Trong đó đặc biệt chú trọng đến đổi mới nội dungchương trình, sách giáo khoa, đổi mới phương pháp day học…Tất cả đều nhằmhướng đến thực hiện mục tiêu: “Giáo dục phải phát huy được tính t
Trang 1MỤC LỤC
Phụ bìa i
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
1 MỞ ĐẦU 4
1.1 Lý do chọn đề tài 4
1.2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 6
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
1.4 Phương pháp nghiên cứu 6
2 NỘI DUNG 7
2.1 Cơ sở lí luận 7
2.1.1 Hứng thú 7
2.1.2 Tạo hứng thú với định hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học 8
2.1.3 Đặc trưng của các văn bản thơ và sự đòi hỏi hứng thú trong tiếp nhận thơ trung đại 8
2.1.4 Đọc – hiểu văn bản và sự cần thiết của việc tạo hứng thú trong giờ đọc -hiểu văn bản nghệ thuật 10
2.2 Cơ sở thực tiễn 11
2.2.1 Đặc điểm tâm lí học sinh THPT với yêu cầu tạo hứng thú 11
2.2.2 Tiềm năng chương trình sách giáo khoa mới với việc tạo hứng thú đối với học sinh 12
2.2.3 Thực trạng dạy thơ trung đại Việt Nam với việc tạo hứng thú cho học sinh ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Đăk Nông 12
2.2.4 Thực trạng hứng thú của học sinh khi học văn học trung đại 14
2.3 Một số biện pháp cụ thể nhằm tạo hứng thú cho học sinh trong giờ đọc hiểu thơ trung đại 16
2.3.1 Những định hướng chung 16
2.3.2 Các biện pháp cụ thể nhằm tạo hứng thú cho học sinh trong giờ đọc hiểu thơ trung đại ở trường THPT 16
Trang 22.3.2.1 Nhóm biện pháp gây hứng thú bằng cách tác động trực tiếp đến tình cảm 16
2.3.2.2 Nhóm các biện pháp gây hứng thú bằng cách tổ chức cho học sinh hoạt
động 20
2.3.2.3 Nhóm biện pháp tạo hứng thú bằng cách khơi dậy sự đồng sáng tạo ở học sinh 24
2.3.2.4 Nhóm biện pháp tạo hứng thú bằng cách cung cấp kiến thức, mở rộng tầm hiểu biết cho học sinh 28
2.4 Hiệu quả của sáng kiến
2 4.1 Mục đích tổ chức thực nghiệm 33
2.4.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm 34
2.4.3 Thời gian thực nghiệm 73
2.4.4 Tổ chức thực nghiệm 34
2.4.5 Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm 36
3.KẾT LUẬN 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 41 MỞ ĐẦU1.1 Lý do chọn đề tài
Vấn đề tạo hứng thú (HT) cho người học là một yêu cầu cấp thiết, phù hợp với chủ trương của Đảng, của Nhà nước về đổi mới giáo dục
Trong xu thế hội nhập cùng với thế giới, đất nước ta đã và đang bước vàogiai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhân tố quyết định sự thành công quantrọng nhất chính là nguồn nhân lực Nhiệm vụ của ngành Giáo dục Việt Nam là phảiđào tạo được một thế hệ trẻ có được đầy đủ những phẩm chất, năng lực, đạo đứccần thiết để đưa đất nước phát triển ngang bằng với các nước trong khu vực và trênthế giới Đổi mới giáo dục chính là một chiến lược của Đảng, của Nhà nước nhằmphát triển nền giáo dục Tinh thần đổi mới ấy được thực hiện đồng bộ, mạnh mẽtoàn diện ở tất cả các mặt Trong đó đặc biệt chú trọng đến đổi mới nội dungchương trình, sách giáo khoa, đổi mới phương pháp day học…Tất cả đều nhằmhướng đến thực hiện mục tiêu: “Giáo dục phải phát huy được tính tích cực, tự giác,chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng môn học, bồi dưỡngphương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đem lạiniềm vui, niềm say mê và hứng thú học tập cho học sinh” (Luật Giáo dục)
Tạo hứng thú cho người học là sự thể hiện tinh thần đổi mới phương pháp dạy học theo quan điểm dạy học lấy học sinh (HS) làm trung tâm
Một yêu cầu có tính chất quyết định đến hiệu quả dạy học là phải đi từ HS,bằng HS và vì HS Quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm chú trọng đến vai tròcủa người học trong quá trình học tập HS phải là chủ thể tích cực trong quá trìnhchiếm lĩnh tri thức Trước đòi hỏi ngày càng cao của người học, chúng ta không thểdạy theo lối áp đặt nhồi nhét kiến thức mà vấn đề quan trọng là phải tìm cách tácđộng để khơi gợi nhu cầu nhận thức, nhu cầu được thể hiện mình của mỗi học sinh.Hứng thú là điều kiện và cũng chính là động lực thúc đẩy con người vươn lên làmchủ kiến thức Với người học, hứng thú giúp phát huy tính tích cực, chủ động, thúcđẩy khát vọng sáng tạo ở mỗi người Có hứng thú học tập, HS sẽ nỗ lực học tập và
tự điều chỉnh hoạt động học tập của mình để đạt kết quả cao nhất Chính vì thế, tạo
HT cho HS là con đường ngắn nhất để đưa đến những thành công trong dạy học.Đổi mới phương pháp, có cách thức tác động phù hợp giúp HS phát huy được tínhtích cực chủ động để các em ngày càng yêu thích, thích thú hơn trong mỗi giờ học,
Trang 5đó chính là một yêu cầu tối cần thiết trong việc đổi mới phương pháp dạy học văn
và cũng là yêu cầu cơ bản của quan điểm dạy học hiện đại
Thực trạng dạy học văn nói chung và thơ trung đại (TĐ) Việt Nam nói riêng luôn cần một hướng đi để nâng cao chất lượng dạy học
