1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng vùng chăn nuôi gia cầm an toàn cho một số xã phía tây thành phố thái nguyên và đề xuất giải pháp cho các khu đô thị

79 160 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của đề tài Tác động các biện pháp kỹ thuật, thú y, tuyên truyền, đề xuất các chính sách, các hương ước với từng địa phương và cụm dân cư về chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học,

Trang 1

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung là nghề sản xuất truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi nước ta Theo báo cáo của Tổng cục thống kê [8], số lượng gia cầm năm 2009 nhiều hơn năm 2008 là 31,9 triệu con, tăng 12,8% Tình hình chăn nuôi gà phát triển mạnh hơn so với chăn nuôi lợn, trâu, bò , song vẫn thể hiện sự phát triển thiếu bền vững

Cũng như các tỉnh Trung du miền núi khác, Thái Nguyên có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi phát triển chăn nuôi.Với tổng diện tích tự nhiên là 3541,14 km2, dân số 1.046.1630 người (gần 80% dân số sống bằng nghề nông nghiệp) Đặc biệt khu vực thành phố Thái Nguyên, nơi tập trung rất nhiều trường Đại học và Cao đẳng, là thị trường tiêu thụ sản phẩm rất có tiềm năng Riêng đối với gia cầm, hàng năm Thái Nguyên còn phải nhập rất nhiều sản phẩm từ các tỉnh khác Tuy nhiên do địa hình bị chia cắt bởi đồi núi, mật độ dân phân tán không đều, chăn nuôi gia cầm phần lớn là phân tán nhỏ lẻ (trừ một số trang trại gia công của các công ty nước ngoài), đã làm cho dịch bệnh thường xuyên xảy ra Chính vì đặc thù của chăn nuôi gia cầm truyền thống

là nhỏ, lẻ và phân tán nên rất nên rất khó khăn trong việc phát hiện và khống chế dịch

Do tính chất nhỏ lẻ nên giá thành sản phẩm cao, hiệu quả kinh tế thấp Công nghiệp chế biến giết mổ chưa phát triển, nên chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm chưa cao Dịch bệnh làm giảm hiệu quả và tính bền vững của ngành chăn nuôi

Trước tình hình đó, Chính phủ đã đưa ra định hướng là: Chuyển đổi mạnh mẽ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang hướng thâm canh, bán thâm canh, chăn nuôi có kiểm soát Gắn chăn nuôi với giết mổ, chế biến tập trung công nghiệp Kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm Để đạt mục tiêu chung là: Nâng tỷ trọng sản phẩm gia cầm trong tổng sản phẩm chăn nuôi Phát triển chăn nuôi gia cầm bền vững trên cơ sở đảm bảo

an toàn sinh học, vệ sinh môi trường và hiệu quả kinh tế Xây dựng ngành công nghiệp chế biến, giết mổ gia cầm nhằm tăng giá trị sản phẩm gia cầm Cung cấp sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm cho người tiêu dùng Quy hoạch vùng chăn nuôi gia cầm thâm canh, bán thâm canh, xa khu dân cư, bảo đảm vệ sinh môi trường

Chăn nuôi gia cầm trong nông hộ tự cấp, tự túc cũng phải được tổ chức lại trên

cơ sở bảo đảm dễ dàng kiểm soát dịch bệnh Giảm số hộ chăn nuôi truyền thống nhỏ lẻ, thả rông Tổ chức lại chăn nuôi thuỷ cầm theo hướng nuôi nhốt, thâm canh, bán thâm canh, chăn nuôi thả đồng có kiểm soát

Trang 2

Các xã miền tây Thành phố Thái Nguyên là địa bàn có diện tích đất đồi, núi khá rộng lớn, được quy hoạch cho phát triển chăn nuôi nói chung và gia cầm nói riêng nhằm cung cấp thực phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của các khu đô thị

Trong những năm gần đây, mặc dù đã có rất nhiều chuyển biến tích cực trong việc phát triển chăn nuôi gia cầm, song dịch bệnh vẫn thường xuyên xẩy ra, năng suất chăn nuôi thấp, giá thành cao nên người dân vẫn chưa tự tin, mạnh dạn đầu tư cho chăn nuôi gia cầm

Từ những khó khăn và thách thức đó, để đạt được mục tiêu là nâng tỷ trọng sản phẩm gia cầm trong tổng sản phẩm chăn nuôi, thì việc phát triển chăn nuôi gia cầm bền vững trên cơ sở đảm bảo an toàn sinh học, vệ sinh môi trường và tăng hiệu quả kinh tế là việc làm hết sức cần thiết Góp phần tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện kinh tế hộ, nâng cao mức sống của người dân và ổn định xã hội Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi thấy cần thiết phải tiến hành nghiên cứu đề tài:

"Xây dựng vùng chăn nuôi gia cầm an toàn cho một số xã phía Tây thành phố Thái Nguyên và đề xuất giải pháp cho các khu đô thị”

1.2 Mục tiêu của đề tài

Tác động các biện pháp kỹ thuật, thú y, tuyên truyền, đề xuất các chính sách, các hương ước với từng địa phương và cụm dân cư về chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học, bền vững đạt hiệu quả kinh tế cao

Xây dựng mô hình điểm để tạo ra vùng chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học, từ đó nhân rộng ra các vùng khác

1.3 Ý nghĩa của đề tài

Ý nghĩa khoa học của đề tài

Có số liệu tổng hợp về tình hình chăn nuôi gia cầm tại các xã miền tây của thành phố Thái Nguyên Từ đó giúp cho việc định hướng, qui hoạch vùng chăn nuôi an toàn của thành phố

Là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo

Có số liệu khoa học để đánh giá hiệu quả bền vững của chăn nuôi an toàn sinh học

Ý nghĩa thực tiễn đề tài

Đánh giá được thực trạng về tình hình chăn nuôi và phòng trừ dịch bệnh của các xã miền tây thành phố

Trang 3

Thông qua việc mở các lớp tập huấn, tuyên truyền, giúp người chăn nuôi hiểu biết về tác dụng của an toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm Thông qua việc xây dựng các mô hình điểm, tham quan và đánh giá, giúp người chăn nuôi thấy được hiệu quả kinh tế và tính bền vững của chăn nuôi an toàn sinh học Từ đó nhân rộng ảnh hưởng của mô hình ra trong cộng đồng

Từ hiệu quả của mô hình, giúp người dân thay đổi hành vi, tập quán chăn nuôi tự do, không kiểm soát chuyển sang phương thức chăn nuôi có kiểm soát, năng suất cao

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trực tiếp điều tra để đánh giá thực trạng chăn nuôi gia cầm của các xã miền tây của thành phố

Tiềm năng chăn nuôi (Số lượng trang trại, qui mô trang trại, kỹ thuật chăn nuôi của người dân) tại các xã phía Tây của thành phố Thái Nguyên Các hộ chăn nuôi gà theo tập quán truyền thống, không chú trọng đầu tư cho chăn nuôi

Đánh giá hiệu quả kinh tế của các gia đình chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học

Trang 4

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Khái niệm và nguyên tắc cơ bản về an toàn sinh học trong chăn nuôi

Chăn nuôi gia cầm của Việt Nam gặp vô vàn khó khăn từ khi Cúm gia cầm H5N1 được phát hiện lần đầu tiên tại Việt Nam vào cuối năm 2003, tính đến 9/2007 đã

xảy ra 05 đợt bùng phát dịch Các đợt bùng phát này đã xảy ra trong 2.574 xã phường

(chiếm 24,6% số xã phường trong cả nước) của 381 quận huyện (chiếm 60% số quận huyện trong cả nước) trong 63 trên 64 tỉnh thành nước ta Đã có hơn 58 triệu con gia cầm đủ đã bị chết hay bị tiêu hủy do dịch cúm gia cầm, chiếm 16,79% trong tổng đàn gia cầm cả nước qua 4 đợt dịch cúm đầu

Bảng 2.1 Tình hình nhiễm và tử vong ở người do virus cúm gia cầm độc

lực cao Quốc

gia 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 Tổng Việt

Trước tình hình đó, Chính phủ, các bộ, ngành và các tổ chức quốc tế đã có nhiều chính sách, biện pháp tác động làm giảm thiểu nguy cơ và tác động xấu của dịch cúm gia cầm cũng như dịch bệnh, phát triển chăn nuôi an toàn, bền vững, thân thiện với môi trường

Thực hiện an toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm là vấn đề "bắt buộc" hiện nay

2.1.1 Khái niệm về an toàn sinh học

An toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm Là các biện pháp kỹ thuật nhằm ngăn ngừa và hạn chế sự lây nhiễm của các tác nhân sinh học xuất hiện tự nhiên hoặc do con người tạo ra gây hại đến con người, gia súc và hệ sinh thái [2] Hay nói cách khác,

An toàn sinh học trong chăn nuôi là các biện pháp tổng hợp nhằm ngăn chăn không cho mầm bệnh xâm nhập vào gia cầm và không cho mầm bệnh phát tán ra ngoài

Nội dung của an toàn sinh học bao gồm:

Chăm sóc tốt, Môi trường tốt

Cách ly đúng, Kiểm soát việc vận chuyển

Trang 5

Nguyên tắc cùng vào và cùng ra, Phòng và tiêm phòng vắc xin đúng

2.1.2 Nguyên tắc cơ bản của an toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm

Có ba nguyên tắc cơ bản của an toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm cần phải thực hiện đó là

- Cách li thời gian: Giữa 2 lứa nuôi của 1 ô chuồng là 7-10 ngày

- Cách li về ý thức, thói quen: Thay dép/ủng khi vào khu chăn nuôi, chuồng nuôi gia cầm; Tách /Cách li gia cầm ốm khỏi đàn Việc cách ly gia cầm khỏe với các dụng cụ có nguy cơ tiềm tàng và các gia cầm khác là nguyên tắc đầu tiên và quan trọng, góp phần làm giảm nguy cơ lây nhiễm bệnh Mầm bệnh có thể dễ dàng phát tán thông qua tiếp xúc trực tiếp bởi khách thăm quan, nhưng lại có thể được ngăn chặn được bằng việc thực hiện 1 số biện pháp đơn giản như thay dép, mặc quần áo bảo hộ khi vào khu chăn nuôi gia cầm

Rửa /Làm sạch: Loại bỏ việc nhiễm trùng

- Rửa: dùng nước để rửa chuồng trại và các trang thiết bị sử dụng trong chăn nuôi gia cầm

