1. Tính cấp thiết của đề tàiPhát triển kinh tế nông nghiệp, nông dân, nông thôn (NN,ND,NT) có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,HĐH), xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế xã hội (KT XH), bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng. Nông nghiệp, nông dân và nông thôn được quan tâm đúng mức sẽ tạo ra động lực mới để đưa kinh tế nông thôn phát triển lên một giai đoạn cao hơn và hướng tới một nền nông nghiệp bền vững, tạo tiền đề để giải quyết hàng loạt các vấn đề chính trị xã hội của đất nước, đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta tiến lên văn minh hiện đại. Qua các kỳ Đại hội Đảng, Đảng ta càng nhận thức rõ hơn về vai trò của nông nghiệp nông dân, nông thôn. Trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chính phủ đã thể chế hóa thành cơ chế, chính sách và được đưa vào thực tiễn. Các địa phương cũng đã tích cực triển khai thực hiện, bước đầu đã thu được một số kết quả rất tích cực. Sau hơn 25 năm đổi mới, nước ta đã có những tiến bộ vượt bậc, người nông dân đã biết ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, biết sử dụng các loại cây, con giống phù hợp và sản xuất nhiều mặt hàng nông sản có chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Tuy vậy, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, mục tiêu giữ vững an ninh lương thực quốc gia, xây dựng nông thôn mới, thu dần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Tại tỉnh Đắk Nông trong những năm qua, đã tạo điều kiện thuận lợi để các địa phương chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, sử dụng các loại cây con giống mới, đưa các biện pháp canh tác mới vào sản xuất nhằm đầu tư thâm canh theo chiều sâu cho hiệu quả kinh tế cao hơn. Từ đó đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả cao, góp phần làm cho nông nghiệp của tỉnh từng bước chuyển sang sản xuất hàng hoá, gắn với thị trường, giúp cho các địa phương trong tỉnh thực hiện hiệu quả các chính sách về xóa đói, giảm nghèo thu hút sự tham gia tích cực của người dân. Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội ở khu vực nông thôn cũng được quan tâm, chú trọng. Nhờ đó, đời sống các hộ nông dân không ngừng được cải thiện cả về vật chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, thực tế ở khu vực nông thôn của tỉnh Đăk nông còn nhiều bất cập, kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và đời sống. Theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới được ban hành kèm theo Quyết định 4912009 của Thủ tướng Chính phủ gồm 5 nhóm nội dung với 19 tiêu chí, thì đến nay đã có 1361 xã của tỉnh đạt trên 15 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới, số xã đạt từ 9 – 15 xã là 37 xã. Đối với lĩnh vực Nông nghiệp, mặc dù trong thời gian qua tốc độ tăng trưởng của ngành ở tỉnh Đắk Nông khá cao, nhưng sự tăng trưởng trong trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản chủ yếu theo số lượng về diện tích, sản lượng; hiệu quả sản xuất vẫn còn thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao, kém sức cạnh tranh trên thị trường. Để khắc phục tình trạng đó tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Đăk Nông lần thứ X, giai đoạn (2010 – 2015) đã đề ra nhiệm vụ trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn là tích cực phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền vững gắn với việc xây dựng nông thôn mới, cải thiện đời sống dân cư nông thôn. Đồng thời chăm lo giải quyết tốt các vấn đề bức xúc về đất sản xuất, đất ở, đời sống và thu nhập của bộ phận dân cư nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng biên giới. Xuất phát từ thực tế trên, với vốn kiến thức đã được truyền thụ, tôi chọn đề tài: “Vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong việc xây dựng phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Đắk Nông” làm Tiểu luận. 2. Mục đích và ý nghĩa 2. Mục đích và ý nghĩa2.1. Mục đích: Mục đích của đề tài nhằm giá đúng thực trạng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời gian qua tại tỉnh Đắk Nông. Trên sơ sở đó tìm ra các giải pháp cụ thể, phù hợp nhằm đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của tỉnh trên cơ sở phát triển bền vững đến năm 2020.2.2. Ý nghĩa: Hệ thống lại các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về quản lý và khai thác nền nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở tỉnh Đăk Nông. Đánh giá thực trạng nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong lĩnh vực nông nghiêp, nông dân, nông thôn. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp về quản lý và sử dụng để đạt hiệu quả trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông nói chung.3. Phương pháp nghiên cứu: Tiểu luận sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biên chứng kết hợp với phương pháp phân tích tổng hợp, xử lý và so sánh đối chúng số liệu thông kê.4. Kết cấu của Tiểu luận: Tiểu luận qồm có 3 chươngChương 1: Cơ sở lý luận về nghiệp nghiệp, nông dân, nông thôn.Chương 2: Thực trạng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Đăk Nông.Chương 3: Một số giải pháp phát triển nền nông nghiệp, nông dân, nông thôn bền vững ở tỉnh Đăk Nông.Kết luận, kiến nghị
