Vấn đề vận dụng lí luận về Chủ nghĩa hiện thực trong Truyện Kiều và Chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du (Lê Đình Kỵ) (LV thạc sĩ)Vấn đề vận dụng lí luận về Chủ nghĩa hiện thực trong Truyện Kiều và Chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du (Lê Đình Kỵ) (LV thạc sĩ)Vấn đề vận dụng lí luận về Chủ nghĩa hiện thực trong Truyện Kiều và Chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du (Lê Đình Kỵ) (LV thạc sĩ)Vấn đề vận dụng lí luận về Chủ nghĩa hiện thực trong Truyện Kiều và Chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du (Lê Đình Kỵ) (LV thạc sĩ)Vấn đề vận dụng lí luận về Chủ nghĩa hiện thực trong Truyện Kiều và Chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du (Lê Đình Kỵ) (LV thạc sĩ)Vấn đề vận dụng lí luận về Chủ nghĩa hiện thực trong Truyện Kiều và Chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du (Lê Đình Kỵ) (LV thạc sĩ)Vấn đề vận dụng lí luận về Chủ nghĩa hiện thực trong Truyện Kiều và Chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du (Lê Đình Kỵ) (LV thạc sĩ)Vấn đề vận dụng lí luận về Chủ nghĩa hiện thực trong Truyện Kiều và Chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du (Lê Đình Kỵ) (LV thạc sĩ)Vấn đề vận dụng lí luận về Chủ nghĩa hiện thực trong Truyện Kiều và Chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du (Lê Đình Kỵ) (LV thạc sĩ)Vấn đề vận dụng lí luận về Chủ nghĩa hiện thực trong Truyện Kiều và Chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du (Lê Đình Kỵ) (LV thạc sĩ)Vấn đề vận dụng lí luận về Chủ nghĩa hiện thực trong Truyện Kiều và Chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du (Lê Đình Kỵ) (LV thạc sĩ)Vấn đề vận dụng lí luận về Chủ nghĩa hiện thực trong Truyện Kiều và Chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du (Lê Đình Kỵ) (LV thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
VŨ THỊ MAI
VẤN ĐỀ VẬN DỤNG LÍ LUẬN
VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC TRONG TRUYỆN KIỀU
VÀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC CỦA NGUYỄN DU
(LÊ ĐÌNH KỴ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
VŨ THỊ MAI
VẤN ĐỀ VẬN DỤNG LÍ LUẬN
VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC TRONG TRUYỆN KIỀU
VÀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC CỦA NGUYỄN DU
(LÊ ĐÌNH KỴ) Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã ngành: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Nho Thìn
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Vũ Thị Mai
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian theo học ở trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên và dặc biệt trong khoảng thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ về mặt vật chất, tinh thần, kiến thức và những kinh nghiệm quý báu từ gia đình, thầy cô và bạn bè Qua đây, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
GS.TS Trần Nho Thìn, người thầy đã tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Quí thầy cô trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên giảng dạy các chuyên đề cho lớp cao học Văn học Việt Nam K9D đã hết lòng truyền đạt kiến thức và những kinh nghiệm quý báu khi chúng tôi theo học
Đặc biệt, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn ủng hộ, động viên, tạo điều kiện, quan tâm giúp đỡ để tôi
có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Vũ Thị Mai
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu 9
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 10
5 Phạm vi nghiên cứu 11
6 Cấu trúc của luận văn 11
7 Đóng góp của luận văn 11
Chương 1 VẤN ĐỀ VẬN DỤNG LÝ LUẬN CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM VÀ TRUYỆN KIỀU 12
1.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945: khái niệm chủ nghĩa tả chân 13
1.1.1 Hải Triều gắn chủ nghĩa tả chân xã hội với giá trị phản ánh, tố cáo hiện thực, giá trị nhân sinh 14
1.1.2 Đinh Gia Trinh và vấn đề chi tiết chân thực, phong phú của tiểu thuyết Pháp 17
1.1.3 Đào Duy Anh, Nguyễn Bách Khoa với lý luận và phương pháp nghiên cứu phương Tây 19
1.2 Giai đoạn sau 1945 đến năm 1970 (trước khi Lê Đình Kỵ công bố cuốn sách) 22
1.2.1 Hoài Thanh (1949) trong “Quyền sống của con người trong Truyện Kiều” tiếp tục vận dụng quan niệm phản ánh hiện thực nhưng chưa có ý thức về chủ nghĩa hiện thực 22
Trang 61.2.2 Trương Tửu và Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du (1956) vẫn
chỉ vận dụng quan niệm về phản ánh các phương diện hiện thực nhất
là đấu tranh giai cấp 24
1.2.3 Các giáo trình lý luận văn học biên soạn theo lý luận Liên Xô về các phương pháp sáng tác: chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa được giới thiệu ở Việt Nam 25
1.2.4 Các bài viết thể nghiệm của Lê Đình Kỵ những năm 1960 về Truyện Kiều 29
Tiểu kết chương 1 32
Chương 2 NỘI DUNG CÔNG TRÌNH “TRUYỆN KIỀU VÀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC CỦA NGUYỄN DU” - 33
2.1 Giới thiệu về Lê Đình Kỵ 33
2.2 Chủ nghĩa hiện thực và vấn đề phản ánh hiện thực 35
2.3 Nội dung cuốn sách 39
2.3.1 Cơ sở tư tưởng thẩm mĩ của Truyện Kiều 41
2.3.2 Vấn đề điển hình hóa trong Truyện Kiều 52
2.4 Giá trị nổi bật của công trình 61
Tiểu kết chương 2 66
Chương 3 CÁC Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ CỦA GIỚI NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG TRÌNH TRUYỆN KIỀU VÀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC CỦA NGUYỄN DU CỦA LÊ ĐÌNH KỴ 67
3.1 Đánh giá vấn đề có hay không chủ nghĩa hiện thực trong văn trung đại Việt Nam 67
3.2 Đánh giá về công trình Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du của Lê Đình Kỵ 79
Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Truyện Kiều là kiệt tác văn chương của dân tộc, có sức sống lâu bền,
sức lan tỏa rộng rãi Do cấu trúc văn bản chứa đựng nhiều giá trị to lớn, nên
từ lâu Truyện Kiều đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành: sử
học, văn hóa học, xã hội học, khoa học văn chương… Tính riêng, trong
nghiên cứu văn học, Truyện Kiều đã có một đời sống rất sinh động Có thể nói, lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều là lịch sử của những cách đọc, các diễn giải
văn bản Lịch sử ấy vô cùng phong phú, đa dạng và cũng rất phức tạp do phải
đi qua nhiều bộ lọc ý thức hệ và hệ hình tri thức Không phải ngẫu nhiên, có
nhà nghiên cứu, ví Truyện Kiều là phòng thí nghiệm của các lý thuyết; những
lý thuyết mới một khi được du nhập vào Việt Nam nếu muốn chứng tỏ được
“quyền lực” của nó trong thực tiễn thì trước hết nó phải được thử nghiệm ở
việc đọc Kiều Thành công của lý thuyết mới, bởi thế, là ở chỗ, nó phải đọc ra được ý nghĩa khả thể trong văn bản Truyện Kiều, mà các cách tiếp cận trước
đó chưa chú ý đến hay chưa biết đến Đến nay, Truyện Kiều vẫn không ngừng
được đọc lại, được tái diễn giải từ những khung tri thức - lý thuyết mới
Bên cạnh hoạt động đọc lại, diễn giải lại Truyện Kiều từ điểm nhìn mới, nhu cầu vẽ lại bức tranh tiếp nhận Truyện Kiều trải dài mấy trăm năm với
nhiều khúc quành lịch sử, vẫn luôn được đặt ra Có rất nhiều khoảng trống
trong lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều chưa được lấp đầy, hay làm sáng tỏ, chẳng hạn như việc tiếp nhận Truyện Kiều ở đô thị miền Nam trước 1975 gần
đây đã được quan tâm dựng lại song hãy còn dừng ở những nét sơ lược…
Trong tình hình ấy, việc đúc rút từ các nghiên cứu Truyện Kiều trong quá khứ
thành những khung mẫu đọc, chỉ ra những cách đọc riêng, điển hình cho mỗi giai đoạn/thời đại, những giới hạn của mỗi cách đọc… là thực sự cần thiết Bất kỳ một nghiên cứu nghiêm túc, đích thực nào, cũng bắt đầu từ việc chỉ ra
Trang 8một cách thực chứng không chỉ những thành công, mà quan trọng hơn, cần phải chỉ ra những giới hạn của các nghiên cứu trước đó Luận văn này lựa
chọn một thời điểm tiếp nhận, một trường hợp diễn giải Truyện Kiều, như một
sự chuẩn bị/khởi đầu cho các thể nghiệm đọc có thể có về sau của cá nhân người viết
Luận văn không có tham vọng đem lại những khám phá mới Truyện
Kiều từ một khung lý thuyết thời thượng nào đó, nghĩa là không vận dụng lý
luận mới để đọc lại Kiều Tác giả luận văn chỉ mong muốn góp một tiếng nói vào việc tổng kết một cách đọc tiêu biểu về Truyện Kiều thập niên 60 - 70 ở miền Bắc Việt Nam: Trường hợp Lê Đình Kỵ với công trình Truyện Kiều và
chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du (1970) Sở dĩ chọn Lê Đình Kỵ bởi vì
ông là một trong những gương mặt tiêu biểu của lối nghiên cứu văn học theo
xã hội học mác xít, mà Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du là
công trình thành công nhất của Lê Đình Kỵ trong việc vận dụng lý luận chủ
nghĩa hiện thực để đọc Truyện Kiều “Nghiên cứu Truyện Kiều trong mối
tương quan với chủ nghĩa hiện thực tức cũng là nghiên cứu phương pháp sáng tác của tác phẩm cổ điển lớn nhất của nền văn học dân tộc” (Lê Đình Kỵ)
Với Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du, Lê Đình Kỵ đã thực
sự tạo được một dấu mốc đối với ngành Kiều học Việt Nam