- Làm sạch: cái gì không rửa được hoặc trước khi rửa phải cạo, dọn, làm sạch

Khử trùng:

Tác dụng của khử trùng là để tiêu diệt mầm bệnh Các biện pháp khử trùng

thường áp dụng như hấp, luộc sôi kĩ, dùng cồn, hoá chất , tuỳ thuộc đối tượng để chọn

phương pháp cho phù hợp sao cho có hiệu quả nhất

Từ kết quả của nhiều nghiêm cứu và qua thực tiễn sản xuất cho thấy: Các hành động của con người là yếu tố cơ bản trong việc áp dụng các biện pháp ATSH Trong

đó cách ly là biện pháp hiệu quả nhất và khử trùng là biện pháp kém hiệu quả nhất

2.1.3 Một số biện pháp thực hành chăn nuôi an toàn tại trại gia đình

Như chúng ta đã biết, an toàn sinh học là vấn đề thông thường, không cần chi phí nhiều tiền, chủ yếu là những thói quen tốt diễn ra hàng ngày ở trại hay khu chăn nuôi của mỗi nông hộ Những biện pháp này được áp dụng cho cả hộ chăn nuôi qui mô lớn và nhỏ Đó là các biện pháp khác nhau, đơn giản và đôi khi không tốn kém để:

Ngăn chặn không cho mầm bệnh xâm nhập vào gia cầm

Giữ gia cầm không tiếp xúc với mầm bệnh

Nếu không thực hiện các biện pháp an toàn sinh học, sẽ phải tốn thời gian và chi phí để giải quyết dịch bệnh khi xảy ra Chính vì vậy, để chăn nuôi gia cầm phát triển bền vững và đạt hiệu quả kinh tế, người chăn nuôi cần thực hiện nghiêm túc qui

trình sau:

Trang 6

− Nếu gia đình (trại) nuôi gia cầm ở nhiều nhóm tuổi khác nhau, thì người làm việc cần đi từ nhóm gia cầm ít tuổi sang nhóm nhiều tuổi

− Có hố, khay /máng đựng dung dịch khử trùng trước cửa ra vào ở mỗi khu vực/ chuồng nuôi

− Người vào chuồng nuôi nhất thiết phải thay dép / ủng

− Không dùng chung thiết bị chăn nuôi giữa các khu, các chuồng; thiết bị phải sạch sẽ và được tiệt trùng

− Phải rửa tay kĩ bằng xà phòng sau khi bắt gia cầm, sau mổ khám gia cầm chết, gia cầm bệnh

− Kịp thời phát hiện, tách và cách li gia cầm ốm

− Ghi chép mọi hoạt động và sự kiện diễn ra của trại/cơ sở chăn nuôi (thức

ăn tiêu thụ, sản lượng trứng, lịch tiêm chủng vắc xin, điều trị, số lượng và nguyên nhân

gia cầm chết, nhập mới con giống, xuất bán sản phẩm…)

− Không đi kiểm tra đàn gia cầm khi chưa thay dép, ủng

− Không tuỳ hứng mời khách vào tham quan

Một số biện pháp ngoài yếu tố con người có tính thực hành (thiết kế khu chăn nuôi, chuồng nuôi, hàng rào, chống xâm nhập của người, thú, các biện pháp bảo vệ và nâng cao sức đề kháng cho đàn gia cầm…) để góp phần vào chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học

− Không nuôi lẫn các loại gia cầm (loài, nguồn gốc, tuổi)

− Mua, nhập gia cầm giống phải rõ nguồn gốc, (có chứng nhận kiểm dịch)

+ Có vùng “bẩn” riêng để nhập/xuất gia cầm

− Có rào chắn – hàng rào, cổng/cửa vào khu chăn nuôi và mỗi khu, chuồng riêng biệt

− Hạn chế khách thăm quan

− Tránh không cho các loại chim và động vật khác vào được khu chăn nuôi

− Bảo vệ nguồn thức ăn /nước uống sạch sẽ

− Ngăn chặn dịch bệnh, tăng sức đề kháng

a Nuôi dưỡng tốt để gia cầm luôn khoẻ mạnh

b Tiêm chủng vắc xin đầy đủ theo quy trình, tẩy giun sán

c Cách li gia cầm ốm Loại bỏ và chữa trị cho những con bị bệnh

Từ thực tế sản xuất, người ta xếp mức độ an toàn sinh học theo sơ đồ sau:

Trang 7

Hình 2.1: Mức độ an toàn sinh học

2.2 Cơ sở pháp lệnh về chăn nuôi an toàn sinh học

1) Pháp lệnh giống vật nuôi số 16/2004/PL-UBTVQH11 ngày 24/3/2004 của

Uỷ ban thường vụ Quốc hội [10]

2) Pháp lệnh Thú y số18/2004/PL-UBTVQH ngày 29/4/20004[11]

3) Nghị định 47/2005/NĐ-CP ngày 08/4/2005 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống vật nuôi [6]

4) Nghị định 129/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Thú y [7]

5) Quyết định số: 394/QĐ- TTg Ngày 13 tháng 3 năm 2006, của Thủ tướng Chính phủ về khuyến khích đầu tư xây dựng mới mở rộng cơ sở giết mổ chế biến gia súc, gia cầm và cơ sở chăn nuôi gia cầm tập trung công nghiệp [15] 6) Thông tư số 42/2006/TT-BNN, ngày 01 tháng 6 năm 2006 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Hướng dẫn thực hiện một số điều tại Quyết định số 394/QĐ-TTg ngày 13 tháng 3 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về khuyến khích đầu tư xây dựng mới, mở rộng cơ sở giết mổ, bảo quản chế biến gia súc, gia cầm và cơ sở chăn nuôi gia cầm tập trung, công nghiệp [17]

7) Tiêu chuẩn 10 TCN 679- 2006,Tiêu chuẩn điều kiện vệ sinh thú y cơ sở chăn nuôi gia cầm [25]

8) Tiêu chuẩn vệ sinh nước dùng trong chăn nuôi 10TCN 680-2006 [26]

9) Tiêu chuẩn vệ sinh thú y đối với cơ sở ấp trứng gia cầm 10TCN 878-2006 [27]

Trang 8

10) Tiêu chuẩn vệ sinh nước thải chăn nuôi 10TCN 678-2006 [28]

11) Quyết định Số 1405/QĐ -TTg ngày 16/10/2007 của Thủ tướng Chính phủ,

về điều kiện ấp trứng và chăn nuôi thuỷ cầm [15]

12) Thông tư Số 92/2007/TT-BNN ngày 19/11/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hướng dẫn thực hiện một số điều tại Quyết định 1405/QĐ-TTg, ngày 16/10/2007 của Thủ tướng chính phủ về điều kiện ấp trứng và chăn nuôi thuỷ cầm [18]

13) Thông tư số 60/2008/TT-BNN ngày 15/5/2008 Sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Thông tư số 92/2007/TT-BNN ngày 19/11/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn thực hiện một số điều tại Quyết định số 1405/QĐ-TTg ngày 16/10/2007 của Thủ tướng Chính phủ về điều kiện ấp trứng và chăn nuôi thủy cầm [19]

14) Thực hành chăn nuôi gia cầm tốt (VIETGAHP) (Ban hành kèm theo Quyết định số 1504/QĐ-BNN-KHCN ngày 15 tháng 5 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) [22]

Căn cứ vào tình hình thực tế về phát triển chăn nuôi gia cầm sau đại dịch Cúm

H5N1 Thủ tướng chính phủ, đã ban hành Quyết định 1405/QĐ -TTg, Trong đó chỉ rõ

những qui định cụ thể như sau:

Điều kiện đối với cơ sở chăn nuôi gia cầm tập trung, công nghiệp

a) Về quy mô chăn nuôi

- Cơ sở chăn nuôi gia cầm thương phẩm với quy mô có mặt thường xuyên từ 2.000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi)

- Cơ sở chăn nuôi gia cầm sinh sản với quy mô có mặt thường xuyên từ 1.000 con trở lên

- Tại khu chăn nuôi gia cầm tập trung, công nghiệp phải có quy mô không nhỏ hơn 30.000 con, trong đó mỗi hộ có quy mô tối thiểu 4.000 con thương phẩm hoặc 2.000 con sinh sản

b) Về vệ sinh thú y và an toàn sinh học

- Cơ sở chăn nuôi gia cầm tập trung, công nghiệp phải có đủ các điều kiện vệ sinh thú y quy định tại khoản 2 Điều 12 của Pháp lệnh Thú y và các quy định hiện hành, cụ thể như sau:

+ Phải theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Cơ sở chăn nuôi gia cầm tập trung, công nghiệp ở đồng bằng, trung du phải cách xa khu dân cư từ 300 mét trở lên và ở miền núi phải cách xa khu dân cư từ 01 km trở lên;

+ Có hàng rào hoặc tường bao quanh bảo đảm ngăn chặn được người, động vật

từ bên ngoài xâm nhập vào cơ sở;

+ Có khu hành chính riêng biệt;

+ Có nơi vệ sinh, thay quần áo cho cán bộ, công nhân, khách thăm quan;

Trang 9

+ Có hố sát trùng cho người, phương tiện vận chuyển trước khi vào cơ sở và khu chăn nuôi;

+ Môi trường khu chăn nuôi phải đạt tiêu chuẩn vệ sinh thú y theo quy định;

+ Có kho riêng biệt bảo quản thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu dùng sản xuất thức

ăn chăn nuôi; dụng cụ chăn nuôi; hoá chất sát trùng độc hại;

+ Có nơi cách ly, xử lý gia cầm ốm, chết và chất thải theo hướng dẫn của cơ quan thú y;

+ Thực hiện vệ sinh, khử trùng tiêu độc định kỳ, khi có dịch bệnh và sau mỗi đợt nuôi, xuất bán sản phẩm gia cầm;

+ Có chương trình, quy trình phòng chống dịch bệnh động vật theo quy định của pháp luật thú y;

+ Bảo đảm thời gian để trống chuồng sau mỗi đợt nuôi, xuất bán sản phẩm gia cầm; + Có biện pháp diệt trừ các loài gặm nhấm, côn trùng gây hại và ngăn chặn, hạn chế chim trời

- Khu vực chăn nuôi phải có đủ nguồn nước sạch;

- Tổ chức, cá nhân chăn nuôi gia cầm tập trung, công nghiệp có quy mô từ 1.000 con sinh sản hoặc 2.000 con thương phẩm trở lên phải đăng ký với cơ quan thú y

