1 Sự tham gia thường được hiểu ở cấp độ cơ bản và đơn giản nhất, đólà sự cung cấp thông tin tham vấn khi một cơ quan hay tổ chức tiến hành đểlấy ý kiến của các thành viên trong một cộng
Trang 1TÔ BÁ THANH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ MÃ ĐÀ THUỘC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VÀ DI TÍCH
VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội – 2009
Trang 2TÔ BÁ THANH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC DỰA TRÊN CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ MÃ ĐÀ THUỘC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VÀ DI TÍCH
VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
Chuyên ngành Lâm học
Mã số 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
H ướng dẫn khoa học: PGS.TS Vương Văn Quỳnh
Hà Nội - Năm 2009
Trang 3Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vương Văn Quỳnh
NGƯỜI PHẢN BIỆN 1: TS NGUYỄN ĐÌNH HẢI
NGƯỜI PHẢN BIỆN 2: TS BÙI VIỆT HẢI
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn theo quyết
định số ngày tháng năm 2009 họp tại: Cơ sở II Trường đại
học lâm nghiệp – Huyện Trảng Bom – Đồng NaiVào hồi 14 giờ, ngày 27 tháng 5 năm 2009
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin tư liệu và Thư viện trường Đại học Lâm nghiệp
- Khoa đào tạo sau đại học trường đại học Lâm nghiệp
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau khi hoàn thành chương trình học tập giai đoạn 2006-2008; được
sự đồng ý của Khoa Sau đại học, Trường Đại học Lâm nghiệp và được sự giúp đỡ của PGS.TS Vương Văn Quỳnh, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp cao học "Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có người dân tham gia tại xã Mã Đà thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên và di tích Vĩnh Cửu, Đồng Nai".
Hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, trước hết tôi xin chân thành cảm
ơn các thầy cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp Hà Nội và trường Đại học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh trong những năm qua đã cung cấp cho bản thân tôi nhiều kiến thức về tài nguyên rừng và môi trường Đặc biệt, xin được cảm
ơn PGS.TS Vương Văn Quỳnh – người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.
Nhân dịp này, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban quản lý Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu, các cán bộ và kỹ sư đang làm việc tại Phòng Khoa học và kỹ thuật Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu, UBND xã Mã Đà, cùng toàn thể
bà con nhân dân các ấp 2, 3, 4, 5, 6 của xã Mã Đà.
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình và người thân, những người đã bên cạnh tôi và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện
đề tài và cùng vì sự nghiệp lâu dài của đại gia đình.
Rất mong nhận được ý kiến đóng góp quí báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đồng Nai, tháng 4 năm 2009
TÔ BÁ THANH
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh sách các bảng vi
Danh sách các hình viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Sự tham gia của cộng đồng 3
1.2 Nghiên cứu liên quan đến bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng 7
1.2.1 Trên thế giới 7
1.2.2 Tại Việt Nam 9
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu 13
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
2.3 Nội dung nghiên cứu 14
2.4 Phương pháp nghiên cứu 15
2.4.1 Phương pháp luận 15
2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin 18
2.4.3 Phương pháp xử lý thông tin 21
2.4.4 Phương pháp trình bày số liệu 22
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế và xã hội Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu 23
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 23
3.1.2 Đặc điểm về kinh tế xã hội 26
Trang 63.2 Sơ lược về đặc điểm xã Mã Đà 27
3.2.1 Đặc điểm tự nhiên 27
3.2.2 Đặc điểm kinh tế và xã hội 27
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Thực trạng tài nguyên ĐDSH và quản lý tài nguyên ĐDSH ở KBT 29
4.1.1 Thực trạng tài nguyên ĐDSH của KBT 29
4.1.2 Thực trạng công tác quản lý tài nguyên ĐDSH 34
4.2 Đặc điểm hoạt động cộng đồng liên quan đến tài nguyên ĐDSH ở Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu 38
4.2.1 Đặc điểm cộng đồng liên quan đến quản lý tài nguyên ĐDSH 38
4.2.2 Hoạt động của cộng đồng địa phương liên quan đến quản lý tài nguyên đa dạng sinh học và tài nguyên rừng nói chung 42
4.3 Những yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở cộng đồng tham gia vào quản lý tài nguyên ĐDSH ở Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu 47
4.3.1 Những yếu tố thúc đẩy cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên ĐDSH 47
4.3.1.1 Yếu tố kinh tế thuận lợi cho công tác bảo tồn 47
4.3.1.1 Yếu tố xã hội thuận lợi cho công tác bảo tồn 56
4.3.2 Những yếu tố cản trở cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên ĐDSH 61
4.3.2.1 Yếu tố kinh tế cản trở công tác bảo tồn 61
4.3.2.2 Yếu tố xã hội làm cản trở công tác bảo tồn 65
4.4 Tác động của cộng đồng đến tài nguyên ĐDSH 69
4.4.1 Khai thác gỗ và các LSNG 70
4.4.2 Hoạt động phát nương làm rẫy và chăn thả gia súc 75
Trang 74.5 Những giải pháp bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng ở KBT 76
4.5.1 Nhóm giải pháp kinh tế thúc đẩy cộng đồng tham gia bảo tồn 794.5.2 Nhóm giải pháp xã hội thúc đẩy cộng đồng tham gia bảo tồn 844.5.3 Nhóm giải pháp kỹ thuật thúc đẩy hoạt động bảo tồn 88
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1 Kết luận 915.2 Kiến nghị 92
Tài liệu tham khảo
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BQL Ban quản lý
BTTN Bảo tồn thiên nhiên
BTTN&DT Bảo tồn thiên nhiên và di tích
CBCNV Cán bộ công nhân viên
PCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng
PRA Đánh giá nông thôn có người dân tham gia
QLBVR Quản lý bảo vệ rừng
SIDA Cơ quan phát triển Quốc tế Thuỵ Điển
TNTN Tài nguyên thiên nhiên
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất của Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu 25
Bảng 4.1a: Diện tích quy hoạch các phân khu chức năng của KBT 29
Bảng 4.1b: Diện tích phân theo hiện trạng sử dụng đất của KBT 30
Bảng 4.1c: Sự phân bố của taxon trong các ngành thực vật ở KBT 31
Bảng 4.1d: Phân chia các loài thực vật theo giá trị sử dụng ở KBT 32
Bảng 4.1e: Thành phần loài động vật có xương sống trên cạn tại KBT 33
Bảng 4.2: Tổ chức CBCNV của Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu 34
Bảng 4.3: Số vụ vi phạm Luật BV và PTR giai đoạn 2005-2008 35
Bảng 4.4: Tình hình xây dựng phát triển rừng giai đoạn 2005-2008 36
Bảng 4.5: Thu nhập trung bình của người dân tương ứng với tình trạng khai thác sản phẩm 39
Bảng 4.6a: Tình hình tham gia các tổ chức quần chúng hộ gia đình 40
Bảng 4.6b: Nhận thức về vai trò ra quyết định của các cấp chính quyền và tổ chức cộng đồng đối với hoạt động quản lý tài nguyên rừng 42
Bảng 4.7: Cơ cấu các loại diện tích cây trồng bình quân của hộ gia đình 43
Bảng 4.8a: Sử dụng đất giao khoán vào trồng cây lâm nghiệp 45
