Trước đây, nguồn tài chính của các trường đại học công lập đều do ngân sách Nhà nước cấp. Cải cách tài chính trong khu vực này bắt đầu bằng chính sách học phí và xã hội hoá nhằm đa dạng nguồn thu. Hiện nay, tài chính cho các cơ sở đại học công lập có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như nguồn từ ngân sách Nhà nước, nguồn thu sự nghiệp và các nguồn khác. Do vậy cơ chế tài chính thu - chi của mỗi trường công lập đồng thời chịu sự chi phối của nhiều quy định và chính sách khác nhau.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP CHUYÊN NGÀNH
HÀ NỘI – 04/2006
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
HÀ NỘI – 04/2006
TrÞnh Quang Anh Líp Qu¶n lý kinh tÕ 44A 2
Trang 3MỤC LỤC Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng – hình
Lời mở đầu
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠI H ỌC VÀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI GIÁO
DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP -4
I MỘT SỐ VẤN ĐÊ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠI -4
1 Giáo dục đại học công lập -4
1.1 Giáo dục đại học -4
1.2 Giáo dục đại học công lập -11
2 Vai trò của giáo dục đại học đối với sự phát triển kinh tế - xã hội -12
II CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC -13
1 Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước đối với giáo dục đại học -13
2 Mục tiêu của cơ chế quản lý tài chính giáo dục đại học -13
3 Nội dung cơ bản của cơ chế quản lý tài chính của nhà nước đối với giáo dục đại học công lập -14
3.1 Cơ chế cấp phát ngân sách nhà nước cho các trường đại học công lập -15
3.2 Cơ chế quản lý nguồn thu đối với các trường đại học công lập 17
3.3 Quản lý chi đối với các trường đại học công lập -19
III KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC -21
1 Kinh nghiệm quốc tế -21
1.1 Kinh nghiệm của Đan Mạch -22
1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc -23
Trang 41.3 Kinh nghiệm của Phần Lan -25
2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam -25
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA -28
I KHÁI QUÁT VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM TRONG THỜIGIAN QUA -28
II THỰC TRẠNG VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI GIÁODỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP -34
1 Tình hình tài chính của các trường đại học công lập ở Việt Nam trongthời gian qua -34
1.1 Nguồn thu tài chính tại các trường đại học công lập -34 1.2 Chi tài chính tại các trường đại học công lập -35
2 Thực trạng về cơ chế quản lý tài chính đối với trường đại học công lập- 36
2.1 Thực trạng về cơ chế cấp phát ngân sách nhà nước cho các trường đại học công lập -36 2.2 Thực trạng cơ chế quản lý nguồn thu của nhà nước đối với các trường đại học công lập -42 2.3 Thực trạng về cơ chế quản lý chi của nhà nước đối với các trường đại học công lập -46
3 Những cải cách tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công trong lĩnhvực giáo dục -53
IV ĐÁNH GIÁ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐIVỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA -56
1 Những ưu điểm của cơ chế và cải cách quản lý tài chính của nhà nướcđối với giáo dục đại học công lập ở Việt Nam trong thời gian qua -56
2 Những hạn chế của cơ chế quản lý tài chính của nhà nước đối với giáodục đại học Việt Nam trong thời gian qua -57
Trang 53 Nguyên nhân của những tồn tại -58
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI -61
I XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAMTRONG THỜI GIAN TỚI -61
II ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐIVỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ỏ VIỆT NAM TRONG THỜIGIAN TỚI -63
1 Định hướng đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với trường đại học cônglập -63
2 Mục tiêu hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục đại họctrong thời gian tới -64III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝTÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬPTRONG GIAI ĐOẠN TỚI -65
1 Tạo dựng khung pháp lý về quản lý giáo dục đại học một cách đồng bộ -65
2 Cải tiến việc phân bổ và cấp phát ngân sách nhà nước -66
3 Hoàn thiện cơ chế quản lý nguồn thu đối với các trường đại học công lậptrong thời gian tới -67
4 Xã hội hoá giáo dục đại học, khuyến khích đa dạng hoá nguồn tài chínhcho phát triển giáo dục đại học công lập -70
5 Tăng cường phân cấp quản lý tài chính theo hướng tăng tính tự chủ, tựchịu trách nhiệm xã hội đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập -72
6 Xây dựng chính sách công về tài chính giáo dục đại học công lập -76
7 Một số giải pháp khác có liên quan nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quảnhững kiến nghị hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính giáo dục đại học công lập -76
Trang 6LĐ - TB - XH Lao động – Thương binh – Xã hội
Trang 7DANH MỤC BẢNG - HÌNH
I DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Một số hình thức cung ứng dịch vụ giáo dục đại học chia
theo người cung cấp
10
Bảng 2.1 Số lượng các trường đại học và cao đẳng 29Bảng 2.2 Số lượng giảng viên tại các trường đại học và cao đẳng 32Bảng 2.3 Tỷ lệ các nguồn thu tài chính của các trường đại học và
Bảng 2.7 Các dự án đầu tư xây dựng cơ bản nhóm A chuyển tiếp
của các Bộ, ngành và địa phương trong lĩnh vực đào
tạo đại học, cao đẳng
Trang 8Tên hình Trang
Hình 2.1 Số lượng sinh viên những năm 2002 - 2005 30Hình 2.2 Chi thường xuyên bình quân cho một sinh viên năm
2003 các trường đại học, cao đẳng thuộc Bộ Giáo dục
& Đào tạo
50
Hình 3.1 Số lượng sinh viên Việt Nam giai đoạn 2005-2020 62
Lêi më ®Çu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào thiên niên kỷ mới, cùng với sự đổi mới của nền kinh tế đấtnước, hệ thống giáo dục Việt Nam đã và đang có những bước phát triểnmạnh mẽ trên nhiều mặt Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế hướng tới
tương lai, giáo dục đại học có vị trí hết sức quan trọng Giáo dục đại học
Trang 9Việt Nam có những thuận lợi và thời cơ phát triển mới, đồng thời cũngđang đứng trước những thử thách hết sức to lớn Những thách thức đó đòihỏi Việt Nam phải tiếp tục đổi mới để đưa giáo dục đại học trở thành nềngiáo dục hiện đại, hội nhập khu vực và quốc tế.
Cơ chế quản lý nhà nước đối với giáo dục đại học công lập, đặc biệt
cơ chế tài chính trong những năm qua đã có những bước đổi mới (như tăngdần chi tiêu cho giáo dục đại học, khuyến khích các nguồn tài chính ngoàingân sách nhà nước v.v.) nhưng những điều chỉnh và biện pháp thực hiệnchưa đủ để tạo sự thay đổi về cơ bản
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lầnthứ IX đã xác định “Phát triển giáo dục – đào tạo là một động lực quantrọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện đểphát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăngtrưởng kinh tế nhanh và bền vững…” Đồng thời, Đảng cũng đề ra nhiệm
vụ phải đổi mới cơ chế quản lý tài chính giáo dục đại học trong giai đoạntới nhằm phát huy và huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước để pháttriển giáo dục đại học Trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, cáctrường đại học công lập đang giữ vai trò chủ đạo (về quy mô, chất lượng,đội ngũ giảng viên v.v.) Cơ chế quản lý tài chính của nhà nước ở đây đã cónhiều vấn đề đã có nhiều đổi mới, tuy nhiên cũng còn không ít vấn đề cầnđược tiếp tục thảo luận và nghiên cứu Để góp phần giải quyết vấn đề trên,dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Mai Văn Bưu và được thực tậpchuyên ngành ở Ban Khoa học quản lý – Viện nghiên cứu quản lý kinh tếTrung ương, em đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đốivới các trường đại học công lập ở Việt Nam trong thời gian tới” làmchuyên đề thực tập chuyên ngành của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 10quản lý tài chính đối với giáo dục đại học công lập để đề xuất những kiếnnghị chính sách nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối vớinhững trường này cho phù hợp với bối cảnh chung của đất nước trong thờigian tới.