để thẩm định điều kiện chăn nuôi, điều kiện vệ sinh thú y

2 3 Hiệu quả của việc áp dụng chăn nuôi gà an toàn sinh học

Trong sản xuất chăn nuôi, thức ăn chiếm chi phí 70 – 75 % giá thành sản phẩm, tùy qui mô sản xuất Qui mô sản xuất càng nhỏ thì tỉ lệ chi phí thức ăn càng cao Chính

vì vậy, hầu như mọi quan tâm của người chăn nuôi đều đổ dồn về chi phí thức ăn Khi thức ăn chăn nuôi tăng giá ngay lập tức sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản xuất Tuy nhiên, một thực tế hiển nhiên trong sản xuất là người chăn nuôi hoàn toàn không thể điều chỉnh được giá thức ăn trên thị trường, vậy nên cách tốt nhất là hãy tìm cách

để ”sống chung với nó” Một trong những giải pháp hiệu quả mà người chăn nuôi cần phải thực hiện tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi, đó là chăn nuôi an toàn sinh học Xét về góc độ của người chăn nuôi gia cầm có nhiều kinh nghiệm cho thấy; An toàn sinh học hiện nay chính là giải pháp để hạ giá thành sản phẩm

Trong chăn nuôi, năng suất và chất lượng góp phần quyết định hiệu quả sản xuất mà an toàn dịch bệnh là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất và chất lượng Một vụ dịch xảy ra nếu không gây thiệt hại toàn bộ cơ sở thì cũng làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm chăn nuôi Do đó chủ động phòng chống, không để xảy ra dịch bệnh là biện pháp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm (Duy Thức [23])

Rất nhiều hộ chăn nuôi, sau khi tham khảo thông tin và thu lượm kỹ thuật từ các lớp tập huấn về an toàn sinh học trong chăn nuôi, đã hiểu rõ tác dụng của việc áp dụng an toàn sinh học vào chăn nuôi gà, tiến hành nuôi thử nghiệm đã được kết quả tốt,

Trang 10

hiệu quả cao hơn hẳn so với trước khi áp an toàn sinh học vào chăn nuôi Từ những kết

quả thu được của gia đình, bản thân người chăn nuôi tự rút ra kinh nghiệm ”Nuôi gà

an toàn sinh học khác với nuôi gà theo cách thông thường là mình phải tuân thủ nghiêm ngặt các hướng dẫn về quy trình chăn nuôi do cán bộ chuyên môn cung cấp, đặc biệt là về chế độ ăn và thời gian sử dụng các loại thuốc phòng chống dịch bệnh”

Từ thực tế sản xuất cho thấy: chương trình “Chăn nuôi gà an toàn sinh học” đã mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân, đồng thời còn trang bị cho người chăn nuôi gia cầm những kiến thức mới trong chăn nuôi, tạo tiền đề cho xây dựng vùng chăn nuôi an toàn sinh học trong những năm tiếp theo Minh Phương [13]

Theo tác giả Hà Ngọc Giang [3] cho biết: Hiệu quả kinh tế của nông dân huyện Lâm Thao – Phú Thọ khi thực hiện an toàn sinh học trong chăn nuôi gà như sau:

Sau 3 tháng nuôi mô hình gà an toàn sinh học tại Lâm Thao cho thấy tỷ lệ nuôi sống đạt trên 95%, trọng lượng bình quân đạt 2,2-2,4 kg/con đối với gà trống, đạt 1,9-2,0 kg/con đối với gà mái; thịt gà săn chắc chất lượng ngon hơn hẳn gà nuôi công nghiệp Với giá thị trường hiện tại là 38.000 - 40.000đ/kg, mỗi hộ nuôi 200 con ước tính cho thu khoảng 16 -

17 triệu đồng, trừ tất cả chi phí dự kiến lãi khoảng 3-4 triệu đồng

Theo Thái Bình Trọng (báo Bình định) cho biết: Hiện nay, do mầm bệnh còn tiềm ẩn lâu dài trong môi trường nên nguy cơ tái phát dịch cúm gia cầm hàng năm là rất cao Tuy nhiên, về mặt chủ trương không thể tính đến khả năng loại bỏ hẳn việc nuôi gà, chỉ có thông qua phương pháp nuôi an toàn sinh học mới có thể không ngừng phát triển đàn gia cầm

Nếu như nuôi quảng canh giống gà địa phương, phải mất đến tối thiểu 5 tháng mới đạt trọng lượng xuất chuồng; với mô hình này, chỉ sau 70 ngày tuổi gà trống đã đạt trọng lượng trung bình 2,2 kg/con, gà mái 2 kg/con, hệ số tiêu tốn thức ăn chỉ ở mức 2,46 kg thức ăn/1 kg tăng trọng Nhờ tiêm phòng đầy đủ tất cả các bệnh như: gumboro, đậu, dịch tả, cầu trùng, tụ huyết trùng… nên trong suốt quá trình nuôi hầu như không xảy ra dịch bệnh, tỷ lệ hao hụt không đáng kể Mặc dù giá gà thịt đang ở mức rất thấp (20.000 đồng/kg) nhưng lợi nhuận thực tế gần 7.000 đồng/con, có nghĩa

là chỉ sau hơn 2 tháng, từ 500 con gà thả vườn đã mang lại thu nhập 3,5 triệu đồng

Tại Hội nghị tổng kết mô hình, tất cả người chăn nuôi và đại diện các địa phương đều thống nhất rằng đây là một biện pháp nuôi gia cầm hữu hiệu nhất hiện nay,

có thể nhân rộng nhằm góp phần mang lại thu nhập ổn định cho người nông dân ở nhiều vùng nông thôn trong tỉnh [2]

Trang 11

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu

− Các hộ chăn nuôi gia cầm;

− Gà địa phương;

− Gà lai (Lương Phượng x Ri); (LP x Sasso)

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu

Năm xã miền Tây của thành phố Thái Nguyên bao gồm: Quyết Thắng, Phúc Xuân, Phúc Trìu, Thịnh Đức và Tân Cương

3.2.2 Thời gian nghiên cứu

Từ 5/2009 – 6/ 2011

3.3 Nội dung và phạm vi nghiên cứu

− Điều tra đánh giá thực trạng về chăn nuôi gia cầm:

Tỷ lệ hộ chăn nuôi gia cầm Qui mô chăn nuôi/ hộ Diễn biến, tình hình dịch bệnh và tỷ lệ tiêm phòng cho gia cầm ở xã

− Kết hợp với Hội Nông Dân và Hội Phụ nữ mở các lớp tập huấn, tuyên truyền nâng cao hiểu biết của người dân về an toàn sinh học trong chăn nuôi và kỹ thuật chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học

− Nghiên cứu mật độ bãi thả tối ưu cho từng đối tượng gà thịt, đáp ứng yêu cầu của chăn nuôi an toàn và bền vững

− Xây dựng các Quy định cụ thể với các xóm xã về việc thực hiện an toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm

3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

3.4.1 Xây dựng biểu mẫu điều tra đánh giá thực trạng chăn nuôi gia cầm tại 5 xã

Điều tra thực trạng chăn nuôi, thú y: Điều tra phỏng vấn, thu thập thông tin từ UBND xã, từ nông dân bằng câu hỏi trong phiếu điều tra, điều tra chọn mẫu Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) (mẫu phiếu xem phụ lục)

3.4.2 Điều tra xác định tỷ lệ nhiễm bệnh

Bệnh Ký sinh trùng trên đàn gà

− Tỷ lệ nhiễm giun tròn

− Tỷ lệ nhiễm sán dây

− Tỷ lệ nhiễm cầu trùng

Chúng tôi tiến hành lấy mẫu và kiểm tra tỷ lệ mắc ký sinh trùng trên đàn gà, từ

đó đưa ra phác đồ điều trị có hiệu quả

Một số bệnh do vi khuẩn trên đàn gà

− Tỷ lệ nhiễm bệnh E Coli

− Tỷ lệ nhiễm bệnh Sallmonella

Lấy mẫu để xác định tỷ lệ nhiễm và nuôi cấy trên phòng thí nghiệm để phân lập

vi khuẩn và thử kháng sinh đồ, từ đó đưa ra phác đồ điều trị có hiệu quả

Trang 12

Mẫu phân tích lấy tại các hộ chăn nuôi

Nuôi cấy, phân lập vi khuẩn và làm kháng sinh đồ tại Viện Khoa học sự sống của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

- Loại 1: Không có vườn cây (chỉ là bãi cỏ hoặc sân chơi), được bố trí với diện tích bãi thả 2m2/ gà Số hộ bố trí 3 hộ/xã/loại gà

- Loại 2: Có vườn cây thấp tán (chanh, cam quất, mía, chè ), được bố trí với diện tích bãi thả là 3m2/ gà Số hộ bố trí 3 hộ/xã/ loại gà

- Loại 3 Có vườn đồi và cây cao (vải, nhãn, xoài), được bố trí với diện tích bãi thả là 4 m2/ gà Số hộ bố trí 3 hộ/xã/ loại gà

Các hộ tham gia mô hình phải đáp ứng các tiêu chí sau:

Tự nguyện tham gia

Đã tham gia lớp tập huấn

Hộ chăn nuôi phải có đối ứng về:

- Chuồng nuôi (12m2)

- Bãi chăn thả (4m2/gà)

- Kinh tế (có khả năng đáp ứng về thức ăn tinh cho gà)

- Vị trí dễ đi lại cho nhóm sở thích để chia sẻ

- Có tính cộng đồng (có khả năng chia sẻ, có khả năng tiếp thu cái mới)

- Cam kết áp dụng các kỹ thuật về CNGC an toàn theo qui định và cam kết chia

sẻ với cộng đồng

Trang 13

Bảng 3.1 Sơ đồ theo dõi mô hình điểm Diễn giải Lô I Lô II Lô III Lô IV Lô V Lô VI

Địa điểm thử nghiệm Xã Quyết Thắng, xã Phúc Xuân

Mật độ

Thức ăn

Bảng 3.2 Giá trị dinh dưỡng của thức ăn sử dụng cho gà thử nghiệm

(Theo số liệu ghi trên bao bì)

Giá trị dinh dưỡng

Giai đoạn 1 (1-28 ngày) (Dabaco – D56)

Giai đoạn 2 (29-84 ngày) (Dabaco – D57)

