dẫn tới sử dụng không hiệu quả nguồn tài nguyên của cả những người sống gần rừng, xa rừng cũng như trong rừng; iv Giá trị kinh tế từ tài nguyên rừng phần lớn do các cơ quan Nhà nước khai
Trang 1Phần 1
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Các hệ thống quản lý tài nguyên rừng hiện nay ở nước ta chủ yếu dựa vào các cơ quan Nhà nước đã và đang tỏ ra thiếu hiệu quả, thể hiện ở tốc độ suy thoái nguồn tài nguyên rừng cả về số lượng và chất lượng Các nguyên nhân cơ bản dẫn đến suy thoái tài nguyên rừng ở Việt Nam có thể xếp theo bốn nhóm nhân tố cơ bản, đó là: (i) Các nguyên nhân dẫn đến mất rừng vượt ra ngoài phạm vi ngành Lâm nghiệp, trong khi đó sự cố gắng giải quyết chỉ đơn thuần trong ngành; (ii) Các
tổ chức Nhà nước quản lý lâm nghiệp không đủ năng lực để kiểm soát và quản lý tài nguyên rừng; (iii) Việc không thừa nhận hoặc không tôn trọng các hình thức chiếm dụng và quản lý rừng truyền thống đã làm mất đi những tiềm năng quan trọng trong quản lý rừng bền vững như các hệ thống kiểm soát xã hội, năng lực quyền hạn của các tổ chức cộng đồng địa phương trong quản lý rừng Điều đó dẫn đến tình trạng người dân địa phương không nhận thấy rừng của họ và họ không quan tâm đến bảo vệ rừng Rừng của Nhà nước trở thành "không của ai cả" và là đối tượng cho các hoạt động khai thác trái phép, chặt phá, phát đốt để lấy đất canh tác nông nghiệp, dẫn tới sử dụng không hiệu quả nguồn tài nguyên của cả những người sống gần rừng, xa rừng cũng như trong rừng; (iv) Giá trị kinh tế từ tài nguyên rừng phần lớn do các cơ quan Nhà nước khai thác và hưởng lợi trong khi lợi ích từ rừng dành cho người dân trong cộng đồng địa phương nơi có rừng quá ít.[1]
Từ các nguyên nhân trên có thể nhận thấy rằng việc quản lý nguồn tài nguyên rừng chưa quan tâm nhiều đến các vấn đề xã hội, hay nói cách khác là chưa nghiên cứu một cách đầy đủ mối quan hệ giữa con người bao gồm các cộng đồng sống tại nơi có rừng và tài nguyên rừng nhằm đề ra các giải pháp tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng hiệu quả, bền vững dựa trên cơ sở sự tham gia tích cực của chính người dân địa phương
Nhằm khôi phục và phát triển vốn rừng, tạo cơ sở pháp lý cho phát triển lâm nghiệp cộng đồng, trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương chính sách, phân cấp phân quyền trong quản lý tài nguyên rừng, giao đất
Trang 2giao rừng và chính sách hưởng lợi từ rừng cho người quản lý rừng, chủ trương xã hội hoá nghề rừng và phát triển lâm nghiệp cộng đồng Luật Đất đai năm 2003, Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004; Quyết định 245/1998/QĐ-TTg ngày 21/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp; Quyết định số 178/2001/QĐ- TTg ngày 12/11/2001 về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp; Quyết định 106/2006/QĐ-BNN ngày 27/11/2006 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc ban hành bản Hướng dẫn hình thành và quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn;
Với mong muốn góp phần hoàn thiện về phương pháp luận đồng thời đề xuất các giải pháp cho quá trình tổ chức thực hiện quản lý rừng cộng đồng, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý rừng cộng đồng
khu vực vùng đệm các khu bảo tồn thuộc tỉnh Bắc Kạn”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng được một mô hình quản lý rừng cộng đồng phù hợp với điều kiện của địa phương
Hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng được xây dựng cho khu vực vùng đệm rừng đặc dụng Bắc Kạn, góp phần đề xuất bổ sung hoàn thiện hướng dẫn hình thành và quản lý rừng cộng đồng trên cả nước
1.3 Ý nghĩa của đề tài
- Thông qua những kết quả nghiên cứu của đề tài, các nhà quản lý, chuyên môn có cơ sở trong chỉ đạo, xây dựng kế hoạch quản lý rừng cộng đồng tại địa phương có hiệu quả góp phần bảo vệ rừng và phát triển kinh tế địa phương
Trang 3Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Lịch sử nghiên cứu
2.1.1 Trên thế giới
Năm 1970, khái niệm về lâm nghiệp cộng đồng xuất hiện lần đầu tiên tại
Ấn Độ, đã được tổ chức FAO nghiên cứu, quảng bá và nhân rộng Hiện nay thuật ngữ lâm nghiệp cộng đồng được áp dụng hầu hết ở các nước trên thế giới, đặc biệt
là các nước đang phát triển và được xem là một phương thức quản lý rừng có hiệu quả
Ở Hàn Quốc cũng tồn tại ba loại sở hữu rừng là rừng của Nhà nước, rừng cộng đồng và rừng tư nhân Hiện nay rừng tư nhân chiếm 70% diện tích rừng, còn lại là rừng do nhà nước quản lý (22%) và rừng cộng đồng (8%);[2]
Ở Nêpan, Lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ) mới xuất hiện, nổi bật là sự tham gia của người dân vào quản lý rừng Ngày nay LNCĐ trở thành nguồn thu nhập và