Với tư cách là giáo viên THPT giảng dạy bộ môn Ngữ văn, nghiên cứu
“Vấn đề vận dụng lí luận về chủ nghĩa hiện thực trong Truyện Kiều và chủ
nghĩa hiện thực của Nguyễn Du”(Lê Đình Kỵ) sẽ giúp người viết luận văn
này có cơ hội trải nghiệm cách đọc của các nhà nghiên cứu đi trước, từ đó
hiểu sâu sắc thêm những chân giá trị của tác phẩm Truyện Kiều đã được thời
gian khẳng định, để ứng dụng vào hoạt động dạy học, đọc hiểu các trích đoạn
Truyện Kiều ở bậc học mà tác giả luận văn đang gắn bó
Trang 92 Lịch sử vấn đề
Công trình Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du được
khởi thảo từ năm 1965, công bố đầu thập niên 70, đây là giai đoạn phản ánh luận Lênin/mỹ học Mác - Lê nin đã được giới thiệu ở Việt Nam tương đối rộng rãi Ngoài các ý kiến bàn về văn học nghệ thuật Mác, Ăng ghen, Lê nin, còn có
ý kiến của Mao Trạch Đông, Gorki… Bộ Nguyên lý mĩ học Mác - Lê nin (2
tập, Hoàng Xuân Nhị dịch) của Viện Hàn lâm Khoa học Liên xô cũng đã được
xuất bản đầu những năm 60 Đặc biệt, năm 1962 bộ Nguyên lí lí luận văn học
(2 tập) của L.I.Timofeev do Lê Đình Kỵ, Cao Xuân Hạo, Bùi Khánh Thế, Nguyễn Hải Hà, Minh Hải, Nhữ Thành dịch, cũng đã chính thức hiện diện trong đời sống học thuật miền Bắc… Tính đến năm 1970, về mặt lý luận, nhiều vấn đề của phản ánh luận Lenin, của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa đã được giới nghiên cứu văn học Việt Nam tiếp nhận, chuyển ngữ và bước đầu quan tâm vận dụng vào nghiên cứu thực tiễn lịch sử văn học dân tộc, trong đó có đóng góp của dịch giả, nhà nghiên cứu Lê Đình Kỵ
Ngay sau khi Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du xuất
hiện, vấn đề vận dụng lý luận chủ nghĩa hiện thực vào nghiên cứu Truyện
Kiều của Lê Đình Kỵ đã được một số nhà nghiên cứu lưu ý tuy nhiên tính đến
trước những năm 2000 phần lớn các đánh giá về công trình của Lê Đình Kỵ còn sơ lược và một số nhận định chưa thỏa đảng
Trong một bài đọc sách năm 1971, Cao Huy Đỉnh ghi nhận Truyện
Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du “có những phát hiện mới về Truyện Kiều có khả năng thuyết phục bạn đọc thực sự” [8], Lê Đình Kỵ vận
dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn lịch sử thẩm mỹ Việt Nam nhuần nhị, công trình này “là một cống hiến đáng kể vào lịch sử nghiên cứu
Nguyễn Du, Truyện Kiều và văn học cổ điển Việt Nam” [8, tr.138] Bên cạnh
đó, Cao Huy Đỉnh cũng cho rằng, Lê Đình Kỵ còn lúng túng trong việc xác
định phương pháp sáng tác cơ bản của Nguyễn Du và Truyện Kiều: “tác giả
Trang 10xuất phát từ những tiêu chuẩn của phương pháp hiện thực chủ nghĩa ở trong
văn học phương Tây, ở trong văn học Nga thế kỉ XIX để tìm hiểu Truyện
Kiều…”, chưa “chỉ ra được cuộc sống Việt Nam thực sự đã thấm vào Truyện Kiều ở chỗ nào với cái dạng vốn có của nó,” Cao Huy Đỉnh nhấn mạnh
“chừng nào mà không chỉ ra được những nguyên mẫu của Truyện Kiều ở
trong xã hội Việt Nam thế kỉ XVIII hay ở trong chính thời đại và môi trường
sống của Nguyễn Du, thì chừng ấy khó lòng mà nói đến một chủ nghĩa hiện
thực của Nguyễn Du” ([8, tr.138] Rõ ràng, chủ nghĩa hiện thực trong văn học
là một vấn đề được quan tâm cả ở bình diện lý luận và thực tiễn Có lẽ ở thời điểm công bố công trình của Lê Đình Kỵ, cách hiểu về chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa chưa đạt được một nhận thức chung, chưa có tiếng nói đồng thuận trong giới, nhưng đã có những chỉ dấu cho thấy
nó đã được quan tâm luận giải từ nhiều phía Chủ nghĩa hiện thực không chỉ
là câu chuyện của những nhà lý luận văn học, những nhà nghiên cứu văn học
sử thời cận hiện đại, mà còn là vấn đề của những nghiên cứu về văn học dân gian, văn học cổ điển Nói cách khác, đó là một vấn đề trung tâm của các nghiên cứu văn học Đúng như một nhà nghiên cứu thập niên 70 khẳng định:
“vấn đề đặt ra cho chúng ta hiện nay trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử văn học là xem xét trước thời kỳ chủ nghĩa hiện thực phê phán những năm 30, trong văn học Việt Nam đã có chủ nghĩa hiện thực hay chưa, nếu có thì nó xuất hiện từ bao giờ và chủ nghĩa hiện thực đó hình thành trong những điều kiện lịch sử nào, đặc tính và nội dung của nó ra sao…” [4, tr.101] “Ít có phạm trù lý thuyết nào lại được bàn cãi nhiều như phạm trù chủ nghĩa hiện thực” [1]
Sau Cao Huy Đỉnh, Đỗ Đức Dục trong bài “Suy nghĩ về vấn đề sự xuất hiện của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam” thừa nhận có một “chủ nghĩa hiện thực thời đại Nguyễn Du”, song ông cũng nhận định rằng, công trình của Lê Đình Kỵ chưa nêu được “quá trình hình thành của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam” [4, tr.101]
Trang 11“Chung quanh vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong lịch sử văn học Việt Nam” [2], Nguyễn Đình Chú nhìn thấy sự phát triển về tư tưởng học thuật của
Lê Đình Kỵ từ bài viết đầu tiên tìm hiểu phương pháp sáng tác Truyện Kiều
năm 1963 đến năm 1970: Lê Đình Kỵ vượt qua giai đoạn bước đầu tìm hiểu,
ra mắt bạn đọc công trình quy mô hơn Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực
của Nguyễn Du Cũng như Nguyễn Đình Chú, Trần Đình Sử trong “Thời gian
nghệ thuật trong Truyện Kiều và cảm quan hiện thực của Nguyễn Du” khẳng định: Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du là một công trình
sâu sắc và công phu [54]
Sau khi khảo sát bước đầu lịch sử nghiên cứu Truyện Kiều, Trần Nho
Thìn trong một bài viết khẳng định xu hướng tất yếu của việc cần thiết phải
“nghiên cứu và giảng dạy văn học trung đại từ góc độ văn hóa” [60] như một
sự bổ sung cho các phương pháp nghiên cứu trước kia, một mặt khách quan ghi nhận việc vận dụng khái niệm “chủ nghĩa hiện thực” (phương pháp sáng
tác) trong thập kỉ 60, 70 để phân tích Truyện Kiều là “một nỗ lực mới nhằm
khoa học hóa công việc nghiên cứu” nhưng mặt khác, tác giả tiểu luận cũng thẳng thắn chỉ ra rằng,”việc đưa những tiêu chí của chủ nghĩa hiên thực - một trào lưu văn học phương Tây ở giữa thế kỉ XIX vốn có những đặc trưng loại hình rất khác so với văn học trung đại Việt Nam cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ
XIX để mô tả Truyện Kiều là một việc khá mạo hiểm và thực tế đã bộc lộ
những bất cập” “Hướng đi này mặc nhận rằng Nguyễn Du, một tác gia văn học trung đại, cũng hướng về “chủ nghĩa hiện thực” như một tác gia hiện thực chủ nghĩa bất kì Từ đây những điểm có sự trùng khít thì kết luận về sự hiện diện của chủ nghĩa hiện thực trong sáng tác của Nguyễn Du, còn những nơi nào không có sự trùng khít thì giải thích là có sự ràng buộc níu kéo của mĩ
học truyền thống Cách tiếp cận này thực chất đã biến Truyện Kiều từ một
chỉnh thể nghệ thuật thành một thực thể đầy mâu thuẫn, thiếu thống nhất, nơi chứa đựng những phương pháp sáng tác khác nhau) Nói chung, bài viết của
Trang 12Trần Nho Thìn, chưa đi sâu đánh giá chi tiết công trình của Lê Đình Kỵ mà chỉ tập trung xem xét tổng quan về lịch sử của sự ứng dụng các hệ thống lý
luận khác nhau vào nghiên cứu Truyện Kiều, trong đó việc vận dụng việc lý
luận chủ nghĩa hiện thực chỉ là một đường hướng Điểm mấu chốt trong bài viết này của Trần Nho Thìn là chỉ những những bất cập có thể có và cần rút kinh nghiệm đối với các cách tiếp cận trước kia; theo tác giả, nghiên
cứu Truyện Kiều cần tính tới đặc trưng văn hóa thời đại Nguyễn Du, cần
thận trọng để tránh những cách giải thích có tính suy diễn, gán ghép, hiện đại hóa tác phẩm: “lỗi không phải do phương pháp nghiên cứu được sử dụng mà là do người nghiên cứu, do ý thức về tính lịch sử cụ thể của đối tượng chưa đầy đủ” [60, tr.49]
Cũng như Trần Nho Thìn, Phạm Quang Long khi bàn “Về sự hình thành của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam”, đã nhận xét: “Có thể
nói công trình Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du là một cái mốc quan trọng của giới nghiên cứu về Nguyễn Du nói chung, Truyện Kiều nói
riêng Với công trình này nhà nghiên cứu có nhiều đóng góp cho giới nghiên cứu văn học Việt Nam trung cận đại trong cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu từ góc nhìn tư duy văn học của thời đại, từ cá tính sáng tạo của nhà văn và hệ thống thi
pháp thể loại Từ việc giải mã cơ sở tư tưởng thẩm mĩ của tác giả Truyện Kiều
nhà nghiên cứu đã lý giải các thao tác điển hình hoá nhân vật của Nguyễn Du dưới ánh sáng của lý thuyết thể loại và phương pháp nghệ thuật Có thể nói cho
đến nay chưa có ai viết về điển hình hoá của Truyện Kiều thú vị như Lê Đình
Kỵ, sau hơn 30 năm công trình của ông xuất hiện Những phần viết về điển hình hoá, ngôn ngữ nhân vật của Lê Đình Kỵ rất tinh tế, hấp dẫn nhưng đáng tiếc
là do đã xác định theo hướng chứng minh có một chủ nghĩa hiện thực trong
Truyện Kiều, dù đó là thứ chủ nghĩa hiện thực có điều kiện thì một khi hướng
nghiên cứu đã chưa chính xác thì những chi tiết, những thao tác dù có sâu sắc đến đâu nó bị hạn chế tác dụng Đó là điều đáng tiếc” [40]
Trang 13Năm 2006, Nhà xuất bản Giáo dục cho in và phát hành Tuyển tập Lê Đình
Kỵ Trong “Lời giới thiệu” cho cuốn sách này, Huỳnh Như Phương cung cấp
