu thị độ phong phú của tài nguyên nước trên một vùng lãnh thổ
- Chất lượng nước: bao gồm các đặc trưng về hàm lượng của các chất hòa tan hoặc không hòa tan trong nước (có lợi hoặc gây hại theo tiêu chuẩn của đối tượng
Trang 212.2 Hiện trạng về chất lượng nước sông ở Việt Nam và TP Cần Thơ
2.2.1 Hiện trạng về chất lượng nước sông ở Việt Nam [3], [20]
Tại nước ta, do áp lực của quá trình gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa nên việc sử dụng nước ngày càng tăng cao Trong khi đó, quá trình
xử lý nước chưa đạt hiệu quả và vấn đề xử lý còn lỏng lẻo, thiếu đồng bộ Vì vậy, chất lượng nước tại nhiều thủy vực, nhiều con sông đang xuống cấp nghiêm trọng, nhiều nơi ô nhiễm cục bộ và trong tình trạng đáng báo động
Hiện nay, nước ta có khoảng 2.360 con sông, kênh lớn nhỏ với tổng chiều dài khoảng 41.900 km Dọc theo bờ biển từ Bắc vào Nam thì cứ khoảng 23 km lại
có một cửa sông Các sông lớn của nước ta bắt nguồn từ nước ngoài, chỉ có phần trung lưu và hạ lưu chảy trên địa phận Việt Nam
Theo số liệu thống kê, tổng trữ lượng nước mặt của Việt Nam đạt khoảng hơn
830 - 840 tỷ m3, trong đó hơn 60% lượng nước được sản sinh từ nước ngoài (Cục Quản lý tài nguyên nước, 2010) Tình trạng suy kiệt nguồn nước trong hệ thống sông, hồ chứa trên cả nước đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng Nguyên nhân chủ yếu là do khai thác quá mức tài nguyên nước ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
Theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế về tài nguyên nước, ngưỡng khai thác được phép giới hạn trong phạm vi 30% lượng dòng chảy Thực tế hiện nay, hầu hết các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên đã và đang khai thác trên 50% lượng dòng chảy Riêng tại các tỉnh Ninh Thuận, hiện các dòng chảy đã bị khai thác tới 70 - 80% Việc khai thác nguồn nước đã làm suy thoái nghiêm trọng về số lượng và chất lượng tài nguyên nước trên các lưu vực sông lớn của Việt Nam như sông Hồng, Thái Bình và sông Đồng Nai
Bên cạnh đó, do Việt Nam nằm ở hạ nguồn nên hơn 60% lưu lượng nước phụ thuộc vào thượng nguồn nằm bên ngoài biên giới Việt Nam Những năm gần đây,
do các nước vùng thượng nguồn xây dựng các công trình khai thác, phát triển thủy năng với quy mô lớn khiến nguồn nước chảy vào Việt Nam ngày càng cạn kiệt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các khu vực phụ thuộc mạnh vào nguồn nước trên Cụ thể sông Cửu Long phụ thuộc 95% nguồn nước quốc tế, trong khi đây là vùng sử dụng nhiều nước nhất, tỉ lệ lưu trữ nhỏ nhất, mật độ dân số cao nhất và có số hộ nghèo cao thứ hai trong cả nước Lưu vực sông Hồng - Thái Bình phụ thuộc đến 40%
nước sông từ Trung Quốc chảy về, trong khi lượng nước bình quân đầu người thấp, mật độ dân số và số hộ nghèo cũng cao
Trang 22Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, ở Việt Nam mùa mưa và lưu lượng mưa đang có xu hướng diễn biến thất thường nên hạn hán hoặc ngập cục bộ xảy ra thường xuyên và trên diện rộng hơn Sự suy kiệt và diễn biến bất thường của các nguồn tài nguyên nước phản ánh thực tế Việt Nam đã và đang đứng trước nguy cơ thiếu nước về mùa khô, lũ lụt về mùa mưa gây nhiều thiệt hại về người và của trên nhiều vùng Vài năm gần đây mùa mưa thường kết thúc sớm và đến muộn gây hạn hán tại nhiều vùng trên cả nước Đặc biệt việc cạn kiệt nguồn nước thể hiện rõ nhất trong năm 2010, khi các vùng Đồng Bằng sông Hồng, miền Trung, Tây Nguyên và ĐBSCL đều gặp hạn
Đối với các lưu vực sông, ô nhiễm chất hữu cơ đã và đang xảy ra ở nhiều đoạn sông, tập trung ở các vùng trung lưu và hạ lưu Có nơi ô nhiễm đã ở mức nghiêm trọng, điển hình như vấn đề ô nhiễm nước tại khu vực hạ lưu các sông và các hệ thống hồ ao, kênh mương và các sông nhỏ trong khu vựa nội thành, nội thị
Tuy nhiên, mức độ ô nhiễm còn phụ thuộc vào yếu tố thủy văn của dòng chảy
Mức độ ô nhiễm cũng tăng cao vào mùa khô khi lưu lượng nước đổ về các sông giảm Ngoài ra, mức độ ô nhiễm nước còn phụ thuộc vào hiệu quả kiểm soát các nguồn thải đổ vào nguồn nước Thực tế hiện nay, do các nguồn thải đổ vào lưu vực sông hầu như chưa dược kiểm soát làm cho vấn đề ô nhiễm nước mặt đang ngày càng trở nên nghiêm trọng
Nhìn chung, các đoạn sông chảy qua các đô thị, khu vực tập trung các hoạt động sản xuất công nghiệp, khai khoáng sau khi tiếp nhận nước thải chưa qua xử lí của các đô thị và của các cơ sở sản xuất thì chất lượng nước thường giảm sút đáng