Bảng 4.8b: Sử dụng đất cho canh tác nông nghiệp hoặc cây ngắn ngày 45
Bảng 4.9: Thu nhập từ TNR so với tổng thu nhập của tất cả các hộ đã điều tra 48
Bảng 4.10: Mức độ tương quan giữa các nguồn thu nhập của hộ 50
Bảng 4.11: So sánh tổng thu nhập với thu nhập sản phẩm rừng 50
Bảng 4.12: Thu nhập từ tài nguyên rừng so với tổng thu nhập của các hộ gia đình có thu nhập từ sản phẩm rừng 51
Bảng 4.13a: Nghề nghiệp hiện tại của các hộ gia đình điều tra 53
Bảng 4.13b: Nghề nghiệp mong muốn trong tương lai của các hộ 54
Trang 10Bảng 4.14: Nhận thức của người dân về vai trò của rừng
và các quy định của KBT 57
Bảng 4.15: Tỷ lệ hộ gia đình tham gia vào các chương trình tín dụng 60
Bảng 4.16: Tỷ lệ hộ được nhận hỗ trợ và đánh giá mức độ phù hợp 60
Bảng 4.17: Số hộ có mức thu nhập và mức đầu tư từ sản xuất lâm nghiệp 62
Bảng 4.18a: Số hộ khai thác gỗ, lồ ô, tre nứa và củi với định hướng sử dụng khác nhau 63
Bảng 4.18b: Số hộ khai thác măng, cây thuốc và dầu chai với định hướng sử dụng khác nhau 64
Bảng 4.18c: Số hộ săn bắt động vật rừng với định hướng sử dụng khác nhau 64
Bảng 4.19: Tỷ lệ (%) số hộ đồng ý hoặc không đồng ý với các câu hỏi 67
Bảng 4.20: Đặc trưng số nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra 68
Bảng 4.21a: Số hộ tham gia vào khai thác gỗ, tre nứa, lồ ô và củi 71
Bảng 4.21b: Số hộ tham gia khai thác lâm sản làm thực phẩm và dược liệu 72
Bảng 4.21c: Số hộ tham gia vào khai thác sản phẩm từ động vật rừng 74
Bảng 4.22: Tình trạng đốt nương rẫy và chăn thả gia súc trong rừng 75
Bảng 4.23: Những giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của cộng đồng tại Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu 77
Bảng 4.24a: Tình hình thu nhập và đầu tư vào loài cây Điều và Xoài 80
Bảng 4.24b: Quan hệ tương quan giữa thu nhập và đầu tư 80
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1: Các bước thực hiện quá trình nghiên cứu 17
Hình 4.1: Tỷ lệ diện tích (%) các loại đất sử dụng của hộ gia đình 44
Hình 4.2: Cơ cấu thu nhập từ các nguồn chính của hộ gia đình 49
Hình 4.3: Cơ cấu thu nhập của hộ gia đình có thu nhập từ rừng 51
Hình 4.4: So sánh tỷ lệ hộ tham gia vào khai thác sản phẩm từ rừng 70
Hình 4.5a: Tương quan và hồi quy giữa đầu tư và thu nhập ở cây Điều 81
Hình 4.5b: Tương quan và hồi quy giữa đầu tư và thu nhập ở cây Xoài 82
Trang 12Tiếng Việt
1 Lê Quí An, 2000 Quan hệ đồng tác trên cơ sở cộng đồng trong vùng đệm các
khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia Báo cáo hội thảo “Vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam”, VNRP – VU – ALA/VIE/94/24.
2 Hoàng Hữu Cải, 2001 Quyền sử dụng tài sản công: các phương thức và điểm
tiếp cận trong nghiên cứu Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng Khoa Lâm nghiệp, Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh.
3 Hoàng Hữu Cải, 2001 Hội thảo quốc tế về xúc tiến Phát triển công nghệ có sự
tham gia ở Viện Quốc tế tái thiết nông thôn Philippines Đại học Nông
Lâm Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh.
4 Nguyễn Xuân Cự và Đỗ Đình Sâm, 2003 Tài nguyên rừng Nhà xuất bản Đại
học quốc gia Hà Nội.
5 Lê Trọng Cúc & T.Rambo, 1995 Một số vấn đề sinh thái nhăn văn ở Việt Nam.
Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.
6 Bùi Việt Hải, 2005 Kết quả đánh giá tác động của dự án ETSP tại xã Thương
Nhật, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên-Huế Tập san KHKT Nông Lâm
nghiệp, Đại học Nông Lâm TP.HCM, số 3.2005.
7 Bùi Việt Hải, 2007 Phương pháp quản lý tài nguyên dựa trên cộng đồng
-Nghiên cứu có sự tham gia NXB Nông nghiệp, TP Hồ Chí Minh.
8 Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1999 Đa dạng sinh học và bảo tồn gen Nhà xuất bản Nông
nghiệp, Hà Nội.
9 Phạm Nhật, 1999 Đa dạng sinh học Việt Nam và vấn đề bảo tồn Đại học Lâm
nghiệp, Hà Tây.
10 Hà Đình Nhật, 2001 Kinh nghiệm tổ xây dựng vùng đệm tham gia bảo vệ vùng
lõi vườn Quốc gia YokĐôn, tỉnh Đắc Lắc Báo cáo hội thảo “Vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam”, VNRP-VU-ALA/VIE/94/24.
11 Ratana Sarou, 2003 Nghiên cứu phát triển các hệ thống quản lý rừng bền vững
có sự tham gia ở một cộng đồng người Mạ (thôn Đạ Nhar, xã Quốc Oai,
Trang 1312 Đỗ Đình Sâm và Nguyễn Ngọc Bình, 2000 Đánh giá đất Lâm nghiệp Nhà
xuất bản Nông Nghiệp.
13 Võ Quý, 1999 Để cuộc sống và môi trường của người dân miền núi được bền
vững Hội thảo quốc gia: “Nghiên cứu phát triển bền vững miền núi Việt
Nam” CRES, NXB Nông nghiệp, Hà Nội.
14 Võ Quí, 2001 Vấn đề quản lý vùng đệm ở Việt Nam, những kinh nghiệm bước
đầu Báo cáo hội thảo “Vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam”,
VNRP – VU – ALA/VIE/94/24.
15 Vương Văn Quỳnh, 2000 “Vai trò của cộng đồng trong quản lý tài nguyên
thiên nhiên” Chuyên san Môi trường và phát triển bền vững Đại học Lâm nghiệp 2000 (1), tr 25- 29.
16 Nguyễn Thị Kim Tài, 2006 Nghiên cứu sinh kế của người dân địa phương và
động lực quản lý tài nguyên rừng bền vững tại xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng Luận văn thạc sỹ Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí
Minh.
17 Nguyễn Minh Thanh, 2004 Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh
học có người dân tham gia tại xã Thượng Tiến thuộc khu Bảo tồn thiên nhiên Thượng Tiến, tỉnh Hoà Bình Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học
Lâm nghiệp, Hà Tây.
18 Nguyễn Nghĩa Thìn, 2000 Đa dạng sinh học và tài nguyên di truyền thực vật
rừng, NXB Đại học quốc gia Hà nội.
19 Nguyễn Bá Thụ, 1997 “Giải quyết vấn đề vùng đệm – một nhiệm vụ quan
trọng trong công tác bảo vệ khu bảo tồn”, Tạp chí lâm nghiệp, tháng 11, trang 38
-39.
20 Võ Văn Thoan, 1997 Bài giảng cao học môn Lâm nghiệp xã hội Tủ sách Đại
học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh.
21 Bộ Nông nghiệp & PTNT, 1998 Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham
gia trong họat động khuyến nông lâm NXB Nông nghiệp, Hà Nội.
Trang 1423 Chương trình hỗ trợ Lâm nghiệp xã hội (SFSP), 2003 Khuyến nông khuyến
lâm, Bài giảng môn học, Hà Nội.
24 FAO, 1990 Khái niệm, phương pháp, công cụ phục vụ luận chứng, kiểm tra,
đánh giá có sự tham gia của quần chúng trong lâm nghiệp cộng đồng Sổ
tay cẩm nang lâm nghiệp cộng đồng.
25 IDRC và IIRR, 2000 Các phương pháp tham gia trong quản lý tài nguyên ven
biển dựa vào cộng đồng (Bản tiếng Việt do Trung tâm Nghiên cứu Tài
nguyên và Môi trường Đại học quốc gia Hà Nội dịch và giới thiệu) Nhà
xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.
26 Ngân hàng thế giới và Chính phủ Việt Nam, 1996 Báo cáo dự án bảo tồn đa
dạng sinh học và phát triển nông thôn Việt Nam - Dự án Chư Mom Ray.
Hà Nội.
27 Nghị định 02/CP, ban hành ngày 15 tháng 1 năm 1994 của Chính phủ về giao
đất Lâm nghiệp cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng vào mục đích
Lâm nghiệp.
28 Nghị định 01/CP, ban hành ngày 4 tháng 1 năm 1995 của Chính phủ về giao
khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất Nông nghiệp, Lâm nghiệp và
Thuỷ sản trong các doanh nghiệp nhà nước.