thêm chi tiết: nhan đề Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du do
nhà xuất bản thêm vào ba chữ sau (“của Nguyễn Du”), dù vậy thì dụng ý nhấn mạnh mối quan hệ của kiệt tác này với những đặc điểm của chủ nghĩa hiện thực
vẫn không thể ghi ngờ Huỳnh Như Phương xem Truyện Kiều và chủ nghĩa
hiện thực là đỉnh cao của sự nghiệp học thuật của Lê Đình Kỵ, “ở đây không
chỉ tư duy khái quát và khả năng kiến giải của một nhà lý luận mà còn cả sự cảm thụ tinh tế, năng lực phân tích sắc sảo của một ngòi bút phê bình Thời
Lê Đình Kỵ viết cuốn sách này, ở nước ta không phải không có xu hướng vận dụng những tiêu chí của chủ nghĩa hiện thực phương Tây vào việc nghiên cứu những giá trị của văn học cổ điển Việt Nam và đã không tránh khỏi ít nhiều khiên cưỡng Chính Lê Đình Kỵ cũng nhận thấy rằng chủ nghĩa hiện thực là
cái áo quá chật so với cơ thể cường tráng của Truyện Kiều: trong một bản in ở
Nhà xuất bản Cửu Long năm 1988, ông đã không ngần ngại đổi tên cuốn sách
này là Truyện Kiều, đỉnh cao văn học Thành ra, không thể phủ nhận là có
một độ chênh nhất định giữa lý thuyết của chủ nghĩa hiện thực và thế giới nghệ thuật của Nguyễn Du Âu đó cũng là nỗi ám ảnh của một thời” [48] Nhưng đúng như Trần Đình Sử đã nhận xét một cách thỏa đáng, Lê Đình Kỵ
đã "vượt lên cái khung ông tự đặt cho mình" [55, tr 344]
Năm 2013 Trịnh Bá Đĩnh trong Lịch sử lí luận phê bình văn học Việt
Nam đã có một số đánh giá sâu sắc và khách quan về Lê Đình Kỵ cũng như
đóng góp của Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du Theo tác
giả này, Lê Đình Kỵ là một hiện tượng nổi bật trong đời sống lí luận phê bình văn học thập kỉ 60, các công trình của ông về chủ nghĩa hiện thực đều gây
được chú ý, gây nên những cuộc bàn cãi sôi nổi: Truyện Kiều và chủ nghĩa
hiện thực của Nguyễn Du là “đỉnh cao nhất” [9, tr.169] trong sự nghiệp học
thuật của Lê Đình Kỵ, “là tác phẩm sáng giá nhất”, tiêu biểu cho cách mà Lê
Trang 14Đình Kỵ vận dụng chủ nghĩa hiện thực để phê bình văn học [9, tr.171] Để làm rõ hơn quan điểm của mình, Trịnh Bá Đĩnh nhấn mạnh: Lê Đình Kỵ xuất phát từ những nguyên lý có sẵn của lí luận về chủ nghĩa hiện thực để viết công trình của mình, tuy nhiên phải thấy rằng Lê Đình Kỵ không chọn con đường minh họa giản đơn các nguyên lý về chủ nghĩa của nước ngoài Mặc dù
chỉ dành năm trang viết về Lê Đình Kỵ và Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện
thực của Nguyễn Du trong công trình bàn thảo về tiến trình lịch sử lý luận phê
bình Việt Nam từ khởi nguồn đến hiện đại, song những đánh giá của Trịnh Bá Đĩnh và đặc biệt là những nỗ lực giới thiệu tuyển tập của Huỳnh Như Phương trước đó có thể xem là một bước chuyển rõ rệt nhằm đánh giá lại, công bằng hơn về Lê Đình Kỵ và những đóng góp của ông đối với nền lý luận phê bình văn học Việt Nam
Công bằng, thì trước Huỳnh Như Phương (2006), và Trịnh Bá Đĩnh (2013), đã có một số tác giả, đã có những động thái đánh dấu một hướng đọc
lại Lê Đình Kỵ Có thể kể đến bài viết Đọc lại Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện
thực của Nguyễn Du của Nguyễn Lộc (in trong Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực, nxb Hội Nhà văn, 1992); Một đời lao động tận tụy và sáng tạo (in
trong Lê Đình Kỵ - Phê bình nghiên cứu văn học, Nxb Giáo dục, 1998) của Nguyễn Văn Hạnh, Thi pháp Truyện Kiều (Nxb Giáo dục, 2005) của Trần
Đình Sử … Các bài viết, chuyên luận này đều tập trung khẳng định sự đóng góp xuất sắc của Lê Đình Kỵ cho ngành Kiều học, những thành công nổi trội của Lê Đình Kỵ khi vận dụng lý luận chủ nghĩa hiện thực, chia sẻ với sự dè
đặt của ông trước những vấn đề hóc búa trong nghiên cứu Truyện Kiều…
Nhìn lại quá trình tiếp nhận công trình Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện
thực của Nguyễn Du chúng tôi rút ra mấy nhận xét sau
Vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam là một trong những vấn đề trung tâm của các nghiên cứu, thảo luận thập niên 60, 70, 80
Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du là công trình vận dụng lý
Trang 15luận hiện thực chủ nghĩa để nghiên cứu một trường hợp đỉnh cao của văn học
cổ điển Hầu hết các ý kiến về công trình này đều ghi nhận cách đặt vấn đề mới mẻ của Lê Đình Kỵ
Phần lớn các ý kiến về Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của
Nguyễn Du nếu không phải là bài điểm sách, đọc sách thì cũng chỉ là một nội
dung nhỏ trong một tiểu luận/bài viết đặt những vấn đề bao trùm, khái quát,
phức tạp hơn Chưa có một cuốn sách riêng nào lấy Truyện Kiều và chủ nghĩa
hiện thực của Nguyễn Du làm đối tượng nghiên cứu độc lập Trước năm
2000, nhiều ý kiến đánh giá về Lê Đình Kỵ còn thiếu khách quan, có chỗ vẫn giữ định kiến đối với ông, những hiểu lầm về ông, kể từ cuộc thảo luận ồn ào
mà chiều hướng chính là phê phán cuốn giáo trình Các phương pháp nghệ
thuật trước đó của Lê Đình Kỵ (1962) Sau năm 2000, việc đánh giá Lê Đình
Kỵ nói chung và Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du diễn ra
theo chiều hướng khách quan, khoa học hơn
3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu cơ bản của đề tài là vấn đề vận dụng lí luận chủ
nghĩa hiện thực trong nghiên cứu Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của
Nguyễn Du
3.2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của luận văn là đánh giá những thành công và chưa
thành công; ý nghĩa và đóng góp của công trình Truyện Kiều và chủ nghĩa
hiện thực của Nguyễn Du trong lịch sử trưởng thành, phát triển của ngành
Kiều học Nói rộng là chỉ ra khung tri thức mà tác giả Lê Đình Kỵ đã sử dụng,
có những thế mạnh, ưu điểm và cả giới hạn gì trong việc đọc, diễn giải Truyện
Kiều, kiệt tác văn chương của dân tộc
Trang 164 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở xác định mục tiêu nêu trên, nhiệm vụ cụ thể mà luận văn cần thực hiện trước hết là cung cấp cái nhìn tổng quan về cách tiếp cận vấn đề
chủ nghĩa hiện thực của Truyện Kiều trước thập niên 70 và trong chừng mực
nhất định là việc nghiên cứu văn học Việt Nam nói chung từ hệ thống lý luận
ấy Quan trọng hơn nữa là phải trình bày được đầy đủ nội dung chính yếu của
công trình Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du của Lê Đình
Kỵ để làm cơ sở cho việc đúc kết những bài học về việc vận dụng lý luận chủ
nghĩa hiện thực trong nghiên cứu Truyện Kiều của tác giả; đồng thời với
nhiệm vụ này là xem xét một cách khách quan các ý kiến đánh giá của giới nghiên cứu về công trình này, phân tích lý giải những thành công, giới hạn,
những điểm hợp lý và chưa hợp lý trong các ý kiến đánh giá đó
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ đối tượng, phạm vi, mục tiêu nghiên cứu trên đây, luận văn khi triển khai sẽ phải sử dụng tổng hợp, phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu Cụ thể:
- Phương pháp xã hội học được sử dụng để xác định, đánh giá, lý giải
các cách tiếp cận Truyện Kiều; việc tiếp nhận công trình Truyện Kiều và chủ
nghĩa hiện thực của Nguyễn Du của Lê Đình Kỵ trong đời sống học thuật
trong và sau thập niên 70
- Phương pháp tiểu sử học được sử dụng để mô tả, giới thiệu về tác giả
Lê Đình Kỵ, nhằm tạo ra một cơ sở để hiểu đúng hơn những đóng góp và hạn chế của tác giả Lê Đình Kỵ trong công trình mà luận văn lấy làm đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp văn hóa học được sử dụng phối hợp với phương pháp xã
hội học để nhìn nhận các diễn giải Truyện Kiều như những hoạt động văn hóa
gắn liền với những mẫu người văn hóa; như những sinh hoạt văn hóa xã hội chịu sự chi phối của ý thức hệ
Trang 17Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh để khảo sát mối liên
hệ giữa nội dung bàn luận trong Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn
Du với một số quan điểm liên quan của tác giả khác trong văn học sử dân tộc
5 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là công trình của Lê Đình Kỵ -
Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du xuất bản năm 1970 (Nhà
xuất bản khoa học xã hội)
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận gồm 3 chương
Chương 1 Vấn đề vận dụng lý luận chủ nghĩa hiện thực trong nghiên
cứu văn học Việt Nam và Truyện Kiều
Chương 2 Nội dung công trình Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực
của Nguyễn Du - vận dụng lý luận về chủ nghĩa hiện thực
Chương 3 Các ý kiến đánh giá của giới nghiên cứu về công trình
Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du của Lê Đình Kỵ
7 Đóng góp của luận văn
Luận văn có hai đóng góp nhỏ
Một là, đúc kết bài học hữu ích về việc vận dụng lý luận chủ nghĩa hiện
thực trong nghiên cứu Truyện Kiều của Lê Đình Kỵ với công trình Truyện
Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du
Hai là, khẳng định công trình này của Lê Đình Kỵ là một điển hình của phương pháp đọc lại văn học cổ điển từ lý luận chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, thứ lý luận vốn thịnh hành và có quyền lực diễn giải các hiện tượng văn học bất kể là hiện tại hay quá khứ lúc bấy giờ ở miền Bắc
Trang 18Chương 1 VẤN ĐỀ VẬN DỤNG LÝ LUẬN CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC
TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM VÀ TRUYỆN KIỀU
Trước khi bàn về vấn đề vận dụng lý luận chủ nghĩa hiện thực trong
nghiên cứu văn học Việt Nam và Truyện Kiều hồi đầu thế kỉ XX, thiết tưởng
cũng nên trình bày rõ về nội hàm của các thuật ngữ mà luận văn hướng đến
thảo luận: Chủ nghĩa hiện thực và các khái niệm liên quan - Chủ nghĩa hiện
thực phê phán, Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa…
“Theo nghĩa hẹp, khái niệm chủ nghĩa hiện thực được dùng để chỉ một
phương pháp nghệ thuật, hay một khuynh hướng, một trào lưu văn học có nội dung chặt chẽ” [10, tr.54] với các nguyên tắc mỹ học như sau: mô tả cuộc sống bằng hình tượng và điển hình hóa; thừa nhận và tái hiện chân thực sự tác động qua lại giữ con người và môi trường sống, tính cách và hoàn cảnh; coi trọng những chi tiết cụ thể và độ chính xác của chúng trong việc mô tả con người và cuộc sống, chú ý khách quan hóa những điều được mô tả… “Ngoài chi tiết chân thực, chủ nghĩa hiện thực còn đòi hỏi một sự tái hiện chân thực những tính cách điển hình trong những hoàn cảnh điển hình” [45], Mác nhấn mạnh: “chỉ có thế giới được hiểu biết y như nó tồn tại mới là hiện thực”
Thuật ngữ, chủ nghĩa hiện thực phê phán, như tên gọi của nó, “nhấn mạnh
khuynh hướng phê phán, tố cáo”, “tinh thần phê phán toàn bộ hệ thống các quan hệ xã hội, các hiện thực mâu thuẫn giữa chế độ tư sản với các chuẩn
mực nhân tính đúng như nó có trong thực tế” Còn khái niệm chủ nghĩa hiện
thực xã hội chủ nghĩa được dùng để chỉ phương pháp pháp sáng tác có các
đặc điểm như: lấy “thế giới quan Mác-Lênin làm cơ sở triết học, nguyên lý tính đảng vô sản làm nguyên tắc chỉ đạo”, chủ trương “miêu tả hiện thực một cách chân thực lịch sử cụ thể trong quá trình phát triển biện chứng của nó”, coi việc đấu tranh nhằm khẳng định bằng nghệ thuật những cái mới, cái tích
Trang 19cực trong cuộc sống là nhiệm vụ chủ yếu của sự phản ánh thực tại [10, tr.54]
Ở Việt Nam, càng về sau, lý luận về chủ nghĩa hiện thực được hiểu là chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa
Trong khuôn khổ luận văn, dưới đây chúng tôi điểm lại đôi nét về việc vận dụng lý luận chủ nghĩa hiện thực vào nghiên cứu văn học sử Việt Nam giai đoạn trước 1970
1.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945: khái niệm chủ nghĩa tả chân
Từ trước năm 1945, lý luận chủ nghĩa hiện thực đã được vận dụng vào việc phân tích, đánh giá văn học Việt Nam, từ văn học dân gian, cổ-trung đại đến văn học hiện đại
Đầu thế kỉ XX, trong đời sống báo chí, sáng tác, phê bình văn học Việt Nam xuất hiện khái niệm “tả thực”, “tả chân” với ý nghĩa khu biệt với thứ văn chương ước lệ, khuôn sáo của văn học trung đại Các tác giả đầu tiên đề cập đến khái niệm này và vận dụng nó trong phê bình, đánh giá là Thiếu Sơn, Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Học…
Giới thiệu “Một lối văn mới: Sống chết mặc bay” [50], Phạm Quỳnh đã
có nhận xét: Trong học giới, báo giới ta, chắc ai cũng đã biết tên ông Phạm Duy Tốn Ông là một người rất nhiệt thành với văn chương quốc ngữ, và đã
biệt lập ra một lối văn riêng lấy sự tả chân làm cốt Mỗi bài văn của ông như
một tấm ảnh phản chiếu cái chân tương như hệt Ông tin rằng phàm văn
chương đã tả được hết cái thực, là tự khắc có cái sức cảm động vô cùng,
không cần phải nghị luận xa xôi Văn chương ta xưa nay thường lấy sự mập
mờ phảng phất làm hay, càng phiếu diễu bao nhiêu càng huyền diệu bấy nhiêu
nên ít dụng lối tả thực, coi là tầm thường Nay xét văn học họa học của Thái Tây, phần nhiều lại trọng lối tả thực hơn là lối phá bút Quốc văn ta sau này tất chịu ảnh hưởng của văn Tây nhiều, lối tả thực rồi tất mỗi ngày một thịnh hành Như bài văn ông Phạm Duy Tốn sau này cũng gọi là một bài tả thực
Trang 20tuyệt khéo… Văn tả thực mà được như vậy cũng đã khéo thay Bản báo đăng bài này mà có lời khen ông Phạm Duy Tốn đã có công với quốc văn” Ở một bài viết khác, “Lối tả chân trong văn chương”, Phạm Quỳnh cũng có những nhận xét tương tự, ông nói: “Văn chương đời nay thường trọng lối tả thực hơn lối phá bút…” [51] Xuất phát từ quan niệm trọng lối tả thực như vậy, nên điều
lệ của một cuộc thi sáng tác tiểu thuyết trên Nam phong tạp chí năm 1918 đã
yêu cầu: “tiểu thuyết phải làm theo lối châu Âu… Phải dùng phép tả thực, không được bịa đặt những chi tiết hoang đường, kỳ quái Trọng nhất là tả được cái tâm lý người ta cùng cái tình trạng trong xã hội” [52]
Thiếu Sơn trong Phê bình cảo luận (1933), nhận thấy do ảnh hưởng
của khoa học nên tiểu thuyết coi trọng việc tả thực: “gần đây khắp văn chương thế giới đâu đâu cũng có cái phong trào tả thực Mà cái phong trào này là nguyên lai tự cái tri thức nhân loại nó đã tiến hóa theo khoa học tới một cái trình độ khác cao Nhưng tả thực là thế nào? Tả thực là đem những sự mắt thấy tai nghe cho vào văn chương sách vở Nhà cổ điển chỉ tả những hiện tượng đại đồng của tâm giới Nhà lãng mạn chỉ tả những mối tình cảm mơ màng của thi nhân Còn nhà văn học tả thực thì chẳng chịu bỏ sót một cái gì
là không nói đến Tâm giới cũng tả mà ngoại giới cũng tả… Trong phái tả thực đã có người chịu khó trà trộn vào những hạng người lao động thợ thuyền, lẩn quẩn ở những nơi đầu đường xó chợ, cốt để tìm tòi học hỏi cho biết cái sinh hoạt của khắp các hạng người trong xã hội… Như ý tôi, thì tả thực là nên, nhưng phải tả hết cả sự thực, chớ nên nói cái này mà bỏ cái kia” [56, tr.59-60]
1.1.1 Hải Triều gắn chủ nghĩa tả chân xã hội với giá trị phản ánh, tố cáo hiện thực, giá trị nhân sinh
Nói về lý luận chủ nghĩa tả chân, không thể không nhắc đến Hải Triều, người có công đầu trong việc xây dựng nền lý luận phê bình văn học mác xít ở ta
Trang 21Trong bài “Sự tiến hóa của văn học và sự tiến hóa của nhân sinh” Hải Triều đã dùng duy vật biện chứng pháp phê bình cái quan hệ của sự tiến hóa
về văn học và sự tiến hóa về nhân sinh” [67] Hải Triều quan niệm văn học quan hệ chặt chẽ với xã hội, văn học là một bộ phận của thượng tầng kiết thiết, “văn học là cái biểu hiện của nhân sinh, không biểu hiện được nhân sinh thì không ra văn học”, “nếu nền kinh tế của xã hội biến đổi thì nền văn học cũng biến đổi theo” Đứng trên lập trường này, Hải Triều đề cao văn học gắn với nhân sinh, phê phán thứ: văn học tự nhiên chủ nghĩa, lãng mạn chủ nghĩa, tượng trưng chủ nghĩa, duy mỹ chủ nghĩa, nghệ thuật thuần túy
Đối với Hải Triều, văn học có chức năng phô diễn tư tưởng, mà tư tưởng là cái phản ảnh của vật chất [68]; hoàn cảnh vật chất chi phối sự sáng tạo văn chương; văn chương là sản phẩm của xã hội, thời đại, “phát nguyên của nghệ thuật là trong sự sống” [70], “không có nhà văn nào có thể thoát li ra khỏi sinh hoạt xã hội mà sáng tác văn chương được” [75] Thời đại biến đổi thì văn học biến đối theo, muốn cắt nghĩa văn học phải căn cứ vào xã hội, nhân sinh: “diễn tả cho đúng cái tư tưởng, cái ý chí tình cảm của mỗi giai cấp, mỗi thời đại trong lịch sử là một cái sứ mệnh tối cao của nhà văn học chân chính, dẫu ở đời nào cũng thế, ở xứ nào cũng thế” [69]
Hải Triều chủ trương lấy nghệ thuật phụng sự cho nhân sinh: “nghệ thuật chân chính - theo Hải Triều - là cái nghệ thuật vị nhân sinh” [70] Ông tán thành quan điểm của L.Tolstoi cho rằng văn nghệ sĩ phải “chỉ cho loài người thấy con đường giải thoát khỏi những khốn khổ ngày nay và tìm những cái mới mẻ hơn” Nghệ sĩ đích thực là người lấy nhân sinh, dân sinh làm cứu cánh cho nghệ thuật, là người thuộc về quần chúng nhân dân, “giữa cuộc phân tranh của xã hội, trước những vấn đề sống còn của thời đại, nhân loại đang mong mỏi”, nghệ sĩ phải biết diễn dịch nỗi lòng của họ, “làm sao mà những
sự đau thương, mong mỏi, sự buồn giận, sự vui sướng trong tâm khảm họ đều
vẽ lên thành những bức tranh linh hoạt chan chứa tình cảm” [71], diễn tả bằng những câu văn chân thật, cứng cỏi, mạnh bạo”, “bình dị mà thiết thực” [72]
Trang 22Theo Hải Triều, tập truyện Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan là tác
phẩm đã “mở ra một kỉ nguyên mới cho các tư triều văn nghệ tả thiệt về xã hội ở nước ta” Tác phẩm của Nguyễn Công Hoan có hai đặc điểm: về hình thức,khuynh hướng về tả thực; về nội dung, khuynh hướng về xã hội “Hình
thức và nội dung đi đôi với nhau thì tác phẩm mới có giá trị Xem văn Kép Tư
Bền, chúng ta nhận thấy rõ tác giả đã đứng về mặt tả thực chủ nghĩa
(réalisme) Với những câu văn rất thành thực, chắc chắn, hí hởn, ngộ nghĩnh, nhiều khi cục cằn thô bỉ nữa, chúng ta phải phục Nguyễn Quân là một nhà kể chuyện rất thiệt và rất có duyên Về phương diện tả thực, có thể nói tác giả đã đạt đến mục đích một phần lớn rồi vậy” Nghệ thuật tả thực chủ nghĩa, như Hải Triều yêu cầu, là thứ nghệ thuật vị xã hội đích sinh hoạt” [73]
Cần phân biệt ở Hải Triều hai loại tả thực chủ nghĩa Một loại tả thực chủ nghĩa như Nguyễn Công Hoan và một loại như M.Gorki [74] Hải Triều
gọi khuynh hướng tả thực của Gorki là chủ nghĩa tả thực xã hội, “cốt ở sự tả
