1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở thái nguyên năm 2010 2013 (tt)

24 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 754 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy để đánh giá chính xác hơn sự phát triển của từng cáthể theo thời gian, nhất là ở cơ thể trẻ có sự thay đổi mạnh lúc dậythì, và để cung cấp dữ liệu khoa học cho việc hoạch định chính

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tại Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu về chỉ số sinhhọc ở các trẻ em lứa tuổi học sinh, trong đó có trên học sinh ở tỉnhThái Nguyên Nhìn chung, các nghiên cứu đó được tiến hành đã khálâu, hoặc chưa phản ánh đầy đủ về các chỉ số sinh học của các Dântộc thuộc các địa bàn vùng sâu, vùng xa Các nghiên cứu hầu như chỉđược tiến hành theo phương pháp điều tra ngang, rất ít nghiên cứutheo dõi dọc Vậy để đánh giá chính xác hơn sự phát triển của từng cáthể theo thời gian, nhất là ở cơ thể trẻ có sự thay đổi mạnh lúc dậythì, và để cung cấp dữ liệu khoa học cho việc hoạch định chính sách,chăm sóc sức khỏe cho thế hệ trẻ thì cần có các nghiên cứu về đặcđiểm sinh học của trẻ em lứa tuổi học sinh

2 Mục tiêu của đề tài

1 Mô tả đặc điểm hình thái và chức năng của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở một số trường thuộc tỉnh Thái Nguyên năm 2010.

2 Phân tích sự thay đổi hình thái, chức năng tim mạch của đối tượng nghiên cứu trong thời gian 2010-2012

3 Xác định mối liên quan giữa các chỉ số được nghiên cứu

và mối liên quan giữa một số chỉ số hình thái, chức năng với mức độ biểu hiện gen kiss và nồng độ hormon của học sinh nữ lứa tuổi 12 đến 16

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận án đã xác định được thực trạng và đặc điểm một số chỉ

số hình thái, chức năng hệ tim-mạch, máu, thần kinh và hormon liênquan tới sự tăng trưởng của học sinh dân tộc Kinh, Nùng từ 12 đến

16 tuổi của tỉnh Thái Nguyên Những số liệu này chưa được công bố

Trang 2

trong vòng 15 năm trở lại đây, và có thể là tài liệu tham khảo cho cácnghiên cứu khác.

Tốc độ tăng trưởng không đều của học sinh qua các lớp tuổi

và giữa các phần của cơ thể (thân, chân); một số thay đổi chức năng

hệ tim-mạch, máu ở học sinh nữ giai đoạn tiền dậy thì và dậy thì; là

cơ sở để có thể đề xuất các giải pháp can thiệp (tổ chức giáo dục, rènluyện thể chất, chăm sóc sức khỏe…) phù hợp theo mỗi giai đoạnphát triển của trẻ, giúp trẻ phát triển toàn diện

Việc xác định được sự phù hợp giữa thay đổi các chỉ số hìnhthái và chức năng tim-mạch, thần kinh; mối tương quan giữa các chỉ

số hình thái và hormon đến sự tăng trưởng; giữa kết quả học tập vớithời gian phản xạ thị giác vận động, khả năng chú ý và trí nhớ giúpcho việc vận dụng trong thực tiễn công tác dạy học và tạo môi trườnggiáo dục thuận lợi cho việc học tập của trẻ em đạt hiệu quả tốt hơn

Bước đầu xác định được gen kiss có sự thay đổi theo độ tuổidậy thì Đây là gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo về sự liên quangiữa gen kiss với tuổi dậy thì

3 Cấu trúc luận án

Luận án được trình bày trong 135 trang (không kể tài liệutham khảo và phụ lục) Luận án gồm 7 phần: đặt vấn đề (3 trang);Tổng quan tài liệu (26 trang); Đối tượng và phương pháp nghiên cứu(19 trang); Kết quả nghiên cứu (51 trang); Bàn luận (32 trang); Kếtluận (3 trang); Kiến nghị (1 trang)

Luận án gồm 44 bảng, 16 biểu đồ và hình Sử dụng 48 tàiliệu tham khảo tiếng Việt và 81 tài liệu tiếng nước ngoài

Phần phụ lục gồm phiếu nghiên cứu, chi tiết phương phápđịnh lượng gen kiss, (33 bảng) bảng số liệu nghiên cứu của đề tài và

so sánh với các tác giả khác

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Khái quát chung về tuổi sinh học của lứa tuổi 12 đến 16

Theo Nguyễn Quang Quyền học sinh tuổi 12 đến 16 là giai đoạnchuyển tiếp giữa thiếu nhi lớn và thiếu niên Theo Tạ Thúy Lan thì trẻ 12-