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông dân, nông thôn (NN,ND,NT) có vị tríchiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,HĐH), xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, là yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH),bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng Nông nghiệp,nông dân và nông thôn được quan tâm đúng mức sẽ tạo ra động lực mới để đưakinh tế nông thôn phát triển lên một giai đoạn cao hơn và hướng tới một nền nôngnghiệp bền vững, tạo tiền đề để giải quyết hàng loạt các vấn đề chính trị - xã hộicủa đất nước, đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta tiến lên văn minhhiện đại Qua các kỳ Đại hội Đảng, Đảng ta càng nhận thức rõ hơn về vai trò củanông nghiệp nông dân, nông thôn Trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng,Nhà nước về lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chính phủ đãthể chế hóa thành cơ chế, chính sách và được đưa vào thực tiễn Các địa phươngcũng đã tích cực triển khai thực hiện, bước đầu đã thu được một số kết quả rất tíchcực Sau hơn 25 năm đổi mới, nước ta đã có những tiến bộ vượt bậc, người nôngdân đã biết ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, biết sử dụng các loại cây,con giống phù hợp và sản xuất nhiều mặt hàng nông sản có chất lượng cao, có khảnăng cạnh tranh trên thị trường thế giới Tuy vậy, trong xu thế hội nhập kinh tếquốc tế hiện nay, mục tiêu giữ vững an ninh lương thực quốc gia, xây dựng nôngthôn mới, thu dần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn
Tại tỉnh Đắk Nông trong những năm qua, đã tạo điều kiện thuận lợi để cácđịa phương chuyển đổi cơ cấu cây trồng - vật nuôi, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, sửdụng các loại cây con giống mới, đưa các biện pháp canh tác mới vào sản xuấtnhằm đầu tư thâm canh theo chiều sâu cho hiệu quả kinh tế cao hơn Từ đó đãxuất hiện nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả cao, góp phần làm chonông nghiệp của tỉnh từng bước chuyển sang sản xuất hàng hoá, gắn với thịtrường, giúp cho các địa phương trong tỉnh thực hiện hiệu quả các chính sách vềxóa đói, giảm nghèo thu hút sự tham gia tích cực của người dân Việc đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn cũng được quan tâm, chútrọng Nhờ đó, đời sống các hộ nông dân không ngừng được cải thiện cả về vậtchất lẫn tinh thần
Trang 2Tuy nhiên, thực tế ở khu vực nông thôn của tỉnh Đăk nông còn nhiều bấtcập, kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và đời sống Theo
Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới được ban hành kèm theo Quyết định491/2009 của Thủ tướng Chính phủ gồm 5 nhóm nội dung với 19 tiêu chí, thì đếnnay đã có 13/61 xã của tỉnh đạt trên 15 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới, số xãđạt từ 9 – 15 xã là 37 xã
Đối với lĩnh vực Nông nghiệp, mặc dù trong thời gian qua tốc độ tăng
trưởng của ngành ở tỉnh Đắk Nông khá cao, nhưng sự tăng trưởng trong trồngtrọt, chăn nuôi và thủy sản chủ yếu theo số lượng về diện tích, sản lượng; hiệu quảsản xuất vẫn còn thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao, kém sức cạnh tranh trên thịtrường Để khắc phục tình trạng đó tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Đăk Nông lần thứ X,giai đoạn (2010 – 2015) đã đề ra nhiệm vụ trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân,nông thôn là tích cực phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng bềnvững gắn với việc xây dựng nông thôn mới, cải thiện đời sống dân cư nông thôn.Đồng thời chăm lo giải quyết tốt các vấn đề bức xúc về đất sản xuất, đất ở, đờisống và thu nhập của bộ phận dân cư nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số,vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng biên giới
Xuất phát từ thực tế trên, với vốn kiến thức đã được truyền thụ, tôi chọn đề
tài: “Vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong việc xây dựng phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Đắk Nông” làm Tiểu luận 2 Mục đích và ý nghĩa
2 Mục đích và ý nghĩa
2.1 Mục đích: Mục đích của đề tài nhằm giá đúng thực trạng về nôngnghiệp, nông dân, nông thôn trong thời gian qua tại tỉnh Đắk Nông Trên sơ sở đótìm ra các giải pháp cụ thể, phù hợp nhằm đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH nôngnghiệp, nông thôn của tỉnh trên cơ sở phát triển bền vững đến năm 2020
2.2 Ý nghĩa:
- Hệ thống lại các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về quản lý
và khai thác nền nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở tỉnh Đăk Nông
- Đánh giá thực trạng nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng tàinguyên thiên nhiên trong lĩnh vực nông nghiêp, nông dân, nông thôn
- Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp về quản lý và sử dụng để đạt hiệuquả trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông nói chung
Trang 33 Phương pháp nghiên cứu: Tiểu luận sử dụng phương pháp nghiên cứu
duy vật biên chứng kết hợp với phương pháp phân tích tổng hợp, xử lý và so sánhđối chúng số liệu thông kê
4 Kết cấu của Tiểu luận: Tiểu luận qồm có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về nghiệp nghiệp, nông dân, nông thôn.
Chương 2: Thực trạng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong
quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Đăk Nông.