Những năm gần đây, thực trạng về vấn đề dạy và học văn trong nhà trường
đã trở thành một vấn đề mang tính thời sự được toàn xã hội quan tâm Tình trạng
HS càng ngày càng xa rời môn văn, chán học văn cũng là một biểu hiện của việcdạy văn trong nhà trường vẫn còn kém sức thu hút Thực tế đó đã gióng lên hồichuông cảnh tỉnh các nhà giáo cần phải có sự đổi thay cách dạy cho phù hợp vớingười học Nhất là trong thời đại hiện nay, do sự phát triển hơn trước về mặt tâmsinh lí, HS đã không còn thỏa mãn với vai trò của người tiếp thu thụ động, khôngchỉ chấp nhận những giải pháp có sẵn được đưa ra
Trong chương trình văn học được giảng dạy ở nhà trường phổ thông, thơ TĐViệt Nam có một vị trí, vai trò quan trọng trong việc góp phần làm phong phú kiếnthức văn học, bồi dưỡng tâm tư, tình cảm cũng như giáo dục cho các em biết quýtrọng gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, có trách nhiệm đối với đất nước Những tácphẩm thơ TĐ được tuyển chọn vào trong nhà trường đều là những tác phẩm ưu túcủa một thời đại HS có thể tìm thấy trong đó những chân lí sống, những tình cảm,tâm hồn dân tộc Việt Tuy nhiên, việc dạy học thơ TĐ trong nhà trường hiện naycòn gặp không ít khó khăn không chỉ với HS mà còn với giáo viên (GV) Nhữngkhác biệt về tư duy, thị hiếu thẩm mĩ, tâm lí thời đại đã tạo nên những khoảng cáchtrong tiếp nhận của người học Chính vì vậy, giờ học về thơ TĐ chưa thực sự thuhút được sự chú ý của người học nhất là với lứa tuổi HS trung học phổ thông hiệnnay - một lứa tuổi luôn nhạy cảm với cái mới và ít quan tâm tới những cái đã xa thờiđại của mình Thực trạng dạy học thơ văn TĐ hiện nay đòi hỏi cần có một hướnggiải quyết phù hợp để đem lại HT cho HS trong giờ học
Chất lượng của một giờ đọc - hiểu (Đ-H) thơ TĐ liên quan chặt chẽ đến tinh thần thái độ, động cơ học tập của HS và nghệ thuật tổ chức giờ học của GV
Tiếp nhận thơ TĐ là một quá trình sáng tạo đầy gian khổ nhưng cũng đầy HTđòi hỏi người học không chỉ có năng lực mà phải có niềm say mê Chính niềm say
mê đó sẽ giúp HS khám phá dần những tầng ý nghĩa trong tác phẩm văn học Song
Trang 6HT trong học thơ TĐ không phải tự đến mà nó phải được khơi dậy bởi tài năng của
GV Tạo được HT học văn cho học sinh không phải là một việc dễ dàng, nó đòi hỏirất nhiều sự khổ công cũng như năng lực sư phạm của người thầy Để học sinh yêuthích giờ học, giáo viên cần phải tìm tòi sáng tạo trong cách thức tổ chức dạy học.Thành công của mỗi giờ dạy không chỉ là niềm vui mà ẩn sau đó là cả những giọt
mồ hôi, sự vất vả của người thầy
` Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong giờ đọc - hiểu văn bản thơ trung đại Việt Nam ở trường THPT” với mong muốn sẽ đề xuất được các biện pháp sư phạm nhằm khắc phục
những khó khăn đặt ra trong giờ học, góp phần nâng cao hiệu quả trong giờ dạy,giúp học sinh HT hơn khi học thơ TĐ
1.2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích: Nhằm góp phần giảm thiểu những khó khăn nhằm nâng cao chất
lượng dạy và học thơ TĐ nói riêng và văn học TĐ ở trường phổ thông nói chung
* Nhiệm vụ: Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn, khảo sát thực trạng dạy và
học để rút ra những kết luận và hướng khắc phục, đề xuất một số biện pháp tạo HT,giúp phát huy tính tích cực đem lại hiệu quả cho giờ dạy thơ TĐ
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu được xác lập là các giờ dạy
thơ TĐ Việt Nam theo hướng tạo HT cho HS
* Phạm vi nghiên cứu: tập trung nghiên cứu các giờ dạy thơ TĐ Việt Nam ở
trường THPT theo chương trình chuẩn Phần TN sẽ được giới hạn trong khối lớp 11
ở một số trường trên địa bàn tỉnh Đắk Nông
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích đã đề ra, chúng tôi phối hợp sử dụng các phương
pháp (PP) sau:
*PP nghiên cứu lí thuyết: tiến hành tìm hiểu phân tích; so sánh đối chiếu;
tổng hợp, đánh giá để xây dựng lên những tiền đề lí luận và hướng giải quyết vấn đề
đã đặt ra
* PP nghiên cứu thực tiễn: điều tra, phỏng vấn, quan sát
* PP thực nghiệm sư phạm
Trang 72 NỘI DUNG2.1 Cơ sở lí luận
2.1.1 Một số vấn đề về hứng thú
* Khái niệm
HT là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa đốivới cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trìnhhoạt động Như vậy, cấu trúc của HT bao giờ cũng là sự kết hợp của nhận thức, xúccảm và hành vi HT là trạng thái tâm lí bên trong của bản thân chủ thể, không phảibỗng dưng mà có HT chịu ảnh hưởng, tác động và sự chi phối của các yếu tố bênngoài
* Vai trò của hứng thú trong quá trình học tập
Vai trò của HT được thể hiện ở các mặt sau:
HT hướng HS vào toàn bộ quá trình học tập, thu hút sự chú ý cao độ của HS;duy trì sức bền của hoạt động học tập, làm cho việc học diễn ra thường xuyên, HTlàm tăng cường độ học tập ở mỗi người, làm cho quá trình nhận thức diễn ra nhanhchóng; HT thúc đẩy khả năng nhận thức, khát vọng tự nhận thức, tự biểu hiện ở mỗingười, HT phát huy tính tích cực, chủ động của người học trong quá trình chiếmlĩnh tri thức, làm cho quá trình học tập trở nên thú vị, sinh động; HT mang lại khảnăng sáng tạo to lớn, phát huy hết năng lực của HS trong quá trình học tập; Ghi nhớkiến thức, có ý chí vượt mọi khó khăn trong học tập
Nhìn chung, HT tăng cường khả năng nhận thức về tốc độ, chất lượng và chiềusâu, đem lại niềm vui trong học tập, nâng cao chất lượng, kết quả học tập của HS
* Hứng thú trong học văn
HT trong học văn trước hết là HT khoa học, HT nhận thức, HT lôi cuốn HSvào quá trình học tập nhờ phát hiện trong tài liệu học tập những kiến thức mới mẻ
bổ ích có ý nghĩa gần gũi với mỗi con người HT trong học văn còn là HT thẩm mĩ
Nó gắn với việc nhận thức cái hay cái đẹp trong văn học nghệ thuật HT thẩm mĩ cótác dụng thanh lọc tâm hồn con người, kích thích con người vươn đến chân, thiện,
mĩ Cảm thụ văn học đòi hỏi cần phải có khoái cảm thẩm mĩ Khoái cảm thẩm mĩgắn liền với những cảm xúc ở con người Nó là chiếc cầu đưa chủ thể cảm thụ tiếpcận và tiếp nhận đối tượng thẩm mĩ
Trang 82.1.2 Tạo hứng thú với định hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học
Vấn đề HT và tính tích cực không tách rời mà chúng có mối quan hệ gắn bóchặt chẽ với nhau HT phải gắn với tính tích cực và phát huy tính tích cực Có HTtrước đối tượng HS sẽ huy động hết khả năng về trí tuệ để khai phá những nguồn trithức mới Và chính những phát kiến bất ngờ, thú vị trong quá trình tích cực chiếmlĩnh tri thức lại là nguồn lực để củng cố cho HT, làm cho HT trở nên bền vững hơn
Có thể nói tính tích cực của HS được định hướng và duy trì bởi HT Muốn pháttriển tính tích cực, đòi hỏi HS phải HT học tập HT là động lực thúc đẩy tính tíchcực mà nếu thiếu nó thì quá trình học tập sẽ không còn là sự vận động bên trong củangười học
2.1.3 Đặc trưng của các văn bản thơ và sự đòi hỏi hứng thú trong tiếp nhận thơ trung đại
* Đặc trưng của văn bản thơ
Nói đến thơ là nói đến cảm xúc, là bộc bạch của suy tư, chiêm nghiệm tìnhcảm của nhà thơ về thế giới khách quan, về những vấn đề nhân sinh đặt ra trongcuộc sống Cảm xúc của văn xuôi, cho dù có mãnh liệt đến đâu vẫn mang tínhkhách quan, còn cảm xúc của thơ được cảm hóa ngay lập tức Đọc thơ, dường nhưngười đọc cảm nhận đó là thế giới nội tâm của con người
Nói đến thơ còn phải nói đến tính hàm súc cô đọng Các từ ngữ, hình ảnh…trong bài thơ phải được tổ chức sao cho phản ảnh được nhiều nhất những suy nghĩ,cảm xúc trong một số lượng từ ngữ ít nhất Ngôn ngữ thơ phải được ý ở ngoài lời,ngắn gọn, cô đọng và có sức âm vang lớn
Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính: thế giới nội tâm được thể hiện trong thơ khôngchỉ biểu hiện bằng ý nghĩa từ ngữ mà còn được biểu hiện bằng âm thanh Những từngữ, những câu trong đoạn, đoạn trong bài được tổ chức phối thanh, phối nhịp, hàihoà, cân đối với mục đích thể hiện được tâm trạng nhân vật trữ tình Đấy cũngchính là ưu thế tuyệt đối của thơ so với văn xuôi Chính tính nhạc trong thơ làm chothơ dễ nhớ dễ thuộc có khả năng ngâm và hát được
Tiếp nhận thơ là một quá trình vô cùng phức tạp đòi hỏi phải có PP tiếp nhậnphù hợp Trong quá trình tiếp nhận thơ, để cắt nghĩa giải mã VB, người đọc phải đi
từ lớp vỏ ngôn từ để thâm nhập vào thế giới hình tượng của cảm xúc, của tâm trạng,
Trang 9để từ đó, nắm bắt thế giới tư tưởng nghệ thuật, những điều mà tác giả gửi gắm đếnngười đọc Đây không phải là một quá trình giản đơn mà nó đòi hỏi người đọc phải
có một vốn sống nhất định, phải có khả năng, năng lực cảm thụ thì mới có thể tiếpnhận được HT trong tiếp nhận là một yếu tố cần để duy trì quá trình này
* Đặc trưng của thơ ca trung đại Việt Nam
Tính cao nhã trong thơ ca trung đại có mặt từ quan niệm về văn chương chođến quan niệm về sáng tác Thơ TĐ được xem là thể loại cao quý bậc nhất trong cácthể loại của văn học TĐ Tính cao quý này được thể hiện ở tất cả các phương diện
từ quan niệm về văn chương, nội dung, chức năng xã hội của văn chương, ở quanniệm về sáng tác, đội ngũ sáng tác cho đến việc gạn lọc tiếp thu những tinh hoa thơĐường và thơ ca dân gian trong cách thức biểu hiện
Tính vô ngã là một đặc trưng nổi bật của thơ ca TĐ Xã hội phong kiến ở nước
ta là xã hội của đẳng cấp, của chữ lễ và tôn ti trật tự nghiêm ngặt Tùy theo sự biếnchuyển của các giai đoạn lịch sử - xã hội mà con người thẩm mĩ trong thơ TĐ cũng
có những thay đổi nhất định tù con người cộng đồng, con người công dân sang conngười cá nhân Sự biến chuyển từ con người cộng đồng, con người công dân (vôngã) sang con người cá nhân (hữu ngã) là cả một quá trình phức tạp, có sự đan xen,gối đầu nhau Trong đó, sự thể hiện của con người vô ngã vẫn chiếm ưu thế so vớicon người hữu ngã
