Nhận thức về quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng Cộng đồng là một tập hợp những người sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ có những điểm tương đồng về mặt văn hoá, kinh tế, xã
Trang 1Huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La là một huyện miền núi với lợi thế về tiềm năng đất đai, có tổng diện tích tự nhiên là: 123655ha, trong đó diện tích đất rừng là: 54538,17ha, chủ yếu là rừng tự nhiên Đây là nguồn tài nguyên quí gía và phong phú nhất của địa phương Phù Yên còn được biết đến với cánh
đồng “Mường Tấc”, cánh đồng rộng thứ ba của vùng Tây Bắc: “Nhất Thanh
- Nhì Lò - Tam Tấc - Tứ Than” Tuy nhiên, trong nhiều năm qua do khai thác
và sử dụng rừng chưa hợp lý, hoạt động săn bắn và khai thác gỗ trái phép vẫn thường xuyên xảy ra làm cho diện tích và chất lượng rừng tự nhiên của huyện ngày một suy giảm, thiếu ổn định, hạn hán, lũ lụt xảy ra hàng năm, gây nhiều thiệt hại cho hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, diện tích đất ruộng cũng dần bị thu hẹp do thiếu nước sản xuất, dẫn đến tình trạng kinh tế chậm phát triển, đời sồng nhân dân nghèo nàn lạc hậu
Từ thực tế đã cho thấy, một trong những nguyên nhân chủ yếu gây mất rừng là thiếu sự tham gia tích cực của người cộng đồng dân cư địa phương Không ít người thờ ơ với hoạt động xâm hại rừng, thậm trí còn trực tiếp tham gia vào hoạt động khai thác gỗ và động vật rừng Công tác quản lý rừng không thể hiệu quả nếu chỉ đơn thuần dựa vào Nhà nước, mà phải khuyến khích tham gia của cộng đồng
Trang 2Vấn đề là làm thế nào để phát huy được vai trò của cộng đồng tham gia vào quản lý bảo vệ rừng, cần có những giải pháp gì về kinh tế, xã hội, về khoa học công nghệ để xã hội hoá công tác này Đây là vấn đề băn khoăn trăn trở không chỉ của những người trực tiếp làm công tác quản lý bảo vệ rừng mà của các cấp chính quyền địa phương
Nhằm góp phần bảo vệ tốt diện tích rừng hiện còn và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân trên địa bàn huyện Phù Yên, trong khuôn khổ
xây dựng luận văn Cao học, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đề xuất
một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng ở huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La”
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Nhận thức về quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng
Cộng đồng là một tập hợp những người sống gắn bó với nhau thành một
xã hội nhỏ có những điểm tương đồng về mặt văn hoá, kinh tế, xã hội truyền thống, phong tục tập quán, có các quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bó với nhau và thường có ranh giới không gian trong một thôn, bản Theo quan niệm này, “cộng đồng” chính là “cộng đồng dân cư thôn bản” Tuy nhiên, trong phạm vi hẹp hơn còn bao gồm cả cộng đồng sắc tộc, cộng đồng các dòng họ, cộng đồng tôn giáo hoặc các nhóm hộ trong thôn bản
Mặc dù có những quan niệm khác nhau về cộng đồng, nhưng phần lớn các ý kiến đều cho rằng “cộng đồng” được dùng trong quản lý rừng chính là nói đến cộng đồng dân cư thôn, bản Tại Điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 đã định nghĩa “cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương” [12]
Trong nghiên cứu của đề tài này, cộng đồng được hiểu theo nghĩa là
cộng đồng thôn, bản (kể cả các tổ chức đoàn thể trong cộng đồng)
1.1.1 Khái niệm về cộng đồng tham gia quản lý rừng
Cộng đồng tham gia quản lý rừng cũng có thể thay thế bằng một từ chung nhất là lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ)
Theo FAO, LNCĐ là thuật ngữ bao trùm diễn tả hàng loạt các hoạt động gắn người dân với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích các sản phẩm này
Hiện nay, ở Việt Nam có những quan điểm khác nhau về LNCĐ và chưa
có một định nghĩa chính thức nào được công nhận Tuy nhiên, qua các cuộc hội thảo dường như mọi người đều thống nhất ở Việt Nam, có hai hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của FAO như sau:
- Thứ nhất là quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ)
Trang 4Đây là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và
ăn chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng Rừng của cộng đồng là rừng của làng bản đã được quản lý theo truyền thống lâu đời (rừng thiêng, rừng ma, rừng mó nước…quản lý theo các luật tục truyền thống với tinh thần tự nguyện cao); rừng trồng của các hợp tác xã, rừng tự nhiên đuợc giao cho các hợp tác xã trước đây, nay hợp tác xã giao lại cho các xã, hoặc các thôn quản lý; rừng được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng với tính chất thí điểm trong thời gian gần đây
- Thứ hai là quản lý rừng dựa vào cộng đồng
Đây là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử dụng sở hữu của các thành phần kinh tế khác nhưng có quan hệ trực tiếp đến đời sống, đến việc làm, thu hoạch sản phẩm, thu nhập hay các lợi ích khác của
cộng đồng (thuỷ lợi nhỏ, nước sinh hoạt…) Hình thức này bao gồm hai đối
tượng:
+ Rừng của hộ gia đình, cá nhân là thành viên trong cộng đồng Cộng đồng tham gia quản lý với tính chất hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau, chia xẻ lợi ích
cùng nhau trên cơ sở tự nguyện (tạo thêm sức mạnh để bảo vệ rừng, hỗ trợ
hoặc đổi công cho nhau trong các hoạt động lâm nghiệp…)
+ Rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của các tổ chức nhà nước
(các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, các lâm trường, công ty lâm nghiệp nhà nước, các trạm trại…) và các tổ chức tư nhân khác Cộng đồng
tham gia các hoạt động lâm nghiệp như bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, phục hồi rừng, trồng rừng với tư cách là người làm thuê thông qua các hợp đồng khoán và hưởng lợi theo các cam kết trong hợp đồng
Từ sự phân tích trên đây cho thấy, LNCĐ, QLRCĐ là những khái niệm khác nhau Thuật ngữ QLRCĐ được sử dụng với ý nghĩa hẹp hơn để chỉ CĐ quản lý những khu rừng của một cộng đồng dân cư, còn nói đến LNCĐ hay
Trang 5cộng đồng tham gia quản lý rừng chính là diễn tả hàng loạt các hoạt động gắn người dân trong cộng đồng dân cư thôn bản với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích từ rừng Hay nói cách khác, LNCĐ là một hình thức quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng do cộng đồng dân cư thôn bản thực hiện bao gồm cả rừng của cộng đồng và rừng của các thành phần kinh tế khác
Với cách hiểu như vậy, nên chấp nhận LNCĐ bao gồm cả quản lý rừng
cộng đồng (cộng đồng quản lý rừng của cộng đồng) và quản lý rừng dựa vào cộng đồng (cộng đồng quản lý rừng của các chủ rừng khác) Khái niệm này
vừa phù hợp với định nghĩa của FAO vừa phát huy được nhiều hơn sự đóng góp của cộng đồng vào quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng [21], [37], [38]
BVR trên cơ sở cộng đồng là BVR mà phát huy được những nội lực của cộng đồng cho các hoạt động chống lại sự xâm hại đến rừng như: chống chặt, phá, lấn chiếm rừng, đất rừng, khai thác lâm sản, săn, bẫy, bắt động vật rừng trái phép, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), phòng trừ sinh vật gây hại rừng, bảo vệ hệ sinh thái rừng và được thực hiện theo quy định của pháp luật
về quản lý lâm sản Những giải pháp BVR trên cơ sở cộng đồng luôn chứa đựng những sắc thái của luật tục, phong tục, tập quán, ý thức dân tộc, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc điểm quan hệ gia đình, họ hàng, các tổ chức đoàn thể, làng bản phù họp với chính sách pháp luật của Nhà nước
1.1.2 Vai trò của chính sách Nhà nước đối với BVR trên cơ sở cộng đồng
BVR trên cơ sở cộng đồng được xây dựng dựa trên cơ sở phong tục, tập quán, kiến thức và thể chế bản địa của người dân địa phương Tuy nhiên, có những phong tục tập quán phù hợp với yêu cầu quản lý bền vững tài nguyên rừng, nhưng cũng có những phong tục tập quán ngược lại với yêu cầu quản lý bền vững tài nguyên rừng Do đó, quản lý BVR trên cơ sở cộng đồng phải hướng và phát huy được những phong tục tập quán có lợi và giảm dần những phong tục tập quán cản trở đến quản lý bền vững tài nguyên rừng [24]
Trang 6BVR trên cơ sở cộng đồng sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu sự hậu thuẫn của các chính sách và thể chế Nhà nước Các tổ chức cộng đồng không phải là cơ quan quyền lực, không có công cụ chuyên chính riêng Trong nhiều trường hợp, tổ chức cộng đồng không giải quyết được một cách triệt để những vấn đề phức tạp của quản lý BVR Khi đó các tổ chức cộng đồng phải hợp tác với các cơ quan chính quyền để giải quyết những vấn đề vượt khỏi quyền hạn của mình Vì vậy, các qui định của cộng đồng phải được xây dựng trên cơ sở tính đến sự hỗ trợ của các chính sách và thể chế hiện thời của Nhà nước, không trái với các qui định của Nhà nước