Trang 14

* Phòng và sử dụng vắc-xin

Bảng 3.3 Lịch sử dụng vắc-xin

Gà Địa phương: 50 gà/ lô x 3 (diện tích bãi thả) x 3 lô = 450 con

Gà lai (Ri x Sasso) 50 gà/ lô x 3 (diện tích bãi thả) x 3 lô = 450 con

Tổng là 18 hộ và 900 con gà thử nghiệm

* Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và điều kiện thử nghiệm

- Từ mới nở đến hết 4 tuần tuổi: nuôi nhốt trong chuồng, nền có đệm lót

+ Mật độ chuồng nuôi: 8 con/m2

+ Đệm lót: dùng trấu, độ dày đệm lót trải lần đầu dày 8-10 cm

- Từ 5 tuần tuổi đến kết thúc: ban ngày nuôi trong chuồng + thả vườn, ban đêm nhốt trong chuồng

Theo tiêu chí hộ đã được chọn, bố trí mật độ bãi chăn thả các lô như sau:

Mật độ bãi thả lô I và IV là 2m2/con

Mật độ bãi thả lô II và V là 3m2/con

Mật độ bãi thả lô III và VI là 4m2/con

- Nhiệt độ: các lô thí nghiệm đều có hệ thống cung cấp nhiệt vào những thời gian nhiệt độ xuống thấp, đảm bảo nhiệt độ 1-10 ngày tuổi dưới chụp sưởi 33- 350C

- Máng ăn, máng uống: Giai đoạn 1-10 ngày tuổi sử dụng khay ăn: khay ăn tròn quy chuẩn dùng cho 50 gà và cho uống bằng máng uống tròn 2 lít (50 con/máng) Giai đoạn 14 ngày trở đi thay bằng máng ăn treo tròn với 50 gà/ máng và từ 28 ngày cho uống bằng máng uống tròn 8 lít với 50 gà/ máng

- Chế độ dinh dưỡng: Thức ăn sử dụng của hãng Dabaco

* Thuốc phòng bệnh và tăng sức đề kháng

Trang 15

- Từ 1-5 ngày đầu: Pha nước uống (tính cho 1 lít):

+ Glucoza: 50 g;

+ Colivinavet: 1,5 g;

+ B.Complex: 0,5 g

- Phòng bệnh Cầu trùng bằng Cossistop – ESB3 (theo chỉ dẫn)

- Phòng các bệnh đường hô hấp, tiêu hoá bằng: Colivinavet, Anti CRD

- Dùng vitamin A, D, E, B.Complex vào các ngày sử dụng vắc-xin và kháng sinh

Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu

* Tỷ lệ nuôi sống qua các tuần tuổi

Hàng ngày theo dõi cụ thể tình trạng sức khoẻ và tỷ lệ sống ở tất cả các

lô thí nghiệm, ghi chép chính xác số lượng gà chết Trên cơ sở tính theo tuần và cộng dồn theo công thức sau

Tỷ lệ nuôi sống =

Σ gà cuối kỳ

00

Σ gà đầu kỳ (con )

* Khả năng sinh trưởng

Sinh trưởng tích luỹ

Cân 100 % số gà mỗi lô thí nghiệm lúc mới nở, hàng tuần và lúc kết thúc thí nghiệm Cân vào buổi sáng trước khi cho ăn (chỉ cho uống nước) Cố định loại cân và người cân

Từ kết quả thu được từ khối lượng của gà qua các tuần tuổi, chúng tôi có thể tính được tăng khối lượng tuyệt đối và tăng khối lượng tương đối của gà thí nghiệm

Sinh trưởng tuyệt đối:

A: Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)

R : Sinh trưởng tương đối (%)

P2: Là khối lượng của gà cuối kỳ (g)

P1: Là khối lượng của gà đầu kỳ (g) t: Khoảng cách giữa 2 lần cân (ngày)

Trang 16

* Khả năng sử dụng và chuyển hoá thức ăn

Hàng ngày cân thức ăn để theo dõi về khối lượng thức ăn mà gà ăn hết trong tuần

- Thức ăn tiêu thụ (kg/con/tuần)

TĂ tiêu thụ = Σ khối lượng thức ăn trong tuần (kg)

Số đầu gà bình quân trong tuần (con)

- Thức ăn tiêu thụ cộng dồn (kg/con/tuần)

TĂ tiêu thụ cộng dồn = Σ KL TĂ tiêu thụ tới thời điểm tính (g/con)

Tổng số lượng gà tới thời điểm tính (con)

- Tiêu tốn TĂ/kg tăng khối lượng trong kỳ

TTTĂ/kg tăng khối

lượng trong kỳ =

Σ thức ăn sử dụng trong kỳ (kg)

Σ khối lượng gà tăng trong kỳ (kg)

- Chi phí thức ăn / Kg tăng khối lượng

Chi phí TĂ/kg tăng KL = Σ TTTĂ (kg) x giá thành 1kg Tă (đ/kg)

Σ Khối lượng tăng (kg)

* Đánh giá năng suất và chất lượng thịt

Tiến hành mổ khảo sát ở tại thời điểm kết thúc thí nghiệm theo phương pháp của Bùi Quang Tiến, 1993 [31]

+ Khối lượng sống

Chọn ở mỗi lô thí nghiệm lấy 3 trống và 3 mái có khối lượng tương đương với khối lượng trung bình của mỗi lô Cho nhịn ăn, chỉ cho uống nước 12 giờ, cân lên ta được khối lượng sống

Sau đó tiến hành mổ khảo sát để xác định khối lượng thịt xẻ

+ Khối lượng và tỷ lệ thịt xẻ:

Khối lượng thịt xẻ được xác định như sau :

Sau khi cắt tiết vặt lông, rạch bụng theo lườn bỏ ruột, phổi, khí quản, lá lách, tách mật khỏi gan, lấy thức ăn và lớp màng sừng ra khỏi mề, bỏ mề và gan vào bụng Cắt bỏ đầu ở đoạn xương chẩm ở đốt xương cổ đầu tiên, cắt chân ở đoạn khuỷu (bỏ bàn chân)

cân khối lượng ta xác định được khối lượng thịt xẻ

Tỷ lệ thịt xẻ (%) = Khối lượng thịt xẻ (g) x 100

Khối lượng sống (g)

+ Tỷ lệ cơ đùi:

Khối lượng cơ đùi : Được xác định bởi cơ đùi trái nhân đôi

Cách làm: Rạch một đường cắt từ khớp xương đùi trái song song với xương

sống dẫn đến chỗ xương đùi gắn vào xương mình Lột da đùi, da bụng theo đường phân ranh giới giữa cơ đùi và cơ ngực lớn để rạch một đường cho tách rời ra, cắt bỏ hết da Cắt dọc theo xương chày, xương mác để lấy 2 xương này ra cùng với xương bánh chè và xương sụn, cân khối lượng cơ đùi và nhân đôi ta được khối lượng cơ đùi

Trang 17

Tỷ lệ cơ đùi (%) = Khối lượng cơ đùi trái (g) x 2 x 100

Khối lượng thịt xẻ (g)

+ Tỷ lệ cơ ngực:

Khối lượng cơ ngực: Được tính bằng cơ ngực trái nhân đôi

Cách làm: Rạch một đường dọc theo xương ức, cắt tiếp từ xương đòn đến xương vai, bỏ da từ cơ ngực lớn đến xương vai Lấy cơ ngực lớn và cơ ngực bé ra khỏi xương, cân khối lượng và nhân đôi ta được khối lượng cơ ngực

Tỷ lệ cơ ngực (%) = Khối lượng cơ ngực trái (g) x 2 x 100

Khối lượng thịt xẻ (g)

+ Tỷ lệ cơ ngực và cơ đùi:

Tỷ lệ cơ ngực và cơ đùi

(%) =

Khối lượng cơ đùi + cơ ngực (g) x

100 Khối lượng thịt xẻ (g)

+ Phân tích chất lượng thịt tại Viện khoa học sự sống trường ĐHNLTN để xác định các chỉ tiêu: Vật chất khô, protein, lipit, khoáng tổng số

- Xác định chỉ số sản xuất PI và chỉ số kinh tế EN

+ Chỉ số sản xuất: Chỉ số sản xuất PI (Performance – Index) được tính theo công thức của Ing J M E and Whyte, 1995 [35]

Chi phí trực tiếp (đ/kg) = Tổng chi phí trực tiếp

Tổng khối lượng gà xuất bán (kg)

- Sơ bộ tính giá chi phí trực tiếp và hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế = Tổng thu - tổng chi phí trực tiếp

+ Tổng chi phí trực tiếp bao gồm: chi phí giống, thức ăn, thuốc thú y, các chi phí khác (không tính công lao động)

+ Tổng thu: Là tổng khối lượng gà xuất bán x giá tiền/1kg

Trang 18

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Kết quả điều tra đánh giá thực trạng chăn nuôi gia cầm và dịch bệnh trên đàn gia cầm tại 5 xã miền tây của thành phố Thái Nguyên

4.1.1 Kết quả điều tra số lượng trang trại trên địa bàn

Kết quả điều tra về số lượng trang trại nuôi gà tại địa bàn 5 xã được chúng tôi tổng kết và ghi tại bảng 4.1

Bảng 4.1 Số lượng trang trại trên địa bàn 5 xã

2011, số lượng là 16 trại, trong đó chủ yếu tập trung ở xã Tân Cương với 13 trại, (nơi

có quĩ đất rộng) Xã Quyết Thắng có 3 trại, Thịnh Đức 2 trại, còn hai xã Phúc Trìu và Phúc Xuân không có trại nào 100 % các trại đều là trại gia công nuôi gà thịt thương phẩm cho các công ty CP và Jafa, với qui mô từ 3000 đến 16000 con/ lứa và nuôi Tại các nông hộ, tỷ lệ nuôi gà chuyên thịt (nhập nội) là rất thấp, hầu như không có

4.1.2 Số lượng phiếu điều tra và phương pháp tiến hành

Để có số liệu đánh giá tiềm năng, thực trạng về chăn nuôi gia cầm trong nông

hộ tai 5 xã miền tây của thành phố Thái Nguyên, làm căn cứ để xác định đối tượng

nghiên cứu, chúng tôi đã xây dựng biểu mẫu (xem tại phụ lục 1) và tiến hành điều tra

Sử dụng phương pháp điều tra nhanh nông thôn, trực tiếp xuống hộ chăn nuôi, phỏng vấn chủ hộ để lấy thông tin sau đó về xử lý số liệu

