tích cực, tự tin, đạt được thành công trong xu hướng phát triển mới của xãhội.Với đặc trưng của một môn học về khoa học xã hội và nhân văn mônNgữ văn là một môn học được tích hợp từ ba p
Trang 1MỤC LỤC
Trang DANH MỤC TỪ VỰNG VIẾT TẮT 3
1 MỞ ĐẦU 4
1.1 Lí do chọn đề tài 4
1.2 Mục đích nghiên cứu 5
1.3 Đối tượng nghiên cứu 5
1.4 Phương pháp nghiên cứu 5
1.5 Phạm vi nghiên cứu 5 2 NỘI DUNG 6 2.1 Cở sở lí luận 6
2.2 Thực trạng vấn đề giáo dục kỹ năng sống 8
2.2.1 Đối tượng học viên tại Trung tâm GDTX tỉnh Đăk Nông 8
2.2.2 Kỹ năng sống của học viên Trung tâm GDTX tỉnh Đăk Nông 9
2.3.1 Lồng ghép kỹ năng sống qua từng phân môn 10
2.3.2 Các giải pháp thực hiện lồng ghép kỹ năng sống trong giờ dạy
2.3.3 Các bước thực hiện một bài giáo dục kỹ năng sống trong môn
Ngữ văn
12 16
PHỤ LỤC:
PHỤ LỤC I: GIÁO ÁN MINH HỌA
PHỤ LỤC II: KẾT QUẢ KHẢO SÁT
Trang 2DANH M C T V NG VI T T T ỤC TỪ VỰNG VIẾT TẮT Ừ VỰNG VIẾT TẮT ỰNG VIẾT TẮT ẾT TẮT ẮT
Trang 31 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Giáo dục có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triểncủa một đất nước cũng như toàn thể nhân loại Thông qua giáo dục con ngườikhông chỉ trang bị cho bản thân những kiến thức lí luận mà còn phải hìnhthành những kỹ năng sống (KNS) thực tiễn cần thiết cho bản thân trong cuộcsống hàng ngày Giáo dục KNS giúp người học được hiểu biết và rèn luyệnhành vi có trách nhiệm đối với bản thân và cộng đồng Việc đưa giáo dụcKNS vào nhà trường có ý nghĩa như là một sự thức tỉnh để các nhà giáo dụcchú ý nhiều hơn đến tính hữu dụng, thiết thực của chương trình nhà trường,đồng thời tăng khả năng đáp ứng yêu cầu đào tạo con người mới năng động,
Trang 4tích cực, tự tin, đạt được thành công trong xu hướng phát triển mới của xãhội.
Với đặc trưng của một môn học về khoa học xã hội và nhân văn mônNgữ văn là một môn học được tích hợp từ ba phân môn Tiếng Việt, Văn học
và Làm văn, bên cạnh nhiệm vụ hình thành và phát triển ở học sinh năng lực
sử dụng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận văn bản văn học và các loại văn bảnkhác, môn Ngữ văn còn giúp học sinh có được những hiểu biết về xã hội, vănhoá, văn học, lịch sử, đời sống nội tâm của con người, qua đó giáo dục chocác em hoàn thiện bản thân, hình thành nhân cách cao đẹp Đặc biệt việcgiảng dạy tích hợp KNS trong môn Ngữ văn tại các Trung tâm Giáo dụcthường xuyên (GDTX) là việc rất cần thiết Là một giáo viên trực tiếp giảngdạy tại Trung tâm GDTX tỉnh Đăk Nông bản thân tôi nhận thấy rằng cần phảirèn luyện KNS cho các học viên để các em có định hướng tốt hơn trong họctập, hình thành các kỹ năng cần thiết trong cuộc sống cũng như hình thànhnhân cách tốt, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội Đó chính là lí do thôi
thúc tôi đến với đề tài “MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC VIÊN TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH ĐĂK NÔNG THÔNG QUA VIỆC TÍCH HỢP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN LỚP 11”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Bồi dưỡng các KNS cần thiết cho học viên Trung tâm GDTX tỉnh ĐăkNông nhằm góp phần nâng cao chất lượng học tập, nhận thức và hình thànhthói quen, nhân cách
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp giảng dạy KNS thông qua giờ dạy môn Ngữ văn cho họcviên lớp 11 Trung tâm GDTX tỉnh Đăk Nông
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan để làm cơ sở lí thuyết cho đề tài
Trang 5+ Các tài liệu, công trình nghiên cứu về lí luận dạy học, phương pháp
dạy kỹ năng sống cho học viên
+ Sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành và các tài liệu chuyên môn.