1.1.3 Chiến lược và chính sách BVR trên cơ sở cộng đồng
Chiến lược và chính sách quản lý, bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng của các nước trong khu vực đều được tiến hành theo những hướng sau:
- Những giải pháp chủ yếu để tăng cường quyền quản lý, BVR trên cơ sở cộng đồng: Phát huy những luật tục, phong tục tập quán và trách nhiệm của toàn cộng đồng đối với công tác QLBV&PTR, xây dựng qui ước, hương ước BVR của thôn, bản, qui định rõ quyền lợi và trách nhiệm của mọi người dân trong cộng đồng
- Kết hợp những giải pháp về chính sách hỗ trợ về kinh tế - xã hội để khuyến khích người dân tham gia, trong đó chú trọng phát triển đồng bộ cả giải pháp về đào tạo, tập huấn trong việc BVR trên cơ sở cộng đồng
- Các hình thức BVR: Tuần tra BVR, PCCCR trên địa bàn phải được thực hiện theo phương pháp cùng tham gia ở tất cả các giai đoạn tuần tra bảo
vệ, xây dựng lực lượng, kế hoạch bảo vệ Đây được xem là phương pháp cho phép phát huy đầy đủ nhất những nội lực của cộng đối với công tác BVR
1.1.4 Quan điểm về BVR trên cơ sở cộng đồng
Bảo vệ có hiệu quả tài nguyên rừng chính là để nâng cao chất lượng cuộc sống cho các cộng đồng dân cư thôn, bản Công tác BVR phải được tiến hành đồng thời với sự phát triển kinh tế - xã hội và góp phần nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân cư thôn, bản trên địa bàn Mấu chốt của vấn đề BVR trên cơ
sở cộng đồng vừa là bảo vệ được tài nguyên rừng vừa giải quyết tốt vấn đề nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng
Trang 7Bảo vệ tài nguyên rừng nếu không có sự tham gia của cộng đồng dân cư thôn, bản thì sẽ không thành công Vì vậy, đề xuất các giải pháp để nâng cao trách nhiệm và quyền hưởng lợi của cộng đồng dân cư thôn, bản trong BVR
là rất cần thiết Để công tác BVR đạt hiệu quả cao thì phải có chính sách khuyến khích, thu hút sự tham gia tích cực của cộng dồng dân cư thôn, bản [10], [21]
1.2 Tình hình nghiên cứu và thực hiện trên thế giới
Trong giai đoạn hiện nay BVR trên cơ sở cộng đồng đang được xem như
là một giải pháp hữu hiệu để bảo vệ hiệu quả vốn rừng hiện còn, góp phần giải quyết tình trạng diện tích, chất lượng rừng ngày một giảm Đã có không ít những mô hình quản lý BVR trên cơ sở cộng đồng thành công ở Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc Đây sẽ là những bài học quý báu cho quá trình xây dựng những giải pháp quản lý bền vững tài nguyên rừng trên cơ sở cộng đồng
Ở đây, sử dụng đất đai được thông qua chương trình làng rừng, hộ nông dân được giao đất nông nghiệp, đất thổ cư, đất để trồng rừng Người nông dân được Chính phủ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có trách nhiệm quản lý đất, không được chặt hoặc sử dụng cây rừng Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đã làm gia tăng mức độ an toàn cho người được nhận đất Do vậy đã ảnh hưởng tích cực đến việc khuyến khích đầu tư
và tăng sức sản xuất của đất [33]
* Ở NePal:
Năm 1957, Nhà nước thực hiện quốc hữu hoá rừng, Nhà nước tập trung quản lý, BVR và đất rừng, người dân ít quan tâm đến BVR của Nhà nước, kết quả là trong vòng 20 năm hàng triệu ha rừng bị tàn phá
Trang 8Từ năm 1978, Chính phủ đã giao quyền quản lý và BVR cho người dân địa phương để thực hiện chính sách phát triển lâm nghiệp cộng đồng Tuy nhiên, sau một thời gian người ta nhận thấy các đơn vị hành chính này không phù hợp với việc quản lý và BVR do các khu rừng nằm phân tán, không theo đơn vị hành chính và người dân có nhu cầu, sở thích sử dụng sản phẩm rừng khác nhau
Năm 1989, Nhà nước thực hiện chính sách lâm nghiệp mới đó là chia rừng và đất rừng làm hai loại: rừng tư nhân và rừng Nhà nước cùng với hai loại sở hữu rừng tương ứng là sở hữu tư nhân và sở hữu rừng Nhà nước Trong quyền sở hữu của Nhà nước lại được chia theo các quyền sử dụng khác nhau như: rừng cộng đồng theo nhóm người sử dụng, rừng hợp đồng với các
tổ chức, rừng tín ngưỡng, rừng phòng hộ Nhà nước công nhận quyền pháp nhân và quyền sử dụng cho các nhóm sử dụng
Năm 1993, Nêpal phát triển chính sách lâm nghiệp mới, nhấn mạnh đến các nhóm sử dụng rừng, cho phép gia tăng quyền hạn và hỗ trợ cho các nhóm
sử dụng rừng thay chức năng của các phòng lâm nghiệp huyện từ chức năng cảnh sát và chỉ đạo sang chức năng hỗ trợ và thúc đẩy cho các cộng đồng, từ
đó rừng được quản lý và bảo vệ có hiệu quả hơn
Năm 2000 QLBVR trên cơ sở cộng đồng được thực hiện tại các vùng đồi
có diện tích trên 500 nghìn ha rừng suy thoái được giao cho các nhóm sử dụng rừng Hoạt động này đã thu hút sự tham gia của khoảng 800.000 hộ (4 triệu người) Trọng tâm của chính sách lâm nghiệp cộng đồng tại Nepal là bảo
vệ rừng cộng đồng và cho phép người dân tiếp cận tài nguyên rừng phục vụ nhu cầu sinh hoạt cơ bản Lâm nghiệp cộng đồng tại Nepal dựa vào các nhóm
sử dụng rừng, trong đó mỗi nhóm được giao quản lý một diện tích rừng nhất định Nhà nước được lợi từ hoạt động này là diện tích rừng suy thoái được phủ xanh trong khi đó các nhóm sử dụng rừng có cơ hội tiếp cận lâm sản [11], [34], [36]
*Ở Indonêsia:
Năm 1991, chương trình phát triển lâm nghiệp được hình thành, năm
1995 đổi tên thành chương trình phát triển cộng đồng làng lâm nghiệp do Bộ
Trang 9lâm nghiệp quản lý Chương trình này yêu cầu các công ty khai thác gỗ phải góp phần phát triển nông thôn và BVR với 3 mục tiêu:
- Cải thiện điều kiện sống cho người dân sống ở trong và ngoài khu vực đang khai thác gỗ
- Nâng cao chất lượng và năng suất của rừng
cả các sản phẩm không phải là gỗ, còn việc phân chia quyền lợi cây gỗ lại có
sự thay đổi nhiều giữa các Bang Tại Ấn Độ, người ta nghiên cứu một số giải pháp nhằm tạo ra hoặc tăng thêm các tổ chức địa phương có hiệu lực lâu dài cho quản lý rừng cộng đồng [31], [32]
kỹ thuật nông lâm kết hợp và kỹ thuật canh tác đất dốc đến người nông dân để phát triển lâm nghiệp Năm 1982, Chính phủ xây dựng dự án phát triển lâm nghiệp xã hội quốc gia công nhận quyền sử dụng đất lâu dài cho cộng đồng
Từ kết quả thực tế của các nước đã thu được trong công tác BVR trên cơ
sở cộng đồng, một vấn đề cực kỳ quan trọng là phải giải thích cho cộng đồng
Trang 10rõ những lợi ích do rừng mang lại cho cộng đồng và những chính sách về kinh
tế để hỗ trợ cộng đồng trong công tác và để bảo rừng có hiệu quả phải tuân thủ nguyên tắc gắn công tác BVR với cộng đồng thôn, bản [29], [30]
1.3 BVR trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam
1.3.1.Các tổ chức cộng đồng ở Việt Nam
- Cộng đồng dân tộc: Hiện nước ta có 54 dân tộc, với mỗi cộng đồng dân tộc đều có những đặc điểm riêng về văn hoá, tổ chức xã hội, tiếng nói, phong tục tập quán
- Cộng đồng làng, bản:
+ Làng, xóm ở miền xuôi là hình thức cộng đồng được hình thành trên cơ
sở của phương thức canh tác lúa nước, đã có nhiều thể chế tồn tại lâu đời trong xã hội nông thôn Việt Nam
+ Thôn, bản ở miền núi là hình thức cộng đồng được hình thành trên cơ
sở sắc tộc và kinh tế tự nhiên tự túc, tự cấp, có ảnh hưởng sâu sắc đến việc quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng [2]
Ngoài hai hình thức chủ yếu trên còn có các loại hình cộng đồng khác như: cộng đồng tôn giáo, cộng đồng họ tộc, cộng đồng giới tính Một số loại hình cộng đồng đã được phát triển thành các tổ chức đoàn thể có mục tiêu, điều lệ rõ ràng, hoạt động theo quy chế tổ chức chính trị xã hội hay các tổ chức kinh tế Một số đoàn thể đã tham gia và có nhiều đóng góp cho việc phát triển lâm nghiệp tại các địa phương như: Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên
1.3.2 Hình thức BVR trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam
Tính cộng đồng của các dân tộc Việt Nam đã là yếu tố quan trọng tạo nên cơ sở cho những thành quả đã đạt được trong công cuộc bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Vì vậy, vấn đề phát huy vai trò của các cộng đồng để quản lý nguồn tài nguyên rừng là vấn đề vừa mang ý nghĩa phát huy truyền thống, vừa có thể tạo ra một cách quản lý tài nguyên có hiệu quả hơn, bền vững hơn, phù hợp với những xu hướng phát triển của thế giới[21]
Ở Việt Nam, hình thức quản lý BVR trên cơ sở cộng đồng mới được coi
là một hình thức tồn tại song song với các hình thức khác như: quản lý BVR