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ chế quản lý tài chính của nhànước đối với các trường đại học và cao đẳng công lập trong cả nước (sauđây sẽ gọi chung là các trường đại học công lập)
4 Phương pháp nghiên cứu
Thông qua những nguồn thông tin thu thập được, đề tài đã phân tích,tổng hợp, so sánh số liệu về tài chính để luận giải các vấn đề về lý luận vàthực tiễn
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụlục nội dung của đề tài được trình bày trong ba chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về giáo dục đại học và cơ chế quản lý tài
chính của nhà nước đối với giáo dục đại học công lập
Chương II: Thực trạng cơ chế quản lý tài chính của nhà nước đối
với giáo dục đại học công lập ở Việt Nam trong thời gian qua
Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài
chính của Việt Nam trong thời gian tới
Em xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Mai Văn Bưu - Trưởngkhoa Khoa học quản lý, các cán bộ Ban Khoa học quản lý - Viện nghiêncứu quản lý kinh tế Trung ương đã dành thời gian quý báu của mình hướngdẫn và giúp đỡ em rất nhiều trong suốt thời gian em làm đề tài chuyên đềthực tập Tuy nhiên do chuyên đề thực tập chuyên ngành được thực hiện
Trang 11trong khoảng thời gian không dài, các kiến thức về lý luận và thực tiễn của
em còn hạn chế nên đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em rấtmong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, các chuyên gia
và toàn thể bạn đọc để chuyên đề của em có thể được hoàn thiện hơn
Trang 12Giáo dục là sự nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với mọi giai đoạnphát triển và tồn tại vĩnh hằng cùng với sự phát triển của loài người, là mộtquá trình bao gồm tất cả các hoạt động định hướng chăm lo và phát triểnrèn luyện tri thức cũng như phẩm chất con người Trong hệ thống giáo dục– đào tạo, giáo dục đại học có vai trò quan trọng trong toàn bộ chiến lược
“đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, đó là thước đo tiến bộ xã hội và
trình độ dân trí quốc gia Đổi mới giáo dục đại học không ngoài mục tiêunâng cao hiệu quả đào tạo Đây là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sửphát triển của giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng, của cáctrường đại học ở bất kỳ giai đoạn nào
1 Giáo dục đại học công lập
i Trường đại học Kinh tế Quốc dân, Khoa Khoa học quản lý, Đoàn Thị Thu Hà, Nguyễn Ngọc Huyền (đồng chủ biên), Giáo trình “Chính sách Kinh tế - Xã hội”, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, năm 2000.
Trang 13Cao đẳng
Trung học chuyên nghiệp
Trang 14người học có kiến thức chuyên môn và kỹ năng cơ bản về một ngành nghề,khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đàotạo Nhiều nước quan niệm rằng, cử nhân là những người được trang bị về
“những nguyên lý chung và những kiến thức cơ bản xem như là cơ sở đểlàm việc và học hành một cách chủ động”ii và giáo dục đại học còn là nơirèn luyện trí tuệ, phát triển phẩm chất đạo đức của người học để họ có thểtrở thành những người công dân có trách nhiệm
Giữa giáo dục phổ thông và giáo dục đại học có sự khác biệt Giáodục phổ thông bao gồm 3 cấp học: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổthông là căn bản trong hệ thống giáo dục Những kiến thức mà học sinhtích luỹ được khi theo học ở bậc phổ thông là những kiến thức căn bản, phổcập Nó giúp con người có những kiến thức cơ bản nhất để bước vào cuộcsống Nếu giáo dục phổ thông được phổ cập rộng rãi và triệt để thì nó giúpcho xã hội có nền tảng dân trí đồng đều Việc phổ cập giáo dục phổ thông
sẽ làm tăng mặt bằng dân trí, giúp cho việc triển khai những chính sách nóichung và các chính sách kinh tế nói riêng được thuận lợi, hiệu quả, tránhđược những nhầm lẫn không đáng có Không phải ngẫu nhiên mà tất cả cácquốc gia đều mong muốn nâng cao mặt bằng dân trí Mặt bằng dân trí có ýnghĩa hết sức quan trọng đối với các biện pháp mà chính phủ đưa ra Dântrí cao sẽ có ảnh hưởng tích cực tới hiệu quả chính sách của Chính phủ, gópphần vào sự phát triển kinh tế - xã hội
Hơn nữa giáo dục đại học phải dựa trên nền tảng giáo dục phổ thôngnên giáo dục đại học muốn đạt kết quả tốt thì học sinh phải có nền tảngkiến thức phổ thông vững chắc Hay nói một cách khác, giáo dục phổ thông
có vai trò quan trọng, gián tiếp tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao chođất nước Do vậy, xu hướng hiện nay nhà nước tăng tỉ trọng chi NSNN chogiáo dục phổ thông để đảm bảo sự phát triển cả về quy mô lẫn chất lượngcủa hệ thống giáo dục này
ii Theo định nghĩa về văn bằng đại học theo đạo luật về giáo dục đại học của Newzealand, 1989.
Trang 15Trong khi đó, sứ mệnh của mỗi trường đại học là đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhân tài, đào tạo được những con người năng động, sáng tạo, tựchủ, có đầu óc phê phán, có năng lực giải quyết những vấn đề mới nảysinh, có năng lực tự học, tự nghiên cứu suốt đời, có năng lực tạo nghiệp,tiến thân lập nghiệp trong “thị trường sức lao động” Có thể thấy rằng giáodục đại học đã cung cấp cho họ một trình độ văn hoá, tính chuyên nghiệp
để có thể phân biệt rõ ràng giữa chính họ và những người không có trình độchuyên môn, cho họ một năng suất lao động lớn, và tất nhiên là thu nhậpcũng rất cao Do đó, những người tham gia học đại học phải chia sẻ mộtphần chi phí và xu hướng là giảm đóng góp tài chính của nhà nước vàogiáo dục đại học
Sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận độngtheo cơ chế thị trường đã làm xuất hiện thị trường sức lao động Cơ chếmới đặt giáo dục vào một vị trí mới, một xu thế mới của xã hội Một sự thậtđược mọi người dễ dàng nhận thấy là thị trường có vai trò quan trọng trongcác hoạt động giáo dục đại học thông qua thị trường lao động, nó ảnhhưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới khía cạnh số lượng hay chất lượng củagiáo dục đại học
Thế giới nói chung đều xem dịch vụ giáo dục đại học là một loại
“hàng hoá công cộng không thuần tuý”iii do nhà nước cung cấp phần lớn.Dịch vụ giáo dục đại học là hàng hoá công cộng không thuần tuý vì nó thoảmãn tiêu chí không cạnh tranh trong tiêu dùng nhưng người học phải đạtđến một trình độ nhất định và phải có khả năng thanh học phí, tức là có tínhloại trừ trong tiêu dùng dịch vụ này Dịch vụ giáo dục đại học được xếp vào
loại dịch vụ công cộng, khác với dịch vụ công thuần tuý (những dịch vụ
thoả mãn hai đặc tính: không cạnh tranh và không loại trừ) như các dịch vụ
về quốc phòng, phòng chống dịch bệnh v.v tất cả mọi người đều có thể
iii Phạm Phụ, “Nhận dạng một số khoảng cách và sự khác biệt giữa thế giới và Việt Nam về giáo dục đại
Trang 16được hưởng dịch vụ công thuần tuý bất kể là họ có trả tiền cho dịch đó haykhông và sự tiêu dùng của người này không làm giảm đi sự tiêu dùng củangười khác Dịch vụ giáo dục đại học cũng khác với các dịch vụ thuộc
nhóm dịch vụ công ích như vệ sinh môi trường, cấp thoát nước, giao thông
vận tải…, những dịch vụ này thoả mãn tiêu chí không loại trừ trong sửdụng và tiêu dùng Như vậy, xét theo giác độ vai trò của nhà nước và vaitrò của thị trường có thể thấy nhóm dịch vụ công cộng (trong đó có giáodục đại học) phân biệt với các nhóm dịch vụ công khác ở tính thị trườngtheo hàm ý nhiều thị trường hơn so với nhóm dịch vụ công ích
Một trong những thuận lợi của cơ chế thị trường là áp lực nảy sinh
do cạnh tranh có thể thúc đẩy các cơ sở đào tạo phải thích nghi, phải đápứng các yêu cầu và đòi hỏi của những khách hàng bằng việc nâng cao hiệuquả quản lý, chất lượng của giáo dục và uy tín của nhà trường để thu hútnhanh và nhiều sinh viên Tất nhiên không ai có thể phủ nhận nhữngkhuyết tật của thị trường như lãng phí nguồn lực, chất lượng thấp v.v Bằngcách này hay cách khác nó hoạt động tự phát như một bàn tay vô hình Vìvậy, Nhà nước cần sẵn sàng can thiệp và trợ giúp để giải quyết những mặttiêu cực khi muốn sử dụng các lực lượng thị trường để giải quyết vấn đề
Trong giáo dục - đào tạo nói chung và giáo dục đại học nói riêng,nhà nước có vai trò quan trọng, là người định hướng vĩ mô cho toàn hệthống, cung cấp một phần quan trọng kinh phí giáo dục đào tạo cho hệthống giáo dục quốc dân Với nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước, cóthể giảm bớt sự bất bình đẳng trong xã hội về cơ hội hưởng thụ giáo dụcđai học do sự phân hoá giàu nghèo trong nhân dân, Nhà nước khuyến khích
và tạo điều kiện thuận lợi để đào tạo nhân tài về khoa học, công nghệ, vănhoá, nghệ thuật thông qua chính sách học bổng, phần thưởng cho các tàinăng sáng tạo, tổ chức tín dụng giáo dục và đào tạo Tóm lại, các chức năngchủ yếu của Nhà nước bao gồm:
Trang 17 Nắm giữ định hướng chính trị của giáo dục vì lợi ích quốc gia.