16 tuổi thuộc tuổi học sinh lớn hay tuổi dậy thì Như vậy, sự phân chia nàychỉ mang tính chất tương đối, nhưng ở giai đoạn học sinh lớn, sự xuất hiệntuổi dậy thì là mốc quan trọng nhất

1.2 Cơ chế xuất hiện tuổi dậy thì

Yếu tố khởi phát tuổi dậy thì vẫn được giả thuyết là do sự trưởngthành của vùng limbic (hệ viền) đã kích hoạt và phát động hoạt độngchức năng của trục vùng dưới đồi-tuyến yên-tuyến sinh dục

Hiện nay, nhiều nghiên cứu đã cho thấy, gen kiss được sản xuất

ra chủ yếu ở vùng dưới đồi được cho là có liên quan đến sự xuất hiện tuổi dậy thì Năm 2003, các nghiên cứu đã công nhận kisspeptin cần thiết

cho việc bắt đầu tuổi dậy thì ở người và chuột Một nghiên cứu khác đãcông bố, kisspeptin huyết thanh (do gen kiss sản xuất) có tương quan với

sự tăng hormon LH, FSH và testosteron ở cả trẻ trai và trẻ gái tuổi dậy thì.Năm 2009, Clarkson J và cộng sự đã đưa ra giả thuyết về mối liên quangiữa estradiol với kisspeptin trong khởi phát tuổi dậy thì Ali A chứngminh được kisspeptin còn có vai trò duy trì khả năng sinh sản

1.3 Các nghiên cứu về hình thái, chức năng

1.3.1 Các nghiên cứu về hình thái

Các nghiên cứu về hình thái trên thế giới được diễn ra trên

nhiều nước và các chủng tộc Từ đó, các nhà khoa học đã xác định

được xu hướng phát triển tầm vóc cơ thể của con người và số liệuđược sử dụng làm giá trị tham chiếu tại thời điểm nghiên cứu Đa sốcác nghiên cứu trên trẻ em đều cho thấy sự tăng trưởng của trẻ có xu

Trang 4

hướng tốt lên theo thời gian Tuy nhiên, đã có nghiên cứu chỉ ra rằng

sự gia tăng về chiều cao tối đa ở trẻ em để đạt được chiều cao lớnnhất ở tuổi trưởng thành đã ngừng ở một số nước (Na Uy, Anh )

Ở Việt Nam, các kích thước của cơ thể con người được chú ý

từ những năm 30 của thế kỷ XX Các nghiên cứu đã xây dựng đượchằng số sinh học người Việt Nam bình thường vào năm 1967 và

1972 Đến năm 1975, Nguyễn Tấn Gi Trọng đã xuất bản cuốn sách

"Hằng số sinh học người người Việt Nam” với sự tham gia của nhiềunhà khoa học Vào cuối những năm 90 thế kỷ XX, dự án "Điều tra cơbản một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam bình thường thập khoahọc đã thực hiện các nghiên cứu ở các vùng miền khác nhau đã cungcấp số liệu về các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập

kỷ 90-thế kỷ XX Những năm đầu của thế kỷ XXI, các nghiên cứu về

hình thái tiếp tục diễn ra Mỗi nghiên cứu đều đã tìm ra được đặcđiểm phát triển của lứa tuổi dậy thì theo dân tộc và khu vực sinhsống Tại Thái Nguyên, năm 2000 Nguyễn Thành Trung và cộng sự

đã nghiên cứu về sự phát triển thể chất trẻ em học sinh cấp I và II

1.3.2 Các nghiên cứu về chức năng

1.3.2.1 Các nghiên cứu về chức năng hệ tuần hoàn và máu

Khoảng thế kỷ thứ XVI đến nửa đầu thế kỷ XX, các nhà khoahọc lần lượt đã phát hiện ra các cơ quan trong cơ thể Sự phát hiện đó

đã thúc đẩy các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu về hoạt động chứcnăng các cơ quan

Tại Việt Nam, năm 1960, Vũ Triệu An nghiên cứu cho thấy,khi mới sinh số lượng hồng cầu và huyết sắc tố ở trẻ em khá caotương đương với người Âu-Mỹ nhưng sau đó lại giảm, còn bạch cầu

ưa acid và bạch cầu lympho lại tăng Năm 1982, Trịnh Bỉnh Di chỉ rađặc điểm huyết áp của trẻ em tăng dần theo tuổi và thấp hơn so với

Trang 5

của trẻ em người Âu-Mỹ Các chỉ số chức năng hệ tuần hoàn và tếbào máu ngoại vi đã được nghiên cứu và công bố gần đây nhất làtrong tài liệu “Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập

kỷ 90, thế kỷ XX”