Trang 11Nhà nước, hình thức quản lý BVR tư nhân, do đó việc đánh giá hiệu quả của hình thức này chỉ dừng lại ở những nhận định khái quát, mang tính định tính Tuy chưa có thống kê chi tiết, nhưng ở những nơi cộng đồng thực sự tham gia vào quản lý BVR thì công tác quản lý BVR có hiệu quả rõ nét, các hành vi xâm hại tài nguyên rừng bị phát hiện và ngăn chặn kịp thời, rừng ngày càng sinh trưởng phát triển tốt Thực tiễn cho thấy rằng, quản lý BVR có sự tham gia của cộng đồng dân cư thôn, bản là hình thức quản lý BVR có tính khả thi
về kinh tế - xã hội, bền vững về sinh thái môi trường và tiết kiệm chi phí cho Nhà nước
Để trao quyền quản lý BVR cho các cộng đồng Nhà nước đã thực hiện chính sách giao đất, giao rừng Đây là một trong những chính sách lớn tạo môi trường thuận lợi cho quản lý BVR trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam Chủ trương giao đất, khoán rừng đã được Đảng và Nhà nước ta đề ra và thực hiện
từ năm 1968, qua mỗi giai đoạn phát triển, Nhà nước lại có những điều chỉnh,
bổ xung kịp thời cho phù hợp với thực tế
Nhìn chung kết quả giao đất lâm nghiệp, giao rừng đã làm cho rừng có chủ thực sự, tạo ra nhiều hình thức sở hữu rừng, tạo điều kiện khai thác tiềm năng đất đai, lao động, tiền vốn tại chỗ Công tác giao rừng cho cộng đồng dân cư quản lý bảo vệ đều đạt hiệu quả cao, diện tích rừng được giao đều được quản lý tốt, các hiện tượng xâm hại tài nguyên rừng giảm mạnh, ý thức quản lý bảo vệ tài nguyên rừng của cộng đồng dân cư được nâng cao Thông qua việc tổ chức BVR, mối quan hệ xã hội trong cộng đồng và giữa cộng đồng với các cơ quan liên quan đến quản lý, BVR trên địa bàn cũng được nâng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng
Đối với cộng đồng dân cư thôn, bản quản lý BVR cộng đồng đã góp phần nâng cao thu nhập của người dân địa phương, góp phần xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn văn minh, giàu đẹp, đồng thời đáp ứng một phần nhu cầu về gỗ, củi và các lâm sản khác đối với cuộc sống người dân Nhìn chung lợi ích từ rừng mang lại được chia sẻ công bằng hơn trong các hệ thống hiện tại, do đó ít xảy ra mâu thuẫn, xung đột [15]
Trang 12Đối với Nhà nước, hình thức quản lý BVR trên cơ sở cộng đồng đáp ứng được các mục tiêu về chính sách lâm nghiệp của Việt Nam Mặt khác, hình thức này cũng làm giảm chi phí phải trả cho cộng đồng bằng cách chia sẻ lợi ích mang lại và tăng quyền hưởng lợi từ rừng để thúc đẩy cộng đồng thôn, bản tham gia quản lý BVR [20]
1.3.3 Những nghiên cứu chính liên quan đến BVR trên cơ sở cộng đồng Việt Nam
- Năm 1998, Việt Nam chính thức tham gia "Chương trình hành động lâm nghiệp nhiệt đới" của cộng đồng Quốc tế Dự án "Tổng quan về lâm nghiệp Việt Nam" với mã hiệu VIE - 08 - 037 đã được tiến hành và kết thúc vào năm 1991, Dự án đã có những đóng góp quý báu vào việc đánh giá hiện trạng lâm nghiệp Việt Nam thời điểm lúc đó và đưa ra những khuyến cáo về việc định hướng phát triển ngành lâm nghiệp cho đến năm 2000 và những năm tiếp theo
- Dự án "Đổi mới chiến lược ngành lâm nghiệp" đây là dự án xuất phát
từ yêu cầu cấp bách đối với nước ta sau khi Luật bảo vệ và phát triển rừng đã được ban hành (năm 1991), mục tiêu của dự án là tìm hiểu học tập và hợp tác
để tìm ra các giải pháp chiến lược thực thi có hiệu quả mục tiêu phát triển ngành lâm nghiệp trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam
- Dự án "Phát triển lâm nghiệp xã hội Sông đà" bắt đầu vào năm 1993,
dự án này đã chú ý làm việc với "nhóm sử dụng rừng" hơn là với các đơn vị hành chính lâm nghiệp Dự án đã tiến hành những thu xếp về tổ chức khi thực hiện quy hoạch sử dụng đất và giao đất có người dân tham gia, sau đó tiến hành lập những "nhóm bảo vệ rừng" và hỗ trợ dân bản xây dựng những qui chế bảo vệ rừng Những quy chế này dựa vào việc quản lý, bảo vệ rừng của cộng đồng để nâng cao sự tự giác của dân bản và tăng cường sự kiểm soát của dân bản, tránh sự phá hoại rừng của những bản lân cận Củng cố tổ chức cấp thôn bản và xã là việc làm cần thiết tiếp theo Những Ban quản lý thôn bản
mà ít nhất có một thành viên chịu trách nhiệm về lâm nghiệp trong bản được thiết lập khi tiến hành lập kế họach phát triển thôn bản hàng năm Trong quá trình xây dựng kế hoạch dự án sử dụng 4 tiêu chí chính để giới thiệu và tăng
Trang 13cường thực thi quản lý lâm nghiệp cộng đồng, đó là: Quyền sử dụng, nghiên cứu địa phương, khả năng của cộng đồng và điều kiện địa lý khu vực [3], [4]
Vũ Hoài Minh và Haws Warfvinge (2002) đã tiến hành đánh giá về thực trạng quản lý, BVR tự nhiên của các hộ gia đình và cộng đồng địa phương tại
3 tỉnh: Hoà bình, Nghệ an và Thừa Thiên Huế Các tác giả đã tìm hiểu về sự hình thành, các lợi ích đạt được và những vấn đề về hưởng lợi, quyền sử dụng
và các chính sách liên quan đến hình thức quản lý, BVR này Trong 5 mô hình quản lý, BVR cộng đồng có 4 hình thức là tự phát của cộng đồng địa phương và được chính quyền địa phương chấp thuận Họ tự đề ra các qui định
về quản lý, sử dụng lâm sản cũng như các hoạt động BVR, phát triển rừng Hình thức quản lý, BVR ở Thủ Yên Thượng (cộng đồng dân tộc Kinh) được xây dựng trên sự hợp tác giữa chính quyền với sự hỗ trợ của tổ chức Quốc tế [14]
Các kết quả nghiên cứu, kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng qua các cuộc hội thảo quốc gia về lâm nghiệp công đồng Đến nay đã có 3 cuộc hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng
- Hội thảo quốc gia về LNCĐ lần đầu tiên được tổ chức tại Hà Nội trong
2 ngày 01 và 02/6/2000 Hội thảo đã thu hút sự tham gia của gần 60 đại biểu đại diện cho các cơ quan Nhà nước cấp Trung ương và cấp tỉnh, các Viện nghiên cứu, trường Đại học, các chương trình và dự án quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các thành viên tổ công tác, các chuyên gia trong ngành lâm nghiệp Tại đây nhiều các tác giả cùng các công trình nghiên cứu như: Nguyễn Hồng Quân, Tô Đình Mai, Nguyễn Tường Vân và Urich Appel, Edwin Sauk, Nguyễn Văn Thuận, Âu Văn Bảy, Trần Văn Con với các báo cáo về kinh nghiệm từ hoạt động dự án và một số nghiên cứu điểm Hội thảo
đã thống nhất có hai hình thức quản lý rừng ở Việt Nam:
+ Cộng đồng quản lý trực tiếp rừng và đât rừng thuộc quyền sở hữu chung của thôn bản (như rừng thiêng, rừng do Lâm trường, hợp tác xã giao cho thôn bản, rừng đầu nguồn ở địa phương, đồng cở chăn nuôi, đất trống được quy hoạch để trồng rừng hoặc tái sinh tự nhiên)
Trang 14+ Cộng đồng tham gia vào việc quản lý những diện tích rừng thuộc sở hữu hoặc quản lý của các cơ quan nhà nước như bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng qua các hợp đồng khoán bảo vệ với các cơ quan nhà nước, bảo vệ rừng sản xuất do các Lâm trường khoán bảo vệ rừng và đất rừng đã giao cho các hộ gia đình và các tổ chức khác [6]
- Hội thảo quốc gia về lâm nghiệp cộng đồng được tổ chức lần 2 trong 2 ngày 14, 15/11/2001 tại Hà Nội là bước tiếp theo nhằm làm rõ các yếu tố khuôn khổ pháp lý của rừng cộng đồng, việc thực thi các chính sách hỗ trợ cho quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam [7], [13] Trong hội thảo có rất nhiều báo cáo và các vấn đề thảo luận: „„Báo cáo về khuôn khổ pháp lý, chính sách của Nhà nước và hiện trạng quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam‟‟ của tác giả : Phạm Xuân Phương, Hà Công Tuấn, Vũ Văn Mê, Nguyễn Hồng Quân Các báo cáo về sự vận dụng chính sách lâm nghiệp nhà nước ở cấp tỉnh của các tác giả như : Sheelagh, Orelly, Vũ Hữu Tuynh, Nguyễn Ngọc Lung,
Lê Ngọc Anh, Nguyễn Hải Nam, Cao Vĩnh Hải… Cuối cùng hội thảo đi đến kết luận cộng đồng đang quản lý 15% diện tích rừng của nhà nước, đó là thực
tế mang tính khách quan và ngày càng có một vị trí quan trọng trong hệ thống quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam Tuy nhiên, vẫn còn một số những vướng mắc trong khuôn khổ chính sách hưởng lợi từ rừng khi tham gia bảo vệ và phát triển rừng như : không quy định cộng đồng dân cư thôn bản là đối tượng của chính sách này Sự vận dụng các chính sách của nhà nước và địa phương
đã có tính sáng tạo, cụ thể là một số tỉnh đã mạnh dạn thí điểm giao đất giao rừng và cấp sổ đỏ cho cộng đồng dân cư thôn bản như Sơn La, Thừa Thiên Huế, ĐăcLắk [17], [18],[19]
- Hội thảo quốc gia về lâm nghiệp cộng đồng được tổ chức lần 3 voà tháng 11/2004 tại Hà Nội với nội dung về khuôn khổ và thể chế quản lý rừng cộng đồng, chính sách hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng, đánh giá tài nguyên rừng và khai thác rừng cộng đồng Hội thảo kết luận, quản lý rừng cộng đồng hiện đang tồn tại như một xu thế khách quan và ngày càng có vị trí quan trọng trong hệ thống quản lý tài nguyên rừng, nhiều diện tích đất lâm
nghiệp có thể giao cho cộng đồng quản lý (Diện tích rừng xa khu dân cư, có