Trước khi tiến hành điều tra, chúng tôi đã thông nhất với Hội Nông dân và Khuyến nông của xã để quyết định số lượng xóm tham gia điều tra và số hộ có thể điều tra của xóm Số lượng phiếu điều tra cụ thể của từng xã được chúng tôi ghi tại bảng 4.2

Mỗi xã chúng tôi tiến hành điều tra 200 hộ (không tiến hành điều tra các trại chăn nuôi gia công trên địa bàn) Để điều tra có kết quả tốt, tại mỗi xóm, chúng tôi đều nhờ sự tư vấn và dẫn đường của trưởng xóm nên công việc diễn ra rất thuận lợi Trong quá trình điều tra, do có kế hoạch và có sự chuẩn bị trước của xomg nên chúng tôi đều gặp trực tiếp chủ hộ, người trực tiếp chăn nuôi và đánh giá hiệu quả chăn nuôi gia cầm

Trang 19

của nhà mình, do đó số liệi thu được có sở cứ và đáng tin cậy Xã có số lượng xóm điều tra nhiều nhất là xã Quyết Thắng (8 xóm), Phúc Trìu là 7 xóm còn 3 xã (Tân Cương, Thịnh Đức và Phúc Xuân) là 6 xóm Số lượng phiếu điều tra/ xóm ít nhất là ở

xã Quyết Thắng (20 phiếu )

Bảng 4.2 Số lượng phiếu điều tra

4.1.3.Kết quả điều tra cơ cấu loại gia cầm tại địa bàn

Kết quả điều tra thực trạng về cơ cấu các loại gia cầm đang được nuôi trong các

hộ tại địa bàn được chúng tôi ghi tại bảng 4.3

Bảng 4.3 Cơ cấu gia cầm trong nông hộ (%) Loài gia

gà sao, chim cút, chiếm tỷ lệ rất thấp 1,5 – 0,5%

Xã có tỷ lệ hộ nuôi gà cao nhất là xã Quyết Thắng và xã Thịnh Đức, dao động

từ 87,5 % đến 89,5 % Tỷ lệ hộ nuôi gà thấp nhất ở xã Phúc Xuân 80 %

Số hộ nuôi vịt nhiều nhất là ở xã Phúc Xuân 28 hộ chiếm tỷ lệ 14% so với số hộ điều tra Do địa hình của xã Phúc Xuân gần hồ Núi Cốc, có nhiều nguồn nước nên bà con nuôi vịt nhiều hơn, tương tự ở xã Phúc Trìu Vịt nuôi tại các hộ chủ yếu là vịt thịt, nuôi theo hướng tận dụng, chưa có sự đầu tư đúng mức về kỹ thuật cũng như kinh phí,

Trang 20

nên hiệu quả chưa cao, qui mô từ vài con đến vài chục con Một vài hộ nuôi vịt lấy trứng nhưng số lượng không đáng kể

Số hộ chăn nuôi ngan nhiều nhất ở xã Tân Cương, 14 hộ nuôi chiếm tỷ lệ 7% so với số hộ điều tra Ngan được nuôi trong các hộ là ngan địa phương (ngan sao), nuôi theo phương thức tận dụng, không đầu tư nên năng suất thấp, người dân cũng không

có mong muốn hạch toán kinh tế trong chăn nuôi ngan Trong quá trình điều tra chúng tôi thấy: trên địa bàn rất ít các hộ nuôi thuỷ cầm đơn thuần, mà thường là nuôi cùng với gà

Tổng số đầu gia cầm điều tra tại thời điểm tháng 7+8 năm 2009 là 37.659 con (không tính gà của các trại gia công) Trong đó thuỷ cầm là 3600 con chiếm 9,56% tổng đàn

Từ kết quả điều tra và qua phân tích chúng tôi thấy: Chăn nuôi gà hiện nay đang

là thế mạnh của các hộ chăn nuôi tại địa bàn (chiếm 85% số hộ điều tra) Do đặc đặc điểm về địa hình bị chia cắt bởi đồi bãi, diện tích mặt nước ít, nên việ phát triển chăn nuôi thuỷ gặp rất nhiều khó khăn Chính vì không có điều kiện để phát triển chăn nuôi thuỷ cầm, nên trên địa bàn không có cơ sở nào cung cấp giống thuỷ cầm (tại thời điểm tiến hành đề tài)

Căn cứ vào tình hình thực tế, rất khó chăn nuôi thuỷ cầm an toàn sinh học, vì tại địa bàn, các hộ chăn nuôi chưa đủ điều kiện để nuôi thuỷ cầm theo phương thức nhốt hoàn toàn Vì vậy chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu của đề tài là con gà Chọn hai xã Phúc Xuân và Quyết Thắng là hai xã có tỷ lệ hộ nuôi gà cao nhất và thấp nhất

để tiến hành xây dựng mô hình mẫu

4.1.4 Kết quả điều tra cơ cấu giống gà tại địa bàn

Kết quả điều tra về cơ cấu giống gà tại địa bàn được ghi tại bảng 4.4 và minh hoạ qua biểu đồ 4.1

Bảng 4.4 Cơ cấu giống gà trong nông hộ (%) Giống

Trang 21

Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ giống/loại gà nuôi tại các xã miền tây TP Thái Nguyên

Kết quả điều tra cho thấy: giống gà trên địa bàn 5 xã chủ yếu là gà địa phương Tĩnh chung, tỷ lệ hộ nuôi gà địa phương chiếm 77,39 %, tỷ lệ hộ nuôi gà lai chiếm 21,15 %, tỷ lệ hộ nuôi gà nhập nội thấp nhất là 1,46 %

Gà địa phương chủ yếu là Ri tạp giao địa phương Tỷ lệ hộ nuôi gà địa phương cao nhất ở xã Phúc Trìu, chiếm 89,72%, thấp nhất ở xã Quyết Thắng (64,02 %), xã Tân Cương (84,23 %), xã Phúc Xuân là (77,66 %), xã Thịnh Đức là 71,34 %

Gà lai chủ yếu là gà Ri lai Tam Hoàng, Ri lai Lương Phượng, Lương Phượng lai Mía Tỷ lệ hộ nuôi gà lai cao nhất ở xã Quyết Thắng (33,95 %), thấp nhất ở xã Phúc Trìu (10,28 %), xã Thịnh Đức (24,54 %), xã Phúc Xuân (22,34 %), xã Tân Cương là 14,63 %

Gà nhập nội chủ yếu là gà nuôi lấy thịt thuộc các giống Ross 308, Hubbard ISA nuôi tại các trại gia công trên địa bàn xã Quyết Thắng và Thịnh Đức, nuôi nhiều con/trại (5000-10.000 con), nhưng ít hộ nuôi Gà Lương Phượng, Sasso, và con lai các giống lông màu nhập nội như Sasso lai Lương Phượng có nhiều hộ nuôi hơn Xã Thịnh Đức có tỷ lệ hộ nuôi gà nhập nội là 4,12 %, xã Quyết Thắng (2,03 %), xã Tân Cương (1,14%), các xã còn lại không có hộ nuôi gà nhập nội

4.1.5 Kết quả điều tra về nguồn cung cấp giống gà

Để có thêm cơ sở đánh giá thực trạng về chăn nuôi gà tại địa bàn và giúp cho việc tư vấn kỹ thuật đạt kêt quả tốt, chúng tôi tiến hành điều ra về nguồn cung cấp giống gà tại các nông hộ, kết quả được ghi tại bảng 4.5

Qua bảng 4.5 cho thấy, nguồn cung cấp giống gà chủ yếu vẫn là tự sản xuất Tính chung, tỷ lệ hộ tự sản xuất giống chiếm cao nhất tới 74,86 %, hộ nuôi gà không

rõ nguồn gốc (15,69 %), hộ nuôi gà có nguồn gốc, địa chỉ rõ ràng là 9,45 %

Các hộ tự sản xuất giống, chủ yếu là gà địa phương tạp giao qua nhiều thế hệ, việc sản xuất giống tự cung, tự cấp, không có cơ sở giống gốc, không có chọn tạo dẫn đến con giống có thể bị đồng huyết làm giảm năng xuất, hiệu quả chăn nuôi gà Xã Phúc Trìu có tỷ lệ hộ tự sản xuất giống cao nhất (89,71 %), xã Tân Cương (86,11 %),

xã Phúc Xuân (68,82 %), xã Thịnh Đức (65,97%), xã Quyết Thắng là 63,69 %

Một số hộ mua gà tại các chợ bán lẻ, hàng rong … không rõ nguồn gốc xuất xứ, không qua kiểm dịch Tỷ lệ hộ nuôi gà không có nguồn gốc ở xã Phúc Xuân là 24,23 %, xã Quyết Thắng (22,08 %), xã Thịnh Đức (14,25 %), xã Tân Cương (13,62 %), xã Phúc Trìu là 4,27 %

Trang 22

Các hộ nuôi gà lai và gà nhập nội lấy từ cơ sở sản xuất đảm bào như công ty giống vật nuôi Thái Nguyên, trung tâm giống gia cầm Thụy Phương … Tỷ lệ hộ mua

gà giống rõ nguồn gốc tại xã Thịnh Đức là 19,78 %, xã Quyết Thắng (14,23 %), xã Phúc Xuân (6,95 %), xã Phúc Trìu (6,02 %), xã Tân Cương là 0,27 %

Bảng 4.5 Nguồn gốc cung cấp giống gà (%) Nguồn gốc

Qua điều tra cho thấy, phương thức chăn thả tự do vẫn là chủ yếu Tính chung,

tỷ lệ hộ nuôi theo phương thức chăn thả tự do là 79,34 %, bán chăn thả là 17,56 %, nuôi nhốt là 3,10 %

Tỷ lệ hộ nuôi chăn thả tự do tại xã Phúc Trìu là 97,55 %; Phúc Xuân (93,54 %); Tân Cương (85,6 %); Quyết Thắng (71,88 %); Thịnh Đức là 48,13 % Phương thức chăn thả tự do đang là nguy cơ lây lan phát tán mầm bệnh, như vậy việc giáo dục, truyền thông chăn nuôi an toàn ở đây làm chưa tốt, mặc dù những địa phương này thuộc địa bàn thành phố Thái Nguyên, rất gần các trường đại học trong đó có Trường Đại học Nông Lâm

