1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ẩn ức nữ tính qua sáng tác của Đỗ Bích Thúy

98 238 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chị giành nhiều xúc cảm và sự cảm thông cho nỗi niềm của người phụ nữ, ở một miền đất còn ủ chứa nhiều cũ kĩ, gian khó - Đỗ Bích Thúy, một nhà văn sinh ra và lớn lên trong môi trường miề

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thị Ngân

Thái Nguyên - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực

và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 06 năm 2017

Tác giả luận văn

Vũ Thị Thu Hường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa văn - Xã hội, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên cùng các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn

TS Lê Thị Ngân đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, tháng 06 năm 2017

Tác giả luận văn

Vũ Thị Thu Hường

Trang 5

MU ̣C LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MU ̣C LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12

1.1 Khái niệm ẩn ức và ẩn ức trong tâm lý học 8

1.1.1 Khái niệm ẩn ức 8

1.1.2 Ẩn ức trong tâm lý học 9

1.1.3 Phân tâm học và văn học nghệ thuật 10

1.1.4 Sự khác biệt giữa ẩn ức với các trạng thái tâm lý tiêu cực khác 17

1.1.5 Ẩn ức hình thành trong những điều kiện, hoàn cảnh nào? 18

1.1.6 Nhận diện ẩn ức 18

1.2 Vấn đề ẩn ức nữ tính 19

1.3 Việc khai thác và phản ánh trạng thái ẩn ức trong lịch sử văn học Việt Nam 23 1.4 Đỗ Bích Thúy và sự nặng lòng của chị với những người phụ nữ vùng cao 27

Tiểu kết 26

Chương 2: NHỮNG CẢM HỨNG ẨN ỨC NỮ TÍNH QUA SÁNG TÁC CỦA ĐỖ BÍCH THÚY 31

2.1 Nền cảnh của miền núi Đông Bắc 27

2.1.1 Địa lý nhân văn 27

2.1.2 Không gian văn hóa Error! Bookmark not defined 2.2 Người phụ nữ miền núi Đông Bắc 41

2.2.1 Những kiến tạo của người phụ nữ trong đời sống vật chất 41

2.2.2 Những kiến tạo của người phụ nữ trong đời sống tinh thần 45

2.2.3 Sự mặc định của cộng đồng với thân phận của người phụ nữ miền núi 46

2.3 Thân phận người phụ nữ miền núi trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy 48

2.3.1 Người phụ nữ không có quyền quyết định tương lai và số phận của chính bản thân mình 48

Trang 6

2.3.2 Người phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi, áp lực trong gia đình, dòng họ, cộng

đồng 57

2.3.3 Người phụ nữ với nỗi khát khao thầm kín, không thể giải tỏa 67

Tiểu kết 73

Chương 3: MỘT SỐ CÁCH THỨC THỂ HIỆN ẨN ỨC NỮ TÍNH QUA SÁNG TÁC CỦA ĐỖ BÍCH THÚY 74

3.1 Hệ thống biểu tượng 74

3.1.1 Trang phục 75

3.1.2 Bếp lửa 80

3.1.3 Tiếng đàn môi 84

3.2 Ngôn ngữ 86

3.2.1 Ngôn ngữ đối thoại 87

3.2.2 Lối nói so sánh 89

Tiểu kết 93

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Miền núi phía Bắc, một vùng rộng lớn và đa dạng về cảnh sắc địa lí, đa dạng về thành phần dân tộc Hơn thế, đây còn là một vỉa tầng dồi dào về trữ lượng tài nguyên nhân văn như văn hóa, văn học nghệ thuật, phong tục - tập quán, lối sống, nếp nghĩ và

cá tính con người…Trong những năm gần đây, miền núi phía Bắc được tập trung chú

ý, khai thác và dựng xây trên mọi bình diện, từ kinh tế, văn hóa Con người miền núi

là chủ nhân của không gian đó, được tập trung phản ánh hơn cả, từ lối sống ngàn đời đến những đổi thay do thời đại đem lại Việc phác họa, mô tả về hình ảnh con người nơi đây cũng góp phần vén bức màn bí ẩn của vùng đất xa xôi, hẻo lánh, tách biệt, đưa một cái nhìn toàn diện về những dân tộc anh em, với những đặc thù riêng trong lối sống, nếp nghĩ, hành động, sự khốn khó trong đời sống thường nhật, tinh thần nhân văn, sự mãnh liệt hay cam chịu của những kiếp người…

Tất thảy những điều đó, đạt hiệu quả cao nhất, thực tế và hấp dẫn nhất khi thông qua phương tiện văn học, bắt lấy đời sống, lấy diễn tiến thực tại làm chất liệu

phản ánh, sáng tác “Tác phẩm chính là sự phản ánh thực tế xã hội qua cách nhìn,

cách nghĩ, cách cảm xúc của tác giả” [14, tr.713] Vì vậy, cách nhìn của nhà văn trong

sáng tác của mình là một yếu tố quan trọng, quyết định đến “sự phản ánh thực tế xã hội” của tác phẩm Qua cái nhìn, có thể thấy được quan niệm về cuộc đời, con người của tác giả cũng như những khuynh hướng riêng của mỗi tác phẩm Chẳng hạn như cái nhìn thể hiện khuynh hướng nữ tính qua những sáng tác của nữ sĩ Hồ Xuân Hương hay

Bà Huyện Thanh Quan

Lịch sử văn học trung đại nước ta có một trường hợp đặc biệt là nữ sĩ Hồ Xuân Hương Những sáng tác của “Bà chúa thơ Nôm” chính là trạng thái khát vọng của người phụ nữ bị chặn lại bởi rào cản hà khắc của chế độ phong kiến đã trở thành những bài thơ quyết liệt mà mong manh, lạnh lùng mà lửa cháy Cái nhìn trong thơ bà

đầy ẩn ức nữ tính Rất nhiều hình ảnh trong thơ “Bà chúa thơ Nôm” dễ gợi sự liên

tưởng đến hình ảnh của các bộ phận sinh dục và tính giao nam - nữ Có những sự vật, hiện tượng qua cái nhìn của bà đã đạt đến độ phát triển sung mãn, đầy gợi cảm nhục dục Trong tình yêu và hôn nhân, cái nhìn của bà là thiên về sự đổ vỡ, bất hạnh, không

Trang 8

trọn vẹn Trong cái nhìn về giới tính, đó là sự coi thường, đùa cợt, giễu nhạo đối với nam giới, đồng thời là sự đồng cảm, bênh vực, ủng hộ giới nữ; là sự ấm ức về thân phận trong xã hội vốn không bình đẳng giới

Trong văn học hiện đại, cũng có nhiều cây bút đề cập đến vấn đề này, nhất là những cây bút nữ như: Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Dạ Ngân,

Võ Thị Xuân Hà, Y Ban… Gần đây nhất là truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư Có thể nói, cái nhìn nữ tính là biểu hiện quan trọng nhất của khuynh hướng phụ nữ trong truyện ngắn của chị, chi phối những cái nhìn khác Cái nhìn ẩn ức trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư không bộc lộ gay gắt, mãnh liệt như trong thơ của Hồ Xuân Hương nhưng đầy nỗi ám ảnh, xót xa, những khát khao đau đớn

Trong những năm gần đây, cái tên Đỗ Bích Thúy được độc giả nhắc đến nhiều với những tác phẩm đầy không gian núi và những con người của núi Chị giành nhiều xúc cảm và sự cảm thông cho nỗi niềm của người phụ nữ, ở một miền đất còn ủ chứa nhiều cũ kĩ, gian khó - Đỗ Bích Thúy, một nhà văn sinh ra và lớn lên trong môi trường miền núi, người dành trọn tâm tình cho không gian núi và đồng bào các dân tộc ít người sinh sống ở đó, đặc biệt là vùng Đông Bắc với đồng bào dân tộc Mông Những tác phẩm của Đỗ Bích Thúy có một lối viết riêng, rất lôi cuốn và ma mị, ngôn ngữ giản dị theo cách nói của người miền núi, vẻ đẹp của thiên nhiên và khung cảnh miền núi làm mê đắm lòng người, con người trong khung cảnh đó với muôn vàn số phận,

những bài học và câu chuyện nhân văn sâu sắc, đó là Người đàn bà miền núi, Bóng

của cây sồi, Đêm cá nổi, Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, Ngải đắng ở trên núi, Sau những mùa trăng… Điểm giao tụ, hằn lên trong những tác phẩm của Đỗ Bích Thúy,

đó là đời người, nhất là hình ảnh người phụ nữ miền núi Họ là trung tâm, là nguyên

cớ trong tất cả các tác phẩm của chị, một ẩn tính được khắc họa sâu sắc đó là sức sống mãnh liệt, sự khát khao kiếm tìm tình yêu và hạnh phúc, sự chịu đựng, kìm nén, chấp nhận, lầm lũi, khi họ bị định kiến và quan niệm xã hội chống lại, kìm nén, đóng khung Chính Đỗ Bích Thúy đã từng chia sẻ và cũng như một câu hỏi, một lời giải thích rằng:

“ Tại sao tôi cứ viết về đàn bà, với những cuộc đời rủi ro và số phận nghiệt ngã, với những cái bướu xấu xí và tấm lưng còng gập? Tại sao những người đàn bà của tôi khi nào cũng phải sống trong những nỗi khát khao lớn hơn dãy Tây Côn Lĩnh, sâu hơn đáy sông Lô - những nỗi khát khao không gì nhấn chìm được, cũng không cách gì đạt

Trang 9

tới được? Những cuộc đời đầy âu lo, những năm tháng luôn phải đối mặt với thiên nhiên khốc liệt, cõi đời trắc trở, tình yêu mong manh Tại sao vậy? Phải chăng vì, như một người đã nói với tôi: Cuộc đời đàn bà buồn nhiều hơn vui, lo âu nhiều hơn mãn nguyện? Phải chăng vì, trời sinh ra đàn bà để chẳng sống mấy cho mình? Cuốn sách này tôi vẫn dành cho những người đàn bà Người đã án ngữ trong kí ức của tôi

về vùng đất thân yêu bạt ngàn cây rừng, hoang vu gió, tầm tã mưa, sôi sùng sục nước dưới những dòng sông ngoằn ngoèo cuộn chảy…" [30, tr.7-8]

Đọc tác phẩm của Đỗ Bích Thúy, chúng tôi bị ám ảnh về những người đàn bà núi, nơi đó - họ là nước, hiếm và quý, là khởi nguồn cho sự sống và tồn tại, nước là sức mạnh, là sự mãnh liệt Nhưng số phận của họ lại tỷ lệ nghịch với bản chất và sự kiến tạo của họ, số phận nghiệt ngã, sức sống nội tâm mãnh liệt, không bao giờ tàn lụi

Chính bởi thế, chúng tôi quyết định chọn chủ đề “Ẩn ức nữ tính qua sáng tác của Đỗ

Bích Thúy” làm luận văn thạc sĩ, như một hành trình tâm tưởng của cá nhân đến với

vùng đất ấy, con người ấy, để giải mã và thấu hiểu, trong chừng mực của bản thân và cũng hi vọng có chút đóng góp nhất định trong tập thể những người đọc và tò mò về những tác phẩm của Đỗ Bích Thúy

Trong xã hội hiện đại ngày nay, xu hướng bình đẳng về giới là một tiêu chí quan trọng thể hiện sự tiến bộ, công bằng và văn minh trong xã hội Với đề tài này, hy vọng cũng ít nhiều góp thêm một tiếng nói, một hình ảnh, một góc tiếp cận về vấn đề thực trạng của bình đẳng giới trong khu vực miền núi Đông Bắc nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Đã có rất nhiều những tác phẩm văn học lấy đề tài miền núi làm chất liệu khai thác, tập trung một đội ngũ các nhà sáng tác tâm huyết và đam mê Họ đã tạo được một bức tranh tương đối đa sắc và toàn cảnh về miền núi phía Bắc Trong đó, con người miền núi được xem và nhìn nhận là trung tâm của mọi sáng tác

Có thể nói, công trình sớm và mang tính khái quát bước đầu về miền núi dưới

góc độ văn học - nghệ thuật là cuốn sách 40 năm văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu

số Việt Nam 1945 - 1985 do Nhà xuất bản Văn hóa ấn loát Đây là một tập hợp những

bài viết sâu sắc về các chủ đề văn hóa - văn nghệ của các dân tộc thiểu số miền núi

Trang 10

Cùng bàn về khía cạnh song đối giữa truyền thống và hiện đại, tác giả Lâm Tiến

với bài nghiên cứu Vấn đề hiện đại và truyền thống trong văn học các dân tộc thiểu số đăng trên Tạp chí Văn học năm 1992; bài nghiên cứu Văn xuôi miền núi và vấn đề

truyền thống - hiện đại của Phạm Duy Nghĩa

Nhấn mạnh tới khía cạnh bản sắc dân tộc được phản ánh qua các tác phẩm của

các tác giả người dân tộc thiểu số là bài viết Về bản sắc dân tộc trong sáng tác của các

nhà thơ dân tộc thiểu số của Nguyễn Duy Bắc

Một số tác giả có nhiều thành tựu khi mô tả về bối cảnh và con người miền núi

như Cao Duy Sơn với Ngôi nhà xưa bên suối, Người lang thang; thơ Y Phương …

Một công trình chuyên khảo với nhan đề Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam

hiện đại của tác giả Lâm Tiến, do NXB Văn hóa dân tộc ấn loát năm 1995, đã cung

cấp một cách khái quát nhất về những đặc trưng của văn học miền núi hiện đại, như đối tượng phản ánh, đặc trưng thể loại, cuộc sống và hình ảnh về miền