Thơ TĐ đứng đầu trong các thể loại văn học mang tính quy phạm cao và từngbước có sự phá vỡ dần tính quy phạm Tính quy phạm trong thơ có mặt từ cái nhỏđến cái lớn, từ tư tưởng, cách nghĩ cho đến cách thể hiện Theo thời gian, cùng với
ý thức sáng tạo của dân tộc, tính quy phạm từng bước được nới lỏng để phù hợphơn với thị hiếu, đời sống dân tộc
Nhìn chung ở mỗi thời đại con người đều có những cách cảm, cách nghĩ, quanniệm thẩm mĩ riêng Chính điều đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn học và làm thànhnhững đặc trưng riêng biệt Muốn hiểu được thơ TĐ, tất yếu phải lần tìm về cộinguồn của nó, đặt nó trong hoàn cảnh lịch sử, văn hoá, cảm thức TĐ mới mong lĩnhhội được Trong khi đó, để san bằng khoảng cách tâm lí thời đại và thị hiếu thẩm mĩ
ở người học vẫn đang còn là một khó khăn thách thức lớn đối với GV
* Dạy học thơ trung đại với yêu cầu tạo hứng thú cho học sinh
Trang 10Dạy tốt thơ TĐ là việc làm hết sức quan trọng trong việc bồi dưỡng, giáo dụclòng tự hào dân tộc, quý trọng những giá trị truyền thống của cha ông, phù hợp vớichủ trương của Đảng, của nhà Nước trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoádân tộc trong thời đại mở cửa
Nằm trong dòng chảy của lịch sử văn học dân tộc, thơ TĐ với tất cả những đặcđiểm diện mạo, tiếng nói riêng của nó góp phần làm phong phú nền văn học dântộc Cho dù viết về bất cứ đề tài chủ đề nào, thơ TĐ cũng không bao giờ đi chệchkhỏi quỹ đạo của những giá trị truyền thống của văn học dân tộc Học văn học TĐ
để không chỉ thấy một thời kì lịch sử văn học dân tộc với tất cả những đặc điểm vềcon người, văn hoá, quan niệm thẩm mĩ, tư tưởng… mà còn để tâm hồn được runglên khi cảm nhận những giá trị đích thực mà thơ ca TĐ mang lại Như vậy việc dạyvăn học TĐ trong nhà trường không chỉ nhằm giúp HS tìm đến nguồn tri thứcphong phú mà còn giúp giáo dục bồi dưỡng tâm hồn hình thành nhân cách cho HS.Đồng thời, việc học tốt thơ ca TĐ sẽ là nền tảng để học tốt thơ hiện đại Chính điều
đó lại càng khẳng định rằng cần phải tạo HT để HS học tốt thơ TĐ
Để lí giải được văn học TĐ, đòi hỏi người học phải có một vốn kiến thức sâurộng về thi pháp, thể loại, văn hoá, lịch sử, xã hội TĐ Trong khi đó vốn kiến thứccủa HS chưa phải đã là nhiều Nhìn chung thơ TĐ bao gồm một hệ thống mã hiệuriêng nên nó gây ra khó khăn cho người học Chính vì vậy, cần phải tạo HT để HSkhắc phục những khó khăn tích cực tham gia vào hoạt động học tập
2.1.4 Đọc – hiểu văn bản và sự cần thiết của việc tạo hứng thú trong giờ đọc - hiểu văn bản nghệ thuật
* Đọc hiểu - văn bản văn học
Đ-H rất quan trọng trong việc tiếp nhận văn chương TPVH là một chỉnh thểnghệ thuật được cấu tạo bằng hình tượng ngôn từ Việc chiếm lĩnh nó cũng phảituân thủ theo những cách riêng Con đường duy nhất để thâm nhập tác phẩm vàthẩm thấu hết cái hay, cái đẹp của tác phẩm chính là quá trình Đ-H VB Đ-H phùhợp với đặc trưng của việc chiếm lĩnh VB nghệ thuật
Đ-H phát huy tối đa vai trò cá nhân, tính tích cực chủ động của người tiếpnhận TPVH luôn là một đề án tiếp nhận bắt buộc người đọc phải huy động hết mọikhả năng về trí tuệ Để chiếm lĩnh văn học đòi hỏi người học phải huy động hết mọi
Trang 11khả năng suy nghĩ khám phá, liên tưởng, tưởng tượng thì mới có thể thâm nhập tácphẩm.
Đ-H trong nhà trường không phải là một quá trình Đ-H tuỳ tiện mà theo mộtđịnh hướng sư phạm nhất định
* Sự cần thiết của việc tạo hứng thú trong giờ đọc - hiểu văn bản nghệ thuật
PP dạy Đ-H trong nhà trường là PP nhằm tổ chức và hướng dẫn HS phát hiện,vận dụng những hiểu biết kĩ năng, kĩ xảo vào việc khai thác tổng hợp những tầng ýnghĩa đã được mã hoá trong một hệ thống tín hiệu nghệ thuật HS, dưới sự hướngdẫn của GV từng bước tri giác ngôn ngữ nghệ thuật để tạo dựng lên những hìnhtượng về cuộc sống, về con người trong trí tưởng tượng của mình Từ việc tái hiệnnhững hình tượng nghệ thuật đó, kết hợp với vốn sống và khả năng của mình, HSphải có sự liên tưởng, nối kết các chi tiết, hình ảnh để tìm ra tư tưởng của tác phẩm.Nhìn chung, đây là quá trình phức tạp trải qua nhiều giai đoạn, đòi hỏi người họcphải có vốn sống vốn hiểu biết, biết huy động những năng lực và phải có sự cố gắng
nỗ lực cao độ của người học Chính vì vậy tạo HT cho HS trong giờ Đ-H chính làquá trình tác động kích thích HS giúp HS phát huy hết năng lực, tố chất của mìnhgiúp việc cảm thụ văn học trở nên thú vị, đạt kết quả hơn
Việc tổ chức một giờ Đ-H VB phải đảm bảo tính nghệ thuật và phải đạt đếnchỉnh thể để tạo HT cho HS
2.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Đặc điểm tâm lí học sinh THPT với yêu cầu tạo hứng thú