cơ hội tạo việc làm, cải thiện đời sống của các cộng đồng nông thôn Với sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của nhiều tổ chức phi chính phủ và tổ chức tài trợ quốc tế, chương trình này đã được thực thi ở toàn quốc và phần lớn chương trình đã thành công trong giai đoạn này (Paudel, 2000) [4]
Ở Bănglađét, vấn đề xây dựng chiến lược, thể chế với sự trợ giúp của lâm nghiệp xã hội đã nổi lên từ những năm 1967 Sự phản ứng rất hạn chế của Chính phủ về xác định quyền sử dụng đất và tài nguyên thiên nhiên, cái chính là không
an toàn một cách phổ biến, đã làm suy yếu quản lý lâm nghiệp cộng đồng Những vấn đề pháp lý không tìm được câu trả lời như quyền chiếm hữu không chắc chắn
và mâu thuẫn giữa tư nhân và sở hữu công về rừng, đất rừng, quyền quản lý đất đai theo truyền thống xảy ra bởi sự kiện những người sống về đất, những người thiếu đất và việc dân chủ hóa là nguyên nhân chính của việc phá hoại nguồn tài nguyên rừng và mất đa dạng sinh học Sự thiếu tin tưởng giữa người dân địa phương với
cơ quan lâm nghiệp, thiếu chính sách minh bạch để thực thi quản lý xã hội và quản
lý rừng có người dân tham gia cũng là nguyên nhân dẫn đến mất rừng (Poffenberger, 2000 và Thakur, 2001) [4]
Trang 4Ở Thái lan, Wasi (1997) cho rằng lâm nghiệp cộng đồng là một nhân tố trợ giúp cho việc phát triển xã hội dân sự ở Thái Lan Các cộng đồng có đòi hỏi rất lớn được tham gia vào quản lý các nguồn tài nguyên địa phương của họ do một diện tích rừng lớn đã bị mất bởi việc khai thác gỗ hợp pháp trong những thập kỷ trước đây Vandergeets (1996) nhận thấy rằng khai thác rừng ở Thái Lan đã bị cấm từ năm 1989, Cục Lâm nghiệp Hoàng gia Thái Lan đã chuyển các mục tiêu từ quản lý khai thác gỗ sang mở rộng bảo tồn rừng Quyền của các cộng đồng địa phương quản lý các nguồn tài nguyên của họ đã trở thành mục tiêu chính của nhiều tổ chức phi chính phủ và cơ quan nghiên cứu Gymour và Fisher (1997) nhận xét rằng các họat động quản lý rừng cộng đồng có liên quan đến việc mở rộng trồng rừng trên diện tích đã mất rừng, ở mức độ nào đó khá hơn là việc phối hợp quản lý hoặc chuyển giao việc kiểm soát cho các cộng đồng [4]
Tại Hội thảo quốc tế về Lâm nghiệp cộng đồng ở Chiang Mai- Thái Lan tháng 9/2001, vấn đề nhu cầu phát triển phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng ở các quốc gia, trong đó có Việt Nam; Những vấn đề cần quan tâm để phát triển lâm nghiệp cộng đồng như (i) Phân cấp và chuyển giao quyền sở hữu và sử dụng tài nguyên rừng cho cộng đồng; (ii) Xây dựng các mô hình hợp tác giữa các cộng đồng và các bên liên quan để phát triển lâm nghiệp cộng đồng; (iii) Phát triển một hệ thống chính sách đồng bộ hỗ trợ cho phát triển lâm nghiệp cộng đồng; (iv) Phát triển các cách tiếp cận cả về kỹ thuật và xã hội để xây dựng các kế hoạch quản lý rừng bền vững dựa vào cộng đồng [10]
Thực tế trên thế giới cho thấy đã có rất nhiều nghiên cứu về các khía cạnh cải tiến chính sách, thể chế, cách tiếp cận, phát triển công nghệ trên cơ sở kiến thức kinh nghiệm bản địa để phát triển quản lý rừng dựa vào cộng đồng Đây là những kinh nghiệm tốt có thể kế thừa và vận dụng một cách thích hợp vào điều kiện của Việt nam
cộng đồng, quản lý rừng cộng đồng
Thuật ngữ “cộng đồng” được định nghĩa khác nhau khi đứng trên quan điểm, góc nhìn khác nhau, được định nghĩa “Cộng đồng là một tập hợp người với những đặc trưng về địa lý, chủng tộc, văn hoá, tín ngưỡng nghề nghiệp hoặc kinh
Trang 5tế xã hội tương tự Các cộng đồng có thể được định rõ tính chất bởi tính địa phương, chủng tộc, dân tộc, tuổi tác, nghề nghiệp, lợi ích hay thu nhập trong những vấn đề đặc biệt hoặc là những ràng buộc chung khác”
Thuật ngữ “lâm nghiệp cộng đồng”, có nhiều định nghĩa khác nhau, theo FAO “Lâm nghiệp cộng đồng là bao gồm bất kỳ tình huống nào mà người dân địa phương tham gia vào hoạt động lâm nghiệp” [11]
Khái niệm lâm nghiệp cộng đồng được đề cập ở nhiều quốc gia trên thế giới, nó được hình thành với mục đích tạo dựng một phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng, phân cấp trong quản lý rừng, nhằm làm cho rừng được quản lý tốt hơn từ những người đang sinh sống gần rừng và phụ thuộc vào rừng, tìm ra những giải pháp nhằm sử dụng tài nguyên rừng hợp lý đồng thời quản lý bảo vệ phát triển bền vững nguồn tài nguyên này Với quan điểm đó đã hình thành phương thức, các chương trình hoạt động quản lý rừng dựa vào cộng đồng (Community Based Forest Management – CBFM), được hiểu là một phương thức nhằm duy trì và phát triển rừng cũng như giải quyết vấn đề đói nghèo ở vùng cao, một nguyên nhân làm suy giảm tài nguyên rừng Quản lý rừng dựa vào cộng đồng dựa trên quan điểm
“Con người trước và lâm nghiệp bền vững sẽ đi sau đó”, nó trao cho các cộng đồng quyền và trách nhiệm trực tiếp quản lý và hưởng lợi từ nguồn tài nguyên rừng