Ngoài ra cũng có thể kể tới các công trình nghiên cứu, các bài viết của tác giả Trần Thị Việt Trung về hình ảnh người phụ nữ dân tộc thiểu số trong văn học, thi ca

như: Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong thơ ca dân tộc và trong thơ mới (trước

năm 1945); Một số đặc điểm nghệ thuật xây dựng nhân vật phụ nữ dân tộc thiểu số trong sáng tác của Tô Hoài và Vi Hồng, Bản sắc dân tộc trong thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại

Sau thời kì đổi mới (1986), một cách tiếp cận trên bình diện lý luận và phê bình tác phẩm văn học được một số nhà nghiên cứu, phê bình chú tâm tới, đó là áp dụng lý thuyết phân tâm học vào nghiên cứu và phê bình văn học Tiêu biểu có thể kể đến các

công trình như tác giả Đỗ Lai Thúy với bài viết “Phê bình văn học Việt Nam: Nhìn

nghiêng từ phương pháp”(Nghiên cứu văn học Việt Nam những khả năng và thách thức, Nxb Thế giới (2009), HN, tr.41-96) và sau đó là cuốn sách “Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật”; tác giả Ngô Hương Giang với bài viết “Tiếp nhận phân tâm học ở Việt Nam 1975 đến nay nhìn từ lý thuyết và ứng dụng”; tác giả Cao Hồng với chuyên

luận “Một chặng đường đổi mới lí luận văn học Việt Nam (1986 – 2011)” do nhà xuất bản hội nhà văn ấn hành năm 2011; tác giả Trần Thanh Hà với “Học thuyết S.Freud và

sự thể hiện của nó trong văn học Việt Nam”…

Trang 11

Những đánh giá, nhận định về các tác phẩm của nhà văn Đỗ Bích Thúy, cho tới hiện tại vẫn khá khiêm tốn và mới chỉ dừng lại ở phạm vi là những bài viết, chia sẻ mang tính cá nhân, nhỏ lẻ, chứ chưa mang tính tổng quát và hệ thống xâu chuỗi Về cơ bản, có thể điểm xuyến qua một số bài viết như của nhà phê bình Nguyễn Hòa, khi ông

chắp bút viết lời giới thiệu cho tập truyện Những buổi chiều ngang qua cuộc đời của

Đỗ Bích Thúy, hay bài viết Về văn xuôi dân tộc và miền núi từ năm 1986 đến nay của

Phạm Duy Nghĩa cũng nhấn mạnh đến hơi thở mang tính thời sự trong các tác phẩm của Đỗ Bích Thúy

Tác giả Ngọc Ánh với bài viết nhan đề Nhà văn trẻ Đỗ Bích Thúy đánh thức

lòng nhân bản” [42] đã nói lên điểm hấp dẫn trong các tác phẩm của Đỗ Bích Thúy

như: cảnh sắc miền núi, đời sống sinh hoạt của các cộng đồng dân tộc thiểu số, số phận con người, sự trớ trêu của cảnh đời, nội tâm nhân vật…

Ngay sau tác phẩm Bóng của cây sồi xuất bản không lâu, trên báo Công an

nhân dân có bài viết nhận định rằng: “Ở vùng đất cực Bắc xa xôi heo hút gió, giờ đây

không còn là một miền sơn cước yên tĩnh nữa mà cộng thêm vào những hủ tục, lề thói

cổ xưa là những lành dữ, hay dở do cơn bão kinh tế thị trường hỗn tạp mang đến Những người trẻ tuổi, những đứa con sinh ra và lớn lên trên vùng đất đó sẽ sống và làm việc ra sao giữa sự giằng níu của những lề thói xưa cũ và sự đùn đẩy, tác động của cơ chế kinh tế thị trường hôm nay…Đỗ Bích Thúy trực diện viết về cuộc sống hôm nay trong sự cảm nhận chân thực của mình Qua những trang sách, vùng đất Lao Chải dần dà hiện rõ ra với cảnh sắc, con người, phong tục tập quán, những may rủi, buồn vui, tốt xấu hay dở đan cài nhau” [43]

Đặc biệt, phải kể đến bài viết của nhà văn Lê Hương Thủy với nhan đề Đường

đến văn chương của một người viết trẻ nhấn mạnh và lí giải về sự lôi cuốn và hấp dẫn

từ những tác phẩm của Đỗ Bích Thúy đối với độc giả, nhất là độc giả chốn thành thị Tạp chí Văn nghệ quân đội đánh giá và cho rằng Đỗ Bích Thúy là một hiện tượng hiếm của thế hệ những nhà văn trẻ bây giờ Nhà phê bình văn học Lê Thành Nghị

trong lời giới thiệu cho tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, xuất bản năm

2005, đã giành những lời nhận xét rất chính xác và tinh tế về những trang văn của Đỗ Bích Thúy, đó là sự mộc mạc, sống động, lôi cuốn, đầy màu sắc và thanh âm cuộc sống, đời người…

Trang 12

Nhà phê bình Đoàn Minh Tâm với bài viết nhan đề Tiểu thuyết của các cây bút trẻ

- đọc và cảm nhận [44] cũng đã nhấn mạnh tới khía cạnh nhẹ nhàng nhưng đầy sâu lắng

và nhân văn qua tiểu thuyết Bóng của cây sồi của Đỗ Bích Thúy

Luận văn thạc sĩ của tác giả Dương Thị Kim Thoa với chủ đề Tiếp cận sáng tác

của Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Bích Thúy từ phương diện giá trị văn học - văn hóa đã

khái quát và chỉ ra những hình ảnh cô đặc nhất trong các tác phẩm của Đỗ Bích Thúy -

đó là thân phận con người trong khung cảnh và sự vận động đổi thay của miền núi phía Bắc [26]

Tuy nhiên, có thể nhận thấy, việc đi sâu vào mô tả và phân tích trạng thái tâm

lý, nội tâm của các tuyến nhân vật trong các tác phẩm của Đỗ Bích Thúy vẫn còn là một mảng mỏng, chưa được nhấn mạnh và nhận định đánh giá như một trạng thái cốt lõi phủ suốt toàn bộ các tác phẩm, câu chuyện của nhà văn Bởi thế, từ việc kế thừa những nghiên cứu trước đó, tác giả luận văn muốn mở rộng và ít nhiều vun góp thêm vấn đề này, hòng mong tham gia tạo dựng chung, đầy đủ và đa diện về sự độc đáo - đặc biệt qua các tác phẩm của Đỗ Bích Thúy

3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Với hướng tiếp cận nêu trên của luận văn nên đối tượng nghiên cứu mà luận văn hướng đến là hình ảnh người phụ nữ miền núi được phác dựng và phản ánh qua những sáng tác của Đỗ Bích Thúy

3.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Cuộc đời, số phận của những nhân vật nữ trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy

- Những ẩn ức mang tính nhân loại và sắc thái riêng của tộc người và miền đất

- Nét phong cách trong văn chương Đỗ Bích Thúy

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê phân loại

Từ việc tiếp cận các tác phẩm, chúng tôi thống kê, phân loại các nhân vật để từ

đó có cái nhìn khách quan, khoa học trong đánh giá

Trang 13

- Phương pháp so sánh - đối chiếu

So sánh đối chiếu để tìm ra sự khác biệt cũng như tạo ra sự chính xác cao cho công trình nghiên cứu So sánh để làm nổi bật nét riêng biệt, phong cách nghệ thuật, đổi mới cách thể hiện của nhà văn Đỗ Bích Thúy với nhiều nhà văn khác

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp liên ngành khác như: tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hóa để khám phá triệt để dấu ấn văn hóa miền núi Đông

Bắc trong các sáng tác của Đỗ Bích Thúy

5 Phạm vi nghiên cứu

Những sáng tác của Đỗ Bích Thúy từ trước tới nay, có đề cập tới hình ảnh người đàn bà miền núi

6 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm ba phần: mở đầu, nội dung và kết luận Trong đó phần nội dung được triển khai thành ba phần chính như sau:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2 Những cảm hứng ẩn ức nữ tính trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy Chương 3 Một số cách thức thể hiện ẩn ức nữ tính qua sáng tác của Đỗ Bích Thúy

7 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp thêm một tiếng nói về những ẩn ức nữ tính qua sáng tác của nhà văn Đỗ Bích Thúy Qua đó khẳng định nét độc đáo trong phong cách văn chương của

Đỗ Bích Thúy

Luận văn cũng là một tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tiếp theo

về Đỗ Bích Thúy

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Khái niệm ẩn ức và ẩn ức trong tâm lý học

1.1.1 Khái niệm ẩn ức

Trong đời sống của mình, loài người luôn phải đối diện và đương đầu với muôn vàn những vấn đề nảy sinh Gắn liền với thực tiễn đời sống đó, con người bắt buộc phải đưa ra được lựa chọn, giải quyết Với ứng xử của từng cá nhân trước thực tiễn, sẽ

có hai chiều hướng: một là được sự chấp nhận và đồng tình của chính cá nhân và cộng đồng, xã hội; hai là đi lệch với quan điểm vốn được chấp nhận của cộng đồng và xã hội Con người cá nhân trong suốt cuộc đời mình phải chọn lựa, vật lộn trong hai thái cực đó

Con người cũng là sản phẩm tiến hóa vượt trội nhất trong muôn loài trên trái đất, tức ngoài cái “bản năng” sinh học như vạn vật, thì cái làm nên sự vượt trội, chính

là yếu tố “người” - tức trạng thái xã hội, đạo đức, chuẩn mực, nhân cách Giữa “bản năng” sinh học và “yêu cầu” xã hội luôn luôn tương tác với nhau, phối hợp với nhau theo hai chiều, khi thì thúc đẩy nhau cùng song hành tồn tại và phát triển, khi thì lại xảy ra quá trình tranh đấu, đối lập, triệt tiêu lẫn nhau Quá trình và trạng thái ấy được quy nạp cô gọn về hai thái cực đó là “vật chất” và “tinh thần”, đồng thời cũng là những chất liệu quan trọng bậc nhất của cuộc sống mà loài người luôn mưu cầu

Với sự tồn tại của mình trong thực tế đời sống, loài người luôn có hai trạng thái

cơ bản, đối lập nhau: hài lòng và không hài lòng, hay nói cách khác là thỏa mãn và không thỏa mãn Tất cả những trạng thái đó phản ánh cô đặc, sâu đậm nhất trong suy nghĩ và não bộ con người được thể hiện qua tâm lý, hành động và những biểu hiện của

họ Ở trạng thái nhứ nhất, sự hài lòng, thường đi kèm với tâm lý thỏa mãn, hưng phấn, hạnh phúc, tự tin; ở trạng thái thứ hai, không hài lòng, sẽ nảy sinh sự ức chế, buồn bã,

cô đơn, thậm chí xấu hổ, tủi nhục Nếu so sánh hai trạng thái trên, gây dấu ấn đậm sâu nhất, dai dẳng nhất trong tâm trí con người, chính là tâm lý tiêu cực, sự ức chế Trong tâm lý tiêu cực, ức chế của con người, mãnh liệt nhất chính là ẩn ức

Trang 15

Về giới thuyết khoa học, người ta định nghĩa ẩn ức tức là những cảm xúc tiêu cực xuất hiện lặp đi lặp lại, không được nhận thức, không được chấm dứt hoặc chuyển hóa, dẫn đến tích dồn theo thời gian Ẩn ức để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm trí con người, có tác động nhất định đến tâm lý và phép ứng xử cá nhân Nói cách khác, ẩn ức

là trạng thái các khuynh hướng bị ngăn trở, không thực hiện được, trở thành một thứ xung động nội tâm, được gọi là refoulement Ẩn ức ví như dòng nước bị chặn lại, hay giống như quả bóng ngày một bơm căng, không dừng lại

1.1.2 Ẩn ức trong tâm lý học

Ẩn ức là một hiện tượng tâm lý học đặc biệt của con người Ẩn ức liên quan tới

sự ức chế tâm lý, hay thần kinh của con người Việc chữa bệnh suy nhược thần kinh bằng phương pháp phân tích tâm lý (qua sự dồn nén và ẩn ức tinh thần, tâm lý) được Freud gọi là phân tâm học (Psychoanalysis) Theo cách lý giải của các nhà tâm lý học,

mà tiêu biểu là Sigmund Freud (1856 - 1939) thì trạng thái ẩn ức mang những đặc điểm cơ bản sau:

Freud cho rằng, hệ thống vô thức trong con người thể hiện những xung năng, dục vọng, bản năng sống Nội dung chính của chúng là những thèm muốn tính dục mãnh liệt nhưng lại bị ý thức xã hội (biểu hiện bởi những cấm đoán của xã hội) kiềm chế Vì vậy, con người thường xuyên xuất hiện lo âu, ức chế và các trạng thái loạn tâm thần Có khi chúng được thỏa mãn giả vờ thông qua các hình thức mộng mị, nói nhịu, viết nhầm…hoặc được thăng hoa dưới các hình thức như những khát vọng, tình cảm cao thượng, sự say mê tôn giáo, khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuật, âm nhạc…

Về quá trình hình thành nhân cách con người, nguyên khởi được tạo dựng qua

sự tương tác phức hợp giữa các xung năng (driven) với những kinh nghiệm thời ấu thơ của mỗi cá nhân Sau này, mọi biểu hiện và hành vi của con người đều là kết quả của cách nuôi dạy, đối xử của bố mẹ, cộng đồng, khi họ còn bé, nhất là trong 5 năm đầu tiên của cuộc đời Freud cho rằng, con người tiếp tục thỏa mãn những mong muốn của

họ trong tương lai bằng quá trình tương tác với người khác Tâm lý con người được tạo thành bởi ba thành tố là: bản năng vô thức; cấu trúc nhân cách và cơ chế tự vệ

