1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở thành phố thái nguyên tỉnh thái nguyên

90 245 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 895,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Đề xuất mô hình phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái thành phố Thái nguyên theo hướng hiệu quả và bền vững đáp ứng với nhu cầu thành phố công nghiệp trong tương lai.. Đây là nền nôn

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -

BÁO CÁO KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ

MÃ SỐ: B2009 – TN03 – 05

TÊN ĐỀ TÀI:

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ SINH THÁI TẠI THÀNH

PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN

CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI: ThS LÊ VĂN THƠ

THÁI NGUYÊN - 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -

BÁO CÁO KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ

MÃ SỐ: B2009 – TN 03– 05

TÊN ĐỀ TÀI:

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ SINH THÁI TẠI THÀNH

PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN

CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI: Th.S LÊ VĂN THƠ THỜI GIAN THỰC HIỆN: 2009-2010 ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN: TP THÁI NGUYÊN

THÁI NGUYÊN - 2011

Trang 3

DANH SÁCH

NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Họ và tên Đơn vị công tác

và lĩnh vực chuyên môn

Nội dung nghiên cứu cụ thể

Điều tra thực địa, thu thập mẫu Điều tra thực địa, thu thập mẫu Thư ký hành chính

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang trên con đường hội nhập và phát triển mạnh mẽ, phấn đấu đến năm 2020 về cơ bản nước ta sẽ trở thành một nước công nghiệp Quá trình đô thị hóa ngày càng tăng, các khu công nghiệp mọc lên ngày càng nhiều, dân số tăng nhanh sẽ gây áp lực rất lớn đến đất đai, đặc biệt là quỹ đất sản xuất nông nghiệp

Những năm qua sản xuất nông nghiệp của nước ta đạt mức tăng trưởng cao trung bình 4,93% năm, chiếm 40% GDP Hơn 80% dân số, 70% lao động và hơn 75% số hộ ở nông thôn đã góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Chính vì vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta, nông nghiệp luôn được coi là “mặt trận hàng đầu” và quá trình đổi mới của Việt Nam cũng bắt đầu từ lĩnh vực này

Thế nhưng, hiện nay nước ta đang đứng trước một thực trạng khá mâu thuẫn, một bên là những bước tiến vượt bậc của những cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã làm thỏa mãn nhanh chóng những nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, một bên là sự hủy hoại môi trường đến mức báo động do chính sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ đã và đang chi phối một cách sâu sắc đến đời sống của mọi sinh vật theo chiều hướng tiêu cực Nếu không có những phương hướng và biện pháp ngăn chặn kịp thời thì con người lại phải gánh chịu hậu quả vô cùng to lớn do chính mình gây ra

Phát triển nông nghiệp theo hướng đô thị sinh thái đã và đang là xu thế của các thành phố ở các nước trên thế giới cũng như trong khu vực Châu Á Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có những nghiên cứu về phát triển nông nghiệp theo hướng đô thị sinh thái, tuy nhiên nền nông nghiệp sinh thái vẫn chưa được hình thành và chưa có

kế hoạch đầu tư cho phát triển

Thành phố Thái Nguyên là trung tâm văn hoá, kinh tế, chính trị của tỉnh Thái Nguyên nói riêng và trung tâm vùng Việt Bắc nói chung, có tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa cao đang tạo điều kiện và cơ hội thuận lợi cho nhiều hoạt động kinh tế phát triển mạnh Mặt khác, theo đà phát triển của kinh tế đòi hỏi chất lượng cuộc sống của mọi tầng lớp nhân dân phải được nâng lên và phải được đáp ứng một cách kịp thời

Tốc độ đô thị hoá ở Thái Nguyên đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, hàng năm đất nông nghiệp giảm khoảng 200 ha để chuyển sang phát triển công nghiệp, xây dựng đô thị Theo quy hoạch chung của thành phố đến năm 2020 nhu cầu diện tích đất mở rộng đô thị là 12.000 ha, dân số đô thị khoảng 1 triệu người [25]

Trang 5

Dân cư đô thị ngày một đông, một bộ phận không nhỏ là nông dân thuần tuý, do quá trình đô thị hoá và mở rộng đô thị họ trở thành dân cư đô thị trong khi họ chưa sẵn sàng hoà nhập cuộc sống mới Mặt khác nông nghiệp đô thị dễ bị tổn thương và hiệu quả kinh tế không cao do nhiều yếu tố tác động như sức ép của quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá và thương mại hoá

Nông nghiệp của thành phố nói chung và đặc biệt là nông nghiệp vùng ven đô không những đảm bảo yêu cầu về giải quyết lao động, thu nhập cho lực lượng dân cư ven đô để sản xuất nông sản đáp ứng cả về số lượng với chất lượng ngày càng nâng cao theo hướng an toàn vệ sinh thực phẩm, mà còn có vai trò quan trọng hơn đó là tạo lập cảnh quan, bảo vệ môi trường sinh thái Vì vậy, phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở thành phố Thái Nguyên sẽ góp phần tích cực vào quá trình phát triển của thành phố theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa với tốc độ nhanh và bền vững

Xuất phát từ vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu phát

triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở thành phố Thái Nguyên Tỉnh Thái Nguyên

2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp ở thành phố Thái Nguyên theo quan điểm nông nghiệp đô thị sinh thái

- Đề xuất mô hình phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái thành phố Thái nguyên theo hướng hiệu quả và bền vững đáp ứng với nhu cầu thành phố công nghiệp trong tương lai

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đất nông nghiệp ở nội thị và phụ cận thành phố Thái Nguyên (các phường, xã của thành phố Thái Nguyên có sản xuất nông nghiệp)

- Các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp, các trang trại, VAC, nhà hàng, khu vui chơi giải trí… trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên

Trang 6

PHẦN I TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ SINH THÁI

1.1.1 Cơ sở lý luận về nông nghiệp sinh thái

1.1.1.1 Khái niệm nông nghiệp sinh thái

Trước hết cần hiểu rõ khái niệm hệ sinh thái (Ecosystem), và hệ sinh thái nông nghiệp (Agroecosystem) Có nhiều định nghĩa khác nhau về hệ sinh thái Odum (1971)

đã định nghĩa hệ sinh thái là “một cấu trúc và chức năng của tự nhiên” Ehrlich và Roughgarden (1987) [38] cho rằng hệ sinh thái là “mối quan hệ giữa các tổ chức và môi trường sinh học và vật chất của chúng” Như vậy, sinh thái đề cập đến tính chất tự nhiên, vốn có của một hệ thống cân bằng giữa các yếu tố sự sống và môi trường tự nhiên tồn tại trên trái đất

Khái niệm “nông nghiệp sinh thái” (Ecological) được xem xét gắn liền với khái niệm “hệ sinh thái nông nghiệp” Theo Laura E Powers và Robert McSorley (1998) [39], “nông nghiệp sinh thái là một hình thái sản xuất nông nghiệp sử dụng lý thuyết sinh thái đề nghiên cứu, thiết kế, quản lý và đánh giá hệ thống nông nghiệp đạt được năng suất, đảm bảo duy trì, tái tạo nguồn lực và đạt được sự cân bằng của hệ sinh thái nông nghiệp” Khái niệm này cho thấy rõ mục tiêu của nông nghiệp sinh thái là phải đạt được hệ sinh thái nông nghiệp cân bằng

Theo Miguel A Altieri (1990) [40], “nông nghiệp sinh thái là một khoa học nông nghiệp sử dụng lý thuyết sinh thái để nghiên cứu, thiết kế, quản lý và đánh giá hệ thống nông nghiệp đạt được năng suất và đảm bảo duy trì, tái tạo nguồn lực” Như vậy, có thể thấy nông nghiệp sinh thái nghiên cứu và đánh giá hệ thống nông nghiệp từ

ba khía cạnh: sinh thái, kinh tế và xã hội để nhằm đạt được ba mục tiêu: môi trường (trong sạch, không ô nhiễm), kinh tế (năng suất - chất lượng - hiệu quả) và xã hội (xoá đói giảm nghèo - tạo việc làm - công bằng xã hội)

Với sự nhấn mạnh tầm quan trọng của phương thức sản xuất nông nghiệp đến

sự cân bằng của hệ sinh thái nông nghiệp, khái niệm “nông nghiệp sinh thái” còn phải được xem xét theo tiếp cận phương pháp sản xuất, nghĩa là “một phương thức sản xuất nông nghiệp sinh học hoặc hữu cơ, nhằm vào mục tiêu bảo vệ môi trường là chủ yếu

và duy trì các mối cân bằng của đất và hệ sinh thái nông nghiệp” [18] Theo khái niệm này, để đạt được hệ sinh thái nông nghiệp cân bằng thì nền sản xuất nông nghiệp phải hướng tới mục tiêu sản xuất ra sản phẩm sạch, trên cơ sở ứng dụng công nghệ cao, không làm ô nhiễm và bảo vệ môi trường sinh thái

Trang 7

Như vậy, theo các cách tiếp cận khác nhau, thì mục tiêu cuối cùng của nông nghiệp sinh thái cũng phải sử dụng các phương pháp sản xuất sạch, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, đáp ứng mục tiêu phát triển cân bằng và bền vững của hệ thống Tuy nhiên, để đạt được các mục tiêu trên thì trong hệ sinh thái nông nghiệp đòi hòi phải được lựa chọn, sử dụng và kết hợp các phương pháp và công nghệ sản xuất sạch, mang lại năng suất và chất lượng, hướng tới mục tiêu kinh tế xã hội và môi trường bền vững

Khái niệm về nông nghiệp sinh thái cũng khá gần gũi với khái niệm nông nghiệp bền vững Cho đến nay, xu hướng phát triển nông nghiệp bền vững theo hướng sinh thái đang trở thành hướng tất yếu của sự phát triển bền vững ở nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới [11]

Nông nghiệp bền vững được phát triển vào những năm 70 của thế kỷ này, do hai người Oxtralia là Bill Mollison và David Holmgren, nhằm khắc phục nạn ô nhiễm đất, nước, không khí bởi những hệ thống công nghiệp và nông nghiệp, sự mất mát các loài động, thực vật, sự suy giảm tài nguyên không tái sinh [13]

Theo Julian Dumaski [35] thì nông nghiệp giữ vai trò động lực cho phát triển

kinh tế của hầu hết các nước đang phát triển, một nền nông nghiệp bền vững hơn là rất cần thiết để tạo ra những lợi ích lâu dài, đạt được sự phát triển bền vững và giảm đói nghèo Cũng theo J.Dumaski nền tảng của nền nông nghiệp phát triển bền vững là duy trì tiềm năng sản xuất sinh học đặc biệt duy trì chất lượng đất, nước và tính đa dạng sinh học Nông nghiệp bền vững đạt được nhờ 3 yếu tố: (1) quản lý đất bền vững; (2) công nghệ sản xuất được cải tiến và (3) nâng cao hiệu quả kinh tế

Theo Richard R Harwood (1990) [41], nông nghiệp bền vững là một nền nông nghiệp trong đó các hoạt động của các tổ chức kinh tế từ việc lập kế hoạch, thực hiện

và quản lý các quá trình sản xuất, kinh doanh nông nghiệp đều hướng đến bảo vệ và phát huy lợi ích của con người và xã hội trên cơ sở duy trì và tái tạo nguồn lực, tối thiểu hóa lãng phí để sản xuất một cách hiệu quả các sản phẩm nông nghiệp và hạn chế tác hại môi trường trong khi duy trì và không ngừng nâng cao thu nhập cho dân cư nông nghiệp

Theo Remy Mia Slay [5]: Nông nghiệp bền vững là việc thiết kế những hệ thống cư trú lâu bền của con người Triết lý của nông nghiệp bền vững là phải hợp tác với thiên nhiên, tuân thủ những quy luật của thiên nhiên, không chống lại thiên nhiên

Như vậy, nông nghiệp bền vững có thể được xem gần với nông nghiệp sinh thái theo tiếp cận mục tiêu Nó xuất phát từ mục tiêu phát triển toàn diện trên tất cả các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường để đảm bảo không ngừng nâng cao phúc lợi xã hội

Trang 8

Mặt khác theo tiếp cận phương pháp, nông nghiệp sinh thái thuộc phạm trù nông nghiệp bền vững của hệ thống nông nghiệp, cần phải có sự bền vững về môi trường [32]

Vào giữa thế kỷ 20, các thuật ngữ “nông nghiệp sinh thái” và “nông nghiệp bền vững” đã trở nên quen thuộc với các chuyên gia kinh tế ở Mỹ và Châu Âu sau đó lan sang các nước khác trên thế giới, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay ở Trung Quốc và Việt Nam vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng trong cách gọi các thuật ngữ trên Đối với các nước Bắc Âu “nông nghiệp sinh thái” thường được dùng để chỉ phương thức sản xuất nông nghiệp sinh học hay hữu cơ, có mục đích bảo

vệ môi trường là chủ yếu, còn ở Trung Quốc và Việt Nam khi gọi “nông nghiệp sinh thái” mọi người thường đồng nghĩa nó với “nông nghiệp bền vững”