Trang 23

Phương thức bán chăn thả và nuôi nhốt gà chiếm tỷ lệ thấp Tỷ lệ hộ nuôi bán chăn thả ở xã Thịnh Đức là 41,56 %; Quyết Thắng (23,67 %); Tân Cương (4,24 %); Phúc Xuân (6,12 %); Phúc Trìu là 2,23 % Tỷ lệ hộ nuôi nhốt ở xã Thịnh Đức là 10,31 %; Quyết thắng (4,45 %); Phúc Xuân (0,34 %); Phúc Trìu (0,22 %); Tân Cương

Biểu đồ 4.3 Tỷ lệ về phương thức chăn nuôi gà tại các xã miền tây TP Thái Nguyên

4.1.7 Kết quả điều tra về quy mô đàn gà trong nông hộ

Bảng 4.7 Quy mô đàn gà trong nông hộ (%)

Quy mô

50 – 100 con

100 – 150 con

150 – 200 con > 200 con

Trang 24

Qua điều tra trên cả 5 xã cho thấy, hộ nuôi dưới 50 con chiếm tỷ lệ cao, 44,25 %; 50 – 100 con là 24,69 %; 100 – 150 con là 17,17 %; 150 – 200 con là 10,22 %; nhiều hơn 200 con là 3,67 %

Tỷ lệ hộ có quy mô đàn từ 150 con trở lên chiếm tỷ lệ thấp Chăn nuôi gà chủ yếu là nhỏ lẻ, chăn nuôi gà chưa trở thành nguồn thu nhập chính Đầu tư thấp, chủ yếu phục vụ nhu cầu tự cung tự cấp thực phẩm, cải thiện bữa ăn hàng ngày

Hiện nay, một số hộ đã phát triển chăn nuôi gà thành quy mô trang trại với số lượng 3000 – 16.000 con gà tại xã Quyết Thắng và xã Thịnh Đức, Tân Cương Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, giao thông thuận tiện, nằm xa khu đông dân cư, những xã phía Tây có tiềm năng phát triển chăn nuôi gà với quy mô trang trại

4.1.9 Tình hình mắc bệnh trên đàn gà

Qua điều tra cả 5 xã cho thấy, gà thường bị mắc một số bệnh như: Cầu trùng, Salmonella, Hen gà, Tụ huyết trùng, các bệnh do virus gây ra như Newcastle, Đậu gà mắc với tỷ lệ thấp Tỷ lệ hộ nuôi gà bị bệnh Cầu trùng là 71,56 %; bệnh Salmonella là 59,56 %; bệnh Hen gà là 46,35%; bệnh Tụ huyết trùng là 38,78%; bệnh Đậu gà là 20,44%; bệnh Newcastle là 13,2 %

Đối với bệnh Salmonella và E Coli; chúng tôi tiến hành lấy mẫu, kiểm tra xác

định tỷ lệ nhiễm, nuôi cấy vi khuẩn để xác định những đặc tính sinh hoá học để phân biệt các chủng vi khuẩn, xác định độc lực của các chủng vi khuẩn gây bệnh trên đàn gà

Trang 25

và xác định khả năng kháng kháng sinh của các chủng S gallinarum và S pullorum và

E coli , kết quả cụ thể như sau:

Số mẫu dương tính

Tỷ lệ nhiễm (%)

Số mẫu kiểm tra

Số mẫu dương tính

Tỷ lệ nhiễm (%)

Trang 26

Bảng 4.11: Kết quả xác định khả năng kháng kháng sinh của các chủng

Riêng 3 loại kháng sinh là Cephalexin (Cp), Gentamycin (Ge), Norfloxacin

(Nr) toàn bộ 4 chủng S gallinarum, S pullorum trên đều mẫn cảm, chiếm tỷ lệ 100 %,

trong đó Norfloxacin (Nr) có đường kính vòng vô khuẩn lớn nhất, có khả năng tiêu

diệt tốt các chủng S gallinarum, S pullorum

Sức đề kháng đối với một số loại kháng sinh thông dụng Oxacillin (Ox),

Clindamycin (CL), Penicillin, Streptomycin… của các chủng S gallinarum và S pullorum qua kiểm tra cũng trùng với nhận xét của Gyles và Thoen (1993) [19] về vi

khuẩn Salmonella: Salmonella có khả năng đề kháng với hầu hết các loại kháng sinh

đang sử dụng hiện nay như Streptomycin, Tetracycline, Sulfonamid và một tỷ lệ cao

các chủng Salmonella đề kháng với Ampicillin, Kanamycin, Neomycin, Chloramfenicol… Khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn nói chung và Salmonella

nói riêng là một yếu tố duy trì bản chất gây bệnh của vi khuẩn đối với người và gia súc

Kháng sinh

Đường kính vòng vô khuẩn (mm) Kháng thuốc Mẫn cảm

Chủng M1-3R1

Chủng M10-12R1

Chủng M1-3L1

Chủng M10- 12L1 n

Tỷ lệ (%) n

Tỷ lệ (%)

Trang 27

Bệnh E coli

Bảng 4.12: Kết quả nuôi cấy và phân lập vi khuẩn E.coli từ mẫu phân gà nghi

mắc bệnh Đối tượng Số mẫu kiểm tra Số mẫu

dương tính Tỷ lệ (%)

Từ kết quả trên cho thấy:

E.coli có trong các mẫu phân của gà nghi mắc bệnh tương đối cao, chiếm tỷ lệ 86,66 % ở cả hai loại gà

Ở gà địa phương, phân lập 15 mẫu phân gà nghi mắc bệnh có 12 mẫu dương tính chiếm tỷ lệ 80 %

Ở gà lai, phân lập 15 mẫu phân gà nghi mắc bệnh có 14 mẫu dương tính chiếm

tỷ lệ 93,33%

Xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn E.coli phân lập được

Sau khi phân lập và xác định độc lực các chủng vi khuẩn E.coli lấy từ mẫu phân

của gà nghi mắc bệnh, chúng tôi tiến hành xác định khả năng mẫn cảm với một số

kháng sinh của vi khuẩn E.coli kết quả được ghi tại bảng 4.13

Bảng 4.13: Xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn E.coli

phân lập được

Kháng sinh

Số mẫu thử

Độ mẫn cảm của E.coli với một số kháng sinh

Tỷ lệ kháng (%)

Rất mẫn cảm

Mẫn cảm trung bình

Mẫn cảm yếu Kháng

Trang 28

Qua bảng 4.13 ta thấy những chủng E.coli phân lập được rất mẫn cảm với

Norfloxacin chiếm 9/10 mẫu và chỉ có 1 mẫu mẫn cảm trung bình Đối với Cephalexin

có 6 chủng rất mẫn cảm (6/10), 2 mẫu mẫn cảm trung bình và 1 mẫu kháng, tỷ lệ kháng chiếm 10 % Thuốc Gentamicin có 6 chủng rất mẫn cảm, 3 chủng mẫn cảm trung bình và 1 chủng mẫn cảm yếu, không có chủng nào kháng lại thuốc (0 %) Các thuốc còn lại có tỷ lệ kháng thuốc khá cao như: Oxacillin, Clindamycin (100 %), Trimethoprim (60 %)

4.1.9.2 Bệnh ký sinh trùng

Bệnh giun tròn

Do chăn thả tự do cho nên gà thường mắc các bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa như giun tròn, sán dây, Cầu trùng… Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm giun tròn ở gà được thể hiện ở bảng 4.14

Qua bảng 4.14 cho ta biết tỷ lệ nhiễm giun tròn nói chung và tỷ lệ nhiễm từng loại giun nói riêng Tỷ lệ nhiễm giun tròn trên đàn gia cầm của các xã này tương đối cao ( 70,53%) Kết quả xét nghiệm cho thấy tỷ lệ mắc giun ở 5 xã là tương đương nhau sự chênh lệch là không lớn, nguyên nhân là do cả 5 xã có tập quán chăn nuôi và điều kiện tự nhiên gần giống nhau Trong các mẫu đã xét nghiệm thì tỷ lệ mắc giun đũa là cao nhất ( 52,24%) và tỷ lệ nhiễm giun kim là thấp nhất (20,39%) còn tỷ lệ nhiễm giun tóc là (41,18%)

Bảng 4.14: Tỷ lệ nhiễm giun tròn ở gà nuôi trong nông hộ theo khu vực

(qua xét nghiệm phân)

Xã Tỷ lệ nhiễm (%)

Tỷ lệ nhiễm từng loại Giun đũa Giun kim Giun tóc

Trang 29

Bảng 4.15: Cường độ nhiễm nhiễm giun tròn ở gà tại 5 xã

Loại giun tròn

Số mẫu nhiễm từng loại

Cường độ nhiễm

Giun đũa 397 251 63,22 98 24,68 44 11,08 4 1,01 Giun kim 155 120 77,42 20 12,90 13 8,39 2 1,29 Giun tóc 313 153 48,88 69 22,04 82 26,20 9 2,88

Tính chung 865 524 60,58 187 21,62 139 16,07 15 1,73

Kết quả bảng 4.15 cho thấy tỷ lệ nhiễm ở cường độ nhiễm (+) là 60,58 %, trong khi đó tỷ lệ nhiễm ở các cường độ nhiễm (++), (+++), (++++) lần lượt là 21,62 %, 16,07 % và 1,73 % Điều này hoàn toàn phù hợp với khả năng đáp ứng miễn dịch của gà

Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở gà tại 5 xã Phúc Xuân - Phúc Trìu

- Tân Cương - Quyết Thắng - Thịnh Đức - TP Thái Nguyên

Bằng phương pháp gạn rửa sa lắng chúng tôi đã phát hiện những mẫu nhiễm sán dây Đếm số đốt sán/lần thải phân, chúng tôi đã xác định được cường độ nhiễm của mỗi gà Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây được thể hiện qua bảng 4.16

Bảng 4.16: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán dây ở gà thả vườn tại 5 xã

(Qua xét nghiệm mẫu phân)

Xã kiểm tra Số mẫu Số mẫu nhiễm Tỷ lệ nhiễm (%)

Cường độ nhiễm (SĐS/lần thải phân)

≤10 >10 - 20 >20 - 40 >40

Quyết

Thắng 152 53 34,87 31 58,49 13 24,53 6 11,32 3 5,66 Phúc Xuân 152 57 37,50 36 63,16 16 28,07 5 8,77 0 0 Phúc