+ Trao đổi với giáo viên, học viên để tìm hiểu về thực trạng đối tượng
học viên tại Trung tâm và các biện pháp giảng dạy KNS cho học viên
- Phương pháp: Thử nghiệm dạy khối lớp 11 ở Trung tâm giáo dụcthường xuyên tỉnh Đăk Nông
+ Đánh giá tính hiệu quả của biện pháp tác động thông qua sự thay đổinhận thức, thái độ và hành vi của học viên
+ Quan sát sư phạm để tìm hiểu hứng thú học tập của học viên
Trang 6- Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO): Kỹ năng sống là “ khả năng có
hành vi thích ứng và tích cực giúp cá nhân giải quyết có hiệu quả với những đòi hỏi và thách thức của cuộc sống hàng ngày”.
- Theo từ điển Wikipedia “Kỹ năng sống là tập hợp các kỹ năng của
con người có được qua việc học hoặc trải nghiệm trực tiếp trong cuộc sống dùng để giải quyết những vấn đề mà con người thường phải đối mặt trong cuộc sống hàng ngày”
- Theo tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc(UNESCO): Kỹ năng sống gắn liền với bốn trụ cột của giáo dục, đó là:
+ Học để biết (Learning to know): gồm các kĩ năng tư duy như: Tư duy
phê phán, tư duy sáng tạo, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng giải quyết vấn đề,
kỹ năng nhận thức được hậu quả,…
+ Học để làm người (Learning to be): gồm các kỹ năng như: ứng phó
với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin,…
+ Học để sống với người khác (Learning to live together): gồm các kỹ
năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, làm việc theo nhóm,thể hiện sự cảm thông
+ Học để làm (Learning to do): gồm các kỹ năng thực hiện công việc
và các nhiệm vụ như: Kỹ năng đặt mục tiêu, đảm bảo trách nhiệm,…
Kỹ năng sống là một tập hợp các kỹ năng mà con người có được thôngqua giảng dạy hoặc kinh nghiệm trực tiếp được sử dụng để xử lý những vấn
đề, câu hỏi thường gặp trong cuộc sống thường ngày Bản chất của KNS là kỹnăng tự quản lý bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trongcuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả
2.1.3 Một số kỹ năng sống cơ bản
2.1.3.1 Nhóm các kỹ năng nhận biết và sống với chính mình
- Kỹ năng tự nhận thức;
- Kỹ năng xác định giá trị bản thân;
- Kỹ năng kiểm soát cảm xúc;
- Kỹ năng ứng phó với căng thẳng;
Trang 7- Kỹ năng quản lý thời gian.
2.1.3.2 Nhóm các kỹ năng nhận biết và sống với người khác
- Kỹ năng giao tiếp;
- Kỹ năng lắng nghe tích cực;
- Kỹ năng thể hiện sự cảm thông;
- Kỹ năng thương lượng;
- Kỹ năng hợp tác;
- Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn;
- Kỹ năng hợp tác;
- Kỹ năng từ chối
2.1.3.3 Nhóm các kỹ năng ra quyết định một cách có hiệu quả
- Kỹ năng tìm kiếm và xử lí thông tin;
- Kỹ năng tư duy phê phán;
- Kỹ năng tư duy sáng tạo;
2.2 Thực trạng vấn đề giáo dục KNS
2.2.1 Đối tượng học viên tại Trung tâm GDTX tỉnh Đăk Nông
Trang 8Đối với các Trung tâm GDTX vấn đề giáo dục KNS cho học viên làmột nhiệm vụ, một yêu cầu cấp thiết Đối tượng tham gia học tập tại Trungtâm GDTX tỉnh Đăk Nông bao gồm học viên trong độ tuổi và học viên ngườilớn, hoàn cảnh gia đình, kinh nghiệm, hiểu biết thực tế, nhu cầu học tập khácnhau Với những học viên này việc giáo dục KNS vừa có những thuận lợi vừagặp những khó khăn nhất định.