29 Nghị định 163/1999/NĐ-CP, ban hành ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính
phủ về giao đất, cho thuê đất Lâm nghiệp cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình
sử dụng ổn định và lâu dài vào mục đích Lâm nghiệp.
30 Nghị định 79/2003/NĐ-CP, ban hành ngày 7 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ
về Quy chế thực hiện dân chủ ở xã.
31 Phân viện Điều tra quy hoạch rừng II Dự án đầu tư Khu dự trữ thiên nhiên
Vĩnh Cửu giai đoạn 2004-2008.
32 Quyết định 327/CT ngày 15/9/1992 của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng về một số
chủ trương, chính sách sử dụng đất trống và bãi bồi ven biển.
Trang 15về rừng và đất lâm nghiệp.
34 UBND tỉnh Đồng Nai, 2007 Đề xuất dự án nâng cao năng lực quản lý, giám
sát bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu Bảo tồn thiên nhiên và di tích Vĩnh Cửu, Đồng Nai.
35 Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam – Trung tâm nghiên cứu tài nguyên môi
trường rừng, 1998 Kiến thức bản địa của đồng bảo vùng cao trong nông
nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên NXB Nông nghiệp, Hà Nội.
36 WWF, 2002 Đề xuất chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn tại Việt Nam
2003 – 2010 Dự án tăng cường công tác quản lý hệ thống khu bảo tồn
thiên nhiên tại Việt Nam, Hà Nội.
Trang 16MỞ ĐẦU
Đa dạng sinh học (ĐDSH) là thuật ngữ chỉ sự phong phú của tất cả các
dạng sống trên trái đất cùng với các quá trình sinh thái, tiến hoá để duy trìchúng ĐDSH có giá trị lớn đối với con người, là nguồn thức ăn, thuốc chữabệnh, cung cấp gỗ củi và các sản phẩm khác cho nhiều ngành kinh tế, lànguồn giống vô tận cho sản xuất nông lâm nghiệp 13 ĐDSH là yếu tố quan
trọng đối với việc duy trì các quá trình sinh thái cơ bản, tạo ra và giữ vữngcân bằng sinh thái tự nhiên, tạo môi trường sống ổn định và bền vững cho con
người Mặc dù giá trị của ĐDSH là rất lớn và không thể thay thế, nhưng đã vàđang bị suy thoái trên trái đất
Khu bảo tồn thiên nhiên và di tích (BTTN&DT) Vĩnh Cửu được hình
thành trên cơ sở sát nhập diện tích của 3 lâm trường thuộc tỉnh Đồng Nai là
Mã Đà, Hiếu Liêm và Vĩnh An Do những nguyên nhân lịch sử, trong khuvực hiện có nhiều cụm dân cư phân bố đan xen giữa các khu rừng, ở đây
người dân sinh sống bằng sản xuất nông nghiệp và một phần sống dựa vào tài
nguyên rừng (TNR) Trong thời gian qua, những thay đổi của tự nhiên và xãhội đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân nơi đây, đặc biệt lànhững người dân sống phụ thuộc vào rừng Để giải quyết nhu cầu cuộc sống
trong điều kiện kinh tế ngày càng khó khăn, cùng với nhận thức hạn chế, đãđẩy một số người dân đến với những hành vi vi phạm như lấy cắp lâm sản,săn bắt động vật rừng, phá rừng làm rẫy, đào ao nuôi trồng thuỷ sản vv Đây
chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến TNR Mã Đà nói riêng và khu vực VĩnhCửu nói chung ngày càng bị giảm sút
Mặc dù trong những năm qua, các ngành chức năng đã rất cố gắng thựchiện tốt nhiệm vụ được giao, song do nhiều nguyên nhân khác nhau, rừng ở
Trang 17đây vẫn đang bị xâm hại Hiện tượng chặt, đốt rừng để làm nương rẫy, khai
thác và buôn bán gỗ, săn bắn động vật vẫn còn diễn ra nhiều, tính ĐDSH ngàycàng bị suy giảm Vì vậy, việc nghiên cứu hiện trạng tài nguyên của khu bảotồn thiên nhiên (BTTN), đánh giá sự phụ thuộc của người dân địa phương vàoTNR cũng như những khó khăn thuận lợi trong công tác bảo tồn là điều rấtcần được quan tâm hiện nay Các số liệu nghiên cứu sẽ là cơ sở giúp cho cácnhà quản lý đưa ra những giải pháp hữu hiệu hơn trong công tác bảo tồn
ĐDSH, bảo tồn những nguồn gen động thực vật và phát triển bền vững TNR
trong khu vực
Nhằm góp phần giải quyết các vấn đề trên, chúng tôi thực hiện đề tài
“Nghiên cứu các giải pháp bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng tại xã Mã
Đà, Khu bảo tồn Thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu” Giả thuyết chính được
đặt ra là sự tham gia của cộng đồng là yếu tố quan trọng đảm bảo sự thành
công của quản lý rừng cũng như nâng cao đời sống của họ trong các khu vực
có rừng tự nhiên Để có đủ cơ sở lý luận khoa học, đề tài tiến hành nghiêncứu một cách có hệ thống vai trò của cộng đồng trong quản lý rừng ở một xã
cụ thể và đặt nó trong bối cảnh quản lý chung của tỉnh và huyện Mục tiêucủa đề tài là xây dựng những giải pháp lồng ghép bảo tồn và phát triển hệsinh thái rừng tự nhiên theo hướng bền vững và ổn định, phát huy cao nhấtcác chức năng kinh tế và sinh thái của rừng phục vụ bảo tồn và phát triển ở
địa phương
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Sự tham gia của cộng đồng
Cách tiếp cận có sự tham gia đã được nhiều tác giả nghiên cứu, nhưng
có lẽ vấn đề quan trọng nhất có thể là những cách hiểu khác nhau về kháiniệm “tham gia” (Chambers, 1991; dẫn theo Bùi Việt Hải, 2007 [7]) Đây làmột khái niệm được diễn dịch một cách rất mềm dẻo Trong những ý kiếnthảo luận về sự tham gia trong quản lý tài nguyên thiên nhiên (TNTN), cầnphân biệt giữa các mức độ và loại hình tham gia Có hai trường hợp cực
đoan có thể xẩy ra liên quan đến khái niệm này: (1) Sự tham gia có thể được
xem là một phương thức hay phương tiện để tạo điều kiện thực hiện mộtbiện pháp quản lý đã được các cơ quan bên ngoài ấn định trước; (2) Sự tham
gia được xem là mục đích; phát huy sự tham gia là một phương thức phát
huy nội lực của các cộng đồng địa phương để bảo vệ cơ sở tài nguyên của
họ Trong thực tế, mức độ và hình thức tham gia bị chi phối bởi bối cảnh xãhội, nhưng điều quan trọng khi đánh giá mức độ tham gia là ý nghĩa cơ bảncủa nó: người dân phải tham gia vào các quyết định chi phối đến đời sốngcủa họ (Bùi Việt Hải, 2007 [7])
Việc sử dụng phổ biến cụm từ “sự tham gia” phản ánh những quan
điểm khác nhau về mục tiêu và phương thức Trong nhiều trường hợp, “sựtham gia” ít khi được định nghĩa rõ ràng và do đó trở nên ít có ý nghĩa khi
thực thi các hoạt động quản lý rừng Sự suy diễn phong phú các nội dungkhác nhau về sự tham gia đã dẫn tới những định nghĩa phức tạp về các “kiểutham gia” Nói chung, sự phân biệt các kiểu tham gia dựa trên mức độ kiểmsoát tiến trình lập quyết định về tài nguyên giữa những người trong cuộc (hay
đối tượng hưởng lợi) và người ngoài cuộc (hay người khởi xướng) [11]
Trang 19(1) Sự tham gia thường được hiểu ở cấp độ cơ bản và đơn giản nhất, đó
là sự cung cấp thông tin tham vấn khi một cơ quan hay tổ chức tiến hành đểlấy ý kiến của các thành viên trong một cộng đồng trước khi đưa ra các quyết
định hay triển khai các hoạt động có ảnh hưởng đến người dân địa phương