Trang 15địa hình phức tạp mà các tổ chức nhà nước và hộ gia đình không có khả năng quản lý và quản lý không có hiệu quả, các khu rừng giữ nguồn nước phục vụ trực tiếp cho cộng đồng, khu rnừg giáp danh giữa các thôn, xã) Bên cạnh đó,
vấn đề hưởng lợi của cộng đồng quản lý rừng được nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu, đặc biệt là tác giả Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Ngọc Lung Tác giả Phạm Xuân Phương với khảo sát đánh giá tình hình triển khai chính sách hưởng lợi đối với hộ gia đình, các nhân, cộng đồng được giao nhận khoán rừng năm 2003 [16] Bên cạnh đó về kỹ thuật đánh giá thực trạng quản
lý rừng cộng đồng của các tác giả Nguyễn Hồng Quân, Vũ Long, Phạm Xuân Phương đã đưa ra khung định vị đánh giá hiện trạng quản lý rừng cộng đồng gồm 5 tiêu chí Tuy nhiên, các tác giả cũng đã nêu rõ việc chọn tiêu chí đánh giá phải phụ thuộc và từng vùng, từng cộng đồng dân cư Cũng trong tháng 9/2004, Nguyễn Ngọc Lung, VIFA cùng tổ chức các quốc gia về quản lý rnừg cộng đồng đã đưa ra hội thảo lần 2 hướng dẫn giao đất về quản lý rừng cộng đồng, hướng dẫn giao đất có rừng cho cá nhân, hộ gia đình, nhóm hộ và cộng đồng Qua hội thảo, các báo cáo và các công trình nghiên cứu của các tác giả cho thấy, tuy nhà nước chưa quy định quyền hưởng lợi của cộng đồng với những diện tích rừng cộng đồng hiện đang quản lý, song trên thực tế cộng đồng đang quản lý và có quyền hưởng lợi, phân chia lợi ích từ rừng [8], [9] Nhìn chung, quản lý rừng và đất rừng trên cơ sở cộng đồng là một vấn đề tổng hợp và phụ thuộc nhiều vào khuôn khổ thể chế, chính sách của từng quốc gia, từng địa phương Do vậy, không thể sao chép nguyên vẹn một mô hình nào từ nơi này sang nơi khác Tuy nhiên, việc chia sẻ kinh nghiệm, chia
sẻ những bài học thành công hay thất bại trong cả nước và khu vực là rất cần thiết trong bối cảnh chính sách lâm nghiệp đang cải cách và hoàn thiện như hiện nay Điều đáng chú ý là phải có những nghiên cứu tổng hợp đánh giá và đúc kết kinh nghiệm, bổ sung và xây dựng những chính sách mới phù hợp cho mỗi vùng
Vì vậy quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng được xem như nền tảng của sự phát triển vì nó đảm bảo đáp ứng được những nhu cầu lợi ích cho cộng đồng,
Trang 16góp phần xoá đói giảm nghèo và khắc phục được tình trạng khánh kiệt tài nguyên trong những phương thức sử dụng kém bền vững
1.3.4 Hiệu quả đạt được từ quản lý bảo vệ rừng cộng đồng ở Việt Nam
Cho đến nay chưa có đánh giá hiệu quả quản lý rừng cộng đồng ở quy
mô toàn quốc, tuy nhiên, căn cứ vào 3 kết quả Hội thảo quốc gia về quản lý
rừng cộng đồng ở Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội ( tháng 6/2000, tháng
11/2001 và tháng 11/2004) có thể đưa ra một số nhận định sau:
- Nhiều nơi rừng cộng đồng được bảo vệ và phát triển tốt hơn, những nơi rừng do cộng đồng quản lý hầu như không bị chặt phá, do không có xâm hại nên rừng ngày càng tăng trưởng
- Góp phần nâng cao thu nhập của người dân, xoá đói giảm nghèo, đáp ứng nhu cầu lâm sản cho các công trình chung của cộng đồng và hộ gia đình Đối với diện tích rừng do cộng đồng nhận khoán bảo vệ, hàng năm được Nhà nước hoặc chủ rừng trả tiền công khoán, đã góp phần giải quyết một phần khó khăn về đời sống cho một bộ phận dân cư
Đối với diện tích rừng và đất rừng chính quyền địa phương giao, cộng đồng có thể tận dụng khi rừng chưa khép tán hoặc đất trống chưa trồng rừng
để canh tác kết hợp cây nông nghiệp, chăn thả dưới tán rừng, được các dự án đầu tư hỗ trợ vốn để sản xuất, được hưởng lợi sản phẩm từ rừng
Đối với diện tích rừng cộng đồng quản lý theo truyền thống cho đến nay hầu như cộng đồng có toàn quyền quyết định việc sử dụng tài nguyên rừng, trong đó đáp ứng nhu cầu lâm sản cho các công trình chung của cộng đồng, giải quyết nhu cầu gỗ làm nhà cho các hộ gia đình
- Tiết kiệm chi phí cho Nhà nước: hiện nay có nhiều cộng đồng đang quản lý rừng hầu như không có sự hỗ trợ của Nhà nước về kinh phí, nhưng rừng vẫn được bảo vệ tốt
- Rừng cộng đồng đã góp phần bảo vệ nguồn nước, giải quyết một phần nhu cầu gỗ gia dụng cho cộng đồng và thành viên của cộng đồng; khai thác
Trang 17lâm sản ngoài gỗ , góp phần phát triển ngành nghề thủ công truyền thống và tăng thu nhập cho cộng đồng
- Góp phần khôi phục truyền thống văn hoá, phong tục tập quán tốt đẹp của cộng đồng thông qua việc quản lý rừng cộng đồng, có sự giúp đỡ và hướng dẫn của các tổ chức nhà nước, đã góp phần thúc đẩy việc xây dựng và thực hiện quy chế quản lý, bảo vệ rừng; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở;
khôi phục truyền thống văn hoá tốt đẹp, hương ước của cộng đồng [21]
1.3.5 Những bài học kinh nghiệm cho quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam
Từ những kết quả phân tích trên đây có thể rút ra những bài học chủ yếu cho quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam như sau :
- Quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng là phương thức quản lý dựa vào những tổ chức và luật lệ cộng đồng Nó cần thiết cho cả quản lý tài nguyên thuộc sở hữu Nhà nước, sở hữu cộng đồng và sở hữu tư nhân và đặc biệt có ý nghĩa ở vùng sâu, vùng xa, nơi mà ý thức pháp luật hoặc khả năng thực thi pháp luật chưa cao
Quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng sẽ thành công khi lấy lợi ích cộng đồng làm mục tiêu và lồng ghép được với mục tiêu của quốc gia và khu vực
Sự hợp tác trong quản lý tài nguyên rừng giữa Nhà nước với cộng đồng, giữa các đối tượng hưởng lợi là yếu tố quan trọng đảm bảo sự thành công của quản lý rừng dựa vào cộng đồng
Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng cần phải được phối hợp với các phương thức quản lý khác mà trước hết là phương thức quản lý dựa vào chính sách thể chế của Nhà nước, phương thức phát huy mọi tiềm năng quản lý của các hộ gia đình [21]
1.3.6.Hướng nghiên cứu chính của đề tài
Hầu hết các đề tài nghiên cứu giải pháp quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng dân cư thôn, bản đều đề xuất những giải pháp quản lý tài nguyên rừng mang tính định tính Trên địa bàn huyện Phù Yên chưa có đề tài nào nghiên
Trang 18cứu về quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng nói chung và bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng nói riêng Do vậy, đề tài này tập trung phân tích đánh giá sâu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, phong tục tập quán, kiến thức, thể chế bản địa
và đánh giá thực trạng công tác bảo vệ rừng trên địa bàn huyện, đồng thời đánh giá mức độ đe doạ, mối quan tâm, mâu thuẫn và khả năng hợp tác của các bên liên quan trong, ngoài cộng đồng đến công tác bảo vệ rừng cũng như đánh giá tiềm năng bảo vệ rừng của cộng đồng Trên cơ sở đó phân tích đánh giá để đề xuất các giải pháp bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng nhằm góp phần bảo vệ có hiệu quả tài nguyên rừng và nâng cao đời sống của người dân trong cộng đồng dân cư thôn, bản
Trang 19Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu thực trạng quản lý bảo vệ rừng của cộng đồng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phần bảo vệ có hiệu quả tài nguyên rừng và nâng cao đời sống cho cộng đồng dân cư huyện Phù Yên
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
Đánh giá vai trò cộng đồng thôn, bản trong hoạt động quản lý bảo vệ rừng Từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả hơn
2.2 Nội dung và giới hạn nghiên cứu
2.2.1 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu về đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và nhân văn của huyện
- Nghiên cứu thực trạng quản lý rừng trên địa bàn huyện và những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng
- Nghiên cứu vai trò của cộng đồng, những nhân tố thúc đẩy và cản trở
sự tham gia của cộng đồng vào công tác quản lý bảo vệ rừng
- Đề xuất một số giải pháp lôi cuốn cộng đồng vào quản lý bảo vệ rừng
2.2.2 Giới hạn nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội liên quan đến bảo vệ rừng, tiềm năng bảo vệ rừng của cộng đồng dân cư thôn, bản và mối quan tâm đến tài nguyên rừng, vai trò, mâu thuẫn, khả năng hợp tác của các bên liên quan trong công tác bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Phù Yên
2.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là:
- Cộng đồng dân cư thôn, bản trong công tác quản lý bảo vệ rừng
Trang 20- Điều kiện tự nhiờn - kinh tế - xó hội và cỏc đối tỏc liờn quan đến bảo vệ rừng
- Luật phỏp và chớnh sỏch của Trung ương, địa phương liờn quan đến bảo