một cách chân thực, rành mạch những thực trạng quá khứ hay hiện tại, làm thế nào cho sự tả thực ấy có thể đưa quần chúng đến chỗ giác ngộ tranh đấu
để kiến thiết xã hội chủ nghĩa” [73] Tả thực xã hội hay tả thực xã hội chủ nghĩa (như sáng tác của Gorki, Lan Khai) trong các diễn giải của Hải Triều chính là một thuật ngữ chỉ phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa: “văn chương của giai cấp vô sản là văn chương tả thực xã hội” [75] Hải Triều
khẳng định: “chủ nghĩa tả thực xã hội luôn luôn thừa nhận mỗi tác phẩm đều
có một khuynh hướng, nhưng chủ nghĩa tả thực xã hội hết sức kiêng kị những
xu hướng chủ quan, độc đoán, cơ giới, những tư tưởng cố định, những tín điều bất dịch mà tác giả đã vụng về ấn ghép vào câu chuyện… Một nhà văn khuynh hướng về chủ nghĩa tả thực xã hội chỉ nên phụng sự sự thật, chớ nên buộc sự thật phải phụng sự mình” [76]
Qua các bài bút chiến, phê bình của Hải Triều, chúng ta có thể rút ra
đặc điểm của mỹ học tả thực chủ nghĩa ở Hải Triều gồm đặc điểm sau: tác
phẩm phải có khuynh hướng tả thực và nội dung xã hội; lấy cuộc đời thực tế, những điều mắt thấy tai nghe làm chất liệu; quan sát tỉ mỉ những người,
Trang 23những việc ở xung quanh, chú ý miêu tả chi tiết, phơi bày chân thực cảnh đời, tình đời; phê phán cái hèn mạt, cái xấu xa, thành kiến hủ bại, cái xã hội cũ kỹ; quan tâm tả cái đau thương sầu khổ của hạng người nghèo khổ, bênh vực giai cấp cần lao, nhen nhóm lên “một chút tình đối với nhân loại” và giác ngộ quần chúng đấu tranh đánh đổ “thế giới cũ” (chống lại xã hội thực dân phong kiến, tố cáo cái ác, cái xấu của xã hội đó, nhằm lật đổ nó), xây dựng xã hội chủ nghĩa
Có thể nói, Hải Triều không chỉ là nhà phê bình có lý luận về chủ nghĩa hiện thực/tả thực xã hội chủ nghĩa, ông tiếp thu tả thực chủ nghĩa của phương Tây, Liên xô, đồng thời còn là người vận dụng nhất quán lý luận tả thực chủ nghĩa như một điểm tựa phê bình các hiện tượng, các quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật, thoát li hiện thực thập niên 30 Cách vận dụng lý luận của Hải Triều,
về đại thể, mang màu sắc thực dụng, chủ yếu hướng tới phục vụ chính trị, cách mạng Đây cũng chính là một trong những lý do khiến ông được tôn vinh là nhà văn chiến sĩ, nhà văn cách mạng, nhà văn tiên phong của nền văn học mới
1.1.2 Đinh Gia Trinh và vấn đề chi tiết chân thực, phong phú của tiểu thuyết Pháp
Đinh Gia Trinh là nhà phê bình văn học, khuôn mặt nổi bật của nhóm
trí thức Thanh Nghị Sự vận dụng lý luận chủ nghĩa hiện thực ở trường hợp
Đinh Gia Trinh thể hiện rõ nhất trong các bàn thảo của ông về tiểu thuyết Việt Nam cận đại
Trong bài viết “Đọc tiểu thuyết Việt Nam cận đại” đăng trên tạp chí
Thanh Nghị số 26 năm 1942, Đinh Gia Trinh có nhắc đến một tín hiệu khởi
sắc của tiểu thuyết xứ ta: “gần đây trong sự sản xuất tiểu thuyết của xứ ta, người thức giả đã nhận thấy một ít tác phẩm có giá trị và một vài hoan nghênh của công chúng” [66] Tác phẩm có giá trị và gây được húng thú với độc giả
mà Đinh Gia Trinh khen ngợi, chính là thứ tiểu thuyết có khuynh hướng tả thực, được ông định danh là “tiểu thuyết tả chân” [66]
Trang 24Đặc điểm của tiểu thuyết tả chân được Đinh Gia Trinh mô tả như sau Trước hết về chủ thể sáng tác: nhà tiểu thuyết “tìm tài liệu ở đời xung quanh”,
kể về những hoàn cảnh, nhân vật, xã hội trong đó nhà tiểu thuyết và độc giả sống Tiểu thuyết tả thực, là tiểu thuyết phản ánh “chân tượng của xã hội”, được xây dựng trên cơ sở sự thực xung quanh chứ không phải hoàn toàn là tưởng tượng, “nhân tạo”: “nội dung các tiểu thuyết Việt Nam cận đại cho ta hiểu được đời sống vật chất và tinh thần xã hội Việt Nam, hay nói ngược lại, đời sống vật chất và tinh thần của xã hội Việt Nam cận đại khiến ta hiểu được tính cách nội dung của tiểu thuyết Việt Nam mới” [66] Như thế, theo Đinh Gia Trinh, điểm quan trọng nhất của tiểu thuyết tả chân là phải có giá trị hiện thực, nội dung của nó phải toát lên cái không khí đặc trưng của thời đại bằng các nét
vẽ chân thực, gần gũi “Tiểu thuyết đựng những nguyện vọng, những phản ánh của đời sống tinh thần và vật chất của xã hội Muốn suy xét một dân tộc, một nhà mỹ học khuyên ta, nên để ý đến nền âm nhạc và lối kiến trúc của nước ấy
Ta phải thêm vào: nên xét đến văn chương của nước ấy và nhất là môn tiểu thuyết của nước họ”- Đinh Gia Trinh lưu ý [66] Về điểm này, Đinh Gia Trinh
đã đặt tiểu thuyết ngang với một tác phẩm lịch sử, và nhà tiểu thuyết như một
sử gia của thời đại Đọc tiểu thuyết tả chân cũng như đọc lịch sử
Cũng Đinh Gia Trinh trong bài “Tính cách văn chương Việt Nam trước thời kỳ Âu hóa” [65] chỉ ra mấy đặc điểm có tính cách phương pháp luận để
chúng ta hiểu thêm phương pháp sáng tác của Truyện Kiều Theo Đinh Gia
Trinh, ở ta tư duy khoa học rất yếu ớt, tựa như không đáng kể, “Ở nước ta, khoa học không phát triển mạnh nên lý trí không được hướng thượng, triết học không năng thay đổi, và văn chương chỉ quanh quẩn với mấy ý tưởng khuôn mẫu bất di dịch được xã hội thâu nhận đã lâu đời.” [65] Nhận xét này của Đinh Gia Trinh giúp ta có thêm cơ sở để phân biệt và đánh giá đúng hơn
tư tưởng định mệnh trong Truyện Kiều Cũng theo tác giả Đinh Gia Trinh, xã
hội Việt Nam đóng kín, nhà văn xưa không ưa tả cảnh tỉ mỉ, văn chương Việt
Trang 25Nam thiên về sự diễn hoặc ngụ những tư tưởng luân lý và sự tả những niềm riêng của một người, văn chương Việt Nam thiên về tính cách một "văn
chương của trường hợp" chẳng hạn “Ôn Như viết quyển Cung oán, Nguyễn Du viết quyển Kim Vân Kiều, là để tả một cách kín đáo chút tâm
sự đau đớn của mình …
Rõ ràng, lập trường và đích đến của Hải Triều khác với Đinh Gia Trinh Một đằng đứng trên quan điểm Mác xít, ra sức vận dụng chủ nghĩa Mác vào thực tiễn Việt Nam, tự nhận lãnh lấy sứ mệnh của một nhà văn tham dự vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh cho sự thắng lợi của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, cho nền văn học mới Còn một đằng túy thuần túy bàn về tư duy nghệ thuật của chủ nghĩa hiện thực, tư duy tả chân chứ không chủ ý khai thác một cách thực dụng vấn đề tả thực vào phục vụ đấu tranh cách mạng, đánh đổ chế độ phong kiến thực dân; không phải ngẫu nhiên trong lịch
sử lý luận văn học cách mạng, Đinh Gia Trinh là một tên tuổi ít được nhắc đến như Hải Triều
1.1.3 Đào Duy Anh, Nguyễn Bách Khoa với lý luận và phương pháp nghiên cứu phương Tây
Xét riêng trong lĩnh vực Kiều học trước 1945 Có thể xem Phạm Quỳnh, Đào Duy Anh, Nguyễn Bách Khoa là những tác giả tiêu biểu cho khuynh hướng tiếp thu lý luận và phương pháp nghiên cứu phương Tây vào
đánh giá, định giá Truyện Kiều
Mở đầu bài “Truyện Kiều” in trên Nam Phong số 30 (1919), Phạm
Quỳnh cho rằng, văn chương Nôm ở ta vốn nghèo nàn nhưng tình cờ sản xuất được bộ sách quý, do đó không thể lấy cái “tỉ lệ thường của văn chương
Nôm” mà đánh giá Truyện Kiều, “phải dùng phép phê bình khảo cứu của văn
học Thái Tây mới mong phát biểu được cái đặc sắc, bày tỏ được cái giá trị của một nền tuyệt tác trong quốc văn Việt Nam” [53] Dựa theo phương pháp
nghiên cứu phương Tây, Phạm Quỳnh lần lượt xét mấy vấn đề: Cội rễ Truyện
Trang 26Kiều, Lịch sử tác giả, Tâm lí cô Kiều và Văn chương Truyện Kiều Ngoài
cách tiếp cận tiểu sử học của Sainte-Beuve, điểm đáng lưu ý trong hệ tiêu
chuẩn đánh giá Truyện Kiều của Phạm Quỳnh, là tác giả đã chú ý đến khuynh
hướng tả thực của tác phẩm: “văn chương ta vẫn có tiếng là không biết tả
thực, hay chuộng những hoang đường huyền diệu Văn chương Truyện Kiều
thời không thế; chỗ nào nên tả thực rõ ra nét bút tả thực, mà vẫn có cái vẻ trang nghiêm thanh nhã”, như mấy đoạn tả về lầu xanh, tả Kiều đang tắm… [53] Tiêu chí miêu tả nhân vật sống động như thật được Phạm Quỳnh đề cao Ông viết, theo phê bình văn học của Thái Tây, muốn biết nhà văn có tài không cần xem xét “những nhân vật mô tả có vẻ linh hoạt như người sống hiển nhiên không… đọc những bộ tiểu thuyết có tiếng của Thái Tây thường
có cái cảm giác như thế, như người trong truyện là người sống thật, đương hành động ở trước mặt mình” Mặc dù không nói đến nghệ thuật điển hình hóa, nhưng những dòng nhận xét sau đây của Phạm Quỳnh cho thấy ông đề cao tính cách điển hình của Kiều: “Cụ Tiên Điền ta đặt ra chuyện Thúy Kiều thật cũng đáng là một tay sáng tạo tuyệt luân, vì cô Kiều đã thành một nhân vật não nùng ở trong tình giới người nước ta, thành một người bạn bi thu thê thảm của biết bao nhiêu kẻ bạch mệnh tài tình từ hơn một trăm năm tới giờ và cho đến muôn đời về sau nữa” [53]
Sau tiểu luận của Phạm Quỳnh, một nghiên cứu công phu đáng chú ý
khác về Truyện Kiều là Khảo luận về Kim Vân Kiều của Đào Duy Anh, cuốn
sách được viết năm 1943 Đánh giá về nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Du, Đào Duy Anh cho thấy ông quan tâm đến sự mô tả chân thực các
tính cách nhân vật: “văn chương Truyện Kiều tả nhiều tình cảnh phức tạp, mà
tả giống hệt, khiến hạng người nào đọc cũng tuồng như nhận được có chỗ
giống với tình cảm của mình ít nhiều… Truyện Kiều là tác phẩm đầu tiên làm
chứng rằng, nước ta có thể sản xuất được một thứ văn học chung cho các hạng người trong xã hội” Xét về phương pháp, Đào Duy Anh là một trong