kể Theo kết quả quan trắc của hệ thống sông chính trên cả nước nhiều chất ô nhiễm nghiêm trọng có nồng độ vượt quá chuẩn cho phép, dao động từ 1,5 – 3 lần Tình trạng ô nhiễm này đã kéo dài trong nhiều năm, gây ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của dân cư và làm mất mỹ quan các khu vực
Hiện nay hầu hết các hồ, ao, kênh rạch và các sông trong lưu vực nội thành các thành phố đều bị ô nhiễm nghiêm trọng vượt quá mức quy chuẩn cho phép, nhiều nơi đã trở thành kênh nước thải Vấn đề ô nhiễm chủ yếu là ô nhiễm hữu cơ, nhiều hồ trong nội thành bị phú dưỡng, nước hồ có màu đen và bốc mùi hôi, gây mất mỹ quan đô thị Kết quả quan trắc cho thấy một số nơi các thông số còn vượt QCVN 08:2008/BTNMT loại B2
Trang 23Hình 2.1 Cống thoát nước thải của Khu công nghiệp Trà Nóc tuôn thẳng ra sông
Tại khu vực phía Nam, nơi tập trung với khối lượng lớn các KCN, các cơ sở sản xuất tình trạng ô nhiễm nước sông cũng rất nghiêm trọng, nhiều dòng sông đã
và đang kêu cứu, trong đó có nhiều đoạn trở thành dòng sông chết, gây thiệt hại rất lớn về mặt kinh tế cũng như sức khỏe của người dân Theo kết quả nghiên cứu của Phó Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn – Chi cục Bảo Vệ Môi Trường TP HCM, cho thấy chất lượng nước sông Sài Gòn đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép Nguyên nhân chủ yếu gây ra hậu quả trên là do việc xả nước thải từ các hoạt động của các nhà máy trên địa bàn
Như vậy, chúng ta nhận thấy rằng các dòng sông ở Việt Nam đang ngày càng
bị ô nhiễm nghiêm trọng và có xu hướng ngày càng gia tăng do việc xả nước thải của các cơ sở sản xuất công nghiệp và sự thiếu ý thức của một bộ phận người dân
Nếu chúng ta không có giải pháp quản lý và xử lý triệt để thì hậu quả sẽ rất khó tưởng Vì vậy, cần có quá trình quản lý chặt chẽ hơn của các cơ quan chức năng
Trang 24cũng như việc tôn trọng về pháp luật của các chủ cơ sở sản xuất cũng như hoạt động của những người dân để đảm bảo chất lượng nước tại các con sông
2.2.2 Hiện trạng về chất lượng nước sông ở TP Cần Thơ [5], [6]
Thành phố Cần Thơ nằm tại trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long, bên bờ Tây sông Hậu và giữa một mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, cách biển Đông 75 km, cách thủ đô Hà Nội 1.877 km và cách thành phố Hồ Chí Minh 169 km
về phía Bắc (theo đường bộ) Với điều kiện thuận lợi về hệ thống sông ngòi, kênh, rạch đã tạo cho TP Cần Thơ có một nét riêng về phát triển kinh tế – xã hội Thành phố Cần Thơ có tổng diện tích tự nhiên là: 140.096,9 ha, diện tích nội thị khoảng 5.300 ha Thành phố Cần Thơ không có biển Đất vẫn còn sử dụng cho sản xuất nông nghiệp chiếm khoảng 81%, đất chuyên dùng 13%, đất thổ cư 4% tính trên tổng diện tích
Những năm qua, đi cùng tốc độ đô thị hóa, sự phát triển của các khu công nghiệp (KCN) đã mang lại cho TP.Cần Thơ những giá trị nhất định về kinh tế - xã hội Thế nhưng, mục tiêu phát triển kinh tế chưa gắn với bảo vệ môi trường đã và đang từng ngày, từng giờ làm cho tình trạng ô nhiễm môi trường ở đô thị trung tâm miền Tây Nam Bộ đến hồi báo động
Tình trạng ô nhiễm nước mặt ở các kênh rạch thuộc TP Cần thơ đang diễn biến một cách nhanh chóng do áp lực của việc gia tăng dân số, gia tăng các KCN, các đô thị đã và đang mọc lên hàng ngày để đáp ứng nhu cầu của người dân trong thời đại công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước hiện nay, song song với đó là các dịch vụ du lich – giải trí ngày càng phát triển đa dạng và phong phú Hiện nay, chất thải sinh hoạt, các chất thải từ động vật, chất thải từ chợ, bệnh viện, các KCN
thải trực tiếp xuống sông làm cho nguồn nước mặt ở đây bị ô nhiễm hữu cơ và vi sinh rất nghiêm trọng
Theo kết quả báo cáo của sở Khoa học Công Nghệ Môi Trường Cần Thơ năm 1997 cho thấy chỉ có rạch Trà Nóc, rạch Bình Thủy, rạch Cái Khế, rạch Cái Nai, rạch Bông Vang là có chất lượng nước trung bình, kém và ô nhiễm hữu cơ nặng, tất cả còn lại đều có chất lượng nước sạch, trung bình, và ô nhiễm hữu cơ nhẹ, trong đó có rạch Sang Trắng 1 Tuy nhiên, đến năm 2006 theo báo cáo nghiên cứu khoa học của Tiến sĩ Bùi Thị Nga – Trường Đại Học Cần Thơ, đề tài được nghiên cứu tại rạch Sang Trắng 1, rạch Sang Trắng 2, và sông Hậu thuộc TP Cần Thơ cho thấy nước thải ở các cống thải tại KCN Trà Nóc vượt tiêu chuẩn xả thải nhiều lần với các chỉ tiêu đạm tổng, lân tổng và sắt tổng Mức độ ô nhiễm môi trường nước
Trang 25mặt đặc biệt nghiêm trọng tại thủy vực tiếp nhận với giá trị thể hiện giảm dần khi ra đến thủy vực lân cận và đối chứng