Trang 16

Bản năng vô thức là phần sinh học tự nhiên mà con người được kế thừa, là thứ hình thành trước nhất, bản năng thuộc về vô thức, tức nằm ngoài sự kiểm soát của con người Trong bản năng, lại chia ra làm hai loại là bản năng sống và bản năng chết

Tiếp nữa là cấu trúc nhân cách, được cấu thành bởi ba yếu tố: Nó (Id), Cái tôi (Ego), Cái siêu tôi (Super Ego) Ba yếu tố này được sản sinh và phát triển khi con người được 5 tuổi, luôn luôn vận động và tương tác với nhau, chi phối rất lớn, thậm chí tạo ra “cá tính” riêng cho từng cá nhân Yếu tố Nó tồn tại và vận động theo nguyên tắc thỏa mãn, yếu tố cái Tôi lại theo nguyên tắc thực tiễn, còn yếu tố siêu Tôi lại tuân theo nguyên tắc kiểm duyệt Như thế, trong ba yếu tố này, nổi lên mâu thuẫn giữa cái

Nó và cái siêu Tôi, mẫu thuẫn này dẫn tới trạng thái tâm lý đặc trưng của con người,

đó là sự căng thẳng, ức chế thần kinh Sự căng thẳng hay ức chế về thần kinh là đỉnh điểm, là điểm nút trong tâm lý con người, đòi hỏi phải được chuyển hóa và khai phóng Để thoát khỏi trạng thái đó, con người cần có những cơ chế tự vệ để tạo được

sự cân bằng trong tâm lý

Cơ chế tự vệ của bản thân con người khá đa dạng và theo những chiều hướng khác nhau, mỗi một chiều hướng lại có những biểu hiện và kết quả khác nhau Đó

là sự dồn nén, sự phóng chiếu, sự chối bỏ, sự thoái bộ, tạo lập phản ứng, phá bỏ, thăng hoa và mơ mộng

Cũng theo cách lí giải của Freud, nhân cách con người phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn ứng với độ tuổi và môi trường được nuôi dưỡng

Như thế, với tám cơ chế tự vệ của con người để giải quyết những xung năng dồn nén kia ẩn ức thường gắn với cơ chế thứ nhất, đó là sự dồn nén, mang tính vô thức Cơ chế tự vệ này mang tính bản năng, nằm ngoài lý trí của con người Cũng với

sự đa dạng của “loại thức” xung năng, của đối tượng cá thể, của cách lựa chọn cơ chế

tự vệ mà tạo nên sự đa dạng, đa diện của biểu hiện con người, thầm kín dằn vặt, loạn tâm, loạn thần, dâm loạn, chối bỏ thực tại, hoặc sáng tạo nên những giá trị độc đáo về nghệ thuật, âm nhạc, văn học - nhờ những thăng hoa tâm lý

1.1.3 Phân tâm học và văn học nghệ thuật

Mỗi con người là một tổ chức tâm thần phức hợp Đối diện với thực tại đầy phức tạp và biến động không ngừng nên con người ai cũng có xung đột nội tâm Đó là

Trang 17

đời sống tinh thần phong phú, với những xung đột, tình cảm xúc động, thất vọng, thỏa mãn, lo sợ và hy vọng Cái thế giới này không có thực ngoài đời, không cụ thể, không nhìn được, ấy là thế giới nội tâm mà phân tâm học gọi là thực thể tâm thần

Nghệ thuật với các ngành của nó như điêu khắc, hội họa, văn học, điện ảnh… là của con người, do con người sáng tạo nên, từ con người, cho con người Cần thấy rằng, con người không chỉ là cái nhìn thấy ở bề ngoài của nó, mà còn là nguồn gốc sâu

xa và kín đáo trong mỗi cá nhân Nguồn gốc sâu xa và kín đáo ấy tạo nên văn hóa, mĩ cảm của nghệ thuật Nhờ vậy, phân tâm học đưa ra một cách nhìn mới mẻ làm sâu sắc hơn nghệ thuật

Người nghệ sĩ khi thực hiện sáng tạo nghệ thuật đã thể hiện sắc màu vô hình này của thực thể tâm thần của chính bản thân họ để tạo nên tác phẩm nghệ thuật Trước hết, nó là sự thỏa mãn riêng của mình, là giải thoát những day dứt và bó buộc của thực tế Ước vọng của nghệ sĩ trước hết là của chính họ Nó trở nên tác phẩm nghệ thuật nghĩa là ước vọng đó là của người nghệ sĩ chân chính, nghĩa là người nghệ sĩ với tài năng của mình đã biến đổi những gồ ghề, thô ráp của mộng mị mê sảng, dùng kỹ thuật thẩm mĩ để che giấu được nguồn gốc cá nhân của sáng tạo và trình bày lại dưới một hình thức khác gọi khoái cảm Đó là nghệ thuật

Văn học là một ngành quan trọng của nghệ thuật Quá trình hình thành và phát triển của nó đã được nghiên cứu từ rất lâu Lịch sử nghiên cứu và phê bình văn học đã

có truyền thống với sự phong phú và đa dạng của các hình thức như văn học sử, nghiên cứu lịch đại và đồng đại, nghiên cứu so sánh, nghiên cứu xã hội học, nghiên cứu liên văn bản, nghiên cứu tiếp nhận , nhưng đến khi phân tâm học ra đời thì nó mang một sắc thái và diện mạo mới - sâu sắc hơn, phong phú hơn, đầy đủ hơn (Mặc dù khởi thủy của phân tâm học là phương pháp chữa bệnh thần kinh Về sau chính Freud cũng lấy làm ngạc nhiên bởi hiệu quả của nó trong khi ứng dụng vào nghiên cứu và phê bình văn học)

Phân tâm học coi tác phẩm văn học là một thế giới gồm tác giả, người đọc, nhân vật, hiện tượng (phenomens) được nhà văn, nhà thơ xây dựng trong đó, có đời sống riêng với những quy luật tâm lý riêng, cá biệt không trộn lẫn nhau trong quá trình phát triển Trong thế giới này, tất cả mọi chi tiết, sự kiện đều được coi là những biểu

Trang 18

tượng phản ánh những ước muốn và những vô thức bị dồn nén của tác giả Cái vô thức này là một cõi riêng, một phần trong cấu trúc tâm thức của mỗi con người - nơi chứa đựng những xung lực bản năng Những xung lực bản năng và mơ ước bị dồn nén luôn luôn có xu hướng "trồi" lên vùng ý thức dưới những hình thức ngụy trang, qua các cách thức khác nhau, trong đó nhiều nhất là ở những giấc mơ, hoài niệm, qua ngôn ngữ nhân vật, hiện tượng được nhà văn tạo nên, nói nhịu, nói tục, nói với những từ ngữ

vô nghĩa, trắng nghĩa, không có thông tin cho đối tượng nghe Trong đó giấc mơ, tuổi

ấu thơ, người mẹ (căn cốt đầu tiên của bào thai) là cửa mở đi vào vô thức

Vì vậy phân tâm học coi tác phẩm văn học là một giấc mơ, là sự thăng hoa bất chợt, bất ngờ của ẩn ức có trong vô thức của thời ấu thơ và tìm cách lí giải nó

Hoạt động của giấc mơ - cũng như của tác phẩm văn học - có thể được tóm gọn vào hai quá trình chính: "dồn nén" và "hoán vị" Trong quá trình "dồn nén", vô số các ước mơ, các ẩn ức và các mặc cảm khác nhau sẽ được kết tập vào một hình thức biểu hiện nhất định Sau đó, trong quá trình “hoán vị”, hình thức biểu hiện này sẽ được ngụy trang, tức được hoán chuyển sang một hình thức khác phù hợp với các quy ước đạo đức và văn hóa của xã hội Hai quá trình "dồn nén" và "hoán vị" này tương tự hai cấu trúc "ẩn dụ" (dồn nén ý nghĩa lại theo nguyên tắc tương đồng) và "hoán dụ" (hoán chuyển ý nghĩa này sang ý nghĩa khác theo nguyên tắc tương cận) mà Roman Jakobson đã phát hiện như hai trục chính trong sinh hoạt ngôn ngữ nhân loại Trong khi Freud hay nói đến bản năng và những xung lực từ vô thức, Lacan lại hay nói đến những ước mơ Với ông, ước mơ là cái gì có tính bản thể luận, một cuộc đấu tranh nhằm vươn lên cái toàn thể hơn là gắn liền với những xung lực tính dục Mọi ước mơ đều gắn liền với sự thiếu hụt Ngay chính ngôn ngữ con người cũng hoạt động trên sự thiếu hụt ấy: điều kiện để từ ngữ có ý nghĩa là sự vắng mặt của cái được biểu đạt và sự loại trừ vô số những cái biểu đạt khác

Trong việc áp dụng phân tâm học vào lĩnh vực nghiên cứu và phê bình văn học, cũng xảy ra một số khó khăn, thậm chí vướng mắc về việc lí luận, thậm chí là lên

án việc áp dụng này Điển hình trong quan điểm chống lại phân tâm học ứng dụng là

tác giả Pierre Bayard trong cuốn sách Liệu có thể áp dụng văn học vào phân tâm học?

(Minuit, 2004)

Trang 19

Nhưng dù có nhiều trường phái và quan điểm khác nhau thế nào, trong thực tế

đã từ lâu, diễn giải theo hướng phân tâm học về văn bản văn học vẫn được các nhà phê bình văn học sử dụng Phân tâm học trong văn học thường được thực hiện theo các cách cơ bản sau: Hoặc là tiến hành phân tâm tác giả (phân tâm tiểu sử, phân tâm phê bình); hoặc là tiến hành phân tâm nhân vật, khi đó ít nhiều người ta xem nhân vật như

là những con người thực; hoặc là hình dung rằng sẽ có một “vô thức của văn bản” thuộc về tác phẩm Trong đó, hai trường phái chính là trường phái làm việc trên tác giả, tiểu sử tác giả và trường phái tập trung vào văn bản Trong luận văn của mình, chúng tôi kết hợp cả hai trường phái trên Trong đó, tác giả, tiểu sử tác giả sẽ là một trong những cơ sở nền để chúng tôi đi vào phân tâm nhân vật, để tìm ra những ẩn ức vừa là của chính tác giả, vừa là của những con người tác giả gặp, đồng cảm trong cuộc đời của mình

1.1.4 Sự khác biệt giữa ẩn ức với các trạng thái tâm lý tiêu cực khác

So với một số trạng thái tâm lý tiêu cực như: hoang mang, đau khổ, xấu hổ, nhục nhã, lo lắng, tức giận… thì ẩn ức khác biệt hoàn toàn so với các trạng thái đó Những trạng thái nêu trên chỉ là một khía cạnh, một lát cắt rất nhỏ trong cuộc sống và tâm lí con người Cuộc sống luôn vận động và biến đổi, chuyển hóa, các trạng thái đó cũng chuyển hóa theo, nó giống như cung bậc phải có trong cuộc sống, con người phải đối mặt, phải trải qua Hoang mang hay lo lắng thì cũng có thể chấm dứt và chuyển sang an tâm, bình thản khi được giúp đỡ, động viên, được lắng nghe và chia sẻ Đau khổ cũng có thể được xoa dịu qua thời gian, qua sự cứng cỏi và từng trải của bản thân, của hoàn cảnh và môi trường mới, bởi niềm tin và hi vọng Xấu hổ và nhục nhã cũng

có thể giảm cường độ và rơi vào quên lãng khi được phủ bởi lớp bụi thời gian, bởi sự lắng xuống của dư luận và mối quan tâm của những người xung quanh, hay sự chủ động thay đổi không gian và môi trường sống của chủ thể Tức giận cũng sẽ nhanh chóng trôi đi, bởi nó cũng chỉ là cảm xúc nhất thời, sự bình tâm và tha thứ sẽ khỏa lấp

Trong khi đó, vượt lên trên tất cả, phép cộng của tất cả, ẩn ức là trạng thái vĩnh viễn, giam hãm, thường trực trong tâm trí, khiến cho con người không có lối thoát, không tự giải thoát được cho bản thân, cũng không có ai có thể chia sẻ và giúp đỡ được mình Ẩn ức như một khối u tâm thức, ngày ngày xuất hiện, án ngữ trong tâm trí, lớn dần lên, tích tụ lại và đè xuống hơi thở, nhịp đập, mạch sống con người Khối u

Trang 20

này không ác tính tới mức giết chết thân chủ của nó ngay lập tức về mặt sinh học, nhưng lại dần dà và từ từ đốt cháy, bóp nghẹt, quây kín tinh thần của thân chủ, tạo nên

sự dằn vặt vĩnh viễn về tinh thần Cơ thể sinh học của thân chủ dù có khô héo đi, còng quại đi nhưng vẫn tồn tại theo thời gian đời người, nhưng linh hồn và sức sống tinh thần thì ngày một lụi tàn và khô kiệt Ẩn ức tạo nên cơn hấp hối tinh thần trên cái giá thể hình hài con người, khiến con người luôn luôn ở trong trạng thái dằn vặt, mâu thuẫn nội tâm, không thể đưa ra sự lựa chọn, không thể diễn đạt thành lời, cũng chẳng thể sẻ chia, không thể quyết liệt Khốc liệt hơn, ẩn ức càng trải qua thời gian, càng tích

tụ và khổng lồ hơn, sức nặng hơn, và ẩn ức còn tạo nên cơ chế di truyền, mang tính kế thừa cho thế hệ sau, ẩn ức không cho phép gột rửa, thanh lọc hay làm mới

1.1.5 Ẩn ức hình thành trong những điều kiện, hoàn cảnh nào?