Xác định ưu tiên và thi hành các biện pháp có tầm chiến lược đểđảm bảo việc thực hiện
Điều tiết quy mô, tốc độ và phân bổ giáo dục đại học thông quatăng hoặc giảm ngân sách giáo dục, quy định nhiều điều khoản cho một vàilĩnh vực học tập cạnh tranh và đầu tư nhiều hơn trong những lĩnh vực cầnthiết để giữ cân bằng giữa các ngành, các vùng khác nhau
Thực hiện các chính sách xã hội, đảm bảo sự công bằng cơ hộitiệp cận giáo dục đại học của những người có hoàn cảnh khó khăn, thuộcdiện chính sách
Xét theo một khía cạnh khác, nếu chỉ có nhà nước tham gia trực tiếpviệc cung cấp dịch vụ giáo dục đại học thì cũng chưa chắc đảm bảo đạtđược tính hiệu quả do nguồn ngân sách hạn chế mà nhu cầu của nền kinh tếlại cao, thêm vào đó là do sự thiếu cạnh tranh trong việc cung ứng dịch vụnày Chính vì vậy, việc mở rộng các nhà cung cấp là cần thiết và đặc biệt
có ý nghĩa đối với các nước đang trong quá trình chuyển đổi Trong khungcảnh toàn cầu hoá hiện nay, việc cung cấp dịch vụ giáo dục đại học thậmchí còn có thể được cung cấp bởi các nhà cung cấp nước ngoài tại thịtrường nội địa Chúng ta có thể quan sát một số hình thức cung cấp dịch
vụ giáo dục đại học theo bảng được trình bày ở trang sau Các hình thứccung cấp dịch vụ giáo dục là khá phong phú và các tổ chức có hình thức
sở hữu khác nhau đều có thể tham gia cung cấp dịch vụ này Điều nayhoàn toàn không làm “mờ nhạt” vai trò của nhà nước trong việc cung cấpdịch vụ công mà ngược lại, làm cho dịch vụ này trở lên linh hoạt và hiệuquả hơn
Bảng 1: Một số hình thức cung ứng dịch vụ giáo dục đại học
chia theo người cung cấp
Trang 18Hình thức sở hữu Loại hình tổ chức của
nhà cung cấp
Dịch vụ giáo dục
Khu vực công - Bộ/sở/vụ/văn phòng
- Công ty tự chủ thuộc khuvực công
- Các trường thuộc Bộgiáo dục (quốc gia,bang,tỉnh, thành phố)
- Các trường đại học tựchủ
- Trường do các tổ chứcphi lợi nhuận, phi chínhphủ điều hành
Khu vực tư nhân
vì lợi nhuận
- Các doanh nghiệp nhỏ
- Các doanh nghiệp lớn
- Trường tư phi tôn giáo
Ở Việt Nam, Luật giáo dục năm 2005 quy định: "Giáo dục đại họcViệt Nam đào tạo trình độ cao đẳng và trình độ đại học":
“- Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện trong ba năm học đối vớingười có tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung họcchuyên nghiệp
- Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ bốn đến sáu năm họctuỳ theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung họcphổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, từ một đến hainăm đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành
- Cơ sở giáo dục đại học gồm: các trường cao đẳng đào tạo trình độcao đẳng; trường đại học đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, đào tạo trình
độ thạc sĩ, tiến sĩ khi được Thủ tướng Chính phủ giao Mô hình tổ chức cụ
Trang 19thể Sự tồn tại của các trường đại học công lập thể hiện việc thực hiện vai
trò và trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện mục tiêu phát triểnkinh tế - xã hội, đảm bảo sự công bằng cho người dân được tiếp cận với cácdịch vụ giáo dục đại học Mục tiêu của sự can thiệp này để sữa chữa cáckhuyết tật của thị trường – vốn là đặc tính của các dịch vụ công
1.2 Giáo dục đại học công lập
Các trường đại học công lập thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nướcthành lập, được Nhà nước đầu tư về cơ sở vật chất, cấp kinh phí cho cácnhiệm vụ chi thường xuyên và thuộc quyền quản lý của các cơ quan quản
lý giáo dục đại học theo hệ thống hành chính hiện hành Các trường đạihọc công lập được coi là tổ chức cung ứng dịch vụ công (public serviceproviders) trong lĩnh vực giáo dục, cung ứng dịch vụ mang tính chuyênmôn cao Các trường này hoạt động phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh
tế – xã hội và thông qua hệ thống này, Nhà nước muốn thể hiện vai tròquan trọng của mình nhằm đảm bảo sự công bằng và tiến bộ xã hội
Mỗi quốc gia, ở mỗi thời kỳ khác nhau người ta có cách khác nhau
để phân loại các trường đại học công lập Theo loại hình đào tạo có thể chiagiáo dục đại học công lập thành các loại như sau:
Đại học cộng đồng 2 năm (2 - year community) đào tạo trình độđại học đại cương (associate degree) gồm hai chương trình: Chương trìnhđào tạo nghề (career program) và chương trình chuyển tiếp (transferprogram) Đại học cộng đồng 2 năm có vai trò quan trọng trong hệ thốnggiáo dục đại học, vừa đào tạo một số chuyên ngành thông dụng, đáp ứngnhu cầu địa phương, vừa trang bị cho sinh viên một nghề để tìm việc làm,vừa làm nấc thang cho sinh viên tiến lên đại học chuyên ngành 4 năm vớimột học phí giảm tối thiểu nhất
Đại học vùng hay đại học tiểu bang 4 năm (4-year state college)
Trang 20 Đại học đa ngành.