Với mục tiêu tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi đối tượng trong xãhội, các Trung tâm GDTX đã thu hút rất nhiều đối tượng thuộc các thànhphần khác nhau trong xã hội có cơ hội học tập để nâng cao dân trí và trình độ
Vì vậy, đặc điểm tâm lý của học viên trong các Trung tâm GDTX có sự khácbiệt đáng kể so với học sinh tại các trường Trung học phổ thông
Phần lớn các học viên tham gia học tập tại Trung tâm là đúng độ tuổi.Tuy nhiên, học viên vào học các Trung tâm GDTX không phải qua con đườngthi tuyển mà chủ yếu là xét tuyển đối tượng có bằng tốt nghiệp Trung học cơ
sở và có nhu cầu học tập tại các Trung tâm GDTX Có một số học viên không
đủ điều kiện vào học các trường Trung học phổ thông công lập cũng đăng kýhọc tại Trung tâm GDTX Nhìn chung, đại đa số các học viên vẫn coi học tập
là nhiệm vụ chính nhưng so với học sinh phổ thông trình độ nhận thức của họrất hạn chế
Bên cạnh đó, đối tượng tuyển sinh của Trung tâm GDTX là học viênngười lớn (người lao động phổ thông có độ tuổi từ 20 trở lên) Trong học tập,học viên người lớn có những đặc điểm riêng, khác so với học viên đúng độtuổi Một trong những điểm khác biệt căn bản đó là yếu tố tâm lý, tác động vàliên quan trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả học tập của đối tượng này Việchọc tập của học viên người lớn có mục đích rõ ràng: họ học cho ngày hômnay, học để làm gì, nên việc học tập của học viên người lớn có tính thực tế rấtcao Họ chỉ có nhu cầu học những nội dung thiết thực, những cái có khả năngvận dụng được ngay Vì vậy họ rất nhạy bén khi tiếp cận với những kỹ năngsống có tác dụng hữu ích với công việc, cuộc sống của họ, mục đích học tậpcủa họ là làm tốt hơn công việc đang làm, để chuyển đổi công việc,…
Trang 9Hầu hết các học viên người lớn không có thời gian để học tập một cáchbài bản, khả năng học tập của học hạn chế, hổng nhiều kiến thức, tư tưởng dễ
bị phân tán do phải vừa làm vừa học, vừa phụ giúp gia đình Tuy nhiên, họcviên người lớn là người tự lập, có tự trọng cao, có năng lực chịu trách nhiệmcao Họ cũng đã có kinh nghiệm KNS nhất định Đây là điểm thuận lợi khidạy học và tích hợp giáo dục KNS cho họ, nhưng cũng là điểm hạn chế, cảntrở quá trình học tập, nhận thức vì học viên người lớn thường ứng xử theothói quen, họ có cảm giác “biết rồi” khi học
2.2.2 Kỹ năng sống của học viên Trung tâm GDTX tỉnh Đăk Nông
Hiện nay, dư luận hết sức quan tâm và lo ngại về các biểu hiện lệch lạc,thậm chí vi phạm pháp luật của học sinh Trung học phổ thông nói chung vàhọc viên ở các Trung tâm GDTX nói riêng ngày càng tăng
- Đối tượng tôi đề cập trong sáng kiến này chủ yếu tập trung vào đốitượng học viên trong độ tuổi đến trường Phần lớn học viên ở Trung tâmGDTX tỉnh Đăk Nông nhiều học viên nam hơn học viên nữ, vì nhiều lí do màcác em xin vào học ở Trung tâm: vì đánh nhau nên bị kỷ luật, học yếu, hamchơi nên bị bạn bè rủ rê và cuối cùng là hư hỏng Có một số học viên cá biệthay gây gổ đánh nhau và lôi kéo cả những bạn trong lớp tham gia vào nhómcủa mình Giáo viên đang dạy trên bục giảng học viên xích mích kéo “anhchị” đến xông vào lớp đánh nhau coi như không có người Điển hình trongnăm học 2016-2017 học viên trong lớp mâu thuẫn, gây gỗ, đánh nhau lôi kéo
