Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 11 Trung học phổ thông (LV thạc sĩ)Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 11 Trung học phổ thông (LV thạc sĩ)Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 11 Trung học phổ thông (LV thạc sĩ)Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 11 Trung học phổ thông (LV thạc sĩ)Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 11 Trung học phổ thông (LV thạc sĩ)Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 11 Trung học phổ thông (LV thạc sĩ)Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 11 Trung học phổ thông (LV thạc sĩ)Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 11 Trung học phổ thông (LV thạc sĩ)Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 11 Trung học phổ thông (LV thạc sĩ)Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 11 Trung học phổ thông (LV thạc sĩ)Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 11 Trung học phổ thông (LV thạc sĩ)Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 11 Trung học phổ thông (LV thạc sĩ)Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 11 Trung học phổ thông (LV thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––
TRẦN THỊ THU HUYỀN
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 11 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN, NĂM 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Xuân Trường
THÁI NGUYÊN, NĂM 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Xuân Trường
THÁI NGUYÊN, NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác Các thông tin, số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đều được ghi rõ nguồn gốc
TRẦN THỊ THU HUYỀN
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, PGS.TS Nguyễn Xuân Trường, người hướng dẫn khoa học, đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin cảm ơn những góp ý vô cùng quý báu của các nhà khoa học, sự tạo điều kiện giúp đỡ của thầy cô trong Bộ môn Phương pháp dạy học Địa lí, Khoa Địa lí, Phòng Đào tạo và các phòng ban chức năng khác thuộc trường ĐH Sư phạm, Đại học Thái Nguyên - nơi tôi được vinh dự học tập và tham gia nghiên cứu; Ban Giám hiệu, giáo viên các trường THPT nơi tiến hành điều tra khảo sát và tổ chức thực nghiệm
Xin gửi những lời tri ân chân thành nhất tới gia đình, bạn bè vì đã luôn quan tâm, động viên và ủng hộ để tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài, nhưng
do còn hạn chế về trình độ chuyên môn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý và giúp đỡ quý báu của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 04 năm 2017
TÁC GIẢ
Trần Thị Thu Huyền
Trang 5MỤC LỤC
Trang bìa phụ……….i
Lời cam đoan……….ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục chữ viết tắt……… v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình……… vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 4
3 Mục tiêu, nhiệm vụ 6
4 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 7
6 Giả thuyết khoa học 9
7 Cấu trúc luận văn 9
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 11 10
1 Cơ sở lí luận và thực tiễn 10
1.1 Một số vấn đề về phương pháp dạy học 10
1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học 10
1.1.2 Những vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học Địa lí 11
1.2 Sơ đồ tư duy với dạy học Địa lí 23
1.2.1 Khái niệm Sơ đồ tư duy 23
1.2.2 Đặc điểm và cơ chế tạo lập Sơ đồ tư duy 25
1.2.3 Cách đọc Sơ đồ tư duy 27
1.2.4 Cách vẽ Sơ đồ tư duy 27
1.3 Đặc điểm chương trình sách giáo khoa Địa lí lớp 11 31
Trang 61.3.1 Phân phối chương trình Địa lí 11 31
1.3.2 Mục tiêu chương trình Địa lí 11 33
1.4 Thực trạng việc dạy học Địa lí lớp 11 hiện nay 34
1.4.1 Thực trạng việc dạy học Địa lí lớp 11 34
1.4.2 Thực trạng việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Địa lí 11 35
1.5 Đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 11 37
1.5.1 Cảm giác và tri giác 38
1.5.2 Trí nhớ 38
1.5.3 Chú ý 38
1.5.4 Tư duy 39
1.5.5 Tưởng tượng 39
1.5.6 Ngôn ngữ 40
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 41
Chương 2 TỔ CHỨC DẠY HỌC ĐỊA LÍ 11 BẰNG SƠ ĐỒ TƯ DUY 42
2.1 Những nguyên tắc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Địa lí 11 42
2.1.1 Những nguyên tắc thiết kế 42
2.1.2 Giới thiệu phần mềm thiết kế sơ đồ tư duy 44
2.1.3 Sử dụng phần mềm Imindmap để thiết kế sơ đồ tư duy 45
2.2 Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Địa lí 11 47
2.2.1 Sử dụng sơ đồ tư duy trong soạn giáo án 47
2.2.2 Thiết kế Sơ đồ tư duy cho một số bài học cụ thể 51
2.2.3 Sử dụng sơ đồ tư duy trong thực hiện bài dạy trên lớp 58
2.2.4 Sử dụng sơ đồ tư duy như một phương tiện trực quan hỗ trợ nội dung bài giảng 59
2.2.5 Sử dụng sơ đồ tư duy trong kiểm tra, đánh giá 60
2.2.6 Học sinh tự lập SĐTD trong quá trình học tập 70
2.3 Các điều kiện áp dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học Địa lí 71
2.3.1 Đối với giáo viên 71
Trang 72.3.2 Đối với học sinh 73
2.3.3 Các điều kiện khác 73
2.4 Một số lưu ý khi áp dụng phương pháp Sơ đồ tư duy 74
2.4.1 Tránh tính hình thức trong việc lập và sử dụng sơ đồ tư duy 74
2.4.2 Tránh lạm dụng SĐTD 75
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 76
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 77
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 77
3.1.1 Mục đích 77
3.1.2 Nhiệm vụ 77
3.2 Đối tượng thực nghiệm 78
3.3 Nguyên tắc tiến hành thực nghiệm 78
3.4 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 78
3.5 Tổ chức thực nghiệm 79
3.5.1 Bài thực nghiệm 79
3.5.2 Các lớp tiến hành thực nghiệm 80
3.5.3 Lựa chọn giáo viên 81
3.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm: 82
3.6.1 Về hoạt động của giáo viên và học sinh 82
3.6.2 Về thái độ của học sinh 83
3.6.3 Kết quả kiểm tra kiến thức 83
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 86
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Danh sách các bài thực nghiệm 79
Bảng 3.2 Danh sách giáo viên tham gia dạy học thực nghiệm 81
Bảng 3.3 Khảo sát thái độ của học sinh ở hai lớp thực nghiệm và đối chứng khi giáo viên đặt câu hỏi 83
Bảng 3.4 Kết quả thực nghiệm tại trường THPT Lương Phú 83
Bảng 3.5 Kết quả thực nghiệm tại trường THPT Điềm Thụy 84
Bảng 3.6 Kết quả thực nghiệm chung tại hai trường THPT 84
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Giao diện phần mềm Imindmap 46
Hình 2.2: Sơ đồ tư duy chương trình địa lí lớp 11 50Hình 2.3: Sơ đồ tư duy một số vấn đề mang tính toàn cầu 56
Trang 11Để nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy và học cho phù hợp với tình hình mới, hiện nay trên thế giới có một số phương hướng cải tiến phương pháp như sau:
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh (HS)
- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
- Tăng cường học tập các thể phối hợp học tập hợp tác
- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Việc cá thể hóa việc dạy học cũng được áp dụng vào thực tiễn đáp ứng mục tiêu dạy học phù hợp với đặc điểm, điều kiện của từng HS, nội dung dạy học phù hợp với nhau cầu hứng thú của từng HS
Từ khoảng giữa thế kỉ XX đến nay, sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ đã để lại dấu ấn mạnh mẽ trong lĩnh vực GD - ĐT Cụ thể là nhiều thành tựu nghiên cứu, bộ công cụ hay phương tiện dạy học tiên tiến đã được ứng dụng vào quá trình dạy học ở nhà trường, đem đến một diện mạo mới cho giáo dục nói chung, phương pháp dạy học nói riêng
Các nghiên cứu ứng dụng Sơ đồ tư duy (SĐTD) vào thực tiễn ở nhiều