Học sinh THPT với độ tuổi 16-18 từng bước có những năng lực văn học cũngnhư có những đòi hỏi yêu cầu cao hơn trong quá trình học tập Đây là thời kì nảy nở
về mặt tinh thần, là giai đoạn mà thế giới quan hình thành rõ rệt HS đã không còn
tự hài lòng với những gì mình đã nhận thức được mà luôn có nhu cầu hiểu biết, nhucầu được bộc lộ, được khẳng định, trình bày những chính kiến quan điểm của mình.Khi HT trước một điều gì, các em sẽ tìm tòi say mê nghiên cứu, thu thập nhữngthông tin liên quan, đồng thời bộc lộ những sáng tạo trong quá trình học tập
Trang 122.2.2 Tiềm năng chương trình sách giáo khoa mới với việc tạo hứng thú đối với học sinh
Thể hiện rõ tinh thần tích hợp đã có trong chương trình và sách giáo khoa cấp
2 và nó được nhìn nhận như một chỉnh thể văn hoá mở
Chú trọng đến kĩ năng Đ-H VB của HS, kĩ năng tự học, phát huy nhận thứccủa người học qua hệ thống câu hỏi trong SGK
Chú trọng tính nhân văn và thẩm mĩ, tuyển chọn thêm một số tác phẩm mới cógiá trị, gần gũi với sở thích của người học
Nội dung chương trình được tinh giản, vừa sức, sắp xếp theo những kiểu loại
VB từ đó giúp người học tiếp cận, khai thác VB nhất là cách vận dụng chúng
Về văn học TĐ, đưa thêm một số thể loại so với SGK cũ nhằm giúp HS thấy
rõ tính chất phong phú của nền văn học TĐ đồng thời có kĩ năng Đ-H nhiều loại VBkhác nhau
2.2.3 Thực trạng dạy thơ trung đại Việt Nam với việc tạo hứng thú cho học sinh ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Đăk Nông
Nhận thức của giáo viên về vai trò của việc tạo hứng thú cho học sinh trong giờ đọc - hiểu thơ trung đại Việt Nam
Hầu hết các GV đều nhận thức rất rõ về tầm quan trọng của việc tạo HTtrong giờ Đ-H thơ TĐ Có thể nói tạo HT cho HS trong giờ dạy là mục tiêu hướngtới nâng cao chất lượng giờ dạy Việc nhận thức được tầm quan trọng “cần thiết”
và “vô cùng cần thiết” của việc tạo HT xuất phát từ ý thức của GV về vai trò củaviệc tạo HT trong mỗi giờ dạy
* Vai trò của việc tạo HT cho HS trong giờ dạy thơ TĐ
Phần lớn GV cho rằng tạo HT để giúp phát huy tính tích cực, lôi cuốn HS vàogiờ học; làm giờ học trở nên sôi nổi, ghi nhớ kiến thức lâu hơn; giúp khắc phụcnhững khó khăn đặt ra trong giờ học; giúp phát huy năng lực văn học của HS.Những kết quả trên cho thấy GV đã nhận thức được vai trò của việc tạo HT tronggiờ dạy thơ TĐ tuy chưa thật đồng đều ở các mặt song điều đó là một kết quả rấtkhả quan
* Nhận thức của GV về việc dạy thơ TĐ theo hướng tạo HT
Kết quả GV cho rằng dạy thơ TĐ theo hướng tạo HT là khó; 32,26 % lựa chọnkhó; 9,67% cho rằng tùy bài dạy mà có thể tạo HT; 3,22% bình thường và không có
Trang 13GV nào cho rằng dạy thơ TĐ theo hướng tạo HT là dễ Các nhận định trên đã chothấy được thực trạng dạy thơ TĐ trong nhà trường hiện đang gặp phải một khó khănlớn GV ít tạo được HT cho HS và do vậy, giờ học về thơ TĐ chưa có sức thu hút
HS vào quá trình học tập
* Nguyên nhân của thực trạng
Nguyên nhân của tình trạng dạy thơ TĐ kém thu hút đối với HS bao gồmnhững nguyên nhân chủ quan và khách quan Trong đó nguyên nhân chủ quan là dobản thân GV vẫn chưa cố gắng hết sức mình và thiếu những kiến thức cần thiếtchiếm Những nguyên nhân khách quan: do bản thân thơ TĐ khó tiếp nhận, dokhoảng cách về thị hiếu thẩm mĩ tâm lí thời đại; nguồn tài liệu phục vụ giảng dạy ít;
do những hạn chế về năng lực tiếp nhận thơ TĐ của HS trong đó, nguyên nhânkhách quan lớn hơn nhiều so với nguyên nhân chủ quan và nó trở thành nguyênnhân cơ bản nhất làm cho việc dạy thơ TĐ trong nhà trường gặp nhiều khó khăn
Nó đặt ra một vấn đề là văn học TĐ không phải dễ lí giải, dễ hiểu đối với HS và dễdạy đối với GV
* Nguồn tài liệu phục vụ cho việc dạy học
GV ít tự nghiên cứu tìm tòi, khai thác thông tin có liên quan đến bài dạy trênInternet; ít tham khảo các ý kiến, bài dạy từ đồng nghiệp Phần lớn, GV chỉ căn cứsách GV và một số tài liệu và thiết kế giáo án thử nghiệm Tuy nhiên, sách GV chỉchú trọng hướng đi cho mỗi bài dạy cụ thể và giáo án thử nghiệm chỉ mang tínhchất tham khảo
* Những công việc mà giáo viên đã thực hiện để tạo hứng thú cho học sinh
Trong tình hình dạy học thơ TĐ đang còn gặp nhiều khó khăn, chưa tạo được
HT cho HS, một số GV đã có những cố gắng như: mở rộng đào sâu kiến thức trongmỗi bài dạy; sử dụng PPDH mới; phần lớn các GV thiên về khai thác nội dung tưtưởng, có rất ít GV chú trọng khai thác tác phẩm từ góc độ thi pháp và đặc trưng thểloại
* Một số cách GV đã thực hiện để tạo HT
Tiến hành dự giờ và phỏng vấn một số GV, chúng tôi nhận thấy: một bộ phận
GV vẫn còn sử dụng cách dạy cũ, diễn giảng quá nhiều Chính vì vậy trong giờ dạythơ TĐ hoạt động của GV vẫn chiếm đa số HS không thể hiện được tính tích cực
Trang 14chủ động mà chỉ thụ động lắng nghe Kiểu dạy học này vẫn chưa giúp phát huyđược những năng lực của HS cũng như chưa tạo được sự HT nơi người học.