Quan điểm trên cho thấy, CBFM hướng tới việc phân cấp quản lý rừng một cách mạnh mẽ, trong đó nhấn mạnh đến giao quyền quản lý các khu rừng và tạo cơ hội cho người dân, cộng đồng được hưởng lợi từ rừng Khi các vấn đề nghèo đói
và mất công bằng trong tiếp cận nguồn tài nguyên được giải quyết thì các cộng đồng địa phương sẽ nhận thấy trách nhiệm của chính họ trong việc bảo vệ và quản
lý rừng, điều này đã được nhiều chính phủ, các tổ chức phi chính phủ nhận thức rõ ràng và từ đó thúc đẩy cho tiến trình này phát triển ở các cộng đồng vùng cao sống gần rừng và phụ thuộc vào rừng
Lợi ích từ các chương trình CBFM ở các nước đã chứng minh sự cần thiết của phương thức quản lý rừng này Trước đây khi cộng đồng người dân sống gần rừng đứng ngoài các hoạt động lâm nghiệp thì rừng bị mất nhanh chóng, đồng thời cuộc sống của họ vẫn đói nghèo; Việc thu hút cộng đồng vào tiến trình này góp
Trang 6phần quan trọng trong bảo vệ, phát triển rừng và đóng góp đáng kể vào việc phát triển kinh tế xã hội, văn hoá truyền thống của đồng bào địa phương.[11]
* Đổi mới thể chế chính sách của ngành lâm nghiệp phục vụ tiến trình quản
lý rừng cộng đồng
Mặc dù chính sách cho lâm nghiệp cộng đồng đã có ở nhiều quốc gia, tuy vậy thực hiện các chính sách đó cũng còn gặp nhiều trở ngại (RECOFTC, FAO, ICRAF, IUCN) (i) Thiếu sự cam kết và mất công bằng trong phân bổ ngân sách; (ii) Tiếp cận từ trên xuống và thiếu linh hoạt; (iii) Quyền sử dụng đất và tài nguyên không ổn định; (iv) Hệ thống quản lý, kỹ thuật lâm nghiệp chưa tương thích với kiến thức và năng lực của cộng đồng trong quản lý rừng; (v) Nhân viên kỹ thuật lâm nghiệp thiếu các kỹ năng thúc đẩy quản lý rừng dựa vào cộng đồng có sự tham gia và tiến trình ra quyết định của địa phương; (vi) Thiếu các khung pháp lý hỗ trợ lâm nghiệp cộng đồng; (vii) Nhận thức chưa đầy đủ của một bộ phận dân cư và cán bộ lâm nghiệp và các chính sách lâm nghiệp cộng đồng và tổ chức thực hiện nó; (viii) Thiếu công bằng trong phân bổ lợi ích từ rừng.[12]
Như vậy có thể thấy để thực hiện quản lý rừng dựa vào cộng đồng, điều căn bản là cần thiết phải có sự đổi mới về thể chế, chính sách và quan điểm tiếp cận, phát huy quyền làm chủ đối với tài nguyên thiên nhiên trong cộng đồng Trong đó cho thấy sự cần thiết của giao đất giao rừng cho cộng đồng quản lý, thu hút sự quan tâm của người dân trong tiến trình quản lý rừng, các hỗ trợ cần thiết sau giao đất giao rừng để cộng đồng, cá nhân hộ gia đình tổ chức quản lý và sử dụng rừng hiệu quả
Nhân tố cốt lõi của cải cách thể chế chính sách hỗ trợ lâm nghiệp cộng đồng
là nâng cao tính dân chủ, sự tham gia của cộng đồng trong lập kế hoạch, ra quyết định, tổ chức thực hiện và giám sát quá trình thực hiện, quản lý nguồn thu và chi rõ ràng cũng như phát triển nguồn nhân lực
2.1.2 Ở Việt Nam
Trong các văn bản pháp quy cấp Trung ương từ Luật Bảo vệ và phát triển rừng (năm 1991), chưa coi cộng đồng là đối tượng của các chính sách lâm nghiệp tác động, Nghị định 02/CP (1994), sau đó là nghị định 163/CP (1999) về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp đối với tổ chức, hộ gia đình và cá nhân để sử dụng ổn định
Trang 7lâu dài đều chưa công nhận cộng đồng thôn bản là một đơn vị được nhận đất nhận rừng để quản lý sử dụng
Mặc dù pháp luật chưa công nhận, nhưng thực tế từ lâu đời nay đã và đang tồn tại ba dạng sở hữu rừng cộng đồng; Hình thức tổ chức quản lý rừng cộng đồng này rất đa dạng với quy mô khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng cộng đồng, từng địa phương Có thể khái quát các hình thức chủ yếu sau đây:
* Hình thức tổ chức quản lý rừng theo dòng tộc (dòng họ), theo dân tộc
Cộng đồng tổ chức quản lý rừng và đất rừng theo dòng họ, theo dân tộc nơi
có diện tích rừng và đất rừng nhỏ, do họ tự thừa nhận hay đã mặc nhiên công nhận
từ các thế hệ trước Những khu rừng này, thường nằm gần nơi cư trú của các cộng đồng với các tên gọi như: rừng thiêng (tôn thờ thần thánh theo tín ngưỡng), rừng
ma (khu rừng chôn cất người chết - nghĩa địa), rừng mó nước (khu vực bảo vệ nguồn nước cung cấp trực tiếp cho cộng đồng), rừng gỗ gia dụng (nơi cung cấp lâm sản và lâm sản ngoài gỗ cho cộng đồng)
Việc tổ chức bảo vệ rừng gắn bó chặt chẽ với những tập quán truyền thống
và hệ thống tư tưởng của cộng đồng, vai trò của người trưởng tộc hoặc già làng rất quan trọng Hầu hết các công việc quản lý rừng của họ đều có sự phân công rõ ràng, các thành viên thực hiện tự giác và nghiêm túc
* Hình thức tổ chức quản lý rừng theo thôn, làng, buôn, bản, ấp (gọi chung
Trưởng thôn điều hành các công việc chung liên quan đến bảo vệ rừng cộng đồng Ở một số địa phương, đây là các loại rừng và đất rừng của làng xã được quản lý từ lâu đời, rừng trồng của các HTX, rừng tự nhiên đã được giao cho các HTX trước đây sau khi chuyển đổi HTX đã giao lại cho thôn quản lý Với đối tượng này, có 1 số địa phương đã tiến hành giao cho cộng đồng, nhóm hộ, tổ chức