lĩnh vực khác nhau đem lại hiệu quả tích cực Tại Việt nam, tháng 3/2006, chương trình Thời sự của Đài Truyền hình Việt Nam đã phát sóng một phóng
sự về hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và phổ biến SĐTD của nhóm Tư duy
mới (New Thinking Group) khi nhóm đang thực hiện dự án “Ứng dụng công
cụ hỗ trợ tư duy - BĐTD” cho sinh viên trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 12Quá trình thử nghiệm cho thấy các bạn sinh viên ứng dụng lí thuyết SĐTD trong học tập đã gặt hái được những thành tích vô cùng khả quan; vận dụng SĐTD ở các nhóm học tập hay khởi tạo ý tưởng đều mang lại kết quả đáng ghi nhận Nói cách khác, những thành công bước đầu này đã cho thấy khả năng đưa lí thuyết SĐTD vào sâu hơn trong môi trường dạy học, biến nó trở
thành một công cụ tư duy kích thích tiềm năng hoạt động của HS; một
phương tiện dạy học tiên tiến khơi dậy ở người học niềm say mê tìm tòi,
khám phá và duy trì được hoạt động tự học lâu dài Có thể thấy rõ trong các nghiên cứu đã chỉ ra, SĐTD là lí thuyết kích não tối đa, xem bộ não con người có tiềm năng sáng tạo vô tận SĐTD là công cụ làm bộc lộ hiện thực hoá tiềm năng đó Nó vừa là sản phẩm, vừa thể hiện cách tư duy, thể hiện chân dung trí tuệ của từng cá thể riêng biệt
Đối với chương trình, nội dung sách giáo khoa môn Địa lí 11 có nhiều thuận lợi trong việc sử dụng sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học So với chương trình Địa lí lớp 11 cũ, chương trình Địa lí lớp 11 mới có nhiều đổi mới cả về nội dung, thời lượng và phương pháp dạy học Các phương pháp dạy học truyền thống như phương pháp thuyết giảng, thuyết trình, giảng giải… mặc dù vẫn thể hiện được tầm quan trọng của nó đối với quá trình dạy học nhưng cho đến ngày nay nó đã bộc lộ nhiều nhược điểm Chẳng hạn như phương pháp thuyết trình, mặc dù có khả năng truyền tải một khối lượng lớn kiến thức tới người học và cung cấp những thông tin cập nhật mới nhưng cũng đã để lộ nhiều hạn chế như nhàm chán kém hứng thú đối với người học, chủ yếu sử dụng cơ chế ghi nhớ và tư duy tái tạo của người học, ngoài ra mức
độ lưu trữ thông tin của người học rất ít nên không phát huy được tính tích cực từ người học,…
Cùng với sự phát triển của thời đại, thước đo quan trọng cho năng lực sáng tạo của mỗi người trong nền kinh tế tri thức chính là tốc độ tư duy, khả năng chuyển hóa thông tin thành kiến thức và từ kiến thức tạo ra giá trị, tạo ra
Trang 13sản phẩm dịch vụ Hiện nay, phương pháp dạy học theo kiểu “đọc - chép”,
“nhìn - chép” hay áp đặt một chiều từ người dạy đến người học không còn phù hợp nữa, mà cần phải áp dụng những phương pháp dạy học có tính linh động cao hơn như: ứng dụng công nghệ thông tin, Elearning, SĐTD, làm việc theo nhóm…nhằm phát huy tính tích cực của học sinh
Việc sử dụng SĐTD gắn với nội dung bài học sẽ giúp học sinh có thể nắm được nội dung một bài học, một chủ đề, một chương theo mạch logic của kiến thức, bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể thể hiện nó dưới dạng SĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập SĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người Sơ đồ tư duy giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách linh hoạt hơn việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ
là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học
Dạy học địa lí theo các hướng đi truyền thống đã mang đến hiệu quả nhất định Tuy thế, việc mạnh dạn tìm tòi, ứng dụng những thành tựu khoa học ở các lĩnh vực khác nhau vào dạy học cũng là một cơ hội mở để nâng cao hơn nữa chất lượng học tập của học sinh (HS) Xuất phát từ các lí do trên cùng với quan điểm cho rằng có thể sử dụng SĐTD vào dạy học như một công cụ, phương tiện giúp quá trình dạy học trở nên sinh động, phong phú
hơn, chúng tôi lựa chọn đề tài “Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy
học Địa lí lớp 11 - Trung học phổ thông” Ở đây, SĐTD được xem xét với tư
cách một lí thuyết đã được khẳng định về giá trị; có tính ứng dụng cao ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống; có tính khả thi trong việc nâng cao hiệu quả phát triển tư duy và hứng thú học tập Địa lí lớp 11 nói riêng, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn Địa lí ở THPT nói chung
Trang 142 Lịch sử nghiên cứu đề tài
2.1 Trên thế giới
Có nhiều công trình nghiên cứu về sự hoạt động của bộ não con người, cách thức hoạt động của bộ não trong tiếp nhận kiến thức để thấy được những khó khăn trong học tập, trong việc giải quyết vấn đề, ghi nhớ, suy nghĩ, sáng tạo của con người… Tony Buzan là người đã tạo ra Mindmap hay còn gọi là SĐTD vào những năm đầu của thập niên 60 Mục đích của SĐTD chỉ là giúp học sinh ghi nhớ lại bài giảng mà chỉ dùng những từ then chốt và các hình ảnh dựa trên cách thức ghi nhớ tự nhiên của bộ não
Cơ chế hoạt động của bán cầu não trái, phải, bản chất của việc ghi nhớ của bộ não dựa trên sự tưởng tượng và liên tưởng việc vận dụng các lí thuyết
đó để tạo ra các kĩ thuật ghi nhớ đã được Tony in thành sách: “Use both sides
of your brain” Sau đó, một loạt sách do chính tác giả viết đã ra đời tạo nên một bách khoa toàn thư về não bộ và cách sử dụng não bộ (An Enyclopedia of the Brain and Its Use) Trong đó, tác phẩm “Use Your Head” được giới thiệu vào đầu mùa xuân năm 1974 đã đưa đến cho độc giả một cái nhìn khái quát hơn về Sơ đồ tư duy
Nếu như trong giai đoạn đầu SĐTD chỉ được TonyBuzan dùng cho việc ghi nhớ thì sau này với những tính năng ưu việt của mình, SĐTD đã được dùng cho nhiều lĩnh vực khác nhau TonyBuzan và em trai mình là Barry Buzan đã viết tác phẩm: “The Mind Map Book” – một tác phẩm khá hoàn chỉnh về SĐTD cũng như việc áp dụng nó vào các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống Cuốn sách này đã trình bày các lí thuyết về não bộ, quan hệ giữa sáng tạo và trí nhớ, các quy luật, kĩ thuật lập SĐTD cũng như sự khái quát hóa các ứng dụng của SĐTD trong nhiều vực của cá nhân, gia đình, giáo dục, kinh doanh và các lĩnh vực chuyên môn khác
Dựa trên những lí thuyết về SĐTD của Tony Buzan mà nhiều tác giả khác cũng đã nghiên cứu và phát triển kĩ thuật này cho từng lĩnh vực cụ thể như: Cuốn “Writing the natural way” của tác giả Gabereiele Rico là tác phẩm tiên phong trong việc ứng dụng SĐTD trong lĩnh vực ghi chép thông tin
Trang 15Dành riêng cho giới doanh nhân những người hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, cố vấn Joyco Wycoff của Tony Buzan đã cho ra đời một cuốn sách hoàn chỉnh để áp dụng SĐTD trong kinh doanh khi tạo ra một SĐTD trong quản lí một dự án
2.2 Ở Việt Nam
SĐTD mới xuất hiện ở nước ta khoảng 10 năm trở lại đây thông qua một số tác phẩm được biên dịch lại như: Use your head, Mind Map at work, Mind Map Book… Tuy nhiên, thời gian đầu SĐTD ít được mọi người chú ý đến, đặc biệt là giới học sinh, sinh viên, các nhà sư phạm Với những ưu điểm vượt trội của SĐTD, nước ta trong những năm gần đây đã có rất nhiều nhà sư phạm ứng dụng SĐTD vào việc đổi mới cách dạy học của mình Người đi tiên phong trong việc ứng dụng phương pháp này ở Việt Nam là nhà giáo Hoàng Đức Huy, Trung tâm giáo dục thường xuyên quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh Với việc sử dụng SĐTD trong Địa lý, HS có thể hệ thống lại kiến thức,
ôn tập, củng cố một cách chắc chắn
Hiện nay, việc sử dụng công cụ trên đang dần phổ biến trong giới trẻ Điển hình đó là hoạt động nghiên cứu ứng dụng và phổ biến SĐTD của nhóm