Tóm lại, mặc dù gọi “nông nghiệp sinh thái” nhưng ở cả Trung Quốc và Việt Nam vẫn dựa trên quan điểm phát triển một nền nông nghiệp hướng vào mục tiêu bền vững, vừa giảm thiểu tác hại đối với môi trường đảm bảo duy trì nguồn lực và hệ sinh thái tự nhiên, vừa có sức sống về mặt kinh tế đồng thời đáp ứng các mục tiêu phát triển

về mặt văn hóa, xã hội của con người

1.1.1.2 Đặc điểm của nông nghiệp sinh thái

- Sản phẩm của nông nghiệp sinh thái là sản phẩm sạch trong đó sản phẩm phi

ăn uống (cảnh quan, môi trường) rất được coi trọng: nông nghiệp thuần tuý thường

coi trọng sản phẩm ăn uống như lương thực, thực phẩm, nhưng nông nghiệp sinh thái với mục tiêu duy trì sự phát triển bền vững của hệ thống lại nhấn mạnh cả cảnh quan môi trường tươi đẹp và không khí trong lành Tất cả các sản phẩm này phải đảm bảo sạch, trong đó các sản phẩm ăn uống trước hết phải an toàn, không bị nhiễm độc tố, sau đó phải có đầy đủ hàm lượng các chất dinh dưỡng, vitamin và khoáng chất cần thiết cho sự phát triển thể lực của con người Sản phẩm phi ăn uống bao gồm môi trường tự nhiên hài hoà, trong sạch, những khu vui chơi, giải trí trong lành, tươi đẹp để đáp ứng nhu cầu tinh thần cho dân cư [19] Những vành đai xanh quanh thành phố, những hồ nước kết hợp nuôi thả với du lịch sẽ vừa thoả mãn nhu cầu tinh thần của con người, vừa điều hoà khí hậu và bảo vệ các nguồn lực của sản xuất

- Công nghệ sản xuất của nông nghiệp sinh thái thống nhất giữa kỹ thuật địa phương, truyền thống với công nghệ hiện đại: để bảo vệ môi trường trong khi vẫn đảm

bảo an ninh lương thực, nông nghiệp sinh thái có xu hướng giảm sử dụng các yếu tố hoá học, tăng cường áp dụng công nghệ cao, công nghệ sạch, công nghệ sinh học và các kỹ thuật truyền thống, tái tạo nguồn lực Công nghệ sinh học (lai ghép, nuôi cấy

mô tế bào, công nghệ gen) ngày nay được coi là động lực của sự phát triển Các giống mới sẽ cho phép cây trồng, vật nuôi tự chống chọi sâu bệnh, từ đó loại trừ việc sử dụng các hoá chất Công nghệ truyền thống sử dụng phân vi sinh, hữu cơ (phân chuồng,

Trang 9

phân xanh), các cây họ đậu hoặc kỹ thuật trồng cây che phủ đất, chống xói mòn vẫn đang là những phương pháp thích hợp, không thể thay thế được ở nhiều nơi trên thế giới (chiếm 5-10% diện tích canh tác ở châu Âu) Công nghệ sản xuất rau thuỷ canh đối với nông nghiệp đô thị cũng được phát triển phổ biến ở các nước châu Phi và một

số nước Châu Á [19]

- Mô hình sản xuất của nông nghiệp sinh thái sản xuất nông nghiệp kết hợp: mô

hình sinh thái nông nghiệp kết hợp nhằm tạo lập lại đa dạng sinh học bằng cách bố trí các hệ thống cây trồng và vật nuôi xen kẽ hoặc sử dụng các phương thức sản xuất đa canh, luân canh và trồng xen, có thể bổ sung cho nhau trong việc cung cấp chất dinh dưỡng, bảo vệ đất, điều hoà khí hậu, tạo cảnh quan môi trường Nhiều quốc gia đã phát triển, hoặc đang phát triển thực hiện cách mạng xanh trong nông nghiệp, do chạy theo năng suất và lợi nhuận đã đầu tư thâm canh dài hạn trên những trang trại quy mô lớn một số loại sản phẩm chính cho năng suất và lợi nhuận cao

1.1.2 Lý luận về nông nghiệp đô thị sinh thái

Các nghiên cứu trên thế giới thường dùng thuật ngữ “nông nghiệp đô thị” (Urban Argiculture) để gọi chung cho việc sản xuất các nông sản hàng hóa dựa vào các vùng đất và diện tích mặt nước nằm xen kẽ, rải rác trong các khu đô thị và vùng ngoại ô [19]

1.1.2.1 Nông nghiệp đô thị

Trong lịch sử, nông nghiệp thường gắn với vùng nông thôn rộng lớn Nói đến nông nghiệp là nói đến nông thôn và ngược lại Các đô thị ra đời đã kéo theo sự hình thành nền nông nghiệp mới của nhân loại – nông nghiệp đô thị Các đô thị ở nhiều quốc gia trên thế gới đã chú ý đến nông nghiệp đô thị rất sớm và họ cũng đã đạt được nhiều thành công trong việc phát triển loại hình nông nghiệp mới này [16]

Nông nghiệp đô thị đã có từ lâu, từ lúc bắt đầu có đô thị nhưng ít được chú ý vì trước kia người ta nghĩ rằng nông nghiệp là việc của nông thôn, còn đô thị làm công nghiệp là chính Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh, tỷ lệ dân số ngày càng cao Hiện nay khoảng một nửa dân số thế giới sống ở đô thị với 800 triệu người làm nông nghiệp đô thị [19]

Trước sự phát triển nhanh của nền nông nghiệp đô thị ở các nước có tốc độ đô thị hoá rất cao, nhiều tổ chức trên thế giới đã bắt đầu đi sâu nghiên cứu và có hỗ trợ chương trình này Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) thông qua các chương trình định hướng như: AGA Sub - Programme on Peri-urban Production Sytems on animal production, health and veterinary public health, chương trình Food supply an Distribution to citICs (AGSM), chương trình Urban and Peri-urban forestry Qua các chương trình này, FAO nghiên cứu các hoạt động nông nghiệp, hỗ trợ chính sách, trợ

Trang 10

giúp kỹ thuật xây dựng các đặc trưng về nông nghiệp đô thị và ven đô thị Ngoài ra, còn nhiều tổ chức chính phủ và phi chính phủ nghiên cứu vấn đề này, như: UNDP, IDRC, WB, Bên cạnh đó, một số tổ chức trực thuộc Liên Hợp Quốc như: UNHCR, UNICEF, UNWHO cũng tham gia vào nghiên cứu [20]

Để giải quyết các vấn đề cấp bách được đặt ra trong quá trình đô thị hóa như ô nhiễm môi trường, an ninh và an toàn lương thực, mất đất và thiếu công ăn việc làm…cần thống nhất nông nghiệp trong hệ sinh thái đô thị

Nông nghiệp đô thị (NNĐT) là một ngành công nghiệp mà sản xuất, chế biến

và buôn bán thực phẩm và chất đốt thực hiện trên các vùng đất và mặt nước xen kẽ, rải rác trong các đô thị và vùng ngoại ô Nói một cách đơn giản nông nghiệp đô thị bao gồm toàn bộ hoạt động sản xuất nông nghiệp từ sản xuất nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp nằm xen kẽ trong đô thị và các vùng ven đô Khái niệm này

có thể gói gọn trong phạm vi lãnh thổ và phi lãnh thổ của một đô thị

Tại Trung Quốc đã đề ra 6 mô hình nông nghiệp đô thị, riêng tại thành phố Thượng Hải đã thực hiện khá thành công đó là: [15]

+ Nông nghiệp xanh: duy trì và phát triển cây xanh, thảm cỏ trong Thành Phố + Nông nghiệp phục vụ khách sạn: sản xuất hoa, cây cảnh, rau quả, thịt, trứng, sữa cho khách sạn trong Thành Phố

+ Nông nghiệp thu ngoại tệ: sản xuất các nông đặc sản xuất khẩu

+ Nông nghiệp du lịch: phục vụ cho khách trong nước và nước ngoài ở ngoại ô thành phố

+ Nông nghiệp an dưỡng: ở những vùng nông thôn ngoại thành có cảnh quan đẹp + Nông nghiệp sinh thái: là nông nghiệp sản xuất sản phẩm sạch không độc hại, không ô nhiễm môi trường

1.1.2.2 Vai trò của nông nghiệp đô thị

Nông nghiệp đô thị khác biệt với nông nghiệp nông thôn (NNNT) đó là sự hòa nhập của nông nghiệp vào hệ thống sinh thái và hệ thống kinh tế đô thị Các mối liên kết

đó bao gồm việc sử dụng các cư dân đô thị như lao động phổ thông, sử dụng các nguồn lực đô thị đặc trưng như rác thải hữu cơ làm phân bón và nước thải đô thị làm tưới tiêu Các mối liên kết trực tiếp tới sự tiêu dùng đô thị, tác động trực tiếp lên sinh thái đô thị

và sự sống còn của hệ thống thực phẩm đô thị Sự cạnh tranh về đất với các chức năng

đô thị khác, đang bị tác động bởi các qui hoạch đô thị và chính sách đô thị [37]

Một số nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh NNĐT là cấu thành quan trọng của hệ thống thực phẩm đô thị NNĐT có thể cải thiện cả số lượng lẫn chất lượng đầu vào của thực phẩm (tiếp cận nguồn chất đạm rẻ đặc biệt kết quả khảo sát của một số

Trang 11

nghiên cứu trên thế giới cho thấy các gia đình nghèo ở đô thị có liên quan tới nông nghiệp ăn tươi hơn các gia đình khác có cùng đặc tính thu nhập) Kết quả như sau:

+ Ở Hà Nội 80% rau sạch, 50% thịt gia súc gia cầm và cá nước ngọt, cũng như 40% trứng bắt nguồn từ vùng đô thị và ven đô [7]

+ Theo điều tra mức sống hộ gia đình năm 2002, tỷ trọng nông nghiệp từ nông, lâm, thủy sản trong tổng thu nhập của hộ gia đình của khu vực thành thị là 6,85% (NN 4,48%; LN 0,16%; TS 2,21%), khu vực nông thôn là 43,28% (NN 35,93%; LN 2,04%;

TS 5,21%) và trung bình cả nước là 28,67% (NN 23,32%; LN 1,28%; TS 4,07%) Tỷ

lệ này thay đổi từ 2,32% ở thành phố HCM đến 5,2% ở Hà Nội, 5,86% ở Đà Nẵng và 19,84% ở Hải Phòng [37] Tuy vậy, nông nghiệp vẫn là một nguồn thu nhập quan trọng cho một bộ phận gia đình, nhất là các hộ gia đình ở vùng ngoại thị và các gia đình nghèo

có điều kiện tiếp cận với các nguồn lực để phát triển nông nghiệp tại các đô thị

+ Theo Lê Văn Trường [17] nông nghiệp đô thị đã đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho một số đô thị sau: nhu cầu lương thực Hà Nội 33%; Hải Phòng 85%;

Đà Nẵng 23%; TP Hồ Chí Minh 10%; Cần Thơ 100% Nhu cầu rau, củ, quả, thực phẩm: Hà Nội 55%; Hải Phòng 65%; Đà Nẵng 30%; TP Hồ Chí Minh 18% và Cần Thơ 70% Nhu cầu thịt gia súc, gia cầm: Hà Nội 25%; Hải Phòng 60%; Đà Nẵng 20%;

TP Hồ Chí Minh 10% và Cần Thơ 70% Nhu cầu cá, tôm: Hà Nội tự túc được 22%; Hải Phòng 70%; Đà Nẵng 100%; TP Hồ Chí Minh 45% và Cần Thơ 80%

Nông nghiệp ở một số đô thị cũng đã tạo ra được một số sản phẩm có giá trị xuất khẩu: nghề nuôi tôm, cá sấu, cây cảnh ở thành phố Hồ Chí Minh; nghề trồng hoa

ở Đà Lạt, chè ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, phục hồi cây làm thuốc ở Lạng Sơn, Cao Bằng, nghề trồng cà phê, điều ở Tây Nguyên; trồng cây ăn quả ở các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long So với khu vực nông thôn, trung bình năng suất cây trồng ở ngoại thị

có năng suất cao hơn từ 30 – 50% nhờ hệ thống hạ tầng nông thôn phát triển

1.1.2.3 Khái niệm về nông nghiệp đô thị sinh thái

Sản xuất nông nghiệp vốn đã mang trong nó bản chất sinh thái, sản xuất nông nghiệp muốn phát triển có hiệu quả và ổn định đương nhiên phải phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, thời tiết, thuỷ văn, môi trường và quần thể sinh vật tạo nên hệ sinh thái nông nghiệp Chính sự phù hợp đó làm cho cây trồng vật nuôi phát huy mọi

ưu thế và tác động lẫn nhau để tồn tại và phát triển, đó là một nền nông nghiệp sinh thái Nhiều học giả cũng cho rằng nông nghiệp sinh thái cũng chính là nông nghiệp bền vững, một nền nông nghiệp sinh thái, hay bền vững đều mang lại hiệu quả kinh tế

và hiệu quả xã hội Nhưng ngược lại, một nền sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao, chưa chắc đã là một nền nông nghiệp sinh thái và bền vững nếu như nó không có tác động đến bảo vệ môi trường sinh thái

Trang 12

Theo Lê Quý Đôn [4] “Nông nghiệp đô thị sinh thái là quá trình sản xuất sản phẩm nông nghiệp từ nguyên liệu, bảo quản, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm phải phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, thuỷ văn, bảo đảm sự cần bằng sinh thái, tạo hiệu quả sản xuất, hiệu quả kinh tế, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng môi trường Quá trình đó được diễn ra ở các vùng xen kẽ hoặc tập trung ở đô thị bao gồm nội đô, giáp ranh và ở ngoại ô”

Khái niệm trên chỉ ra các nội dung chủ yếu sau đây:

- Sản xuất nông nghiệp được bố trí và sản xuất phù hợp với điều kiện của mỗi vùng, tạo ra sự tác động hữu cơ, đảm bảo cân bằng sinh thái, đạt hiệu quả sản xuất cao

- Quá trình sản xuất nông nghiệp trên diễn ra ở vùng xen kẽ, hay tập trung các vùng đô thị bao gồm nội đô, giáp ranh và ngoại ô

- Sản xuất nông nghiệp trên tạo ra mối quan hệ hữu cơ trong ngành và đảm bảo

sự cân bằng sinh thái, tính hiệu quả và bền vững Đồng thời tác động tích cực đến cải tạo môi trường sinh thái của vùng đô thị

- Sản xuất nông nghiệp tạo ra sản phẩm chất lượng cao, đảm bảo an toàn thực phẩm, giữ gìn sức khoẻ và nhu cầu cho người tiêu dùng

Theo Vũ Xuân Đề [3] ''Nông nghiệp sinh thái đô thị là nông nghiệp phát triển trên vùng đô thị hoặc gần vùng đô thị Nó phải thích ứng với hoàn cảnh sinh thái đô thị

và phát huy các lợi thế của điều kiện vật chất – kỹ thuật đô thị để ngày càng hoàn thiện các chức năng sinh thái mà nó tham gia vào các chu trình cân bằng và chức năng cung ứng một cách tương thích, nhằm thỏa mãn các nhu cầu thị trường đô thị không chỉ là những nông sản hàng hóa sạch, chất lượng cao và đa dạng, mà còn là các sản phẩm văn hóa, tinh thần và đáp ứng nhu cầu nghỉ dưỡng của thị dân.''