“cả băng” đến Trung tâm để trả thù
- Trong Trung tâm học viên vẫn còn tình trạng hút thuốc lá, uống rượu,nghiện game, chat trong khi không phải các em không ý thức được sự nguyhại của những vấn đề đó Nhiều khi các em tham gia chỉ vì đua đòi, có khikhông đủ khả năng để từ chối, thử một lần rồi có những lần tiếp theo và cuốicùng là nghiện ngập
- Thực tế cho thấy, tình trạng học viên thiếu KNS vẫn xảy ra, biểu hiệnqua hành vi ứng xử không phù hợp trong xã hội, sự ứng phó hạn chế với cáctình huống trong cuộc sống như: ứng xử thiếu văn hóa trong giao tiếp nơi
Trang 10công cộng, thiếu lễ độ với thầy cô giáo, cha mẹ và người lớn tuổi, chưa có ýthức bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh công cộng, gây phiền hà cho ngườikhác khi sử dụng điện thoại di động,…
- Các em học viên trong Trung tâm GDTX tỉnh Đăk Nông có nhiều độtuổi khác nhau, có em đúng tuổi, đúng lớp, có em do nghỉ học nhiều năm mớixin đi học lại nên tuổi chênh lệch nhiều Các em học viên mới lớn chưa cónhận thức đúng đắn trong tình yêu, đôi khi lụy tình bỏ học, yêu sớm làm ảnhhưởng đến quá trình học tập Thực trạng quan hệ tình dục trong độ tuổi họcsinh gia tăng Một số em học viên phải nghỉ học vì mang thai hoặc nạo pháthai làm ảnh hưởng đến quá trình học tập của bản thân
Với những đặc điểm trên, học viên tại Trung tâm GDTX tỉnh ĐăkNông rất cần được trang bị những KNS cần thiết, phù hợp để học tập tốt hơn
và đặc biệt quan trọng là họ thích ứng với những thay đổi của xã hội và giảiquyết tốt hơn những vấn đề đặt ra trong cuộc sống
2.3 Các biện pháp tiến hành giáo dục KNS
2.3.1 Lồng ghép giáo dục KNS qua từng phân môn
2.3.1.1 Phân môn Giảng văn
Lồng ghép KNS qua các tác phẩm văn học tạo hứng thú cho các emtrong việc tiếp thu kiến thức Các em phát huy được vai trò của mình trongtừng tiết học Một buổi sáng bước vào lớp với cỡ 15 học viên với nhữnggương mặt ngơ ngác, ngáp ngủ, nằm vật vờ ra bàn, GV giảng bài độc thoạimột mình Đó là điều tôi đã trải qua với nhiều tiết học Thiết nghĩ, nếu cứ đểtình trạng này kéo dài môn Ngữ văn đặc biệt là giờ giảng văn trở nên ngánngẫm, nhàm chán là phương tiện “ru ngủ” cho học viên GV chỉ là cái máyphát âm thanh không hơn không kém, GV đặt câu hỏi và tự trả lời đáp án
Việc lồng ghép KNS qua các chi tiết, hình ảnh, nội dung bài giảng vănMỗi chi tiết trong tác phẩm tự sự, mỗi hình ảnh trong tác phẩm trữ tình và nộidung nói chung của các tác phẩm văn học đều mang trên mình nó những giátrị thẩm mĩ và tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm đến người đọc một thôngđiệp nào đó