Chương 3: Một số giải pháp phát triển nền nông nghiệp, nông dân,
nông thôn bền vững ở tỉnh Đăk Nông.
Kết luận, kiến nghị
Để thực hiện Tiểu luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn tận tình của các giảng viên Khoa Kinh tế chính trị, Học viện Chính
trị khu vực III; Tỉnh ủy Đăk Nông, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Hộinông dân tỉnh Đắk Nông Trong khi thực hiện Tiểu luận chắc chắn không tránhkhỏi những mặt hạn chế, thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến chânthành của quý thầy cô giáo, độc giả, đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÔNG NGHIỆP NÔNG DÂN, NÔNG THÔN 1.1 Vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn đối với nền kinh tế quốc dân
1.1.1 Những vấn đề chung về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Nông nghiệp, là lĩnh vực sản xuất của cải vật chất đầu tiên, là một trongnhững hoạt động vật chất quan trọng của xã hội loài người qua các giai đoạn pháttriển khác nhau của lịch sử Nông nghiệp được hiểu theo cả nghĩa hẹp và nghĩarộng Với nghĩa hẹp, sản xuất nông nghiệp bao gồm ngành trồng trọt và ngànhchăn nuôi Theo nghĩa rộng, nông nghiệp là một ngành kinh tế sinh học, bao gồm:nông - lâm - ngư nghiệp, là một bộ phận cơ cấu kinh tế ngành, hợp thành “bộxương” của nền kinh tế quốc dân
Đặc điểm của ngành sản xuất nông nghiệp, là năng suất, sản lượng câytrồng, con vật nuôi phần lớn phụ thuộc vào những điều kiện tự nhiên như: thổnhưỡng, thời tiết, khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ mặt trời… Vì vậy, con ngườiphải biết dựa vào các quy luật tự nhiên, quy luật sinh trưởng của cây trồng, convật nuôi để tạo ra nguồn lương thực, thực phẩm nuôi sống bản thân mình và xãhội
Nông dân, là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuấtnông nghiệp, nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngànhnghề mà tư liệu qan xuất chính là đất đai Tùy từng quốc gia, từng thời kì lịch sử,người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất Họ hình thành nên giaicấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội
Nông thôn, theo định nghĩa của Từ điển bách khoa Việt Nam: nông thôn làphần lãnh thổ của một nước hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị,
có môi trường sống tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế, xã hội, điều kiện sống khác biệtvới thành thị và dân cư chủ yếu làm nghề nông
Trang 51.1.2 Vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn đối với nền kinh tế quốc dân
Trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôngiữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống của xã hội Điều đó được thể hiện
ra là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên sự rối loạn, bất ổn định vềchính trị - xã hội Do đó, duy trì sự tăng trưởng ổn định, bền vững của sản xuấtnông nghiệp là nhiệm vụ thường xuyên và hàng đầu của mọi quốc gia trên thếgiới
Cùng với việc đảm bảo cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm cho toàn xãhội, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, nông thôn còn cung cấp một phần quantrọng hàng hoá tiêu dùng thiết yếu cho xã hội và tạo ra nguồn hàng hoá xuất khẩuthu hút ngoại tệ cho đất nước
Hai là; nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nơi cung cấp nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp.
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn không những đảm bảo việc cung cấplương thực, thực phẩm cho toàn bộ các hoạt động phi nông nghiệp mà còn cungcấp nguyên liệu cho các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở khu vực đô thị, chocác ngành công nghiệp nhẹ, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến nông, lâm,thuỷ sản Quy mô và tốc độ phát triển của các ngành công nghiệp luôn phụ thuộcvào quy mô và tốc độ tăng trưởng, khả năng cung ứng nguồn nguyên liệu củangành nông nghiệp
Ba là; nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nơi tích luỹ vốn ban đầu cho công nghiệp hoá và nguồn lao động cho các ngành công nghiệp, dịch vụ.
Đối với nước ta, nguồn vốn tích luỹ cho CNH,HĐH một phần cũng phảiđược tạo ra từ NN,NT Thông qua việc khai thác các tiềm năng, lợi thế để đẩymạnh phát triển toàn diện kinh tế NN,NT , đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu
Trang 6nông sản hàng hoá, hàng thủ công mỹ nghệ để thu ngoại tệ nhằm tạo ra nguồnvốn tích luỹ cho CNH,HĐH đất nước.