Theo khái niệm này, nội dung và ý nghĩa của nông nghiệp sinh thái đô thị đã được đề cập một cách khá toàn diện và sát với thực tiễn Không gian phân bố của nó cũng sẽ thích ứng với từng điều kiện cụ thể về quy mô đất đai ở đô thị và xét trên bình diện rộng, nó đảm bảo được sự kết nối hài hòa giữa hệ sinh thái đô thị với các hệ sinh thái tự nhiên và nông thôn Nông nghiệp sinh thái đô thị khai thác hợp lý tiềm năng cảnh quan thiên nhiên và nhân tạo để phát triển đa dạng Nông nghiệp sinh thái đô thị

sử dụng cao hàm lượng khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm phù hợp với thị trường đô thị và giữ gìn tốt môi trường sinh thái – sản xuất sạch, không làm thoái hóa đất bằng thay thế các kỹ thuật phân bón và nông dược…; phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng phù hợp với phương thức sản xuất nông nghiệp hiện đại Từ đó, trình độ quản lý, tổ chức sản xuất và am hiểu khoa học –

kỹ thuật và công nghệ trong canh tác của nông dân, ngày càng nâng cao và dân trí

Trang 13

cũng tương ứng với mặt bằng dân trí đô thị; đảm bảo việc làm ổn định cho nông dân trong quá trình CNH, ĐTH và có cơ sở để nâng cao thu nhập tương ứng với thị dân…

Theo Phạm Văn Khôi [8] “Nông nghiệp đô thị bền vững là một nền nông

nghiệp bền vững trong thành phố, thị trấn hoặc các khu đô thị Đây là nền nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản, phát triển dịch vụ nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của con người cả về vật chất lẫn tinh thần trên cơ sở áp dụng các phương pháp sản xuất khoa học, các mô hình sử dụng

và tái tạo nguồn lực nhằm đạt tới sự phát triển bền vững môi trường sinh thái trong các

khu đô thị”

Như vậy, có thể hiểu nông nghiệp đô thị sinh thái là sự kết hợp hai khái niệm nông nghiệp đô thị và nông nghiệp theo hướng sinh thái Nông nghiệp đô thị là nền nông nghiệp sản xuất các nông sản hàng hóa dựa vào diện tích đất và diện tích mặt nước có trong các khu đô thị và vùng ngoại ô Nông nghiệp theo hướng sinh thái là nền nông nghiệp dựa trên phương thức sản xuất áp dụng công nghệ cao, công nghệ sạch và công nghệ sinh học để nâng cao năng suất, độ an toàn và sự bền vững về môi trường sinh thái

Từ các khái niệm trên, có thể đưa ra khái niệm về nông nghiệp đô thị sinh thái như sau: Nông nghiệp đô thị sinh thái là nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao với những tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, đảm bảo được cân bằng của các yếu tố tự nhiên như: đất, nước, nhiệt độ, độ ẩm, có vai trò quan trọng để hạn chế những tác động của quá trình đô thị hoá

Như vậy, nông nghiệp đô thị sinh thái là nền nông nghiệp không chỉ cung cấp cho thị trường những nông sản thông thường, mà còn cả những nông sản cao cấp và những nông sản đáp ứng nhu cầu về tinh thần của người dân đô thị như: Cải thiện môi trường sống, điều hoà khí hậu, làm đẹp cảnh quan Những sản phẩm này sẽ ngày càng được coi trọng hơn trong quá trình đô thị hoá khi mà dân trí và điều kiện vật chất của người dân ngày càng được nâng cao

1.1.2.4 Đặc điểm của nông nghiệp đô thị sinh thái

Phát triển nông nghiệp ven đô với mục đích đầu tiên là phát triển nông thôn ven

đô chứ không phải là để thoả mãn nhu cầu của đô thị Vì vậy, cần phải hiểu đặc trưng của nông thôn ven đô, trước khi hiểu nông nghiệp đô thị sinh thái Nông thôn ven đô thường có các đặc điểm sau [17]:

- Có sự gia tăng mạnh về dân số, đặc biệt là sự gia tăng cơ học: dân số ven đô

luôn được bổ xung bởi sự di cư từ nội thành ra và từ các nơi khác đến Kết quả là tồn tại một xã hội nông thôn ven đô đa dạng cả về dân số và nghề nghiệp…Rất nhiều người sống ở nông thôn ven đô bị tách biệt giữa nơi ở và nơi làm việc, các hoạt động

Trang 14

phi nông nghiệp cạnh tranh về lao động khá lớn với nông nghiệp và nó thu hút đặc biệt

là lực lượng lao động trẻ Cơ sở hạ tầng nông thôn khá tốt, nhưng đôi khi không gian nông thôn bị chia cắt, gây khó khăn cho sinh hoạt và lao động của người dân

- Tình trạng sản xuất nông nghiệp không ổn định do ngày càng có sự mở rộng các vành đai đô thị ra bên ngoài: tốc độ đô thị hoá, khả năng quy hoạch đô thị, chính

sách và khả năng kiểm soát sự phát triển đô thị ảnh hưởng mạnh đến tính ổn định của nông nghiệp ven đô Đất đai nông nghiệp có xu thế giảm mạnh, nông nghiệp ảnh hưởng nhiều của sự ô nhiễm đô thị Các thành phố càng phát triển càng tồn tại nhiều các hộ nông dân sản xuất quy mô nhỏ, do đất đai ngày một đắt và bị mất đất vì đô thị hoá

- Nông nghiệp ven đô có nhiều lợi thế về thị trường: tận dụng lợi thế gần thành

phố, nông nghiệp ven đô thường phát triển sản xuất các sản phẩm tươi sống, rau, sữa, quả… tạo ra nền nông nghiệp khác biệt với đặc điểm thông thường của nó Đó là nông nghiệp không (hoặc ít) mang tính mùa vụ Tuy nhiên, sản phẩm đặc sản của một số vùng nhỏ ven đô vẫn có thể tồn tại và phát triển nhờ thị trường tiêu thụ luôn mở rộng Các sản phẩm đặc biệt khác như hoa, cây cảnh cũng có cơ hội phát triển

- Nông nghiệp sinh thái làm cho năng suất thấp hơn: ngô 10%, đậu 5%…, so

với nông nghiệp thường Trong điều kiện thuận lợi nông nghiệp sinh thái cho năng suất thấp hơn nông nghiệp thường; Nhưng trong điều kiện không thuận lợi nông nghiệp sinh thái cho năng suất cao hơn Khoảng sau 3 - 4 năm luân canh, nông nghiệp sinh thái có năng suất tăng lên rõ rệt

- Nhu cầu lao động trong nông nghiệp sinh thái có phần cao hơn so với nông nghiệp thường: nông nghiệp sinh thái đi đôi với việc giữ gìn đa dạng sinh học ở các

cửa hàng ta thấy có các loài và giống cây trồng hiện nay đã biến mất trên thị trường như các loại ngũ cốc: kê, ý dĩ; các loại củ như: từ, môn, củ mài và các loại rau, quả tự nhiên, các loại thịt lợn rừng, gà rừng …Vì vậy, do yêu cầu của thị trường về chất lượng sản phẩm nông nghiệp sinh học, nông nghiệp sinh thái và nông nghiệp công nghệ cao có nhiều cơ hội phát triển

1.1.2.5 Mục đích, mục tiêu phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái

- Nông nghiệp đô thị phát triển theo hướng tiên tiến hiện đại đáp ứng nhu cầu

về văn hoá - xã hội của dân cư thành phố

Trang 15

2 Mục tiêu

- Hình thành vùng sản suất nông nghiệp tập trung chất lượng cao với các loại rau cao cấp, cây ăn quả có chất lượng;

- Hình thành các vùng nông nghiệp đô thị sinh thái bền vững, kết hợp phát triển

du lịch dịch vụ thăm quan giải trí phục vụ nhu cầu đa dạng của người dân thành phố và các vùng phụ cận;

- Giải quyết lao động dôi dư cho các phường, xã có đất nông nghiệp bị thu hồi

và các phường, xã, các vùng phụ cận góp phần ổn định chính trị xã hội nâng cao mức sống và thu nhập cho cộng đồng dân cư

- Bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn và phát triển một số giống cây ăn quả,

cây cảnh quý hiếm

1.1.2.6 Các tiêu chí của nông nghiệp đô thị sinh thái [3]

- Đối tượng sản xuất chính là những cây, con có giá trị kinh tế, đáp ứng nhu cầu

đa dạng của thành phố, của thị trường, thích nghi và phù hợp với điều kiện tự nhiên ở từng vừng sinh thái đô thị

- Cơ cấu sản xuất và cấu trúc không gian của mô hình đảm bảo hài hòa hiệu quả kinh tế và tác dụng cảnh quan, môi trường sinh thái phù hợp với phân khu chức năng sinh thái đô thị

- Có hàm lượng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiến bộ được ứng dụng tốt, thể hiện trên các mô hình qua các công đoạn cơ bản trong chu trình sản xuất và tương ứng cho ra những sản phẩm chủ yếu có năng suất và chất lượng cao phù hợp với nhu cầu thị trường đô thị, đảm bảo an toàn vệ sinh, bảo vệ tài nguyên và môi trường sống

- Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật phát triển đồng bộ và từng bước hiện đại hóa được sử dụng tốt vào sản xuất và dịch vụ, trước hết là các khâu điện lực, thủy lợi và giao thông

- Trình độ quản lý, tay nghề sản xuất và dịch vụ phù hợp với công nghệ mới hiện đại và ứng dụng thành các kinh nghiệm truyền thống

- Sản phẩm từ các mô hình nông nghiệp sinh thái đô thị phải mang đậm nét văn hóa, các khía cạnh đặc trưng của sinh thái nhân văn

- Nơi ăn chốn ở sạch đẹp, phong cách sống văn minh, lịch sự

1.2 MỘT SỐ MÔ HÌNH NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG ĐÔ THỊ SINH THÁI 1.2.1 Các mô hình nông nghiệp đô thị sinh thái

Các nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước đã tổng kết lý thuyết và thực tế

về phát triển nông nghiệp sinh thái và đưa ra một số mô hình cơ bản sau [12]:

- Mô hình sản xuất và cung cấp thực phẩm tươi sống cao cấp: Mô hình này bao

gồm các loại rau ngon, rau thơm, thịt, cá, trứng và các sản phẩm đặc sản với chất

Trang 16

lượng cao Mô hình này được quy hoạch phát triển từng loại trên những vùng đất và môi trường thích hợp Cần cải tạo đồng ruộng và xây dựng chuồng trại theo yêu cầu quy trình kỹ thuật thâm canh, thực hiện công nghệ tiên tiến, lấy công nghệ sinh học làm trọng tâm Việc tổ chức và quản lý sản xuất cung ứng sản phẩm phải đảm bảo chất lượng sản phẩm và môi trường

- Mô hình nông nghiệp hoa, sinh vật cảnh: Đây là mô hình mang tính văn hóa

và sinh thái cao Giá trị sản phẩm của loại hình này phụ thuộc vào mức độ tươi, đẹp lâu, quý hiếm, dáng thế và gắn với các điển tích lịch sử…Hoạt động đòi hỏi con mắt thẩm mĩ và bàn tay kheo léo, tinh xảo, am hiểu sinh vật, giàu lòng yêu nghệ thuật và tính cần cù, nhẫn nại Kinh doanh loại hình nông nghiệp này đòi hỏi kết hợp công nghệ sinh học với nghệ thuật thiết kế, tạo hình tinh tế, tổ chức liên kết nông trại sinh vật cảnh của các nghệ nhân với các công ty kinh doanh giỏi, hình thành ngành hàng cung ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu

- Mô hình nông nghiệp du lịch picnic, cắm trại trong ngày nghỉ cuối tuần: Đây

là mô hình thường thấy ở ven đô, trên vùng trồng cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm hay trồng rừng bảo hộ ven sông hồ Với những bãi đất rộng, không khí trong lành, người dân thành phố có thể cắm trại qua đêm và tổ chức các hoạt động vui chơi như bơi lội, leo núi và các hoạt động thể dục thể thao khác…nông nghiệp du lịch này mang tính tổng hợp rất cao Quy mô vùng nông nghiệp nghỉ ngơi cuối tuần nhỏ và đơn giản hơn so với các vùng du lịch và an dưỡng lớn Tuy nhiên, việc quy hoạch, xây dựng và quản lý hoạt động ở những vùng này cũng phải dựa trên cơ sở kết hợp kiến thức nông nghiệp bền vững với kiến thức về dịch vụ du lịch – sinh thái Mô hình kinh doanh thích hợp ở đây là doanh nghiệp nông nghiệp dịch vụ cuối tuần ở ngoại ô

- Mô hình nông nghiệp sinh thái bảo hộ: Đây là loại hình nông nghiệp sinh thái

ven đô cần thiết và quan trọng đối với thành phố Cùng với quá trình mở rộng thành phố, các vành đai cây xanh chắn gió, bão, cát bụi cần phải được mọc lên dầy hơn để làm tăng diện tích “lá phổi xanh” lọc không khí cho thành phố Trong điều kiện sinh thái, mô hình này đã được phát triển xen ghép các loại cây, con đặc sản dưới tán rừng như cây thuốc, động vật hoang dã và các loại nấm ăn mà không ảnh hưởng tới sự ổn định và bền vững của rừng bảo hộ

- Mô hình trồng cây ăn quả kết hợp chăn nuôi, chăn thả cùng đồi núi: Mô hình

này thường thấy ở các vùng sinh thái đồi núi, có bãi đất rộng và đồng cỏ, hoặc những vùng đất đồi cao Trong điều kiện đô thị hóa và phát triển kinh tế, giá đất ngoại ô tăng nhanh chóng, các nhà đầu tư và những người dân đô thị có nhu cầu mua các khu đất ngoại ô này để đầu tư kinh doanh hoặc xây dựng thành các trạng trại sinh thái đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi cuối tuần Khi đó, các trang trại trồng cây ăn quả kết hợp chăn nuôi,

Trang 17

chăn thả có thể thuộc quyền sở hữu và quản lý của các cá nhân và các hộ gia đình Tuy nhiên, ở nhiều trang trại trên thế giới, trong điều kiện người nông dân phải đi thuê đất,

họ thường gặp phải rủi ro về thời hạn thuê quá ngắn, không đủ để thu hồi vốn đầu tư

Do vậy, vấn đề giao quyền sử dụng đất lâu dài, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng là rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế sinh thái ở vùng đồi núi

1.2.2 Hiệu quả một số mô hình nông nghiệp đô thị sinh thái

- Nông nghiệp Hà Nội đã chuyển hướng sang sản xuất nông sản, thực phẩm có chất lượng cao phục vụ nhu cầu đô thị và bảo vệ môi trường So với năm 2000, năm

2005 diện tích lúa giảm 10.162 ha, diện tích rau màu tăng 3.500 ha, diện tích cây ăn quả tăng trên 700 ha…Chăn nuôi đang phát triển mạnh sản phẩm có chất lượng cao: Lợn hướng nạc đạt 14.000 con, tăng 60% so với năm 2000, nhiều giống gia cầm có chất lượng cao như: Ngan Pháp, gà thả vườn được đưa vào sản xuất [1] Một số mô hình trồng cây ăn quả, nuôi trông thuỷ sản gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, tôn tạo cảnh quan, kết hợp với dịch vụ du lịch sinh thái để nâng cao hiệu quả kinh tế, đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí của nhân dân Hà Nội phấn đấu đến năm 2010 tăng diện tích nuôi thủy sản lên khoảng 4.000 ha, sản lượng cá nuôi là 20.000 tấn [14]

- Thực tế chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ theo hướng sinh thái có thể được coi là tiên phong cho các vùng nông nghiệp khác trong cả nước ứng dụng, trong đó có nông nghiệp ngoại thành Huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định đã mạnh dạn đưa các mô hình sản xuất, thâm canh tiên tiến vào sản xuất nhằm dịch chuyển cơ cấu cây trồng và

cơ cấu mùa vụ Mô hình thay đổi công thức luân canh tập trung trên các loại đất chủ yếu như mô hình chuyển đổi cấy hai vụ lúa ở chân ruộng trũng sang mô hình một vụ lúa xuân – thả cá vụ mùa Kết quả thu nhập hỗn hợp của hai sản phẩm tăng hơn sản xuất thuần lúa trên 20,5% Mô hình chuyển đổi đất 2 màu – 1 lúa sang đất chuyên màu cho giá trị sản lượng tăng 26,1%, hay mô hình chuyển đất 2 luá - 1 màu sang đất 2 màu – 1 lúa cũng làm tăng giá trị sản lượng lên 25% Sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng như trên không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao hơn mà còn làm tăng độ phì của đất, duy trì sự phát triển bền vững của sản xuất nông nghiệp [8]

- Mô hình trồng lúa đạt hiệu quả cao, bền vững ở nông trường Sông Hậu, nông trường Cờ Đỏ (thành phố Cần Thơ), đã đưa ra những biện pháp nhằm giảm chi phí sản xuất bằng cách tiếp cận theo hướng bền vững trên cơ sở sử dụng giống xác nhận (giống chuẩn) tăng năng suất 5 - 7%, áp dụng máy sạ hàng, lượng lúa giống giảm 80 – 100kg/ha, do gICo thưa năng suất cây trồng tăng 5 – 10%, áp dụng biện pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp (IPM), bón phân đạm đảm bảo theo bảng so màu lá lúa, tiết kiệm khoảng 100.000đ/ha, dùng thuốc trừ cỏ, áp dụng kĩ thuật làm đất trục đánh bùn,

Trang 18

san bằng mặt ruộng, dùng nước ép cỏ và dùng máy sấy lúa Mô hình này cho phép giảm chi phí 20 – 30 lần [8]

- Mô hình tổng hợp theo thiết kế của nông trường Sông Hậu (Cần Thơ) gồm lúa đông xuân và lúa hè thu, xoài được trồng trên bờ ao, cá nuôi trong mương và ruộng lúa, kết hợp nuôi lợn đã cho lợi nhuận đạt 12 triệu đồng/ha, gấp hơn 6 lần so với mô hình chỉ trồng lúa Mô hình lúa – tôm nước lợ ở Sóc Trăng, mô hình lúa – tôm nước ngọt (lúa đông xuân – hè thu – tôm) ở An Giang đều cho hiệu quả cao Đây là các mô hình canh tác đa dạng, đạt hiệu quả cao và bền vững và có thể áp dụng rộng rãi cho nông nghiệp ngoại ô vùng Đồng bằng Sông Cửu Long [8]

Ngoài những mô hình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng phát triển nông nghiệp kết hợp trên những vùng địa lý, sinh thái cụ thể, còn có rất nhiều mô hình phát triển dựa vào các yếu tố kỹ thuật truyền thống kết hợp hiện đại khác được tìm thấy ở các vùng ngoại thành cũng như ở nhiều địa phương khác trên cả nước như

mô hình sử dụng phân hữu cơ trong sản xuất rau sạch, phân vi sinh trong sản xuất lúa

ở Hà Nội, sử dụng chế phẩm EM (hỗn hợp vi sinh vật hữu hiệu) trong chăn nuôi, trồng trọt, xử lý phế thải, chống đất bạc màu ở Hà Nội, Thái Bình, Hải Phòng, Hà Nam, Tiền Giang [8] Các mô hình này đang phát huy được hiệu quả kinh tế cao và đảm bảo được

an toàn môi trường sinh thái

1.2.3 Hiệu quả kinh tế của nông nghiệp sinh thái so với nông nghiệp khác

Mặc dù nông nghiệp sinh thái đang là mục tiêu hướng tới của hầu hết các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, xét về năng suất và lợi nhuận thu được về kinh tế của nông nghiệp sinh thái có thấp hơn so với nông nghiệp truyền thống và nông nghiệp tổng hợp

Năm 1979 ở Nagele miền Đông bắc Hà lan, Bộ Nông nghiệp Hà lan đã xây dựng trang trại Nagele gồm 3 hệ thống canh tác khác nhau: sinh thái, tổng hợp và truyền thống Hệ sinh thái được thiết lập trên 22 ha, không dùng bất cứ một loại nông dược nào mà chỉ bón phân hữu cơ bắt nguồn từ nông trại Khác với các hệ truyền thống và tổng hợp, luân canh ở đây được trải ra trên 11 năm [31] Kết quả so sánh về năng suất thể hiện tại bảng 1 và hiệu quả kinh tế thể hiện tại bảng 1.2

Qua số liệu tại bảng 1.2 cho thấy: phí lao động của hệ sinh thái cao hơn phí của

hệ truyền thống và hệ tổng hợp là 2,64 lần và tổng thu nhập tương ứng cao hơn hệ truyền thống là 1,63 lần và hệ tổng hợp là 1,74 lần, tổng chi phí của hệ sinh thái cao hơn hệ truyền thống 1,73 lần và cao hơn hệ tổng hợp là 1,82 lần Tuy nhiên, xét về lãi thực thì hệ sinh thái lỗ cao hơn hệ truyền thống và hệ tổng hợp là 2,01 lần và 2,02 lần

Trang 19

Bảng 1.1: Năng suất ở nông trại Nagele từ 1985 đến 1990 (tấn/ha)

Loại cây trồng Hệ truyền thống Hệ tổng hợp Hệ sinh thái

Nguồn: Nông nghiệp sạch (nông nghiệp sinh thái) [31]

Bảng 1.2: Hiệu quả kinh tế trên mỗi ha tính bằng frăng từ 1986 đến 1988 ở

Nông trại Ngele

truyền thống

Hệ tổng hợp

Hệ sinh thái

Nguồn: Nông nghiệp sạch (nông nghiệp sinh thái) [31]

1.3 KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ SINH THÁI

1.3.1 Kinh nghiệm trên thế giới

- Thái Lan:

Thái Lan là nước phát triển mạnh về nông nghiệp, cách đây 40 năm, Thái Lan

có xuất phát điểm tương đối thấp, chỉ gần bằng hoặc thấp hơn miền Nam Việt Nam

Trang 20

Những năm qua, kinh tế nông nghiệp Thái Lan phát triển mạnh Tốc độ tăng trưởng GDP nông nghiệp tăng bình quân hàng năm là 3,1%/năm Năng suất lao động nông nghiệp giai đoạn 1995 – 1997 là 928 USD, tăng gấp 4,1 lần so với Việt Nam (226 USD) [20]

Sự phát triển bùng nổ của kinh tế Thái Lan trong các thập kỷ 70 và 80 được thể hiện rõ nét qua quá trình đô thị hóa và phát triển nông nghiệp ven đô ở Bangkok Quá trình đô thị hóa đã làm dân số Bangkok tăng lên 41% [20] Các hoạt động công nghiệp

và dịch vụ phát triển mạnh và tập trung ở trong vùng Bangkok và ngoại vi của nó Các hoạt động nông nghiệp bị đẩy ra các vùng xa bên ngoài và hình thành nên những vùng sản xuất tập trung, chuyên môn hóa với các sản phẩm chính là lúa gạo để phục vụ cho chiến lược hướng vào xuất khẩu, và các sản phẩm rau quả đa dạng phục vụ nhu cầu tiêu dùng cho dân cư đô thị

Giống như các đô thị khác trên thế giới, đô thị hóa ở Bangkok làm tăng vọt nhu cầu dân cư về lương thực, thực phẩm, đặc biệt là nhu cầu về các loại rau xanh và thực phẩm cao cấp, an toàn cũng như nhu cầu về nghỉ ngơi, giải trí cuối tuần ở các ngoại ô Giá đất ngoại ô Bangkok tăng vọt và hiện tượng đầu cơ ruộng đất phát triển Đô thị hóa nhanh cũng kéo theo sự ô nhiễm nặng nề về môi trường càng đòi hỏi nông nghiệp Bangkok phải làm tốt vai trò của mình để đáp ứng nhu cầu cho dân cư đô thị và điều tiết môi trường Để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình đô thị hóa, sau một thế kỉ tập trung vào thâm canh lúa (1880 - 1980), nông nghiệp ven đô Bangkok chuyển sang đa dạng hóa sản phẩm từ sau 1980 [21]

Bên cạnh phát triển rau quả ở ngoại thành, Thái Lan còn rất nổi tiếng trong phát triển các mô hình nông nghiệp kết hợp nhằm đa dạng hóa sản phẩm và cải tạo đất đai, nguồn lực Một trong các mô hình nông nghiệp kết hợp được phát triển ở tỉnh Sisaket

ở phía đông bắc Thái Lan là mô hình lúa – cá [39], được xây dựng theo kiểu đa dạng như các ao nuôi cá nhỏ định vị bên trong hoặc bên cạnh các cánh đồng lúa, các lồng nuôi cá được đặt trong các ao lớn hoặc các cánh đồng lúa và cá được thả cùng nhau và được cung cấp đủ nước vào mùa khô