Không riêng gì những khu vực có KCN đặt tại đó bị ô nhiễm nghiêm trọng
mà tình trạng lắp kênh, rạch để đô thị hóa do dân số tăng lên và một số nguyên nhân khác cũng làm cho các con kênh, rạch ở TP Cần Thơ không còn thích hợp dùng làm nước cấp cho mục đích sinh hoạt, thậm chí không thể dùng cho các mục đích khác như nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản
Bảng 2.2 Tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt tại một số rạch ở TP Cần Thơ
năm 2007
Địa điểm (kênh, rạch)
Kết quả quan trắc
pH DO BOD5 COD SS NH3
(mg/L) Tham Tướng 7,25 0,8 58 83,8 76 6,99
Ba Láng 7,11 2,7 12 17,2 52 0,26 Cái Khế 7,19 2 17 24,6 51 8,92 Sang Trắng 7,13 2,2 31 43,7 91 1,102
Ô Môn 7,16 3,3 15 22,6 69 0,59 Thốt Nốt 7,14 5,2 11 15,3 63 0,61
Cờ Đỏ 7,16 2,9 19 26,3 112 0,74 TCVN 5942-1995 6 – 8,5 >6 4 10 20 0,05
Trang 262.3 Khái quát về ô nhiễm nước
2.3.1 Định nghĩa ô nhiễm nước [14], [15]
Ô nhiễm nước là sự thay đổi các thành phần lý hóa sinh học, mà sự thay đổi này đã gây ảnh hưởng bất lợi đối với môi trường nước Những thay đổi này hầu hết là do các hoạt động khác nhau của con người Những hoạt động này gây tác động trực tiếp hay gián tiếp đến những thay đổi về thành phần của các loài thủy sinh và ảnh hưởng đến sự phong phú của các loài sinh vật sống trong nước
Nguồn nước được coi là ô nhiễm khi thành phần và tính chất lý - hóa học của nước bị thay đổi không đảm bảo chất lượng của nguồn cung cấp cho các mục đích sinh hoạt, ăn uống và các mục đích khác
2.3.2 Các nguồn gây ô nhiễm nước
2.3.2.1 Nước thải từ khu công nghiệp và chế biến [14], [16]
Nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp gọi là nước thải công nghiệp Nước thải công nghiệp không có đặc điểm chung mà phụ thuộc vào đặc điểm của từng ngành sản xuất và quy trình công nghệ Nước thải từ công nghiệp chế biến thực phẩm, có chứa nhiều chất hữu cơ phân giải
và bán phân giải Nước thải từ nhà máy giấy có chứa nhiều chất tẩy rửa; xí nghiệp sản xuất pin, ắc quy có chứa nồng độ chì cao; nước thải thuộc ngành
da, dệt, nhuộm có chứa nhiều chất hữu cơ và kim loại nặng
Sự phát triển ngày càng nhanh của nền công nghiệp trên thế giới càng làm tăng nhu cầu về nước, đặc biệt đối với một số ngành sản xuất như chế biến thực phẩm, dầu mỏ, giấy, luyện kim, hoá chất tiêu thụ lượng nước rất lớn, chỉ riêng 5 ngành này đã tiêu thụ ngót 90% tổng lượng nước sử dụng cho công nghiệp Ví dụ, để sản xuất một thùng bia (khoảng 120 lít) cần tới 1700 lít nước, cần 3000 lít nước để lọc một thùng dầu mỏ (khoảng 160 lít), cần 300.000 lít nước để sản xuất 1 tấn giấy hoặc 1,5 tấn thép, cần 2.000.000 lít nước để sản xuất 1 tấn nhựa tổng hợp Phần nước tiêu hao không hoàn lại do sản xuất công nghiệp chiếm khoảng 1 - 2% tổng lượng nước tiêu hao không hoàn lại và lượng nước còn lại sau khi sử dụng được quay về sông hồ dưới dạng nước thải chứa đầy những chất gây ô nhiễm
2.3.2.2 Nước thải từ khu dân cư [14], [17]
Nguồn nước thải này là nước thải từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, trường học Ngày nay, do sự phát triển của xã hội ngày càng cao nên nhu
Trang 27cầu sử dụng nước sạch phục vụ cho sinh hoạt và giải trí ngày càng tăng, nhất
là ở các đô thị lớn Do vậy, lượng nước thải sinh hoạt thải ra môi trường ngày càng gia tăng Nước cống từ nước thải sinh hoạt cộng với nước thải của các cơ
sở tiểu thủ công nghiệp trong khu dân cư là đặc trưng ô nhiễm của các đô thị của nước ta Điều đáng nói ở đây là các loại nước thải đều được thải trực tiếp
ra môi trường, chưa qua xử lý gì cả, vì nước ta chưa có hệ thống xử lý nước thải theo đúng nghĩa như tên gọi
Đặc điểm cơ bản của nước thải sinh hoạt là hàm lượng các chất hữu cơ không bền vững cao, dễ bị phân hủy sinh học như cacbonhydrat, protein, chất dinh dưỡng (phospho, nitơ), nước ô nhiễm có hàm lượng hữu cơ cao nên thường có màu đen Tuy nhiên, trong thực tế khối lượng trung bình của các tác nhân này do con người là khác nhau Hàm lượng các tác nhân ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: chất lượng bữa ăn, lượng nước sử dụng và hệ thống tiếp nhận nước thải Khi nước thải chưa xử lý đưa vào kênh rạch sẽ gây ô nhiễm nguồn nước chủ yếu có các biểu hiện chính là:
gia tăng hàm lượng chất rắn lơ lửng, gây ra hiện tượng phú dưỡng hóa dẫn tới ảnh hưởng tiêu cực với việc cấp nước cho các mục đích khác nhau, gia tăng mùi hôi và nhiều vi trùng
2.3.2.3 Nước thải từ sản xuất nông nghiệp [3], [14]
Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất, chủ yếu để phục vụ tưới lúa và hoa màu Vì vậy, tính trong tổng lượng nước thải chảy ra nguồn nước mặt thì lưu lượng nước thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn nhất
Ngày nay, sự gia tăng dân số ngày càng cao, nhu cầu lương thực ngày càng tăng do vậy hoạt động nông nghiệp ngày càng phát triển để đáp ứng đòi hỏi của xã hội Chính vì các hoạt động này nên ngành nông nghiệp đã đưa vào môi trường ngày càng nhiều chất thải độc hại, làm cho môi trường ngày càng ô nhiễm hơn Dư lượng thuốc trừ sâu và nhiều tạp chất của phân bón đã làm cho hàm lượng kim loại nặng gia tăng theo thời gian Ở ĐBSCL những năm gần đây, do đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, người nông dân tìm mọi cách để khai thác giúp cho năng suất ngày càng cao, vả lại do ý thức kém nên họ sử dụng nhiều loại hóa chất và nông dược độc hại gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống người dân xung quanh vùng, và gây độc đối với các loài thủy sinh
Việc sử dụng hóa chất BVTV và phân bón hóa học bất hợp lý trong sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân chủ yếu làm ô ngiễm nguồn nước Trung
Trang 28bình 20 - 30% thuốc BVTV và phân bón không được cây trồng tiếp nhận sẽ theo nước mưa và nước tưới do quá trình rửa trôi đi vào nguồn nước mặt và tích lũy trong đất, nước ngầm dưới dạng dư lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật Đây là hiện tượng phổ biến tại các vùng sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là 2 châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long
2.3.2.4 Nước chảy tràn mặt đất [14]
Nước chảy tràn từ mặt đất do nước mưa hoặc do thoát nước từ đồng ruộng là nguồn gây ra ô nhiễm nước sông, ao, hồ Nước rửa trôi qua đồng ruộng có thể cuốn theo chất rắn, hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón Nước rửa trôi qua khu dân cư, đường phố, cơ sở sản xuất công nghiệp có thể làm ô nhiễm nguồn nước do các chất thải công nghiệp Khối lượng và đặc điểm của nước mưa chảy tràn phụ thuộc vào diện tích của vùng, thành phần, khối lượng chất ô nhiễm trên bề mặt vùng nước chảy qua
2.3.2.5 Nước sông ô nhiễm do các yếu tố tự nhiên [14], [9]
Các thiên tai cũng là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trường nước Ngập lụt, bão, mưa… tạo ra lượng nước chảy tràn bề mặt lớn Lượng nước này sẽ làm giảm các chất ô nhiễm từ không khí, đất và vận chuyển chúng vào nguồn nước Khi đó môi trường nước sẽ bị ô nhiễm hơn Hiện tượng mưa, ngập lụt là hiện tượng thường xuyên xảy ra, đặc biệt ở các nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới Hàng năm, nước ta luôn xảy ra các hiện tượng trên và gây ra hiện tượng ô nhiễm nước ngày càng nặng, nước sinh hoạt ngày càng khan hiếm, làm phát sinh hàng loạt các dịch bệnh truyền nhiễm gây thiệt hại không nhỏ về người và của
- Nhiễm phèn: các quá trình phèn hóa trong đất khi gặp nước phèn sẽ loang ra làm ô nhiễm nguồn nước Nguồn nước trở nên giàu các chất độc dạng ion Al3+, Fe2+, SO43- và pH thấp mà hầu hết các sinh vật bị ngộ độc khi pH<4
Khi pH thấp sự phóng thích các kim loại nặng từ các khoáng sét càng cao
- Nhiễm mặn: nước mặn theo thủy triều hoặc từ mỏ muối trong lòng đất khi hòa lẫn trong môi trường nước bị ô nhiễm clo, natri khá cao Chúng ta biết rằng khi nồng độ muối trong nước lớn hơn 1g/L là vi sinh vật bị gây hại,
>4g/L cây trồng bị gây hại và 8g/L hầu hết thực vật (trừ thực vật rừng ngập mặn) đều bị chết Nếu nước sông bị nhiễm mặn ở vùng ven biển có thể chuyển nước mặn vào các vùng sâu trong nội địa đến các vùng khác, gây suy giảm chất lượng nước ở vùng bị tác động và vùng lân cận phụ thuộc
Trang 29Ô nhiễm phèn và mặn ở mức độ khác nhau tùy theo điều kiện tự nhiên của từng vùng Tuy nhiên sự hoạt động của con người cũng góp phần gia tăng mức độ ô nhiễm của các yếu tố tự nhiên
2.3.3 Tác nhân gây ô nhiễm [14]
Có hàng ngàn các tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước, để tiện lợi cho việc kiểm soát và khống chế ô nhiễm nguồn nước, cho nên chia chúng thành các nhóm cơ bản sau:
- Các chất hữu cơ dễ phân huỷ sinh học Nhóm này gồm các chất béo, protein… chúng là chất gây ô nhiễm phổ biến ở khu dân cư và khu công nghiệp chế biến thực phẩm
- Các chất hữu cơ bền vững, các chất này thường có độc tính cao khó bị phân huỷ Một số tích lũy và lưu tồn lâu dài trong môi trường và cơ thể sinh vật nên gây tác động trầm trọng đến hệ sinh thái nước Các chất này thường có trong nước thải công nghiệp, nước chảy tràn