(2) Ở một mức cao hơn, sự tham gia được hiểu là việc thực thi các hoạt
động, một số nông dân được hợp đồng trồng rừng hay giao khoán quản lý bảo
vệ rừng (QLBVR) Một lần nữa, ở đây, người dân không có quyền quyết địnhtrồng rừng như thế nào, hoặc QLBVR ra sao, mặc dù họ có thể có quyền kýhay không ký các hợp đồng này; ở đây, sự tham gia dừng lại ở mức độ đónggóp sức lao động
(3) Cao hơn nữa, sự tham gia được thể hiện ở mức độ người dân tham
gia vào việc lập kế hoạch cùng với các cơ quan phát triển từ bên ngoài, đónggóp nhân lực và kinh phí cho các hoạt động phát triển ở địa phương vì lợi íchcủa mình và giám sát tiến trình Nhiều hoạt động của chương trình 145/TTg
đã được thực hiện thành công theo hướng này
(4) Sau cùng, ở mức cao nhất, sự tham gia thường được hiểu như làmột chuẩn mực, trong đó người dân chủ động, tích cực đưa ra các phương ánphát triển Trong trường hợp này, các cơ quan bên ngoài tham gia vào hoạt
động của cộng đồng mà không phải là các cộng đồng tham gia vào công việc
của họ
Bốn cấp độ trên đây của cách tiếp cận “có sự tham gia” có thể được vậndụng trong từng tình huống cụ thể Do đó, ý tưởng cho rằng mọi sự tham gia
đều đồng nghĩa với “tốt” và mọi hoạt động thiếu sự tham gia đều đồng nghĩa
với “không tốt” có vẻ cực đoan Tuy nhiên, trong thực tế, nó có thể ẩn dấumột cách thức làm cho các hoạt động dựa trên sự điều khiển được tiến hànhthuận lợi và dễ được chấp nhận [11]
Trang 20Mặc dù sự phân loại các ý tưởng có vẻ đơn giản về sự tham gia, có thểhữu ích cho việc tìm hiểu bản chất của vấn đề, nó cũng có một số nhược điểmgây trở ngại cho việc phát triển các hệ thống quản lý rừng có sự tham gia(Pimbert, Gujja and M Shah, 1996; dẫn theo Hoàng Hữu Cải, 2001) Thứnhất, nó giả định rằng mức độ tham gia có thể được xác định ngay từ đầu khilập kế hoạch, tiến hành thiết kế hệ thống giám sát và đánh giá có sự tham gia,
và giữ bất biến trong tiến trình đó Thứ hai, nó phân biệt một cách giản đơn
“người trong” và “người ngoài” Điều này làm lu mờ một thực tế là các thành
viên ở cả hai nhóm cũng có những mức độ tham gia khác nhau Khi xem xéttất cả các thành viên của cộng đồng là người trong cuộc, các dự án dễ có xu
hướng đồng nhất, người có nhiều đất với người không có đất, phụ nữ và nam
giới, nông dân khá giàu và nông dân nghèo Đối với việc giám sát, điều này
có nghĩa là khi sự tham gia được giả định là chỉ báo của sự phát triển Thứ ba,
vì sự phân loại ít nhiều mang tính chất phán đoán, nhiều tác giả đã đưa ra cácthuật ngữ như tham gia bắt buộc hay sự tham gia được điều khiển Tuy nhiêntrong thực tế, không phải mọi người đều mong muốn, có thể và cam kết sẽ
tham gia như nhau trong một tiến trình Trong thực tế, bối cảnh chính sách và
xã hội địa phương có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ và hình thức tham giacủa các nhóm nông dân khác nhau Do đó, khả năng đạt được sự tham giahoàn toàn trong tiến trình lập kế hoạch, giám sát và đánh giá chỉ là một tìnhtrạng phi thực tế (Hoàng Hữu Cải, 2001) [2]
Trong sự phát triển của lý thuyết về sự tham gia trong quản lý môi
trường và TNTN, cần nhấn mạnh một xu thế: bản thân các vấn đề về quản lý
TNTN nói chung và TNR nói riêng là một tiến trình xã hội (Myint, 2003;dẫn theo Nguyễn Thị Kim Tài [16]) Tuy nhiên, hành động của con ngườitrong các cộng đồng ở trong hay gần rừng bị chi phối bởi các quy luật tựnhiên của các hệ sinh thái đồng thời các quy luật do con người tạo ra Do đó,
Trang 21để phân tích tương tác giữa cộng đồng với môi trường và tài nguyên theo các
khía cạnh định chế - môi trường, cần xem môi trường và cộng đồng như là
tác nhân hành động hơn là nhân tố trong quản lý tài nguyên
Bản thân thuật ngữ “cộng đồng” cũng đã được hiểu theo nhiều nghĩakhác nhau Trong các tài liệu liên quan đến quản lý TNTN, cộng đồng
thường được hiểu là “một nhóm người chia sẻ những lợi ích, mối quan tâm,
hay các mối liên hệ chức năng hay đạo đức” (Pomeroy và Carlos, 1996; dẫntheo R Sarou [11]) Bên cạnh đó, cũng có những cách hiểu khác nhau vềcách tiếp cận “quản lý TNR dựa vào cộng đồng” Chính vì thế, việc xâydựng một lý thuyết chung dựa trên các công trình nghiên cứu hành động đã
được nhiều tổ chức quốc tế quan tâm phát triển trong hơn một thập kỷ qua
Cơ sở của việc thiết kế các hệ thống quản lý tài nguyên, trong đó có bảo tồnĐDSH dựa vào cộng đồng là sự xem xét các định chế quản lý của con người
có phù hợp với các hệ thống tự nhiên sinh học của môi trường hay không
Trong đề tài, chúng tôi sử dụng khái niệm quản lý TNR dựa vào cộng đồng
theo ý nghĩa này để xây dựng khung phân tích
Trong bối cảnh của quản lý và bảo tồn TNR có sự tham gia, nhiều câuhỏi quan trọng được đặt ra chung quanh các vấn đề “ai tham gia” và họ tham
gia như thế nào? Việc phân tích sự tham gia trước hết được bắt đầu bằng cáchxác định những “người tham gia”, những “cá nhân” hay “nhóm liên quan”
nào tham gia vào hệ thống quản lý và bảo tồn TNR? Vai trò của họ là gì?Những người này tham gia với động cơ nào? Liệu các mối quan tâm nào của
họ sẽ được lưu ý và hệ thống quản lý có sự tham gia có giúp giải quyết cácmối quan tâm của họ ra sao? Sự tham gia thực tế xảy ra ở địa phương như thếnào? Không phải tất cả các câu hỏi này đều có câu trả lời rõ ràng Tuy nhiên,nếu các bên tham gia không xem xét chúng một cách thận trọng, sự tham gia
sẽ mất đi ý nghĩa của nó (Bùi Việt Hải, 2007 [7])
Trang 221.2 Nghiên cứu liên quan đến bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng
1.2.1 Trên th ế giới
Nghiên cứu của Berkmuller và các cộng sự (1992) cho rằng, việc nângcao nhận thức và mối quan tâm của cộng đồng địa phương đối với (BTTN) vàcác hoạt động có liên quan là rất quan trọng Tác giả cho rằng, nếu khôngnâng cao nhận thức về các giá trị sinh thái và giá trị vô hình của khu BTTNthì rừng sẽ tiếp tục bị xem như là một tài nguyên có thể khai thác Để thựchiện thành công những giải pháp dài hạn cho những vấn đề về môi trường,cần đưa việc giáo dục về các giá trị của môi trường vào trong các chươngtrình giáo dục cho các KBT (dẫn theo Nguyễn Minh Thanh, 2004 [17)
Việc xây dựng các qui tắc và qui định cho vùng đệm và vùng lõi củakhu BTTN với sự tham gia của các cộng đồng và chính quyền địa phương đã
được Gilmour và Nguyễn văn Sản (1999), Đặng Đình Trân (1997),Mackinnon (1986), Sayer (1991) đề xuất một số hướng dẫn cho các vùng
quản lý khác nhau như: cấm đốt thảm thực vật trong vùng đệm, tránh trồngnhững loại cây dễ bắt lửa, cấm đưa vào trong vùng đệm các loài động vật vàthực vật có nhiều khả năng xâm lấn hay đe doạ khu vực bảo tồn, cấm bất kỳmột hành động nào có khả năng đe doạ các loài có nguy cơ tuyệt chủng trongKBT, tránh trồng các loài cây dễ khuyến khích động vật hoang dã ra ăn cỏngoài KBT (dẫn theo Nguyễn Minh Thanh, 2004 [17)