Một bộ phận lớn GV đã có cố gắng thay đổi lối dạy học cũ bằng PPDH mớitích cực Song việc tiến hành đổi mới PP vẫn chưa thực sự chú trọng đến tính đồng
bộ của nó, cụ thể như sau:
Một số GV vẫn còn coi nhẹ một số hoạt động có khả năng khơi gợi và pháttriển năng lực liên tưởng, tưởng tượng của HS; Cách đặt vấn đề của GV chưa thực
sự làm phát huy được tính tích cực của HS Các câu hỏi GV đặt ra chưa thực sự tạođược hiệu quả, chủ yếu là những câu hỏi tái hiện nhiều hơn là câu hỏi nêu vấn đề;
GV chỉ chú trọng đến khâu phân tích tác phẩm mà coi nhẹ và thiếu đầu tư vào khâu
mở đầu và khâu kết thúc bài học; Về mặt tổ chức các hoạt động học tập, GV ít tổchức các hình thức hoạt động như tranh luận, thảo luận, tạo nhóm… Vì vậy môitrường học tập của HS chưa có sự gắn kết, tương tác, hỗ trợ lẫn nhau giữa các HStrong tập thể lớp học
2.2.4 Thực trạng hứng thú của học sinh khi học văn học trung đại
Để khảo sát nắm bắt thực trạng về HT của HS khi học thơ TĐ Việt Nam,chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra cho 220 HS và đã thu được kết quả sau đây:
* Nhận thức của HS về ý nghĩa của việc học thơ TĐ
` Phần lớn HS đã ý thức được những giá trị to lớn và tác dụng của việc học thơ
TĐ trong việc góp phần hình thành những kiến thức nền tảng cũng như những đónggóp cho sự hình thành và phát triển nhân cách cho con người Tuy nhiên trong sựchọn lựa của học sinh vẫn còn có nhiều sự thiên lệch Các em chỉ chú trọng đến mặtkiến thức trong khi học thơ TĐ chứ chưa chú trọng đến bình diện những đóng gópcủa nó trong việc bồi dưỡng tâm hồn
* HT của HS khi học thơ TĐ
Chúng tôi nhận thấy tỉ lệ HS không HT với giờ học thơ TĐ ở mức độ rất cao(chiếm 62,27%), tỉ lệ HS thích học thơ TĐ ở mức độ thấp (chiếm 26,18%) Trongkhi đó, không có sự chọn lựa nào cho mức độ “rất thích” Kết quả này đã khẳngđịnh HS chưa có sự HT khi học thơ TĐ Điều này cũng đồng nghĩa với việc GVchưa tạo được HT cho HS trong giờ dạy về thơ TĐ
* Nguyên nhân của thực trạng HS chưa HT khi học thơ TĐ
Trang 15Do chính đối tượng là thơ TĐ vốn rất khó hiểu và khó lí giải chiếm 68,18%;35,45% cho rằng GV dạy chưa thực sự hấp dẫn Ngoài ra còn tồn tại nhiều nguyênnhân khác: do chính năng lực học tập của bản thân các em còn hạn chế: 27,27%; dothị hiếu thẩm mĩ: 39,54% (tâm lí chung của HS là nhạy cảm với cái mới, cái cũ mặc
dù có giá trị nhưng vẫn kém sức thu hút với HS); khuynh hướng chọn lựa nghềnghiệp cũng ảnh hưởng rất nhiều đến HT của các em trong quá trình học tập(22,72%)
*Một số khó khăn của HS khi tiếp xúc với VB thơ TĐ
Trong quá trình học thơ TĐ, HS đã gặp một số khó khăn sau đây: ngôn ngữchiếm 73,63%; hình thức biểu hiện ước lệ, tượng trưng…62,2%; nội dung tư tưởng25,47%; Những kiến thức cần lí giải còn hạn hẹp (36,36%) quan niệm thẩm mĩ(khoảng cách thẩm mĩ) 73,63 % Những khó khăn trên đã làm thành một rào cảnkhiến HS không HT khi học thơ TĐ Để HS dễ dàng thâm nhập và cảm thụ tácphẩm, GV phải là người hướng dẫn, giúp đỡ các em tự tháo bỏ những rào cản đóbằng nhiều cách bồi dưỡng vốn từ, giúp các em hiểu về những quan niệm thẩm mĩ,hoàn cảnh lịch sử…
*Những nhu cầu, sở thích của HS trong giờ Đ-H VB thơ TĐ
Muốn tạo HT cho HS trong giờ Đ-H thơ TĐ, GV cần phải quan tâm đến nhucầu, sở thích của HS để từ đó có hướng xây dựng bài dạy một cách phù hợp Quathực tế, chúng tôi nhận thấy: có 96,81% HS thích nghe ngâm thơ, đọc thơ; 96,36%thích được xem những tranh ảnh liên quan đến bài học; 98,63% thích GV hướngdẫn phân tích kĩ tác phẩm; 76,36% có nhu cầu hiểu biết thêm những kiến thức phục
vụ lí giải VB; 25% thích nghe kể chuyện ngoài lề; 71,81% thích được bộc lộ ý kiếncủa mình
Có thể thấy, việc nắm bắt nhu cầu của HS là vô cùng quan trọng để từ đó, GV
sẽ có cách tác động, phát huy những thế mạnh của những điều mà HS tâm đắc thíchthú để khơi dậy những HT lành mạnh, bổ ích
Trang 162 3 Một số biện pháp cụ thể nhằm tạo hứng thú cho học sinh trong giờ đọc - hiểu văn bản thơ trung đại Việt Nam ở trường THPT
2.3.1 Những định hướng chung
Các biện pháp tạo HT cho HS trong giờ Đ-H VB thơ TĐ phải bám sát các
VB thơ TĐ trong chương trình THPT, gắn với việc khai thác cái hay, cái đẹp của
VB thơ TĐ HT phải gắn với việc khai thác giá trị, khám phá VB, tránh những
HT ngoài lề, HT xa rời VB
Các biện pháp tạo HT phải gắn với yêu cầu phát huy tính tích cực của HS,phù hợp với quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm, đảm bảo lôi cuốn HS vàoquá trình học tập, kích thích và làm phát triển ở HS những năng lực cần thiết
Các biện pháp tạo HT cho HS phải đảm bảo được tinh thần tích hợp trongdạy học
Các biện pháp tạo HT thể hiện được trong nó tính khoa học sư phạm phảithể hiện được yêu cầu của Đ-H VB vừa phù hợp với đặc trưng thể loại, vừa đápứng yêu cầu vừa sức trong dạy học
2.3.2 Các biện pháp cụ thể nhằm tạo hứng thú cho học sinh trong giờ đọc hiểu thơ trung đại ở trường THPT
2.3.2.1 Nhóm biện pháp gây hứng thú bằng cách tác động trực tiếp đến tình cảm