- Các kim loại nặng, các chất này có độc tính cao đối với con người, động vật và thực vật qua chuỗi thức ăn Các kim loại nặng thường có trong nước thải công nghiệp là chì, thuỷ ngân, arsene, mangan, cadium Đây là những chất rất độc đối với con người khi chúng vượt quá ngưỡng an toàn
- Các ion vô cơ có nồng độ cao trong nước tự nhiên, đặc biệt là nước biển
và khu dân cư Khi vượt quá nồng độ cho phép đều không an toàn cho thực vật
và động vật và có ảnh hưởng không tốt đến hệ sinh thái nước
- Dầu mỡ là những chất lỏng khó tan trong nước nhưng tan trong dung môi hữu cơ Dầu mỡ có thành phần hoá học rất phức tạp, có độc tính cao và tương đối bền vững trong môi trường nước
- Các chất phóng xạ: trong môi trường luôn luôn tồn tại lượng phóng xạ
do hoạt động của con người Các sự cố phóng xạ gây tác hại nghiêm trọng đến con người và sinh vật, do khả năng xuyên thấu của chúng cực mạnh
- Mùi trong môi trường nước do chất hữu cơ từ cống rãnh khu dân cư,các
xí nghiệp chế biến, các khu hóa chất, sản phẩm từ sự phân hủy cây, động vật
- Các chất rắn: môi trường nước bị ô nhiễm bởi các chất rắn từ đất hoặc nước chảy tràn trên bề mặt hay từ nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt
Chỉ tiêu đặc trưng cho các chất rắn trong môi trường nước là tổng chất rắn
Trang 30TDS (Total Diposal Solid) đây chính là lượng chất rắn có thể lọc được và không thể lọc Theo quy định cũ WHO đối với nước uống TDS < 1200 mg/l
- Vi trùng: nguồn nước bị ô nhiễm do phân chứa nhiều loại vi trùng, siêu
vi trùng (virus) đơn bào và nhóm trứng giun sán gây bệnh Có 3 nhóm vi sinh vật chỉ thị cho ô nhiễm phân: nhóm Coliform, nhóm Stretococi, nhóm Clostridia khử Sulphit
- Các chất tẩy rửa, và các phụ gia tẩy rửa Những nghiên cứu gần đây cho thấy các chất này đã góp phần làm ô nhiễm môi trường nước ngày càng gia tăng, do nhu cầu sử dụng các chất tẩy rửa cho sinh hoạt cũng như các ngành công nghiệp
2.3.4 Ảnh hưởng của sự ô nhiễm nguồn nước [4],
Theo Quỹ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEP, 1995), có khoảng 88%
các loại bệnh tật đều có liên quan đến nước sử dụng không sạch Trên thế giới
có khoảng 1,1 tỉ người không được sử dụng nước sạch; 2,6 tỉ người không có
đủ điều kiện vệ sinh thích hợp Hàng năm có hàng tỉ người mắc bệnh và hàng triệu người chết do sử dụng nước bị ô nhiễm (WHO, 1993) Ở khu vực Châu
Á – Thái Bình Dương, các nước đang phát triển mỗi năm có khoảng 830 triệu người không có đủ nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh
Ở Việt Nam mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong những năm qua nhưng hiện tại vẫn còn 17 triệu trẻ em (khoảng 52%) không có nước sạch sử dụng, và 20 triệu trẻ em (khoảng 59%) không được tiếp cận với các phương tiện vệ sinh
Số này còn cao hơn trong cộng đồng các dân tộc thiểu số và các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo Cụ thể 87% cộng đồng các dân tộc thiểu
số không được tiếp cận với nước sạch, 10% trẻ em khu vực nội thành chưa tiếp cận với các phương tiện vệ sinh so với 40% ở khu vực nông thôn (UNICEP, 2008) Có tới 80% bệnh có liên quan đến nguồn nước Các bệnh chủ yếu là: tiêu chảy, thương hàn, giun sán, ; nguyên nhân chủ yếu là do nhiễm bẫn chất hữu cơ và vi sinh vật, từ đó tác động trực tiếp đến sức khỏe con người đặc biệt là ở người già và trẻ em
Theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2005, ô nhiễm môi trường nước tác động trực tiếp đến sức khỏe, là nguyên nhân gây các bệnh như tiêu chảy (do virus, vi khuẩn, vi sinh vật đơn bào), lỵ trực trùng, tả, thương hàn, viêm gan A, giun, sán Các bệnh này gây suy dinh dưỡng, làm thiếu máu, thiếu sắt, gây kém phát triển, tử vong, nhất là ở trẻ em Có đến 88% trường
Trang 31hợp bệnh tiêu chảy là do thiếu nước sạch, vệ sinh môi trường kém (bảng 2.3 và 2.4)
Bảng 2.3 Số ca mắc bệnh và tử vong liên quan đến ô nhiễm nước từ 1990 –
2003
Năm Tả Thương hàn Lỵ trực trùng Tiêu chảy
Ca bệnh
Tử vong
Ca bệnh
Tử vong
Trang 32Bảng 2.4 Một số bệnh ở người do nước bị ô nhiễm gây nên
Bệnh Tác nhân
truyền bệnh
Loại sinh vật Triệu chứng
Bệnh dịch tả
Vibrio cholerae
Vi khuẩn Tiêu chảy nặng, nôn mửa, cơ thể mất
nhiều nước, bị chuột rút và suy sụp Kiết lỵ Shighella
dysenteriae
Vi khuẩn Lây nhiễm ruột, gây bệnh tiêu chảy
với nước nhầy Viêm
ruột
Clostridium perfringens
và vi khuẩn khác
Vi khuẩn Làm cháy ruột non gây khó chịu, ăn
không ngon, hay bị chuột rút và tiêu chảy