Các trường cao đẳng cộng đồng
Các trường cao đẳng thực hành
2 Vai trò của giáo dục đại học đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Giáo dục tạo ra kiến thức, kỹ năng, giá trị và sự hình thành nhâncách Giáo dục là sự cần thiết cơ bản đối với kỷ cương xã hội, là nguồn lựcchính thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế bền vững Giáo dục cũng có nghĩa làvăn hóa, là sự quảng bá những thành tựu của nền văn minh nhân loại Giáodục nói chung và giáo dục đại học nói riêng không những chỉ hình thành vàhoàn thiện nhân cách con người, đặt nền tảng cho sự phát triển của conngười một cách toàn diện mà còn tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh
tế - xã hội Giáo dục đại học là nơi đào tạo nhân lực có trí thức và bồidưỡng tài năng cho thị trường sức lao động, đồng thời giáo dục đại học sẽgóp phần sáng tạo tri thức thông qua nghiên cứu khoa học, nhân văn vànghệ thuật
Hiện nay, quan niệm phổ biến về chức năng kinh tế – xã hội củatrường đại học như sau:
Trường đại học là nơi sản xuất nguồn nhân lực tri thức, sáng tạotri thức - Trường đại học là cơ sở sản xuất
Trường đại học là nơi cung cấp học vấn và chuyển giao tri thức Trường đại học là cơ sở dịch vụ
-Trong nền kinh tế tri thức được điều tiết bởi cơ chế thị trường, cáctrường đại học được xem như một cơ sở sản xuất nguồn nhân lực chấtlượng cao và là nơi sáng tạo tri thức mới Giáo dục đại học có vai trò chiphối mạnh mẽ chất lượng và hiệu quả phần lớn các hoạt động trong xã hộithông qua nguồn nhân lực trình độ cao, có vai trò là khâu đột phá vào quátrình đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá, (được tiến hành đồng thời
Trang 21với hai mũi đột phá khác là đổi mới cơ chế kinh tế và cải cách hành chính).Giáo dục đại học có vai trò chủ lực trong việc đào tạo nguồn nhân lực trình
độ cao trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm thoả mãn nhu cầucủa thị trường sức lao động
Thêm vào đó, giáo dục đại học còn là động lực để phát triển hệ thốnggiáo dục, thúc đẩy sự phát triển và cải thiện giáo dục ở tất cả các cấp, gópphần xây dựng xã hội học tập
Như vậy có thể khẳng định rằng, đối với bất kỳ quốc gia nào trênthế giới, giáo dục đại học đều đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ranguồn tri thức mới cho sự phát triển của xã hội, là nền tảng bền vững cho
sự phát triển của quốc gia Một xã hội văn minh không thể thiếu một nềngiáo dục đại học tiên tiến, tạo ra những con người giàu sức sáng tạo
II CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC.
1 Cơ chế quản lý tài chính của nhà nước đối với giáo dục đại học
Cơ chế quản lý tài chính giáo dục đại học là phương thức nhà nước
sử dụng công cụ tài chính tác động vào hệ thống giáo dục đại học nhằmđịnh hướng sự phát triển của giáo dục đại học, giúp cho hệ thống này có thểhoạt động hiệu quả và đáp ứng tốt nhất những yêu cầu của xã hội
Cơ chế quản lý tài chính bao gồm ba nội dung chính: một là, cơ chếcấp ngân sách nhà nước; hai là cơ chế quản lý nguồn thu; ba là, cơ chếquản lý chi tài chính đối với các trường đại học công lập
Hiện nay, mặc dù ngân sách Nhà nước dành cho giáo dục đại học chỉđảm bảo trang trải một phần chi tiêu cho các hoạt động đào tạo nhưng nóvẫn giữ vai trò quyết định đến sự phát triển của giáo dục đại học nước ta.Trong điều kiện ngân sách còn hạn hẹp, để đảm bảo sử dụng ngân sáchdành cho giáo dục đại học một cách hiệu quả cần sử dụng nhiều công cụchính sách khác nhau và phải có một cơ chế tài chính phù hợp Mục đích là
Trang 22Nhà nước sử dụng tài chính như một công cụ đắc lực để hướng các trườngđảm bảo thực hiện các mục tiêu: quy mô, chất lượng và hiệu quả; tạo môitrường cạnh tranh cho các cơ sở giáo dục đào tạo, kích thích tính năng động,tính sáng tạo và giữ cho hệ thống giáo dục đại học luôn mở và ổn định
2 Mục tiêu của cơ chế quản lý tài chính giáo dục đại học công lập
Mục tiêu cơ bản của cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục đại họccông lập là:
Tăng hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước và giảm sự phụ thuộcvào ngân sách nhà nước
Thúc đẩy sự phát triển của các trường đại học công lập
Nâng cao hiệu quả hoạt động của các trường đại học công lập đápứng yêu cầu về quy mô và chất lượng đào tạo
3 Nội dung cơ bản của cơ chế quản lý tài chính của nhà nước đối với giáo dục đại học công lập
Trước đây, nguồn tài chính của các trường đại học công lập đều dongân sách Nhà nước cấp Cải cách tài chính trong khu vực này bắt đầu bằngchính sách học phí và xã hội hoá nhằm đa dạng nguồn thu Hiện nay, tàichính cho các cơ sở đại học công lập có thể được hình thành từ nhiềunguồn khác nhau như nguồn từ ngân sách Nhà nước, nguồn thu sự nghiệp
và các nguồn khác Do vậy cơ chế tài chính thu - chi của mỗi trường cônglập đồng thời chịu sự chi phối của nhiều quy định và chính sách khác nhau
3.1 Cơ chế cấp phát ngân sách nhà nước cho các trường đại học công lập
Nguồn tài chính do Nhà nước cấp được xem như một khoản kinh phímua sản phẩm đào tạo, sản phẩm nghiên cứu, mua dịch vụ chuyển giao trithức, chuyển giao công nghệ hay cấp để thực hiện phúc lợi học tập đại họccho dân chúng
Trang 23Về nguyên tắc, có thể có 5 cách Nhà nước cung cấp tài chính cho cáctrường đại học.