Về chính sách lâm nghiệp, Sheppherd G (1986) cho rằng, đối với cộng
đồng dân cư sống trong và gần các khu BTTN, một giải pháp đề nghị là chophép người dân địa phương củng cố quyền lợi của họ theo cách hiểu của các
hệ thống quản lý nông nghiệp hiện đại, bằng cách trồng cây, cho và nhận đất
Nhà nước cần xác định rõ các quyền lợi chính trị của dân trên mảnh đất mà họ
Trang 23nhận, với mục đích tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập và giảm tác
động đến TNR25
Tại Nepan, Subedi và cộng sự đã dùng phương pháp đánh giá nhanh
(RRA) để nghiên cứu việc quản lý cây và đất tại hai cộng đồng nông thôn ở
miền Đông Terai Nghiên cứu được thiết kế nhằm góp sức vào việc phát triểnlợi tức và công ăn việc làm thông qua dự án do cơ quan phát triển Quốc tếThuỵ Điển (SIDA) và FAO tài trợ Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cộng
đồng và quản lý của thôn xã, tầm quan trọng của việc thu hút người dân sử
dụng tài nguyên và những nhóm sử dụng trực tiếp tham gia vào việc pháttriển, cách giải quyết vấn đề khan hiếm tài nguyên và công bằng xã hội đã
được thảo luận (dẫn theo Nguyễn Minh Thanh, 2004 [17)
Với Poffenberger và McGean (1993), trong báo cáo “Liên minh cộng
đồng: đồng quản lý rừng ở Thái Lan” đã có nghiên cứu điểm tại Vườn quốc
gia Dong Yai nằm ở đông bắc Thái Lan và khu phòng hộ Nam Sa ở phía bắcThái Lan Tại đây, người dân đã chứng minh được khả năng của họ trong việc
tự tổ chức các hoạt động bảo tồn, đồng thời phối hợp với Cục Lâm nghiệpHoàng gia xây dựng hệ thống quản lý rừng đảm bảo ổn định về môi trường
sinh thái, đồng thời phục vụ lợi ích của người dân trong khu vực Tại Nam Sa,
cộng đồng người dân cũng rất thành công trong công tác quản lý rừng phòng
hộ Họ khẳng định, nếu chính phủ có chính sách khuyến khích và chuyển giaoquyền lực cho họ thì chắc chắn họ sẽ thành công trong việc kiểm soát tình hình khaithác tài nguyên (dẫn theo Nguyễn Minh Thanh, 2004 [17)
Gilmour D.A (1999) lại cho rằng, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tínhkém hiệu quả của các chương trình dự án quản lý TNTN là chưa giải quyết tốtmối quan hệ lợi ích giữa các cá nhân trong cộng đồng, giữa lợi ích cộng đồng
địa phương với lợi ích quốc gia, do đó chưa phát huy được năng lực nội sinh
Trang 24của các cộng đồng cho quản lý tài nguyên Vì vậy, quản lý tài nguyên cầnphát triển theo hướng kết hợp giữa hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyênvới hoạt động sản xuất để cải thiện chất lượng cuộc sống người dân, thốngnhất lợi ích của người dân với lợi ích quốc gia trong hoạt động bảo tồn vàphát triển TNR (dẫn theo Nguyễn Minh Thanh, 2004 [17).
1.2.2 T ại Việt Nam
Từ những năm 1960, Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều văn bản phápqui, chỉ thị và chính sách liên quan đến bảo vệ rừng Tuy nhiên, do yêu cầu
trước mắt ưu tiên cho phát triển kinh tế xã hội và chống đói nghèo nên trong
những năm qua, Việt Nam chưa quan tâm đầy đủ tới mối quan hệ giữa pháttriển và bảo tồn tài nguyên sinh học Từ những năm 1980, Chính phủ đã bắt
đầu có những quan tâm đặc biệt tới phát triển và sử dụng hợp lý TNTN , bảo
vệ môi trường rừng Nhiều văn bản pháp qui liên quan đến các KBT đã đượcban hành, nhiều dự án, chương trình lớn được thực hiện đã tạo ra nền tảng đểnâng cao nhận thức và các hoạt động bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam Tuy nhiên,
sự hiểu biết về BTTN nói chung và KBT nói riêng còn rất nhiều bất cập, nhất
là đối với các cộng đồng sinh sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa 36 Đểngăn chặn việc khai thác, sử dụng trái phép TNTN ngày càng gia tăng Thêm
nữa, do yêu cầu ở trong nước và xuất khẩu, tạo sự liên kết và hỗ trợ của Quốc
tế, Chính phủ Việt Nam cũng đã tham gia vào 4 trong 5 công ước Quốc tế liên
quan đến công tác bảo tồn ĐDSH, quản lý KBT và quản lý các loài động thực
vật hoang dã36
Đánh giá hiệu quả của công tác bảo vệ các KBT ở Việt Nam, Nguyễn
Bá Thụ (1997) nhận định: Công tác này phụ thuộc rất nhiều vào việc giảiquyết những vấn đề tồn tại trên vùng đệm gồm nâng cao đời sống của nhân
dân vùng đệm; chuyển đổi hoặc thay thế tập quán dùng củi, gỗ bừa bãi và
Trang 25lãng phí của người dân sống trên vùng đệm; nâng cao trình độ kỹ thuật canhtác nông nghiệp, lâm nghiệp, đẩy mạnh thâm canh, nâng cao năng suất câytrồng, nhanh chóng từ bỏ lối canh tác du canh, quảng canh; nâng cao trình độhiểu biết về bảo tồn, sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên cho người dân
địa phương19
Báo cáo kết quả Dự án bảo tồn ĐDSH và phát triển nông thôn - dự án
khu BTTN Chưmom Ray (1996) đã kết luận: Bảo vệ tính ĐDSH của khuBTTN trước hết là làm giảm sự phụ thuộc của người dân lên vùng được bảo
vệ, đảm bảo được mức độ cao hơn về an toàn lương thực, gia tăng thu nhập
hộ gia đình, xoá nạn mù chữ, cải thiện vấn đề sức khoẻ, tạo ra các cơ hội và
giúp các nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, phát triển các yếu tố truyền thốngvăn hoá, phát triển phúc lợi xã hội của các cộng đồng sống trong vùng đệm,
khuyến khích các hoạt động phát triển nông nghiệp bền vững, phát triển cơ sở
hạ tầng nông thôn26
Việc xây dựng vùng đệm Kỳ Thượng ở khu BTTN Kẻ Gỗ đã được Võ
Quí và Đồng Nguyên Thụy (2001) nghiên cứu và chỉ ra rằng, để có thể bảo vệđược rừng thì điều cần thiết phải cộng tác với nhân dân địa phương, động viên
họ bảo vệ rừng và nâng cao chất lượng cuộc sống bằng cách giúp họ nâng cao
năng suất lúa với giống mới phù hợp với địa phương, thực hiện nông lâm kết
hợp, tổ chức trồng cây ăn quả, nuôi ong, xây dựng thủy điện nhỏ cho gia
đình, Huấn luyện nhân dân cách xây dựng và quản lý vùng đệm, sử dụng
bền vững TNR, giảm bớt sức ép lên rừng14
Năm 1998, khi nghiên cứu kiến thức bản địa của đồng bảo vùng cao
trong nông nghiệp và quản lý TNTN, Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc đãkhẳng định tầm quan trọng của kiến thức bản địa trong quản lý TNTN Chínhnhững cộng đồng địa phương là những người hiểu biết sâu sắc nhất về những
Trang 26TNTN nơi họ sinh sống, về cách thức giải quyết những mối quan hệ kinh
tế-xã hội trong cộng đồng Họ có khả năng phát triển các loài cây trồng vật nuôicho hiệu quả cao và bền vững trong hoàn cảnh sinh thái của địa phương Cộng
đồng dân cư địa phương vừa là người thực hiện các chương trình quản lý tài
nguyên, vừa là người hưởng lợi từ hoạt động quản lý tài nguyên, nên nhữnggiải pháp quản lý tài nguyên phù hợp với những phong tục, tập quán, nhữngnhận thức, kiến thức của họ sẽ có tính khả thi cao [5],35