Thương hàn
Salmonella typhi
Vi khuẩn Đau đầu, mất năng lượng
Viêm gan
Siêu vi trùng viêm gan A
Siêu vi trùng Đốt cháy gan, vàng da, ăn không
ngon, đau đầu
(Lê Văn Khoa 2002)
Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm nước mặt cũng tác động không nhỏ đến định hướng phát triển của khu vực đó:
+ Làm giảm sức lao động xã hội thông qua tác động vệ sinh dịch
tễ
+ Làm giảm thu nhập từ du lịch và dịch vụ thông qua tác động cảnh quan
+ Làm giảm sức hút đầu tư đối với các xí nghiệp công nghiệp
+ Chi phí xử lý nước mặt ngày càng tăng nếu xử lý chậm trễ
Có thể nói ô nhiễm nước mặt là một trong những yếu tố hạn chế việc phát triển bền vững của bất kỳ vùng nào
Trang 332.3.5 Khả năng tự làm sạch của nguồn nước [11], [19]
2.3.5.1 Khái niệm
Khi một con sông tiếp nhận một cách liên tục sự ô nhiễm từ các chất thải hữu cơ có xu hướng khắc phục gánh nặng ô nhiễm, tự làm sạch và khôi phục một cách tự nhiên theo thời gian Đây là hiện tượng tự làm sạch của sông
Hiện tượng tự làm sạch của sông phần lớn được quyết định bởi các phản ứng sinh hóa Những phản ứng này do các hoạt động của các vi sinh vật (đặc biệt là vi khuẩn) gây nên Những vi khuẩn này sử dụng các hợp chất hữu cơ làm thức ăn, phân hủy các chất phức tạp tạo thành các sản phẩm cuối cùng đơn giản và ít độc hại hơn
Tự làm sạch nguồn nước là sự phục hồi lại trạng thái ban đầu thông qua các quá trình lý, hóa và sinh học trong môi trường nước
Bản chất của quá trình tự làm sạch của nguồn nước là sự xáo trộn pha loãng nước thải với nguồn nước, sự phân hủy và sự chuyển hóa các chất bẩn trong môi trường nước Khả năng tự làm sạch của nguồn nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau từ các yếu tố như loại nước thải, thời tiết, khí hậu,
2.3.5.2 Các quá trình tự làm sạch nguồn nước
- Quá trình pha loãng nguồn nước thải:
Sự pha loãng ban đầu phụ thuộc vào sự chênh lệch tỷ trọng giữa nước thải và nước nguồn
- Quá trình phân hủy và chuyển hóa:
Các chất gây ô nhiễm bị phân hủy hay chuyển hóa nhờ các quá trình sau:
+ Quá trình oxy hóa hóa học
+ Quá trình oxy hóa sinh học
+ Các quá trình hóa lý
2.3.5.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tự làm sạch của nguồn nước
- Nồng độ oxy hòa tan:
Nếu trong nước có nồng độ oxy hòa tan lớn thì các vi sinh vật hiếu khí hoạt động mạnh dẫn đến quá trình phân hủy chất hữu cơ diễn ra nhanh chóng
Trang 34Và nếu nồng độ oxy hóa thấp hay bằng không thì việc phân hủy các chất hữu
cơ chủ yếu là do các vi sinh vật yếm khí thực hiện và tạo ra các sản phẩm có tính độc cao hơn
- Sinh vật thủy sinh:
Chủ yếu là tảo và vi khuẩn, tảo sẽ sử dụng dinh dưỡng và khí CO2 hòa tan để thực hiện quá trình quang hợp và sản phẩm tạo ra có oxy, do đó tảo cũng thúc đẩy quá trình phân hủy hiếu khí
- Các đặc tính vật lý của dòng chảy:
Độ sâu, mặt cắt, lưu lượng, tốc độ, của dòng chảy là những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình khuếch tán oxy từ khí vào thủy vực
- Loại chất hữu cơ:
Ngoài ra tốc độ làm sạch của nguồn nước còn phụ thuộc vào tính chất của các chất gây ô nhiễm, gồm có những chất hữu cơ khó phân hủy như ligmin, xenlulo, nên tồn tịa lâu trong môi trường nước
- Các điều kiện khí hậu bao gồm:
Nước có pH càng thấp càng có khả năng chứa hàm lượng các ion kim loại cao
Đồng thời pH cũng là một yếu tố môi trường có tác động rất lớn đến đời sống thủy sinh vật và ảnh hưởng lên độ độc của các chất, pH có thể làm tăng hoặc giảm tính độc của độc tố Ngoài ra, pH còn ảnh hưởng đến các hoạt động sinh
Trang 35học trong nước, tính hòa tan và tính ăn mòn Nước thiên nhiên thường có pH trung tính hay acid nhẹ hoặc kiềm nhẹ, giá trị pH của chúng nằm trong giới hạn
từ 5 đến 9 Sự thay đổi các giá trị pH trong nước có thể dẫn đến những thay đổi
về thành phần các chất trong nước do quá trình hòa tan hoặc kết tủa, thúc đẩy hoặc ngăn chặn các phản ứng hóa học, sinh học xảy ra trong nước
2.4.2 Lượng oxy hòa tan (DO)
Là lượng oxy hòa tan trong nước (mg/L) ở một nhiệt độ xác định Oxy hòa tan trong nước sẽ tham gia vào quá trình trao đổi chất, duy trì năng lượng cho quá trình phát triển, sinh sản và tái sản xuất cho các vi sinh vật sống dưới nước Nó còn được dùng để oxy hóa các chất hữu cơ và các tác nhân thử khác
Nguồn ôxy hòa tan trong nước chủ yếu được đưa vào từ không khí thông qua mặt thoáng của khối nước trao đổi với không khí Ở nhiệt và áp suất bình thường, lượng ôxy hòa tan trong nước nằm trong khoảng từ 8 - 15mg/L Trong môi trường