Cách thứ nhất: Trường trình một dự toán ngân sách định kỳ
(thường là một năm) dựa trên những tính toán của trường về chi phí đối vớilương của cán bộ quản lý, giảng viên và các yếu tố đầu vào khác Vớinhững khoản tiền được cấp, trường phải dùng các khoản tiền này vàonhững khoản mục đã đề ra (cấp ngân sách nhà nước theo đầu vào)
Cách thứ hai: Trường được cấp một khoản kinh phí “trọn gói”, dựa
trên số tiền được cấp năm trước cộng với khoản gia tăng thêm hàng năm,
và được phép sử dụng số tiền này theo mục tiêu của mình trong khuôn khổcủa pháp luật
Cách thứ ba: Tiền được cấp dựa trên một công thức phản ánh được
các hoạt động đã qua nhưng trường được tự do sử dụng tiền theo mục tiêucủa mình Cơ sở để tính cho phần lớn các công thức là số lượng các hoạtđộng đào tạo (số môn, số cấp học, hệ số quy đổ để phản ánh chất lượng họctập của sinh viên v.v)
Cách thứ tư: Chính phủ mua dịch vụ học thuật của các trường đại
học Điều này tương tư như cách thứ ba nêu trên, nhưng tiền được cấp dựatrên khả năng hoạt động của trường trong tương lai chứ không dựa trênhoạt động đã qua của nhà trường (cấp theo đầu ra)
Cách thứ năm: Trường đại học bán các dịch vụ giảng dạy, nghiên
cứu và tư vấn cho nhiều loại hình khác nhau, cho những người sử dụng làsinh viên và các cơ quan công quyền để lấy kinh phí hoạt động
Trên thực tế, cơ chế cấp kinh phí cho giáo dục đại học thường là sựkết hợp của hai hay nhiều cách trên Hiện nay, người ta hay thảo luận đếncác cách hợp khác nhau của cách ba, cách bốn và cách năm
Thông thường đối với các trường đại học công lập, từ 70 đến 95%
Trang 24nguồn tài chính là do Nhà nước cấp Trong những năm qua, ở nhiều nước
đã diễn ra sự chuyển đổi việc cung cấp kinh phí cho các trường đại họccông lập từ phương thức dựa trên đầu vào sang phương thức dựa trên kếtquả đầu ra
Với phương thức cung cấp kinh phí dựa trên đầu vào, các khoản
tiền Nhà nước cung cấp để đáp ứng các khoản chi phí đầu vào của trườngnhư: trả lương cho nhân viên, mua thiết bị, các khoản chi đào tạo, thuêmướn nhà cửa Nhà trường được yêu cầu chi tiêu theo các khoản tiền đầuvào mà họ được cấp, trong khuôn khổ đó, các trường đại học công lập tựquyết định các sản phẩm đầu ra của mình
Việc cung cấp ngân sách dựa trên kết quả đầu ra, Nhà nước cung
cấp kinh phí cho các trường theo dịch vụ mà trường cung cấp cho nền kinh
tế xã hội Có thể nói rằng, thực tế đó là nhà nước đã “mua” các sản phẩm
và dịch vụ của trường Nhà trường cần phân bổ các nguồn lực đầu vào hợp
lý để tạo ra những sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của xã hội
Ngoài ra, nhà nước còn thực hiện việc cấp phát kinh phí để thực hiệncác chế độ về học phí, học bổng và tín dụng cho sinh viên
- Chế độ miễn giảm học phí là chính sách của Nhà nước để hỗ trợ
sinh viên học dài hạn tập trung thuộc diện gia đình có công với đất nước,người dân tộc thiểu số và sinh viên thuộc gia đình có hoàn cảnh khó khăn.Nhà nước tiếp tục duy trì chính sách miễn, giảm học phí cho sinh viênthuộc diện trên Các trường công lập trực tiếp thực hiện chính sách này
- Chế độ học bổng là chính sách của Nhà nước đối với người đi học
nhằm đảm bảo đời sống và học tập cho người học Chủ trương của Nhànước nhằm khuyến khích học sinh quan tâm đến kết quả học tập Hiện tại,các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam có hai loại học bổng: họcbổng cấp cho sinh viên có thành tích học tập khá trở lên và học bổng dướihình thức sinh hoạt phí cấp theo tỷ lệ lương cơ bản cho cán bộ, viên chức
Trang 25có thời hạn công tác liên tục 3 năm trở lên trong biên chế Nhà nước đượccấp cho người có thẩm quyền cử đi học
- Vốn vay cho sinh viên được sử dụng để giúp thanh toán chi phí
cho chính phủ và cũng giúp một số lượng lớn sinh viên được tiếp tục học ởbậc cao hơn Vốn vay có thể dưới dạng vốn vay thương mại tư nhân hoặcvốn vay cho sinh viên được nhà nước đảm bảo Chính phủ có thể có vai tròtích cực bằng cách chọn lựa ứng cử viên hay đưa ra các quy định
Hiện nay, ở Việt Nam nguồn tài chính để thực hiện các chính sách vềmiễn giảm học phí, cấp học bổng hay thực hiện vốn vay cho sinh viên đềuđược lấy từ nguồn ngân sách Nhà nước và nguồn thu sự nghiệp Xu hướng
là chính sách về học phí, học bổng hay chương trình tín dụng đào tạo phảiđược xây dựng dựa trên mối quan hệ tương tác với nhau và thực hiện việc
ưu tiên cho sinh viên là con em các gia đình thuộc diện chính sách, các giađình nghèo và sinh viên ở những vùng kém thuận lơi
3.2 Cơ chế quản lý nguồn thu của các trường đại học công lập
Nhà nước cho phép các trường đại học công lập được thu học phí (thu sự nghiệp) theo khung học phí mà nhà nước đã khống chế Nguồn thu
này có được do trường đại học cung cấp dịch vụ thông qua việc chuyểngiao tri thức Nhà nước đặt khung học phí đối với giáo dục đại học nhằmtới mục tiêu : chất lượng, số lượng, hiệu quả và sự công băng, do vậy chínhsách định giá của giáo dục đại học cần được cân nhắc đầy đủ đến khía cạnhthực hiện tốt hơn mục tiêu công bằng, tác động của chính sách tới cácnhóm lợi ích khác nhau trong xã hội Nhà nước cũng phải ưu tiên sử dụngnguồn lực của mình để phát triển những ngành đào tạo ít người muốn học
và cung cấp dịch vụ đào tạo đại học cho những đối tượng và nơi khó khăn
Nhà nước cần có khung học phí bởi những lý do chính sau:
Chế độ học phí từng bước thực hiện công bằng xã hội trong giáo
Trang 26dục, giúp Nhà nước cải tiến cơ chế chính sách quản lý tài chính đối vớigiáo dục đại học, thực hiện chính sách giữa các vùng tạo điều kiện cho cácvùng kinh tế kém phát triển đào tạo nguồn nhân lực.
Chế độ học phí sẽ giúp một số trường đại học có điều kiện thuậnlợi về địa lý, đào tạo có chất lượng, uy tín cao, và có các điều kiện cơ sở vậtchất kỹ thuật mở rộng quy mô đào tạo từng bước thực hiện tự chủ tài chính
để thực hiện xu hướng của sự phát triển
Chế độ học phí về lâu dài có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt độngcủa nhà trường đối với xã hội, đó là sự cạnh tranh giữa các trường về chiphí học tập và chất lượng đầu ra của đào tạo
Phải có sự kết hợp giữa chính sách về học phí với phương thức phân
bổ ngân sách (chuẩn cấp ngân sách cho một sinh viên) để tạo nên sự cânđối chi phí được trang trải bằng học phí Chi phí trung bình đào tạo mộtsinh viên hết bao nhiêu và ngân sách nhà nước sẽ đảm bảo được bao nhiêu,phần còn lại sẽ phải tính đến mức học phí Sau khi Nhà nước ban hànhhoặc điều chỉnh khung học phí, các trường đại học công lập xác lập mứchọc phí thường phải tính đến các yếu tố như chi phí đào tạo thực tế (chi phíđào tạo trung bình cho mỗi sinh viên), sự hấp dẫn của chuyên ngành đàotạo (nhiều sinh viên muốn học với hy vọng học xong sẽ dễ kiếm việc làm),mức sống và giá cả sinh hoạt nơi trường đóng Nhiều khi không phải chỉchi phí đào tạo cho sinh viên là yếu tố quyết định mà do nhu cầu người họcchuyên ngành này là nhiều hay ít mà mức học phí khác nhau
Nhà nước cũng cho phép và khuyến khích các trường đại học cônglập tăng nguồn thu từ các hoạt động nghiên cứu khoa học, các hoạt độngđào tạo gắn với nhu cầu sử dụng, việc phát triển các doanh nghiệp trongnhà trường, việc tham gia sản xuất của cải vật chất, và vai trò của nhàtrường là trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ
Việc phát triển hợp tác quốc tế để khai thác thêm những tiềm năng
Trang 27mới đang trở thành một xu hướng của các cơ sở giáo dục đại học Nhànước khuyến khích việc mở rộng và đẩy mạnh quan hệ quốc tế về đào tạo,nghiên cứu với các trường, các cơ quan nghiên cứu khoa học có uy tín, cóchất lượng trên thế giới không những nhằm trao đổi kinh nghiệm mà còntăng thêm nguồn lực cho phát triển giáo dục đại học Các trường có thể tậndụng mọi nguồn viện trợ thông qua chương trình hợp tác song phương và
đa phương đối với các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi Chínhphủ v.v để tăng nguồn đầu tư cho giáo dục
Nguồn thu của các trường đại học có được từ các nguồn khác như:
do các hoạt động sinh lời (mua bán chứng khoán, cho thuê các phươngtiện và cơ sở vật chất của nhà trường, các dich vụ cộng đồng v.v.) hay đạtgiải thưởng
3.3 Quản lý chi của các trường đại học công lập
Các trường đại học công lập được sử dụng nguồn ngân sách nhànước cấp và nguồn thu sự nghiệp để chi trả cho các hoạt động của cáctrường như: chi hoạt động thường xuyên, chi hoạt động sản xuất, cung ứngdịch vụ, chi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, chi đầu tưphát triển, chi các nhiệm vụ đột xuất được giao và các khoản chi khác Cóthể chia, quản lý chi đối với các trường đại học công lập theo các nội dungchủ yếu sau:
Chi phí cơ bản là chi phí xây dựng mới, bổ sung trang thiết bị mới.Loại chi phí này được sử dụng trong một thời gian dài, bao gồm: đất đai,nhà cửa, giá trị máy móc thiết bị, tài sản cố định cho quản lý hành chính.Loại chi phí này tham gia vào quá trình giáo dục và đào tạo nhưng giá trịhao mòn được tính theo mức độ khấu hao (tỷ lệ khấu hao hàng năm trongquá trình đào tạo)
Trang 28 Quản lý chi chương trình mục tiêu
Chương trình mục tiêu cho giáo dục đại học là khoản chi để giảiquyết những vấn đề cấp bách mang tính chiến lược trong sự nghiệp đào tạo.Như vậy các khoản chi chương trình mục tiêu phát sinh không thườngxuyên mà chỉ phát sinh trong một thời gian nhất định, khi các chương trìnhmục tiêu đó đã đạt được thì các khoản chi đó cũng kết thúc
Chi phí thường xuyên là chi phí đảm bảo hoạt động thường xuyêncủa đơn vị giáo dục đại học trong một năm Chi phí thường xuyên được cấptheo chế độ dự toán kinh phí hàng năm, liên quan nhiều đến chế độ chínhsách của Nhà nước Chi thường xuyên gồm các nội dung chủ yếu sau:
Chi cho cán bộ công nhân viên, giảng viên: chi tiền lương và cáckhoản có tính chất như lương
Chi cho quản lý hành chính: công tác phí, điện, nước v.v
Chi cho giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học
Chi cho mua sắm, sữa chữa thường xuyên: sữa chữa nâng cấptruờng lớp, bàn ghế, mua sắm trang thiết bị v.v
Trang 29III KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC.