Tư duy mới (New Think Group - NTG) Nhóm này đã có công rất lớn trong
việc biên dịch tác phẩm “Mind Map at work”, ra tiếng Việt Những dự án mà NTG thực hiện như: ứng dụng SĐTD trong việc học nhóm, trong học ngoại ngữ và học các môn xã hội khác đã rất thành công
Trong 3 năm gần đây, các cán bộ nghiên cứu thuộc Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Dự án Phát triển giáo dục THCS II kết hợp với Vụ Giáo dục Trung học và Cục Nhà giáo của Bộ GD - ĐT và Sở GD - ĐT các tỉnh đến các vùng miền của đất nước để nghiên cứu và nhân rộng dần phương pháp mới này với hy vọng sẽ giúp HS thoát khỏi lối “học vẹt”, đóng góp phần mình vào công việc chung của ngành giáo dục
Trong lĩnh vực Địa lí, ở nước ta cũng đã có rất nhiều các thầy cô giáo
sử dụng SĐTD trong nghiên cứu và giảng dạy Gần đây nhất, tác giả Đậu Thị Hòa, giảng viên khoa Địa Lí, trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng
Trang 16cũng đã có bài báo viết về “Phương pháp sử dụng bản đồ tư duy trong dạy
học các học phần địa lí tự nhiên Việt Nam” Tại Khoa Địa lý, Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội có luận văn thạc sỹ năm 2012 của tác giả Hoàng Thị
Minh “Thiết kế và sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Địa lí lớp 12
THPT” Tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên có luận văn
thạc sĩ năm 2016 của tác giả Nguyễn Đình Tuấn “Sử dụng Sơ đồ tư duy
trong dạy học Địa lí lớp 12”
3 Mục tiêu, nhiệm vụ
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu và hệ thống hoá những nội dung của lí thuyết sơ đồ
tư duy (SĐTD), đề tài nghiên cứu xác định khả năng thiết kề và ứng dụng SĐTD vào dạy học Địa lí lớp 11 - Trung học phổ thông, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Địa lí ở trường Trung học phổ thông nói riêng, dạy học bộ môn địa lí nói chung
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các cơ sở lí luận, vai trò của việc sử dụng Sơ đồ tư duy
trong dạy học Địa lí 11
- Tìm hiểu thực trạng dạy học Địa Lí ở trường phổ thông và việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học
- Tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 11, trường THPT
- Nghiên cứu các kĩ thuật ứng dụng phần mềm để khai thác và xây dựng sơ đồ tư duy trong dạy học Địa lí lớp 11
- Thiết kế SĐTD trong quá trình dạy học Địa lí 11 (ban cơ bản)
- Thực nghiệm dạy học Địa lí 11 bằng SĐTD để kiểm chứng
4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Lí thuyết SĐTD mang đến những hiệu quả nhất định cho dạy học Địa
lí Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này, tôi xác định giới hạn nghiên cứu của đề tài:
Trang 17- Thiết kế và sử dụng SĐTD của một số bài học trong sách giáo khoa (SGK) Địa Lí 11 THPT
- Khảo sát đánh giá mức độ nhận thức, tiếp thu kiến thức, kỹ năng của học sinh lớp 11 thông qua quá trình dạy học bằng phương pháp SĐTD
- Thực nghiệm tại một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm thực tiễn: Thực tiễn giáo dục là nguồn gốc, là động lực, là
tiêu chuẩn và là mục đích của quá trình nghiên cứu khoa học giáo dục, quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu khoa học giáo dục cho phép ta nhìn thấy sự xuất hiện, sự phát triển, diễn biến và kết thúc của các sự vật hiện tượng trong thực tiễn, phát hiện quy luật tất yếu của sự phát triển đối tượng, giúp các nhà khoa học kiểm tra kết quả nghiên cứu trong hoạt động thực tiễn giáo dục, cải tạo thực tiễn giáo dục
- Quan điểm hệ thống: Nghiên cứu theo quan điểm hệ thống cho phép
nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện về hiện tượng giáo dục, thấy được mối quan hệ của hệ thống với các đối tượng khác trong hệ thống lớn, từ đó xác định được các con đường tổng hợp, tối ưu để nâng cao chất lượng giáo dục
- Quan điểm tích hợp: Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học giáo dục,
quan điểm tiếp cận tích hợp là chỉ một quan niệm GD toàn diện con người, chống lại hiện tượng làm cho con người phát triển thiếu hài hòa, cân đối Tích hợp còn có nghĩa là thành lập một loại hình nhà trường mới, bao gồm các thuộc tính trội của các loại hình nhà trường vốn có
- Quan điểm lịch sử: Trong nghiên cứu cho phép ta nhìn thấy toàn cảnh
sự xuất hiện, sự phát triển, diến biến và kết thúc của các sự vật hiện tượng, mặt khác giúp ta phát hiện qui luật tất yếu của sự phát triển đối tượng, giúp các nhà khoa học nghiên cứu và hoạt động thực tiễn giáo dục tránh được những sai lầm không đáng có
Trang 18- Quan điểm công nghệ dạy học: là một hệ thống phương tiện, phương
pháp và kỹ năng (thậm chí, nghệ thuật), tác động vào con người, hình thành một nhân cách xác định
- Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng, kế thừa và phát triển kết quả của những công trình nghiên cứu trước đây về thiết kế và sử dụng SĐTD
- Tổ chức dạy học Địa lí 11 theo quan điểm “lấy học sinh làm trung tâm”
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, phân tích, tổng hợp tài liệu
Để thực hiện được nhiệm vụ của đề tài, đây là một trong những phương pháp quan trọng và cần nhiều thời gian, công sức nhất Việc thu thập thông tin được lấy từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau như: SGK, các sách tham khảo, các khóa luận, luận văn có nội dung liên quan, khai thác thông tin từ internet,
sử dụng các phần mềm tin học, sử dụng các phần mềm tin học có liên quan… Sau đó, tác giả đã tiến hành công tác tổng hợp, phân tích, đối chiếu các nguồn tài liệu trên để có được thông tin chắt lọc, súc tích nhất phục vụ cho đề tài nghiên cứu
5.2.2 Phương pháp khảo sát, điều tra thực tế
Phương pháp này được thực hiện ở các trường phổ thông qua việc soạn giáo án, dự giờ, đánh giá nhằm thu thập thông tin thực tế và hiện trạng dạy và học hiện nay, về việc ứng dụng SĐTD trong dạy học nhằm hiểu được thực trạng
và đưa ra những phương hướng hợp lí, nâng cao chất lượng dạy và học hiện nay
5.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Mục đích của việc tiến hành phương pháp này là nhằm kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của đề tài, thông qua việc soạn giáo án và tiến hành dạy thử nghiệm tại các lớp của trường phổ thông nhằm so sánh, đối chiếu để tìm
ra ưu nhược điểm, cách khắc phục những hạn chế của đề tài
5.2.4 Phương pháp dạy học tích cực
Trang 19Là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động , sáng tạo của người học PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa , tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, tức là tập kết và phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập kết vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì thầy giáo phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động
5.2.5 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia là phương pháp điều tra qua đánh giá của các chuyên gia về vấn đề, một sự kiện khoa học nào đó.Thực chất đây là phương pháp sử dụng trí tuệ, khai thác ý kiến đánh giá của các chuyên gia có trình độ cao để xem xét, nhận định một vấn đề, một sự kiện khoa học để tìm ra giải pháp tối ưu cho vấn đề, sự kiện đó
6 Giả thuyết khoa học
Hiện nay việc sử dụng SĐTD còn đang là vấn đề khá mới mẻ trong dạy
và học ở trường phổ thông nói riêng, mà nguyên nhân chủ yếu do nhận thức
và hiểu biết về SĐTD của giáo viên còn hạn chế, đa phần vẫn còn sử dụng các phương pháp truyền thống Nếu thực hiện được mục tiêu và nhiệm vụ đề tài đưa ra sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, nâng cao hiệu quả của
việc đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường hiện nay