Cùng với quá trình công nghiệp hoá là việc tiến hành cơ giới hoá và ứngdụng tiến bộ mới của khoa học - công nghệ vào lĩnh vực sản xuất, không nhữngtạo ra năng suất lao động cao mà còn giải phóng phần lớn lực lượng lao độngnông nghiệp, nông, dân, nông thôn Lực lượng lao động đó là điều kiện để tổ chứclại sản xuất, phân công lại lao động, phát triển thêm các ngành nghề, các loại hìnhdịch vụ trên địa bàn nông thôn mà còn bổ sung lực lượng lao động cho các ngànhcông nghiệp, dịch vụ và khu vực đô thị
Bốn là; nông nghiệp, nông dân, nông thôn là thị trường quan trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ
Nước ta là một nước dân số đông, có hơn 75% dân số cư trú ở nông thôn,nền kinh tế nước ta đang trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng
Xã hội chủ nghĩa Vì vậy, nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất và nhu cầu cho tiêudùng cá nhân là rất lớn, đó là thị trường rộng lớn và lý tưởng cho các ngành côngnghiệp và dịch vụ Kinh tế NN,NT càng phát triển, nhu cầu về tư liệu sản xuất,các tư liệu sinh hoạt sẽ gia tăng, đó là môi trường, là điều kiện thuận lợi cho sựtăng trưởng của các ngành công nghiệp, dịch vụ Khi các nhu cầu được đáp ứng,sản xuất phát triển, thu nhập và mức sống của cư dân ở nông thôn được nâng cao,đến lượt nó, kinh tế NN,NT tác động trở lại đối với các ngành công nghiệp vàdịch vụ theo hướng kích cung
Năm là; đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn là điều kiện góp phần ổn định kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước.
Vấn đề kinh tế – xã hội rộng lớn và nhạy cảm, liên quan đến ba vấn đề lớn:nông nghiệp, nông thôn và nông dân Nếu giải quyết hài hoà, đồng bộ ba vấn đề
đó trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn là cơ sở, là điều kiệnquan trọng để giữ vững sự ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của mỗiquốc gia Kinh nghiệm thực tiễn của Việt Nam và thế giới, đặc biệt là sự khủnghoảng về lương thực của những tháng đầu năm 2008 vừa qua đã nói lên điều đó
1.2 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông dân, nông thôn 1.2.1 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
- Công nghiệp hoá nông nghiệp, là một bộ phận của công nghiệp hoá nông
thôn Nội dung chủ yếu là cơ giới hoá nông nghiệp, ứng dụng các phương phápsản xuất theo kiểu công nghiệp, các phương pháp và hình thức tổ chức kiểu công
Trang 7nghiệp vào các lĩnh vực của sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, công nghiệp hoánông nghiệp còn bao gồm cả việc tạo ra sự gắn bó, kết hợp chặt chẽ giữa sản xuấtnông nghiệp với sản xuất công nghiệp trên địa bàn nông thôn nhằm khai thác mộtcách có hiệu quả các tiềm năng lợi thế của nông nghiệp, nâng cao hàm lượng giátrị và năng lực cạnh tranh của nông sản hàng hoá kể cả thị trường nội địa và thịtrường thế giới.
- Hiện đại hoá nông nghiệp, là quá trình không ngừng nâng cao trình độ
khoa học - kỹ thuật - công nghệ, trình độ tổ chức và quản lý sản xuất nông nghiệp.Hiện đại hoá trong sản xuất, chế biến phải gắn liền với hiện đại hoá khâu xử lýchất thải công nghiệp chế biến, hoá chất độc hại, chống ô nhiễm môi trường trongsản xuất nông nghiệp và nông thôn
Như vậy, về thực chất, CNH,HĐH NN,NT là quá trình chuyển nền nôngnghiệp truyền thống thành nền nông nghiệp hiện đại và phát triển bền vững Đóchính là quá trình hiện đại hoá các biện pháp sản xuất nông nghiệp, công nghệ sảnxuất, quản lý sản xuất kinh doanh và lực lượng lao động ngành nông nghiệp Vớiquá trình đó, góp phần làm thay đổi căn bản tính chất, phương thức sản xuất, cơcấu sản xuất, hình thức tổ chức quản lý của nền sản xuất nông nghiệp tự cung, tựcấp dựa chủ yếu vào điều kiện tự nhiên với kỹ thuật thủ công sang một nền nôngnghiệp sản xuất hàng hoá lớn với kỹ thuật, công nghệ tiến tiến, hiện đại
1.2.2 Nền nông nghiệp bền vững để tiến lên Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Hiện đại hoá nông thôn là quá trình liên tục nâng cao trình độ khoa học - kỹ
thuật - công nghệ vào sản xuất và đời sống ở nông thôn; cải thiện và hoàn thiện tổchức sản xuất ở nông thôn, tạo ra một nền sản xuất với trình độ ngày càng cao,bền vững, cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ Hiện đại hoá nông thôn khôngchỉ công nghiệp hoá, nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ và tổ chức sản xuấtvật chất ở nông thôn, mà còn bao gồm cả việc không ngừng nâng cao đời sốngvăn hoá - tinh thần, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội, hệ thống giáo dục,đào tạo, y tế và các dịch vụ phục vụ sản xuất đời sống khác ở nông thôn
Về bản chất, hiện đại hoá là quá trình phát triển toàn diện có kế thừa ở nôngthôn Hiện đại hoá không có nghĩa là xoá bỏ toàn bộ những gì đã tạo dựng trongquá trình phát triển, cũng không có nghĩa là phải đưa toàn bộ thiết bị, công nghệtiên tiến và hiện đại vào nông thôn trong cùng một lúc, mà là trên cơ sở tận dụng,cải tiến, hoàn thiện, theo hướng kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ
Trang 8hiện đại, từ đó từng bước nâng cao trình độ khoa học - kỹ thuật - công nghệ, tổchức, quản lý sản xuất và đời sống ở nông thôn ngang tầm với sản xuất côngnghiệp và văn minh đô thị.