Như vậy, sản xuất nông nghiệp Thái Lan nói chung và thủ đô Bangkok nói riêng đã đạt được những thành quả to lớn không chỉ về tốc độ tăng trưởng sản xuất nông nghiệp mà còn về chất lượng sản phẩm và mức độ đáp ứng nhu cầu của người dân cả về vật chất lẫn cảnh quan môi trường Lý do dẫn đến sự thành công của Thái Lan là đã biết giải quyết tốt quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu, kết hợp với thúc đẩy, đa dạng hóa sản phẩm, nhằm giải quyết tốt những vấn đề của nông nghiệp ven đô Các yếu tố quan trọng nhất góp phần đạt được các kết quả trên là sự phát triển của cơ sở hạ tầng, sự tiếp cận dễ dàng về tín dụng đối

Trang 21

với các hộ nông dân, chính sách khuyến nông cho phép dễ tiếp cận các tiến bộ kĩ thuật mới và chính sách phát triển quan hệ cộng đồng giữa các công ty chế biến và nông dân nhằm tạo đầu ra cho nông sản Vai trò của nhà nước cũng rất quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện chính sách quy hoạch đất đai, điều tiết giá cả, giải quyết các vấn đề môi trường và tư vấn, tạo khung pháp lý cho phát triển nông nghiệp [21], [39]

- Trung Quốc:

Trung Quốc là nước có sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp rất mạnh mẽ gắn liền với cải cách kinh tế Trung Quốc thực hiện các chính sách cải cách trong nông nghiệp như chính sách khoán hộ, tách quyền sở hữu ruộng đất với quyền kinh doanh, xóa bỏ chế độ nhà nước độc quyền thu mua nông sản, thực hiện chính sách hai giá, khuyến khích các doanh nghiệp tăng sản lượng để bán ra thị trường, cải cách chế độ thuế để chia sẻ thu nhập giữa trung ương và địa phương, cải cách pháp lý để tạo điều kiện cho kinh tế thị trường phát triển…Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp Trung Quốc: tỷ lệ ngành trồng trọt giảm từ 80% năm 1968 xuống 55% năm

2001, chăn nuôi tăng từ 15% đến 30%, thủy sản tăng từ 2% đến 11% [1]

Gần đây, tại các đô thị Trung Quốc, xu thế chuyển đất canh tác thành vườn cây lâu năm và ao cá khá phát triển, ao chiếm khoảng 3,5% và vườn chiếm khoảng 4,5% diện tích đất nông nghiệp đô thị Tổng cộng ao, vườn chiếm 11% diện tích đất ở các đô thị cấp I, 1,7% diện tích ở các đô thị cấp II và 5,4% diện tích trong vùng nông thôn [21] Vai trò vườn và cao hồ khá quan trọng trong nông nghiệp đô thị Trung Quốc vì khả năng cho thu nhập cao trên đơn vị diện tích so với cây lương thực Rau trong nông nghiệp đô thị cũng chiếm một tỷ lệ diện tích khá lớn, sử dụng lao động thâm canh và

đã cho năng suất cao hơn so với các cây trồng khác Về quy mô nông hộ, trong cùng

đô thị trung bình một hộ có 0,27 ha trong khi đó ở nông thôn là 0,4 ha Ở Trung Quốc

từ những năm 1970 đã tồn tại các hình thức đơn vị sản xuất theo kiểu nông hộ và phi nông hộ Trong vùng đô thị, hình thức nông hộ đóng vai trò quan trọng hơn, sử dụng lao động cũng thâm canh hơn và có xen kẽ với các hoạt động phi nông nghiệp nên kết quả và giá trị sản phẩm trên một ha của vùng đô thị cao hơn 60% so với vùng nông thôn [34] Trong điều kiện Trung Quốc tham gia WTO thì lợi thế so sánh của Trung Quốc sẽ là các sản phẩm cần nhiều lao động như rau xanh, nuôi trồng thủy sản và các hoạt động trong nhà lưới Cây ăn quả cũng được phát triển mạnh ở các vùng quanh đô thị, tạo những vành đai xanh cho các thành phố sinh thái

Trang 22

nay, dân số đô thị ở Mỹ đã chiếm khoảng 80% [36] Khi dân số đô thị tăng lên cùng với quá trình đô thị hóa, sản xuất nông nghiệp gặp phải những thách thức của an ninh lương thực, chi phí môi trường và sức khỏe cộng đồng An ninh lương thực đòi hỏi phải thỏa mãn đầy đủ và kịp thời số lượng lương thực, có chất lượng và thành phần dinh dưỡng cho nhu cầu của 80% dân số đô thị Chi phí môi trường bao gồm chi phí của ô nhiễm không khí, nhiễm độc nguồn nước ngầm và nước bề mặt, xói mòn đất đai, suy giảm đa dạng sinh học đã ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng Một trong các vấn đề nông nghiệp Mỹ phải giải quyết là đảm bảo cung cấp đủ lương thực để giải quyết nạn đói cho 12,4% dân số vào năm 2020 [36]

Theo số liệu của Ủy ban Nông nghiệp đô thị Bắc Mỹ năm 2003, dự án “vườn cho người nghèo” ở Santa Cruz, California đã đóng góp 55% sản lượng các sản phẩm nông nghiệp đô thị và quản lý thành công chương trình sản xuất hoa tươi bằng phương pháp hữu cơ Chất thải đô thị được tái sinh thành phân bón cho các vườn đô thị, vùng ven đô

và thức ăn cho chăn nuôi Các vườn cây ăn quả và hệ thống cây xanh tạo thành vành đai xanh điều hòa khí hậu cho thành phố Các sản phẩm chính được sản xuất ở đô thị và ven

đô các thành phố bao gồm rau, hoa quả và bơ sữa, trong đó hoa quả chiếm 79%, rau tươi chiếm 68%, bơ sữa chiếm 52% vo với tổng sản lượng trên toàn quốc [36]

Một nghiên cứu điển hình ở Bắc Mỹ về mô hình phát triển nông nghiệp đô thị

đã gắn kết lợi nhuận sản xuất nông nghiệp với chiến lược sử dụng ruộng đất, phân vùng nông nghiệp và bảo vệ môi trường là mô hình vành đai xanh – Greebelt của Boal [20] Theo Boal, có thể hình thành ba vành đai khác nhau đối với nông nghiệp đô thị Vành đai thứ nhất tại trung tâm thành phố, đất đai đã quy hoạch ổn định, nông nghiệp đạt được mức lợi nhuận ổn định do có nhiều lợi thế thị trường Vành đai thứ hai cận kề ngoại ô, quy hoạch đất đai chưa ổn định, lợi nhuận sản xuât nông nghiệp thấp do nông dân không muốn đầu tư mà trông chờ vào sự tăng giá đất do chuyển mục đích sử dụng Vành đai thứ ba ở ngoài cùng xa thành phố, nông nghiệp đạt lợi nhuận rất cao trên đơn

vị diện tích Và tác giả cho rằng, công tác quy hoạch và phân vùng nông nghiệp để sử dụng hợp lý tài nguyên là rất quan trọng cho nông nghiệp đô thị và ven đô trong quá trình đô thị hóa để kết hợp giải quyết vấn đề an ninh lương thực và bảo vệ môi trường

Tóm lại, các quốc gia Thái Lan, Trung Quốc, Mỹ đã rất thành công với việc quy hoạch và phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái, các mô hình đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, giải quyết công ăn việc làm, vấn đề ô nhiễm môi trường đã được giảm thiếu, đặc biệt là các sản phẩm sạch của nông nghiệp đô thị sinh thái đã một phần đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt của một bộ phận lớn dân cư đô thị Điều đó khẳng định, hướng đi đúng đắn trong việc chuyển đổi và hoạch định ra các chính sách ưu tiên phát triển nông nghiệp của Chính phủ các nước

Trang 23

1.3.2 Kinh nghiệm trong nước

Các nghiên cứu về nông nghiệp đô thị cũng đã được chú ý bắt đầu từ những năm thập kỷ 90 của thế kỷ XX Các nhà khoa học về nông nghiệp của Viện KHKTNN Việt Nam, Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội, Trường Đại học kinh tế quốc dân, Viện Di truyền nông nghiệp đã tiến hành một số nội dung nghiên cứu về nông nghiệp sinh thái bền vững, nông nghiệp đô thị và nông nghiệp đô thị sinh thái nhằm góp phần phát triển nông nghiệp của các thành phố lớn theo hướng hiện đại, bền vững

Các thành phố lớn như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt đều có xây dựng phát triển nông nghiệp đô thị, nhưng chưa được quy hoạch cụ thể, tuỳ theo điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội của từng vùng mà nông nghiệp đô thị mỗi nơi có những nét khác nhau [6]

Ở vị trí trung tâm kinh tế khu vực đồng bằng sông Hồng, là đầu mối giao thông, giao lưu hàng hóa, Hà Nội có nhiều tiềm năng để phát triển nền nông nghiệp đô thị sinh thái Nông nghiệp đã bước đầu phát triển theo hướng đô thị sinh thái được áp dụng khoa học công nghệ cao, sạch trong sản xuất giống cây trồng vật nuôi Trồng rau, hoa trong nhà kính, nhà lưới, sản xuất rau an toàn Trước tốc độ đô thị hóa, diện tích đất nông nghiệp giảm dần, ngành nông nghiệp Hà Nội đã có những bước đi cụ thể, phù hợp nhằm phát huy lợi thế của mình Nghị quyết đại hội lần thứ XIII đảng bộ thành phố và Chương trình 12 của Thành ủy Hà Nội về "phát triển kinh tế ngoại thành và từng bước hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn" [23] đang tạo ra một luồng gió mới, thúc đẩy sự chuyển mình của nông nghiệp thủ đô trên con đường CNH – HĐH, tạo lập

sự liên kết hiệu quả giữa Hà Nội với kinh tế vùng trọng điểm phía Bắc và cả nước Nông nghiệp Hà Nội tập trung vào ứng dụng công nghệ cao, kỹ thuật tiên tiến thúc đẩy năng suất, sản xuất giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao và thực phẩm sạch cung cấp cho thủ đô và xuất khẩu

Dựa trên quy hoạch không gian về sử dụng đất đai, đến năm 2010, diện tích đất nông nghiệp chỉ còn khoảng 31-32 nghìn ha (giảm 11 nghìn ha) Chính vì vậy, thành phố đã xây dựng những chương trình nông nghiệp trọng điểm, tập trung chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng "ba cây, ba con", gồm rau, hoa, quả, bò sữa, lợn hướng nạc

và thủy sản Đến nay, "vành đai" thực phẩm thủ đô bước đầu hình thành sáu vùng chuyên canh: vùng trồng hoa 500 ha ở Tây Tựu (Từ Liêm); vùng rau sạch 2.000 ha ở các xã Vân Nội (Đông Anh), Văn Đức, Đặng Xá (Gia Lâm); vùng cây ăn quả kết hợp

du lịch sinh thái ở Từ Liêm, Sóc Sơn; vùng lợn hướng nạc ở Đông Anh; vùng bò sữa ở dọc hai bên bờ sông Hồng, sông Đuống, sông Cà Lồ (thuộc Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì, Sóc Sơn); vùng nuôi trồng thủy sản ở xã Đông Mỹ, Đại Áng (Thanh Trì), Đông Anh [23]

Trang 24

Năm 2003, đề tài khoa học “Cơ sở khoa học để phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái và hiện đại hóa nông thôn Hà Nội giai đoạn 2006 - 2010” [4] bắt đầu được nghiên cứu do Phó chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Lê Quý Đôn là chủ nhiệm đề tài Đề tài đã xây dựng được các luận cứ khoa học, đề xuất định hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp Hà Nội theo hướng đô thị sinh thái và hiện đại hóa nông thôn giai đoạn 2006 – 2010

Đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu các mô hình nông nghiệp sinh thái phù hợp trong tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa và đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí Minh” [2] do PGS.TS Vũ Xuân Đề làm chủ đề tài Đề tài nghiên cứu đã làm rõ một số khái niệm về nông nghiệp sinh thái đô thị và những vấn đề có liên quan, đồng thời đánh giá thực trạng các mô hình sản xuất nông nghiệp của thành phố theo hướng sinh thái và đưa ra các giải pháp phù hợp để phát triển các mô hình đó

Năm 2001, UBND thành phố Hà Nội đã giao cho khoa Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trường Đại học Kinh tế Quốc dân chủ trì đề tài: “Nghiên cứu cơ

sở khoa học để xác định nội dung, tiêu chí và các giải pháp phát triển nông nghiệp ngoại thành theo hướng nông nghiệp sinh thái ” Thông qua kết quả nghiên cứu nhóm tác giả đã xuất bản cuốn sách chuyên khảo “Phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái” [8] do PGS.TS Phạm Văn Khôi chủ biên, Nhà xuất bản Nông nghiệp ấn hành năm 2004 Nội dung của cuốn sách cho thấy hiện trạng sản xuất nông nghiệp của ngoại thành Hà Nội bước đầu đã tiếp cận đến các tiêu chí của nông nghiệp sinh thái, những khó khăn cần tháo gỡ về kinh tế, kỹ thuật để có thể đạt tới các tiêu chí nông nghiệp sinh thái vào năm 2010

Đề tài “Một số giải pháp phát triển nông nghiệp, nông thôn ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở kết hợp công nghệ cao và phù hợp sinh thái” [7] đã là rõ

về mặt lý luận nền nông nghiệp, nông thôn, sinh thái, khoa học – công nghệ cao Đồng thời đề tài đã đánh giá hiện trạng phát triển nông nghiệp, đề xuất các giải pháp phát triển nông thôn TP.HCM trên các khía cạnh hợp sinh thái, khoa học công nghệ cao