Con người sinh ra và lớn lên qua trục thời gian và về mặt sinh học, còn nhân cách và tâm lý của con người được tạo dựng và sản sinh trong môi trường và không gian phức tạp hơn rất nhiều, có thể là không gian sinh tồn, không gian gia đình, không gian dòng họ, không gian làng bản, vùng đất, là sự lựa chọn của bản thân vào những thời khắc khác nhau, ngả rẽ khác nhau của cuộc đời, mà mỗi thời khắc đều phải đưa ra lựa chọn và phải nhận kết quả từ sự lựa chọn đó Không dừng lại ở đó, quan niệm và định quy của xã hội, của cộng đồng người, cũng mặc định và chi phối mạnh mẽ nhân cách và tâm lí con người Như thế, có hàng loạt những nhân tố tác động, những môi trường và không gian mang tính khách quan, nằm ngoài sự chủ động và mong muốn của con người, tương tác lên bản thân con người, tham gia vào quá trình tác tạo khuôn diện, nhân cách và tâm lí con người Bắt theo quá trình đó, là một kết quả của quá trình đó, ẩn ức nảy sinh và hình thành, gắn chặt với hơi thở và bước chân sinh tồn của

xã hội loài người Ẩn ức có rất nhiều “môi trường dinh dưỡng” để nảy sinh: những bí mật riêng tư, từ niềm hạnh phúc không danh chính, hay từ nỗi đau, những đớn hèn, những mặc cảm, thậm chí là những giày vò về tội lỗi có thể là của mình, của người thân, hay của những người liên quan trực tiếp đến đời sống của mình

1.1.6 Nhận diện ẩn ức

Ẩn ức có rất nhiều dạng thức và biểu hiện tồn tại: Có thể là ẩn ức về cái nghèo truyền kiếp; ẩn ức về thân phận thấp hèn; ẩn ức vì phải chịu khiếm khuyết tự nhiên của

Trang 21

tạo hóa, khiến bản thân mình không làm tròn hay hoàn thành được những đặc điểm của loài người; ẩn ức vì sự lựa chọn sai lầm của bản thân mà mình không có cơ hội sửa chữa hay thay đổi; ẩn ức vì không thể tự đưa ra quyết định hay sự tồn tại của bản thân trong tương lai; ẩn ức vì số phận nghiệt ngã của bản thân do bị xã hội chà đạp, coi thường, xem nhẹ; ẩn ức tình dục (libido)…

1.2 Vấn đề ẩn ức nữ tính

Điều kiện và hoàn cảnh môi trường luôn là nhân tố chính tác động lên cuộc sống con người và biểu hiện trạng thái cảm xúc, tâm lí của họ Xã hội loài người luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng, bởi thế, những nhân tố, hay nói cách khác là hệ giá trị chuẩn mực, cái nhìn và lối suy nghĩ của tập thể, cộng đồng cũng vận động và biến đổi theo Theo chu trình đó, những trạng thái ẩn ức cũng thay đổi qua thời gian Mỗi một xã hội, một không gian văn hóa cộng đồng, tộc người lại có một sự nhìn nhận, một mặc định riêng về cách hành xử của con người, thế nên trạng thái ẩn ức của mỗi cá nhân sống trong khung cảnh đó cũng khác nhau, và phản ánh

rõ nhất những đặc trưng của không gian và môi trường đó Con người luôn luôn có một bản năng được tôi rèn, đó là sự thích nghi với hoàn cảnh, theo kiểu “ở bầu thì tròn - ở ống thì dài”, hay “đi với bụt mặc áo cà sa - đi với ma mặc áo giấy” Song thực tiễn cuộc sống là muôn vàn những khó khăn khôn lường, và con người không phải lúc nào cũng thành công trong sự thích nghi đó Sự thất bại, không như ý luôn tiềm ẩn, và đến một mức độ nào đó là trạng thái tiêu cực, ức chế tâm lý, dồn nén, tích

tụ, cuối cùng là ẩn ức

Tùy vào từng đối tượng, giới tính, mà hình thành lên những kiểu loại ẩn ức khác nhau Từ xưa, xã hội đã phân biệt và mặc định những nhiệm vụ và thiên chức khác nhau cho con người theo giới tính, lứa tuổi, địa vị…Thế nên, ở mỗi đối tượng lại tồn tại và phải chịu những kiểu dạng ẩn ức khác nhau Đàn ông có ẩn ức của đàn ông,

ví như chưa thỏa chí “công chưa thành - danh chưa toại”, làm trai phải trả nợ “núi sông”, ẩn ức là “quốc thù vị báo đầu tiên bạch - kỷ độ long tuyền đới nguyệt ma”…Và phụ nữ cũng có những ẩn ức của riêng mình

Điều đặc biệt, xã hội loài người vận động và tiến hóa khởi đầu từ chế độ mẫu hệ

- tức vai trò chủ đạo của những người phụ nữ Nhưng càng về sau, chế độ phụ quyền

Trang 22

soán vị, lấn át và đè nén, thậm chí thủ tiêu vai trò và những kiến tạo khởi nguyên của người phụ nữ Xã hội tạo nên hàng loạt những chuẩn mực, điều kiện khắt khe, nhằm

bó chặt người phụ nữ lại, bắt họ phải phục tùng, quy thuận và sống ngột ngạt trong tầng tầng lớp lớp những luân lý, định quy Người phụ nữ vốn có sẵn thiên tính tự nhiên

là phái yếu, thế nên những lấn át kia lại càng có cơ hội tác động lên gấp bội, người phụ

nữ phải chịu nhiều khổ cực, tủi nhục, và cao hơn cả là ẩn ức trong đời sống của mình

Trong thời phong kiến, với tư tưởng trọng nam khinh nữ, những người phụ nữ

bị xem nhẹ, coi thường, xã hội và hệ luân lý không bênh vực quyền lợi của người phụ nữ…vì thế ẩn ức của người phụ nữ thời phong kiến là sự kìm nén, chịu đựng, hi sinh,

là cái bóng lu mờ, luôn luôn đứng sau người đàn ông, họ không có tiếng nói và quyết định số phận tương lai của mình, thậm chí không được phép nói lên suy nghĩ và mong muốn của bản thân, không được phép bày tỏ cảm xúc Ẩn ức của họ bộc lộ qua câu ca dân gian, ví như “tấm lụa đào”, “giếng giữa đàng”, “hạt mưa sa”…rồi là sự nghiệt ngã của chế độ đa thê: “chém cha cái kiếp lấy chồng chung - kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng”, “đàn ông lấy năm bảy vợ - gái chính chuyên chỉ có một chồng” Số phận của họ luôn gắn chặt với “tam tòng - tứ đức”, họ bị coi là giới không thanh sạch, thế nên không được phép tiếp cận bàn thờ tổ tiên, không được tiếp khách, hay ngồi cùng mâm

Có hàng loạt những tác phẩm văn học thời kỳ này, mô tả và phản ánh những đặc trưng

và trạng thái ẩn ức bấy giờ, mà người phụ nữ phải chịu đựng như: Chuyện người con

gái Nam Xương- Nguyễn Dữ, thơ Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều- Nguyễn Du, Chinh phụ ngâm khúc- Đặng Trần Côn- Đoàn Thị Điểm, Cung oán ngâm khúc- Nguyễn Gia

Thiều…

Bước sang thời hiện tại, xã hội đã đổi thay nhiều, và nhất là kết quả từ quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa Đông - Tây, với trào lưu tư tưởng dân chủ, giải phóng cá nhân, tư tưởng bình đẳng giới, những rào cản đè nén người phụ nữ cũng đã được xóa

bỏ đi rất nhiều, thân phận người phụ nữ đã được xã hội nhìn nhận công tâm hơn, nữ quyền được đề cập tới nhiều hơn Tuy thế, những người phụ nữ trong thời kỳ này vẫn phải gánh chịu những ẩn ức nặng nề, vốn có sức nặng của định kiến, vốn bắt rễ rất chặt vào quá khứ Nổi lên hơn cả là sự lấn át của người đàn ông, khiến người phụ nữ bị hạ thấp vai trò của mình trong gia đình, họ vẫn phải tuân phục chồng, không có tiếng nói riêng, vai trò của họ được mặc định là phải giàu đức hi sinh và khả năng chịu đựng, họ

Trang 23

phải làm tròn bổn phận của mình là sinh nở và nuôi dạy con cái Từ hệ lụy gia đình, tới ngoài xã hội, vai trò và sự đóng góp của người phụ nữ bị xem nhẹ, họ bị coi thường và hạn chế tham gia vào các hoạt động xã hội, họ bị mặc định là phải gắn với sinh nở, nuôi dạy con cái, bếp núc nội trợ, vun vén gia đình, còn việc xã hội là không gian của người đàn ông Hiện tại, người phụ nữ phải chịu sự giằng xé, đòi hỏi của thực tại là vừa phải làm tròn thiên chức của người phụ nữ, người mẹ, người vợ, người con trong gia đình, lo cho họ mạc, lại vừa phải năng động trong hoạt động xã hội, phải tham gia vào quá trình kiếm tìm vật chất, lo cơm áo gạo tiền…Đã có hàng loạt những tác phẩm

văn học nói lên trạng thái ẩn ức của người phụ nữ trong giai đoạn này như: Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Tắt đèn của Ngô Tất Tố hay những trang viết của Tô Hoài,

Võ Thị Hảo, Trần Thùy Mai, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy, Hoàng Thị Cành…

Với vị trí và vai trò to lớn của mình, cùng những đặc trưng “tính nữ” thiên bẩm,

ẩn ức mà những người phụ nữ phải gánh chịu, phải mang và vận vào mình vì thế cũng

có điểm đặc biệt, thậm chí là riêng biệt nếu so sánh với “tính nam” Phụ nữ vốn mang thiên tính nước, mềm mại và uyển chuyển như nước, vì thế mà bao dung độ lượng, cũng như có một sức mạnh cam chịu ghê gớm Hơn nữa, họ không sống cho riêng bản thân mình được, bởi thiên tính “mẹ”, tức nắm giữ trọng trách “nhận”, “gìn giữ”, “sản sinh” ra thế hệ tương lai, hay nói cách khác là người kiến tạo tương lai - tức đứa trẻ, luôn là máu mủ của mình Thế nên, dù tủi nhục và khổ đau tới nhường nào, họ cũng không được phép rũ bỏ, chấm dứt những “thiên tính” đó, tự bản thân họ luôn tồn tại một trạng thái ý thức mang tính bản năng đó Bởi thế, khi gặp trắc trở trong cuộc sống,

họ vẫn phải sống và cam chịu, tức họ phải chịu mang một cục “bướu” những ẩn ức bên mình, cục bướu đó sẽ ngày càng to lên

So với người phụ nữ, đàn ông và những ẩn ức của họ dễ phá hơn, cường độ và

sự ràng buộc cũng không khốc liệt bằng Hơn thế đàn ông còn có lợi thế được ấn định

là lực lượng cởi mở hơn, được xã hội ưu ái hơn, là giới động hơn…vì thế họ không chịu sự quy phạm chặt chẽ của định kiến xã hội và luân lý chuẩn mực, họ hoàn toàn có quyền thực thi việc rũ bỏ, thay đổi lựa chọn, kết thúc tình trạng, đưa ra thái độ và cách ứng xử cho những tình huống tiêu cực đó…họ rũ bỏ và đùn đẩy cho người phụ nữ, họ nghĩ và mặc định trong tâm lý rằng, đó là quyền bản năng của mình

Trang 24

Trong dòng chảy của sự đổi thay xã hội, mỗi vùng miền lại có một đặc điểm và tốc độ riêng, vì thế những con người sống trong không gian môi trường đó cũng phải tuân thủ quy luật này Khu vực miền núi bao giờ cũng có tốc độ phát triển chậm hơn

so với đồng bằng, tức sự đổi thay cũng chậm lại, như thế cái cũ vẫn còn chiếm thế Trong không gian cũ ấy, luôn luôn tiềm ẩn, song hành hai tư tưởng đối lập, đó là tích cực và tiêu cực nhưng dường như cái tiêu cực lại dai dẳng hơn, bủa vây và phủ trùm lên số phận con người miền núi Hằng số chung cho khía cạnh dai dẳng này ấy là chìm đắm trong nghèo nàn, lạc hậu, hạn chế về trình độ và điều kiện tiếp xúc với thế giới bên ngoài, những tập tục cũ kĩ không còn phù hợp, những định kiến xã hội lầm lạc…bủa vây thân phận của những người tồn tại trong nó, và nặng nề nhất là những người phụ nữ miền núi

Trước kia, khi nhắc tới hình ảnh về người phụ nữ miền núi, cùng những tủi khổ

và ẩn ức của họ, ai ai cũng liên tưởng tới nhân vật Mỵ trong Vợ chồng A Phủ của Tô

Hoài, được khắc họa vào những năm năm mươi của thế kỉ trước Tuy nhiên, Mỵ cũng chỉ là người phụ nữ đại diện cho một góc cạnh nhỏ của không gian và đời sống thực tế

mà thôi Liệu rằng còn có những số phận nào nghiệt ngã hơn, những ẩn ức nào chất

chứa hơn ẩn ức của Mỵ không? Nhưng xét cho cùng, ẩn ức của Mỵ là “con rùa lùi lũi

trong xó cửa”, là bị cưỡng đoạt tình yêu lứa đôi, bị đối xử tệ bạc, nhưng cuối cùng, hứa

hẹn một lối thoát cho Mỵ, khi cô bỏ trốn cùng A Phủ và đi theo cách mạng Trong thực

tế, người phụ nữ miền núi còn phải chịu hàng loạt những ẩn ức khác nữa, đó là gánh nặng gia đình, tình thương của người mẹ, đường con cái, trở thành góa phụ khi còn quá trẻ, những định kiến nghiệt ngã của môi trường xã hội…và họ không có lối thoát