Trìu 152 51 33,55 29 56,86 15 29,41 5 9,80 2 3,92 Tân

Cương 152 67 44,08 35 52,24 23 34,33 7 10,45 1 1,49 Thịnh Đức 152 59 38,82 33 55,93 20 33,90 4 6.78 1 1,69

Tính

chung 760 287 37,76 164 57,14 87 30,31 27 9,41 7 2,44

Kết quả ở bảng 4.16 cho thấy:

- Về tỷ lệ nhiễm: Trong tổng số 760 mẫu phân gà kiểm tra có 287 mẫu nhiễm sán dây, chiếm tỷ lệ chung là 37,76 %, biến động từ 33,55 - 44,08 % Tỷ lệ này khác nhau giữa các xã, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều điện nuôi dưỡng, địa hình, tình

Trang 30

trạng vệ sinh thú y, thời tiết khí hậu Do điều kiện địa hình đồi núi, kinh tế gặp nhiều khó khăn, tập quán chăn nuôi còn lạc hậu, trình độ hiểu biết còn hạn chế; nên đa số người dân vẫn còn chăn nuôi với phương thức tận dụng, điều kiện vệ sinh thú y không đảm bảo nên tỷ lệ nhiễm sán dây ở các xã đều tương đối cao

- Về cường độ nhiễm:

Gà ở 5 xã nghiên cứu đều nhiễm sán dây ở cường độ nhẹ đến rất nặng Tính chung, trong tổng số 287 mẫu phân của gà bị nhiễm sán dây, có 164 mẫu nhiễm ở mức +, chiếm tỷ lệ 57,14 %; 87 mẫu nhiễm ở mức ++, chiếm tỷ lệ 30,31 %; 27 mẫu nhiễm

ở mức +++, chiếm tỷ lệ 9,41%; 7 mẫu nhiễm mức ++++, chiếm 2,44 % Kết quả nghiên cứu này của chúng tôi phù hợp với nhận xét của Nguyễn Thị Kim Lan và cs

1999 [4] Theo Phan Thị Hồng Phúc, 2007 [12], tỷ lệ nhiễm giun đũa ở gà khi kiểm tra mẫu phân tại xã Quyết Thắng là 55,79 %, đặc biệt vụ Xuân – Hè tỷ lệ mắc giun đũa

là 70,75 %

Bệnh Cầu trùng:

Bằng phương pháp Fulleborn, chúng tôi đã xét nghiệm mẫu phân gà thu thập từ các hộ nuôi gà ở 5 xã của thành phố Thái Nguyên kết quả về tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng gà ở các địa điểm kiểm tra cho thấy: Tỷ lệ nhiễm Cầu trùng trên gà lai nuôi tại 5 xã rất cao, trung bình là 71,56 % Trong đó tỷ lệ nhiễm cao nhất ở xã Phúc Trìu (8367 %) và thấp nhất ở xã Thịnh Đức (55,67 %) Xã Quyết Thắng, Phúc Xuân và Phúc Trìu có tỷ lệ nhiễm là gần như nhau

Nguyên nhân chủ yếu là do phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, thả rông, không đảm bảo an toàn sinh học trong chăn nuôi nên dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra, gây tổn thất lớn về kinh tế cho hộ gia đình

Kết quả điều tra thực trạng chăn nuôi, thú y trên đàn gà của 5 xã phía Tây thành phố Thái Nguyên cho thấy: Gà địa phương là chủ yếu, chiếm tỷ lệ cao nhất 77,39 %,

gà nhập nội chiếm tỷ lệ thấp nhất, chỉ là 1,46 %, gà lai chiếm tỷ lệ 21,15 % Con giống chủ yếu là tự sản xuất (74,86 %) hoặc mua qua tư thương không rõ nguồn gốc, không qua kiểm dịch (15,69 %) Phương thức chăn nuôi chủ yếu là chăn thả tự do chiếm 79,34 %, bán chăn thả và nuôi nhốt chiếm tỷ lệ thấp, lần lượt là 17,56 % và 3,10 % Số

hộ có quy mô đàn từ 1 – 50 con chiếm tỷ lệ cao (44,25 %), quy mô đàn trên 200 con chiếm tỷ lệ thấp (3,67 %) Vấn đề áp dụng quy trình phòng bệnh cho đàn gà còn hạn chế, số đông các hộ chưa tổ chức chăn nuôi an toàn sinh học, tỷ lệ tiêm chủng các loại vắc-xin phòng bệnh thường gặp cho đàn gà còn thấp từ 43,40 % vắc-xin Newcastle đến 5,25 % vắc-xin Gumboro, đàn gà bị mắc các bệnh thông thường với tỷ lệ khá cao,

từ 13,2 % bệnh Newcasstle đến 71,56% bệnh Cầu trùng gà

Từ kết quả điều tra thu được và qua phân tích chúng tôi thấy: Chăn nuôi gà của

cả 5 xã phía Tây còn nhiều hạn chế Muốn phát triển chăn nuôi gà an toàn sinh học, có hiệu quả kinh tế và bền vững, cần đẩy mạnh công tác khuyến nông tập huấn kỹ thuật chăn nuôi gà an toàn cho nông hộ, vận động, tuyên truyền thực hiện 3 nguyên tắc của

an toàn sinh học là cách ly, làm sạch và khử trùng, cùng với việc gắn kết phối hợp dịch

Trang 31

vụ con giống, thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y của các cơ sở uy tín, tin cậy thành phố Thái Nguyên với chính quyền và nhân dân địa phương; vận động tuyên truyền gắn với

xử lý hành chính trong việc tập thể và cá nhân thực hiện Pháp lệnh thú y

4.2 Kết quả về tập huấn, tuyên truyền và xây dựng quy định của cộng đồng về chăn nuôi an toàn sinh học

Song song với việc điều tra đánh giá thực trạng về chăn nuôi gà tại 5 xã, chúng tôi kết hợp với UBND các xã mở các lớp tập huấn Nội dung tập huấn nhằm nâng cao hiểu biết về tác dụng và nội dung của an toàn sinh học trong chăn nuôi Thành viên lớp tập huấn là các nông hộ trong xã có nhu cầu phát triển chăn nuôi Sau khi đánh giá nhu cầu, chúng tôi xây dựng kế hoạch tập huấn đáp ứng với nguyện vọng của đại đa số hộ tham gia

Với sự trợ giúp của Hội Nông dân, Khuyến nông và UBND các xã, chúng tôi đã

mở được 4 lớp tập huấn với 110 người tham gia

Nội dung tập huấn bao gồm:

Khái niệm, nội dung và nguyên tắc của an toàn sinh học trong chăn nuôi gà

Kỹ thuật chăn nuôi gà an toàn sinh học tại nông hộ,

Quy trình phòng trừ dịch bệnh trong chăn nuôi gà tại nông hộ

Số tài liệu phát tay cho người dân là 110 bản, 12 trang/ tài liệu Qui trình đã được hội đồng cơ sở nghiệm thu (phụ lục 4)

Các hộ chăn nuôi sau khi tham gia tập huấn rất phấn khởi và tự tin đầu tư cho chăn nuôi

Sau khi tập huấn chúng tôi tổ chức đánh giá kiến thức sau tập huấn cho các học viên qua phiếu đánh giá (phụ lục 5), kết quả được ghi tại bảng 4.17

Bảng 4.17: Kết quả đánh giá sau tập huấn

Trang 32

Kết quả đánh giá sau tập huấn cho thấy: 100% học viên tham dự đều đánh giá mục tiêu lớp tập huấn là rấ phù hợp, dễ áp dụng ở gia đình, không khí của lớp tập huấn thoải mái, dễ tiếp thu

Kết quả đánh giá về kiến thức sau tập huấn của các học viên đạt khá cao 100% đạt yêu cầu trong đó loại giỏi chiếm 77,27 %; loại khá chiếm 17,27% và loại trug bình

là 5,4%

Về kiến thức chăn nuôi của các học viên tham gia lớp tập huấn còn thiếu rất nhiều, tính cố hữu của người dân về chăn nuôi gia cầm theo phương thức cũ còn in rất đậm ở một số học viên Nhiều học viên trước khi tập huấn không tự tin để đầu tư chăn nuôi gà vì sợ có nhiều rủi ro Nhiều hộ mua gà bán rong trên thị trường về nuôi bị thất bại nên chán nản không chú ý đến đầu tư đúng mức cho chăn nuôi gà

Trong quá trình điều tra và thực hiện đề tài, chúng tôi có nhận xét: xã Tân Cương với đặc thù là xã có diện tích chè rộng nhất, người dân chủ yếu thu nhập từ cây chè, chè trồng ở khắp nơi, không có vườn cây ăn quả và vườn tạp Chăn nuôi gia cầm

ở đây không được người dân chú ý đầu tư, do thường xuyên phải phun thuốc bảo vệ thực vật cho cây chè, nên ảnh hưởng rất nhiều đến gia cầm nói chung và con gà nói riêng (vì không thể thả gà, vịt ở vườn chè ) Chính vì vậy, việc phát triển chăn nuôi

gà (trừ các trại gia công cho các công ty nước ngoài) ở xã Tân Cương khó khăn hơn các xã khác trong khu vực Chúng tôi đã giúp các xã xây dựng bản thảo "Quy định về chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học", tài liệu được cán bộ chuyên môn, chính quyền, nhân dân địa phương đọc và góp ý; sau đó tài liệu được tiếp thu, sửa chữa, bổ sung, hoàn thiện, trở thành tài liệu của Xã ban hành, áp dụng cho chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học tại địa phương (phụ lục 3)

4.3 Kết quả xây dựng mô hình mẫu

Căn cứ vào tình hình thực tế (điều kiện bãi thả, kinh tế và kiến thức, trách nhiệm ) của từng hộ, chúng tôi lựa chọn hộ tham gia mô hình theo 3 tiêu chí (về điều kiện vườn thả) Các hộ tham gia mô hình đều có cam kết thực hiện nghiêm thúc qui trình chăn nuôi an toàn sinh học và sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm cho công đồng Chúng tôi chọn 3 hộ/ mật độ bãi thả/ một loại gà, tổng số hộ tham gia mô hình là 18

hộ Mục tiêu là chọn được mô hình tốt nhất để khuyến cáo với các hộ chăn nuôi trong khu vực Kết quả của các mô hình thử nghiệm được chúng tôi theo dõi và tổng hợp như sau:

4.3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thử nghiệm

Trang 33

Tỷ lệ nuôi sống là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng cần được quan tâm đầu tiên, phản ánh sức sống, tình trạng sức khoẻ khả năng chống chịu bệnh tật, khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh của gia cầm, nó phụ thuộc vào yếu tố di truyền Muốn đạt tỷ lệ nuôi sống cao cần phải có giống tốt, thực hiện nghiêm túc quy trình vệ sinh thú y, phòng trừ dịch bệnh, đảm bảo cho con giống phát huy hết được tiềm năng

di truyền Tỷ lệ nuôi sống của gà thử nghiệm được thể hiện ở bảng 3.18

Qua số liệu ở bảng 3.18 cho thấy, gà lai và gà địa phương có tỷ lệ nuôi sống đạt khá cao Tỷ lệ nuôi sống của gà địa phương (96,00 – 96,67 %) cao hơn so với gà lai (94,67 – 95,33 %), xong sự sai khác này không rõ rệt, không có ý nghĩa trong thống kê (P> 0,05)

Qua thử nghiệm cho thấy, mật độ bãi thả từ 2 – 4m2 không có ảnh hưởng đến tỷ

lệ nuôi sống của gà thí nghiệm Gà thí nghiệm thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên của Thái Nguyên Chúng nuôi đã thực hiện nghiêm ngặt từ khâu vệ sinh chuồng trại, dụng

cụ chăm nuôi, quy trình chăm sóc, vệ sinh thú y, phòng bệnh cho nên gà thí nghiệm đã đạt được tỷ lệ nuôi sống cao

So sánh kết quả này với tỷ lệ nuôi sống của gà Sasso nuôi tại Thái Nguyên thì

tỷ lệ nuôi sống của gà lai cao hơn hẳn gà Sasso (92,5%) (Nguyễn Khánh Quắc và cộng

sự, 1998) [16], song lại thấp hơn kết quả nghiên cứu của Hoàng Thị Hồng Nhung,

2008 [9]

Kết quả của chúng tôi tương đương với kết quả nghiên cứu trên gà lai ¾ Lương Phượng và ¾ Ri nuôi trong nông hộ của Nguyễn Thị Thuý Mỵ 2008[5], Gà lai Ri Lương Phượng của Phùng Hữu Trung ,2004 [32]

Trang 34

4.18 Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của gà thử nghiệm (%) (n = 3 đàn)

Tuần

tuổi

Trang 35

4.3.2 Kết quả theo dõi về khả năng sinh trưởng

4.3.2.1 Sinh trưởng tích lũy

Kết quả sinh trưởng tích lũy của gà thử nghiệm được thể hiện tại bảng 3.19a, bảng 3.19 b và hình 3.4

Qua bảng số liệu 3.19 a cho thấy, khối lượng của gà địa phương thấp hơn hẳn

so với khối lượng gà lai khi cùng nuôi trong điều kiện, phương thức giống nhau Khối lượng gà lai tính chung cho 3 lô thí nghiệm là 1990,1 g, khối lượng gà địa phương tính chung cho 3 lô thí nghiệm là 1268,3 g Sự sai khác này là rất rõ rệt, có ý nghĩa trong thống kê (P<0,001)

Qua bảng 3.19 b cho thấy, với mật độ bãi chăn thả bằng nhau, khối lượng gà lai cao hơn khối lượng gà địa phương, sự sai khác này có ý nghĩa trong thống kê Ở mật

độ 2 m2/con, khối lượng gà lai là 2022,1 g, khối lượng gà địa phương là 1231,1 g; Ở mật độ 3 m2/con, khối lượng gà lai là 1984,8 g, khối lượng gà địa phương là 1271,2 g;

Ở mật độ 4 m2/con, khối lượng gà lai là 1963,4 g, khối lượng gà địa phương là 1302,6

g

Tại thời điểm 12 tuần tuổi, khối lượng gà lai ở mật độ bãi thả 2m2/con đạt cao nhất (2022,1g), tiếp đến mật độ bãi thả 3m2/con (1984,8g), thấp nhất là mật độ bãi thả 4m2/con, đạt 1963,4g Khối lượng gà lai ở mật độ bãi thả 2m2/con và 4m2/con sai khác có ý nghĩa trong thống kê (P< 0,05)

Kết quả thử nghiệm trên gà địa phương ở 3 mật độ bãi thả cho thấy, gà địa phương nuôi ở mật độ bãi thả càng cao thì khối lượng cơ thể có xu hướng tăng lên Kết thúc 12 tuần tuổi, khối lượng của gà địa phương ở mật độ bãi thả 4m2/con là cao nhất (1302,6g), tiếp đến mật độ bãi thả 3m2/con (1271,2 g), thấp nhất là mật độ bãi thả 2 m2/con (1231,2 g) Sự sai khác về khối lượng ở của gà nuôi ở mật độ bãi thả 2m2/con và 4m2/con là khá rõ rệt, có ý nghĩa trong thống kê (P< 0,01)

Khối lượng gà thử nghiệm của chúng tôi, thấp hơn kết quả nghiên cứu trên gà Kabir x Lương Phương của Trần Công Xuân và cộng sự, 2001[34], tương đương với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Thưởng và cộng sự, 2004 [24]

So sánh với kết quả thí nghiệm nuôi gà Sasso của Bế Kim Thanh, 2002, [20]; Trần Thanh Vân 2002 [33], Nguyễn Thị Hải, 2009 [1] thì gà lai có khối lượng thấp hơn gà Sasso thuần, mức độ chịu ảnh hưởng của mật độ bãi chăn thả của gà lai rõ rệt hơn gà Sasso thuần

Trang 36

Bảng 4.19 a Ảnh hưởng của mật độ bãi thả đến sinh trưởng tích lũy của gà thử nghiệm (n = 3 đàn)

TT

F1 (♂ Ri x ♀ Sasso) Gà Địa phương

2 m 2 /con 3 m 2 /con 4 m 2 /con Tính chung 2 m 2 /con 3 m 2 /con 4 m 2 /con Tính chung

Trang 37

Bảng 4.19 b Sinh trưởng tích luỹ của gà thử nghiệm theo mật độ bãi thả (n = 3 đàn)

TT

Trang 38

Sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm được thể hiện rõ hơn trong đồ thị sinh trưởng được thể hiện ở hình 4.4

Hình 4.5 Đồ thị sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi

Qua hình 3.4 cho thấy đồ thị sinh trưởng tích luỹ của gà lai cao hơn so với gà địa phương Trong những tuần đầu tiên, sinh trưởng của gà thí nghiệm tăng chậm, sau

đó tăng nhanh ở những tuần từ thứ 5 –kết thúc

4.3.2.2 Sinh trưởng tuyệt đối

Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát Để đánh giá chính xác về sinh trưởng của

gà qua từng tuần tuổi, so sánh sinh trưởng giữa các công thức với nhau, chúng tôi tiến hành tính sinh trưởng tuyệt đối Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm được thể hiện

ở bảng 4.20a, bảng 4.20 b

Qua bảng 4.20a cho thấy, sinh trưởng tuyệt đối của gà lai cao hơn so với gà địa phương Tính chung, sinh trưởng tuyệt đối của gà lai và gà địa phương lần lượt là 23,24 g/con/ngày, 14,74 g/con/ngày Sự sai khác này là rất rõ rệt, có ý nghĩa trong

Trang 39

thống kê (P<0,001)

Ở gà lai, sinh trưởng tuyệt đối tính chung từ tuần 1 – 12 tuần tuổi cho của gà ở mật độ bãi thả 2 m2/con là cao nhất (23,64 g/con/ngày), thấp nhất là gà ở mật độ bãi thả 4 m2/con (22,93 g/con/ngày) Sự sai khác sinh trưởng tuyệt đối của gà ở mật độ bãi thả 2m2/con và 4 m2/con là rõ rệt, có ý nghĩa trong thống kê (P<0,05)

Ở gà địa phương, tính chung từ 12 tuần tuổi, sinh trưởng tuyệt đối của gà ở mật

độ bãi thả 2 m2/con, 3 m2/con, 4 m2/con lần lượt là 14,29g/con/ngày, 14,76 g/con/ngày, 15,15 g/con/ngày Sinh trưởng tuyệt đối của gà địa phương có xu hướng tăng khi mật

độ bãi thả tăng Sự sai khác sinh trưởng tuyệt đối giữa gà nuôi ở mật độ bãi thả 2

m2/con và 4 m2/con là khá rõ rệt, có ý nghĩa trong thống kê (P<0,01)

Điều này chứng tỏ rằng, mật độ bãi chăn thả khác nhau ảnh hưởng tốc độ sinh trưởng của cả gà lai và gà địa phương Ở gà lai, mật độ bãi chăn thả tăng làm giảm tốc

độ sinh trưởng tuyệt đối Nguyên nhân là do mật độ bãi thả càng cao, gà vận động càng nhiều, tiêu hao nhiều năng lượng, làm giảm sinh trưởng tuyệt đối của gà Đối với

gà địa phương, đặc điểm sinh lý khác so với gà lai, gà địa phương thích hợp với mật

độ bãi thả cao Sinh trưởng tuyết đối của tất cả các lô gà thí nghiệm đều tăng đến 8 hoặc 9 tuần tuổi, sau đó bắt đầu giảm đến 12 tuần tuổi Nếu căn cứ vào chỉ tiêu sinh trường tuyệt đối thì thời điểm xuất bán gà thích hợp nhất là lúc 9 tuần tuổi Tuy nhiên, thời điểm giết mổ gà còn phụ thuộc vào khối lượng gà và thị hiếu của người tiêu dùng

Tại thời điểm 12 tuần tuổi khối lượng cũng như chất lượng thịt của gà địa phương chưa đủ tiêu chuẩn sử dụng, chưa được người tiêu dùng chấp nhận, do đó thời gian nuôi gà địa phương còn phải kéo dài thêm có thể đến 4 hoặc 5 tuần nữa

So sánh với kết quả nghiên cứu của Hoàng Thị Hồng Nhung, 2008 [9] trên gà Sasso nuôi bán chăn thả, cho thấy sinh trường tuyệt đối của gà lai thấp hơn gà Sasso ở các tuần tương đương Sinh trưởng tuyệt đối của gà Sasso bán chăn thả thấp hơn gà Sasso nuôi nhốt hoàn toàn

So sánh với kết quả nghiên cứu của Bế Kim Thanh, 2002 [20] cho thấy kết quả tương tự, mật độ bãi thả tỷ lệ nghịch với sinh trưởng tuyệt đối

Ngày đăng: 11/10/2017, 09:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w