và cá nhân hộ gia đình trong thôn quản lý, điển hình như Đắc Lắc, Sơn La, Điện
Trang 8Biên ; Các địa phương khác, mặc dù Nhà nước chưa cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất và công nhận quyền hưởng lợi cho cộng đồng, song thực chất cộng đồng đang tự quản lý và toàn quyền sử dụng các sản phẩm đó Cộng đồng tham gia quản lý rừng tự nhiên của nhà nước theo chế độ khoán bảo vệ Đây là loại rừng tự nhiên thường được quy hoạch là rừng phòng hộ Nhà nước khoán cho cộng đồng thôn bản bảo vệ và sử dụng ngân sách để chi trả công bảo vệ rừng, các thành viên trong cộng đồng được hưởng lợi từ rừng
Đi sâu nghiên cứu cho thấy, mức độ tham gia của cộng đồng vào việc bảo vệ
và phát triển rừng có thể chia thành 3 mức:
Thứ nhất, cộng đồng dân cư tham gia tích cực và có tiếng nói quyết định trong việc lập kế hoạch sử dụng đất, quản lý rừng thôn, xây dựng quy ước quản lý, bảo vệ và sử dụng rừng Bản quy ước này có đầy đủ những quy định về nghĩa vụ, quyền lợi của các thành viên trong cộng đồng, cách thức xử lý đối với các hành vi
Thứ ba, cộng đồng chưa có quy ước quản lý và bảo vệ rừng, chưa có kế hoạch sử dụng đất và quản lý rừng hoặc đã có nhưng sơ sài, việc xây dựng quy ước chỉ là hình thức, chiếu lệ, không được triển khai trong thực tế
Cộng đồng quản lý rừng một cách giản đơn, hầu như không có tác động bằng các giải pháp lâm sinh vào rừng, chủ yếu là tuần tra bảo vệ rừng Rừng cộng đồng vẫn bị xâm lấn hoặc khai thác trái phép.[14]
* Hình thức quản lý rừng theo nhóm hộ/nhóm sở thích
Hình thức quản lý rừng này được thực hiện ở một số nơi Nhóm hộ có thể hình thành từ một số hộ gia đình cư trú liền nhau trong phạm vi một thôn, một xóm
Trang 9hoặc gồm một số hộ gia đình có quan hệ huyết thống hoặc họ hàng; cũng có trường hợp là những cá nhân cùng lứa tuổi, cùng có mong muốn được tham gia quản lý rừng
Nhóm hộ này tự phân công để bảo vệ rừng, có thể cả nhóm cùng tham gia tuần tra rừng hàng ngày, hàng tuần hoặc luân phiên nhau; một số nhóm hộ có rừng gần nhau liên kết bảo vệ rừng
Có thể so sánh khái quát các hình thức quản lý rừng cộng đồng như sau: Bảng 2.1: Khái quát các hình thức quản lý rừng cộng đồng[4]
Hình
Thôn,
bản
- Có nhiều tiềm năng về các mặt:
Vị trí địa lý (tự nhiên, tài nguyên
thiên nhiên)
Kinh tế (tài chính, sản xuất)
Xã hội (Truyền thống, tổ chức, quy
ước nội bộ, quan hệ )
Nguồn nhân lực (lao động, lãnh
đạo)
Có khả năng quản lý tất cả các loại
rừng
- Chưa có ranh giới rõ ràng
- Chưa có đủ tư cách pháp nhân
- Vai trò trưởng thôn mang tính hành chính và chưa có trách nhiệm pháp lý
- Phù hợp với trình độ hiện nay của dân
- Phù hợp với yêu cầu đầu tư của
dân
- Có tiềm năng trở thành cấp thôn
hoặc HTX kiểu mới
- Chi phí phù hợp với quy mô nhỏ
- Khó bảo vệ rừng ở các vùng sâu, vùng xa
Dòng
tộc
Thuận lợi tương tự như nhóm hộ
- Khó được chấp nhận về mặt pháp lý
- Có thể tạo nên mâu thuẫn cục
bộ trong cộng đồng thôn
Trang 10Từ kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, quy mô thôn là phù hợp cho quản lý rừng cộng đồng vì:
+ Thích hợp đối với vùng sâu, vùng xa
+ Phù hợp với truyền thống tập quán của nhiều nhóm dân tộc
+ Phù hợp với điều kiện sản xuất hiện nay của dân khi nền kinh tế đang phát triển
+ Phù hợp đối với quản lý tất cả các loại rừng, kể cả rừng phòng hộ và đặc dụng
+ Phù hợp với trình độ quản lý của người dân cấp thôn
* Kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam
Căn cứ vào báo cáo kết quả về quản lý rừng cộng đồng của một số tỉnh tại Hội thảo quốc gia về Quản lý rừng cộng đồng được tổ chức tại Hà Nội (tháng 6/2001 và tháng 11/2001) có thể thấy bước đầu đã tạo ra những cơ sở, khuôn khổ pháp lý nhất định cho việc thực hiện quản lý rừng cộng đồng:
Thứ nhất, một số tỉnh đã có văn bản mang tính pháp lý (như quyết định, chỉ thị…) về việc triển khai giao đất, giao rừng cho cộng đồng thuộc địa phương mình, thừa nhận cộng đồng dân cư thôn là một đối tượng được giao đất, giao rừng và là một chủ rừng thực sự, như các tỉnh Đắc Lắc, Đắc Nông, Thừa Thiên Huế, Gia Lai, Sơn La Uỷ ban Nhân dân (UBND) tỉnh đã trực tiếp hoặc giao quyền cho UBND huyện chỉ đạo thực hiện thí điểm việc giao đất, giao rừng cho cộng đồng, nhóm hộ hay các tổ chức mang tính cộng đồng cấp thôn (xã), như: Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, v.v Chủ tịch UBND tỉnh uỷ quyền cho Chủ tịch UBND huyện ra quyết định giao đất, giao rừng cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Có nơi đã có chủ trương hợp pháp hoá quyền làm chủ những diện tích rừng làng, rừng bản được quản lý theo truyền thống từ nhiều năm trước (rừng đầu nguồn nước, rừng thiêng, rừng ma v.v.)