có nhiều chất dinh dưỡng, các vi sinh vật hiếu khí hoạt động mạnh, cần tiêu thụ rất nhiều ôxy nên lượng ôxy hòa tan trong nước giảm đi rõ rệt Việc giảm lượng ôxy hòa tan trong nước đã tạo điều kiện cho các vi khuẩn yếm khí hoạt động nên đã sinh nhiều các hợp chất có mùi xú uế Như vậy, việc xác định chỉ tiêu DO có thể đánh giá sơ bộ mức độ ô nhiễm của môi trường nước Nước có DO thấp thường là nước
bị ô nhiễm
Chỉ số tối ưu đối với nước sạch là 9,2 mg/L ở 20oC, 1atm Hàm lượng oxy hòa tan trong nước giúp ta đánh giá chất lượng nước Khi chỉ số DO thấp, có nghĩa là nước có nhiều chất hữu cơ, nhu cầu oxy hoá tăng nên tiêu thụ nhiều oxy trong nước
Khi chỉ số DO cao chứng tỏ nước có nhiều rong tảo tham gia quá trình quang hợp giải phóng oxy
2.4.3 Tổng chất rắn lơ lửng (TSS)
Là dạng chất rắn lơ lửng trong nước Chất rắn ảnh hưởng tới chất lượng nước khi sử dụng cho sinh hoạt, cho sản xuất, cản trở hoặc tiêu tốn thêm nhiều hoá chất trong quá trình xử lý nuớc Chất rắn có trong nước có thể là do:
- Các chất vô cơ ở dạng hoà tan (các muối) hoặc các chất không tan như đất đá
ở dạng huyền phù
- Các chất hữu cơ như các vi sinh vật (vi khuẩn, tảo, động vật nguyên sinh ),
và các chất hữu cơ tổng hợp như phân bón, chất thải công nghiệp
Trang 362.4.4 Nhu cầu oxy hóa học (COD)
Là lượng oxy cần thiết cho quá trình oxy hóa học các chất hữu cơ trong nước thành CO2 và H2O Các chất hữu cơ trong nước bao gồm các chất hữu cơ có thể bị phân hủy sinh học và cả chất hữu cơ bền có tác động sinh học, bị oxy hóa bằng con đường hóa học
Đây là chỉ tiêu chất lượng quan trọng của nước Nước càng bị ô nhiễm thì trị
số COD càng lớn Khi vật chất hữu cơ trong thủy vực nhiều, quá trình phân hủy chúng làm tiêu hao nhiều oxy trong thủy vực gây nên hiện tượng nhiễm bẩn của thủy vực; ngược lại nếu nó quá ít thủy vực sẽ nghèo dinh dưỡng COD được sử dụng rộng rãi trong phân tích nước thải, trong việc vận hành các thiết bị xử lý, trong các hệ thống nuôi trồng thủy sản do thời gian xác định ngắn (khoảng 3 giờ) nên cho kết quả kịp thời
Tuy nhiên, COD không phản ánh được tốc độ phân hủy của vật chất hữu cơ tồn tại trong điều kiện tự nhiên, đồng thời phép đo COD còn bị sai số bởi chất oxy hóa mạnh cũng có thể oxy hóa chất vô cơ thành các hóa trị cao hơn
2.4.5 Nhu cầu oxy sinh học (BOD 5 20 o C)
BOD là lượng ôxy cần thiết để vi khuẩn phân hủy các chất hữu cơ ở điều kiện yếm khí Trong môi trường nước, khi quá trình ôxy hóa sinh học xảy ra thì các vi khuẩn sử dụng ôxy hòa tan Phản ứng xảy ra như sau:
Chất hữu cơ + O2 → CO 2 + H2 O Vận tốc của quá trình ôxy hóa nói trên phụ thuộc vào số vi khuẩn có trong nước và nhiệt độ của nước
BOD là một chỉ tiêu dùng để xác định mức độ nhiễm bẩn của nước Việc đo lượng ôxy hòa tan bị giảm trong môi trường kín sẽ xác định được chỉ
số BOD Thời gian cần cho quá trình này kéo dài nhiều ngày Thường là 5 ngày khoảng 70-80% các chất hữu cơ bị ôxy hóa, do đó BOD5 biểu thị phần tổng BOD
Theo lý thuyết, để ôxy hóa gần hết hoàn toàn các chất hữu cơ (98-99%) đòi hỏi sau
20 ngày Thông thường BOD5/COD=0,5- 0,7
2.4.6 Amoni (N-NH 4 + )
Trong nước thiên nhiên và nước thải, nitơ tồn tại dưới 3 dạng: các hợp chất hữu cơ, amoni và các hợp chất dạng ôxy hóa (nitrit, nitrat) Các hợp chất của nitơ là chất dinh dưỡng,chúng luôn vận động trong tự nhiên, chủ yếu nhờ các quá trình
sinh hóa Đạm amôn là sản phẩm trung gian trong chu trình Nitơ Đầu tiên, NH3
Trang 37được tạo ra từ quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ chứa nitơ có nguồn gốc từ các quá trình sinh học, đó là các quá trình bài tiết, trao đổi chất của sinh vật cũng như sự phân hủy các xác chết của chúng NH4+ được tạo ra khi NH3 hòa tan vào nước tạo nên phản ứng cân bằng sau:
NH3 + H2O ↔ NH4+ + OH- Việc xác định hàm lượng đạm amôn trong nước thải có thể giúp ta biết được thời gian lưu nước thải trong các cống thoát nước
2.4.7 Phosphate (P-PO 4 3- )
Cùng với Nitơ, phosphate là một trong những nguyên tố dinh dưỡng thiết yếu cho sinh vật, phospho có trong thành phần nhiều chất đóng vai trò quan trọng bậc nhất của quá trình sống Phosphate có thể tồn tại trong nước dưới dạng orthophosphate ngưng tụ (polyphosphate) như: sodium tripoluphosphate, tetrasodium poryphosphate, sodium hexametophosphate và phospho hữu cơ hòa tan hay không hòa tan Phosphate được thực vật hấp thu cùng với đạm, tham gia vào thành phần đạm thực vật, đạm này được động vật sử dụng Đối với động vật, phosphate có tác dụng thúc đẩy quá trình sinh trưởng, tăng cường quá trình phân giải các protein Trong các thủy vực, hàm lượng các muối hòa tan của phosphate trong nước thường rất thấp, ít khi nào hàm lượng P-PO43- vượt quá 1ppm ngay cả thủy vực giàu dinh dưỡng