Đầu thế kỷ XXI, các nghiên cứu về hệ tuần hoàn và các tếbào máu ngoại vi cho thấy, các chỉ số hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu củatrẻ em đều trong giới hạn bình thường và không có sự khác biệt giữahọc sinh các dân tộc thiểu số Ở lứa tuổi 12 đến 17, học sinh nam cótần số tim lớn hơn so với học sinh nữ Tần số tim giảm dần theo tuổi,ngược lại huyết áp tâm thu và tâm trương tăng lên theo tuổi

1.3.2.2 Các nghiên cứu về chức năng hệ sinh dục

Nghiên cứu tuổi dậy thì được coi là một hướng nghiên cứuđánh giá sự phát triển con người theo thời gian Dữ liệu được báo cáo

từ các nghiên cứu trên các quần thể người Châu Âu, Châu Á chothấy, tuổi có kinh nguyệt lần đầu đã giảm đáng kể từ thế kỷ thứ 19.Tại Việt Nam, theo Lê Nam Trà thì tuổi có kinh nguyệt lần đầu củatrẻ gái giảm dần từ thập kỷ 50 đến thập kỷ 90 của thế kỷ XX Đếncuối thập kỷ 90 thế kỷ XX, Phan Thị Sang và Phạm Thị Minh Đức đãcho thấy, các nữ sinh sống ở thành thị có tuổi dậy thì đến sớm hơn sovới các nữ sinh ở nông thôn và miền núi Những năm đầu thế kỷXXI, các nghiên cứu cho thấy, sự xuất hiện tuổi dậy thì khác nhau ởmỗi dân tộc, mỗi khu vực và phụ thuộc vào giới

1.3.2.3 Các nghiên cứu về chức năng hệ thần kinh

Đầu thế kỷ XX, Pavlov đã tìm ra phản xạ có điều kiện, đâyđược coi là phát kiến vĩ đại về nghiên cứu chức năng hệ thần kinh

Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, các nghiên cứu về chức

năng hệ thần kinh ra đời Ở Việt Nam, Phạm Minh Hạc (1962-1963)cho thấy, các học sinh lớp 8 ở Hà Nội không có sự khác biệt về trí

Trang 6

nhớ so với các học sinh ở các nước khác Những năm 90 của thế kỷ

XX, Võ Văn Toàn đã nhận xét, hoạt động trí tuệ của học sinh cấp 2 ởViệt Nam cao hơn so với điểm chuẩn quốc tế, hình ảnh điện não đồthay đổi thể hiện sự hoàn chỉnh của vỏ não vùng chẩm Năm 1998,

Đỗ Công Huỳnh đã nghiên cứu phản xạ thính giác- vận động và thịgiác-vận động trên thanh thiếu niên từ 6 đến 18 tuổi ở Nam sân bayBiên Hòa, Bắc sân bay Biên Hòa và xã Vạn Phúc Hà Đông, Hà Tây.Vào cuối thế kỷ XX, các giá trị sinh học về tốc độ dẫn truyền thầnkinh, điện thế kích thích thính giác thân não cũng đã được công bốtrong cuốn "Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ90-thế kỷ XX" công bố năm 2003 (GTSH-2003) Đầu thế kỷ thứXXI, Trần Thị Loan, Tạ Thúy Lan và Nguyễn Thị Bích Ngọc… chothấy, có mối liên quan giữa thời gian phản xạ cảm giác-vận động vớichỉ số IQ ở thanh thiếu niên Việt Nam Các nghiên cứu cũng chothấy, trí nhớ ngắn hạn, sự chú ý, phản xạ, chỉ số IQ của học sinh tốtdần lên theo tuổi, các học sinh có độ tập trung chú ý càng cao thì cóphản xạ càng ngắn Ở Thái Nguyên, Nguyễn Thành Trung đã nhậnxét, mức trí tuệ của học sinh tăng dần theo tuổi, nhóm học sinh miềnnúi có chỉ số trí tuệ thấp hơn so với học sinh thành phố

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trên 7 trường trung học cơ sởthuộc tỉnh Thái Nguyên, gồm 1 trường ở thành phố và 6 trường ởmiền núi từ năm 2010 đến năm 2013

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Học sinh từ 12 đến 16 tuổi khỏe mạnh ở 7 trường trung học

cơ sở thuộc tỉnh Thái Nguyên tự nguyện tham gia vào nghiên cứu

Trang 7

Đối tượng được chia thành 3 nhóm: Nhóm 1: học sinh người dân tộcKinh ở thành phố; Nhóm 2: học sinh người dân tộc Kinh ở miền núi;Nhóm 3: học sinh người dân tộc Nùng ở miền núi.