Thứ hai, các tổ chức lâm nghiệp Nhà nước (ban quản lý rừng đặc dụng, ban quản lý rừng phòng hộ, lâm trường quốc doanh) đã thực hiện giao khoán rừng và đất lâm nghiệp cho cộng đồng quản lý, bảo vệ và phát triển rừng thông qua hợp đồng khoán ngắn hạn hoặc dài hạn Cộng đồng với tư cách là bên nhận khoán có trách nhiệm tổ chức lực lượng bảo vệ rừng và chịu trách nhiệm về kết quả thu
Trang 11được Cộng đồng được hưởng các quyền lợi do bên giao khoán chi trả (tiền hoặc hiện vật) và được phép thu hoạch các loại lâm sản phụ trong rừng theo qui định Thứ ba, UBND tỉnh đã ban hành các văn bản hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư theo Thông tư 56/TT-BNN ngày
30 tháng 3 năm 1999 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc Hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn bản, Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ về Quy chế thực hiện dân chủ ở xã Đồng thời, quy định các hoạt động phối hợp giữa cộng đồng với chính quyền cấp xã và các tổ chức Nhà nước có liên quan để hình thành
sự liên kết trong quản lý, bảo vệ và xây dựng rừng
Thứ tư, có tỉnh đã ban hành văn bản mang tính pháp lý công nhận cộng đồng có thể được vay vốn đầu tư, được hưởng ưu đãi vay tín dụng đầu tư khi tham gia vào các hoạt động bảo vệ, khoanh nuôi, tái sinh và trồng rừng như các tổ chức Nhà nước khác
Thứ năm, có tỉnh đã mạnh dạn thử nghiệm ban hành chính sách quy định quyền hưởng lợi từ rừng đối với các cộng đồng và hộ gia đình tham gia quản lý, bảo vệ và xây dựng rừng
Thứ sáu, một số tỉnh đã chỉ đạo xây dựng thử nghiệm mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ và xây dựng rừng làm cơ sở cho việc triển khai mở rộng giao rừng cho cộng đồng và xây dựng các chính sách liên quan đến quản lý rừng cộng đồng.[15]
Việc các tỉnh vận dụng chính sách của Nhà nước cho phù hợp với điều kiện của mỗi nơi như đã trình bày ở trên đã tạo cơ sở pháp lý để hình thành và mở rộng các mô hình quan lý rừng cộng đồng Tuy nhiên, sự vận dụng các chính sách nói trên mới chỉ được thực thi ở phạm vi hẹp
2.2 Bài học kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng của một số địa phương
Yếu tố quyết định sự thành công của hệ thống quản lý rừng cộng đồng là Nhà nước cần thừa nhận quyền sử dụng đất lâu dài của cộng đồng; cộng đồng cần
có các hình thức tổ chức quản lý rừng thích hợp với điều kiện đặc thù; cộng đồng
Trang 12được tổ chức chặt chẽ và có cơ chế phân chia quyền lợi về các sản phẩm thu được
từ rừng trên cơ sở bình đẳng giữa các thành viên trong cộng đồng
Điều kiện để có thể tiến hành giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn bản quản lý, sử dụng lâu dài là:
- Cộng đồng có truyền thống luật tục quản lý rừng và sự tham gia tích cực của các thành viên
- Cuộc sống của các thành viên trong cộng đồng trực tiếp gắn bó với rừng và sản phẩm rừng
- Cộng đồng có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, các quy định, hương ước của cộng đồng được mọi người tôn trọng
- Trưởng thôn bản có tinh thần trách nhiệm cao, cộng đồng được chính quyền địa phương quan tâm giúp đỡ
- Phải thực hiện xây dựng quy ước quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của người dân thôn bản và sự nhất trí, ủng hộ của chính quyền địa phương Hình thức quản lý rừng cộng đồng đa dạng như hình thức quản lý rừng theo cộng đồng thôn bản, theo dòng họ, theo nhóm hộ vv và trong thời gian gần đây, hình thức quản
lý rừng dựa vào các tổ chức đoàn thể cấp thôn, xã đang phát triển, như Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn thanh niên… Tuy nhiên, hình thức quản lý rừng theo thôn bản, nhóm hộ là hình thức quản lý rừng đang được các tỉnh quan tâm nhất
- Có thể xây dựng các hình thức phối hợp quản lý rừng giữa các cộng đồng địa phương, các tổ chức Nhà nước và cấp chính quyền xã trong bảo vệ và xây dựng rừng Điều đó sẽ chuyển dần một số trách nhiệm và quyền hạn trong quản lý rừng cho các nhóm cộng đồng, chính sách của Nhà nước được thực thi, các nhu cầu cho sự phát triển cộng đồng được đáp ứng, làm cho tài nguyên rừng được bảo
vệ và phát triển tốt
Quản lý rừng bởi các cộng đồng với các đặc trưng chủ yếu là không có tính chất tập trung, cộng đồng là người ra quyết định và các quy định đưa ra có sự tham gia của người dân, hoạt động của các thành viên chủ yếu dựa trên cam kết với các hình thức tự nguyện, hình thức quản lý đa dạng và chi phí quản lý thấp
Trang 13Quản lý rừng cộng đồng hiện đang áp dụng ở một vài địa phương có nguồn gốc từ các tập quán truyền thống và nhu cầu khách quan của các dân tộc miền núi, phù hợp với hệ thống sản xuất và kiến thức văn hoá xã hội của họ Hàng nghìn cộng đồng thôn đã và đang trực tiếp quản lý và sử dụng rừng đáng kể ở các vùng miền núi Việc quản lý các diện tích rừng nói trên của cộng đồng đã có những tác động tích cực tới quản lý rừng nói chung