2.4.2 Phương phỏp kế thừa
- Kế thừa cú chọn lọc những thụng tin cơ bản về điều kiện tự nhiờn, kinh
tế, xó hội và nhõn văn của khu vực nghiờn cứu
- Cỏc tài liệu từ cơ quan chuyờn ngành như: Quy hoạch sử dụng đất của huyện, số liệu giao đất - giao rừng tỉnh Sơn La, Dự ỏn bản vệ và phỏt triển rừng 661 tỉnh Sơn la, vốn hỗ trợ khoanh khoỏn BVR của sự nghiệp Kiểm
lõm…
2.4.3 Phương phỏp chọn điểm nghiờn cứu
Nguyờn tắc của chọn điểm nghiờn cứu là đại diện tương đối cho khu vực nghiờn cứu
Theo Donova (1997), tiờu chuẩn chọn điểm nghiờn cứu là: Thành phần dõn tộc, khả năng tiếp cận và địa hỡnh [7]
+ Trong vùng nghiên cứu tất cả các bản đều phân bố bám rừng, gần rừng cho nên các yếu tố về địa hình và khả năng tiếp cận với rừng t-ơng đối
đồng nhất Vì vậy, thành phần dân tộc là yếu tố lựa chọn làm tiêu chí chọn thôn nghiên cứu của đề tài
+ Thành phần dân tộc là yếu tố quan trọng có ảnh h-ởng lớn đến thói quen sử dụng tài nguyên rừng, đến sinh kế, hình thức tác động của cộng đồng, khả năng tiếp thu thông tin bên ngoài, dân tộc và tập tục văn hoá có thể ảnh h-ởng đến quá trình đổi mới chấp nhận các kỹ thuật mới và sự tham gia vào các hoạt động phát triển rừng
Tiờu chớ chọn cỏc xó, bản nghiờn cứu, bao gồm cỏc tiờu chuẩn:
Trang 21- Người dân trong xã có các hoạt động phụ thuộc vào tài nguyên như: Đất canh tác nông nghiệp, gỗ, củi, động vật và các tài nguyên khác
- Có các dân tộc ít người đang sinh sống
- Có vị trí quan trọng trong công tác quản lý bảo vệ rừng
Với các tiêu chí trên, chúng tôi đã chọn điểm nghiên cứu tại 2 bản: Bản Suối Hiền, xã Suối Bau và bản Lềm, xã Huy Tân
- Bản Suối Hiền, xã Suối Bau: Với 100% cộng đồng bản là người dân tộc H‟Mông, đời sống của bà con bản Suối Hiền chủ yếu là sản xuất nương rẫy, chăn nuôi, phụ thuộc rất lớn vào tài nguyên rừng Diện tích rừng được giao cho cộng đồng bản Suối Hiền quản lý là: 145,47ha, chủ yếu là rừng tái sinh sau nương rẫy, trữ lượng thấp
- Bản Lềm, xã Huy Tân: Với 67% cộng đồng người dân tộc Mường, 33% cộng đồng người dân tộc Thái.100% hộ gia đình bản Lềm sản xuất nông nghiệp, đời sống của người dân phụ thuộc vào sản xuất nương rẫy, các sản phẩm từ rừng Diện tích rừng được giao quản lý 283,08 ha, với 241,98 ha rừng tự nhiên, chủ yếu là rừng khai thác nghèo kiệt
Ở các bản chọn điểm nghiên cứu, chúng tôi đã chọn mỗi bản 30 hộ gia đình để phỏng vấn Tiêu chuẩn chọn hộ gia đình để phỏng vấn: Các hộ gia đình là người dân tộc H‟Mông, dân tộc Thái, Mường và phải có hộ khá, trung bình, nghèo thuộc vùng nghiên cứu
2.4.4 Phương pháp điều tra
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA): Được thực hiện để thu thập những thông tin bổ sung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, ảnh hưởng của các nhân tố này đến công tác BVR cũng như thuận lợi, khó khăn, nguy cơ, thách thức trong công tác BVR
- Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA): Được áp dụng
để củng cố những thông tin thu thập được từ phương pháp kế thừa và phương pháp RRA Đồng thời, xác định những phong tục, tập quán, kiến thức và thể chế bản địa liên quan đến việc BVR và tiềm năng BVR của cộng đồng cũng như vai trò của các bên liên quan đến công tác BVR, mâu thuẫn và khả năng hợp tác của các bên liên quan trong công tác BVR Theo phương pháp này, đề
Trang 22tài đã tổ chức những cuộc thảo luận nhóm với chủ đề tập trung vào những nội dung trên Trong quá trình thảo luận, những người thực hiện đề tài giữ vai trò thúc đẩy và định hướng cuộc thảo luận, không đưa ra những ý kiến mang tính quyết định và không áp đặt tư tưởng của mình cho các thành viên tham gia thảo luận
- Phương pháp chuyên gia: Những người thực hiện đề tài đã tiến hành phỏng vấn cán bộ xã, cán bộ của các cơ quan có kinh nghiệm trong quản lý bảo vệ rừng, từ đó làm cơ sở để phân tích, đề xuất các giải pháp hợp lý, có hiệu quả hơn
- Các công cụ sử dụng trong điều tra:
+ Ma trận, sơ đồ đánh giá sự quan tâm của các bên liên quan trong BVR + Ma trận đánh giá mâu thuẫn, khả năng hợp tác của các bên liên quan trong BVR và mức độ quan trọng của rừng đối với đời sống của cộng đồng + Bảng câu hỏi phỏng vấn bán định hướng cán bộ các cơ quan cấp huyện, cấp xã, trưởng bản
+ Bảng câu hỏi phỏng vấn hộ gia đình
+ Tham gia dự hội thảo cấp huyện, xã liên quan đến công tác BVR
2.5 Xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu
Số liệu thu thập qua bảng phỏng vấn bán định hướng được xử lý và phân tích định lượng bằng phần mềm Excel, phân tích sự tương quan giữa các nguồn thu nhập liên quan đến tài nguyên rừng đối với tổng thu nhập của hộ gia đình trong cộng đồng dân cư thôn, bản, cụ thể là áp dụng: áp dụng hàm
Cobb –Douglass (hàm có hệ số co giãn không đổi) Kết quả xử lý được thể
hiện theo dạng phân tích, mô tả, bảng và biểu đồ Ngoài ra, các kết quả thảo luận, các thông tin định tính như chính sách, tổ chức cộng đồng, thể chế cộng đồng, được phân tích theo phương pháp định tính
Phân tích ảnh hưởng của các nguồn thu nhập từ tài nguyên rừng đến tổng thu nhập của các hộ gia đình trong vùng chọn nghiên cứu
Hàm sản xuất về cơ bản có dạng:
Áp dụng hàm Cobb – Douglass (hàm có hệ số co dãn không đổi) để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố nguồn lực đến tổng thu nhập của các HGĐ
Trang 23Hàm sản xuất về cơ bản cú dạng:
Y = a X1β1 X2β2 Xnβn.e( D)Trong đú: Y: là biến số phụ thuộc – thể hiện tổng thu nhập
X1, X2, Xn: là cỏc biến số độc lập, thể hiện cỏc nguồn thu nhập
LnY là hàm tuyến tính với các tham số β
Các hệ số β1, β2, βn thể hiện độ co dãn của Y đối với Xi, t-ơng ứng
Tức là: Khi X1 thay đổi 1% thì Y thay đổi β1%
Khi X2 thay đổi 1% thì Y thay đổi β2%
Khi Xn thay đổi 1% thỡ Y thay đổi βn%
Trang 24Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
3.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Phù Yên
3.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Phù Yên nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Sơn La, nằm trên quốc lộ
37, cách Hà Nội 174km, cách Thành phố Sơn La 135km và nằm trên dãy núi Hoàng Liên Sơn, nối tiếp dãy núi Pú Luông - Khau Ly có độ cao 2.579m ngăn cách Phù Yên và tỉnh Yên Bái
- Phía Bắc giáp tỉnh Yên Bái
- Phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Phú Thọ và tỉnh Hoà Bình
- Phía Nam giáp huyện Mộc Châu
- Phía Tây giáp huyện Bắc Yên
* Tiểu vùng 2: Gồm 1 Thị trấn và 8 xã : Huy Tân; Huy Thượng; Quang Huy; Huy Bắc; Huy Hạ; Huy Tường; Gia Phù; Tường Phù, tổng diện tích của tiểu vùng 2 là 19756 ha, chiếm 15,98% diện tích toàn huyện
Đây là vùng trung tâm văn hoá, dịch vụ, đầu mối lưu thông hàng hoá trong và ngoài huyện Vùng này có địa hình lòng chảo, được bao quanh bởi các dãy núi cao, được xác định là vùng trọng điểm cây lương thực, thực
Trang 25phẩm, công nghiệp chế biến nông sản, chế biến gỗ, sản xuất vật liệu xây dựng Tiềm năng diện tích đất lâm nghiệp để trồng rừng sản xuất rất lớn
* Tiểu vùng 3: Bao gồm 9 xã thuộc vùng lòng hồ Sông Đà: Sập Sa ; Tường Thượng ; Tường Tiến ; Tường Phong ; Tường Hạ ; Đá Đỏ ; Tân Phong ; Nam Phong ; Bắc Phong Tiểu vùng 3 có tổng diện tích tự nhiên 33116ha, chiếm 26,78% diện tích toàn huyện Vùng này có địa hình rất phức tạp, phần lớn là núi có độ dốc lớn, có diện tích lòng hồ Sông Đà rộng 3.097ha Tiểu vùng 3 có điều kiện đất đai để trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất, nuôi thả đánh bắt thuỷ sản và phát triển sinh thái vùng lòng hồ
* Tiểu vùng 4: Gồm 3 xã vùng cao: Kim Bon; Suối Tọ; Suối Bau, có diện tích tự nhiên: 24170ha, chiếm 19,55% diện tích toàn huyện Vùng này có địa hình đồi núi cao nhưng ít bị chia cắt, độ dốc thấp chủ yếu là đất trống đồi núi trọc, rất thuận lợi cho trồng rừng sản xuất trên diện rộng, thuận lợi cho chỉ đạo sản xuất, quản lý bảo vệ và khai thác
3.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng
Do địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn, đất đai của huyện Phù Yên khá đa dạng về thành phần cấu trúc, được tạo ra bởi nhiều loại đá mẹ khác nhau, trải qua quá trình phong hoá, mạnh dần theo độ cao, nhưng cơ bản được hình thành trên các loại đá mẹ như: Gnai, Philít, phiến thạch sét, phiến thạch mica,
sa thạch đá vôi Nhìn chung, phần lớn đất đai có hàm lượng chất dinh dưỡng thấp và chua
3.1.4 Khí hậu thuỷ văn
3.1.4.1 Khí hậu
Huyện Phù Yên mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Tây Bắc, hàng năm chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa đông lạnh và khô hanh, mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều Đây cũng là khu vực chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, gió Lào Các hiện tượng thời tiết bất thường như sương muối và băng giá thường xuất hiện vào cuối tháng 12 và đầu tháng 1 hàng năm