1 Kinh nghiệm quốc tế
Trong xu thế toàn cầu hoá và sự nổi nên của nền kinh tế tri thức, mặc
dù các nước còn khác nhau về trình độ phát triển nhưng đều coi giáo dục làquốc sách hàng đầu và việc đầu tư vào nhân tố con người đang trở thànhvấn đề sống còn của nhiều quốc gia Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nướctrên thế giới đều đẩy nhanh tiến trình cải cách giáo dục và chưa bao giờ cảicách giáo dục lại trở thành một hiện tượng mang tính toàn cầu như hiện nay
Để rút ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam về cơ chế quản lý tàichính trong giáo dục đại học, chúng ta sẽ tìm hiểu những cải cách giáo dụcđại học của hai nước ở Bắc Âu là Đan Mạch và Phần Lan, Nhật Bản vàTrung Quốc
Đan Mạch và Phần Lan là hai nước phát triển, nằm trong nhóm nướcdẫn đầu thế giới về chỉ số tổng hợp giáo dục Mặc dù vậy, trước xu thếchung, cả hai nước đều đã tiến hành cải cách lĩnh vực giáo dục đại họcnhưng với thời điểm và cách thức tiến hành có khác nhau, trong đó PhầnLan là nước đi trước và Đan Mạch mới chỉ thực sự bắt đầu từ vài năm trởlại đây
Giống như Đan Mạch và Phần Lan, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới làNhật Bản đã thực hiện chương trình cải cách hành chính toàn diện mà mộttrong những trọng tâm là cải cách các tổ chức của nhà nước trong lĩnh vựcgiáo dục đại học Do hệ thống giáo dục đại học ở Nhật Bản có một số đặcđiểm khác với các nước phát triển ở Châu Âu, điều này có thể ảnh hưởngđến cách tiếp cận cải cách, vì vậy Nhật Bản cũng là nước được lựa chọn đểnghiên cứu
Trung Quốc là một nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam và nước
Trang 30này cũng đang phải đối mặt với các vấn đề tương tự như của Việt Nam liênquan đến giáo dục đại học Mặc dù Trung Quốc đã thử nghiệm cải cáchlĩnh vực này gần hai thập kỷ nay, cũng đã thu được một số thành tựu nhấtđịnh nhưng kết quả còn rất khiêm tốn và còn gây nhiều tranh cãi Đó cũng
là lý do để nghiên cứu trường hợp của Trung Quốc với hy vọng sẽ rút rađược một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.1 Kinh nghiệm của Đan Mạch
Số liệu thống kê năm 2003 (OEDC năm 2005) cho thấy Đan Mạch là
mộ trong những nước mà dịch vụ giáo dục phần lớn được cung cấp bởi các
tổ chức công[19] Các trường tư nhân dường như chưa có chỗ đứng ở nướcnày Cải cách các tổ chức công trong lĩnh vực giáo dục đại học được thựchiện trong một khung khổ cải cách chung và thực hiện đồng bộ Trong đóđổi mới cơ chế quản lý tài chính là một trong đó ba bộ phận cấu thànhchính (cùng với đổi mới cơ hình thức tổ chức của các trường đại học công,đổi mới cơ chế quản lý nhà nước)
Ngân sách nhà nước cấp cho các trường đại học công lập và tư nhânhoạt động phụ thuộc vào Chính phủ được thực hiện trên nguyên tắc phân
bổ dựa vào hoạt động kết quả đầu ra, kết quả đào tạo và quá trình hoạtđộng Nhà nước thực hiện cơ chế phân bổ ngân sách theo nguyên tắc tổchức của một tổ chức tự quản, theo số sinh viên tôt nghiệp, theo khối lượngcác công trình nghiên cứu hoàn thành và chi phí thuê nhà, văn phòng củatrường Có nghĩa là các trường được chủ động tuyển dụng cán bộ theo hợpđồng và trả lương trên cơ sở thương lượng giữa hiệu trưởng, người laođộng và công đoàn[19] Ngoài ra, phân bổ ngân sách còn dựa trên cơ sở hợpđồng ký kết giữa nhà nước và nhà trường, vì vậy phụ thuộc nhiều vào mụctiêu của nhà trường đề xuất Tuy nhiên, ngân sách nhận từ Bộ Giáo dục vàĐào tạo chỉ là một bộ phận trong tổng thu đối với các trường đại học, chủyếu là ngân sách tối thiểu chi cho giảng dạy
Trang 311.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Ở Nhật Bản, hệ thống các trường chỉ có hai loại phân theo sở hữu làtrường công lập và trường tư Năm 2003, có tới 91% học sinh phổ thôngtheo học tại các trường công lập Tỷ lệ này không đồng đều ở các bậc học,
ở bậc trung học cơ sở là 94% và ở bậc trung học phổ thông là 69,8% Tronglĩnh vực đào tạo, sinh viên theo học tại các trường công lập chỉ chiếm9,3% Số học sinh, sinh viên còn lại theo học tại các trường tư nhân
Các cơ sở giáo dục công lập được chia làm ba loại theo cấp quản lý
là trường trực thuộc trung ương, địa phương và xã phường Nhà nước quyđịnh chi tiết việc dạy và học của các trường Các cơ sở giáo dục hoạt độnghầu hết bằng nguồn ngân sách nhà nước với cơ chế cấp ngân sách cứngnhắc, chủ yếu theo tiêu chí đầu vào (số học sinh, sinh viên, nhu cầu muasắm, đầu tư…) Cải cách lĩnh vực giáo dục được bắt đầu từ năm 2001.Trọng tâm của cải cách là giáo dục đại học và nội dung quan trọng nhấtchính là cơ chế tổ chức, cơ chế nhân sự và cơ chế tài chính của các trườngđại học Chương trình cải cách giáo dục đại học đã được bàn luận từnhững năm 1971 nhưng chỉ được thông qua vào năm 1999 bằng việc banhành Quyết định của Chính phủ về cải cách trường đại học theo hướngmột tổ chức tự chủ, trước hết là chuyển các trường đại học quốc lập sangthành tổ chức quản lý độc lập Năm 2002 Bộ Giáo dục, Văn hóa, thể thao
và Khoa học công nghệ đã trình Chính phủ một bản báo cáo, trong đó đềxuất một hình thức tổ chức mới, gọi là “Pháp nhân trường đại học quốclập” (National University Corporations)[19] Năm 2003, Luật pháp nhântrường công lập được thông qua tạo cơ sở phấp lý cho việc thực hiện “Phápnhân hoá” các trường quốc lập từ năm 2004
Pháp nhân hoá các trường đại học công lập thực chất là quá trìnhchuyển đổi các trường có hình thức tổ chức như một cơ quan hành chính,chịu sự quản lý nhiều cấp quản lý trước năm 2004 sang một hình thức tổ