Các cộng đồng có thể bảo vệ rừng hiệu quả hơn và tiết kiệm chi tiêu của Nhà nước trong việc bảo vệ rừng Rừng cộng đồng đáp ứng một phần nhu cầu gỗ
sử dụng cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng cũng như cung cấp lâm sản ngoài gỗ, góp phần cải thiện đời sống người dân
Từ kinh nghiệm thực tế ở các tỉnh đã chỉ ra rằng, những diện tích rừng và đất rừng sau đây có thể giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài:
+ Diện tích rừng phân bố xa khu dân cư, vùng sâu, vùng xa, điều kiện địa hình phức tạp mà các tổ chức Nhà nước hay hộ gia đình không có khả năng quản
lý hoặc quản lý không có hiệu quả
+ Các khu rừng có tác dụng giữ nguồn nước phục vụ trực tiếp cho cộng đồng; rừng phòng hộ đầu nguồn diện tích nhỏ, phân tán chỉ có ý nghĩa trong phạm
vi làng, xã; rừng thiêng, rừng ma, rừng cung cấp lâm sản truyền thống cho cộng đồng (lấy măng, mộc nhĩ, tre cho sửa nhà, làm rào ), rừng núi đá
+ Các khu rừng nằm giáp ranh giữa các thôn, xã, huyện; các khu rừng giàu nhưng diện tích ít không thể chia riêng cho các hộ mà cần sử dụng chung cho cộng đồng
2.3 Đặc điểm khu vực nghiên cứu
2.3.1 Một số đặc điểm chung của 2 xã Bản Thi và Xuân Lạc
Xã Bản Thi và xã Xuân Lạc tiếp giáp nhau nằm ở phía Tây-Bắc huyện Chợ Đồn, phía Tây giáp huyện Na Hang - Tuyên Quang, phía Bắc, Đông và Nam giáp các xã khác trong huyện Hai xã cách trung tâm huyện 35-40km, ở độ cao 400-800m, có một đỉnh cao 1.007m tại vùng giáp giới 2 xã Toàn địa bàn là vùng núi, với địa hình chia cắt phức tạp Đường ô tô từ huyện về 2 xã thường bị sạt lở, ách tắc trong mùa mưa Từ trung tâm xã đến các thôn bản đường rất xấu, dốc cao, hiểm trở, đi ngang qua các suối, trời nắng đi bằng xe máy cũng rất khó, một số bản
Trang 14người H’mông ở núi cao chỉ có thể đi bộ theo đường mòn Xã bản Thi là vùng mỏ Chì, Kẽm…với nhiều mỏ nằm rải rác trên địa bàn, có những vùng đất và nước bị nhiễm quặng thiên nhiên và một số suối bị nhiễm độc do nước thải từ các điểm khai thác quặng
Đất lâm nghiệp chiếm khoảng 70% tổng diện tích tự nhiên (xã Bản Thi 4.379 ha, xã Xuân Lạc 5.991 ha), phần lớn có rừng tự nhiên, bao gồm cả rừng sản xuất, rừng phòng hộ và vùng đệm của Khu bảo tồn Nam Xuân Lạc, ranh giới cũng chưa rõ ràng Thôn nào cũng có những vùng đất trống, phần lớn là các nương ót (bạc màu sau nhiều năm canh tác), cây rừng đang tái sinh hoặc bỏ hoang Nguồn thu nhập từ rừng hiện nay rất thấp, chỉ là củi cành loại nhỏ, một số thôn có măng tre, song mây tre nứa để đan xọt, cỏ tranh lợp nhà, một số nơi có lá rong, nấm mộc nhĩ cũng ít…, Một số nơi có tiền khoanh nuôi bảo vệ rừng (50.000đ/ha/năm) trong
Sống giữa vùng tài nguyên rừng lớn như vậy, nhưng thực tế người dân không sống dựa được vào rừng Phần lớn họ đang thiếu ăn và các nhu cầu đời sống thiết yếu khác Họ ít được tiếp cận và thụ hưởng những thành quả đổi mới của đất nước mang lại - mà đã rất phổ biến ở nhiều vùng trên cả nước Hàng ngày phải đối mặt với đói và nghèo, họ chưa thể quan tâm nhiều tới việc bảo vệ rừng Nông nghiệp vẫn là nguồn sống chính, công việc quan trọng nhất của người dân là lo trồng trọt các cây ngắn ngày để có lương thực ăn Bên cạnh đó, trong các gia đình thường có nuôi trâu, bò, lợn, gia cầm…Song, sản xuất nông nghiệp mang nặng tính tự túc tự cấp, theo thói quen lâu đời và tập quán canh tác giản đơn, lạc hậu Sản xuất hàng hoá hầu như chưa có Các kỹ thuật tiến bộ rất chậm được đưa vào sản xuất Hàng năm cấp xã có tổ chức được 1-2 lớp tập huấn kỹ thuật, chủ yếu về cây lúa, có lớp
Trang 15cũng đề cập một phần về chăn nuôi, nhiều khi còn lồng ghép cả nội dung khác như truyền thông dân số…Mỗi lớp khoảng 1 ngày cho cán bộ xã và mỗi thôn chỉ được 4-5 người tham dự Đã có một vài lớp tập huấn dài ngày hơn, nhưng số người dân được tham dự ít, nên tác dụng trong sản xuất cũng rất hạn chế Hiện tại, lứa tuổi lao động chính trình độ văn hoá rất thấp, nên khả năng tiếp thu cái mới có hạn Tuy nhiên, qua phỏng vấn thì nhiều người dân cho biết họ chưa bao giờ được tâp huấn
kỹ thuật về lúa, ngô, nuôi bò, lợn…, nên họ rất mong muốn được tham gia tập huấn
Cả 2 xã đều thuộc vùng sâu vùng xa, nghèo nhất huyện Chợ Đồn, với tỷ lệ hộ nghèo cao: 50-70%, nhiều thôn 90% hộ nghèo Điện lưới chỉ có ở một số ít thôn gần trung tâm xã Một số nơi tiện nguồn nước suối, người dân tự túc điện bằng các máy thuỷ điện nhỏ Điện thoại từ xã xuống các thôn chưa có Xã Xuân Lạc chưa có đường dây điện thoại, chỉ có thể liên lạc ra ngoài bằng điện thoại vô tuyến Trên địa bàn 2 xã các công trình thuỷ lợi hầu như chưa có, sản xuất nông nghiệp chủ yếu dựa vào nước trời Phúc lợi công cộng chủ yếu là: trạm y tế xã, các thôn