2.3.2.1.1 Lạ hóa trong dẫn nhập như là một biện pháp khởi động tạo tâm thế tiếp nhận cho người học trong giờ dạy thơ trung đại
* Mục đích
Lạ hóa trong dẫn nhập vào bài mới nhằm tác động đến HS, cụ thể đó là kíchthích HT, thu hút sự chú ý, giúp cho HS có được những ấn tượng ban đầu về tácphẩm Từ đó tạo cho HS một tâm thế khám phá cái hay, cái đẹp của tác phẩm haynói cách khác là làm nảy sinh ở HS những nhu cầu, khát vọng bộc lộ, thanh lọc cảmxúc thẩm mĩ làm cho quá trình tư duy sáng tạo đi vào quỹ đạo của quá trình phântích và cảm thụ tác phẩm
* Yêu cầu
Dẫn nhập phải đảm bảo được tính tác động, thu hút cũng như kích thích HTcủa HS không những đối với những vấn đề dẫn nhập mà còn với vấn đề sắp đượctìm hiểu Trong quá trình dẫn nhập, cần phải bảo đảm được mối liên hệ hữu cơ giữa
Trang 17nó với bản thân bài học Việc dẫn nhập phải luôn hướng về phục vụ cho việc làm rõbài học và phải được hạn định trong một lượng thời gian cho phép
* Tiến hành
Bước 1: Định hướng dẫn nhập Để dẫn nhập đạt hiệu quả, GV cần phải tìm
hiểu kĩ về tác giả, tác phẩm, nắm được tính cách con người cũng như nội dung thơvăn của nhà thơ Từ đó, có những dự kiến về cách dẫn nhập phù hợp Dẫn nhậptrong thơ TĐ có thể lạ hóa bằng nhiều cách: có thể đi từ cảm xúc giọng điệu, thái độcủa nhà thơ đối với vấn đề của cuộc sống được nhà thơ nhắc đến trong tác phẩmhoặc cũng có thể lạ hoá từ cuộc đời, thi pháp tác giả, tái hiện diện mạo tình cảm củathời đại Thơ TĐ thường được sáng tác theo những đề tài, thể tài, chủ đề nhất định.Cùng một chủ đề, thể tài nhưng có nhiều sáng tác xoay quanh nó Mỗi sáng tác đitheo một hệ thống có sự tiếp nối và sáng tạo Nghệ thuật bao giờ cũng mang trong
nó sự sáng tạo riêng của người nghệ sĩ Điều đó góp phần tạo nên giá trị sức sốngcủa tác phẩm nghệ thuật Những tác phẩm thơ TĐ được dạy trong nhà trường phổthông đều là những tác phẩm có giá trị, được gạn lọc thẩm định qua nhiều thế hệ vàbản thân nó cũng mang những giá trị vượt thời đại Chính vì vậy, có thể lạ hoá từnhững tác phẩm có cùng đề tài, cùng chủ đề, có thể lạ hoá từ một nhận định về tácgiả và tác phẩm hoặc khẳng định những giá trị, khai mở những đóng góp của tácphẩm cho nền văn học dân tộc cũng như cho bản thân mỗi người hoặc cũng có thểchỉ ra mạch sống của nó trong lòng thơ ca dân tộc Bên cạnh đó cũng có thể lạ hoá
từ các ngành nghề, các nghệ thuật có liên quan Khi dạy các bài thơ thu của NguyễnKhuyến, GV có thể bắt đầu bằng cách so sánh những cảm xúc khi đứng trướcnhững bức tranh về mùa thu của những danh hoạ nổi tiếng, cũng có thể đi từ nhữnggóc nhìn từ nghệ thuật điện ảnh để phần dẫn nhập thực sự tạo được ấn tượng Việcdẫn nhập cũng có thể lạ hoá từ bài cũ sang bài mới… Nhìn chung, một bài dạy cóthể có rất nhiều cách vào bài nhưng có một điểm chung cần phải lưu ý trong quátrình dẫn nhập là dẫn nhập phải bảo đảm tính truyền cảm để gây xúc động và phảimới lạ để thu hút HS vào các hoạt động tiếp theo Chính vì vậy, GV cần phải có sựcân nhắc và tính toán kĩ lưỡng đến những hiệu quả của nó trên cơ sở hiểu rõ nhucầu, sở thích của đối tượng là HS
Bước 2: chọn lựa một cách dẫn nhập phù hợp và xây dựng lời dẫn nhập
Để xây dựng lời dẫn phù hợp, GV cần phải chú ý đến lượng thời gian cho lời
Trang 18dẫn nhập để trên cơ sở đó cân đối lượng thông tin cần thiết phải truyền tải Đồngthời, để lời dẫn nhập có tác động đến cảm xúc của HS, GV cần phải biết cách sắpxếp, tổ chức ngôn ngữ dẫn nhập theo một quy tắc nhất định Một lời dẫn nhập hayphải gãy gọn, chính xác, truyền cảm.
Bước 3: tiến hành dẫn nhập
GV cần phải tạo một không khí tốt cho dẫn nhập Trong đó, HS hướng về GV
và chờ đợi, GV trong một tâm thế sẵn sàng, bao quát được lớp học và tạo một cáinhìn, cảm giác thân thiện với HS, hướng về HS Đi kèm với lời dẫn nhập là nhữngyếu tố phi lời phù hợp (tất cả đều phải rất tự nhiên, thể hiện được cảm xúc của GV).Trong quá trình dẫn nhập, GV cần phải tạo sự ngắt nghỉ phù hợp cho HS kịp theodõi và cũng để cảm xúc lan truyền Việc dẫn nhập tốt sẽ tạo ra một tâm thế để địnhhướng nhận thức cho HS, làm dấy lên ở các em một cảm xúc mới mẻ, hào hứngtrước những vấn đề sẽ được đặt ra và giải quyết trong bài học
2.3.2.1.2 Sử dụng lời thuyết giảng như một biện pháp nhằm định hướng thẩm mĩ cho học sinh
Bước 1: lựa chọn và xác định nội dung cần thuyết giảng Nội dung cần
thuyết giảng thường là các vấn đề trọng tâm của bài học Với thơ TĐ, những vấn đềđược lựa chọn để thuyết giảng phải hướng về việc phát hiện cái hay, cái đẹp của VBthơ
Trang 19Bước 2: xây dựng lời bình trong thuyết giảng: Lời bình hay phải thể hiện
được tính cô đọng, súc tích, giàu hình ảnh của ngôn ngữ bình Đồng thời, nó cònđảm bảo sự cân đối hài hòa giữa một lượng tri thức nhất định với việc khơi gợi cảmxúc để tạo nên được một độ sâu, khái quát được ý nghĩa tư tưởng nghệ thuật của cáctác phẩm Hình thức của lời bình cũng có thể được thể hiện một cách trực tiếp hoặcgián tiếp, đôi lúc cũng có thể giảng bình bằng con đường so sánh, liên hệ
Bước 3: tiến hành bình Để bình được thì tất yếu phải dựa trên cơ sở giảng kĩ.