Báo cáo tại hội thảo quốc gia năm 1999, Võ Quý cho rằng, để duy trìcuộc sống, nhiều người sinh sống trong các KBT buộc phải khai thác cácnguồn TNTN ở đây mà đáng ra họ phải góp phần bảo vệ Vì vậy, để giảiquyết mâu thuẫn nói trên phải chú ý đến vấn đề kinh tế xã hội phức tạp màchủ yếu là tìm các biện pháp hữu hiệu để cải thiện mức sống của người dân,nhất là những người dân nghèo, đồng thời phải nâng cao nhận thức của họ vềbảo vệ thiên nhiên và môi trường, sử dụng hợp lý TNTN, kể cả đất và rừng
mà họ có trách nhiệm bảo vệ và họ được quyền quyết định về cách sử dụngtốt nhất cho cuộc sống của họ và cho cả cộng đồng13
Với kết quả dự án xây dựng và phát triển vùng đệm vườn quốc gia Yok
Đôn, Hà Đình Nhật (2001) khẳng định khoán bảo vệ rừng là biện pháp có
hiệu quả nhất đối với cộng đồng vùng đệm tại vườn quốc gia này Mọi người
dân đều được giao nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng và được hưởng quyền lợi
mà Nhà nước trả tuy không lớn nhưng đây thực sự là đường lối chính sáchcủa Đảng và Nhà nước Dự án đã giải quyết được công ăn việc làm và tạo thunhập bình quân mỗi hộ nhận khoán 30 - 40 ha rừng là 1,5 - 2 triệu đồng Nhưvậy, thông qua nhận rừng họ đã giải quyết được 80 đến 100% lương thực cho
gia đình trong năm Đây cũng là một biện pháp xoá đói giảm nghèo cho nhân
Trang 27dân địa phương, đồng thời cũng là biện pháp quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả
nhất đối với vườn Quốc gia Yok Đôn trong những năm qua10
Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu là KBT lớn nhất miền Đông Nam Bộ, với
nhiều đặc trưng nổi bật về mặt tự nhiên cũng như xã hội Tuy nhiên, cũng nhưnhiều khu rừng đặc dụng khác ở nước ta, rừng của Khu BTTN&DT Vĩnh Cửuđang phải đối mặt với những nạn săn bắt động vật, khai thác thực vật và thậmchí xâm lấn diện tích do đời sống dân cư trong vùng còn khó khăn và nhậnthức của người dân về bảo tồn còn nhiều hạn chế Mặc dù có lực lượng kiểmlâm đông, rừng được tổ chức quản lý bảo vệ tại gốc khá nghiêm ngặt, nhưnghàng năm trên địa bàn vẫn xảy ra hàng chục vụ vi phạm Luật Bảo vệ và pháttriển rừng Một trong các nguyên nhân chính là do những đòi hỏi của công tác
bảo tồn trong giai đọan hiện nay, các kỹ năng quản lý tài nguyên ĐDSH nóichung và TNR nói riêng dựa vào cộng đồng người dân địa phương chưa đượcchú trọng đúng mức và còn nhiều hạn chế
Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai đã và đang triển khai ápdụng một số chương trình và dự án quốc gia Những chương trình này nhằmtừng bước ổn định đời sống người dân, làm giảm áp lực của cộng đồng địa
phương đối với nguồn TNTN ở khu vực và chúng đã có hiệu quả, ít nhất cũng
thể hiện ở chỗ các hộ gia đình không coi rừng tự nhiên là nguồn thu nhập duynhất để duy trì cuộc sống hàng ngày của họ Tuy nhiên, kể từ khi thành lập
cho đến nay chưa có những nghiên cứu cụ thể nào về các giải pháp bảo tồnĐDSH dựa vào cộng đồng
Nhưng, để có một số giải pháp cụ thể nhằm giải quyết ổn định tình hình
kinh tế xã hội ở địa phương, làm giảm cơ bản sự phụ thuộc của người dân vàorừng thì một nghiên cứu cụ thể về bảo tồn và cộng đồng là rất cần thiết Từ
đó, việc nghiên cứu nhằm xây dựng giải pháp quản lý bảo tồn ĐDSH có sự
Trang 28tham gia của cộng đồng dân cư địa phương đang được đặt ra như một trongnhững nhiệm vụ cấp bách của Ban quản lý KBT Đó cũng chính là lý do và ý nghĩacủa đề tài nghiên cứu.
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Mục tiêu chung của đề tài là góp phần xây dựng cơ sở khoa học choquản lý bền vững tài nguyên ĐDSH tại Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu
Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá được thực trạng tài nguyên ĐDSH và tình trạng quản lý tài
nguyên ĐDSH ở Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu
- Phân tích được những đặc điểm tổ chức cộng đồng và các hoạt động
của họ liên quan đến tài nguyên ĐDSH ở Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu
- Xác định được những yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở cộng đồng tham
gia vào bảo tồn ĐDSH ở Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu
- Đề xuất được những giải pháp bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng ởKhu BTTN&DT Vĩnh Cửu
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hộ dân thuộc cộng đồng dân cư
xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, những người có sinh kế phụ
Trang 29thuộc vào TNR và có các hoạt động tác động đến ĐDSH của TNR ở KhuBTTN&DT Vĩnh Cửu.
2.3 Nội dung nghiên cứu
Nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra, trong điều kiện cụ thể của địa
phương, đề tài thực hiện những nội dung sau:
(1) Nghiên cứu thực trạng tài nguyên ĐDSH và công tác quản lý tàinguyên ĐDSH ở Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu
+ Thực trạng tài nguyên ĐDSH
+ Thực trạng công tác quản lý tài nguyên ĐDSH
(2) Nghiên cứu đặc điểm tổ chức cộng đồng và hoạt động của họ liên
quan đến tài nguyên ĐDSH ở Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu
+ Đặc điểm các tổ chức cộng đồng và luật lệ cộng đồng liên quan đếntài nguyên ĐDSH
+ Đặc điểm các hoạt động của cộng đồng có ảnh hưởng đến tài nguyên
Trang 30+ Những yếu tố cản trở cộng đồng tham gia vào bảo tồn tài nguyên
ĐDSH
(4) Nghiên cứu những giải pháp bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng ở
Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu
+ Những giải pháp kinh tế thúc đẩy cộng đồng tham gia bảo tồn tàinguyên ĐDSH
+ Những giải pháp xã hội thúc đẩy cộng đồng tham gia bảo tồn tàinguyên ĐDSH
+ Những giải pháp kỹ thuật thúc đẩy cộng đồng tham gia bảo tồn tàinguyên ĐDSH
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp luận
Hoạt động của cộng đồng và ảnh hưởng của họ đến tài nguyên ĐDSHchịu sự chi phối đồng thời của đặc điểm tài nguyên ĐDSH, hoàn cảnh kinh tế
và những vấn đề xã hội như nhận thức, kiến thức, phong tục, tập quán, tôn
giáo, tín ngưỡng, chính sách, luật pháp, hương ước, luật tục v.v Vì vậy, khi
nghiên cứu những giải pháp bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng, không nhữngphải nghiên cứu đặc điểm của tài nguyên ĐDSH, đặc điểm của tổ chức và luật
lệ cộng đồng, mà con phải nghiên cứu cả hoàn cảnh kinh tế xã hội chi phối cáchoạt động quản lý sử dụng tài nguyên ĐDSH của họ
Đề tài vận dụng quan điểm hệ thống để xây dựng phương pháp nghiên
cứu Theo quan điểm này, rừng vừa là một bộ phận của hệ thống tự nhiên vừa
là một bộ phận của hệ thống kinh tế xã hội