2.5 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.5.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên phường Trà Nóc
2.5.1.1 Vị trí địa lí
- Phía Bắc giáp với quận Ô Môn
- Phía Đông giáp với sông Hậu
- Phía Nam giáp với phường Bình Thủy
- Phía Tây giáp với phường Thới An Đông
2.5.1.2 Địa hình
Phường Trà Nóc thuộc TP Cần Thơ nằm trong khu vực đồng bằng sông Mekong bằng phẳng Phường có độ cao mặt đất 1,5 đến 2,7m so với mặt nước biển,
và độ cao trung bình là 2,2m
Trang 382.5.1.3 Khí hậu
Phường nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mức độ biến đổi nhiệt
độ hàng ngày và hàng năm rất nhỏ, được chia thành 2 mùa rõ rệt trong năm là mùa khô (từ tháng 12 năm trước kéo dài đến tháng 4 năm sau) và mùa mưa có gió và mưa to (từ tháng 5 đến tháng 11)
2.5.2 Điều kiện kinh tế-xã hội phường Trà Nóc Phường Trà Nóc nằm về phía Tây Bắc quận Bình Thủy, là phường cửa ngỏ
của quận, với diện tích 712 ha, dân số 3.886 hộ với 14.201 người, có KCN Trà Nóc với 76 cơ quan doanh nghiệp, 98 cơ sở tiểu thủ công nghiệp
Phường Trà Nóc là vùng đất có vị trí quan trọng Giao thông bộ có quốc lộ
91 từ Cần Thơ đi An Giang và Kiên Giang Giao thông thủy có sông Hậu, các phương tiện trọng tải lớn có thể đi đến các tỉnh lân cận thành phố Hố Chí Minh và các tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu, Đồng Tháp, Vĩnh Long và nước Campuchia dễ dàng do đó rất thuận lợi cho việc đi lại và vận chuyển Ngoài
ra, Cảng hàng không Quốc Tế Cần Thơ là nơi phục vụ cho việc đi lại, trao đổi văn hóa và phát triển kinh tế xã hội cho khu vực ĐBSCL với các khu vực khác trong nước và với thế giới thuận lợi hơn được đặt tại phường Trà Nóc
2.5.2.1 Kinh tế
a Nông nghiệp Diên tích: diện tích đất trồng lúa 70 ha, vườn cây ăn trái , hoa màu các loại 30,5 ha, ao mương 4 ha
Về sản lượng: tổng sản lượng lùa 985 tấn , sản lượng cây ăn trái và rau màu các loại 1.334, thủy sản diện tích ao nuôi 10 ha/ 3 vụ sản lượng 600 tấn, hộ sản xuất nông – ngư nghiệp toàn phường có 211 hộ
b Thương mại-dịch vụ Tính đến nay toàn phường có trên 549 cơ sở và hộ kinh doanh dịch vụ trong
đó có 192 cơ sở kinh doanh nhà trọ với 1.736 phòng, có 170 hộ kinh doanh, tổng doanh thu ước tính 25 tỉ đồng
Hiện phường huy động các nguồn lực đầu tư vào các dịch vụ thương mại, đầu
tư mở rộng các dịch vụ trên tuyến đường Lê Hồng Phong và tỉnh lộ 917 nhằm tăng giá trị thương mại dịch vụ, tăng các nguồn thu và giải quyết việc làm tại chỗ; đảm bảo tốt công tác vệ sinh thực phẩm và phòng cháy chữa cháy
Trang 39c Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Đến năm 2008, KCN Trà Nóc thu hút được 72 doanh nghiệp vào đầu tư, vốn đăng ký 196 triệu USD; trong đó có 21 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, vốn đăng ký 88,8 triệu USD Riêng KCN Trà Nóc I có 63 doanh nghiệp đầu tư,… Tổng
số lao động có 9.419 lao động thường xuyên và trên 2.700 lao động không thường xuyên Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2001 của 36 doanh nghiệp sản xuất đang hoạt động ước đạt 185 triệu USD, tăng 37% so với năm 2000 Giá trị xuất khẩu đạt
Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp bậc tiểu học năm 2010-2011 đạt 100%
b Về y tế Trạm y tế của phường vừa tiếp tục được công nhận đạt chuẩn quốc gia
Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh đạt 97%
Tỷ lệ hộ sử dụng hố xí hợp vệ sinh đạt 95,47%
2.5.3 Khu vực nghiên cứu
Rạch Sang Trắng là một trong 4 rạch thuộc hệ thống sông Hậu (Sang Trắng, Trà Nóc, Bình Thủy, Cái Khế), nằm giữa KCN Trà Nóc 1 và KCN Trà Nóc 2, có chiều dài dòng chảy khoảng 4km Nó còn là địa điểm đề xuất xây dựng nhà máy xử
lý nước thải tập trung tại KCN Trà Nóc nằm bên bờ rạch Sang Trắng Hiện tại, nước thải chưa qua xử lý từ KCN Trà Nóc được xả trực tiếp vào rạch Sang Trắng tại các cống xả của KCN
Khu vực khảo sát của đề tài rạch Sang Trắng 1 đoạn từ cầu Sang Trắng 1 đến vàm sông Hậu có chiều dài khoảng 1km, đây là khu vực có mật độ dân cư khá cao (có 1 chợ và 1 khu dân cư) Dân cư sống dọc theo đoạn khảo sát khoảng 300 hộ dân,
đa số người dân thải rác và nước thải sinh hoạt trực tiếp xuống sông
Trang 40Về hoạt động kinh tế của dân cƣ sống trong khu vực này phần lớn buôn bán nhỏ, lao động giản đơn