Nước ta, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển lại khôngtrải qua giai đoạn phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa, khởi đầu quá trìnhCNH,HĐH bằng công nghiệp hoá nông thôn là cần thiết, đem lại hiệu quả thiếtthực về kinh tế- xã hội
1.3 Quan điểm của Đảng đối với nông nghiệp, nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa
Vấn đề kinh tế NN,NT trong quá trình công nghiệp hoá đất nước luôn đượcĐảng ta quan tâm đến Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quankhác nhau vào cuối thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX nền kinh tế củanước ta nói chung, kinh tế nông nghiệp nói riêng lâm vào tình trạng sa sút, khủnghoảng Đứng trước thực trạng đó, Đại hội lần thứ VI của Đảng đã nhận định, phântích, đánh giá tình hình, từ đó đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước
Có thể nói, công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnhđạo, thì nông nghiệp là ngành thực hiện đầu tiên, và cũng là ngành đạt đượcnhững thành tựu to lớn nhất nhờ đổi mới Mốc đánh dấu đổi mới thật sự đó làNghị quyết 10 của Bộ chính trị (khoá VI) tháng 4-1988 về “đổi mới quản lý kinh
tế trong nông nghiệp” Khoán theo tinh thần Nghị quyết 10 của Bộ chính trị làmột bước tiến cao, tạo sự đột phá quan trọng đối với sự phát triển kinh tế NN,NTnước ta
Đến Đại hội lần thứ VII, Đảng ta xác định: “Phát triển nông, lâm, ngưnghiệp gắn với chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nôngthôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội”
Để thực hiện được nhiệm vụ đó, năm 1993, Hội nghị Trung ương lần thứ năm(khoá VII) ra Nghị quyết về “tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế xã hội nôngthôn”, trong đó khẳng định quyền tự chủ của hộ với tư cách là một chủ thể kinh tế
ở NT được pháp luật thừa nhận quyền sử dụng đất dài hạn; quyền vay vốn tíndụng, quyền lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh có lợi nhất; quyền tự do lưuthông tiêu thụ sản phẩm Đây là những vấn đề cơ bản, mấu chốt cho việc chuyểnnền NN nước ta chuyển sang sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII nhận định: “nhiệm vụ đề ra chochặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá đã
Trang 9cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước” và xác định: “đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp, nông thôn ” Nhằm thực hiện chủ trương đó, ngày 10 tháng 11 năm 1998, Bộchính trị đã ra Nghị quyết số 06-NQ/TW: “Về một số vấn đề phát triển nông nghiệp vànông thôn”
Đại hội lần thứ IX của Đảng, đặc biệt là Hội nghị Trung ương lần thứ 5(khoá IX) đã ra nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 18 tháng 3 năm 2002: “Về đẩynhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010”.Nghị quyết đã nêu nội dung tổng quát và nêu năm quan điểm chỉ đạo quá trìnhCNH,HĐH NN,NT
Đại hội lần thứ X của Đảng đã chủ trương đẩy mạnh CNH,HĐH NN,NTtheo hướng gắn liền với kinh tế tri thức, giải quyết đồng bộ các vấn đề NN,NT vànông dân
Về nông nghiệp, Cần chuyển dịch mạnh cơ cấu sản xuất NN và kinh tế NT
theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, trên cơ sở tăng cường các hoạtđộng khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, công tác thú y, bảo vệ thực vật vàcác dịch vụ kỹ thuật khác ở NT Chuyển giao nhanh và ứng dụng khoa học, côngnghệ, nhất là công nghệ sinh học vào sản xuất NN; chú trọng khâu giống, kỹ thuậtcanh tác, nuôi trồng, công nghệ sau thu hoạch và công nghệ chế biến, gắn vớicông nghiệp chế biến và thị trường
Về nông dân, cần chú trọng dạy nghề, giải quyết việc làm cho nông dân, trước
hết ở các vùng sử dụng đất NN để xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ, giaothông, các khu đô thị mới Chuyển dịch cơ cấu lao động ở NT theo hướng giảm nhanh
tỷ trọng lao động làm NN, tăng tỷ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ, tạo điềukiện để lao động NT có việc làm trong và ngoài khu vực nông thôn, kể cả lao động ởnước ngoài
Về nông thôn, Đảng ta chủ trương xây dựng các làng, xã, ấp, bản có cuộc
sống no đủ, văn minh, môi trường lành mạnh dựa trên cơ sở phát huy dân chủ ở
NT, đi đôi với xây dựng nếp sống văn hoá, nâng cao trình độ dân trí, bài trừ các tệnạn xã hội, hủ tục, mê tín, dị đoan; bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội; chútrọng dạy nghề, giải quyết việc làm cho nông dân; đầu tư mạnh hơn cho cácchương trình xoá đói, giảm nghèo, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hảiđảo, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số