- Nhiệt độ bình quân hàng năm khoảng 22 - 240c Biên độ nhiệt ngày - đêm 9 - 100c Nhiệt độ tháng cao nhất (tháng 5 - 7) khoảng 33 - 380
c, tháng 1
và 2 có nhiệt độ thấp nhất, khoảng 150c, có khi xuống dưới 100
c
Trang 26- Độ ẩm không khí bình quân 82%:
+ Độ ẩm không khí trung bình tháng thấp nhất 67%
+ Độ ẩm không khí trung bình tháng cao nhất 88%
- Số giờ nắng bình quân năm 1.729giờ/năm, số giờ nắng giữa 2 mùa chênh lệch không lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp
- Lượng mưa bình quân hàng năm 1800 - 2000mm, lượng mưa phân bố không đều, tập trung chủ yếu vào tháng 6 đến tháng 8, chiếm 70% tổng lượng mưa cả năm, vào những tháng cao điểm mưa lớn gây ra lũ, lụt làm ảnh hưởng đến mùa vụ sản xuất nông - lâm nghiệp và đời sống người dân
Nhìn chung đặc điểm thời tiết khí hậu chi phối mạnh đến sản xuất của người dân, sản xuất nông lâm ngiệp mang tính thời vụ, vào mùa mưa lượng mưa lớn phân bố không đều và xảy ra hiện tượng lũ quét Vào mùa khô, không khí khô hanh, thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất, đặc biệt là công tác PCCCR trên địa bàn huyện, đây là những thách thức mà các cấp chính quyền
và nhân dân cần khắc phục
3.1.4.2 Thuỷ Văn
Trên địa bàn có hệ thống sông suối khá dày, với khoảng 1.200 con suối lớn, nhỏ, tạo thành 36 phễu đầu nguồn chảy vào 4 hệ thống suối chính: Suối Tấc; Suối Sập; Suối Múa; Suối Khoáng trước khi đi vào lòng hồ sông Đà, chảy qua phía Nam huyện với tổng chiều dài 53km Nguồn nước ở đây rất phong phú, song hầu hết các lòng suối lại thấp hơn khu vực canh tác nên tác dụng phục vụ tưới tiêu thấp
3.1.5 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Phù Yên
Trang 27Biểu 3.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Phù Yên
1.2.1 Đất rừng sản xuất RSX 7327,62 5,93 1.2.2 Đất rừng phòng hộ RPH 39223,05 31,72 1.2.3 Đất rừng đặc dụng RDD 7987,50 6,46 1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản NTS 161,11 0,13
2 Đất phi nông nghiệp PNN 6277,42 5,08
(Nguồn : Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện)
Biểu 3.1 cho thấy, diện tích đất chƣa sử dụng, chủ yếu đất trống đồi núi trọc khá cao, đây là tiềm năng để phát triển kinh tế nông – lâm nghiệp trên địa bàn huyện
3.1.6 Tài nguyên rừng
Theo số liệu cập nhật diễn biến rừng và đất rừng đến ngày 31/12/2008 diện tích rừng của toàn huyện là : 54.538,17 ha, hiện trạng rừng phân theo chức năng:
Trang 28Biểu 3.2 : Hiện trạng rừng phân theo chức năng
(Nguồn : Hạt Kiểm lâm Phù Yên)
- Rừng trồng : Với diện tích : 4.097,93ha, chiếm 7,51% tổng diện tích rừng hiện còn, rừng trồng chủ yếu được trồng từ các Dự án CARE, dự án
327 ; 661 và một số tổ chức, cá nhân tự bỏ vốn trồng rừng Các loài cây trồng
là Keo các loại, Bạch đàn và Thông Diện tích rừng trồng chủ yếu là trồng
phòng hộ, chưa có thu nhập (ngoài tiền công chăm sóc, bảo vệ của các Dự
án), diện tích rừng trồng sản xuất chưa có trữ lượng Hiện nay trên địa bàn
huyện được đầu tư từ dự án trồng rừng nguyên liệu giấy tập trung, dự án này
đã và đang thu hút người dân tham gia, có thể thấy đây sẽ là một tiềm năng đem lại nguồn thu nhập lớn cho cộng đồng dân cư trên địa bàn huyện
Rừng Tự nhiên : Với diện tích 50.440,24ha, chiếm 92,49% diện tích đất
có rừng toàn huyện Rừng tự nhiên trên địa bàn huyện chủ yếu là các trạng thái IIa, IIb, IIIa1, IIIa2, IIIa3, các trạng thái rừng IIIa2, IIIa3 chủ yếu nằm trên các địa bàn vùng sâu, vùng xa, khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ
Thực vật rừng trên địa bàn huyện Phù Yên khá đa dạng về thành phần loài, là nơi giao lưu của nhiều luồng thực vật, trong thành phần loài có những
loài cây bản địa có giá trị nhiều mặt như : Pơmu (Fokienia hodginsii (Dunn)
A Henry et Thoms); Lát Hoa (Chukrasia tabularis A.Juss); Táo Mèo (Docynia indica(Wall.)Decne); Đẳng Sâm (Codonopsis javanica
Trang 29trọng Hiện tại, rừng tự nhiên của huyện không được khai thác gỗ, thự hiện theo chủ trương đóng cửa rừng của Nhà nước năm 2007
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.2.1 Dân số và lao động
Huyện Phù Yên hiện có 27 xã, Thị trấn, dân số toàn huyện tính đến
31/12/2008 là 105.304 người, tổng số hộ: 21.646 hộ (số liệu Phòng Thống kê
huyện Phù Yên), tỷ lệ tăng dân số bình quân là 1,14% Tổng số lao động
51.887 người, chiếm 50,38% dân số toàn huyện
- Trên địa bàn huyện bao gồm 5 dân tộc anh em sinh sống: Kinh, Thái, Mường, Dao, H‟Mông Dân tộc Thái chiếm 58% dân cư trong toàn huyện
- Về lao động: Có trên 90% số hộ sản xuất nông – lâm nghiệp, còn lại là trong các ngành ngề, dịch vụ khác
- Theo số liệu thống kê của huyện, tính đến 31/12/2008, sản lượng lương
thực bình quân (quy thóc) đạt 392kg/người/năm
- Thu nhập bình quân của người dân là 350.400đồng/người/tháng, sản phẩm thu nhập chủ yếu từ sản xuất nông – lâm nghiệp, chênh lệch về thu nhập bình quân giữa các vùng là rất lớn, đặc biệt các bản vùng sâu, vùng xa thấp hơn nhiều so với các bản vùng thấp Thu nhập bình quân đầu người ở xã Suối Bau 218.000đồng/người/tháng; xã Suối Tọ 212.000đồng/người/tháng
- Năm 2008, toàn huyện có 28,85% số hộ thuộc hộ nghèo Đặc biệt là đời sống của người dân tộc Mông, đời sống gặp rất nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao, tập quán canh tác lạc hậu, tỷ lệ hộ nghèo tập trung
cơ bản đáp ứng được nhu cầu học của con em trên địa bàn
Nhìn chung, công tác giáo dục, đào tạo vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, chất lượng giáo dục chưa cao, hệ thống trường lớp
từ bản, xã đến huyện đều thiếu cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học…
Trang 30các phòng học cấp IV đã xuống cấp, số học sinh được vào học THPT còn thấp, tỷ lệ học sinh đỗ các trường Đại học, Cao đẳng chiếm tỷ lệ không đáng
kể
3.2.2.2 Y tế:
Các chương trình mục tiêu Y tế quốc gia, khám chữa bệnh, đặc biệt là khám chữa bệnh cho người nghèo, khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi theo Quyết định 139 của Thủ tướng Chính phủ được triển khai thực hiện hiệu quả Năm 2008 đã khám bệnh cho 178.519 lượt người, điều trị cho 68.460 lượt bệnh nhân Các dịch bệnh lây nguy hiểm được khống chế và đẩy lùi, trên địa bàn huyện không có dịch bệnh lớn xảy ra
3.2.3 Cơ sở hạ tầng
3.2.3.1 Về giao thông
Các tuyến đường trên toàn địa bàn huyện được quản lý bảo dưỡng thường xuyên, kịp thời, cơ bản đảm bảo giao thông thông suốt phục vụ việc vận tải hàng hoá, hành khách và nhu cầu đi lại của nhân dân Trong năm 2008
đã thực hiện mở mới và sửa chữa nhiều tuyến đường Tuy nhiên sau các cơn bão, đa số các tuyến đường huyện đến trung tâm xã đều bị sụt lớn, gây ách tắc giao thông giữa huyện và xã trong nhiều ngày
Nhìn chung, hệ thống giao thông trên địa bàn huyện đã được phát triển, tuy nhiên chưa đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa, việc giao lưu, vận chuyển hàng hoá còn gặp rất nhiều khó khăn
3.2.3.2 Về thuỷ lợi
Trên địa bàn huyện có các công trình thuỷ lợi lớn như: Đập tràn Suối Tấc, đập Suối Hòm, các phai, mương… đáp ứng nhu cầu tưới tiêu trên địa bàn huyện, tuy nhiên một số công trình đang xuống cấp nghiêm trọng
Trang 313.2.4 Về sản xuất nông nghiệp:
3.2.4.1 Trồng trọt
Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong sản xuất nông nghiệp, là ngành chủ đạo trong sản xuất lương thực, các loài cây trồng chủ yếu: Ngô, Dong diềng, Đỗ, Khoai sọ, Sắn Năm 2008, tổng diện tích gieo trồng cây lương thực đạt: 14.563ha, vượt 16,7% kế hoạch, sản lượng đạt 52.415 tấn, vượt 4% kế hoạch
3.2.4.2 Chăn nuôi
Những năm gần đây trên địa bàn huyện Phù Yên xuất hiện nhiều mô hình hộ gia đình chăn nuôi tập trung, chăn nuôi theo mô hình trang trại Nhiều chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để các hộ, nhóm hộ phát triển Trong năm 2007 – 2008, mặc dù gặp nhiều khó khăn do thời tiết, song về tổng đàn gia súc, gia cầm vẫn cơ bản giữ vững, một số đàn con thực hiện vượt chỉ tiêu
kế hoạch đề ra
Tổng đàn gia súc, gia cầm: Đàn Trâu: 15.296 con, vượt 2% kế hoạch; Đàn Bò: 11.598 con, vượt 5% kế hoạch; Đàn Dê: 11.832 con; đàn Lợn: 36.932 con; đàn gia cầm: 307.000con
3.2.5 Thuỷ sản
Nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn huyện chủ yếu là theo hình thức quảng canh, việc đầu tư thâm canh chưa thực sự được chú trọng Hoạt động sản xuất chủ yếu là nuôi cá ao và đánh bắt thuỷ sản tự nhiên lòng hồ Sông đà, trong đó diện tích nuôi trồng thuỷ sản 153ha Tổng sản lượng đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản đạt 516 tấn Trên địa bàn huyện đã triển khai nuôi thí điểm Ếch công nghiệp ở xã Mường Cơi, Tân Lang, Huy Thượng, kết quả bước đầu cho thấy ếch sinh trưởng và phát triển khá tốt