Miền núi là nơi xa xôi hẻo lánh, địa hình trắc trở, thế nên môi trường tách biệt, độc trị, và cũng chẳng có công lý, chẳng có ai quan tâm tới những số phận nghiệt ngã trong đó, nhất là số phận của những người phụ nữ Không có lực lượng nào đứng ra bênh vực và bảo vệ những người phụ nữ, bởi tất cả đều nằm dưới sự bao trùm, quy phục của “thần quyền” và “thế quyền”, thân phận con người được quy đổi bằng những đồng bạc trắng lạnh ngắt, vô cảm Ngay cả trong chính cái nội bộ đặc trưng văn hóa tộc người, cũng tự khắt khe và hà khắc với số phận của người phụ nữ, tức ngay trong chính không gian được coi là gần gũi nhất của mình, người phụ nữ cũng bị khinh rẻ Như vậy, có thể thấy, người phụ nữ miền núi phải chịu bủa vây của tầng tầng lớp lớp

Trang 25

những hệ luân lý, những định kiến mặc định, mà lớp nào cũng có công năng như nhau,

bổ khuyết cho nhau, nếu không phải trong gia đình thì là họ tộc, xa hơn là hàng xóm,

là tộc người, là chiều sâu và sức nặng của định kiến…Thân phận của người phụ nữ luôn bó buộc trong đó, ẩn ức bắt vào đó để nảy sinh và tích tụ

1.3 Việc khai thác và phản ánh trạng thái ẩn ức trong lịch sử văn học Việt Nam

Xét cho cùng, mọi lĩnh vực sáng tạo của loài người, cũng đều hướng tới mục đích phục vụ chính cuộc sống con người Hoàn cảnh và môi trường đa dạng, nhu cầu con người càng phức tạp, thêm nữa đặc tính cố hữu của loài người là muốn khẳng định mình, muốn cất tiếng nói trong cái không gian xã hội đầy phức tạp ấy Trong hàng loạt những lĩnh vực sáng tạo, những “kênh” truyền tải của con người thì đời sống văn học

là sự cô đọng, là phương tiện được sử dụng phổ biến và hiệu quả nhất Những tác phẩm văn học lấy cảm hứng và bối cảnh, chất liệu từ chính cuộc sống, con người, để khai thác, phản ánh “thực tại xã hội” và chính chủ nhân của cái thực tại đó Chất liệu càng phức tạp, càng gồ ghề góc cạnh thì sản phẩm càng độc đáo và đặc biệt Sức hấp dẫn và nhân văn nhất trong các tác phẩm văn học xưa nay, chính là khai thác chiều sâu nội tâm nhân vật, nhất là những nhân vật có “hoàn cảnh” đặc biệt, vượt ra khỏi cái khung cảnh trung bình chung của xã hội của cộng đồng

Trong thời phong kiến, xem nhẹ vai trò của người phụ nữ, ép buộc họ sống trong khuôn khổ gò bó, thậm chí phi nhân tính, bởi thế số phận của người phụ nữ trong thời đó hết sức bi đát, bị đè nén, áp bức, tủi nhục và cam chịu Đã có hàng loạt tác phẩm văn học trong thời kì này phản ánh “hình ảnh” của những người phụ nữ đó

Đó có thể là tiếng thét của chính đối tượng trong cuộc, như nữ sĩ Hồ Xuân Hương - một người được coi là có một “xung lực” đặc biệt Những bài thơ của nữ sĩ là

sự truyền tải hàng loạt thông điệp bi ai về thân phận của người phụ nữ bấy giờ, và cũng chính là trạng thái ẩn ức của nữ sĩ - một người phụ nữ phải gánh chịu những bất công, tủi nhục của cái vòng luân lý xã hội bấy giờ Những bài thơ của nữ sĩ thể hiện một thái độ xưa nay chưa từng có trên văn đàn trước đó, mở đầu cho trào lưu đấu tranh giải phóng tự do cá nhân, nhất là người phụ nữ, khởi từ quyền đơn giản nhất là được nói lên suy nghĩ và khát vọng của chính bản thân mình

Trang 26

Khi chế độ phong kiến diễn tiến tới giai đoạt mạt kì, tức đứng trước sự đổ nát, thì cũng là lúc cực đoan nhất Xã hội nhiễu nhương tao loạn, thân phận con người bị coi rẻ như thân rơm, cái kiến, lại càng bị đè nén thậm tệ hơn Người phụ nữ được coi

là vật để mua vui, phục vụ cho các bậc vua chúa, là vật sở hữu mang ý nghĩa như một món hàng, cần thì dùng đến, không cần thì có thể vứt đi ngay được

Một tác phẩm gây tiếng vang trong giai đoạn bấy giờ, khai thác tâm trạng ẩn ức đến tột cùng của thân phận người cung nữ bị ruồng bỏ, lãng quên nơi cấm thành lạnh

lẽo, chính là Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều Toàn bộ 355 câu thơ là nỗi

lòng ai oán tột cùng của thân phận người cung nữ, sống trong sự héo úa tàn lụi, tuổi xuân và khát vọng trôi qua một cách vô nghĩa, đời người lụi tàn trong quên lãng, bị vênh lệch và bứt ra khỏi cuộc sống, xã hội Lầu son gác tía nay đã thành ngục trung giam cầm và thiêu lụi con người Họ không sao thoát khỏi nó, họ uất ức tới tột cùng, kêu gào thảm thiết, khi lại mơ tưởng ngóng trông, tất cả trạng thái đó, nảy sinh từ ẩn

ức tột cùng đã trở thành một thứ bệnh lý Họ không thể giãi bày, chia sẻ, sống trong câm nín, không còn ai biết và nhớ tới họ nữa Có tới hàng trăm, hàng ngàn những người phụ nữ như thế, họ đều là những người rất đẹp và tài năng, được vua chúa tuyển chọn, sở hữu, nhưng cũng từ đó, họ phải sống trong bi kịch, trong sự giam cầm, trong không gian lạnh lẽo cô đơn, tách biệt hoàn toàn với cuộc sống Ở tất cả những người phụ nữ đó đều hội đủ những điều kiện hoàn hảo cho một cuộc sống tốt đẹp, như ý trong thực tế, nhưng họ đã bị tước đoạt tất cả, bị giam cầm, tách biệt, và đau đớn nhất

là bị lãng quên, chết dần chết mòn trong quên lãng, đó thực sự là trạng thái kinh hoàng nhất mà họ ngày ngày phải chịu đựng Chỉ có ít người thương xót và quan tâm đến họ,

Ôn Như Hầu là một người đặc biệt, có điều kiện ra vào lui lại chốn cung cấm, thành son - gác tía, nên mới có dịp chứng kiến và nghe được âm thanh ai oán tột cùng từ những số phận hồng nhan bạc mệnh đó

Trong một xã hội như thế, người phụ nữ còn phải gánh chịu hàng loạt những khổ đau mất mát khác, người thì phí hoài tuổi xuân, chết dần trong quên lãng, người thì chịu cảnh chia li, mỗi người mỗi ngả, sống trong cảnh nhớ nhung, lo lắng Chiến tranh giữa các chúa, vì lợi ích cá nhân dòng tộc, ở chốn thôn dã, có biết bao gia đình phải sống trong cảnh chia li, người vợ ở nhà ôm con, ngày ngày sống trong nỗi khắc khoải Người phải chịu đựng, gánh chịu nhiều nhất, bao giờ cũng là người ở lại, là

Trang 27

những người phụ nữ Người đàn ông ra đi không hẹn ngày trở lại, người vợ phải đồng lòng tiễn chồng ra đi, vì nghĩa lớn, vì mộng công danh, họ ở lại trong hi vọng về viễn cảnh tốt đẹp đến với người chồng yêu dấu, song thực tế thật phũ phàng bởi chiến tranh

là chết chóc, là thời gian đằng đẵng bào mòn đi tất cả hi vọng, chịu đựng, là tuổi xuân của hạnh phúc lứa đôi ngày càng lụi tàn Tất cả trạng thái đó cùng lúc đổ dồn lên người phụ nữ, họ phải chịu đựng tất cả, phải cân bằng mọi cung bậc đó Họ bị đẩy vào một không gian, một trạng thái tột cùng của hi vọng, lo lắng, cô đơn, hờn tủi, và họ không có lối thoát, bị đóng băng, hóa đá Cái thực tế xã hội bấy giờ đã đưa đẩy và nhấn chìm biết bao cảnh đời những người phụ nữ như thế Số phận của họ đã được

chụp lại và phản ánh qua Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm vào

thời kì Lê - Mạc bấy giờ

Đặc trưng chung nhất và cũng là riêng biệt của các tác phẩm văn học lấy chủ đề phản ánh ẩn ức con người, nhất là người phụ nữ thời kì này chính là những khai phá bước đầu, đánh dấu cho thời kì đổ vỡ của hệ tư tưởng phong kiến đã lỗi thời, bị lên án

và phản ánh bởi chính các nhà Nho - những người được coi là chủ nhân, là người điều hành, duy trì hệ tư tưởng đó Số phận bi thương của những người phụ nữ được phản ánh thông qua một số ít những nhà Nho có tinh thần nhân ái như thế Tuy nhiên, thông qua hình ảnh của những người phụ nữ đó, tác giả còn lồng ghép vào chính cái trạng thái ẩn giấu của mình trong đó, tức là hình ảnh mang hai trường nghĩa, tường minh và

ẩn giấu Những tác phẩm đó trong giai đoạn này là hiếm, là hiện tượng đặc biệt Nhân vật được phản ánh trong tác phẩm chỉ là một góc cạnh nhỏ bé trong thực tế xã hội bấy giờ, những suy tư, ẩn ức của họ chưa mang tính phổ quát, đại diện, gắn với hiện trạng nhân sinh và vẫn mang tính hình tượng là chính

Chuyển sang thời hiện đại, tức thế kỉ XX, là mốc đánh dấu cho nhiều bước ngoặt, chuyển hướng vĩ đại của nhân loại, trong đó có việc giải phóng con người cá nhân Trong xã hội, vị thế và vai trò của người phụ nữ được nâng cao hơn, nhưng họ vẫn không thoát khỏi những mặc định hay định kiến ngàn đời của lịch sử để lại Thêm nữa, bối cảnh xã hội giai đoạn này cũng đổi thay và phát triển chóng mặt, đôi khi rối ren, hay dở lẫn lộn, thế nên những ảnh hưởng tới thân phận con người cũng càng phức tạp và khó giải quyết hơn Hình tượng con người trong văn học, được phản ánh và khám phá chân thực, toàn diện hơn, trên tất cả các bình diện, cung bậc sáng - tối, thiện

Trang 28

- ác, cả phần vô thức, tiềm thức Có thể nhắc tới các tác phẩm như: Ăn mày dĩ vãng và

Vòng tròn bội bạc của nhà văn Chu Lai; Bến không chồng của Dương Hướng, Thời xa vắng của nhà văn Lê Lựu, Mùa lá rụng trong vườn của nhà văn Ma Văn Kháng, Một cõi nhân gian bé tí của nhà văn Nguyễn Khải; Mảnh đất lắm người nhiều ma của nhà

văn Nguyễn Khắc Trường; Thiên thần sám hối của nhà văn Tạ Duy Anh; Đi về nơi

hoang dã của nhà văn Nhật Tuấn; Cõi người rung chuông tận thế của nhà văn Hồ Anh

Thái; Cánh đồng bất tận của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, Đám cưới không có giấy giá

thú; Đồng bạc trắng hoa xòe; Mùa lá rụng trong vườn; Côi cút giữa cảnh đời của nhà

văn Ma Văn Kháng

Đời sống văn học trong bối cảnh mới này cũng rất đa dạng hướng vào phản ánh một cách chi tiết, cụ thể, cận cảnh và chân thật hơn thân phận con người, đôi khi trần trụi nhưng là thực tế nhân sinh Văn chương, xét cho cùng là phản ánh cái ẩn ức của xã hội mà trong bối cảnh xã hội hiện đại, cũng đặt ra nhiều ẩn ức mới, ví dụ như hiện tượng hôn nhân đồng giới - vốn được coi là một biểu hiện tính dục khác thường

Chủ đề khai thác ẩn ức của người phụ nữ trong các tác phẩm văn học cũng đa dạng và nhiều màu sắc hơn, chân thực hơn, mạnh bạo hơn, đề cập tới những ẩn ức sâu kín nhất, đôi khi nhạy cảm nhất của người phụ nữ mà xưa nay vẫn bị né tránh hoặc không dám đề cập tới, ví dụ như ẩn ức tình dục Có thể đề cập tới hàng loạt những tác

phẩm văn học khai thác chủ đề ẩn ức con người như: Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng, Phố…của nhà văn Chu Lai, các tiểu thuyết Người trong ống,

Chồng thật vợ giả của Vi Hồng, Xứ mưa của Hoàng Thế Sinh, Đàn trời của Cao Duy

Sơn, Lửa cháy trong rừng hoang của Sương Nguyệt Minh, Số phận đàn bà của Hoàng Thị Cành, Tiếng chim kỷ giàng của Bùi Thị Như Lan, Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu,

Giày đỏ của Dương Bình Nguyên, Chờ tuyết rơi của Đặng Thiều Quang, 1981 của

Nguyễn Quỳnh Trang, Song Song của Vũ Đình Giang, I am đàn bà của Y Ban, Bóng

đè của Đỗ Hoàng Diệu, Ngồi của Nguyễn Bình Phương, Người đàn bà trên đảo, Tấm ván phóng dao