Trang 27những người đầu tiên hồi đầu thế kỉ thực hành so sánh hai văn bản Truyện
Kiều và Kim Vân Kiều truyện, ông tránh được lối bình phẩm thiên về luân lý
đạo đức thường thấy ở các nhà nho (ngoài Đào Duy Anh có thể kể đến Rơnê
Crayxắc với “Truyện Kiều và xã hội Á Đông”…)
Trước 1945, nhà nghiên cứu Trương Tửu - Nguyễn Bách Khoa công
bố nhiều bài viết, công trình về Truyện Kiều như: Triết lý Truyện Kiều (Đông
Tây tuần báo, 1931), Nguyễn Du và Truyện Kiều (Văn mới, 1942), Văn chương Truyện Kiều (1945) Xuyên suốt những công trình này ta thấy
Nguyễn Bách Khoa đã đứng từ nhiều góc độ để tiếp cận Truyện Kiều, trong
đó có cả sự vận dụng lý luận phương Tây Bài Triết lý Truyện Kiều đứng từ
góc độ Phật giáo để soi sáng nội dung tương tưởng chủ đạo và số phận của nhân vật chính Nhưng thành công đáng chú ý nhất của Nguyễn Bách Khoa chính là ông đã vận dụng “phương pháp khoa học, khí cụ khoa học” để khám
phá cái đẹp, chất thơ của Truyện Kiều Trong Nguyễn Du và Truyện Kiều, Văn
chương Truyện Kiều ông phê phán các cách đọc truyền thống, không đưa
người ta đến chân tướng nghệ thuật của nó, và đề xuất cách đọc mới: “Cái đẹp
hay chất thơ của Truyện Kiều, ta cũng chỉ có thể thương thức được bằng
phương pháp khoa học, bằng khí cụ khoa học” [38] Phương pháp khoa học
mà Nguyễn Bách Khoa nói đến ở đây chính là phân tâm học… Nguyễn Bách Khoa khẳng định: “các nhà tâm lý học hiện đại đều công nhận, cá tính đặc xuất của một người không ở cõi hữu thức mà chính là ở tiềm thức của người ấy… Tiềm thức là cốt tủy của con người”, nghệ sĩ có chỗ hơn người là khi sáng tạo họ “đập vỡ tan tành cái cùm xích của bản ngã hữu thức”, họ chỉ
“sống bằng tiềm thức, bằng bản năng”, bổn phận của nhà phê bình không phải chỉ “đi tìm tâm sự nhà văn trong tác phẩm văn chương” mà phải tìm hiểu đến
cá tính nhà văn - “vì cái này mới là tất cả nhà văn, cái này mới thành thực, mới không bị che đậy hoặc xuyên tạc Nó là cái phần sâu thẳm nhất, tiềm tàng nhất, mạnh mẽ nhất”, “tác phẩm là một khát vọng bị dồn ép được thể hiện ra
Trang 28của người nghệ sĩ” Nhờ phương pháp khoa học mới này, Nguyễn Bách Khoa
đã chỉ ra được cái vô thức, cái cốt tủy, cái bản sắc làm nên thiên tài Nguyễn
Du và kiệt tác Truyện Kiều, đem lại cho độc giả những trải nghiệm mới về tác
giả, tác phẩm trước đấy chưa thấy, thêm nữa phương pháp của Nguyễn Bách Khoa đã hạn chế được lối bình phẩm chủ quan, tùy tiện Đôi dòng sau của tác giả cho thấy đầy đủ đóng góp của ông: “bằng phương pháp khoa học tôi đã tìm đến nguồn gốc sự cấu tạo ra cá tính Nguyễn Du và do đó khám phá ra được huyết thống, thời đại cùng đẳng cấp Nguyễn Du Tôi đã thiết định mối liên lạc giữa ông và tác phẩm văn chương của ông, không phải cái liên lạc hờ hững ở một khía cạnh (tâm sự), mà cái liên lạc toàn khối ở các mặt, các góc cạnh, ở cả trung tâm điểm Mối liên lạc ấy đã chứng thực rằng văn chương chỉ
là phản ảnh của con người và con người chỉ là sản phẩm của hoàn cảnh…” Tuy nhiên, công bằng phải thấy rằng bên cạnh những đóng góp mới mẻ, cũng
có nhiều chỗ tác giả diễn giải còn gượng ép
1.2 Giai đoạn sau 1945 đến năm 1970 (trước khi Lê Đình Kỵ công bố cuốn sách)
Sau 1945, xu hướng vận dụng lý luận phản ánh/chủ nghĩa hiện thực vào
nghiên cứu Truyện Kiều bộc lộ rất rõ nét Có thể coi đây là đặc điểm nổi bật, xét về mặt phương pháp tiếp cận Truyện Kiều, ở miền Bắc, trong sự đối sánh
với miền Nam - khu vực thịnh hành của các phương pháp như phê bình hiện sinh chủ nghĩa, hiện tượng luận, phân tâm học…
1.2.1 Hoài Thanh (1949) trong “Quyền sống của con người trong Truyện Kiều” tiếp tục vận dụng quan niệm phản ánh hiện thực nhưng chưa có ý thức về chủ nghĩa hiện thực
Công trình đáng kể đầu tiên trong giai đoạn sau 1945 vận dụng lý luận
chủ nghĩa hiện thực xem xét Truyện Kiều là Quyền sống của con người trong
Truyện Kiều (Hội Văn hóa Việt Nam xuất bản, 1949) của Hoài Thanh
Trang 29Hoài Thanh viết Quyền sống của con người trong Truyện Kiều [57]
xuất phát từ tâm thế của thời đại - “kiểm điểm” lại di sản văn học quá khứ theo hướng gạn đục khơi trong Hoài Thanh băn khoăn địa vị của Nguyễn Du trong kháng chiến và cách mạng chưa minh bạch, trong khi: “thời đại của
chúng ta có những điều kiện để định ngôi thứ cho Truyện Kiều…”[57] và
người cách mạng có thể mời Nguyễn Du vào mặt trận Liên Việt Lập trường của Hoài Thanh là lập trường mác xít, phương pháp chủ yếu của ông là xã hội học Điều này thể hiện rõ trong những bàn về của ông về thái độ của Nguyễn
Du đối với quyền sống con người Trong khi phân tích nhân vật, Hoài Thanh cho thấy ông đã tiếp nhận lý luận chủ nghĩa hiện thực để xem xét mối tương quan giữa tính cách và hoàn cảnh, lý giải mối quan hệ tác động giữ con người
và môi trường sống thời phong kiến Vấn đề trung tâm trong công trình của Hoài Thanh là vấn đề quyền sống của con người, cũng tức là vấn con người
và hoàn cảnh sống Hoài Thanh phân tích sâu sắc môi trường sống phong kiến thời suy, ông cũng chỉ rõ số thân phận con người, quyền sống của con người trong hoàn cảnh đó Ông viết: Kiều là một người rất phiền cho trật tự phong kiến; trật tự phong kiến, nhất là thời suy, là một thứ trật tự chà đạp lên con người, không thừa nhận quyền sống của con người, chế độ ấy rất sợ tài; Kiều
là một người thực, sống thực trong tâm trí Nguyễn Du, cho đến khi Kiều chết, cái chết của Kiều cũng là cái chết của một người đã sống thực, “thân thế trầm luân của Thúy Kiều là một lời tố cáo những gì nhơ nhớp độc ác trong trật tự phong kiến”, “Kiều là tiếng ta thán của Nguyễn Du và của bao nhiêu người ngột thở trong cái khuôn phong kiến” Đòi hỏi của Hoài Thanh là phải có ý thức phản phong mạnh mẽ, vì lẽ này ông phê phán Nguyễn Du đã nửa vởi
không theo đuổi đến cùng khuynh hướng phản phong, không dám ước mơ triệt để (thể hiện qua nhân vật Từ Hải)… Viết Quyền sống của con người
trong Truyện Kiều, Hoài Thanh dụng tâm dùng Truyện Kiều như một khí cụ
đấu tranh giai cấp Chiến lược phê bình Truyện Kiều của Hoài Thanh, xét cho
cùng là nhằm phục vụ cho cuộc kháng chiến phản đế phản phong (mục đích
Trang 30chính trị ẩn sau vấn đề phê bình văn học) Đây chính là nguyên nhân chính đưa ông đến tư tưởng muốn mời Nguyễn Du vào mặt trận Liên Việt: “chúng ta chỉ biết chắc một điều là trong mặt trận dân tộc thống nhất phải có con người ấy, chúng ta mời Nguyễn Du vào Hội Liên Việt … ở một nơi nào đó trong tâm trí chúng ta ít nhiều Nguyễn Du vẫn còn sống Phê bình Nguyễn Du tức là chúng ta gián tiếp phê bình chúng ta vậy Vì lẽ đó, cho nên mặc dù giữa lúc này công việc kháng chiến bề bộn cũng nên để một ít thì giờ để phê bình Nguyễn Du” [57]
1.2.2 Trương Tửu và Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du (1956) vẫn chỉ vận dụng quan niệm về phản ánh các phương diện hiện thực nhất là đấu tranh giai cấp
Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du là công trình tiêu biểu cho lối tiếp
cận duy vật sử quan mác xít Ngay Lời nói đầu sách, Trương Tửu đã trích dẫn
ý kiến của Mao Trạch Đông và xem đó là “ý kiến căn bản soi đường” cho
người nghiên cứu phê bình văn học Có thể xem Truyện Kiều và thời đại
Nguyễn Du là công trình đánh dấu sự đọc lại, nghiên cứu lại Truyện Kiều
“dưới ánh sáng của tư tưởng văn nghệ Marx-Lenin” Trương Tửu thành thực:
“Hơn mười năm trước tôi đã viết và cho xuất bản cuốn Nguyễn Du và Truyện
Kiều (1943) và cuốn Văn chương Truyện Kiều (1944)… Trong hai tập tiểu
luận này, tôi đã cố gắng phân tích và phê phán Truyện Kiều theo quan điểm
đấu tranh giai cấp Nhưng vì hồi ấy trình độ lý luận còn ấu trĩ, lập trường chính trị còn lệch lạc, tôi đã áp dụng phương pháp phê bình văn học mác xít một cách còn phiến diện, gò ép, máy móc, nên đã có những nhận định sai lầm, căn bản khi tìm hiểu và phê phán tác phẩm của Nguyễn Du… Từ sau cách mạng tháng Tám, được học tập thêm lý luận văn nghệ Marx-Lenin- Mao Trạch Đông… tôi đã có dịp chỉnh lí lại những điều ấy” Như vậy là, sau
1945, Trương Tửu ngả hẳn sang phương pháp xã hội học mác xít, nghĩa là ông đã không chọn con đường khoa học riêng như trước, để nhập vào bè diễn ngôn chung của thời đại, sử dụng khung lý thuyết chung của giới phê bình mác xít miền Bắc
Trang 31Trên cơ sở lý luận văn nghệ mác xít, Trương Tửu cắt nghĩa lại, giải
thích khác về sức hấp dẫn của Truyện Kiều Theo ông sở dĩ nhiều người nông dân thích Truyện Kiều vì “tác giả Nguyễn Du đứng về phía các tầng lớp nhân
dân chống phong kiến ở đương thời, đã phản ảnh trung thành và ca tụng nhiệt liệt một cuộc khởi nghĩa vĩ đại nhất của nông dân Việt Nam trong lịch sử - cuộc khởi nghĩa Tây Sơn với tất cả ưu và nhược điểm của nó” Khác với cách tiếp cận phân tâm học như trước 1945, giờ đây Trương Tửu thấy rằng “phê bình văn học là một phương diện của đấu tranh giai cấp trên mặt trận ý thức hệ” Cũng vì thế ông cho rằng, “toàn bộ đời sống ý thức của Nguyễn Du hình thành song song với toàn bộ quá trình thành bại của phong trào Tây Sơn”, Nguyễn Du đã phản ánh vào tác phẩm một vài cục diện cốt yếu của phong trào này, - theo Trương Tửu - “nếu không nghiên cứu Nguyễn Du như một hiện tượng tâm lý phản ánh phong trào Tây Sơn thì sự thành công bền bỉ của