Trang 10- Khuyến khích việc tăng cường liên kết giữa các hộ sản xuất ngư-diêm dân với các cơ sở công nghiệp chế biến theo mô hình “4 nhà” (nhà sảnxuất, nhà chế biến, nhà kinh doanh và nhà khoa học); khuyến khích phát triểnmạnh các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nông thôn, dạy nghề cho nôngdân…
nông-lâm-Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa X) đã ban hànhNghị quyết số 26-NQ/TW "Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn"
Sau khi đánh giá khách quan về thành tựu và hạn chế, yếu kém của nôngnghiệp, nông dân, nông thôn sau hơn 25 năm đổi mới, Nghị quyết nêu rõ nhữngnguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến sự hạn chế, yếu kém, trong đó nhấnmạnh nguyên nhân chủ quan là chính, từ đó nêu quan điểm chỉ đạo, mục tiêu tổng quátvấn đề về nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong những năm tới
Về quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết nhấn mạnh: “nông nghiệp, nông dân,
nông thôn có vị trí quan trọng trong sự nghiệp CNH,HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổquốc; các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộgắn với quá trình CNH,HĐH đất nước; phát triển nông nghiệp và nâng cao đờisống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng vùng, từng lĩnh vực; giải quyết vấn đề nôngnghiệp, nông dân và nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xãhội; trước hết phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường vươn lêncủa nông dân”
Về mục tiêu tổng quát, Nghị quyết xác định: “không ngừng nâng cao đời
sống vật chất tinh thần của cư dân nông thôn; xây dựng một nền nông nghiệp pháttriển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững; xây dựng nông thôn mới có kết cấu
hạ tầng kinh tế-xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuấthợp lý; xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân-nông dân-tríthức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế-xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa”
Từ quan điểm chỉ đạo và mục tiêu tổng quát, Nghị quyết đã nêu bảy nhiệm
vụ và giải pháp cụ thể nhằm giải quyết tốt và đồng bộ vấn đề nông nghiệp, nôngdân, nông thôn trong những năm tới
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định: “Khai thác lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới để phát triển sản xuất hàng hóa lớn
Trang 11với năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao Tăng nhanh sản lượng và kim ngạch xuất khẩu nông sản, nâng cao thu nhập và đời sống nông dân, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia….” (Nxb CTQG-ST,
Từ một nước nông nghiệp, hơn 70% dân cư sống ở nông thôn, lao độngnông nghiệp chiếm hơn 60% lực lượng lao động xã hội, Đảng ta không những xácđịnh công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, mà còn nhấn mạnh “phải đặc biệt coi trọng CNH,HĐH NN,NT”
Nhờ có quan điểm, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhànước, qua hơn 25 năm đổi mới, kinh tế NN,NT nước ta đã đạt được những thànhtựu quan trọng và khá toàn diện Từ chỗ là một nước thiếu lương thực thườngxuyên, không những đã giải quyết cơ bản vấn đề ăn cho xã hội, đảm bảo an ninhlương thực quốc gia, Việt Nam còn trở thành nước xuất khẩu gạo đứng vị trí nhấtnhì trên thế giới Sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, đa dạng hơn, phần lớnđất trống đồi núi trọc đã được phủ xanh lại dần, diện tích đất hoang, mặt nướcđược đưa vào khai thác sử dụng có hiệu quả; cơ cấu sản xuất chuyển dịch theohướng tiến bộ, tỷ trọng của nông nghiệp giảm, tỷ trọng của lâm nghiệp, ngưnghiệp tăng dần trong cơ cấu GDP của sản xuất nông nghiệp
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, kinh tế NN,NT nước tacòn nhiều hạn chế, yếu kém:
Cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho phát triển KT - XH ở nông thôn tuyđược tăng cường đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo nhưng nhìn chung vẫnchưa đồng bộ và chưa hiện đại, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của sản xuất, lưuthông hàng hoá và đời sống của cư dân nông thôn
Việc ứng dụng các tiến bộ của khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệsinh học vào sản xuất NN tuy đã được chú ý nhưng còn hạn chế Năng suất, sảnlượng, cây trồng, vật nuôi trên một đơn vị diện tích canh tác còn thấp; chi phí sảnxuất cao, chất lượng nông sản hàng hoá thấp; sản xuất chưa gắn kết với công nghiệpchế biến nông, lâm, thuỷ sản, công nghệ lạc hậu dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp, sức