Năm 2007, UBND thành phố Hải Phòng xây dựng đề tài “ Nghiên cứu luận cứ phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở thành phố Hải Phòng” [24] với mục tiêu: Bảo

vệ và khai thác hợp lý quỹ đất nông nghiệp thành phố dưới áp lực của quá trình của đô thị hóa đảm bảo phát triển KTXH thành phố hiệu quả và bền vững, đồng thời định

hướng đi cụ thể về nông nghiệp đô thị sinh thái (nội đô, ven đô) đến năm 2015, 2020

Như vậy ở nước ta nghiên cứu về vấn đề này còn rất mới mẻ, yêu cầu đặt ra là cần phải được làm rõ và định hướng phát triển để góp phần thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

Trang 25

PHẦN II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung nghiên cứu

2.1.1 Điều tra các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái

+ Điều kiện tự nhiên

+ Điều kiện kinh tế - xã hội

+ Đánh giá chung (điểm mạnh, hạn chế, cơ hội và thách thức…)

+ Hiện trạng sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững ở Thành phố Thái Nguyên

+ Thực trạng chất lượng môi trường

2.1.2 Thực trạng phát triển nông nghiệp thành phố Thái Nguyên theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái

+ Khái quát kết quả phát triển nông nghiệp của thành phố

+ Thực trạng phát triển nông nghiệp thành phố Thái Nguyên theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái

+ Đánh giá thực trạng các mô hình sản xuất kinh doanh nông nghiệp theo hướng đô thị nông nghiệp sinh thái trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

+ Xác định các tiêu chí đánh giá theo hướng sinh thái (sử dụng hàm mục tiêu)

+ Một số tiêu chí tự đánh giá của các hộ sản xuất

2.1.3 Đánh giá chung về thực trạng phát triển nông nghiệp của thành phố Thái Nguyên theo hướng đô thị sinh thái

+ Kết quả đạt được trong phát triển nông nghiệp theo hướng đô thị sinh thái tại Thái Nguyên

+ Những tồn tại và nguyên nhân

2.1.4 Định hướng và các giải pháp phát triển nông nghiệp Thái Nguyên theo hướng đô thị sinh thái

Xác định tỷ lệ quỹ đất nông nghiệp nội đô, ven đô, vùng phụ cận Các sản phẩm nông sản gắn với khoa học công nghệ cao để tạo sản phẩm an toàn, cho hiệu quả kinh

tế cao và đáp ứng phát triển bền vững ở thành phố Thái Nguyên Những đề xuất phải phù hợp với từng mô hình

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

Bao gồm thu thập thông tin thứ cấp (thu thập và nghiên cứu tài liệu có sẵn) và thu thập thông tin sơ cấp

Trang 26

- Nghiên cứu tài liệu có sẵn: kế thừa những thành tựu khoa học, hệ thống hóa những vấn đề lý luận và cơ sở khoa học của luận án, tìm hiểu các kinh nghiệm trong nước và thế giới trong phát triển nông nghiệp theo hướng đô thị sinh thái Tài liệu sẵn

có cũng là nguồn chủ yếu và quan trọng để tiến hành phân tích, đánh giá Các tài liệu chủ yếu đã sử dụng như báo cáo kết quả sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn, báo cáo quy hoạch ngành nông nghiệp Thái Nguyên đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, các báo cáo về phát triển kinh tế xã hội của thành phố và nhiều tài liệu quan trọng khác

Điều tra khảo sát nhằm cung cấp thông tin cho việc phân tích, đánh giá thực

trạng phát triển nông nghiệp của thành phố, đồng thời đánh giá những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện phát triển nông nghiệp của thành phố theo theo hướng sinh thái đô thị

Đối tượng điều tra khảo sát là các hộ gia đình, các trang trại sản xuất theo hướng sinh thái tại 3 vùng: nội đô, ven đô và xa đô

+ Đối với các hộ gia đình: bao gồm 4 nhóm hộ là nhóm hộ trồng hoa – cây cảnh, nhóm hộ trồng rau, nhóm hộ trồng cây ăn quả và nhóm hộ nuôi trồng thủy sản

+ Đối với các trang trại:

Qua khảo sát thực tế ở thành phố Thái Nguyên chỉ có 75 trang trại, đề tài phân loại trang trại theo phương hướng sản xuất kinh doanh của trang trại: trang trại trồng trọt, chăn nuôi, kết hợp, hỗn hợp và tiến hành điều tra theo các loại hình trang trại nêu trên

Mẫu điều tra: kích thước mẫu điều tra là 90 hộ và 15 trang trại, trong đó có 30

hộ sản xuất hoa, 25 hộ sản xuất rau, 20 hộ trồng cây ăn quả và 15 hộ nuôi trồng thủy sản theo hướng sinh thái, 5 trang trại trồng trọt, 5 trang trại chăn nuôi, 5 trang trại kết hợp Việc chọn mẫu dựa vào tiêu chí số lượng diện tích đất canh tác hoặc mặt nước nuôi thả để lựa chọn ra các mẫu đại diện cho các sản phẩm nêu trên

Phiếu điều tra: nội dung phiếu điều tra chủ yếu tập trung vào khảo sát thực

trạng sản xuất nông nghiệp có liên quan đến xây dựng các vùng chuyên canh và các

mô hình sản xuất kết hợp trên cơ sở tích tụ, tập trung đất đai và tiền vốn của hộ Ngoài

ra, để bổ sung các thông tin về việc hình thành và phát triển diện tích các vùng sản xuất tập trung, tình hình xây dựng các khu công nghiệp du lịch sinh thái và việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp trên địa bàn thành phố, tác giả cũng gặp gỡ, phỏng vấn và thu thập số liệu tà vác cán bộ phòng kinh tế, phòng Tài nguyên

và Môi trường thành phố Thái Nguyên

Trang 27

2.2.2 Phương pháp phân tích, thống kê, xử lý thông tin số liệu

* Đối với thông tin, số liệu thứ cấp: sau khi được thu thập, toàn bộ những thông tin số liệu này được kiểm tra ở ba khía cạnh đầy đủ, chính xác, kịp thời và khẳng định

độ tin cậy Sau đó được xử lý tính toán phản ánh thông qua bảng thống kê hoặc đồ thị

để đánh giá, so sánh và rút ra kết luận

* Đối với thông tin số liệu sơ cấp: toàn bộ thông tin số liệu đều được kiểm tra,

bổ sung, chỉnh lý sau đó sử dụng phần mềm Excell, SPSS để xử lý các số liệu điều tra thu thập được

2.2.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường

a, Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế

+ Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo

ra trong một thời gian nhất định – thường là 1 năm Trong sản xuất của nông hộ, giá trị sản xuất là giá trị các loại sả phẩm chính, phụ sản xuất ra trong năm

+ Tổng thu: là giá trị các loại sản phẩm chính, phụ sản xuất ra trong năm, tính cho từng loại cây trồng, từng ngành, công thức luân canh, nhóm hộ

+ Chi phí trung gian (IC): là toàn bộ các khoản chi phí thường xuyên về vật chất (không kể khấu hao) và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm trong một thời kỳ nhất định Trong nông nghiệp, chi phí trung gian bao gồm chi phí về giống, phân bón, thuốc trừ sâu, dịch vụ làm đất, thủy lợi, bảo vệ thực vật

+ Tổng chi phí vật chất (CPVC): là toàn bộ giá trị chi phí vật chất gồm: chi phí trung gian, khấu hao tài sản cố định, thuế sản xuất, chi phí tài chính khác bỏ ra trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm

+ Tổng chi phí sản xuất (TCPSX): là toàn bộ chi phí sản xuất bao gồm chi phí vật chất và chi phí lao động (lao động thuê ngoài + lao động gia đình) đã bỏ ra trong quá trình tạo ra sản phẩm

* Ý nghĩa các chỉ tiêu hiệu quả như sau:

+ Giá trị gia tăng (VA): là giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ do các ngành (hộ, cây trồng…) sáng tạo ra trong 1 năm hay 1 chu kỳ sản xuất Trong nền kinh tế thị

Trang 28

trường, người ta rất quan tâm đến giá trị gia tăng, nó phản ánh trình độ của việc đầu tư chi phí vật chất, lao động và khả năng tổ chức quản lý của chủ thể sản xuất Tuy vậy, đối với nông hộ việc tính giá trị gia tăng là khó chính xác

+ Thu nhập hỗn hợp (MI): là phần thu nhập thuần túy của người sản xuất, gồm trả công lao động và phần lợi nhuận mà họ có thể nhận được trong một chu kỳ sản xuất Chỉ tiêu này phản ánh khả năng đảm bảo đời sống và tích lũy của người sản xuất

Nó là chỉ tiêu quan trọng nhất đối với nông hộ trong điều kiện sản xuấtchủ yếu dựa vào các nguồn lực gia đình

+ Lợi nhuận (Pr): là chỉ tiêu phản ánh chất lượng của các hoạt động kinh tế và

là mục tiêu của mọi quá trình sản xuất kinh doanh

* Một số chỉ tiêu khác gồm:

+ VA/IC: giá trị gia tăng trên vốn đầu tư phản ánh hiệu quả sử dụng vốn

+ VA/công lao động: phản ánh lượng giá trị gia tăng do một ngày công lao động tạo ra

b, Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội

+ Mức độ chấp nhận của người dân

+ Tỷ lệ giảm số lao động thất nghiệp

+ Tỷ lệ giảm hộ hộ đói nghèo, tăng hộ khá và hộ giàu

+ Tỷ lệ lao động tham gia vào sản xuất nông nghiệp

+ Khả năng sản xuất hàng hoá thể hiện ở chủng loại sản phẩm, lượng tiêu thụ, giá cả, thị trường tiêu thụ

c, Hiệu quả môi trường

Vấn đề cải thiện chất lượng môi trường sống thể hiện ở các mặt như: cảnh quan môi trường được cải thiện, giảm ô nhiễm không khí, tiếng ồn…

2.2.4 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

* Phương pháp chuyên gia: được dùng để nghiên cứu, tham khảo ý kiến của

các chuyên gia nông lâm nghiệp, các cán bộ địa chính, hội làm vườn, hội nông dân, cán bộ nghiên cứu giảng dạy ở các trường đại học và đặc biệt là ý kiến của các hộ dân làm ăn khá giỏi có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất

* Phương pháp chuyên khảo: phương pháp này dùng để thu thập, lựa chọn các

thông tin tài liệu, các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Thông qua việc nghiên cứu để lựa chọn kế thừa và vận dụng có chọn lọc vào thực tiễn nhằm tìm ra những giải pháp tối ưu để phát triển và sử dụng đất nông nghiệp theo hướng đô thị sinh thái bền vững

Trang 29

PHẦN III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Thành phố Thái Nguyên là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, an ninh - quốc phòng của tỉnh Thái Nguyên và vùng Việt Bắc, tiếp giáp với 5 huyện, thị: Phú Bình ở phía Đông; Đại Từ ở phía Tây; thị xã Sông Công ở phía Nam và Phú

Lương, Đồng Hỷ ở phía Bắc Thành phố có tổng diện tích tự nhiên là 18.970,48 ha

[27], trung tâm thành phố cách thủ đô Hà Nội 80 km về phía Nam Thành phố có vị trí chiến lược, quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc Là trung tâm giao lưu văn hoá của vùng Việt Bắc, là đầu mối giao thông trực tiếp liên hệ giữa các tỉnh miền xuôi nhất là thủ đô Hà Nội với các tỉnh miền núi phía bắc: Cao Bằng, Bắc kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Bắc Giang Với vị trí địa lý như trên, thành phố Thái Nguyên có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội không chỉ trong hiện tại mà cả tương lai, nhất là trong các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và trở thành một đô thị trung tâm của khu vực trung du miền núi phía Bắc

3.1.1.2 Địa hình

Địa hình của thành phố Thái Nguyên được coi như miền đồng bằng riêng của tỉnh Thái Nguyên, ruộng đất tập trung ở hai bên bờ sông Cầu và sông Công được hình thành bởi sự bồi tụ phù sa của hai con sông này Tuy nhiên, vùng này vẫn mang tính chất, dáng dấp của địa mạo trung du với kiểu bậc thềm phù sa và bậc thang nhân tạo Khu vực trung tâm thành phố tương đối bằng phẳng, địa hình còn lại chủ yếu là đồi bát

úp càng về phía Tây thành phố càng nhiều đồi núi cao

3.1.1.3 Khí hậu thuỷ văn

+Khí hậu

Thành phố Thái Nguyên mang những nét chung của khí hậu vùng Đông Bắc Việt Nam, thuộc miền nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh giá ít mưa, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều Do đặc điểm địa hình của vùng đã tạo cho khí hậu của thành phố có những nét riêng biệt

Như vậy, khí hậu thành phố Thái Nguyên tương đối thuận lợi cho việc phát triển một hệ sinh thái đa dạng và bền vững, thuận lợi cho phát triển nông - lâm nghiệp và là nguồn nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm

+ Thuỷ văn

Trang 30

Trên địa bàn thành phố có sông Cầu chạy qua địa bàn, con sông này bắt nguồn từ Bắc Kạn chảy qua thành phố ở đoạn hạ lưu dài khoảng 25 km, lòng sông mở rộng từ

70 - 100m Về mùa lũ lưu lượng đạt 3500 m³/giây, mùa kiệt 7,5 m³/giây

Sông Công chảy qua địa bàn thành phố dài 15 km, sông bắt nguồn từ vùng núi Ba

Lá thuộc huyện Định Hoá Lưu vực sông này nằm trong vùng mưa lớn nhất của thành phố, vào mùa lũ lưu lượng đạt 1.880 m³/giây, mùa kiệt 0,32m³/giây Đặc biệt, trên địa bàn thành phố có Hồ Núi Cốc (nhân tạo) trên trung lưu sông Công, có khả năng trữ nước vào mùa mưa lũ và điều tiết cho mùa khô hạn theo ý muốn của con người