Trong bối cảnh xã hội chung đó, khu vực miền núi và người dân tộc thiểu số được phản ánh khá nhiều trên đời sống văn học Vùng đất xa xôi này, không chỉ ẩn chứa nhiều giá trị “lạ” đối với độc giả, mà còn chứa đựng một trữ lượng “vỉa tầng” đa dạng vẫn còn đang ở dạng tiềm ẩn, con người và cuộc sống của họ nơi đây cũng đa

Trang 29

dạng và độc đáo Miền núi là nơi hiện còn lưu giữ và chứa đựng nhiều giá trị, vừa nhân văn đáng quý, lại vừa lạc hậu Đời sống con người còn nhiều giá trị trân quý trong ứng xử, nhưng cũng là vùng đất còn nghèo khổ với cuộc sống mưu sinh khắc nghiệt, tồn tại nhiều khắt khe, định kiến lạc hậu, nhất là đối với thân phận phụ nữ

Đã có khá nhiều tác phẩm văn học phản ánh khung cảnh và cuộc sống con người miền núi, nhất là trong khoảng thời gian từ đầu thập niên 90 của thế kỷ trước trở lại đây Nổi bật là những tác phẩm phản ánh về cuộc sống mưu sinh khó khăn, những vật lộn của con người để thích nghi với hoàn cảnh nơi đây, nhất là số phận của người phụ nữ miền núi Có thể kể tới hàng loạt những tác phẩm văn học tiêu biểu như tập

truyện Hoàng hôn và Lửa trong rừng sa mu của tác giả Hà Trung Nghĩa, Hà Lý với

Ngọt đắng vị Mường, Đoàn Lư với Kỉ niệm về một dòng sông, Ngựa hoang lột xác và

Sự tích một câu nói của tác giả Bùi Minh Chức… Những tác phẩm tập trung mô tả

thân phận con người miền núi như: Người lang thang của Cao Duy Sơn, Số phận đàn

bà của Hoàng Thị Cành, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn và Một mình một ngựa của tác giả Ma

Văn Kháng, Khu vườn yên tĩnh của tác giả Tống Ngọc Hân, Cơn mưa hoa mận trắng

của tác giả Phạm Duy Nghĩa…

1.4 Đỗ Bích Thúy và sự nặng lòng của chị với những người phụ nữ vùng cao

Có thể coi thời điểm chính thức xuất hiện của nhà văn Đỗ Bích Thúy trên văn đàn

là giải nhất trong cuộc thi sáng tác truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ quân đội với bộ ba

tác phẩm: Ngải đắng ở trên núi, Đêm cá nổi và Sau những mùa trăng Sự lôi cuốn và hấp

dẫn của những tác phẩm đầu tay này chính là cái “không gian núi”, “con người và lối sống núi” được nhà văn khai thác và xuất trình trên những trang văn của mình

Có được những trang văn cô đọng, độc đáo như vậy và ở trong tất cả các sáng tác sau này của chị là bởi tuổi thơ được thấm đẫm và trải trong không gian núi, nhà văn lớn lên và trưởng thành trong không gian thung lũng rộng không quá 1500 m2 với bao bọc xung quanh là núi, là sông, là cảnh sinh hoạt của con người và vạn vật núi

Như chính nhà văn chia sẻ, động lực chính để chị sáng tác nên những tác phẩm văn chương đó chính là nỗi nhớ núi da diết, nhà văn đã tự nhận mình là người miền núi, người đi ra từ núi Không gian núi thấm đượm và ngồn ngộn trong tất cả các sáng tác của chị, nhất là vùng đất Hà Giang - nơi chị lớn lên và trưởng thành

Trang 30

Hiện thực và con người miền núi luôn xuất hiện dày đặc và là chủ đề chính trong mọi sáng tác của Đỗ Bích Thúy Đó là những con người với số phận riêng, những hạnh phúc và khổ đau chồng lấn, dồn đẩy họ, là lối sống cộng đồng với những phong tục - tập quán riêng, những đặc trưng quy định riêng của không gian và xã hội miền núi

Năm 2005, với tập tiểu thuyết Bóng của cây sồi và một năm sau là tập truyện

Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, Đỗ Bích Thúy tiếp tục gây được tiếng vang lớn trên văn

đàn, rất nhiều những nhà văn, đồng nghiệp đã có những đánh giá, ca ngợi Đỗ Bích

Thúy Nhà báo Dương Bình Nguyên trong bài Đỗ Bích Thúy - sự mềm mại quyết liệt

đã khái quát về “phong cách” của Đỗ Bích Thúy “sự day dứt của con người với nơi

chốn mình sinh ra” và “sự trở về, sự nương náu của tâm hồn ở miền đất cũ cũng tự nhiên như hơi thở”

Tác giả Ngọc Ánh trong bài viết Nhà văn trẻ Đỗ Bích Thúy đánh thức lòng

nhân bản [42] đã nhận định: “Bóng của cây sồi, Sau những mùa trăng, Tiếng đàn môi

sau bờ rào đá, Người đàn bà miền núi là những tập truyện ngắn mở ra một không gian bao la của núi rừng và cuộc sống sinh hoạt của cộng đồng người Mông, Tày, Dao ở vùng cao núi đá Hà Giang Mỗi câu chuyện Đỗ Bích Thuý kể là mỗi số phận, mỗi cảnh đời ngang trái khác nhau Trong bức tranh đó, chị tập trung khai thác chiều sâu nội tâm của nhân vật - phần lớn là những người đàn bà với cuộc đời làm dâu, làm

vợ, làm mẹ âm thầm, chịu nhiều buồn tủi, đắng cay ”

Nhà phê bình văn học Lê Thành Nghị trong lời giới thiệu cho tập truyện ngắn

Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, đã nhận định: “Một không gian đầy hoa lá rừng, có tiếng gà gáy tách te trong bụi rậm, có những dòng suối trong suốt với những viên cuội

đỏ, có những chàng trai thổi sáo theo sau các cô gái khoác quẩy tấu xuống chợ, những nồi thắng cố nghi ngút khói trong phiên chợ vùng cao đầy màu sắc, những đêm trăng sóng sánh huyền ảo, những cụm mần tang mọc trong thung lũng, tiếng đàn môi réo rắt sau bờ đá, lễ hội gầu tào với điệu hát gầu Plềnh mê đắm của những cô gái, chàng trai trên đỉnh núi… Khát vọng về hạnh phúc, những tâm sự cháy bỏng về lẽ sống, ý thức về những ngày hiện tại ở một vùng đất độc đáo, đầy kỷ niệm đã tạo ra trong ngòi bút của

Đỗ Bích Thúy niềm xúc động chân thành, chảy dào dạt trên trang viết…”[28, tr.5,10]

Trang 31

Với chủ đề miền núi trong sáng tác của mình, nổi trội nhất, cô đọng nhất, sâu lắng và nhân bản nhất chính là những câu chuyện về thân phận người phụ nữ miền núi với đầy đủ mọi cung bậc, nhưng trên nhất là bi kịch éo le Phụ nữ miền núi là lực lượng yếu thế trong xã hội, bị hoàn cảnh xô đẩy và kìm kẹp, họ phải sống trong chịu đựng và tủi nhục Ngay từ khi sinh ra, họ đã phải gánh chịu những mặc định của cộng đồng, xã hội, của chuẩn mực, họ không được sống thực với chính cảm xúc của mình, không được tôn trọng Đó là nhân vật mẹ già lầm lũi với đôi bàn tay thô ráp héo lụi; là

cô Kim xinh đẹp nhưng lại có dòng máu màu đen trong người nên bị xa lánh; là Kía, là Mai…và còn rất nhiều những thân phận phụ nữ khác

Chính bản thân Đỗ Bích Thúy đã từng thổ lộ, chia sẻ để giải thích cho câu hỏi tại sao người phụ nữ lại giành được nhiều sự ưu ái trong các sáng tác của mình đến

như vậy Trong phần tựa cho truyện Người đàn bà miền núi, tác giả bộc bạch: “Cuộc

đời đàn bà buồn nhiều hơn vui, lo âu nhiều hơn mãn nguyện? Phải chăng vì, trời sinh

ra đàn bà để chẳng sống mấy cho mình? Cuốn sách này tôi vẫn dành cho những người đàn bà Người đã án ngữ trong kí ức của tôi về vùng đất thân yêu bạt ngàn cây rừng, hoang vu gió, tầm tã mưa, sôi sùng sục nước dưới những dòng sông ngoằn ngoèo cuộn chảy…"[30, tr.7-8]

Hình ảnh những người phụ nữ miền núi Đông Bắc luôn ám ảnh và xuất hiện nhiều nhất, sâu đậm nhất trong các sáng tác của Đỗ Bích Thúy, nhà văn thấu hiểu thân phận họ, trạng thái suy nghĩ, cùng với những ẩn ức mà họ phải chịu đựng, phải mang theo và nặng gánh

Trang 32

Tiểu kết

Trong đời sống con người, tùy vào từng môi trường, điều kiện hoàn cảnh mà nảy sinh những trạng thái tâm lý khác nhau Điều kiện môi trường xã hội thuận lợi sẽ tạo nên trạng thái tâm lý tích cực, ngược lại, điều kiện không thuận lợi lại tạo những trạng thái tâm lý tiêu cực Trạng thái tâm lý tiêu cực lên đến đỉnh điểm nhất, không có cách giải quyết, thoát ra được gọi là ẩn ức Ẩn ức cũng rất đa dạng và có sự khác biệt

về giới, ẩn ức tính nữ là một trạng thái đặc biệt

Trong đời sống văn học, đã có rất nhiều tác phẩm văn học khai thác chủ đề ẩn ức tính nữ, phản ánh diện mạo và thực tế về số phận của những người phụ nữ trong từng thời điểm xã hội và hoàn cảnh khác nhau, đặc biệt là những ẩn ức gắn với số phận của những người phụ nữ dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc Thời phong kiến, xem nhẹ vai trò của người phụ nữ, ép buộc họ sống trong khuôn khổ gò bó, thậm chí phi nhân tính, bởi thế số phận của người phụ nữ trong thời đó hết sức bi đát, bị đè nén, áp bức, tủi nhục và cam chịu Đã có hàng loạt tác phẩm văn học trong thời kì này phản ánh “hình ảnh” của những người phụ nữ đó Sang thời hiện đại là mốc đánh dấu cho nhiều bước ngoặt, chuyển hướng vĩ đại của nhân loại, trong đó có việc giải phóng con người cá nhân Trong xã hội, vị thế và vai trò của người phụ nữ được nâng cao hơn, nhưng họ vẫn không thoát khỏi những mặc định hay định kiến ngàn đời của lịch sử để lại Thêm nữa, bối cảnh xã hội giai đoạn này cũng đổi thay và phát triển chóng mặt, đôi khi rối ren, hay dở lẫn lộn, thế nên những ảnh hưởng tới thân phận con người cũng càng phức tạp và khó giải quyết hơn

Trong bối cảnh xã hội chung đó, khu vực miền núi và con người dân tộc thiểu

số được phản ánh khá nhiều trong đời sống văn học Nổi bật là những tác phẩm của Đỗ Bích Thúy viết về cuộc sống mưu sinh khó khăn, những vật lộn của con người để thích nghi với hoàn cảnh nơi đây, nhất là số phận cùng những ẩn ức mà người phụ nữ miền núi phải chịu đựng

Trang 33

Chương 2

NHỮNG CẢM HỨNG ẨN ỨC NỮ TÍNH QUA SÁNG TÁC

CỦA ĐỖ BÍCH THÚY

2.1 Nền cảnh của miền núi Đông Bắc

2.1.1 Địa lý nhân văn

Đông Bắc bao gồm các tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh Tổng diện tích của toàn vùng chiếm tỷ lệ 16.7% so với diện tích cả nước Về cấu tạo địa chất, địa hình của vùng Đông Bắc, cao nhất là khu vực giáp biên giới Trung Quốc tại các tỉnh

Hà Giang, Cao Bằng và một phần Lạng Sơn, còn lại toàn bộ khu vực này đều là núi trung bình, núi thấp và đồi bán sơn địa

Với kiểu cấu tạo địa hình như trên, Đông Bắc là khu vực có nhiều cảnh sắc đặc trưng, từ cao nguyên đá - với những ngọn núi hiểm trở, đá tai mèo sắc nhọn, xanh xám tới những cung đường hiểm trở bậc nhất, giao thông đi lại hết sức khó khăn, do địa hình

bị chia cắt dữ dội Điều kiện khí hậu của vùng Đông Bắc khá khắc nghiệt, nhất là về mùa đông do các cánh cung hút gió và luồng khí lạnh tỏa khắp vùng Đông Bắc Về mùa đông, lượng nước ngầm sụt giảm, chính bởi thế, toàn bộ vùng này khá khô kiệt, nhất là khu vực cao nguyên đá (Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh) Đông Bắc được mệnh danh là vùng đất đầy nắng gió, khô cằn, khắc nghiệt, đầy rẫy những khó khăn thiếu thốn với sự sinh tồn của con người

Vì thế, chỉ có ở khu vực cao nguyên đá, ta mới bắt gặp cảnh con người vất vả và chăm chỉ, khó nhọc kiếm tìm và gánh từng gùi đất lên đổ vào các hốc đá để canh tác, dựng nương đá Đất ở đây vô cùng quý hiếm, người ta nâng niu, vun trồng và tồn tại bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu Con người nơi đây sinh ra từ đá và chết cũng vùi trong đá Cây rừng cũng hiếm, người ta phải rất vất vả kiếm tìm, tích lũy…mới có đủ được chất liệu để dựng lên tổ ấm là ngôi nhà gỗ Về mùa khô, từng đoàn người đi bộ tới vài chục cây số với trang bị là can nhựa để tìm nguồn nước ngọt cho sinh hoạt gia đình