Sự tồn tại và phát triển của tài nguyên ĐDSH phụ thuộc những quy luậtcủa tự nhiên, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác trong hệ thống tự nhiên
như địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, sinh vật v.v Do quan hệ chặt chẽ với các
Trang 31yếu tố tự nhiên mà có thể bảo tồn ĐDSH bằng cách tác động vào các yếu tố tự
nhiên Trên quan điểm hệ thống, có thể xem những giải pháp bảo tồn ĐDSHnhư là những giải pháp điều khiển hệ thống tự nhiên
Tài nguyên ĐDSH cũng là một bộ phận của hệ thống kinh tế vì sự tồntại và phát triển của nó gắn liền với các hoạt động kinh tế của con người nhưtrồng rừng, khai thác lâm sản, làm nương rẫy, phát triển du lịch, Đến lượtmình, các hoạt động này lại phụ thuộc vào mức sống kinh tế, cơ cấu ngànhnghề, nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợi nhuận v.v Ngoài ra, rừng cũng
tác động mạnh mẽ tới các yếu tố kinh tế thông qua cung cấp nguyên liệu,năng lượng và thông tin cho nhiều hoạt động kinh tế của con người Vì quan
hệ chặt chẽ với các yếu tố trong hệ thống kinh tế, nên có thể bảo tồn ĐDSHbằng việc tác động vào những yếu tố kinh tế
Tài nguyên ĐDSH cũng là một thực thể xã hội, sự tồn tại và phát triểncủa nó phụ thuộc nhiều vào hoạt động của con người Hoạt động của họ theo
hướng bảo vệ và phát triển hay tàn phá nó luôn bị chi phối bởi nhiều yếu tố xã
hội như nhận thức về giá trị của rừng, ý thức với luật pháp Nhà nước, tráchnhiệm với cộng đồng, kiến thức về bảo tồn ĐDSH, những phong tục, tập quán
liên quan đến bảo tồn ĐDSH v.v
Tài nguyên ĐDSH và hiệu quả của hoạt động bảo tồn ĐDSH cũng phụthuộc vào những vấn đề thể chế và chính sách như hoạt động của hệ thống tổchức nhà nước trong lĩnh vực QLBVR, các chính sách đất đai, chính sách sởhữu và sử dụng rừng ở địa phương Hiệu quả của bảo tồn ĐDSH còn phụthuộc vào sự hiện diện của các tổ chức cộng đồng và những quy định củacộng đồng Tổ chức và luật lệ cộng đồng sẽ gắn kết những hộ gia đình đơn lẻthành lực lượng mạnh mẽ đủ sức thực hiện những chương trình bảo tồn
ĐDSH vì quyền lợi của mỗi gia đình và cộng đồng Do bảo tồn ĐDSH có liên
Trang 32quan chặt chẽ với các yếu tố xã hội, nên để bảo vệ chúng cần tác động vàonhững yếu tố xã hội Những giải pháp xã hội cho bảo tồn ĐDSH bền vững sẽ
là những giải pháp tác động vào các mối quan hệ xã hội để lôi cuốn cộng
đồng vào hoạt động quản lý bảo vệ TNR
Bảo tồn ĐDSH là hoạt động vừa mang tính kỹ thuật, vừa mang tínhkinh tế, tính xã hội và nhân văn nên những giải pháp bảo tồn phải được xâydựng trên quan điểm đa ngành và sẽ bao gồm cả những giải pháp kinh tế, xãhội và công nghệ Chúng được xây dựng trên cơ sở những kiến thức khí tượngthuỷ văn, lâm sinh học, dân tộc học, xã hội học, kinh tế, thể chế, môi trường
và phát triển v.v Chúng được lồng ghép với nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau
để đạt được mục tiêu đặt ra
Trang 33Hình 2.1: Các bước thực hiện quá trình nghiên cứu
2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin
Quá trình thu thập và xử lý thông tin được tiến hành theo các phươngpháp chủ yếu sau (hình 2.1):
(1) K ế thừa tư liệu
Những tài liệu được kế thừa để phân tích xây dựng giải pháp bảo tồn
ĐDSH dựa vào cộng đồng bao gồm:
Mục tiêu nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
Lựa chọn điểm nghiên cứu
Thu thập thông tin, số liệu
Phỏng vấn cá nhân Phỏng vấn HGĐ Thảo luận nhóm
Giải pháp kỹ thuật Giải pháp kinh tế Giải pháp xã hội
Thực trạng BT ĐDSH Các mối quan hệ và yếu tố
Trang 34+ Những tài liệu khí hậu thuỷ văn, kết quả điều tra đất, thực vật, độngvật, tài liệu thống kê tài nguyên ĐDSH, tài nguyên đất đai, dân số và lao
động, chính sách kinh tế - xã hội, tài liệu về lịch sử làng xã, …
+ Những tài liệu tổng kết về thực hiện chính sách của Nhà nước có liên
quan như chính sách giao đất khoán rừng, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, kế
2 2 .
S u Nd
S u N n
S2: phương sai mẫu (0,25)
Với tổng số hộ (N) của xã Mã Đà là 1.725 hộ, do đó n tính đượckhoảng 91 hộ Để đảm bảo độ tin cậy, chúng tôi chỉ giới hạn ở 5/7 ấp mà
người dân đang sinh sống ở trong và gần rừng, nằm trong khu vực vùng đệm
và vùng sinh thái của KBT, do đó số lượng sẽ rút tương đương với 10% số hộcủa 5 ấp (trừ ấp 1 và ấp 7 của KBT) Tổng số hộ gia đình đã được phỏng vấn
là 151 hộ của 5/7 ấp ở khu vực xã Mã Đà
+ Những chủ đề phỏng vấn tập trung vào:
- Đặc điểm tài nguyên ĐDSH và thực trạng quản lý tài nguyên ĐDSH
Trang 35- Tổ chức và luật lệ cộng đồng, các hoạt động của cộng đồng liên quan
+ Công cụ để thực hiện điều tra:
Công cụ điều tra chủ yếu là bảng câu hỏi phỏng vấn, trong đó phần lớn
là những câu hỏi định hướng và số ít hơn là những câu hỏi bán định hướng.Bảng câu hỏi được in ra và ghi chép (khi phỏng vấn) cho từng hộ gia đình
(3) Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia
+ Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) được áp dụng
để kiểm tra kết quả và xác định những yếu tố quan trọng nhất đang thúc đẩy
hay cản trở cộng đồng tham gia bảo tồn ĐDSH, lựa chọn những giải pháp ưu
tiên, đề xuất những kiến nghị lôi cuốn cộng đồng bảo vệ ĐDSH PRA được
thực hiện sau nghiên cứu RRA thông qua một số cuộc thảo luận với nhóm
người dân, cán bộ thôn, xã ở địa bàn nghiên cứu Một số công cụ PRA hỗ trợđược lựa chọn trong quá trình khảo sát như sau:
- Lược sử thôn bản: Công cụ này được sử dụng để tìm hiểu quá trình
hình thành các ấp, quá trình di cư, chuyển đổi các hình thái tổ chức sản xuất,diễn biến của hoạt động sử dụng rừng và đất rừng, sự thay đổi về quan điểm,kiến thức của người dân và các nguyên nhân thay đổi này ở địa phương
- Biểu đồ hướng thời gian: Công cụ này được sử dụng để thu thập và
phân tích thông tin liên quan đến quản lý sử dụng TNR, chủ yếu trong giaiđoạn từ 2004 trở lại đây
Trang 36- Lịch thời vụ: Công cụ này được sử dụng để thu thập thông tin về bố
trí cơ cấu cây trồng, biện pháp kỹ thuật gieo trồng ở địa phương để có thểxem xét đánh giá các kiến thức bản địa cổ truyền tương ứng
- Bảng câu hỏi phỏng vấn bán định hướng: Các câu hỏi phỏng vấn là
câu hỏi bán định hướng, chúng được sắp xếp theo chủ đề phỏng vấn
+ Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia được áp dụng dướihình thức thảo luận nhóm có trọng tâm
Với những chủ đề cần có các thông tin chuyên sâu, để tài sử dụng thêm
phương pháp thảo luận có trọng tâm, mỗi nhóm chỉ một vấn đề nào đó và chỉ
những người liên quan đến vấn đề này (gọi là người trong cuộc) mới đượctham dự Các vấn đề trọng tâm được đặt ra từ trước hoặc phát sinh từ chínhvấn đề mở ra từ bảng câu hỏi mà chưa rõ Cụ thể, đề tài đã thực hiện thảo luậnnhóm với các chủ đề sau:
- Thảo luận nhóm quan tâm về thuận lợi và khó khăn.