7 Cấu trúc luận văn
Đề tài ngoài phần mở đầu và phần kết luận, được chia làm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng sơ đồ tư duy
trong dạy học Địa lí lớp 11
- Chương 2: Tổ chức dạy học Địa lí 11 - Trung học phổ thông bằng sơ
đồ tư duy
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 20PHẦN NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG SƠ ĐỒ
TƯ DUY TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 11
1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
1.1 Một số vấn đề về phương pháp dạy học
1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học
“Thuật ngữ phương pháp trong tiếng Hy Lạp là “Méthodos” có nghĩa
là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích nhất định Vì vậy, phương pháp là hệ thống những hành động tự giác, tuần tự nhằm đạt được những kết quả phù hợp với mục đích đã định”.[6]
Trong phương pháp dạy học, chủ thể tác động – người thầy giáo và đối tượng tác động của họ là học sinh Còn học sinh lại là chủ thể tác động của mình vào nội dung dạy học Người thầy phải nắm vững những quy luật khách quan chi phối tác động của mình vào học sinh thì mới đề ra những phương pháp tác động phù hợp
Hiện nay chúng ta thường gặp 3 định nghĩa sau đây:
- Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của giáo viên để truyền thụ kiến thức, rèn luyện kĩ năng và giáo dục học sinh theo mục tiêu của nhà trường
- Phương pháp dạy học là sự kết hợp giữa biện pháp và phương tiện làm việc của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học nhằm đạt tới những mục đích giáo dục
- Phương pháp dạy học là cách thức hướng dẫn và chỉ đạo của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của học sinh dẫn tới việc học sinh lĩnh hội vững chắc nội dung học vấn hình thành thế giới quan và phát triển năng lực nhận thức
Từ đó có thể nhận thấy đặc trưng của phương pháp dạy học: người học
là đối tượng tác động của giáo viên, đồng thời là chủ thể, là nhân cách mà hoạt
Trang 21động của họ (tương ứng với sự tác động của người giáo viên) phụ thuộc vào hứng thú, nhu cầu, ý chí của họ Phương pháp dạy học là cách thức hành động
có trình tự, phối hợp tương tác với nhau của giáo viên và của học sinh nhằm đạt được mục đích dạy học
Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học với
sự tương tác lẫn nhau, trong đó phương pháp dạy đóng vai trò chủ đạo, còn phương pháp học có tính chất độc lập tương đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy Song, nó cũng ảnh hưởng trở lại phương pháp dạy Phương pháp dạy học là tổ hợp những biện pháp với tư cách là những thành phần cấu trúc của nó nhưng việc phân như vậy cũng chỉ có tính chất tương đối
Như vậy, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học Tuy nhiên, việc định nghĩa phương pháp dạy học dựa trên những dấu hiệu đặc trưng của nó:
Nó phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinh nhằm đạt được mục đích đề ra Nó phản ánh sự vận động của nội dung đã được nhà trường quy định, cách trao đổi thông tin giữa thầy và trò, cách thức điều khiển hoạt động nhận thức, kích thích và xây dựng động cơ, tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động
Phương pháp, mục tiêu và nội dung học tập luôn có mối quan hệ với nhau, quy định lẫn nhau
1.1.2 Những vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học Địa lí
1.1.2.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
a) Nhà trường trước yêu cầu của xã hội
Trong giai đoạn hiện nay, đổi mới phương pháp giảng dạy là một trong những yêu cầu cấp thiết đối với ngành giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, là sự sống còn của mỗi cơ sở đào tạo Các cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật thúc đẩy nhiều lĩnh vực có bước tiến mạnh mẽ và mở
ra những triển vọng hết sức lớn lao cho con người mới trong hành trang vào thế kỉ của công nghệ số, đòi hỏi nhà trường phải đào tạo ra những con người
Trang 22mới thông minh sáng tạo, thích ứng được với yêu cầu của thời đại, có tri thức khoa học tiên tiến, có kĩ năng kĩ xảo vững chắc và có ý thức nghề nghiệp để giải quyết tốt các nhiệm vụ đặt ra của thực tiễn
- Những yêu cầu của cuộc cách mạng xã hội
+ Có những đầu óc khoa học, có trình độ học vấn cao, biết sử dụng các quy luật tự nhiên và xã hội để xây dựng cuộc sống
+ Có tính nhân văn sâu sắc, có ý thức chấp hành pháp luật, có tinh thần dân tộc, biết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mình
+ Có cá tính và bản sắc có ý chí, hoài bão, tự chủ, tự cường…
- Những yêu cầu đặt ra từ tình hình kinh tế chính trị của đất nước
Cùng với các nước trong khu vực và trên thế giới, chúng ta đang ở thời
kì mở cửa mạnh mẽ nền kinh tế, tự lập nghiệp và thăng tiến, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh
- Đổi mới nền giáo dục theo yêu cầu thời đại
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai đất nước Những biến đổi của xã hội đã thúc đẩy các nước trên thế giới quan tâm hơn đến sự nghiệp giáo dục nhằm đầu tư và xây dựng một nền giáo dục đáp ứng kịp thời các yêu cầu ngày càng tăng lên của xã hội, đảm bảo sự hòa nhập và giao lưu quốc tế Cũng chính vì thế, giáo dục đã trở thành quốc sách hàng đầu của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam
- Những yêu cầu cần đổi mới trong GD - ĐT nước ta
Đảng và nhà nước ta luôn coi đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Công cuộc đổi mới với những thành tựu bước đầu đang dần đưa đất nước ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển để sánh vai cùng bạn bè khu vực và thế
Trang 23giới Để thực hiện thành công nhiệm vụ ấy, yêu cầu đặt ra đối với hệ thống giáo dục là phải “xác định lại mục tiêu, thiết kế lại chương trình, kế hoạch nội dung, phương pháp giáo dục và đào tạo” nhằm thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng nền giáo dục nước ta
so với nhiều nước trên thế giới còn thua kém, có nguy cơ bị tụt hậu nếu không
có thay đổi phù hợp tình hình thực tiễn Để khắc phục tình trạng này, chúng ta cần tiếp tục thực hiện đổi mới nền GD - ĐT, tạo ra những chuyển biến sâu sắc trong đổi mới tổ chức quy trình dạy và học, nâng cao chất lượng và hiệu quả, đào tạo ra những con người lao động tự chủ, sáng tạo
b) Một số quan điểm mới về mục tiêu, nội dung, phương pháp
Mục tiêu giáo dục: là những gì HS phải có được về tri thức, kĩ năng, kĩ
xảo nghề nghiệp, thái độ hành vi sau một quá trình học tập Việc xác định mục tiêu giáo dục có ý nghĩa lớn đối với việc nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học Đối với GV, căn cứ vào mục tiêu để xác định cần dạy gì, ở mức độ nào để lựa chọn phương pháp phù hợp, đánh giá được khách quan, đúng đắn kết quả học tập của HS Đối với HS, xác định mục tiêu giúp người học biết cần học cái gì và làm gì sau khi học xong Giáo dục phải làm sao nâng cao tính hài hòa trong quá trình toàn cầu hóa của xã hội loài người ngày càng được đẩy mạnh, làm sao cho toàn bộ quá trình giáo dục phải giúp cho mọi người học cách chung sống với nhau
Đối với cộng đồng, hệ thống giáo dục quốc dân phải đáp ứng được yêu cầu xây dựng cơ cấu lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu của công nghệ, khoa học và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Mục tiêu đào tạo phải đáp ứng được năm yêu cầu:
- Thích hợp
- Thực hiện được
Trang 24- Đo được
- Đánh giá được
- Mềm hóa
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói trong bài viết “Phương pháp
dạy học tích cực - một phương pháp vô cùng quý báu” đã viết: “Mục tiêu giáo
dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [4]
Nội dung dạy học: Cơ sở để xác định nội dung bài học là bối cảnh văn
hóa, trong đó có yêu cầu của người sử dụng nhân lực được đào tạo, của phụ huynh, môi trường, các nguồn lực, các môn khoa học Nội dung giáo dục được hiện đại hóa phù hợp với yêu cầu của thời đại, mềm hóa phù hợp với đặc điểm, điều kiện của HS, đảm bảo sự cân bằng hợp lí giữa các yếu tố khác
Nội dung dạy học phải đảm bảo: cơ bản, hiện đại, sát thực tiễn Việt Nam Ngoài ra, người GV cần cố gắng giáo dục những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những yêu cầu mới của đất nước, của thời đại đối với con người như truyền thống yêu nước, lòng nhân ái…, các yêu cầu ổn định và phát triển hòa bình, bảo vệ môi trường, giáo dục dân số…
Như vậy có thể nói về nội dung đào tạo cần đảm bảo:
- Phản ánh những thành tựu hiện đại của nền văn hóa, khoa học kĩ thuật, chương trình đào tạo có phần cứng và phần mềm, tạo điều kiện cho việc
cá thể hóa và phân hóa việc dạy học
- Tính hiện đại của nội dung đào tạo thể hiện ở sự liên kết hợp lí những thông tin khoa học vào những cấu trúc logic, tạo sự tối ưu của nội dung, thúc đẩy HS tích cực tìm ra kiến thức mới cao và rộng hơn cái đã có
Trang 25- Đưa vào mục đích giáo dục đào tạo việc tích hợp nhiều môn khoa học cùng các phương pháp nghiên cứu đặc trưng của nó, làm tiền đề cho việc thích nghi nhanh với thực tiễn công tác sau này của HS
- Nội dung đào tạo được phân nhỏ để thiết lập một cấu trúc vừa mức, hướng vào một mục tiêu hoạt động nhất định, hình thành động lực thúc đẩy quá trình tự phấn đấu của HS
- Đổi mới nội dung chương trình môn học sát với tình hình thực tiễn của nhà trường, của đất nước cũng như khu vực và thế giới
Phương pháp dạy: là cách thức GV trình bày tri thức, tổ chức và kiểm
tra hoạt động nhận thức và thực tiễn của HS nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học Nói cách khác, đó là phương pháp thiết kế và góp phần thi công của người GV Phương pháp học là cách thức tiếp thu, tự tổ chức và kiểm tra hoạt động nhận thức và thực tiễn của HS nhằm đạt các nhiệm vụ dạy học Nói cách khác, đó là cách thức tự thiết kế và thi công quá trình học tập của người HS Mỗi phương pháp thường bao gồm các yếu tố như:
* Mối quan hệ giữa mục tiêu – nội dung – phương pháp
Đây có thể coi là ba thành tố có quan hệ hữu cơ, biện chứng với nhau theo
sơ đồ tam giác Người dạy chọn phương pháp không chỉ từ nội dung mà còn trực tiếp từ mục tiêu, nói cách khác phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của
GV trong việc chỉ đạo, tổ chức hoạt động của HS nhằm đạt mục tiêu dạy học
* Mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình dạy học
Quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của HS dưới sự chỉ đạo của GV, là một quá trình hai mặt, đạt được chất lượng và hiệu quả dạy học
Trang 26- Dạy là quá trình tổ chức nhận thức cho HS của GV bằng cách tổ chức nên các tình huống học tập, các tình huống gia cố, HS hoạt động tích cực dưới
sự hướng dẫn ít nhiều của GV nhằm đạt chất lượng và hiệu quả dạy học
- Học là quá trình hoạt động tự giác, tích cực của HS nhằm lĩnh hội tri thức, kĩ năng kĩ xảo, phát triển trí tuệ, thể chất và hình thành nhân cách bản thân cho phù hợp với yêu cầu của xã hội
Dạy học, về bản chất là quá trình thiết kế và góp phần thi công của người GV và học tập về bản chất là quá trình tự thiết kế và trực tiếp thi công của HS có sự hướng dẫn, hỗ trợ ít nhiều của GV nhằm đạt chất lượng và hiệu quả dạy học
Quá trình dạy học gồm hai hoạt động chính:
- Hoạt động học gồm hai chức năng thống nhất với nhau là lĩnh hội và
tự điều khiển
- Hoạt dộng dạy gồm hai chức năng: Truyền đạt và điều khiển
Hai quá trình này có mối quan hệ qua lại với nhau theo sơ đồ sau:
Mục đích của quá trình dạy học hướng tới là sự tác động qua lại giữa thầy và trò để chiếm lĩnh một đối tượng kiến thức
KHÁI NIỆM KHOA HỌC
DẠY
TRUYỀN ĐẠT ĐIỀU KHIỂN
HỌC
LĨNH HỘI
TỰ ĐIỀU KHIỂN
Trang 27c) Các phương hướng đổi mới phướng pháp dạy học trên thế giới
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy và học cho phù hợp với tình hình mới, hiện nay trên thế giới có một số phương hướng cải tiến phương pháp như sau:
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS
- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
- Tăng cường học tập các thể phối hợp học tập hợp tác
- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
* Cá thể hóa việc dạy học
- Mục tiêu dạy học phù hợp với đặc điểm, điều kiện của từng HS
- Nội dung dạy học phù hợp với nhau cầu hứng thú của từng HS
* Công nghệ đào tạo
- Thường xuyên áp dụng vào giáo dục những đổi mới về giáo dục có căn cứ khoa học và được kiểm tra bằng thực nghiệm
- Chi phí ít nhất về thời gian, sức lực, tiền của nhưng đạt kết quả cao nhất trong đào tạo
- Giáo dục hiện đại phải đưa vào những thành tựu hiện đại của các khoa học khác
- Tính khoa học
- Tính lập lại kết quả
- Chương trình hóa hành động
- Sử dụng các phương tiện kĩ thuật dạy học
- Đánh giá kết quả đào tạo khách quan, kịp thời
d) Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Những định hướng đổi mới phương pháp dạy học được thể hiện trong nhiều nghị quyết, văn kiện của Đảng và nhà nước ta như: Nghị quyết TW 4
khóa VII, nghị quyết TW2 khóa VIII, luật giáo dục, thể hiện: “Phương pháp
giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đem lại niềm vui,
Trang 28hứng thú học tập cho HS” Nghị quyết trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo xác định, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát
triển phẩm chất, năng lực của người học, “Tập trung phát triển trí tuệ, thể
chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”
Chuyển từ dạy học lấy HS làm trung tâm là một tư tưởng, quan điểm, một cách tiếp cận mới về hoạt động dạy học, khác với tư tưởng, quan điểm, cách tiếp cận truyền thống là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò của người dạy
Chuyển từ dạy học lấy GV làm trung tâm sang dạy học lấy HS làm trung tâm là một xu thế tất yếu, theo lịch sử phát triển của phương pháp giáo dục và dạy học trong nhà trường Nó là sự nhấn mạnh vai trò, chủ thể của người học cũng như tầm quan trọng của người học trong việc tiếp thu, lĩnh hội tri thức Bởi trong xã hội hiện nay đòi hỏi cần phải có những con người năng động, thích ứng với sự thay đối của xã hội, sự phát triển của nền kinh tế cũng như xu hướng của thế giới Bởi vậy, phương pháp truyền đạt kiến thức cho học sinh cũng cần được chú trọng Trong khi tất cả đều thay đổi thì phương pháp dạy học cũng cần thay đổi, đó là việc cần phải làm ngay trong lúc này
1.1.2.2 Áp dụng dạy học tích cực trong môn Địa lí
a) Quan niệm chung về phương pháp dạy học tích cực
Chúng ta biết rằng, phương pháp dạy và học tích cực đề cập đến các hoạt động dạy và học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập và phát triển tính sáng tạo của người học Ở đó, các hoạt động học tập được tổ chức, định hướng bởi GV, người học không thụ động chờ đợi mà chủ động, tích cực tham gia vào quá trình tìm kiếm, phát hiện kiến thức, vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn, qua đó lĩnh hội nội dung học tập và phát triển năng lực sáng tạo Dạy
Trang 29và học tập tích cực nhấn mạnh đến tính tích cực của người học và tính nhân văn của giáo dục, bản chất của dạy và học tích cực là:
- Khai thác động lực học tập ở người học để phát triển chính họ