2.3 Phương pháp và chỉ tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang và theo dõi dọc

- Chỉ tiêu nghiên cứu hình thái được đo đạc theo các phương phápdùng trong nhân trắc học Các chỉ số nghiên cứu chức năng được đođạc theo các phương pháp thường quy dùng trong nghiên cứu y sinhhọc; nồng độ hormon GH, T3, FT4, estradiol được đo theo phươngpháp hóa phát quang miễn dịch; biểu hiện gen Kiss được đo theo kỹthuật Real time PCR; thời gian PX TG-VĐ, trí nhớ ngắn hạn, sự chú

ý được đo đạc theo bộ trắc nghiệm dùng trong nghiên cứu tâm sinh lýhọc

2.4 Tổ chức nghiên cứu

- Năm 2010 Thực hiện khám sơ tuyển đo các chỉ số hình thái, chứcnăng Xác định công thức máu, nhóm máu cho các học sinh từ 12-16tuổi

- Năm 2011, 2012: chỉ đo các chỉ số hình thái, mạch, huyết áp chocác học sinh 12 và 13 tuổi đã được đo ở năm 2010

- Năm 2013: chọn lọc 68 học sinh nữ để đo chiều cao, cân nặng, tìnhtrạng kinh nguyệt và lấy máu để định lượng hormon và gen kiss

2.5 Đề tài tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc đạo đức nghiên cứu

Trang 8

2.6 Mô hình nghiên cứu

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Chỉ số hình thái, chức năng của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở năm 2010

Trang 9

Kết quả ở bảng 3.1 cho thấy, chiều cao đứng của học sinhtăng dần từ 12-16 tuổi Học sinh người Kinh ở thành phố có chiềucao đứng lớn hơn học sinh người Kinh và Nùng ở miền núi(p<0,05÷0,001) Ở khu vực miền núi, đa số học sinh người Kinh vàngười Nùng có chiều cao đứng tương đương nhau khi so sánh cùngtuổi, cùng giới Học sinh nam miền núi có chiều cao lớn hơn rõ rệt sovới học sinh nữ ở tuổi 14 ở cả 2 nhóm nghiên cứu (p<0,05÷0,001) Ởcác nhóm tuổi còn lại sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.

Bảng 3.4 Cân nặng (kg) của học sinh (X ± SD)

Kết quả ở bảng 3.4 cho thấy, cân nặng của học sinh tăng dần

từ 12-16 tuổi Đa số học sinh người Kinh ở thành phố có cân nặnglớn hơn học sinh người Kinh và Nùng ở miền núi Ở khu vực miềnnúi, đa số học sinh nam người Nùng có cân nặng lớn hơn học sinhnam người Kinh ở tuổi 12, 14, 15, 16 Ở học sinh nữ người Nùng,tuổi 12, 14 cũng có cân nặng lớn hơn học sinh người Kinh, ở các lứatuổi còn lại sự khác biệt về chỉ số này không có ý nghĩa thống kê Đa

Trang 10

số không có sự khác biệt về chỉ số này giữa 2 giới, riêng học sinhnam người Kinh thành phố có cân nặng lớn hơn so với học sinh nữthành phố ở tuổi 13 và 14.

Số liệu từ bảng 3.5 cho thấy, vòng cánh tay duỗi của học sinhtăng dần theo tuổi Đa số vòng cánh tay duỗi của các học sinh ở thànhphố lớn hơn học sinh miền núi ở tuổi 12 đến 14, nhưng đến tuổi 15-

16 các học sinh có vòng cánh tay tương tự nhau hoặc thậm chí họcsinh miền núi lại có chỉ số này lớn hơn so với học sinh thành phố.Không có sự khác biệt về chỉ số này giữa 2 dân tộc Kinh và Nùng ởmiền núi Hầu hết không có sự khác biệt về vòng cánh tay duỗi giữahai giới

Số liệu ở bảng 3.6 cho thấy, vòng đùi của học sinh tăng dầntheo tuổi Học sinh người Kinh thành phố có vòng đùi nhỏ hơn so vớihọc sinh người Kinh và người Nùng ở miền núi ở tuổi 13, 14 và 15

Ở miền núi, học sinh người Kinh có vòng đùi lớn hơn học sinh nữngười Nùng ở tuổi 12 và 13 Chỉ số vòng đùi của đa số học sinh nữ

có xu hướng lớn hơn so với của học sinh nam cùng khu vực và cùngdân tộc

Số liệu ở bảng 3.8 và 3.9 cho thấy, chỉ số BMI và Skélie củahọc sinh tốt dần theo tuổi Chỉ số BMI có giá trị nằm trong giới hạnbình thường Học sinh ở thành phố có các chỉ số này tốt hơn học sinh