- Thảo luận nhóm về tình hình săn bắt và sử dụng động vật rừng
- Thảo luận nhóm về tình hình khai thác và sử dụng gỗ
- Thảo luận nhóm về tình hình khai thác và sử dụng LSNG
(4 ) Phương pháp chuyên gia
Đề tài sử dụng phương pháp chuyên gia để tư vấn về phương pháp thu
thập và phân tích số liệu thống kê, để điều chỉnh và hoàn thiện những giải
pháp đã được hình thành sau khi phân tích tài liệu ngoại nghiệp Với phươngpháp này, đề tài đã gửi đề cương nghiên cứu trước khi thực hiện thu thập số
liệu và gửi báo cáo sơ bộ cho một số chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnhvực bảo tồn Những ý kiến của họ sẽ được sử dụng để điều chỉnh và hoànthiện các giải pháp bảo tồn ĐDSH ở Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu
Trang 372.4.3 Phương pháp xử lý thông tin
Toàn bộ những thông tin và số liệu được lưu giữ trong phần mềm Excel
2003 Thông tin được xác định cho từng đơn vị điều tra (hộ gia đình) với mỗi
hộ là một hàng (trong bảng Excel) Các số liệu điều tra được sắp thành các cộtvới mỗi cột là một chỉ tiêu điều tra cụ thể Như vậy, một câu hỏi có bao nhiêu
ý thì sẽ có bấy nhiêu cột (trong bảng Excel) Trong các bảng Excel, thông tin
được ghi dưới dạng mã hoá (nếu là định tính) hoặc số liệu nguyên thủy (nếu
là định lượng) Các cột cũng được sắp xếp theo từng chủ đề điều tra như đãđược xác định trong phần nội dung, ví dụ: thông tin chung, thông tin về thu
nhập và đầu tư, về xã hội v.v (các phụ lục từ 1.1 đến 1.6)
Trong quá trình xử lý tài liệu, đề tài tiến hành chỉnh lý và sắp xếp các
thông tin được thu thập theo thứ tự ưu tiên, mức độ quan trọng của vấn đề,
phân tích các ý kiến, quan điểm để lựa chọn và tìm giải pháp Đồng thời phải
định lượng một số vấn đề hay chỉ tiêu có thể thực hiện được và liên hệ với các
số liệu thứ cấp Những thông tin thu thập được gồm có thông tin định tính và
thông tin định lượng, các thông tin này đều có giá trị quan trọng như nhau khi
sử dụng trong phân tích Toàn bộ quá trình chỉnh lý, tổng hợp và phân tích sốliệu được thực hiện bằng phương pháp thống kê thực nghiệm với sự hỗ trợcủa các phần mềm Excel 2003 và SPSS.15.0 (xem các phụ lục từ 2.1 đến 2.6)
Số liệu phân tích để đánh giá về các mặt như sau:
+ Phân tích và đánh giá các thông tin về điều kiện tự nhiên như tàinguyên đất và tài nguyên sinh vật bằng cách thống kê sắp xếp (sử dụng số liệu
có sẵn)
Trang 38+ Phân tích và đánh giá các thông tin về sử dụng tài nguyên đất và
TNR bằng phương pháp thống kê theo hộ hoặc tỷ lệ số hộ từ số liệu điều trathực tế
+ Phân tích và đánh giá các thông tin về chính sách trong công tác quản
lý sử dụng và phát triển rừng, những tồn tại và vướng mắc về chế độ chínhsách trong quá trình thực hiện công tác quản lý sử dụng rừng bằng cách lập sơ
đồ 2 mảng
+ Phân tích và tổng hợp đánh giá các thông tin về kinh tế, xã hội bằng
phương pháp tần số, lấy đa số hay số nhiều (số lần hoặc tỷ lệ %) làm tiêu chí
để đánh giá
+ Phân tích đánh giá hiệu quả sản xuất theo quan hệ phụ thuộc với các
chỉ tiêu về đầu tư, về thu nhập và lợi nhuận
2.4.4 Phương pháp trình bày số liệu
Số liệu sau khi phân tích được trình bày theo 2 dạng: bảng và biểu đồ.Bảng số liệu để ghi các kết quả có được, chủ yếu là các trị số tóm tắt; cònbiểu đồ để làm rõ hơn và dễ nhìn hơn Phần trình bày biểu đồ được sử dụngbởi phần mềm Excel 2003
Trang 39Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế và xã hội Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
+ V ị trí địa lý
Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu nằm phía bắc sông Đồng Nai, trên địa bàn
các xã Phú Lý, Mã Đà, Hiếu Liêm thuộc Huyện Vĩnh Cửu Phạm vi ranh giới
cụ thể như sau:
- Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước
- Phía Nam giáp sông Đồng Nai và hồ Trị An
- Phía Đông giáp VQG Cát Tiên và hồ Trị An
- Phía Tây giáp tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước
Tọa độ địa lý:
- Từ 11008’ 55” - 11051’ 30” Vĩ độ Bắc
- Từ 106 090’ 73” - 107023’ 74” Kinh độ Đông
+ Khí h ậu và thủy văn
Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu nằm trong khu vực có chế độ khí hậu nhiệtđới gió mùa cận xích đạo, mỗi năm có 2 mùa, nhiệt độ cao đều trong năm
- Mùa mưa thường từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến
tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình trong năm từ: 2000 - 2.800 mm, tập
trung vào tháng 7, 8, 9
- Nhiệt độ trung bình năm: 25oC - 27oC, nhiệt độ trung bình tháng caonhất: 29oC-35oC, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất: 18oC-25oC
Trang 40- Độ ẩm tương đối 80 - 82% Hướng gió thịnh hành: Đông Bắc - TâyNam Ít có gió bão và sương muối.
- Phía Bắc và Tây Bắc có suối Mã Đà, là suối lớn và là đường ranh giớigiữa Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu với tỉnh Bình Phước Phía Tây có sông Bé, làranh giới giữa Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu với tỉnh Bình Dương
- Phía Đông và Nam giáp hồ Trị An có diện tích 323 km2, là hồ dự trữ
và cung cấp nước cho hoạt động của nhà máy thuỷ điện Trị An Ngoài ra, trên
địa bàn còn có hồ Bà Hào trên 400 ha và hồ Vườn ươm trên 20 ha, luôn ổnđịnh mực nước phục vụ cho việc nuôi trồng thuỷ sản, tưới tiêu và công tác
PCCCR của đơn vị
- Trong khu vực, địa hình bị chia cắt nhẹ bởi hệ thống gồm rất nhiềusuối nhỏ đổ vào hồ Trị An và sông Bé như: suối Linh, suối Cây Sung, suốiSai, suối Bà Hào Đa phần các suối nhỏ đều cạn nước vào mùa khô
+ Địa hình và đất đai
Nằm trong địa hình chuyển tiếp từ cao nguyên Bảo Lộc - Lâm Đồngxuống vùng địa hình bán bình nguyên của Đông Nam bộ Địa hình thuộc dạng
địa hình vùng đồi với 3 cấp độ cao: đồi thấp, đồi trung bình và đồi cao, độ cao
giảm dần từ Bắc xuống Nam, nghiêng từ Đông sang Tây Khu vực phía Bắc
và phía Tây, địa hình gồm nhiều đồi dốc, nhưng độ chênh cao giữa các khuvực không nhiều và có sự chuyển tiếp từ từ Độ cao lớn nhất 368 mét, thấpnhất 20 mét, bình quân 100- 120 mét Độ dốc lớn nhất 35o, bình quân 8o- 10o
Theo số liệu điều tra thổ nhưỡng của Phân viện Quy hoạch Thiết kếnông nghiệp miền Nam, đất trong khu vực chủ yếu và phổ biến là nhóm đất
Feralit đỏ vàng phát triển trên sa phiến thạch Ngoài ra còn có nhóm đất
Podzolit phát triển trên phù sa cổ và nhóm đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đáBazan Diện tích loại đất này không nhiều Nhìn chung, đất trong vùng có