Trang 12cạnh tranh trên thị trường còn hạn chế, kể cả thị trường nội địa Đây là khó khăn, trởngại lớn đối với sản xuất nông nghiệp
Chính vì lẽ đó mà Đảng ta đặt nhiệm vụ CNH,HĐH NN,NT lên hàng đầutrong những năm trước mắt là vừa hợp với quy luật, vừa hợp với yêu cầu của thựctiễn nền kinh tế Thực tế là, nhiều nước đã đạt được trình độ nước phát triển cũngđều là những nước tiến hành CNH,HĐH khởi đầu từ nông nghiệp Chính từnhững cải cách trong chính sách ruộng đất, tín dụng, thị trường nông thôn đãcho phép những nước đó thúc đẩy việc tập trung ruộng đất, tạo ra một khối lượngthặng dư nông nghiệp lớn, rút dần lao động ra khỏi nông nghiệp, tạo được sự kíchthích lợi ích đối với nông dân trong phát triển nông nghiệp hàng hóa Quá trìnhchuyển biến này hướng vào việc phát triển một nền NN đa dạng, bền vững
Chương 2 THỰC TRẠNG CỦANÔNG NGHIỆP, NÔNGN DÂN ,NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở TỈNH ĐĂK
NÔNG 2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Đăk Nông
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Đắk Nông là tỉnh có vị trí địa lý ở tây nam của vùng Tây Nguyên, có diệntích tự nhiên 6.515,6 km², độ cao trung bình từ 500 – 700m so với mặt nước biển;phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Đắk Lăk, phía đông và đông nam giáp tỉnh LâmĐông, phía nam giáp tỉnh Bình Phước, phía tây giáp với tỉnh Mondulkiri(Campuchia) với đường biên giới có chiều dài 125 km Địa hình núi cao chiếm35% diện tích tự nhiên, tập trung ở phía Đông nam tỉnh, có núi Tà Đùng cao1.982m so với mực nước biển Địa hình cao nguyên thấp từ đông sang tây Phầndiện tích còn lại là vùng thấp, bao gồm những bình nguyên ở phía Bắc tỉnh
Với diện tích tự nhiên tương đối rộng, trong đó diện tích đất nông nghiệpchiếm 47% diện tích; hệ thống ao, hồ, sông, suối đa dạng và rộng lớn như Hồ Tây
ở huyện Đắk Mil, Hồ Đắk Mâm ở huyện Krông Nô tổng diện tích mặt nướctrên 30.000 ha, tỉnh Đăk Nông có các điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cácloại cây trồng có giá trị kinh tế và xuất khẩu như: cà phê, cao su, hồ tiêu… chonăng suất cao và chất lượng tốt, phù hợp cho công nghiệp chế biến, cũng như pháttriển ngành nuôi trồng thuỷ sản quy mô lớn
Trang 13Đăk Nông có nhiều mạng giao thông nối liền tỉnh với các tỉnh khác trongvùng Tây Nguyên và các tỉnh Nam bộ Chạy xuyên suốt tỉnh theo chiều dài từ Bắcxuống Nam, đông sang tây Những mạng giao thông liên vùng đó là điều kiệnthuận lợi cho Đăk Nông mở rộng giao lưu với các tỉnh trong vùng
Mặt khác, Đăk Nông là địa phương có vị trí chiến lược về KT - XH, anninh quốc phòng của khu vực Tây nguyên Địa hình phức tạp và đa dạng cùngvới sự khác biệt về khí hậu tạo ra ở Đăk Nông có nhiều vùng sinh thái khác nhau,điều kiện để đa dạng hóa nông nghiệp và lâm nghiệp, song cũng đặt ra nhiều vấn
đề trong khai thác tài nguyên tự nhiên cần chú ý các hiện tượng như xói mòn đất,rửa trôi
Về khí hậu cảu tỉnh Đăk Nông vừa mang tính chất khí hậu cao nguyênnhiệt đới ẩm, vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng Khí hậu có haimùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10,tập trung 90% lượng mưa hàng năm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau,lượng mưa không đáng kể
- Nhóm đất đỏ bazan có diện tích 120,9 nghìn ha chiếm 24,5% diện tích tựnhiên, phân bố tập trung tại các khối bazan ở các huyện Đắk Mil, Đắk Song và rảirác ở một số huyện
- Nhóm đất xám có diện tích 225,1 nghìn ha chiếm 21,2% diện tích tựnhiên, phân bố hầu hết ở các huyện
- Nhóm đất nâu có diện tích 98.04 ha chiếm 13,7% diện tích tự nhiên
Ngoài ra còn có các nhóm đất như đất nâu thẫm, đất có tầng sét chặt, đấtxói mòn trơ sỏi đá, đất nứt nẻ
Về tài nguyên rừng: Thảm thực vật và đa dạng sinh học với nhiều kiểurừng, có nhiều loại gỗ, cây dược liệu trong đó có một số loại gỗ quý như Cẩm Lai,Trắc, Lim, Hương, Cà te ngoài ra còn nhiều loại lâm thổ sản khác, nhiều loạiđộng vật quý hiếm được ghi vào sách đỏ của nước ta
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Đăk Nông
2.1.2.1 Đặc điểm chung
Toàn tỉnh Đắk Nông có dân số là 553.200 người Trong đó, dân số đô thị
chiếm 21,5%, còn lại chủ yếu là dân số nông thôn chiếm 76,5% dân số (Theo số liệu tổng điều tra dân số ngày 10/9/2013) Cộng đồng dân cư Đắk Nông gồm 45