- Coi trọng lợi ích, nhu cầu của cá nhân để chuẩn bị tốt nhất cho họ thích ứng với đời sống xã hội
b) Những dấu hiệu đặc trưng của dạy và học tích cực
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của HS
Tâm lí học cho rằng nhân cách của trẻ được hình thành thông qua các hoạt động chủ động, qua các hành động có ý thức, như chủ tịch Hồ Chí Minh
đã nói: “Học để hành Học và hành phải đi đôi Học mà không hành thì vô ích Hành mà không học thì hành không trôi chảy” [6]
Trong phương pháp tích cực, người học và hoạt động học được cuốn hút vào những hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, qua đó được tự lực khám phá chứ không thụ động tiếp thu tri thức đã sắp đặt sẵn Người học trực tiếp quan sát những tình huống thực tế, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra, vừa nắm được kiến thức kĩ năng kĩ xảo, vừa biết được con đường tìm
ra kiến thức đó, bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo của mình
- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Ngày nay, trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh chóng với sự bùng
nổ của công nghệ thông tin thì đòi hỏi kiến thức và hiểu biết của con người phải không ngừng tăng lên, những kiến thức thu nhận được trong nhà trường phải kết hợp với những kiến thức thường xuyên cập nhật Do vậy, quan trọng
là phải hướng dẫn cho người học một phương pháp tự học có hiệu quả, là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học, khiến họ biết linh hoạt ứng dụng những điều đã học vào tình huống mới, tự phát hiện và giải quyết những vấn
đề đặt ra, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi người
- Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác
Phương pháp dạy và học tích cực đòi hỏi sự cố gắng và nghị lực của mỗi HS trong việc tự lực giành lấy kiến thức Khả năng nhận thức và trình độ
Trang 30của các HS không đồng đều, áp dụng phương pháp dạy học tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa càng lớn Việc ứng dụng các phương tiện dạy học hiện đại sẽ đáp ứng nhu cầu học tập cá thể của mỗi HS Tuy nhiên, lớp học có môi
trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò Thông qua thảo luận trong tập thể, ý kiến của
cá nhân được điều chỉnh, người học nâng mình lên trình độ mới, hiệu quả học tập sẽ tăng lên, tích cách năng lực của mỗi cá nhân được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức kỉ luật, tình thần tương trợ trong cộng đồng
- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy và học tích cực, GV không còn là người giữ vai trò độc quyền đánh giá năng lực, kết quả học tập của HS mà người học được tích cực, chủ động tham gia đánh giá và tự đánh giá Từ đó, GV điều chỉnh được phương pháp dạy và HS điều chỉnh phương pháp dạy và HS điều chỉnh phương pháp học để đạt hiệu quả
Việc kiểm tra đánh giá không chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến thức, lặp lại kĩ năng mà phải khuyến khích óc sáng tạo, rèn luyện khả năng phát hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tế
- Vai trò chỉ đạo của GV
Trong dạy và học tích cực, GV trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động để HS tự lực chiếm lĩnh kiến thức mới, hình thành kĩ năng, thái độ phù hợp GV là người gợi mở, là cố vấn, trọng tài của HS GV phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, năng lực sư phạm, đầu óc sáng tạo và nhạy cảm mới có thể giúp HS giải quyết nhiều vấn đề nằm ngoài tầm của HS
c) Thực hiện dạy và học tích cực trong môn Địa lí
Địa lí là môn tổng quan nhiều lĩnh vực, cả tự nhiên và kinh tế xã hội Thực hiện dạy và học tích cực trong môn Địa lí không phải là loại bỏ hết các phương pháp truyền thống, các phương tiện thiết bị truyền thống mà cần biết kết hợp chúng với các phương pháp và phương tiện dạy học hiện đạt nhằm đạt kết quả dạy và học cao nhất
Để thực hiện dạy và học tích cực cần phát triển các phương pháp thực hành, các phương pháp trực quan theo kiểu tìm tòi từng phần hoặc nghiên cứu
Trang 31phát hiện Trong đổi mới phương pháp cần kế thừa, phát huy những mặt tích cực của các phương pháp dạy học đã quen thuộc đồng thời vận dụng các phương pháp mới phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.1.2.3 Ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học Địa lí
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã tạo điều kiện cho con người có thể tiếp nhận nguồn tri thức của nhân loại một cách dễ dàng, điều đó đã
và đang đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới toàn diện về nội dung và phương pháp giảng dạy Những năm gần đây, sự tích hợp của công nghệ thông tin và truyền thông trong giảng dạy đã mở ra nhiều khả năng ứng dụng, tạo bước phát triển mới làm thay đổi xã hội nói chung và ngành giáo dục nói riêng
a) Công nghệ thông tin gây hứng thú và phát huy tính tích cực học tập Địa lí của học sinh
Với ưu thế của công nghệ thông tin có nguồn dữ liệu rất khổng lồ dưới các dạng khác nhau như kí hiệu, hình ảnh, đồ thị, biểu đồ với những màu sắc hấp dẫn, âm thanh sống động kích thích sự hứng thú, tò mò và ham muốn tìm hiểu, khám phá, nghiên cứu, trải nghiệm của học sinh Trong quá trình học tập công
nghệ thông tin (máy tính, Internet ) là nguồn tài liệu khổng lồ, quý giá và có thể
khai thác được trong thời gian ngắn Mặt khác nó còn cho phép người học có thể công bố (đánh giá) kết quả học tập và nghiên cứu của mình Đặc biệt việc sử dụng Internet ta có thể tiến hành các cuộc điều tra, trao đổi ý kiến cho nhau và thông báo những thông tin cần thiết Chính vì vậy mà công nghệ thông tin sẽ thu hút được người học và thúc đẩy người học tích cực làm việc độc lập
b) Công nghệ thông tin có khả năng lưu trữ và cung cấp cho việc dạy
và học Địa lí lượng thông tin lớn
Trong quá trình dạy học Địa lí, bằng những kĩ năng sử dụng các phương tiện, thiết bị kĩ thuật hiện đại HS có thể khai thác từ Internet, Encarta,
media, phần mềm Db – map, google earth, một khối lượng thông tin Địa lí
khổng lồ dưới nhiều dạng khác nhau: văn bản, hình ảnh, số liệu, lược đồ, bản
Trang 32đồ Nguồn thông tin này luôn cập nhật, chính xác và nhanh chóng Ta có thể khẳng định rằng không có giáo trình, SGK và thư viện nào có thể cung cấp thông tin một cách nhanh chóng và cập nhật như Internet
Điều này không những đối với HS mà còn có ý nghĩa đặc biệt với GV Với các nguồn tư liệu phong phú và cập nhật này, giúp cho GV thuận tiện hơn rất nhiều khi chuẩn bị bài cũng như khi lên lớp Hơn nữa, máy tính lưu giữ thông tin và dữ liệu, nó cho phép GV có thể thành lập ngân hàng dữ liệu thông tin giáo khoa, nội dung giảng dạy
c) Công nghệ thông tin góp phần thúc đẩy việc đổi mới phương pháp dạy học Địa lí
Đổi mới phương pháp dạy học chính là khắc phục lối truyền thụ một chiều khô khan, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của HS Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh Tuy nhiên muốn thay đổi định hướng đổi mới phương pháp dạy học Địa lí, người GV phải thay đổi cách dạy, phương pháp dạy và người học phải thay đổi cách học, cách tư duy Cần tăng cường sử dụng các phương pháp tích cực như hợp tác theo nhóm, khai thác kiến thức từ bản đồ, đặt vấn đề và giải quyết tình huống, phương pháp dự án, và tổ chức các giờ học Địa lí theo quan điểm kiến tạo, sư phạm tương tác, hoạt động hoá người học Tổ chức dạy học theo các quan điểm và phương pháp đó, đòi hỏi HS phải biết kết hợp làm việc theo nhóm và làm việc một cách độc lập, mặt khác HS phải hoạt động tìm kiếm, lựa chọn xử lí một cách tự giác, tích cực
d) Công nghệ thông tin có khả năng đổi mới hình thức tổ chức dạy học Địa lí