Truyện Kiều trong nông dân Việt Nam là một điều bí ẩn không giải thích
được” Rõ ràng là dù cách đặt vấn đề khác nhau, nhưng nội dung đấu tranh giai cấp phản ánh trong tác phẩm của Nguyễn Du đều là mối quan tâm diễn dịch hàng đầu của Trương Tửu và Hoài Thanh khi phê bình
1.2.3 Các giáo trình lý luận văn học biên soạn theo lý luận Liên Xô về các phương pháp sáng tác: chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa được giới thiệu ở Việt Nam
Sau 1954, nhất là từ những năm 1960, việc du nhập lý luận văn học từ Liên Xô và một phần lý luận văn học từ Trung Quốc (vẫn là chịu ảnh hưởng của lý luận Liên Xô), khiến lý luận chủ nghĩa hiện thực đầy đủ, hệ thống hơn
so với lý luận trước cách mạng Về sách có thể kể đến Bàn về văn học nghệ
thuật (1955) của Mao Trạch Đông do Nam Mộc dịch, Hình tượng nghệ thuật
(1961) của A.A.Raduvin, A.A Bagienova, bộ Nguyên lý mỹ học Mác - Lê nin (2 tập, 1960, 1961) do Hoàng Xuân Nhị dịch, Phê phán những khuyh hướng
chủ yếu trong nghệ thuật và mĩ học phản động tư sản hiện đại (1962) của
Trang 32P.S.Torophimov, Nguyên lý lý luận văn học (1962) của L.I.Timofeev do Lê
Đình Kỵ, Cao Xuân Hạo, Bùi Khánh Thế, Nguyễn Hải Hà, Minh Hải, Nhữ Thành dịch… Về bài báo, có thể kể đến “Những quan điểm mỹ học của C.Mác, Ph Ăng - ghen (1960), “Vấn đề điển hình và vấn đề thể hiện tính cách con người trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa (1961), “Những đặc điểm quan trọng của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa” (1964),… ngoài ra còn rất nhiều sách bàn về kinh nghiệm sáng tác của các nhà văn nước ngoài (Maiakopxki, Erenbua, Lão Xá, Mao Thuẫn, Polevoi…)
Điều đáng nói là, tính đến những năm 60, vấn đề phương pháp sáng tác văn học nghệ thuật đã được quan tâm dịch, giới thiệu và nghiên cứu, giảng
dạy ở ta Cuốn C.Mác, F.Ăng-ghen Về văn học nghệ thuật do nhà xuất bản Sự
thật ấn hành năm 1958, giới thiệu những ý kiến của Mác và Ăng ghen về văn
học nghệ thuật; trong đó dành cả Chương VII - Đấu tranh cho chủ nghĩa hiện
thực, giới thiệu vấn đề chủ nghĩa hiện thực của Ban dắc, chủ nghĩa hiện thực
Anh, Đức… Cuốn Mác, Ăng-ghen, Lê nin và Văn học, nghệ thuật của giăng
Phơ-rê-vin (Nxb Sự thật) năm 1961 cũng nằm trong mạch chung đó, đúc kết một số vấn đề về phương pháp hiện thực phê phán, hiện thực xã hội chủ
nghĩa Bộ Nguyên lý lý luận văn học gồm 2 tập giới thiệu rất kĩ lưỡng một số
vấn đề về phương pháp sáng tác, kiểu sáng tác, nhất là phương pháp hiện thực chủ nghĩa được mô tả nhiều chiều Riêng về phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa đến giai đoạn này đã giới thiệu tương đối hệ thống: ngoài các công trình dịch thuật, các giáo trình lý luận văn học ở bậc đại học cũng tập trung
luận giải phương pháp này Có thể kể đến như bộ Những nguyên lý về lý luận
văn học của Đại học Tổng hợp gồm 4 tập, trong đó tập 4 biên soạn về Các
phương pháp nghệ thuật (1962) do Lê Đình Kỵ thực hiện; bộ Cơ sở lý luận
văn học/Nguyên lý văn học (4 tập, 1965) do Tổ bộ môn Lý luận văn học các
trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Tổng hợp biên soạn Ngoài phần nguyên lý chung, tác phẩm, thể loại văn học, bộ sách dành riêng một tập bàn
Trang 33về phương pháp sáng tác và trào lưu văn học do Lê Đình Kỵ (các nội dung:
chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực) và Nguyễn Văn
Hạnh viết Các giáo trình như Sơ thảo nguyên lý văn học (1958) của Nguyễn
Lương Ngọc đều dành riêng các chương bàn về vấn đề phản ánh hiện thực của văn học, hình tượng điển hình và vấn đề điển hình hóa nhân vật… Bên cạnh bộ giáo trình do Lê Đình Kỵ tham gia biên soạn phần phương pháp sáng tác, cùng
cần kể đến cuốn Phương pháp sáng tác trong văn học nghệ thuật (196) của
Hồng Chương, giới thiệu sự hình thành của các phương pháp sáng tác qua các thời kỳ lịch sử và những đặc điểm của các phương pháp sáng tác đó…
Xuất phát từ quan niệm về sự tiến bộ của văn học cùng sự độc tôn phương pháp sáng tác hiện thực chủ nghĩa, con đường sáng tác và nghiên cứu văn học theo hướng hiện thực chủ nghĩa ở Việt Nam thời hiện đại có thể hình dung, gần như là một con đường thẳng, liên tục và tất yếu” với ba giai đoạn chính: đi từ nghiên cứu về chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa hiện thực phê phán đến khẳng định, đề cao chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa Khái niệm chủ nghĩa hiện thực ở đây được hiểu là một phương pháp nghệ thuật, một khuynh hướng hay trào lưu văn học mô tả cuộc sống trung thành với bản chất cuộc sống và bằng phương pháp điển hình hóa các sự kiện, nhân vật; quan tâm lý giải mối quan hệ tác động qua lại giữa con người, tính cách và hoàn cảnh, coi trọng các chi tiết cụ thể…Các nguyên tắc mỹ học cơ bản của chủ nghĩa hiện thực phê phán cơ bản giống như như chủ nghĩa hiện thực, song có điểm khác với chủ nghĩa hiện thực ở chỗ, nó chú trọng phân tích phê phán, tố cáo trong cảm thụ và mô tả thực tại Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa được các nhà
lý luận văn học Mác xít mô tả là một phương pháp tiến bộ, ra đời và phát triển gắn liền với lý tưởng xây dựng chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa, với hệ tư tưởng Mác-Lenin của giai cấp vô sản Có thể nói, lý luận chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa như một sự tiếp nối của lý luận chủ nghĩa hiện thực ở chế độ xã hội
xã hội chủ nghĩa Đối với chế độ xã hội phong kiến hay thực dân phong kiến,
Trang 34các nhà lý luận mác xít khuyến khích đấu tranh phê phán, bóc trần cái xấu, cái
ác của hiện thực xã hội (mục đích chính trị khá lộ liễu trong chủ trương này: phải làm cách mạng lật đổ các chế độ đó) Nhưng đối với hiện thực chế độ xã hội chủ nghĩa, lý luận chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa cho rằng nhiệm
vụ chủ yếu của phản ánh thực tại là khẳng định bằng nghệ thuật những mặt tích cực, đi lên, tương lai tốt đẹp của xã hội xã hội
Về điểm này, trong bài “Thực tại, cái thực và vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam trung cận đại”, Trần Đình Hượu đã có những đánh giá mang tổng quát về một xu hướng nghiên cứu văn học như sau:
“Những vấn đề liên quan đến chủ nghĩa hiện thực - trong những năm 30 gọi là chủ nghĩa tả chân - mới đặt ra trong giới phê bình và nghiên cứu văn học Việt Nam Lúc đầu vấn đề đó chỉ liên quan đến văn học hiện đại Từ những năm
50, vấn đề chủ nghĩa hiện thực, tính hiện thực mới thành sự quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam trung cận đại Mọi người đi tìm sự hiện diện của chủ nghĩa hiện thực, những khuynh hướng, những yếu tố hiện thực Lý do của hoat động tìm kiếm công phu đó là một nhận thức về con đường phát triển của văn học: chủ nghĩa hiện thực là một quy luật, văn học bất cứ dân tộc nào, sớm hay muộn cũng sẽ đi tới đó Một nền văn học đã trưởng đến trình độ nhất định tất phải có, không cả chủ nghĩa thì cũng là những hình thức chưa trọn vẹn: những khuynh hướng, những yếu
tố hiện thực Sự tiến bộ của văn học về sau, chỉ có thể bắt nguồn từ những khuynh hướng, yếu tố đó.” (tr.11)
Con đường nghiên cứu của Lê Đình Kỵ tất nhiên cũng nằm trong xu hướng và nhận thức chung của thời đại, chứ không hoàn toàn là một hướng đi riêng lẻ
Thực vậy, việc dịch thuật, giới thiệu lý luận văn học Liên Xô ở miền Bắc ngày càng phong phú Đến thập niên 60, lý luận về chủ nghĩa hiện thực
xã hội chủ nghĩa được hiểu như một phương pháp sáng tác đã giới thiệu tương
Trang 35đối hoàn chỉnh, có tính hệ thống hơn nhiều so với lý luận trước 1945 và trước
1954 Cụ thể: trước đây, giới phê bình chỉ nói tả chân xã hội, còn bây giờ, người ta bàn về quan hệ thế giới quan và phương pháp sáng tác, về lý luận điển hình hóa, nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình, sự chân thực của chi tiết… chính nhờ thế mà Lê Đình Kỵ có chỗ dựa lý luận để triển khai công
trình Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du mà nội dung của nó
so với các cách thực hành nghiên cứu trước, rõ ràng là có tính lý luận hơn trước và có phương pháp luận cụ thể
1.2.4 Các bài viết thể nghiệm của Lê Đình Kỵ những năm 1960 về Truyện Kiều
Không phải đến năm 1970, Lê Đình Kỵ mới vận dụng lý luận chủ
nghĩa hiện thực vào nghiên cứu Truyện Kiều Từ những năm 60 ông đã có
những thể nghiệm bước đầu về việc xem xét phương pháp sáng tác của
Nguyễn Du qua Truyện Kiều
Năm 1963 Lê Đình Đình Kỵ cho in bài “Bước đầu tìm hiểu phương
pháp sáng tác Truyện Kiều” Mở đầu nhà nghiên cứu này khẳng định và
chứng minh tư tưởng định mệnh bao quát và chi phối toàn bộ câu chuyện, đồng thời cũng chỉ ra sự xung đột giữa lý tưởng thẩm mỹ, thế giới quan và thiên kiến của thời đại, môi trường sống Điểm đáng chú ý trong lý giải của
Lê Đình Kỵ ở chỗ, ông cho rằng mặc dù Nguyễn Du tỏ ra tin tưởng vào định
mệnh, song “ý nghĩa khách quan của Truyện Kiều đã làm sụp đổ những mưu