Trang 11Ví dụ: Bài “Bài ca ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ Bài thơ là bứcchân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ về một cá tính mạnh mẽ, một conngười xuất chúng dám sống là mình, vượt lên thói tục thông thường để khẳngđịnh bản ngã vừa là một tuyên ngôn cho lí tưởng sống phóng khoáng đối lậpvới xã hội phong kiến bảo thủ, lạc hậu đương thời Nguyễn Công Trứ đãkhiến chúng ta phải suy nghĩ về bài học “ hãy tin vào chính mình” Nếu nghĩ
ta làm được thì sẽ làm được Đừng chấp nhận làm kẻ tầm thường, kẻ thất bại
mà luôn luôn đòi hỏi sự vượt trội của bản thân Có như vậy các em mới thànhcông trong cuộc sống
2.3.1.2 Phân môn Tiếng việt
Qua việc giảng dạy phân môn Tiếng việt theo tôi tùy vào mỗi tiết học
GV có thể lồng ghép một số kỹ năng cho phù hợp để tiết dạy đạt hiệu quảcao Các kỹ năng thường vận dụng các kỹ năng như: kỹ năng giao tiếp, kỹnăng tư duy, kỹ năng làm việc nhóm trong đó lồng ghép hiệu quả nhất là kỹnăng giao tiếp và làm việc nhóm
Ví dụ: Bài “Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân” giúp các em thấyđược mối quan hệ giữa ngôn ngữ chung của xã hội và lời nói riêng của cánhân Hình thành nâng cao năng lực lĩnh hội những nét riêng trong lời nói cánhân, năng lực sáng tạo của cá nhân trong việc sử dụng ngôn ngữ trên cơ sởnhững từ ngữ và quy tắc chung Từ đó giúp các em có ý thức tôn trọng nhữngquy tắc ngôn ngữ chung của xã hội, giữ gìn phát huy bản sắc ngôn ngữ củadân tộc
2.3.1.3 Phân môn Làm văn
Trong phân môn Làm văn theo tôi vẫn có thể lồng ghép kĩ năng sốngqua việc ra đề kiểm tra và lời nhận xét của GV Thông qua các dạng đề kiểmtra các em được rèn luyện kỹ năng viết, cảm nhận, bộc lộ suy nghĩ của mình
về vấn đề nào đó trong cuộc sống Thông qua tiết trả bài các em nhận ranhững điều mình đã làm được và chưa làm được, từ đó các em hiểu được vấn
đề và những suy nghĩ chín chắn hơn sẽ dần hình thành trong tâm hồn các em
Trang 12Ví dụ: Khi viết bài về vấn đề trình bày suy nghĩ của mình về “bệnh vôcảm” trong xã hội hiện nay Hầu hết các em đã hiểu được thế nào là bệnh vôcảm, biểu hiện và tác hại của căn bệnh này.Thế nhưng, có một số em chưahiểu ra vấn đề lại cho rằng mình phải tránh xa những người mắc bệnh vô cảm.Với các bài làm như thế GV cần định hướng cho HV trong tiết trả bài để các
em hiểu rõ hơn tác hại của căn bệnh này Đây không phải là căn bệnh lây lan
mà phải tránh xa, không ai hết chính các em cần phải là người sống có tráchnhiệm Tình thương là cái quý giá của con người, bệnh vô cảm đã làm mấtphẩm chất ấy Vì vậy trái tim mỗi con người cần được thắp sáng ước mơ, khátvọng, ý chí và sự sáng tạo gắn bó với cộng đồng Điều đó sẽ chống được bệnh
vô cảm và làm cho cuộc đời của con người có ý nghĩa
2.3.2 Các giải pháp thực hiện lồng ghép KNS trong giờ dạy
Trong quá trình dạy học tích hợp giáo dục KNS theo tôi mỗi GV cần cómột phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực phù hợp với từng bài học kết hợpvới việc sử dụng các phương tiện dạy học: sách giáo khoa, máy chiếu, bảngphụ,…