Trong quá trình dạy học nói chung, dạy học Địa lí nói riêng chúng ta có thể áp dụng nhiều tổ chức hình thức dạy học khác nhau Ngoài hình thức giáo dục truyền thống là lên lớp giảng bài, học mở rộng, học từ xa tương ứng với các hình thức này đã xuất hiện các ứng dụng của công nghệ điện tử - viễn thông trong giáo dục đó là: băng nghe tiếng; băng hình, truyền hình Tuy các
Trang 33phương tiện này đã thúc đẩy việc dạy - học, song các loại này vẫn còn ở thế bị
động, nó chỉ hoạt động một chiều Người học không thể tương tác với máy, khó chọn được thời gian học
Hiện nay, việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy và học đã đáp ứng được yêu cầu của việc dạy học, đặc biệt là dạy học từ xa Hai công nghệ hiện đại và ứng dụng một cách có hiệu quả nhất cho giáo dục và đào tạo là công nghệ truyền thông đa phương tiện Multimedia và công nghệ mạng Networking, đặc biệt là mạng Internet Hai công nghệ này đã giúp cho dạy học thay đổi được hình thức tổ chức Người học không nhất thiết phải lên lớp, theo đúng thời gian, địa điểm quy định, mà người học có thể học bất cứ ở đâu, nơi nào (thành phố hay vùng sâu, vùng xa) Người học có thể chủ động được thời gian, bất cứ lúc nào họ muốn, họ không phải phụ thuộc vào giờ lên lớp hay phát sóng của đài, truyền hình
Điển hình cụ thể như E-Learning một hình thức đào tạo trực tuyến mà
ở đó giáo viên và học sinh không cần thiết phải ở gần nhau, học sinh có thể tự chọn môn học, tự chọn GV, giờ học Việc học tập chủ yếu là sử dụng mạng Internet đào tạo từ xa, nhờ đó có thể cập nhật, lưu trữ, truy cập, phân phối, chia sẻ kiến thức hoặc thông tin một cách nhanh chóng
1.2 Sơ đồ tư duy với dạy học Địa lí
1.2.1 Khái niệm Sơ đồ tư duy
Tony Buzan khẳng định bộ não con người không tư duy theo kiểu tuyến tính, tuần tự và đơn điệu mà hoạt động tư duy luôn được diễn ra đồng thời theo nhiều hướng khác nhau và bao giờ cũng bắt đầu từ một ý tưởng trung tâm thường được biểu đạt bằng một hình ảnh, một từ khóa Bởi thế, có
thể gọi đây là kiểu tư duy mở rộng Đặc biệt trong cuốn Sơ đồ tư duy [Tony & Barry Buzan (2009), Sơ đồ tư duy, Bản dịch tiếng Việt của Lê Huy Lâm, Nxb
Tổng hợp TP HCM, Thành phố Hồ Chí Minh], tác giả đã dành nhiều trang viết để giải thích thêm về vấn đề này Theo đó, mỗi mẫu thông tin truyền đến
bộ não của con người đều có thể được biểu thị như một quả cầu Quả cầu ấy đóng vai trò làm điểm trung tâm và từ đó lan tỏa ra vô số móc nối khác nhau;
Trang 34trong đó mỗi móc nối biểu thị một liên kết, mỗi liên kết lại tạo ra vô số liên kết khác Dựa trên hệ thống xử lý và lưu trữ thông tin đa trục, gồm nhiều móc nối như vậy nên não bộ chúng ta đã lưu trữ được dung lượng lớn những bản đồ thông tin đa dạng, phức tạp Với tư cách là một công cụ hiển thị, SĐTD có thể là phương tiện giá trị vận dụng được phương pháp tư duy tuyệt vời này của bộ não
Theo người khởi xướng ra thuật ngữ - Tony Buzan, “SĐTD là một
hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh, để mở rộng và đào sâu các
ý tưởng Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay hình ảnh trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho những ý chính và đều được nối với ý tưởng trung tâm”[21] SĐTD là bước kế
tiếp giúp chúng ta chuyển từ lối tư duy tuần tự (một chiều) sang tư duy song phương (hai chiều) để đạt đến Tư duy mở rộng (đa chiều) Như vậy SĐTD giúp phân biệt sức chứa tư duy (được thể hiện qua SĐTD) với hiệu quả lưu trữ tư duy (điều chúng ta đạt được nhờ SĐTD) Vì hiệu quả lưu trữ thông tin
sẽ nhân bội sức chứa thông tin”
Website mindmapblog.com - chuyên về hướng dẫn cách lập SĐTD đưa ra quan niệm cho rằng “Một SĐTD sử dụng các ý tưởng trực quan/ thuộc về thị giác
để tạo ra một hình thức tổ chức kế hoạch, vấn đề hay dự án – một biểu đồ phản ánh một cách tự nhiên cách bộ não xử lí thông tin Thông tin và các nhiệm vụ toả
ra từ một chủ đề hoặc mục tiêu trung tâm hơn là rơi xuống dưới một tiêu đề như trong một danh sách Các yếu tố liên quan kết nối tới các đường nối Những yếu tố mới có thể được chụp ngẫu nhiên và sau đó tổ chức thành các kế hoạch lớn hơn, với những ý tưởng mới chảy trôi tự nhiên như một biểu đồ chi tiết Thông tin có thể được minh hoạ bằng các kí hiệu, từ ngữ, màu sắc, hình ảnh, liên kết/ đường
nối và đính kèm thêm bối cảnh, giúp cho việc phát hiện/ biểu lộ ra các hướng đi
mới cũng như những ý tưởng to lớn và rõ ràng hơn”
Trang 351.2.2 Đặc điểm và cơ chế tạo lập Sơ đồ tư duy
Trong các công trình nghiên cứu của mình, Tony Buzan đã gợi ý một hình thức ghi chép “hiếm thấy hơn” gọi là “SĐTD” Theo tác giả, ở một BĐTD thường có các đặc điểm và cơ chế hoạt động như sau:
1.2.2.1 Sơ đồ tư duy phản ánh cách mà bộ não chúng ta hoạt động
Các nhà nghiên cứu đưa ra kết luận khoa học rằng bộ não của con người có khả năng xử lí hầu hết các sự việc, hiện tượng, ý tưởng phức tạp theo những nguyên tắc đơn giản nhất Theo đó, mọi thông tin tồn tại trong
não bộ của con người đều cần có các mối nối, liên kết để có thể được tìm
thấy và sử dụng Khi một thông tin mới được đưa vào bộ não, để được lưu trữ và tồn tại, chúng cần phải kết nối với các thông tin cũ đã tồn tại trước đó Tiếp nối ý tưởng này, Tony Buzan làm rõ thêm: bộ não bao giờ cũng hoạt động dựa trên nguyên tắc vận hành của hình ảnh và mạng lưới liên tưởng Một ý đồ luôn luôn nằm trong đa dạng các mối quan hệ; chỉ xác định được vị trí, vai trò của nó khi đặt nó trong một bản đồ quan hệ như thế!
Tony Buzan khẳng định một SĐTD hoạt động theo nguyên tắc tưởng tượng và liên kết, bao chứa trong mình cả cảm xúc sáng tạo và logic lí trí Vì thế, bản chất của SĐTD hoàn toàn phù hợp với cách mà bộ não vận hành
1.2.2.2 Sơ đồ tư duy tận dụng triệt để các yếu tố tác động tới thị giác và trí nhớ của con người: hình ảnh, đường nét, từ khóa và màu sắc
Khi bắt đầu tạo lập một SĐTD, người thực hiện bao giờ cũng xuất
phát từ trung tâm của trang giấy Đó là bởi trung tâm sẽ là khu vực thu hút
tầm mắt nhất và việc bắt đầu từ vị trí chính giữa sẽ tạo ra khoảng không tự
do cho bộ não, đôi tay hoạt động: tỏa ra các ý tưởng, đẩy các suy nghĩ theo nhiều hướng và thể hiện chúng một cách thoải mái, tự nhiên nhất Ý tưởng
trung tâm này có thể được xác định dựa vào một từ khóa hay một hình ảnh
bất kì minh họa Trong đó, các nhà hướng dẫn khuyến khích người tạo lập hình ảnh bởi “một hình ảnh đáng giá cả ngàn từ, và còn có thể tạo động lực
Trang 36giúp bạn sử dụng tiếp đến trí tưởng tượng của mình Với một bức hình ở giữa trang giấy sẽ giúp bạn cảm thấy thích thú, giữ cho bạn tập trung, còn bộ não sẽ hoạt động một cách hưng phấn”
Từ điểm trung tâm là ý tưởng chủ đạo, người tạo lập sẽ tiến hành vẽ
các nhánh cho SĐTD là phần triển khai cụ thể cho ý tưởng ấy Nội dung của
từng nhánh lại tiếp tục là điểm trung tâm bậc 2 để vẽ tiếp các nhánh nhỏ hơn
tỏa ra từ đó Cứ tiếp tục làm như vậy, bộ não sẽ thiết lập những mối liên hệ khác nhau và hiển thị ra trên SĐTD các nhánh liên kết “Bộ não của chúng
ta vốn dĩ có khuynh hướng liên hệ nhiều thứ lại với nhau Nếu bạn xâu chuỗi các nhánh lại, bạn sẽ thấy dễ hiểu và dễ ghi nhớ hơn nhiều” Điều này tương
tự với sự phát triển của một cây xanh trong tự nhiên Cây phát triển tốt hay không thể hiện ở việc nó có nhiều cành, từ mỗi cành lại nảy ra nhiều nhánh,
từ mỗi nhánh lớn lại nảy ra nhiều nhánh nhỏ Càng sum suê và có nhiều tầng cành nhánh bao nhiêu chứng tỏ cây càng tươi tốt bấy nhiêu Một SĐTD sáng tạo là một sơ đồ chi tiết bằng hệ thống nhánh liên kết!