3.1.1.4 Đất đai

* Tài nguyên đất

Kết quả điều tra thổ nhưỡng năm 2001 và phúc tra bổ sung năm 2005 của Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp cho thấy thành phố Thái Nguyên có các loại đất chính sau:

Bảng 3.1: Tổng hợp các loại đất của thành phố

1 Đất phù sa không được bồi hàng năm, trung

Nguồn: Báo cáo quy hoạch sử dụng đất TPTN, 2000 [30]

Như vậy, quỹ đất của thành phố khá phong phú, màu mỡ, thuận lợi cho phát triển các loại cây trồng có giá trị kinh tế Tuy nhiên, những năm gần đây diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp dần do quá trình đô thị hóa, hình thành các khu công nghiệp tập trung, khu đô thị mới điều đó đòi hỏi cần phải nhanh chóng hình thành các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh, sản xuất theo hướng đô thị sinh thái để sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai, đáp ứng nhu cầu về nông sản phẩm của thành phố

và giảm thiểu ô nhiễm môi trường

3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

3.1.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế

Trong 10 năm qua, nhất là 5 năm trở lại đây sự phát triển của 3 ngành kinh tế lớn và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố theo hướng đổi mới cho thấy thành

Trang 31

phố đã từng bước đi vào khai thác ưu thế của một đô thị, một trung tâm kinh tế lớn của vùng trung du và miền núi phía Bắc Tỷ trọng của khối phi nông nghiệp tăng lên và tỷ trọng của khối nông nghiệp giảm dần Cụ thể, tỷ trọng của các ngành phi nông nghiệp tăng từ 90,57% năm 2000 lên 93,7% năm 2005 và 94,28% năm 2008 trong khi tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm tương ứng từ 9,43% xuống 6,3% và 5,72% xuống 4,6%

Bảng 3.2: Thực trạng phát triển kinh tế TPTN giai đoạn 2006 – 2008

Tổng giá trị sản xuất Triệu đồng 6.187.000 7.155.200 8.456.425

GT sản xuất ngành nông nghiệp Triệu đồng 221.100 230.100 254.800 Giá trị sản xuất ngành CN - XD Triệu đồng 4.721.600 5.463.000 5.683.400 Giá trị sản xuất ngành TM - DV Triệu đồng 1.224.300 1.462.100 1.866.224

Nguồn: Niên giám thống kê TPTN [26]

Tỷ trọng của ngành công nghiệp – xây dựng đạt cao nhất năm 2006 chiếm 49,7% và năm 2008 chiếm 49,33% Tỷ trọng ngành dịch vụ – thương mại tăng lên nhưng sau đó giảm đi chút ít Ngành nông nghiệp tuy vẫn tăng trưởng về giá trị tuyệt đối nhưng tỷ trọng trong tổng sản phẩm thành phố đã giảm đáng kể, phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, hiện đại của cả nước cũng như vùng và tỉnh

3.1.2.2 Dân số, lao động và việc làm

Bảng 3.3: Biến động dân số thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2007 – 2009

Trang 32

Thành phố Thái Nguyên có 28 đơn vị hành chính (xã, phường) với dân số là 310.782 người, chiếm 21,47% tổng dân số tỉnh Thái Nguyên và 2,2% dân số vùng Trung du miền núi Bắc bộ Mật độ dân số thành phố tương đối cao, năm 2009 là 1.367 người/km2, cao gấp 4,3 lần so với mật độ dân số chung của tỉnh (318 người/km2) [26]

Qua bảng 3.3 cho thấy tình hình biến động dân số của thành phố tăng nhanh từ 240.284 người năm 2007 lên 310.782 người năm 2009 do sát nhập 2 xã Đồng Bẩm và Cao Ngạn thuộc huyện Đồng Hỷ về thành phố Tỉ lệ gia tăng dân số cũng có xu hướng giảm dần từ 1,59% năm 2007 giảm xuống còn 1,47% năm 2009

Như vậy, so với tỉnh Thái Nguyên thì thành phố Thái Nguyên là đơn vị có dân

số đông đúc, mật độ dân số cao nhất Dân số đông tạo ra nguồn lao động dồi dào đồng thời cũng là một thị trường tiêu thụ hàng hóa rộng lớn song cũng gây những áp lực không nhỏ cho sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố, đặc biệt là áp lực về đất đai

3.1.3 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của thành phố liên quan tới sử dụng đất đai

- Thái Nguyên vừa là nơi cung cấp, vừa là nơi tiêu thụ hàng và nguyên liệu công nghiệp, là nơi buôn bán và dịch vụ với các cửa khẩu Đồng Đăng, Tà Lùng, Trà Lĩnh,…

- Thành phố Thái Nguyên phát triển du lịch trên cơ sở khai thác tiềm năng của vùng như: vùng hồ Núi cốc kết hợp với cảnh quan hồ Ba Bể (Bắc Kạn), du lịch tham quan khu di tích lịch sử Tân Trào, ATK, Phú Bình,…

- Thành phố có nguồn nhân lực dồi dào, là khu trung tâm công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên

- Người dân đã tích cực áp dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật mới, đưa giống cây trồng vật nuôi cho năng suất cao, chất lượng tốt vào thâm canh theo cơ chế thị trường

3.1.3.2 Khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội, thành phố Thái Nguyên vẫn còn gặp khó khăn như trong việc quản lý sử dụng đất chưa được quy hoạch đầy đủ, đồng bộ, còn mang tính chắp vá, tài nguyên đất chưa được khảo sát, đánh giá chính xác Một số xã, phường vẫn còn hiện tượng cấp đất sai thẩm quyền,

Trang 33

giao đất sai quy định, mua bán quyền sử dụng đất mà không làm thủ tục với nhà nước,…trình độ canh tác và mức đầu tư sản xuất nông nghiệp giữa các tiểu vùng chưa đồng đều, hiệu quả đầu tư còn thấp, những yếu tố khuyến khích phát triển nhanh trong sản xuất nông – lâm nghiệp còn chưa nhiều, lao động dư thừa, xuất khẩu thương mại phát triển chưa đồng đều, sản phẩm ngành công nghiệp làm ra tiêu thụ còn chậm Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở một số xã, hộ gia đình tuy đã thực hiện, nhưng còn chậm

và chưa vững chắc Một số ngành và địa phương chuyển hướng cơ cấu kinh tế còn thiếu quy hoạch, manh mún mang tính chất tự phát, chưa khai thác hết tiềm năng lao động, việc khôi phục các ngành nghề truyền thống còn hạn chế, chưa có sản phẩm hàng hoá mang tính chủ lực

3.1.4 Hiện trạng sử dụng đất năm 2009

Theo số liệu thống kê đất đai năm 2009, Thành phố Thái Nguyên có tổng diện tích tự nhiên là, 18.970,48 ha chiếm 8,86% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh Thái Nguyên Trong đó:

- Đất nông nghiệp có 12.381,41 ha chiếm 65,27% tổng diện tích tự nhiên

- Đất phi nông nghiệp có 6.269,75 ha chiếm 65,27% tổng diện tích tự nhiên

- Đất chưa sử dụng có 319,32 ha chiếm 1,68% tổng diện tích tự nhiên

Bảng 3.4: Hiện trạng sử dụng đất TPTN năm 2009

đất

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Nguồn: Báo cáo kế hoạch sử dụng đất năm 2009 [27]

Trong những năm gần đây với sự thay đổi về chính sách đất đai và cơ chế quản

lý đã thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển mạnh mẽ Các hộ đã tận dụng nguồn lực đất đai, lao động, cơ sở vật chất vào sản xuất nông lâm nghiệp, tự chủ trong sản xuất kinh doanh, ngày càng tạo ra nhiều sản phẩm cho gia đình và xã hội Số liệu bảng 3.5 cho thấy:

Thành phố Thái Nguyên hiện có 12.381,41 ha diện tích đất nông nghiệp Trong đó:

1 Đất sản xuất nông nghiệp: có diện tích 9.048,64 ha, chiếm tỷ lệ 73,08% tổng

diện tích đất nông nghiệp Đất trồng cây hàng năm có 5059,44 ha chiếm 40,86% Hiện nay, hệ thống sử dụng đất của thành phố đã được chú ý phát triển theo hướng đa dạng cây trồng, nhưng diện tích độc canh cây lúa (1 và 2 vụ lúa) vẫn rất phổ biến Đất trồng cây hàng năm còn lại có diện tích 1327,10 ha chiếm 10,72% diện tích đất nông nghiệp

Trang 34

Đất trồng cây lâu năm: diện tích đất trồng cây lâu năm của thành phố là 3.989,20 ha chiếm 32,22% diện tích đất nông nghiệp Phần lớn diện tích đất này trồng chè và các loại cây ăn quả như xoài, cam, vải, na, mít, nhãn, chanh, bưởi, táo, cho thu nhập và hiệu quả đồng vốn cao

2 Đất lâm nghiệp: Tổng diện tích đất lâm nghiệp của thành phố là 3.023,77 ha,

chiếm 24,42% tổng diện tích đất nông nghiệp, trong đó rừng sản xuất có diện tích 2.035,96 ha, đất rừng phòng hộ có diện tích là 987,81 ha Đất lâm nghiệp của thành phố đều là rừng trồng, không còn đất rừng tự nhiên

3 Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản: Đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản của

thành phố có diện tích 296,09 ha, chiếm 2,39% diên tích đất nông nghiệp, chủ yếu là nuôi cá nước ngọt Nhìn chung hiệu quả kinh tế của loại hình sử dụng đất này cho thu

nhập khá cao

4 Đất nông nghiệp khác: Diện tích đất nông nghiệp khác là 12,91 ha, chiếm

0,02 % diện tích đất nông nghiệp, đây là diện tích phát triển trang trại, loại đất này cho hiệu quả kinh tế khá cao

Bảng 3.5: Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp thành phố năm 2009

đất

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%) Tổng diện tích đất nông nghiệp NNP 12.381,41 100

Nguồn: Báo cáo kế hoạch sử dụng đất đai [27]

3.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN 3.2.1 Khái quát kết quả phát triển nông nghiệp của thành phố

Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, thành phố Thái Nguyên có điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp và thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 35

nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa Khai thác những lợi thế đó, những năm gần đây nông nghiệp thành phố đang có những chuyển biến tích cực

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đã có những bước phát triển tương đối ổn định, không chỉ giúp đảm bảo an toàn lương thực mà còn tạo ra hàng hoá cho thị trường trong nước và xuất khẩu Nhiều mô hình sản xuất mới trong trồng trọt, chăn nuôi cho năng suất, hiệu quả cao đã được đưa vào áp dụng Nông nghiệp ngày càng phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, hình thành các vùng chuyên canh với quy mô lớn

Qua bảng 3.6 cho thấy, cơ cấu ngành trồng trọt tuy tỷ trọng diện tích cây lương thực giảm dần, song do năng suất tăng nhanh nên tỷ trọng giá trị sản xuất nhóm cây lương thực vẫn không ngừng tăng (từ năm 2000 đến năm 2008, tỷ trọng diện tích nhóm cây lương thực giảm từ 74,04% xuống còn 67,74%, song tỷ trọng giá trị sản xuất tăng từ 58,05% lên 64,04%) Trong khi đó tỷ trọng diện tích nhóm cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả tăng dần, tỷ trọng giá trị sản xuất vẫn ở mức thấp và có

Trang 36

chiều hướng giảm (từ năm 2000 đến năm 2008, nhóm cây ăn quả tăng 5,73% về diện tích và giảm 0,78% về giá trị sản xuất trong cơ cấu của ngành) Ngoài sự chuyển dịch

cơ cấu hệ thống cây trồng, trong ngành trồng trọt của thành phố đã đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu theo hướng chuyển dịch mùa vụ (tăng diện tích gieo trồng cây ngắn ngày trong vụ đông xuân), chuyển dịch cơ cấu giống (đưa tỷ lệ sử dụng giống lúa lai cao sản bằng các giống mới tăng từ 43% năm 2000 lên gần 53% năm 2009)

Nguồn: Niên giám thống kê TPTN [26]

Nguồn: Niên giám thống kê TPTN [26]

Số liệu tại bảng 3.7 cho thấy hiện nay trong cơ cấu ngành chăn nuôi ở thành phố Thái Nguyên, giá trị sản xuất chăn nuôi gia súc (chủ yếu là lợn) chiếm trên 56% tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi, tỷ trọng giá trị sản xuất chăn nuôi gia cầm tăng từ 17,0% năm 2005 lên 21,05% năm 2009

Trang 37

Trong những năm qua, giá trị sản xuất và tỷ trọng giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp trong tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp giảm dần Song cơ cấu nội bộ ngành lâm nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng khai thác lâm sản, tăng dịch vụ lâm nghiệp Cụ thể sự chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành lâm nghiệp được trình bày ở bảng 3.8

Trong nội bộ ngành thuỷ sản, lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản chiếm tỷ trọng lớn

và tương đối ổn định qua các năm Cụ thể cơ cấu nội bộ ngành thuỷ sản được trình bày

Nguồn: Niên giám thống kê TPTN [26]