có lớp học mẫu giáo và cấp I, xã có trường cấp II (các cháu phải trọ học vì xa nhà
và đường xấu), trường cấp III thì chỉ có ở thị trấn huyện Trong một số thôn, nhiều
hộ đã được sử dụng công trình nước sạch lấy từ nguồn ở các khe núi cao.[18] [19]
2.3.2 Đặc điểm 02 xã Văn Minh và Lạng San
Việc lựa chọn 2 xã Văn Minh và Lạng San tại khu vực vùng đệm rừng đặc dụng Kim hỷ huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn có những lý do liên quan đến ĐKTN – KTXH Xã Văn Minh và Lạng San đều còn diện tích rừng lớn, và quan trọng là 2
xã chung nhau rừng núi đá Lạng San, khu rừng quan trọng trong công tác quản lý phát triển của rừng đặc dụng tỉnh Bắc Kạn
Có thể nhận thấy rất rõ rằng điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của hai xã
Văn Minh và Lạng San có những điểm rất tương đồng Hai xã cách nhau khoảng
15 km nên về điều kiện tự nhiên hay về dân sinh cũng rất giống nhau, địa hình của
vùng tương đối phức tạp, chủ yếu là đồi núi với độ cao từ 230 – 900 m so với mực
nước biển nhìn chung thời tiết khá khác nghiệt Mùa đông đến sớm và kết thúc muộn gây trở ngại cho công việc của người dân Lượng mưa trung bình năm giao động từ 1150 – 2038 mm nhưng phân bố không đều, tuy nhiên đây cũng có thể coi
Trang 16là thuận lợi trong việc phát triển rừng nói chung và rừng cộng đồng nói riêng vì nếu trồng cây trong thời gian thích hợp thì cây sẽ phát triển rất tốt
Văn Minh và Lạng San đều có diện tích tự nhiên tương đối lớn Xã Văn
Minh với diện tích tự nhiên 3808ha, đất nông nghiệp là 3270.20 ha, trong đó đất
lâm nghiệp 2998 ha Xã Lang San tổng diện tích tự nhiên 3487,7ha, đất nông nghiệp 2657,29ha, trong đó đất Lâm nghiệp 2317,83ha, đất còn khá tốt, có tiềm năng phất triển tuy nhiên do dân trí thấp, phần lớn là dân tộc ít người (Nùng, Dao, Tày) nên chưa áp dụng được nhiều khoa học kỹ thuật vào sản xuất, để sử dụng có hiệu quả đòi hỏi phải có chiến lược sử dụng đất lâu dài
Mặt khác Văn Minh và Lạng San diện tích đất chưa sử dụng vẫn còn nhiều (457,25 ha- 744,87 ha) đây là cơ hội trong việc phát triển rừng cộng đồng
Cơ sở hạ tầng tại 2 xã tuy chưa thật sự tốt nếu không muốn nói là còn yếu kém; Năm qua đã có những cố gắng trong xây dựng cơ sở hạ tầng như đường, trường, trạm phần nào đáp ứng được nhu cầu phát triển trồng trọt, chăn nuôi, Lâm nghiệp
và giáo dục[16] [17] ……
2.3.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
Với địa hình phức tạp, diện tích tự nhiên lớn nên nhiều diện tích rừng ở xa khu dân cư, công tác tuần tra bảo vệ rừng ở những khu vực giáp ranh với xã, huyện
khác là rất khó khăn;
Khí hậu thời tiết bất thuận, mưa tập trung vào một vài tháng trong năm, cường độ mưa lớn, tình trạng lũ ống lũ quét, sạt lở đất, xói mòn đất canh tác là rất lớn; mùa khô hanh kéo dài, độ ẩm không khí thấp, kèm theo sương muối ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ sinh vật nói chung và thảm thực vật;
Đa phần thu nhập và sinh sống của người dân là từ sản xuất nông nghiệp, trình độ sản xuất còn ở mức thấp, không có các ngành nghề sản xuất khác, do vậy thu nhập của người dân mới chỉ đủ ăn, chưa có tích luỹ;
Mặc dù Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ thúc đẩy kinh tế xã hội cho nhân dân vùng đặc biệt khó khăn thông qua các chương trình 134, 135, 925, 661,… tuy nhiên hạ tầng cơ sở nông thôn vẫn còn thấp kém, tiếp cận của người dân với các tiến bộ khoa học kỹ thuật, về bảo vệ môi trường đặc biệt với đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn rất thiếu và yếu;
Trang 17Công tác quản lý bảo vệ và phát triển vốn rừng đã có nhưng chuyển biến tích cực, công tác giao đất giao rừng tới cộng đồng, nhóm hộ, tổ chức và cá nhân
hộ gia đình đã được thực hiện góp phần tăng cường ý thực trách nhiệm của người dân trong quản lý bảo vệ rừng, được đại đa số người dân ủng hộ và chấp hành nghiêm túc; Song song với đó là công tác tuyên truyền vận động gắn với quyền và nghĩa vụ của chủ rừng được các cấp các ngành thường xuyên quan tâm Bên cạnh
đó vẫn còn một bộ phận người dân chưa ý thức hết quyền và nghĩa vụ của mình đối với tài nguyên rừng, vẫn còn tình trạng phát vén vào rừng tự nhiên, để lửa cháy lan gây thiệt hại tới rừng
Trang 18Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Cộng đồng thôn bản, rừng cộng đồng, các văn bản pháp quy của Nhà nước
về quản lý đất đai và quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi nghiên cứu: Triển khai điều tra xác định, phân tích các mô hình quản lý rừng cộng đồng hiện có tại 4 xã vùng đệm của khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, Nam Xuân Lạc Xây dựng một mô hình tại xã Văn Minh Huyện Na Rì