3.2.6 Sản xuất lâm nghiệp
Trong những năm gần đây công tác phát triển rừng ngày càng được chú trọng, các dự án trồng rừng, BVR được triển khai trên địa bàn như Dự án 661;
Dự án 747; chương trình phát triển trồng cây nguyên liệu giấp tập trung, khoanh khoán BVR bằng vốn hỗ trợ sự nghiệp Kiểm lâm… Công tác BVR đã được quan tâm thực hiện, tuy nhiên do lực lượng chuyên trách ít, trang thiết bị
Trang 32phục vụ cho công tác thiếu, một số chủ rừng, chính quyền cấp xã chưa thực sự quan tâm đến công tác BVR, rừng và đất rừng vẫn bị lấn chiếm, chặt phá, khai thác trái phép
Trên địa bàn huyện có Lâm trường là đơn vị tổ chức kinh doanh và 60 cơ
sở chế biến nhỏ, hoạt động về lâm nghiệp chưa mạnh mẽ, vẫn phụ thuộc vào
cơ chế hành chính bao cấp Chức năng chính của Lâm trường là trồng rừng
661, rừng kinh tế, khoanh nuôi phục hồi rừng, khai thác rừng tự nhiên, rừng trồng, chế biến lâm sản, tư vấn kỹ thuật, cung cấp cây giống và tiêu thụ sản phẩm gỗ rừng trồng, tre nứa cho nhân dân trong vùng
Theo số liệu thống kê, năm 2008 toàn huyện, sản phẩm gỗ xẻ các loại đạt 650m3, sản phẩm gỗ đồ mộc các loại 1800m3
Nhìn chung, sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện đã góp phần không nhỏ trong giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân Tuy nhiên, diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn chiếm lệ cao, nhưng ngành sản xuất lâm nghiệp chưa phát triển ngang tầm với những tiềm năng sẵn có, chưa thành một ngành sản xuất chính của địa phương
3.2.7 Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Những năm qua, các ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được đầu tư phát triển khá mạnh, đa dạng về ngành nghề Trên địa bàn toàn huyện
có 582 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp đăng ký hoạt động, gồm: Xay sát, nghiền bột: 360 cơ sở, chế biến nông sản 19 cơ sở, chế biến gỗ 14 cơ sở, mộc dân dụng 46 cơ sở, sửa chữa xe máy, …
Trên địa bàn huyện có Công ty cổ phần Molybden Việt Nam là công ty khai thác, tinh luyện Đồng tại xã Gia Phù và Công ty cổ phần cơ điện Việt Nam khai thác, tinh luyện chì, kẽm
Huyện Phù Yên phát triển nghề dệt dệt thổ cẩm, nghề đan lát mây, giang xuất khẩu tại xã Huy Tường, Huy Thượng, Mường Thải do Công ty TNHH Thu Trang đầu tư và bao tiêu sản phẩm
Nhìn chung, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển đã tạo thêm việc làm và tăng thêm thu nhập cho nhiều hộ gia đình, phần nào làm giảm sức
ép đến khai thác tài nguyên rừng
Trang 333.2.8 Thương mại, dịch vụ
Thị trường hàng hoá, dịch vụ trên địa bàn huyện ngày càng phong phú và
đa dạng Số hộ đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực này ngày càng tăng Hệ thống các trung tâm thương mại như chợ trung tâm, trung tâm thương mại, các chợ trung tâm cụm xã được quản lý và hoạt động hiệu quả đã thúc đẩy mạnh sự phát triển của hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn huyện Vật
tư hàng hoá được cung ứng phong phú, đa dạng và lưu thông dễ dàng và thuận lợi hơn, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân
Trang 34
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội đến BVR
4.1.1.Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Thuận lợi
- Huyện Phù Yên với lợi thế tiềm năng về đất đai, có tổng diện tích tự nhiên 123655ha Diện tích đất có rừng 54538,17ha, đất đồi núi chưa sử dụng được quy hoạch cho lâm nghiệp 32429,5ha phân bố trên toàn huyện với độ phì của đất ở mức trung bình đến khá Với điều kiện khí hậu thuận lợi, có hai mùa rõ rệt, tạo điều kiện thuận lợi cho rừng tự nhiên phục hồi và phát triển, cùng với sự thích hợp của các loài cây trồng thông dụng như Thông, Quế, Keo các loại Đây thực sự là cơ hội lớn để Phù Yên phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp
- Tài nguyên rừng trên địa bàn huyện đa dạng về thực vật, phong phú về động vật, có khả năng thu hút các Dự án đầu tư phát triển lâm nghiệp, do đó công tác QLBVR ngày càng được quan tâm nhiều hơn
4.1.1.2 Khó khăn
- Diện tích đất rừng chủ yếu phân bố ở vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại khó khăn, địa hình phức tạp, do vậy cản trở lớn cho các hoạt động phát hiện và ngăn chặn các hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng
- Vùng rừng tự nhiên có trữ lượng lớn đều tập trung ở các vùng giáp ranh với các huyện Văn Chấn – Yên Bái, Tân Sơn – Phú Thọ, Mộc Châu, Hoà Bình, do đó rất khó kiểm soát, tình trạng khai thác lâm sản trái phép thường xuyên xảy ra, làm cho diện tích, chất lượng rừng ngày càng giảm sút nghiêm trọng
- Tài nguyên về thực vật rừng phong phú, với nhiều loài quí hiếm như: Bách xanh, Pơmu, Trai, Nghiến…đây thực sự là miếng mồi lớn cho các đối tượng khai thác lâm sản trái phép
Trang 354.1.2 Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Thuận lợi:
- Được sự hỗ trợ về phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế của các chương trình
134, 135, 925 nên đời sống của người dân ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn ngày càng được nâng cao, giảm sức ép đối với tài nguyên rừng
- Trên địa bàn huyện Phù Yên có các dự án về phát triển lâm nghiệp như:
Dự án 661, dự án trồng rừng nguyên liệu giấy, dự án Care, dự án Việt – Đức, khoanh nuôi BVR từ vốn sự nghiệp Kiểm lâm…do đó công tác QLBVR đã được quan tâm thực hiện
- Nhà nước ban hành những văn bản quy định trách nhiệm BVR của UBND các cấp, các cơ quan ban ngành liên quan, do vậy, công tác BVR trên địa bàn huyện ngày càng được thực hiện nghiêm túc và hiệu quả hơn
- Thông qua các hoạt động tuyên truyền các văn bản chính sách pháp luật, trong đó có Luật bảo vệ và phát triển rừng, ý thức chấp hành của người dân được nâng cao, ngày càng có nhiều tổ chức, cá nhân tham gia BVR, tố giác các hành vi vi phạm Lâm luật cho các cơ quan chức năng phát hiện, ngăn chặn kịp thời
- Hiện nay trong một số bộ phận dân xuất hiện phong trào làm nhà sàn 2 tầng, nhu cầu sử dụng lâm sản của người dân và thị trường ngày càng cao, đây cũng là nguyên nhân rừng bị chặt phá, khai thác trái phép
Trang 36- Mật độ dân số phân bố không đồng đều trên địa bàn toàn huyện, cơ cấu lao động còn chưa phù hợp với tình hình địa phương, tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao, chủ yếu tập trung ở các vùng gần rừng và trong rừng Đây cũng là những thách thức lớn trong việc tổ chức phát triển kinh tế nông lâm nghiệp, quản lý rừng, nhất là công tác BVR và PCCCR
4.2 Phong tục, tập quán, kiến thức và thể chế bản địa của cộng đồng liên quan đến công tác BVR
Theo từ điển Tiếng Việt (1992), phong tục là những thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo
Tập quán là những thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất và sinh hoạt thường ngày, được mọi người công nhận và làm theo Kiến thức và thể chế bản địa là những luật tục, luật lệ, hương ước của cộng đồng, là những nguyên tắc, quy tắc xử sự trong cộng đồng thể hiện ý chí của cộng đồng hoặc người có uy tín trong cộng đồng, nó được các người dân trong cộng đồng chấp thuận xây dựng nên và thực hiện nghiêm túc
Theo Fisher (1973), thể chế bản địa là tổng hợp những qui định và ứng
xử tồn tại qua thời gian, nhằm phục vụ các mục tiêu của tập thể
Kiến thức bản địa là những hiểu biết truyền thống đặc trưng tồn tại trong một điều kiện riêng biệt của cả giới nam và nữ trong một vùng địa lý riêng biệt nào đó Sự phát triển hệ thống kiến thức bản địa bao trùm mọi khía cạnh trong cuộc sống, trong đó bao gồm cả lĩnh vực quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nó là vấn đề tồn tại của con người ở từng địa phương
Qua quá trình nghiên cứu điểm ở bản Suối Hiền, xã Suối Bau với 100% cộng đồng dân tộc H‟mông và bản Lềm, xã Huy Tân với 67% cộng đồng dân tộc Mường và 33% cộng đồng dân tộc Thái, chúng tôi thấy rằng, quá trình lao động sản xuất qua nhiều thế hệ đã hình thành một kho tàng phong tục, tập quán, kiến thức bản địa nói chung, về bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên rừng nói riêng Các phong tục, tập quán, kiến thức, thể chế bản địa được cộng đồng quy định để duy trì, phát huy kiến thức truyền thống của thế hệ trước,
Trang 37cải tiến ở thế hệ sau và áp dụng vào lao động sản xuất để phục vụ cho cuộc sống, bao gồm:
4.2.1 Canh tác nương rẫy
Trên địa bàn huyện Phù Yên, sản xuất nương rẫy là loại hình canh tác phổ biến của cộng đồng người dân tộc Thái, Mường, H‟mông, Dao, đặc biệt