ở miền núi

3.1.2 Các chỉ số chức năng

3.1.2.1 Tuổi dậy thì hoàn toàn của học sinh nữ

Kết quả ở bảng 3.10 cho thấy, tuổi dậy thì hoàn toàn của họcsinh nữ người Kinh và người Nùng miền núi tương tự nhau và đếnmuộn hơn so với học sinh người Kinh ở thành phố

Trang 11

3.1.2.2 Chỉ số chức năng hệ tuần hoàn

Bảng 3.11 Huyết áp tâm thu (mmHg) của học sinh ( X ± SD)

Nữ 104,50±8,71(n=90) 107,20±8,3(n=152)

9

(n=120)105,83±9,22

(n=131)108,13±8,82

(n=28)107,32±8,66

(n=49)109,18±9,70 110,19±7,14 (n=26) 112,76±9,25*(n=49)

Nữ 103,18±7,00(n=44) 103,92±7,5(n=51)

0

(n=60)108,83±8,65 106,83±7,48(n=30) 108,28±7,58(n=58)

p Nam: 1-3(b) < 0,001; 1-2(a),2-3(b,e) < 0,01; 1-3(a,c), 2-3(c),1-2(e) < 0,05 Nữ: 1-3(b) < 0,01; 1-3(c) < 0,05

“*”: so sánh p nam-nữ cùng tuổi, cùng nhóm (*<0,05;**<0,01; ***<0,001)

Số liệu từ bảng 3.11 cho thấy, huyết áp tâm thu (HATT) củahọc sinh tăng dần theo tuổi Trong cùng khu vực miền núi đa số cáchọc sinh có HATT tương tự nhau Sự khác biệt về HATT giữa học sinhthành phố và miền núi, giữa nam và nữ không có quy luật

Nữ 86,18±10,53(n=51) 84,50±9,71(n=76) 86,78±11,80(n=58) 79,32±9,65(n=50) 77,15±5,17(n=41)

Trang 12

có chỉ số này lớn hơn so với học sinh nữ

3.1.2.3 Chỉ số máu ngoại vi

Các số liệu từ bảng 3.16 cho thấy, học sinh ở thành phố cóchỉ số HGB lớn hơn rất rõ rệt so với của học sinh ở miền núi Ở cả 2khu vực học sinh nữ có chỉ số HGB cao hơn so với ở học sinh nam

Các số liệu từ bảng 3.19 và 3.20 cho thấy, hầu hết ở tất cả cáclớp tuổi học sinh ở thành phố có chỉ số MCH, MCHC cao hơn so vớihọc sinh ở miền núi MCH của học sinh nữ lớn hơn so với ở học sinhnam thuộc tất cả các lứa tuổi

3.1.2.4 Chỉ số chức năng hệ thần kinh

Kết quả ở bảng 3.24, 3.25, 3.26, 3.27 cho thấy, thời gianphản xạ thị giác-vận động, khả năng chú ý, trí nhớ ngắn hạn của họcsinh tốt lên theo tuổi (12 đến 16) Các học sinh ở thành phố có cácchỉ số này tốt hơn so với học sinh ở miền núi Ở miền núi, đa sốkhông có sự khác biệt về các chỉ số đánh giá chức năng hệ thần kinh

Sự khác biệt giữa nam và nữ về các chỉ số này thay đổi theo tuổi

3.2 Sự thay đổi các chỉ số hình thái cơ thể và chức năng tim mạch của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 được theo dõi trong 3 năm (từ 2010 - 2012)

Ngày đăng: 11/10/2017, 08:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3.1. Chỉ số hình thái, chức năng của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở năm 2010  - Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở thái nguyên năm 2010 2013 (tt)
3.1. Chỉ số hình thái, chức năng của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở năm 2010 (Trang 8)
2.6. Mô hình nghiên cứu - Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở thái nguyên năm 2010 2013 (tt)
2.6. Mô hình nghiên cứu (Trang 8)
Bảng 3.11. Huyết áp tâm thu (mmHg) của học sinh X± SD) - Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở thái nguyên năm 2010 2013 (tt)
Bảng 3.11. Huyết áp tâm thu (mmHg) của học sinh X± SD) (Trang 11)
3.2.1. Các chỉ số hình thái - Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh lứa tuổi 12 đến 16 ở thái nguyên năm 2010 2013 (tt)
3.2.1. Các chỉ số hình thái (Trang 13)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w