Trang 32chức quản lý độc lập như một pháp nhân Khái niệm pháp nhân hoá thểhiện hai quan điểm đổi mới chính, một là tăng tính tự chủ cho các trường;hai đưa kỹ thuật quản lý của loại hình công ty tư nhân vào áp dụng cho cáctrường đại học Mục tiêu của cuộc cải cách này là tạo ra môi trường cạnhtranh giữa các loại hình trường, do đó mỗi trường đại học phải năng động
và nâng cao hiệu quả hoạt động Mô hình cải cách là chuyển đổi từngtrường, không cơ cấu lại như nhập hay tách các trường
Theo Luật mới, trường đại học tự lập kế hoạch thu – chi hàng năm.Trên cơ sở chỉ tiêu đại học và hoạt động dự kiến, trường sẽ trình lên BộGiáo dục một bản dự thảo mục tiêu trung hạn (6 năm) (bản dự thảo trình lên
cố đề nghị cấp ngân sách cho trường) và kèm theo một bản dự thảo kế hoạchtriển khai thực hiện để xin phế duyệt Trong quá trình phê duyệt, Bộ Giáodục và đào tạo sẽ lấy ý kiến của Uỷ ban đánh giá Pháp nhân trường học[19]
Cũng theo Luật mới, các trường được linh hoạt về chi, được tự quyếtđịnh sử dụng tiền ngân sách cấp Thu của các trường hình thành từ banguồn chính là: ngân sách nhà nước cấp, thu học phí, thu từ nghiên cứukhoa học và hoạt động hợp tác Nguyên tắc tài chính chung là các trườngphải tăng tỷ trọng thu ngoài ngân sách, nhưng nhà nước không có chínhsách tăng mức học phí và tăng thu từ học phí
Ngân sách cấp: sau khi chuyển đổi sang một pháp nhân, nhà nước
thực hiện giảm tỷ trọng ngân sách trong tồng thu của các trường theo một
lộ trình Về nguyên tắc, ngân sách cấp nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động tốithiểu của trường (như tiền lương, hỗ trợ xây dựng trường, hỗ trợ mua sắmtrang thiết bị…) Tuỳ thuộc vào khả năng thu ngoài ngân sách của mỗitrường mà chỉ tiêu cắt giảm có thể khác nhau
Học phí: Bộ giáo dục ban hành khung học phí và mỗi trường có thể
thu mức học phí khác nhau, dao động trong biên độ thấp hoặc cao hơn 10%mức quy định Điểm đổi mới quan trọng nhất là một số trường trước đây
Trang 33không được trực tiếp thu học phí thì nay đã được phép Tuy nhiên với quyđịnh mới thì học phí ở các trường tư vẫn cao hơn rất nhiều so với cáctrường công lập.
Thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học và hợp tác: trở thành nguồn
thu quan trọng của trường và cũng là điểm mới của cải cách giáo dục đạihọc Trong khi tỷ trọng thu từ ngân sách bắt buộc phải giảm 1% hàng năm
và chính sách không tăng học phí vẫn duy trì, phương án duy nhất của cáctrường để tăng nguồn thu chính là đẩy mạnh mảng nghiên cứu khoa học vàhợp tác với nước ngoài Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện gặp không ítkhó khăn, bởi tăng nguồn từ nghiên cứu khoa học và hợp tác đối với nhữngtrường nhỏ, chưa danh tiếng là rất khó
1.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Từ cuối năm 1990 đến nay, xu hướng “tư nhân hoá” các trường cônglập trong lĩnh vực giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng gia tăngnhanh chóng Tuy nhiên “tư nhân hoá” ở đây thực chất là quá trình chuyểnđổi giữa các trường theo hướng trường vẫn thuộc sở hữu nhà nước nhưng
cơ chế hoạt động và quản lý áp dụng giống như một trường tư nhân Cáctrường đại học công có thể thành lập một hay một số trường con độc lập vàhoạt động theo cơ chế như một trường tư nhân
Trong những năm qua quá trình này đã đi đôi với việc tăng học phí
2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá, quá trình hội nhập kinh tếquốc tế đang tạo ra thời cơ nhưng cũng không ít thách thức đối với cáctrường đại học công lập Để vượt qua được những thách thức ấy, mỗitrường đại học công lập phải khắc phục những yếu kém, những bất cập củamình Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần nghiên cứu và vận dụng kinhnghiệm của các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới trong phát
Trang 34triển giáo dục đại học, đổi mới cơ chế quản lý các trường đại học công lập,trong đó đổi mới cơ chế quản lý tài chính là nội dung quan trọng, tạo điềukiện cho các trường đại học công lập đáp ứng tốt các đòi hỏi của sự pháttriển kinh tế – xã hội.
Từ việc phân tích kinh nghiệm về cơ chế quản lý tài chính cho giáodục đại học của Đan Mạch, Nhật Bản, Trung Quốc có thể rút ra một số bàihọc có thể áp dụng vào Việt Nam như sau:
Thứ nhất, đổi mới cơ chế tổ chức, quản lý nói chung và cơ chế quản
lý tài chính các trường đại học công lập thường với quá trình xã hội hoágiáo dục đại học, huy động mọi nguồn lực đầu tư và tham gia vào hoạtđộng cung ứng dịch vụ này Qua đó, tạo môi trường cạnh tranh để cáctrường đại học công lập buộc phải tự cải tiến tổ chức, quản lý của mình,phải nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả hoạt động để có thể tồn tạitrong cơ chế mới
Thứ hai là, trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính hơn
nữa cho các trường đại học công lập đi đôi với tăng cường giám sát, kiểmtra và đánh giá hoạt động của các trường đại học công lập dựa vào kết quả,chất lượng công việc đầu ra hơn là kiểm soát đầu vào và can thiệp vào hoạtđộng tác nghiệp của các trường
Thứ ba là, đổi mới cơ chế quản lý tài chính giáo dục đại học công lập
cần được thực hiện đồng bộ với tăng nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và đẩymạnh năng lực về quan hệ hợp tác quốc tế của các trường
Thứ tư là, nhà nước thực hiện cơ chế phân bổ ngân sách theo đầu ra
(theo số sinh viên tốt nghiệp, theo công trình nghiên cứu khoa học v.v)
Thứ năm là, trong hoàn cảnh ngân sách nhà nước hạn hẹp, xu hướng
trong tương lai là nhà nước sẽ đầu tư nhiều hơn cho giáo dục phổ thông, và
Trang 35tăng nguồn thu sự nghiệp đối với giáo dục đại học.