Trang 34

Với sự đa dạng về cảnh quan môi sinh, Đông Bắc cũng mang những đặc trưng riêng về tiểu vùng địa lí - nhân văn Vùng Đông Bắc được phân chia thành nhiều tiểu vùng riêng, nếu tính từ Đông sang Tây thì có thể thấy được sự thay đổi rõ rệt của các tiểu vùng, từ khu vực trung du, là vùng đệm tiếp giáp giữa vùng núi cao và đồng bằng với cảnh quan đặc trưng là những đồi núi bán sơn địa Càng theo chiều Tây Bắc, địa hình càng cao dần và rõ rệt nhất là không gian cảnh quan núi Cũng do điều kiện địa hình chia cắt, nên có sự phân chia rõ rệt thành các tiểu vùng như: thung lũng - gò đồi, tiểu vùng rẻo giữa và tiểu vùng rẻo cao Hoặc mỗi khu vực riêng biệt

là một tiểu vùng như vùng bán sơn địa, vùng thấp trũng (thành phố Bắc Kạn, Cao Bằng, Hà Giang…) và tiểu vùng rẻo cao (miền núi)

Trong phần lớn các sáng tác của nhà văn Đỗ Bích Thúy, chủ đề cuộc sống và không gian núi được mô tả, phản ánh đều lấy bối cảnh và không gian thực của khu vực miền núi Hà Giang Hà Giang chính là nơi nhà văn sinh ra và lớn lên, cho tới khi trưởng thành, nhà văn đã từng mô tả cái thung lũng nhỏ bé của gia đình mình là nơi

“thung lũng rộng rinh, cô đơn đầy gió”, bên dòng Lô Giang, mải miết chảy về xuôi Chính bởi thế, không gian của vùng núi Hà Giang, cuộc sống, con người miền núi, đặc trưng văn hóa núi là những thành phần đậm đặc nhất trong các sáng tác của chị

2.1.2 Không gian văn hóa

Chủ nhân của không gian văn hóa rộng lớn này là hàng loạt các cộng đồng dân tộc thiểu số Mỗi một dân tộc lại có một diện mạo riêng về đặc trưng văn hóa tộc người, về lịch sử cư trú, không gian quần cư, phong tục - tập quán, ngôn ngữ, lối sống Chính bởi vậy, vùng Đông Bắc vô cùng đa dạng về sắc màu đặc trưng văn hóa

Con người miền núi luôn mang sẵn trong mình đức tính cần cù, chịu khó; thật thà, chân mộc trong cách ứng xử đồng thời cũng rất bản lĩnh, gan dạ trong đấu tranh với thiên nhiên để duy trì cuộc sống Họ sống chủ yếu ở những cao nguyên đá vôi, quanh năm mịt mù sương trắng và phải hứng chịu những thảm họa từ thiên nhiên bất

kỳ lúc nào Nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu mang nặng tính tự cấp tự túc cộng với

sự phân hóa xã hội ở mức thấp khiến người dân miền núi hạn chế trong tầm nhìn, chân mộc trong giao tiếp và hiền hòa như cây lanh, cây bông trên núi cao Chính nhà văn Đỗ Bích Thúy đã dành nhiều ưu tư, tâm huyết về căn tính của con người miền

núi Đông Bắc trong các sáng tác của chị

Trang 35

Trong tiểu thuyết Bóng của cây sồi, là cô Kim - một cô gái xinh đẹp nhất Lao

Chải, nhưng bị cả làng hắt hủi vì quá khứ của mẹ và bà ngoại Kim Trước thái độ của người làng và thất vọng với sự lựa chọn của Phù, Kim bỏ đi biệt tích, mấy năm sau trở

về với một đứa bé trai không có cha Kim làm nghề mại dâm rồi bị bắt, sau đó quay trở

về ngôi nhà mục nát để sống tiếp Kim đã được những người phụ nữ già cả trong bản

cưu mang, thương xót: “Đã một tháng nay mẹ con Kim sống bằng thóc gạo của người

làng Mấy bà già thương thằng bé, dấm dúi túm gạo vào khăn, mỗi người mang cho một ít Lần nào nhận gạo của các bà Kim cũng khóc ròng” [29, tr.251] Dù sao đi nữa

đó cũng là đứa con của núi rừng, cùng uống chung một dòng suối, đi chung một con đường và khi cất tiếng khóc chào đời đều được sự chứng kiến của rừng xanh nên việc cưu mang là điều cần thiết Lòng tốt của con người miền núi nảy sinh một cách tự nhiên, không ồn ào, khó hiểu như những vách đá sâu dựng đứng giữa trời Miêu tả tính thiện trong sâu thẳm con người miền núi, Đỗ Bích Thúy dành nhiều quan tâm cho

người phụ nữ Khi Kim bị bắt vì vụ ăn trộm máy bơm nhà Phấn, cả làng “lũ lượt kéo

đến xem mặt đứa ăn cắp Biết nhau cả, nhưng vẫn muốn xem cái đứa đi ăn cắp rồi thì mặt nó có khác đi không” [29, tr.12] thì bà Mẩy - một phụ nữ dân tộc thuần phác, chưa

bao giờ ra khỏi bản, cả đời úp mặt trên những ngả nương đã bước tới “buộc tóc, vấn

khăn lại cho Kim” như Kim là con gái ruột thịt của mình vậy Sự đồng cảm về thân

phận người phụ nữ đã khiến bà Mẩy có những hành động mang tính cứu rỗi tình yêu thương đối với một cô gái gặp nhiều bất hạnh Đó chính là tình người ấm áp giữa giăng giăng giông bão nơi xó núi Lao Chải

Lòng nhân bản của con người miền núi còn được thể hiện trong tình nghĩa vợ -

chồng, bà - cháu qua những trang văn đẫm nước mắt Lặng yên dưới vực sâu Người bà

ấy đã dành cả cuộc đời xuân sắc và khổ hạnh của mình để lo cho chồng, cho con cháu giờ đây đã ngã xuống như cây ngô bị trẩy hết bắp Vậy mà đến lúc gần kề cái chết, bà vẫn bận tâm về cuộc sống của những người ở lại, vẫn lo chuyện giặt áo cho chồng, làm mèn mén cho cháu nội Ý nghĩa cuộc sống của người đàn bà này dội lên trong tâm thức chúng ta về lòng vị tha trong cuộc sống

Người miền núi là những con người yêu thích tự do, độc lập, tâm hồn phóng khoáng, yêu lao động, cần cù nhẫn nại trong đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt Họ yêu thích văn nghệ, hòa nhập ân tình với nhau trong quá trình xen cư và giao lưu văn

Trang 36

hóa Họ giữ một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa, kinh tế, an ninh ở vùng rẻo cao biên giới Việt Nam Trong mỗi cuộc đương đầu với khó khăn, họ luôn có sẵn trong mình tấm lòng chân thành, sự cam chịu vốn là “thiện căn” tự có trong mỗi con người Lòng tốt không cần đáp trả đó có lẽ là mẫu số chung về bản chất con người miền núi

Con người miền núi tin thờ và kính sợ tất cả các loại thần linh Và thần linh vĩ đại nhất của người vùng cao là Trời Trời là vị thần tối thượng chi phối thế giới thần linh và cả thế giới con người Nơi những cánh rừng nguyên sinh miền núi cao, cây

sồi được coi là biểu tượng của người đàn ông Sức sống và sự sinh sôi phát triển của

nó tạo dựng niềm tin về sự thịnh vượng tộc người trong tâm thức mỗi người dân Đến khi cây sồi già, rụng lá và chết đi, đồng nghĩa với việc một người đàn ông quan trọng nào đó đã rời bỏ bản làng Đỗ Bích Thúy đã từng miêu tả về biểu tượng cây

sồi: “Đã nhiều năm trôi qua, cây sồi này già, rồi chết, rồi khô xác, không còn một

mảnh vỏ, đến cả những sợi rễ vững chãi ăn sâu xuống lòng đất ẩm ướt cũng đã đứt thành nhiều đoạn, nhưng cái bóng của nó thì không ai xoá đi được Ngay cả anh, người đàn ông duy nhất còn lại của dòng họ, cũng không đi qua được nó, không vượt qua được cái ranh giới mà bóng cây sồi đã in xuống vùng thung lũng rộng không đầy một sải chim bay này” [29, tr.5]

Từ bao đời nay, trong suy nghĩ của người Mông, người Tày, rừng mả là một khu vực địa lý đặc biệt, dành cho những người chết có được nơi an nghỉ sau khi kết

thúc sự sống Họ tin rằng “tất cả những con gà trống được người chết mang theo đám

ma sau này đều hoá thành một loài chim ăn đêm và chúng cất tiếng gáy lúc nửa đêm, khi còn lâu trời mới sáng Từ trong làng, đêm nào những người già mất ngủ nghe thấy tiếng gà the thé cất lên, nửa giống tiếng tắc kè, nửa giống tiếng chim lợn là biết rằng sắp đến lúc mình cũng đi vào rừng mả Và chỉ những người sắp từ giã cuộc sống mới nghe được tiếng gà gáy cất lên từ rừng mả” [29, tr.71]

Màu sắc tâm linh được khắc họa trong Bóng của cây sồi: “Huyền thoại thứ nhất

nói về “hai cô gái đẹp vì không nghe lời tri châu bắt về làm vợ mà bị ném xuống sông

Lô Hai cô trôi qua, dạt vào bến đò Lao Chải, dân bản thương đem lên núi chôn để làm gương cho con gái mới lớn Cùng năm ấy, cả một vùng rộng lớn xung quanh Thanh Vân bị lũ tràn ra từ trong khe núi, từ rừng, từ trời, cuốn sạch nhà cửa trâu bò,

Trang 37

chỉ mỗi Lao Chải không việc gì, người làng cho rằng đấy là do hồn hai cô gái trên núi tìm cách trả ơn nên đã làm một cái nhà bằng đá lợp lá cọ để hai cô có nơi đi về” [29,

tr.120] Huyền thoại thứ hai kể chi tiết về dòng sông Lô và cái chết của con thuồng

luồng “Thuồng luồng chết, xác hoá thành gò đất dài nằm dọc bờ suối mà đám đàn bà

hay ra phơi váy, còn linh hồn đi lang thang, nhưng vài năm lại quay về làng một lần Lần ấy, không cách này hay cách khác, sẽ lấy đi một đứa trẻ, coi như cái giá mà người Lao Chải phải trả cho nó vì đã ăn ở, canh tác trên mảnh đất của nó Thầy mo của Lao Chải thì bảo không phải, đấy là chuyện bậy bạ, không tin được Nhưng đúng là thỉnh thoảng làng lại có trẻ con chết, thường là chết đuối vào mùa hè lúc rủ nhau ra sông hụp lặn Cũng có đứa chết trên rừng vì cây đổ, nứa xiên” [29, tr.273-274]

Niềm tin tâm linh còn được thể hiện ở việc một cộng đồng ổn định phải có sự

quản lý của già làng trong Bóng của cây sồi; việc có con trai nối dõi trong Tiếng đàn

môi sau bờ rào đá; cúng mo để xua đuổi tà ma trong Đi qua ngày sang đêm… Đặc biệt

là cách ứng xử với cái chết của mỗi thành viên trong bản làng: “Ở làng tôi chỉ được

nghe tiếng tù và trong những ngày làng có người chết Mẹ tôi bảo đấy là lời người sống an ủi người chết Chỉ có ngày em Thi chết là vắng tiếng tù và Trẻ con chết là trái với luật đời, thế nên chỉ lặng lẽ đi thôi, không được mang cây tù và trong nhà trong họ

ra thổi” [27, tr.187]

Người già miền núi đã tự đúc kết cho mình một chân lý: “Nếu như ngọn gió này

không còn thì dòng sông sẽ lặng tờ, chỉ có tiếng nước sôi ùng ục như đặt trên bếp lửa; Nếu như ngọn gió này không còn thì ánh vàng lấp lánh từ mặt trời, ánh bạc lấp lánh

từ mặt trăng sẽ không bao giờ trở lại trên mặt nước; Nếu như ngọn gió này không còn thì những chiếc lá úa vàng và những quả chín nẫu sẽ không bao giờ tạt xuống mặt nước, làm cho từng đàn cá bống nhớn nhác lên; Nếu như ngọn gió này không còn thì những bắp chân trắng nõn sẽ giấu mãi trong gấu váy, những nắm rêu sẽ rối tung trong xoỏng; Và nếu như ngọn gió này chỉ một lần thổi tới từ thượng nguồn và một lần duy nhất trôi trên dòng nước về hạ nguồn, rồi không khi nào trở lại nữa thì chính dòng sông sẽ không còn”[29, tr.103-104]

Niềm tin ấy gánh được linh hồn, hơi thở, dáng vóc của các dân tộc Trải qua bao thăng trầm lịch sử, bao lớp trầm tích văn hóa, con cháu miền núi vẫn tìm thấy

Trang 38

niềm an ủi và đồng vọng với những tâm tư, tình cảm của mình trong di sản văn hóa truyền thống của cha ông

Tuy nhiên, trong không gian riêng đó, bị ngăn trở, tách biệt so với các khu vực khác nên những con người miền núi cũng là nạn nhân của hủ tục lạc hậu, cuộc đời họ thường gắn với số phận bi kịch Đỗ Bích Thúy đã đưa vào trang văn những bi kịch

mang tính cá nhân xuất phát từ sự hẹp hòi dân tộc Cô Kim trong Bóng của cây sồi vừa