dân tộc Trong đó, người Kinh chiếm trên 70%; các dân tộc thiểu số như Ê Đê,M'nông, Thái, Tày, Nùng chiếm gần 40% dân số toàn tỉnh Mật độ dân số trung
Trang 14bình toàn tỉnh là 127 người/km2, nhưng phân bố không đều trên địa bàn cáchuyện, tập trung chủ yếu ở thị xã, thị trấn huyện lỵ, ven các trục quốc lộ 14 chạyqua …
2.1.2.2 Đặc điểm về kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh luôn đạt ở mức khá, cơ cấu kinh tếchuyển dịch đúng hướng, góp phần thúc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn
Về tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong nhiệm kỳ 2008-2013 đạt12,13% Trong đó, công nghiệp - xây dựng tăng 17,41%; thương mại - dịch vụtăng 17,49%; nông - lâm - ngư nghiệp tăng 7,19% Quy mô nền kinh tế tăngmạnh, năm 2013 tổng GDP ước đạt 1.810 tỷ đồng, gấp 1,7 lần so năm 2004; bìnhquân thu nhập đầu người tính theo giá hiện hành đạt 17,2 triệu đồng/người, theogiá so sánh 2004 là 9,7 triệu đồng/người tương đương 925,4 USD
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp,tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ Đến nay, nông - lâm nghiệpchiếm 47%, công nghiệp - xây dựng 17,3%, dịch vụ 35,7%
Nền nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tập trung chuyên canh, quy môlớn Tốc độ tăng trưởng bình quân 6,1%/năm, hầu hết sản phẩm nông nghiệpmang tính hàng hóa có giá trị kinh tế cao góp phần CNH,HĐH nông nghiệp, nôngthôn Các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa phát triển, cơ cấu cây trồng, vậtnuôi chuyển đổi đa dạng thích ứng với nhu cầu của thị trường Diện tích, năngsuất và sản lượng cây trồng tăng nhanh, giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tíchđạt khoảng 24,1 triệu đồng/ha Chăn nuôi phát triển khá, giá trị tăng bình quân 5năm vừa qua là 22,6%
Từng bước xã hội hóa nghề rừng và cùng với việc đổi mới cơ chế khoán,giao đất, giao rừng, phát triển lâm nghiệp cộng đồng, tăng mức hỗ trợ trong lâmnghiệp đã thu hút các nguồn vốn cho phát triển rừng - nhất là phát triển trồng rừng
và kinh doanh nông - lâm - dịch vụ kết hợp Trong 5 năm qua đã trồng được11.100 ha rừng tập trung và hơn 1,5 triệu cây phân tán, góp phần nâng độ che phủrừng lên 60%, tăng 4,9% so với năm 2004
Trang 15Việc quản lý tài nguyên và môi trường có chất lượng và hiệu quả: Khaithác, sử dụng tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, tài nguyên rừng ngày cànghiệu quả hơn Các vấn đề về môi trường và phát triển bền vững được các cấp ủy,chính quyền và nhân dân nhận thức đúng đắn hơn Quản lý và bảo vệ môi trường
đã có chuyển biến tích cực, bước đầu hạn chế ô nhiễm, phục hồi và cải thiện môitrường
Kết cấu hạ tầng được tập trung đầu tư, đến nay đã cơ bản nhựa hóa mặtđường và cầu vĩnh cửu các tuyến quốc lộ, các đoạn đường qua thị trấn được mởrộng Nâng cấp, nhựa hóa đường tỉnh lộ được 65,4%, đường huyện 57%, đường
xã 28% Về lưới điện, đến nay đã hoàn thành giai đoạn một cấp điện cho 120/127thôn, buôn và kéo điện sinh hoạt cho 7.870 hộ đồng bào dân tộc thiểu số, 94% số
hộ được dùng điện, 100% số xã có lưới điện quốc gia Thủy lợi đã đảm bảo tướicho 70% diện tích cây trồng có nhu cầu tưới vào mùa khô
2.1.2.3 Đặc điểm về văn hóa – xã hội
Công tác giáo dục – đào tạo có nhiều chuyển biến, ngày càng thực chất
hơn Tỷ lệ trẻ em đi mẫu giáo, học sinh tiểu học, học sinh dân tộc thiểu số tăng
khá, các huyện, thị xã, đều có trường dân tộc nội trú, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn là97,32% Tỉnh đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở;trường lớp được xây dựng khang trang; đào tạo nghề tăng nhanh về số lượng,nâng cao về chất lượng, đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 26,7% năm 2004lên 38% năm 2013 Xã hội hóa đào tạo nghề được đẩy mạnh, đáp ứng ngày càngtốt hơn yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương Nghiên cứu và ứng dụngcác tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất được chú trọng, nâng cao chất lượng
và giá trị sản phẩm hàng hóa, việc ứng dụng tiến bộ về khoa học - kỹ thuật đểnâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi bước đầu triển khai có hiệuquả; công nghệ sản xuất phục vụ chế biến nông - lâm sản phát triển khá; ứng dụngcông nghệ thông tin trong quản lý của các cơ quan Đảng, Nhà nước và các ngành
đã góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ Mạng lưới y tế từ
tỉnh đến cơ sở được quan tâm củng cố Các chương trình y tế quốc gia, chính sách
y tế cho người nghèo được thực hiện đạt kết quả tốt