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP
Trang 36Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
I KHÁI QUÁT VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
Những năm gần đây, Nhà nước đã có những cải cách lớn, trong đóđặc biệt quan tâm đến việc xây dựng chiến lược phát triển hệ thống giáodục và đào tạo, tạo cho các cơ sở đại học nói chung và giáo dục đại học nóiriêng nhiều cơ hội và thách thức mới Giáo dục đại học giai đoạn này đãthu được nhiều thành tựu và tạo được xu thế phát triển mới đáp ứng yêucầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
Trước năm 1986 đối với các tỉnh phía Bắc và từ năm 1975 – 1986đối với các tỉnh phía Nam, các cơ sở giáo dục đại học đều là công lập.Trong giai đoạn vừa qua, nhiều cuộc cải cách đã diễn ra, đặc biệt là chủtrương xã hội hoá và đa dạng hoá các tổ chức cung ứng dịch vụ giáo dụcđào tạo, đến nay hệ thống giáo dục đại học ở nước ta gồm 6 loại hình:Trường công lập, trường bán công, trường dân lập, trường tư thục, trườngliên doanh liên kết với nước ngoài và trường 100% vốn nước ngoài Tuynhiên hệ thống các trường đại học công lập vẫn giữ vai trò chủ đạo trong hệthống giáo dục đại học Việt Nam
Hệ thống các trường đại học công lập ở Việt Nam gồm các loại trường sau:
- Đại học Quốc gia (Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc giathành phố Hồ Chí Minh) chịu sự quản lý trực tiếp của Thủ tướng Chínhphủ, có nhiệm vụ cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, đangành, đa lĩnh vực cho cả nước
- Đại học vùng (Thái Nguyên, Huế, Đà Nẵng) trực thuộc Bộ Giáodục và đào tạo, có nhiệm vụ cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao, đangành, đa lĩnh vực cho một vùng kinh tế trọng điểm
Trang 37- Học viện, trường đại học trực thuộc bộ, ngành, tổng công ty 91 cónhiệm vụ cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao thuộc một ngành, lĩnhvực kinh tế - xã hội.
- Trường đại học đa ngành trực thuộc uỷ ban nhân dân tỉnh, thànhphố có nhiệm vụ cung cấp nguồn nhân lực đa ngành, đa hệ cho địa phương
Số lượng các trường đại học công lập tăng lên trong những năm vừaqua và vẫn chiếm phần lớn tỷ trọng trong tổng số các trường Tuy nhiên,hiện nay số lượng các trường đại học ngoài công lập đang có xu hướng tăngvới tốc độ nhanh hơn các trường công lập
Bảng 2.1: Số lượng các trường đại học và cao đẳng
Đơn vị: Trường2001-2002 2002-2003 2003-2004 2004-2005
2001 đến nay (2000 – 2001), tốc độ tăng trung bình hàng năm là 7,52%(xem hình 2.1)
Trang 38Qua hỡnh vẽ và số liệu thống kờ, cú thể nhận thấy vai trũ chủ đạocỏc trường cụng lập trong hệ thống giỏo dục đại học ở nước ta hiện nay vềquy mụ đào tạo Tổng số sinh viờn theo học tại cỏc trường đại học cụnglập năm học 2004 - 2005 là 1 181 994 người trong tổng số sinh viờn của
cả nước (chiếm 89,56%), trong khi cỏc trường đại học ngoài cụng lập đàotạo 137 760 người (chiếm 10,44%)
111856
908811 805123
215544
137122
993908 898767
232263
137760
1181994 1016291
Đại học Cao đẳng
Hỡnh 2.1: Số lượng sinh viờn những năm 2002 - 2005
Tỷ lệ sinh viờn theo học cao và mức thu học phớ thấp so với mức chiphớ đào tạo ở cỏc trường đại học cụng lập cho thấy tỷ trọng đầu tư cua Nhànước trong đầu tư chung của xó hội cho giỏo dục đại học ở nước ta caongang bằng với cỏc nước phỏt triển Chẳng hạn, ở Mỹ số sinh viờn theo họctại cỏc trường đại học cụng lập cũng nhiều hơn số sinh viờn theo học tại cỏctrường đại học tư thục với tỷ lệ so sỏnh khoảng 78% và 22% (DouglasK.Stevenson, Cuộc sống và cỏc thể chế ở Mỹ, NXB Chớnh trị Quốc gia, HàNội – 2000, tr 95)
Trang 39Vai trò chủ đạo của các trường đại học công lập còn thể hiện ở trình
độ đào tạo và cơ cấu ngành nghề đào tạo Hiện nay, chưa có trường đại họcngoài công lập nào đào tạo trình độ sau đại học, 100% học viên cao học vànghiên cứu sinh được đào tạo ở các trường công lập Các trường ngoàicông lập chủ yếu đào tạo một số ngành nghề đầu tư ít mà thu hút một sốlượng lớn sinh viên theo học như tin học, ngoại ngữ, du lịch, kinh tế, luật,tài chính - tín dụng v.v Trong khi đó, hệ thống các trường đại học công lậpđược Nhà nước giao nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng đa dạngngành nghề của kinh tế - xã hội đất nước: khoa học tự nhiên, khoa học xãhội và nhân văn, sư phạm, kỹ thuật, công nghệ, nông nghiệp, thuỷ lợi, thuỷsản, giao thông vận tải v.v Nhiều ngành nghề hiện tại không hấp dẫn họcsinh như các ngành khoa học cơ bản, địa chất, thổ nhưỡng, nông nghiệp,lâm nghiệp v.v nhưng vẫn đang được đào tạo trong các trường công lập vìđây là nhu cầu của đất nước
Một thực tế đang tồn tại là chất lượng đào tạo ở các trường đại họccông lập cao hơn ở các trường ngoài công lập Đây là điểm khác thường sovới hệ thống giáo dục đại học ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ởcác nước phát triển, nơi không có sự phân biệt đáng kể về chất lượng đàotạo giữa các trường đại học công lập và trường đại học tư thục, thậm chí cónhiều trường tư thục danh tiếng hàng đầu như các trường đại học Havard,Stanford, Yale ở Mỹ; Keio, Wasseda ở Nhật Bản v.v
Chất lượng đào tạo của các trường đại học công lập cao hơn cáctrường đại học ngoài công lập bởi các lý do chủ yếu sau đây:
Đầu vào (tuyển sinh) của các trường đại học công lập có chấtlượng tốt hơn các trường ngoài công lập
Cơ sở vật chất của các trường đại học công lập tốt hơn các trườngđại học ngoài công lập
Các trường đại học công lập có đội ngũ cán bộ giảng dạy mạnh
Trang 40hơn các trường ngoài công lập cả về trình độ, chất lượng và số lượng.
Hoạt động nghiên cứu khoa học – công nghệ mà trước hết là các
đề tài nghiên cứu khoa học các cấp Nhà nước, Bộ, Ngành cũng là một yếu
tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại họccông lập Hoạt động nghiên cứu khoa học – công nghệ hầu như còn chưađược triển khai ở các trường đại học ngoài công lập
Bảng 2.2: Số lượng giảng viên tại các trường đại học và cao đẳng
Đơn vị: Người2001-2002 2002-2003 2003-2004 2004-2005
Cùng với tăng số lượng trường, số lượng sinh viên, năm học 2004 –
2005 số lượng giảng viên ở các trường đại học được ghi nhận là 47 646người, tăng 1,48 lần so với năm học 2000 – 2001, tốc độ tăng bình quânhàng năm trong giai đoạn này là 10,29%
Theo bảng số liệu trên, số lượng giảng viên làm việc ở các trườngcông lập nhiều hơn rất nhiều so với các trường ngoài công lập Số cán bộgiảng dạy có chức danh giáo sư, phó giáo sư và học vị tiến sỹ, tiến sỹ khoahọc đều tập trung chủ yếu ở các trường đại học công lập trọng điểm
Đội ngũ giáo viên vẫn còn thiếu hụt về số lượng Tỷ lệ sinhviên/giảng viên trung bình của các trường trên cả nước là 27, ở một số