Căn cứ vào tình hình thực tế của lớp dạy về đối tượng, số lượng HVtrong mỗi giờ học tôi đã cố gắng lồng ghép KNS từ những điều nhỏ nhất, sửdụng các phương pháp dạy học phù hợp để tạo hứng thú học tập cho HV, đểcác em tự đặt mình vào vấn đề các nhân vật gặp phải, tự mình tìm ra hướnggiải quyết, tự mình nói ra những suy nghĩ mà có khi trước đây một số emchưa bao giờ làm điều đó Từ đó, tôi thấy tiết học sôi nổi, các em hứng thúkhi lĩnh hội kiến thức mới Đây là một số phương pháp dạy học tích cực tôi đã
áp dụng trong các giờ dạy tại Trung tâm GDTX tỉnh Đăk Nông và thu đượckết quả tốt Tuy nhiên, tùy theo từng phân môn bài học mà GV áp dụng chophù hợp Một giờ học sôi nổi các em HV nắm được kiến thức trọng tâm, rènluyện được các KNS cần thiết cho mỗi cá nhân HV đó là điều tôi đã và đang
cố gắng phát huy trong quá trình giảng dạy Để khi bước vào đời các em cóđầy đủ các hành trang về tri thức, trang bị đầy đủ những KNS cần thiết đểđứng vững, không sa ngã trước những va vấp trong cuộc sống
Trang 13Giải pháp thứ nhất: Đưa ra những tình huống thực tế
Với đối tượng là học viên Trung tâm GDTX giờ học Ngữ văn đôi khicòn tạo áp lực cho các em Nếu như mỗi giờ lên lớp giáo viên chỉ là ngườitruyền thụ còn học viên chỉ “lĩnh hội” theo kiểu nghe đọc và chép, nhìn bảng
cô ghi và học trò chép thì mỗi giờ đọc văn sẽ nhàm chán và vô vị Có khi họcxong một bài thơ, tác phẩm văn học một số em không nhớ nổi tên tác giả, tênnhân vật chính Vì các em đó có bao giờ dám mạnh dạn bày tỏ suy nghĩ củamình, điều đó dẫn đến cách trình bày vấn đề mà không biết bắt đầu từ đâu,hoặc hiểu mà không biết diễn đạt những suy nghĩ của mình Vì vậy theo tôitùy theo mỗi bài học, giáo viên cần tạo ra những tình huống có vấn đề, mangtính chất ứng dụng vào thực tế đời sống, rồi tổ chức cho học viên tự giảiquyết Ban đầu mang tính chất cá nhân đưa ra ý kiến sau đó giáo viên hướngđến cách giải quyết tối ưu nhất
Ví dụ: Khi dạy bài “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống HIV/AIDS” của Cô-phi-a-nan, giáo viên đặt ra tình huống: Nếu em có một ngườibạn thân bị nhiễm HIV/ AIDS, em sẽ hành động như thế nào? Vì sao?
Sau khi đưa ra tình huống, tổ chức cho HV tự giải quyết vấn đề trênmột tờ phiếu học tập hoặc chỉ định bất kì HV nào Sau khi các em trả lời GV
sẽ là người tổng hợp ý kiến và để thống nhất cách giải quyết tốt nhất
Qua bài học trên giúp các em hình thành các KNS:
+ Tự nhận thức: Nhận thức được đây là một căn bệnh thế kỷ có tính chấtnóng bỏng của toàn cầu Từ đó, xác định được trách nhiệm của mỗi cá nhânkhi tham gia vào cuộc chiến đấu này, có những hành động thiết thực góp phầnngăn chặn sự lây lan của căn bệnh thế kỷ
+ Giao tiếp/ trình bày ý tưởng: Thảo luận, trao đổi với bạn bè, thầy cô, vềhiện trạng cuộc chiến đấu phòng chống AIDS hiện nay, tác hại, nguy cơ lâylan của căn bệnh thế kỷ và những giải pháp để góp phần vào cuộc chiến này + Ra quyết định: Xác định những việc cá nhân và xã hội cần làm để gópphần vào cuộc chiến đấu chống lại căn bệnh thế kỉ