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra đánh giá thực trạng các hình thức quản lý bảo vệ rừng vùng đệm(các loại hình, tổ chức quản lý, kết quả, tồn tại, kiến nghi )
- Đánh giá tác động ảnh hưởng của các mô hình quản lý rừng cộng đồng đã có trong khu vực nghiên cứu
- Xây dựng 01 mô hình quản lý rừng cộng đồng
- Xây dựng hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng cho khu vực nghiên cứu
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu có sẵn
Thu thập tài liệu, bản đồ có sẵn: Tài liệu hướng dẫn quy hoạch sử dụng đất
và giao đất giao rừng, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, quản lý rừng tại khu vực nghiên cứu
+ Tài liệu về địa lý, đất đai, thổ nhưỡng;
+ Tài liệu về khí hậu thuỷ văn;
+ Dân sinh kinh tế
+ Tài liệu về theo dõi diễn biến tài nguyên rừng
3.4.2 Sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia
- Sử dụng phương pháp PRA với một số công cụ như:
Phân tích điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT), sơ đồ thời gian trong nghiên cứu phân tích quá trình sử dụng đất, sử dụng rừng, sản xuất nông lâm nghiệp, với sự tham gia của nhóm nông dân chủ chốt 5-6 người
Trang 19- Phỏng vấn 30 cá nhân hộ gia đình đại diện cho người dân vùng đệm tham
gia quản lý rừng cộng đồng
- Thực hiện phỏng vấn 10 cán bộ gồm Kiểm lâm, phòng Nông nghiệp và PTNT, Trạm Khuyến nông, Văn phòng UBND huyện, lãnh đạo và nhân viên của UBND xã Xuân lạc, Văn Minh
3.4.3 Nghiên cứu thực nghiệm
- Cùng người dân thảo luận tiến hành xây dựng mô hình quản lý rừng cộng đồng để theo dõi sự thay đổi về số lượng, chất lượng rừng và diễn biến tài nguyên rừng tại thực địa; tiến hành Lập kế hoạch, xây dựng quy ước; thành lập ban quản lý; xây dựng quỹ; triển khai thực hiện kế hoạch và giám sát đánh giá
- Thảo luận về cách thức tổ chức thực hiện, kinh nghiệm quản lý rừng của người dân trong cộng đồng; thuận lợi - khó khăn và đề xuất các giải pháp
3.4.4 Phân tích kết quả
Tổng hợp kết quả nghiên cứu theo nội dung bằng hệ thống bảng biểu, đồ thị (khí hậu thuỷ văn, cơ cấu dân tộc, sản xuất nông lâm nghiệp, sử dụng đất, tài nguyên rừng, tiến trình lập kế hoạch quản lý rừng, quy ước quản lý bảo vệ rừng ); phần mềm Microsof Excel 2003 để phân tích các thông tin trong phỏng vấn hộ về các tác động ảnh hưởng của giao đất giao rừng, quy ước quản lý bảo vệ, kế hoạch quản lý rừng cộng đồng tới sản xuất, thu nhập, tổ chức, những thay đổi tài nguyên rừng tại cộng đồng
Trang 20Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Thực trạng các hình thức quản lý bảo vệ rừng tại khu vực nghiên cứu
4.1.1 Kết quả nghiên cứu tại xã Bản thi, Xuân Lạc
4.1.1.1 Thực trạng quản lý rừng tại 2 xã Bản Thi- Xuân Lạc
Thực hiện Nghị định 02/CP nay là Nghi định 163 về giao đất giao rừng cho các thành phần tổ chức cá nhân quản lý sử dụng lâu dài vào mục đích phát triển lâm nghiệp Kết quả được thể hiện ở bảng 01
Ban quản lý rừng đặc dụng(ha)
Đất chưa có chủ Địa danh Diện
tích (ha)
Trạng thái
Tổng Diện tích (ha)
25,6 18,3 75,8 141,9
IIa IIa IIa IIa
Pò Đó
72,8 53,2 112,7 54,0
IIb IIb IIb IIb
28,3 10,1 62,4
Nà Dạ 1878,0 149,0 1496,8 Khau Tậu
Phia Khao
34,2 198,0
IIa IIa
Trang 21Từ kết quả bảng 4.1 chúng ta thấy: Khu vực nghiên cứu hiện đang tồn tại ba hình thức quản lý sử dụng rừng đó là hộ gia đình quản lý (2155,8ha); hạt kiểm lâm quản lý rừng đặc dụng(1696,8ha); Thôn xã quản lý dự kiến (1353,3ha) giao chưa
có cơ sở pháp lý rõ ràng
4.1.1.2 Những hạn chế trong các hình thức quản lý
+ Đối với rừng hộ gia đình quản lý
- Giao chồng chéo, một số hộ nhận rừng 2003 - 2005, chưa có sổ đỏ,chưa xác định ranh giới ngoài thực địa
- Rừng ở xa nhà nên việc bảo vệ không được thường xuyên do vậy một số hộ còn khai thác lẫn của nhau
- Thủ tục xin khai thác gỗ làm nhà còn phức tạp (ra huyện xa không có tiền đi lại)
- Giao thông đi lại khó khăn
- Không có các dự án hỗ trợ trồng rừng
- Người dân chưa có kỹ thuật gây trồng rừng
- Dân nghèo chưa quan tâm cho phát triển lâm nghiệp vì thời gian kinh doanh dài
- Trâu bò phá rừng trồng của hộ gia đình
+ Đối với rừng thôn, xã
- Chưa có chủ cụ thể ( chưa có sổ đỏ), chưa rõ ranh giới
- Xa dân cư khó bảo vệ
- Nhiều người nơi khác đến khai thác
- Chưa có hoạt động cụ thể nào trong bảo vệ
- Nhà nước chưa có các dự án, Chương trình hỗ trợ trong quản lý phát triển rừng
- Dân nghèo chỉ biết lợi dụng tài nguyên rừng
+ Đối với rừng hạt kiểm lâm quản lý
- Rừng còn nhiều gỗ quý là đối tượng cho người dân khai thác
- Giáp ranh nhiều địa phương
- Lực lượng kiểm lâm ít
- Xa đi lại khó khăn
- Điều kiện làm việc thiếu thốn