Trong dạy học TPVC thì giảng và bình phải gắn với nhau bình phải đặt trên cơ sởgiảng thì bình mới có sức thuyết phục
2.3.2.1.3 Sử dụng hình thức động viên khuyến khích
* Mục đích
Tạo một động lực, sự hưng phấn giúp HS tham gia vào hoạt động học tập mộtcách tự tin Đồng thời, việc động viên khuyến khích cũng tạo mối quan tâm, thắtchặt mối quan hệ tình cảm giữa GV và HS, trở thành nguồn động lực để các emtham gia vào bài học một cách sôi nổi hơn
* Yêu cầu
Khuyến khích động viên phải bảo đảm nguyên tắc tế nhị, lịch sự trong giaotiếp Việc động viên khuyến khích không chỉ áp dụng cho mỗi cá thể HS mà cònphải chú ý đến cả tập thể lớp học Những lời nhận xét đánh giá của GV và các câutrả lời của HS phải đúng lúc, đúng chỗ GV phải là người trọng tài công minh khinhận xét những ý kiến của HS Cần phải tạo mối quan hệ cởi mở, thắt chặt tình cảmgiữa các HS trong lớp học
* Thực hiện
Động viên, khuyến khích có thể được sử dụng trong suốt tiến trình của bài dạy
từ kiểm tra bài cũ đến bài mới đến kết thúc giờ học Nó thể hiện rõ ở những lời nhậnxét hoặc những hành động sư phạm của người GV, ở thái độ tôn trọng ý kiến của
HS trong lớp, ở sự tế nhị khi nhận xét những ý kiến sai hoặc lệch lạc, ở những hànhđộng cho điểm khi HS có nhiều cố gắng trả lời đúng
- Đối với những câu hỏi khó: GV cần gợi ý động viên các em suy nghĩ
- Với những câu trả lời, ý kiến của HS :
Trang 20+ Trong trường hợp HS trả lời đúng và chính xác, GV cần ghi nhận mức độhiểu biết và đóng góp của các em cho bài học, cũng có thể cho điểm thưởng nếunhư ý kiến hay và nhận thấy HS rất nhiệt tình khi tham gia vào bài dạy.
+ Đối với ý kiến chưa chính xác lắm hoặc những câu trả lời đi lạc vấn đề cầnphân tích; GV cần định hướng lại đồng thời cũng phải chỉ ra cho HS rõ những gìchưa tới, chưa phù hợp với yêu cầu của câu hỏi để HS hiểu đúng và có nhu cầuvươn tới Đồng thời cũng cần phải biểu dương tinh thần, ý thức đóng góp xây dựngbài rất đáng quý của các em
+ Với những ý kiến hay, những phát hiện mới mẻ, người dạy phải chỉ rõ để cảlớp đều nhận thấy, phải ghi nhận tinh thần sáng tạo của HS và ghi nhận ý kiến đónếu thấy nó có giá trị với việc làm rõ bài học
2.3.2.2 Nhóm các biện pháp tạo hứng thú bằng cách tổ chức cho học sinh hoạt động
2.3.2.2.1 Tạo dựng tình huống có vấn đề - cụ thể hoá bằng câu hỏi để khơi dậy tính tích cực chủ động của học sinh
* Mục đích
Việc tạo dựng tình huống có vấn đề nhằm kích thích tư duy, tạo nên sự vậnđộng tích cực bên trong trí tuệ của người học Nó buộc người học phải suy nghĩ, tìmtòi giải quyết những mâu thuẫn, khó khăn trong tâm lí nhận thức Tình huống cóvấn đề giúp mỗi cá thể HS phát huy được sức mạnh của mình, khắc phục tình trạng
vô cảm thờ ơ của HS đối với môn học Đồng thời, giúp các em bộc lộ được nhiềunhất những quan điểm, thái độ, ý tưởng sáng tạo của mình
* Yêu cầu
- Các tình huống có vấn đề trong dạy học thơ TĐ nhất thiết cần hướng vàokhai thác những mạch cảm xúc của nhà thơ cũng như làm sáng rõ cái lí của các yếu
tố nghệ thuật đã được chuyển hóa thành VB
- Các tình huống có vấn đề trong giờ dạy thơ TĐ phải chứa đựng được tínhphức tạp, mâu thuẫn
- Các tình huống có vấn đề phải được xây dựng theo một hệ thống phù hợp vớitiến trình Đ-H VB và hướng đến làm rõ các yếu tố cụ thể trong mối liên hệ với tínhchỉnh thể của TPVH
Trang 21- Việc tạo tình huống có vấn đề phải đảm bảo tính sư phạm phù hợp với yêucầu vừa sức trong dạy học
- Tình huống có vấn đề phải được truyền tải đến HS thông qua câu hỏi nêu vấn
đề với nhiều hình thức khác nhau
- Tình huống có vấn đề trong dạy học thơ TĐ phải hướng vào việc làm rõnhững giá trị về hình thức cũng như nội dung của VB thơ TĐ
* Tiến hành
Bước 1: GV cần xác định rõ mục tiêu của từng bài dạy, từ đó có hướng xây
dựng tình huống có vấn đề một cách phù hợp Hệ thống tình huống có vấn đề sẽnhằm thực hiện mục tiêu của bài học
Bước 2: phát hiện, nhận dạng và xác định các vấn đề có khả năng tạo ra tình
huống có vấn đề trong nhận thức của HS TPVH nào cũng luôn chứa đựng nhữngvấn đề, những mâu thuẫn nghệ thuật Với thơ TĐ, có thể xây dựng tình huống cóvấn đề xuất phát từ những điểm sáng thẩm mĩ trong tác phẩm như: từ ngữ, chi tiếtnghệ thuật, âm điệu, tiết tấu, thủ pháp nghệ thuật, thần cú, nhãn tự của bài thơ.Những điểm sáng thẩm mĩ này không những tạo ra cho HS cách hiểu, cách đánh giákhác nhau mà còn đưa đến cho HS những rung động thẩm mĩ, năng lực thẩm thấucảm nhận TPVC
Bước 3: cụ thể hoá tính có vấn đề bằng một hệ thống câu hỏi, đặt câu hỏi, tạo
tình huống có vấn đề trong nhận thức của HS, đưa HS vào trạng thái tâm lí khi đứngtrước khó khăn và yêu cầu phải giải quyết những khó khăn để đáp ứng nhu cầu hiểubiết của mình Hệ thống câu hỏi trong dạy học thơ TĐ phải mang tính định hướnggiúp học sinh bộc lộ được cảm xúc cũng như nắm bắt được cảm xúc và tâm trạngcủa tác giả Các câu hỏi trong một bài dạy cần có sự kết hợp với câu hỏi trong sáchgiáo khoa, xác hợp với tác phẩm và khơi gợi được HT của học sinh Ở bước này,
GV cần xác định và lựa chọn các hình thức câu hỏi cho phù hợp Cần có sự cân đốigiữa câu hỏi khó và dễ, câu hỏi cụ thể và câu hỏi khái quát Các câu hỏi phải phùhợp với từng khâu trong tiến trình của bài học
Bước 4: GV tổ chức cho HS thảo luận, tranh luận HS suy nghĩ, tranh luận tìm
hướng giải quyết và đưa ra cách giải quyết phù hợp với vấn đề đặt ra Với nhữngtrường hợp là câu hỏi khó, hoặc có nhiều ý kiến trái ngược nhau, GV phải có sự hỗtrợ, dẫn dắt và can thiệp kịp thời để HS đi đúng hướng