đẹp người đẹp nết nhưng bị cả làng hắt hủi chỉ vì quá khứ đau buồn của người mẹ Đám ma của mẹ Kim chính là một ví dụ tiêu biểu cho hệ thống quan niệm hẹp hòi của người dân miền núi, những quan niệm cổ hủ đã bóp chết quyền được hòa nhập của con người vào xã hội Người mẹ ấy đến khi chết vẫn phải chịu cảnh cô độc và rẻ rúng:

“Chỉ có duy nhất một cái quan tài, không có nhà táng, không có đón rước ông Then Kim mang đi một con gà, cái nồi, cái bát, đôi đũa, quẩy tấu, dần sàng, ít gạo đấy là phần dành cho mẹ mang theo xuống đất Nhưng nước mưa làm cho tất cả đều ướt, cả con gà trong lồng cũng ướt lướt thướt” [29, tr.21] Người mẹ khốn khổ ấy khi đối mặt

với cái chết có lẽ vẫn mang nặng tủi cực trong mình vì sự hắt hủi của cộng đồng

Trong mỗi chúng ta có lẽ ai cũng đều ngỡ ngàng khi đọc truyện ngắn Cột đá treo

người viết về thời trước cách mạng, thời mà các lý trưởng là trung tâm của làng quê

Việt Nam, kể cả miền xuôi lẫn miền ngược Đây là câu chuyện kể về cây cột đá có thật

ở Đồng Văn, về một anh Vàng, anh Sàng ở trong bản người Mông Họ chỉ cần làm trái

ý lý trưởng là bị hắn đem treo lên cột đá cho quạ rỉa Thân phận con người không có giá trị bằng con bò, con ngựa trong nhà địa chủ… Ở đây ai muốn làm người thì phải vùng lên và nếu vùng lên không được thì phải trốn vào rừng làm phỉ

Qua những sáng tác của Đỗ Bích Thúy, hình ảnh con người hiện lên vừa chân mộc nhưng cũng đầy xót xa Đó là những con người cả đời úp mặt trên những cánh đồng anh túc, tam giác mạch, đi ở đợ cho nhà giàu và chết trong cô quạnh Không ai khác, họ chính là nạn nhân của những ràng buộc khắt khe đã trở thành thâm căn cố đế

trong xã hội miền núi Tình yêu của Phù và Kim trong Bóng của cây sồi đã bị cả một

hệ thống luật tục Lao Chải ghì riết cho tan nát, chỉ vì người dân Lao Chải nghĩ rằng Kim là con thú hoang không có bố, dòng máu chảy trong trong người Kim là dòng máu đen ma quỷ Họ đã phải sống một cách âm thầm, dằn vặt đau đớn, và đi qua cuộc đời nhau như những cái bóng Đặt ra vấn đề này, Đỗ Bích Thúy động chạm đến một sự

Trang 39

thật đau xót, một dự cảm về quyền sống của con người vốn khổ đau trong quá khứ Họ không dám và không đủ sức vượt qua những quy định hà khắc của lễ giáo phong kiến Sống cam chịu và nhẫn nhục trong sự bủa vây của sự áp bức, bất công triền miên, cả đời phải vùi mình trong nước mắt mà đến khi chết vẫn không biết đến một ngày thanh thản Có lẽ cũng bởi vì thế mà con người miền núi hạn chế về tầm nhìn

Truyện Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của Đỗ Bích Thúy là những tráng ca đau

buồn về số phận con người của cao nguyên đá Câu chuyện không chỉ âm thầm soi vào

những ý nghĩ coi Hà Giang như “là vườn ổi hoang, ai thích đến hái thì cứ hái như trẻ

chăn bò” Tới cao nguyên đá tá túc và xây cơ dựng nghiệp nhưng có nhiều người

chẳng khác nào “con thú hoang ở đâu lạc tới” Và khi cần phải bỏ đi, họ sẵn sàng vứt

con đẻ ở lại và dắt theo những con bò Cứ thế, Hà Giang vật vã mãi như thân phận của

mẹ già không thể sinh nở, lạc lõng, héo hon Người đàn bà vô sinh, cô quả câm lặng như cái tảng kê chân cột nhà chồng

Những đặc trưng riêng biệt về văn hóa vật chất và tinh thần của con người miền núi Đông Bắc cũng được mô tả trong các sáng tác của Đỗ Bích Thúy Nhà văn rất tinh

tế trong việc chọn và lấy những tập tục, thói quen, lối sống của con người nơi đây làm nền cảnh để dựng lên những câu chuyện sống động và chân thực Trong các sáng tác của chị, đời sống văn hóa vật chất của người miền núi thể hiện chủ yếu ở đời sống sinh

hoạt và phương tiện sản xuất Đến nơi miền cao nguyên với những mảng núi đá tai

mèo, hình ảnh nhận biết được trước hết là những cây lương thực chính như ngô, sắn, khoai, lúa nương; thực phẩm gồm rau xanh, dê, lợn, gà, bầu, bí… và những loại cây nguyên liệu dùng dệt vải như lanh, đay Đời sống kinh tế - vật chất của họ rất đạm bạc, giản dị, nhưng lại mang nhiều sắc thái độc đáo phù hợp với tâm lý người bản địa: thích

ăn cơm nếp, uống rượu ngô, ở nhà sàn, nữ mặc váy, nam mặc xà cạp quấn khăn Ở vùng Đông Bắc, rượu ngô đã trở thành một mã văn hóa của các dân tộc thuộc nhóm Mông - Dao, kỹ thuật nấu rượu ngô cũng thể hiện tinh hoa văn hóa trong nghệ thuật

ẩm thực của các dân tộc: “Ngô để dành nấu rượu là ngô trồng trên những hốc đá cao nhất, nơi thừa nắng thiếu nước, có thế bát rượu đầu tiên chảy ra đem đốt mới cháy đùng đùng cho ngọn lửa xanh lè mới được”

Văn hóa vật chất các tộc người thiểu số là biểu hiện cụ thể của cách thức canh

tác theo mùa vụ: “Mọi năm, trước khi ngày hội bắt đầu người ta đã lấy xuống những

Trang 40

cái cày treo trên gác chuồng trâu từ cuối vụ trước, xem lưỡi cày nào cùn mòn quá thì thay lưỡi mới, đánh cho nó sáng bóng lên Hội kết thúc cũng là lúc cả làng kéo nhau

ra đồng, người đàn ông chủ nhà sẽ đặt những đường cày đầu tiên xuống mặt đất đang tơi dần, lật lên những gốc rạ hoai mục Đàn bà con gái thay ra bộ váy áo đang mặc, giặt giũ, phơi phóng, cất đi, mặc váy áo cũ, mang thóc giống ra ngâm, chuẩn bị nhổ cải ngoài vườn, bó thành từng bó lớn những cành cải nặng hạt, mang phơi lên hàng rào, để năm sau có giống ”[29, tr.280-281]

Cách thức canh tác thổ canh hốc đá là một sự thích ứng nơi địa hình khắc nghiệt, mặt khác phản ánh sự sáng tạo trong lựa chọn loại hình canh tác của người dân miền núi Bên cạnh chăn nuôi và trồng trọt, người Mông miền núi Hà Giang còn là tác

giả - nghệ nhân của những giọt mật ong nổi tiếng khắp miền sơn cước: “Người Mông

nào cũng biết mùa hoa bạc hà gắn liền với mùa ong Khi bạc hà nở rộ khắp núi rừng một màu tím biếc trong tiết trời trở lạnh cũng là lúc ong lũ lượt kéo về Mật ong được làm từ hoa bạc hà cũng là mật ngon nhất Thứ mật hơi có màu xanh, càng giữa mùa bạc hà nở rộ mật càng xanh Pha một chén mật ong vào chai rượu thì đàn bà đàn ông

gì cũng chỉ một chốc là say mèm” [30, tr.59]

Trải qua quá trình lao động lâu dài, quan sát và nắm bắt những quy luật của tự nhiên, người Mông mới có thể tạo ra được những sản phẩm tinh túy như thế Hơn nữa, trong quá khứ và hiện tại, người Mông là chủ nhân của không gian miền núi phía Bắc với những anh hoa văn hóa đặc sắc và nguyên thủy

Nhà ở của người miền núi bao giờ cũng nằm “chênh vênh trên núi cao, già nua,

cũ kỹ và nhỏ nhoi”, như chính lịch sử của miền đất đó, nhưng có khi lại là những ngôi

nhà đá chứa thóc lúa của nhà giàu “Dưới kia, cả thung lũng, những ngôi nhà bằng đá,

cửa gỗ lim chứa ngô lúa, những ngôi nhà dài, cao rộng đang mù mịt trong khói lửa ngút trời, mùi thóc nếp, mùi ngô bị đốt cháy khét, tiếng trâu bò gà lợn rống lên điên cuồng…” [28, tr.149]

Một hình ảnh nổi bật nữa là sắc chàm trên những bộ váy áo Tày, sự tinh tế trên

những bộ váy lanh của phụ nữ Mông ngày xuống chợ “Trong cái hòm ấy, mẹ già cất

một bộ váy áo đẹp lắm, thêu bảy màu như cầu vồng, mẹ bảo khi nào con May lấy chồng thì mẹ cho mang theo” [28, tr.15]

Ngày đăng: 11/10/2017, 16:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2003), Sống với văn học cùng thời, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống với văn học cùng thời
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2003
2. Nguyễn Duy Bắc, Về bản sắc dân tộc trong sáng tác của các nhà thơ dân tộc thiểu số, Tạp chí Nghiên cứu văn học số 9/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bản sắc dân tộc trong sáng tác của các nhà thơ dân tộc thiểu số
3. M. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Năm: 1992
4. Jean Chevalier – Alain Gheerbrant (2015), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Phạm Vĩnh Cư, Nguyễn Xuân Giao, Lưu Huy Khánh, Nguyên Ngọc, Vũ Đình Phòng, Nguyễn Văn Vĩ – dịch), Nxb Đà Nẵng. ĐN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới" (Phạm Vĩnh Cư, Nguyễn Xuân Giao, Lưu Huy Khánh, Nguyên Ngọc, Vũ Đình Phòng, Nguyễn Văn Vĩ – "dịch
Tác giả: Jean Chevalier – Alain Gheerbrant
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng. ĐN
Năm: 2015
5. Nguyễn Văn Chính, Văn hóa và con người các dân tộc thiểu số trên một số báo viết Việt Nam, Tạp chí Văn hóa dân gian số 4/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và con người các dân tộc thiểu số trên một số báo viết Việt Nam
6. Bàn Thị Quỳnh Dao, Thơ Bàn Tài Đoàn - Tiếng nói tâm hồn đích thực của người Dao, Tạp chí Văn hóa các dân tộc số 8/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Bàn Tài Đoàn - Tiếng nói tâm hồn đích thực của người Dao
7. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
8. Bế Viết Đẳng - Nguyễn Khắc Tụng - Nông Trung - Nguyễn Nam Tiến (1971), Người Dao ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Dao ở Việt Nam
Tác giả: Bế Viết Đẳng - Nguyễn Khắc Tụng - Nông Trung - Nguyễn Nam Tiến
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1971
9. Nguyễn Thị Bích Hà (2009), Mã và mã văn hóa, Tạp chí văn hóa dân gian số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Mã và mã văn hóa
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hà
Năm: 2009
10. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (2005), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
11. Nguyễn Phương Hoa (2013), Tính nữ và nữ quyền trong dân ca Mông, Luận văn thạc sĩ văn học, ĐHSP Thái nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính nữ và nữ quyền trong dân ca Mông
Tác giả: Nguyễn Phương Hoa
Năm: 2013
12. Cao Hồng (2011), Một chặng đường đổi mới lý luận văn học Việt Nam (1986 – 2011), Nxb Hội nhà văn, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một chặng đường đổi mới lý luận văn học Việt Nam (1986 – 2011)
Tác giả: Cao Hồng
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2011
13. Nguyễn Văn Long – Lã Nhâm Thìn (đồng chủ biên) (2005), Văn học Việt Nam sau 1975 – Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam sau 1975 – Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy
Tác giả: Nguyễn Văn Long – Lã Nhâm Thìn (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2005
14. Phương Lư ̣u (chủ biên) (2005), Ly ́ luận văn học , Nxb Gia ́o du ̣c, Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Phương Lư ̣u (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo du ̣c
Năm: 2005
15. Trần Thị Nhung (2010), Người phụ nữ trong Truyền kì mạn lục nhìn từ quan điểm giới, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, ĐHSP Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người phụ nữ trong Truyền kì mạn lục nhìn từ quan điểm giới
Tác giả: Trần Thị Nhung
Năm: 2010
16. Phạm Duy Nghĩa, Quan hệ con người tự nhiên trong văn xuôi miền núi, Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 10.2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ con người tự nhiên trong văn xuôi miền núi
17. Nhiều tác giả (1985), 40 năm văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: 40 năm văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1985
18. Nhiều tác giả (1997), Nghiên cứu văn nghệ dân gian Việt Nam (Tập I), Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn nghệ dân gian Việt Nam (Tập I)
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1997
19. Đặng Thị Oanh (2006), Biểu tượng lanh trong dân ca Mông, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, ĐHSP Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tượng lanh trong dân ca Mông
Tác giả: Đặng Thị Oanh
Năm: 2006
20. Văn Quân (1998), Về các giá trị dân tộc, NxbVăn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về các giá trị dân tộc
Tác giả: Văn Quân
Nhà XB: NxbVăn hóa dân tộc
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w