Trong mỗi nhánh của SĐTD có thể đặt một từ khóa quan trọng, ngắn
gọn nhưng thâu tóm được nội dung ý tưởng rộng lớn Nói cách khác, một hay một cụm từ thật ngắn trên đường cong của nhánh cần có sức mạnh của phép nhân, giúp người đọc sơ đồ thấy được tầng bậc các liên tưởng và liên kết Nó đồng thời cũng thể hiện khả năng nắm vững vấn đề và mạch logic gọn gàng của người thực hiện
Màu sắc cũng là một yếu tố được chú trọng trong khi vẽ SĐTD So với một bản vẽ chỉ có một màu như thường thấy, các màu sắc sẽ có hiệu quả lớn đối với việc kích thích bộ não và tư duy của người thực hiện hoạt động
Đó là bởi thông qua màu sắc, một mặt người thực hiện cảm thấy dễ tìm được niềm vui, sức sống, năng lực dồi dào hơn; mặt khác, nó giúp phân biệt các nhánh có mặt trên sơ đồ, giúp quá trình đọc hiểu sơ đồ trở nên thuận lợi, dễ
Trang 37dàng hơn Một SĐTD đa sắc thực chất là biểu hiện cho một tâm hồn tươi mới
và khả năng sáng tạo vô biên của con người
1.2.3 Cách đọc Sơ đồ tư duy
Không giống như các phương pháp ghi chép thông thường, MM không xuất phát từ trái sang phải và từ trên xuống dưới theo kiểu truyền thống Thay vào đó, MM được vẽ, viết và đọc theo hướng bắt nguồn từ trung tâm di chuyển ra phía ngoài và sau đó là theo chiều kim đồng hồ Tuy nhiên, người
vẽ có thể sắp xếp theo một trật tự khác của riêng mình, theo lối tư duy phóng khoáng Các mũi tên xung quanh MM sẽ chỉ ra cách đọc thông tin trong sơ đồ
1.2.4 Cách vẽ Sơ đồ tư duy
1.2.3.1 Công cụ vẽ sơ đồ tư duy
Có hai cách để tạo ra Sơ đồ tư duy MM: có thể vẽ bằng tay hoặc bằng phần mềm trên máy vi tính Nếu vẽ bằng tay thì HS chỉ cần các tờ giấy A4, một hộp bút màu kết hợp với trí sáng tạo của mình Đối với hình thức vẽ bằng phần mềm trên máy vi tính, học sinh có thể sử dụng các phần mềm MindMapping (Freemind, Conceptdraw MM profestional 8.0.1, Edraw MM, Mind Manager, iMindMap,…) với các hình ảnh trung tâm có sẵn trong thư viện hình ảnh của phần mềm hoặc tìm kiếm thông tin qua Internet
1.2.3.2.Các bước vẽ sơ đồ tư duy
Đầu tiên cần tập trung vào câu hỏi trọng tâm hay chủ đề cụ thể Xác định thật rõ mục tiêu bạn hướng đến hoặc nỗ lực giải quyết Đặt tờ giấy nằm ngang vẽ mục tiêu trọng tâm SĐTD ngay giữa trang Điều này sẽ giúp bạn được
tự do diễn đạt và không bị bó buộc bởi khuôn khổ chật hẹp của trang giấy
Vẽ một hình ảnh giữa trang giấy để biểu thị mục tiêu của bạn Không nhất thiết hình vẽ phải đẹp mà chỉ cần dễ nhìn, quan trọng là bạn sử dụng hình ảnh này làm điểm bắt đầu của SĐTD bởi hình ảnh sẽ khởi động não bằng cách kích hoạt trí tưởng tượng
Trang 38Dùng màu sắc ngay từ đầu để thể hiện sự nhấn mạnh, kết cấu, bố cục,
sáng tạo - nhằm gợi tính trực quan và khắc họa hình ảnh vào não Cố gắng
dùng ít nhất ba màu và tạo ra hệ thống mã màu riêng của bạn Có thể dùng màu để thể hiện thứ bậc, chủ đề hoặc nhấn mạnh những điểm nào đó Bây giờ, hãy vẽ một loạt đường liên kết đậm, tỏa ra từ trung tâm của hình ảnh Đây là các nhánh chính của SĐTD giống như các cành lớn của cây, có tác dụng triển khai ý tưởng của bạn Hãy nhớ liên kết thật chặt chẽ các nhánh chính này với hình ảnh trung tâm vì não và trí nhớ hoạt động nhờ liên tưởng
Vẽ đường liên kết dạng cong để thu hút mắt và giúp não dễ ghi nhớ Viết lên mỗi nhánh một từ then chốt sẽ giúp bạn liên tưởng đến các chủ đề Đây là các ý chính (và ý chủ đề) của bạn, các ý này bao gồm những mục như: tình huống, cảm tưởng, sự kiện, chọn lựa Hãy nhớ rằng sử dụng từ then chốt trên mỗi liên kết cho phép bạn thấy rõ bản chất của vấn đề đang xem xét, đồng thời giúp liên tưởng được in sâu trong não Sử dụng cụm từ và câu sẽ hạn chế tác dụng này và gây rối rắm cho trí nhớ Thêm một vài nhánh trống vào SĐTD bộ não sẽ cần tư duy để bổ sung thông tin vào các nhánh này
Hãy tạo ra nhánh cấp hai và cấp ba cho những ý liên tưởng và ý phụ Cấp hai liên kết với các nhánh chính, cấp ba liên kết với các nhánh của cấp hai … Toàn bộ quá trình này được tạo thành hoàn toàn nhờ các liên tưởng Các từ bạn chọn cho mỗi nhánh có thể là các đề tài nêu câu hỏi: Ai, cái gì, ở đâu, tại sao, bằng cách nào… (sử dụng kĩ thuật 5WH) về môn học hay tình huống nào đó
Biến ý tưởng thành hành động: SĐTD hoàn chỉnh vừa là bức tranh mô tả
ý tưởng của bạn, vừa là giai đoạn đầu tiên của việc chuẩn bị phương hướng hành động Việc xác lập ưu tiên và tầm quan trọng cho các đề mục, kết luận của bạn
có thể được thực hiện rất đơn giản bằng cách đánh số ở mỗi nhánh của SĐTD
1.2.3.3 Các nguyên tắc vẽ sơ đồ tư duy
- Bắt đầu với một hình màu ở tâm Một bức ảnh “trung tâm của điểm nhấn” kích thích tư duy sáng tạo và nâng cao khả năng nhớ Đặt tờ giấy nằm ngang
Trang 39- Sử dụng hình ảnh ở mọi nơi trong SĐTD của bạn Đây là quy tắc quan trọng nhất Để kích thích tất cả các quy trình của vỏ não, hay thu hút sự chú ý của mắt và hỗ trợ trí nhớ
- Nên dùng chữ in Chữ in tạo cảm giác như ảnh chụp, rõ ràng, dễ đọc
và toàn diện hơn Tuy mất thêm chút thời gian nhưng khi đọc lại, bạn sẽ tiết kiệm được nhiều thì giờ hơn
- Chữ in phải nằm trên đường phân nhánh, và các đường phân nhánh phải liên kết với nhau Yêu cầu này nhằm đảm bảo cho SĐTD có cấu trúc cơ bản
- Từ phải theo “đơn vị”, nghĩa là một từ cho mỗi đường phân nhánh Nhờ vậy, từ có thêm nhiều móc nối tự do giúp cho việc ghi nhớ trở nên thoải mái và linh hoạt hơn
- Sử dụng màu sắc ở mọi nơi trong SĐTD vì màu sắc giúp tăng cường trí nhớ, khiến mắt thích nhìn, đồng thời kích thích quy trình thích hợp của vỏ não
- Trong những nỗ lực sáng tạo thuộc loại này, nên để tư duy càng “tự do” càng tốt Bất kỳ “suy nghĩ” nào về việc phải đặt các chi tiết ở đâu hay có nên đặt chúng vào không, chỉ làm chậm quy trình mà thôi
Mục đích nhằm nhớ lại tất cả những gì tư duy bạn nghĩ đến xung quanh
ý trọng tâm Vì tư duy sẽ phát sinh ý tưởng nhanh hơn bạn viết ra giấy, nên tốt nhất là không để có quãng ngừng Nếu ngừng lại, có lẽ bạn sẽ thấy cây viết hoặc bút chì của mình ngập ngừng trên giấy Ngay khi nhận biết điều này, bạn hãy trở lại và tiếp tục Đừng bận tâm tới thứ tự hay bố cục vì trong nhiều trường hợp, chúng sẽ tự hình thành Nếu không, bạn có thể hoàn tất việc lập thứ tự ở cuối bài tập Việc lập SĐTD như vậy có thể xem là đã loại bỏ tất cả nhược điểm của ghi chú theo lối thông thường
Kỹ thuật
- Nhấn mạnh
Luôn dùng hình ảnh trung tâm
Dùng hình ảnh ở mọi nơi trong SĐTD
Trang 40 Mỗi ảnh trung tâm nên dùng màu khác biệt
Dùng kích cỡ trong các ảnh và xung quanh các từ
Viết in từ khóa trên vạch liên kết
Vạch liên kết và các từ luôn cùng độ dài
Các vạch liên kết nối liền nhau và các nhánh chính luôn nối với ảnh trung tâm
Vạch liên kết trung tâm dùng đậm nét
Đường bao ôm sát các nhánh
Sử dụng ảnh có độ phân giải cao
SĐTD luôn nằm theo chiều ngang