toan giải thích chủ quan của tác giả dựa vào tư tưởng duy tâm định mệnh” (tr.33), thiên tài của Nguyễn Du đã “khiến cho câu chuyện có nhiều yếu tố thần bí mà vẫn mang được ý nghĩa sâu xa của cuộc đời” (tr33)
Qua phân tích sơ bộ tâm quá trình lý nhân vật, chi tiết hiện thực chủ nghĩa, biện pháp ước lệ, nhân tố thần linh, yếu tố ngẫu nhiên, Lê Đình Kỵ có mấy nhận xét quan trọng: “nếu Nguyễn Du đã tiến gần đến chủ nghĩa hiện thực thông qua những chi tiết hiện thực chủ nghĩa sinh động về ngoại hình để
mô tả các nhân vật Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Tú Bà từ bên trong, thì trong sự
Trang 36phác họa chân dung một số nhân vật chính nổi bật lên là bút pháp ước lệ, cách điệu (nhan sác Thúy Vân, Thúy Kiều, tướng mạo Từ Hải)”, “ý nghĩa khái quát thật là rạng rỡ nhưng mặt cá thể hóa những câu thơ vẫn tài tình” Từ đây,
Lê Đình Kỵ đã có những kết luận đáng chú ý Theo ông, “Do Truyện Kiều
chịu ảnh hưởng trực tiếp của các truyền thống văn học dân gian, các truyện Nôm khuyết danh và có nội dung xã hội tâm lý khái quát, chân thực, sinh động, chúng tôi đi đến kết luận có tính chất giả thuyết này: phương pháp của
Truyện Kiều nằm giữa phong cách văn học dân gian và chủ nghĩa hiện thực”,
“Truyện Kiều chưa phải là hiện thực chủ nghĩa” [17]
Nhân kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du (1965), Lê Đình Kỵ công
bố tiểu luận rất công phu “Quan điểm đạo đức - thẩm mỹ của Nguyễn Du” (Qua nhân vật Thúy Kiều) [19] Nội dung của bài viết này, sau tiếp tục được
phát triển sâu rộng hơn thành một vấn đề trong công trình Truyện Kiều và chủ
nghĩa hiện thực của Nguyễn Du Ở đây, Lê Đình Kỳ có một vài nhận xét cho
thấy phương pháp sáng tác trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đi gần tới chủ
nghĩa hiện thực: “Qua thân thế Thúy Kiều, Nguyễn Du không chỉ bắt gặp tâm
sự của mình, mà trước hết là đã tìm thấy hình ảnh của cuộc đời trước mắt, của vận mệnh con người…”, tâm sự của Nguyễn Du trở thành giá trị thẩm mỹ khi
nó “gắn liền với vấn đề chung của thời đại, của nhân dân mình” Tiếp thu Kim
Vân Kiều truyện, Nguyễn Du không minh họa giản đơn cho các nguyên lý đạo
đức có sẵn mà nhào nặn nhân vật của mình bằng chất liệu của chính cuộc đời, bằng chính những điều trông thấy, “Thúy Kiều hấp dẫn Nguyễn Du trước hết
vì Kiều là con người của cuộc đời thực”, “Lý tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Du
cắm sâu vào đời sống thực”, “Truyện Kiều đã biện hộ cho quyền sống của
người phụ nữ và đã đạt tới chiều sâu của sự khái quát chưa từng thấy trong
văn học thời phong kiến”, “Truyện Kiều có ý nghĩa hiện thực sâu sắc…” [17]
Ngoài hai bài viết kể trên, trong thập niên 60, Lê Đình Kỵ cũng có một
số nghiên cứu khác như “Nhân vật Truyện Kiều” Ở đó ông bàn về các nhân
Trang 37vật Hoạn Thư, Thúc Sinh, Kim Trọng, Từ Hải, Thúy Kiều từ quan điểm điển hình hóa nhân Đến năm 1970, nội dung của tiểu luận này được sửa chữa, bổ
sung để thành một nội dung trong Chương III (phần A) của công trình Truyện
Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du Ngoài các bài viết, thì trong
không ít trang sách của bộ giáo trình Cơ sở lý luận văn học do Lê Đình Kỵ
tham gia biên soạn hoặc đảm nhận chính, ta bắt những phân tích ngắn gọn
Truyện Kiều để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận hiện thực chủ nghĩa
Tựu trung, trước 1970, về Nguyễn Du đã có nhiều nghiên cứu “bước
đệm” Mối tương quan giữa Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực tức là vấn đề
phương pháp sáng tác của Nguyễn Du, là một đề tài được Lê Đình Kỵ quan
tâm theo đuổi bền bỉ Công trình Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của
Nguyễn Du vừa có tính lý luận, ở chỗ nó đúc kết lại một số nguyên tắc mỹ
học của chủ nghĩa hiện thực, đóng góp vào việc làm sáng tỏ vấn đề phương pháp sáng tác đang còn mới mẻ, vừa là sự ứng dụng lý luận chủ nghĩa hiện thực đã được Lê Đình Kỵ giới thiệu, trình bày trong các giáo trình, vào soi sáng tác phẩm lớn nhất của nền văn học dân tộc
Trang 38Tiểu kết chương 1
Lý luận về chủ nghĩa hiện thực được du nhập và vận dụng vào nghiên vào nghiên cứu văn học sử Việt Nam từ đầu thế kỷ XX Trước 1945, chủ nghĩa hiện thực xuất hiện dưới tên gọi chủ nghĩa tả chân hay xu hướng tả thực Tiêu biểu cho sự thực hành phê bình văn học dựa trên quan điểm của chủ nghĩa tả chân có thể kể đến Phạm Quỳnh, Thiếu Sơn, Hải Triều, Đinh Gia Trinh… Riêng trong lĩnh vực Kiều học, các công trình của Đào Duy Anh, Nguyễn Bách Khoa… có thể xem là đại diện cho khuynh hướng hiện đại hóa
cách đọc Truyện Kiều Sau năm 1945, cùng với sự giới thiệu ngày càng phong
phú và có hệ thống về lý luận phản ánh/chủ nghĩa hiện thực, các nghiên cứu
về Truyện Kiều từ lý luận chủ nghĩa hiện thực đã có nhiều thành tựu mới Bên
cạnh nghiên cứu của Hoài Thanh, Trương Tửu, phải kể đến những đóng góp của Lê Đình Kỵ Ngay từ giữa thập niên 60 Lê Đình Kỵ đã có những thể
nghiệm đọc Truyện Kiều từ phương pháp sáng tác Tuy vậy, phản đến thập
niên 70, sự vận dụng lý luận về phương pháp chủ nghĩa hiện thực ở Lê Đình
Kỵ, vào nghiên cứu Truyện Kiều mới nhuần nhuyễn, có thành tựu và gây
được chú ý
Trang 39Chương 2 NỘI DUNG CÔNG TRÌNH
“TRUYỆN KIỀU VÀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC CỦA NGUYỄN DU”
2.1 Giới thiệu về Lê Đình Kỵ
Dịch giả, nhà lý luận và phê bình văn học Lê Đình Kỵ sinh năm 1923 tại xã Điện Bàn, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Theo lời tự thuật của Lê Đình Kỵ, cha ông là nông dân, có học qua chữ Nho, mẹ tần tảo vất vả Tuổi thơ của Lê Đình Kỵ khá thiệt thòi vì trong nhà không có sách vở gì Lê Đình
Kỵ học tiểu học ở Huế, trung học ở Sài Gòn [48; tr.9]
Trước năm 1954 ông tham gia cách mạng; sau đó làm giáo viên dạy văn học Năm 1955 ông tập kết ra Bắc, giảng dạy trung học phổ thông ở Hà Nội rồi Thái Nguyên Từ năm 1958 Lê Đình Kỵ được mời giảng dạy bộ môn
Lý luận văn học tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội) [37] Sau năm 1975, ông là giảng viên trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP Hồ Chí Minh cho đến lúc nghỉ hưu Năm 1984, Lê Đình Kỵ được phong hàm Giáo sư, năm 1988 được trao tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân; Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001
Là người thành thạo tiếng Pháp, tiếng Nga, dịch giả Lê Đình Kỵ có nhiều đóng góp quan trọng ngay từ giai đoạn đầu xây dựng ngành lý luận văn học mác xít ở bậc Đại học
Như ta biết, hệ thống lý luận văn học thịnh hành ở miền Bắc Việt Nam thập niên 50 - 70 chủ yếu được du nhập từ Liên xô và Trung Quốc Về mặt này, không thể không nhắc đến Lê Đình Kỵ trong vai trò chủ biên dịch bộ
sách nổi tiếng Nguyên lý lý luận văn học của L.Timofeev (2 tập), xuất bản
năm 1960 Bộ sách này được giới đại học tham khảo rộng rãi, có ảnh hưởng tới cách tư duy của nhiều thế hệ nghiên cứu văn học Lê Đình Kỵ cũng là tác
giả của cuốn giáo trình Các phương pháp nghệ thuật - tức tập 4 (1962) của bộ
Trang 40giáo trình Cơ sở lý luận văn học văn học được giảng dạy ở Đại học Tổng hợp
Hà Nội Ngoài ra, ông còn tham gia biên soạn nội dung phương pháp sáng tác
trong bộ Cơ sở lý luận văn học do các giảng viên Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội chủ trì Có thể nói, Lê Đình Kỵ là một trong những chuyên gia về phương pháp sáng tác trong văn học nghệ thuật
Năm 1983, Lê Đình Kỵ còn đảm nhận trách nhiệm biên soạn tri thức về lịch sử hình thành, phát triển và nội dung cơ bản của đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam vào giáo trình lý luận văn học, giảng dạy chính thức ở bậc đại học
Ngoài đóng góp trong việc du nhập hệ tri thức mỹ học, lý luận văn học của Liên xô vào Việt Nam, Lê Đình Kỵ còn là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu văn học cổ điển và hiện đại gây được chú ý trong giới nghiên cứu
và giảng dạy văn học, như các nghiên cứu về Truyện Kiều, Tố Hữu, văn nghệ
thời Mỹ ngụy, Thơ mới…
Các công trình của Lê Đình Kỵ gồm có: Phương pháp nghệ thuật (1962, Nxb Giáo dục), Đường vào thơ (1969, Nxb Giáo dục), Truyền Kiều
và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du (1970, Nxb Khoa học xã hội), Cơ sở
lý luận văn học, tập 4 (1971, Nxb Giáo dục), Sáng mắt sáng lòng (1978, Nxb
Giáo dục), Thơ Tố Hữu (1979, Nxb Đại học), Cơ sở lý luận văn học, tập 5 (1984, Nxb Đại học), Tìm hiểu văn học (1984, Nxb.TP Hồ Chí Minh),
Nguyên lý văn học (1986, Trường Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh), Phương pháp sáng tác (1986, Nxb.TP Hồ Chí Minh), Nguyên lý văn học
(1986, Trường), Nhìn lại tư tưởng văn nghệ thời Mỹ ngụy (1988, Nxb.TP Hồ Chí Minh), Hiểu đúng đắn Truyện Kiều (1988, Nxb Đồng Tháp), Thơ mới,
những bước thăng trầm (1988, Nxb.TP Hồ Chí Minh), Thơ với Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hoài Thanh (1988, Nxb Cửu Long), Trên đường văn học (2
tập, 1995, Nxb Văn học), Vấn đề chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt
Nam (1998, Nxb Giáo dục)…
Trên đại thể, có thể thấy, Lê Đình Kỵ là một nhà nghiên cứu xã hội học văn học mác xít Ông đi theo cách mạng, phổ biến quan điểm mác xít trong