là cộng đồng dân tộc H‟Mông Từ bao đời nay, người Thái, Mường, H‟mông
đã quen với việc phát đốt nương làm rẫy để sản xuất lương thực phục vụ cho cuộc sống hàng ngày Qua điều tra ở cộng đồng 3 dân tộc trên, sản lượng lương thực thu được từ sản xuất nương rẫy đáp ứng từ 40 – 80% nhu cầu lương thực trong cuộc sống hàng ngày của họ Thời gian phát nương tập trung diễn ra từ tháng 5-8, sau khi phát xong, thực bì được rải đều và đốt trắng, theo phương pháp đốt này thì khả năng trừ cỏ dại cao, lượng tro được tạo ra sau khi đốt được rải đều trên mặt đất sẽ cung cấp thêm dinh dưỡng cho cây trồng, tăng năng suất Khi đốt thực bì để sản xuất nương rẫy, người dân luôn có ý thức PCCCR như đốt theo chiều gió, đốt từ trên cao xuống, một số hộ đã tạo giải phân cách để đề phòng khả năng lửa cháy lan vào rừng
4.2.2 Khai thác gỗ, lâm sản để phục vụ cuộc sống
Qua khảo sát điều tra tại các bản được chọn nghiên cứu, bản Suối Hiền,
xã Suối Bau, Bản Lềm xã Huy Tân, chúng tôi thấy rằng, 100% số hộ gia đình đều sử dụng vật liệu làm nhà, chuồng trại gia súc là các sản phẩm lấy từ rừng Trung bình mỗi năm một hộ khai thác từ 2-3m3
gỗ, 10-30 ste củi để phục vụ cuộc sống của họ Đây là một khó khăn đối với việc BVR trên địa bàn huyện
4.2.3 Săn, bẫy động vật rừng
Săn bẫy bắt động vật rừng là một tạp quán lâu đời của các cộng đồng dân tộc ở đây, đặc biệt là cộng đồng dân tộc H‟mông Hoạt động này cũng đã được hạn chế nhiều từ khi thực hiện Nghị định 47/CP ngày 12/8/1996 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; Chỉ thị số 29/2004/CT-UB ngày 16/12/2004 của UBND tỉnh Sơn La về việc tiếp tục triển khai thực hiện cuộc vận động thu hồi vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ
sử dụng trái phép các loại súng săn, súng kíp tự chế trong nhân dân Tuy
Trang 38nhiên, theo lãnh đạo xã Suối Bau, xã Huy Tân và cán bộ Hạt Kiểm lâm thì không thể tính hết được số lượng các loại động vật bị săn bẫy bắt hàng năm trên địa bàn
Những năm trước đây, trên địa bàn huyện Phù Yên xảy ra nhiều vụ việc
do sử dụng súng săn, gây bất ổn về an ninh trật tự, từ năm 2000 đến 2005, xảy
ra 8 vụ việc liên quan đến vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ làm chết 6 người
và làm bị thương nặng 3 người, gây thiệt hại nặng về tài sản và người Trong
đó, có 3 vụ săn bắn nhầm làm chết 2 người và bị thương nặng 1 người, dùng súng săn bẫy thú làm bị thương nặng 2 người, tự tử bằng súng săn và vật liệu công nghiệp làm chết 4 người
Cũng qua số liệu thu thập từ Hạt Kiểm lâm của huyện, từ năm 2003 đến năm 2008, trung bình mỗi năm Hạt tổ chức truy quét tháo dỡ được từ 50 – 70 cái bẫy động vật, thu giữ trên 2.532 khẩu súng các loại, phá huỷ 10 -12 lán trại dựng trái phép trong rừng để săn bắt động vật rừng Động vật rừng săn bắt được có thể được sử dụng làm thực phẩm trong gia đình, đối với các loài động vật có giá trị kinh tế cao sẽ được bán cho các quán đặc sản hoặc các tư thương
từ duới xuôi lên Đây là mối đe doạ lớn đối với động vật rừng sống trên địa bàn
4.2.4 Ý thức bảo vệ rừng thiêng, rừng ma
Các dân tộc thiểu số từ trước đã tồn tại một hình thức quản lý, BVR dựa vào phong tục và tín ngưỡng Đặc biệt đối với cộng đồng dân tộc Thái, rừng
có một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống và tâm linh Những khu rừng
thiêng còn là những cánh rừng để cúng lễ “đông xên”, rừng nghĩa địa chôn cất những người quá cố “đông pả heo”, rừng cấm, rừng kiêng, rừng linh thiêng “đông căm” chỉ để thờ cúng… Người Thái trên địa bàn huyện Phù
Yên chủ yếu sống bằng nghề lúa nước, sống ở vùng bán sơn địa, do đó họ hiểu rất rõ vai trò của rừng đầu nguồn với cuộc sống và mùa màng Người
Thái có câu: “Tai pả phăng, nhăng pả liêng” – có nghĩa là: Sống rừng nuôi,
chết rừng chôn Rừng trong tâm thức của người Thái như trái tim của cộng đồng, thể hiện những qui ước, luật tục và những giá trị văn hoá truyền thống được tôn thờ, được sùng kính như với ông bà tổ tiên
Trang 39Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhiều khu rừng đầu nguồn bị tàn phá trầm trọng, những khu rừng thiêng cũng chịu chung số phận
Trong thời gian gần đây, từ ngày 22 đến ngày 26/6/2008 tại Thị xã Nghĩa
lộ, tỉnh Yên Bái, Trung tâm vì sự phát triển bền vững miền núi đã tổ chức hội
thảo: “Niềm tin và bảo vệ rừng thiêng truyền thống của dân tộc Thái” Bảy
tỉnh có đông dân tộc Thái sinh sống như: Yên Bái, Hoà Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Thanh Hoá, Nghệ An đều đến dự Đây là một hoạt động kịp thời, thiết thực trong việc nâng cao ý thức của mỗi người dân trong việc trồng cây, gây rừng và bảo vệ rừng Tại Hội thảo này các đại biểu đều thống nhất rằng việc khôi phục và bảo tồn những khu rừng thiêng là một việc làm cấp thiết vừa góp phần bảo vệ rừng đầu nguồn sinh thuỷ, vừa góp phần không nhỏ trong việc bảo tồn và phát triển bản săn văn hóa dân tộc Thái, nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi người trong khi nạn phá rừng và ý thức bảo vệ rừng của một bộ phận dân đang đi xuống chỉ vì những cái lợi trước mắt mà những cánh rừng nguyên sinh, những khu rừng thiêng, khu rừng cấm bị tàn phá không thương tiếc
Những khu rừng thiêng của dân tộc Thái và cộng đồng dân tộc thiểu số khác tuy có mang những yếu tố huyền bí, tâm linh Nhưng đằng sau sự thần thánh hoá ấy là thái độ sống biết trân trọng và bảo vệ rừng đã cụ thể bằng những luật tục bất di, bất dịch từ ngàn đời [5]
4.2.5 Ý thức chấp hành pháp luật và các quy ước, hương ước
Ý thức tôn trọng pháp luật và các qui chế, luật lệ của cộng đồng là yếu tố thúc đẩy sự tham gia của người dân trong cộng đồng vào việc quản lý, bảo vệ
và phát triển rừng, đồng thời đây cũng là nhân tố thuận lợi cho việc phát triển những tổ chức và qui ước, luật lệ của cộng đồng về BVR
Qua điều tra thực tế cho thấy, hầu hết các xã đều có cán bộ Kiểm lâm địa bàn phụ trách xã, công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, đặc biệt là Luật bảo vệ và phát triển rừng luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đối với mỗi cán bộ Kiểm lâm địa bàn Từ đó, hầu hết người dân trong cộng đồng dân cư thôn, bản đều có ý thức tôn trọng pháp luật của Nhà nước Việc ban
Trang 40hành Thông tư số: 70/2007/TT-BNN ngày 01/8/2007 của Bộ NN&PTNT về việc hướng dẫn xây dựng và tổ chức thực hiện quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn, bản Tuỳ từng điều kiện của từng cơ sở, các bản đã xây dựng được qui ước, hương ước của bản mình, phù hợp với chính sách, pháp luật Nhà nước qui định Mặc dù kinh tế của họ còn gặp nhiều khó khăn, song họ sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau, chia sẻ bình đẳng những lợi ích chung của cộng đồng Họ dựa vào cộng đồng để tồn tại và tự nguyện tuân theo các quy chế, luật lệ của cộng đồng Tuy nhiên, hiện tại vẫn còn một
số trường hợp chấp hành chưa nghiêm một vài quy định của Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ, phát triển rừng, nhưng đây là phần lớn những người chưa hiểu hoặc hiểu chưa đầy đủ các quy định về BVR hoặc do cuộc sống còn quá khó khăn Mặt khác, có tình trạng này là do thực hiện không nghiêm luật bảo
vệ và phát triển rừng của một số cán bộ thừa hành pháp luật ở địa phương
4.2.6 Chăn thả gia súc trong rừng
Qua điều tra thực tế cho thấy, phần đa người dân trên địa bàn huyện Phù Yên có thói quen thả dông Trâu, Bò, Ngựa, Dê trong rừng, họ chỉ tìm về khi cần bán hoặc để cày, kéo phục vụ cho sản xuất Nông nghiệp, một số hộ sống gần rừng thường sáng thả dông vào rừng đến chiều thì lấy về, hiện nay trên địa bàn huyện phát triển nhiều mô hình chăn nuôi qui mô trang trại, họ khoanh vùng để chăn thả Tuy nhiên, diện tích rừng bị Trâu, Bò phá hoại vẫn
là vấn đề bức xúc trong việc bảo vệ và phát triển rừng
Tóm lại, phong tục, tập quán, kiến thức và thể chế bản địa của cộng đồng
rất đa dạng, phong phú đối với việc BVR, nó có tác dụng tích cực cũng như tiêu cực đến tài nguyên rừng trên địa bàn Vấn đề đặt ra đối với huyện Phù Yên là làm thế nào để phát huy những phong tục, tập quán, kiến thức và thể chế bản địa có tính tích cực đối với việc BVR, củng cố, xây dựng thêm qui ước, luật lệ của cộng đồng để BVR, tích cực phục hồi và phát triển hệ thống rừng thiêng, rừng ma, đồng thời hạn chế những tiêu cực của nó trong công tác BVR, như hạn chế thói sử dụng sản phẩm gỗ sang sản phẩm phi gỗ để làm nhà, chuồng trại gia súc và áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến, giống mới để hạn chế việc đốt, phát rừng làm nương trái phép, khuyến khích