Nhìn chung dịch vụ trong ngành nông nghiệp của Thái Nguyên hiện còn chiếm

tỷ trọng thấp Năm 2009 tỷ trọng dịch vụ trong nội bộ sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 3,5% giá trị sản xuất của ngành Dịch vụ ngành lâm nghiệp cũng chỉ chiếm 10,0% giá

Trang 38

trị sản xuất của ngành lâm nghiệp và dịch vụ ngành thuỷ sản chiếm 2,2% giá trị sản xuất ngành thuỷ sản

Về cơ cấu giá trị sản xuất ngành dịch vụ nông – lâm nghiệp, tỷ trọng dịch vụ trồng trọt, chăn nuôi chiếm tỷ trọng cao (khoảng 92 – 96%)

Cụ thể về cơ cấu dịch vụ trong ngành nông nghiệp và sự chuyển dịch cơ cấu nội

bộ ngành được trình bày ở bảng 3.10

3.2.2 Thực trạng phát triển nông nghiệp thành phố Thái Nguyên theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái

3.2.2.1 Hình thành các vùng sản xuất tập trung theo hướng sinh thái

Bảng 3.11: Phát triển diện tích các vùng sản xuất tập trung

Vùng

Số phường,

Diện tích qua các năm (ha) Tốc độ

BQ (%)

độ phát triển chưa cao

Tốc độ đô thị hóa nhanh đã làm cho diện tích đất nông nghiệp của Thái Nguyên

bị giảm mạnh, tuy nhiên nông nghiệp của thành phố đã chuyển dịch theo hướng đi vào thâm canh, chuyên môn hóa, kết hợp kinh tế sinh thái là một hướng đi đúng đắn cho phép tăng thu nhập, giải quyết việc làm và bảo vệ môi trường sinh thái Theo số liệu

Trang 39

thống kê của phòng Lao động TBXH thành phố, tốc độ tăng hộ giàu và giảm hộ nghèo cũng khá nhanh qua các năm Như vậy, việc hình thành và phát triển các vùng chuyên canh cho thấy việc phát triển kinh tế nông nghiệp ở thành phố đã chú ý nhiều đến các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường của nền nông nghiệp sinh thái

Bên cạnh đó, quá trình phát triển các vùng sản xuất tập trung cũng bộc lộ những hạn chế nhất định: thứ nhất là tốc độ chuyển dịch còn chậm Đến năm 2009, tỷ lệ diện tích hoa tập trung so với tổng diện tích hoa của thành phố chỉ chiếm khoảng 26%, vùng rau sạch 18,2%, vùng chè an toàn 68,5% [29] So với chỉ tiêu đề ra trong quy hoạch đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, các tỷ trọng này phải đạt 65 - 70% đối với hoa, 25 - 30% đối với rau, 55 - 60% với cây ăn quả Để đảm bảo các chỉ tiêu kế hoạch đến năm 2020, cần đẩy nhanh tiến độ hình thành và phát triển các vùng sản xuất tập trung, nghiên cứu phát triển ở các vùng có tiềm năng nhưng chưa được khai thác triệt để Một hạn chế nữa là mặc dù thu nhập bình quân đầu người tăng lên nhưng cũng kéo theo sự chênh lệch thu nhập giữa các hộ nông dân Những hộ nông dân thuần nông hoặc không có lợi thế chuyên canh các sản phẩm có giá trị kinh tế cao thì thu nhập rất thấp Đây là những ảnh hưởng bất lợi đến công bằng xã hội

Tóm lại, mặc dù việc bố trí sản xuất trong nông nghiệp của thành phố Thái Nguyên những năm qua đã bước đầu hướng vào việc hình thành nên các vùng sản xuất hoa, cây cảnh, rau, chè, cây ăn quả, chăn nuôi tập trung đồng thời phát triển các mô hình sản xuất kinh doanh kết hợp theo hướng sinh thái, nhưng trình độ sản xuất và mức độ tập trung hiện tại vẫn chỉ là những tiền đề cho việc phát triển nông nghiệp sinh thái đô thị Tuy nhiên, các mô hình trên đây vẫn được đánh giá là các nhân tố cốt lõi, điển hình cho việc phát triển nền nông nghiệp theo hướng đô thị sinh thái ở thành phố Thái Nguyên trong thời gian tới

3.2.2.2 Ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái ở thành phố Thái Nguyên

Nền nông nghiệp sinh thái ở đô thị là nền nông nghiệp phát triển ở trình độ khoa học công nghệ cao dựa trên cơ sở hệ thống kết cấu hạ tầng sản xuất hoàn chỉnh, đồng

bộ và hiện đại Để đạt được điều đó, nền nông nghiệp đô thị cần được tập trung đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng và nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng các thành tựu

và tiến bộ khoa học và công nghệ

Trên cơ sở đầu tư và ứng dụng các tiến bộ khoa học và kỹ thuật, nhiều công nghệ sản xuất mới đã được ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp tại thành phố Thái Nguyên Trong lĩnh vực sản xuất giống đã thực hiện khá phổ biến công nghệ nhân giống bằng lai ghép, công nghệ tế bào để lai tạo và đưa nhiều giống mới có năng suất chất lượng và giá trị cao vào sản xuất Nhiều nông sản như hoa, rau trước kia phải

Trang 40

nhập khẩu từ nước ngoài hoặc chỉ có ở vùng sản xuất đặc thù ở Đà Lạt, Sa Pa thì nay

đã phát triển khá phổ biến ở Thái Nguyên Nhiều giống lợn hướng nạc, gia cầm có năng suất, chất lượng cao đã được nhân giống và đưa vào sản xuất Đặc biệt, một số quy trình công nghệ sản xuất tiên tiến của nền nông nghiệp đô thị sinh thái đã được đưa vào sản xuất thành công như trồng rau an toàn trong nhà lưới không sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật; trồng rau theo công nghệ sinh học chỉ sử dụng các chế phẩm vi sinh không dùng hóa chất; trồng rau thủy canh; chăn nuôi gà công nghiệp theo phương thức tập trung và chăn nuôi gà thả vườn theo phương thức sinh thái; phát triển các vườn cây ăn quả kết hợp với chăn nuôi thủy sản và kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái…

Tuy nhiên, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật theo hướng thúc đẩy phát triển các hoạt động sản xuất nông nghiệp sinh thái ở Thái Nguyên còn nhiều hạn chế Trước hết, việc sử dụng thuốc trừ sâu không đúng quy định về an toàn thực phẩm;

sử dụng quá mức phân bón hóa học và khá phổ biến thuốc kích thích tăng trọng trong chăn nuôi đang là những vấn đề hết sức bức xúc và báo động

Kết quả điều tra các hộ nông dân trồng rau của tác giả Giang Thị Quỳnh [13] ở các xã, phường: Túc Duyên, Đồng Bẩm, Tích Lương cho thấy: có 19,8% số hộ điều tra không bảo đảm thời gian cách ly sau khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật Trên thực tế rất nhiều hộ thường thu hái rau sau khi phun thuốc từ 3-6 ngày Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều lần trong 1 vụ rau là khá phổ biến: rau cải trên 10 lần, bắp cải trên 20 lần, rau muống 3-4 lần/lứa Nguy hiểm hơn nữa, số hộ sử dụng thuốc cấm vẫn còn khá phổ biến Kết quả điều tra cho thấy có tới 28,6% số hộ nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đã bị cấm; 21,2% số hộ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục…

Tình trạng này không chỉ gây hậu quả nghiêm trọng đối với tính mạng người tiêu dùng mà còn làm giảm sức cạnh tranh của nông sản trên thị trường, làm phá vỡ phương thức phát triển nông nghiệp sinh thái Giống cây trồng và vật nuôi có chất lượng cao cũng chỉ mới tiếp cận một số vùng sản xuất tập trung hóa chuyên môn hóa, còn đại bộ phận các hộ nông dân vẫn sử dụng các giống cây trồng vật nuôi cũ với kỹ thuật canh tác truyền thống Vấn đề này hiện đang là trở ngại lớn lâu dài đối với quá trình chuyển sang sản xuất các sản phẩm sạch, sản phẩm an toàn theo hướng sinh thái Nền nông nghiệp sinh thái đô thị còn là nền nông nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa Công nghiệp hóa nông nghiệp trước hết được hiểu là quá trình tác động của công nghiệp và sử dụng các sản phẩm của công nghiệp, là thay đổi quy trình sản xuất nông nghiệp từ sản xuất tự nhiên phụ thuộc sang sản xuất chủ động theo quy trình chặt chẽ mang tính chất công nghiệp Một trong các thay đổi trong quy trình sản xuất

Ngày đăng: 10/10/2017, 13:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thế Anh (2003), Một số biến đổi của nông nghiệp Hà Nội trong thập kỷ qua, Báo cáo chuyên đề nghiên cứu khoa học, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biến đổi của nông nghiệp Hà Nội trong thập kỷ qua
Tác giả: Đào Thế Anh
Năm: 2003
2. Vũ Xuân Đề (2003), nghiên cứu xây dựng các mô hình nông nghiệp sinh thái phù hợp trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí Minh. Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học, Viện Nghiên cứu phát triển, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: nghiên cứu xây dựng các mô hình nông nghiệp sinh thái phù hợp trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Vũ Xuân Đề
Năm: 2003
3. Vũ Xuân Đề (2006), Bối cảnh đô thị hóa với phát triển nông nghiệp sinh thái đô thị, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bối cảnh đô thị hóa với phát triển nông nghiệp sinh thái đô thị
Tác giả: Vũ Xuân Đề
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2006
4. Lê Quý Đôn (2005), Cơ sở khoa học để phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái và hiện đại hóa nông thôn Hà Nội giai đoạn 2006 – 2010, Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học để phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái và hiện đại hóa nông thôn Hà Nội giai đoạn 2006 – 2010
Tác giả: Lê Quý Đôn
Năm: 2005
5. Bill Mollison and Reny Mia Slay Hoàng Văn Đức dịch (1994)- Đại cương về nông ngiệp bền vững, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về nông ngiệp bền vững
Tác giả: Bill Mollison and Reny Mia Slay Hoàng Văn Đức dịch
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1994
6. Hội khoa học Kinh tế nông nghiệp (2000), Kinh tế và chính sách đất đai ở Việt Nam, Hội thảo khoa học tại Thái Nguyên 6/2000, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế và chính sách đất đai ở Việt Nam
Tác giả: Hội khoa học Kinh tế nông nghiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2000
7. Đinh Sơn Hùng (2003), Một số giải pháp phát triển nông nghiệp, nông thôn ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở kết hợp công nghệ cao và phù hợp sinh thái, Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học, Viện nghiên cứu kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp phát triển nông nghiệp, nông thôn ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở kết hợp công nghệ cao và phù hợp sinh thái
Tác giả: Đinh Sơn Hùng
Năm: 2003
8. Phạm Văn Khôi (2004), Phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái
Tác giả: Phạm Văn Khôi
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2004
9. Phan Sỹ Mẫn, Nguyễn Việt Anh (2001), Định hướng và tổ chức phát triển nền nông nghiệp hàng hoá, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng và tổ chức phát triển nền nông nghiệp hàng hoá
Tác giả: Phan Sỹ Mẫn, Nguyễn Việt Anh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
10. Trần An Phong, Đánh giá hiện trạng và đề xuất sử dụng đất hợp lý trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng và đề xuất sử dụng đất hợp lý trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền ở Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
11. Nguyễn Trung Quế (2003), Nghiên cứu khái niệm về nông nghiệp đô thị sinh thái và hiện đại hóa nông thôn, Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khái niệm về nông nghiệp đô thị sinh thái và hiện đại hóa nông thôn
Tác giả: Nguyễn Trung Quế
Năm: 2003
13. Rosemary Morrow, Trịnh Văn Thịnh dịch (1994), Hướng dẫn sử dụng đất đai theo nông nghiệp bền vững, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sử dụng đất đai theo nông nghiệp bền vững
Tác giả: Rosemary Morrow, Trịnh Văn Thịnh dịch
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1994
14. Đào Duy Tâm (2004), “Phát triển thủy sản Hà Nội theo hướng sinh thái”, Tạp chí Thủy sản số 9/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển thủy sản Hà Nội theo hướng sinh thái”, "Tạp chí Thủy sản
Tác giả: Đào Duy Tâm
Năm: 2004
15. Hứa Việt Tiến. Phương hướng phát triển và đặc trưng cơ bản của công viên khoa học kỹ thuật hiện đại nước ta. Xây dựng và phát triển khu nông nghiệp khoa học công nghệ Trung Quốc (tr.3)-Tài liệu dịch, Viện Quy hoạch-Thiết kế nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương hướng phát triển và đặc trưng cơ bản của công viên khoa học kỹ thuật hiện đại nước ta. Xây dựng và phát triển khu nông nghiệp khoa học công nghệ Trung Quốc
16. Lê Văn Trường, Nhận dạng Nông nghiệp đô thị ở Việt Nam, http:/WWW. /tailieu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận dạng Nông nghiệp đô thị ở Việt Nam
17. Lê Văn Trường, Phát triển các loại hình nông nghiệp đô thị ở Việt Nam, Tạp chí kinh tế phát triển, trường Đại học KTQD, Hà Nội số 136 tháng 10/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển các loại hình nông nghiệp đô thị ở Việt Nam
18. Đào Thế Tuấn (2003), “Nông nghiệp sinh thái hay nông nghiệp bền vững”, Tạp chí phát triển nông thôn, 4 (2), tr.6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nông nghiệp sinh thái hay nông nghiệp bền vững”
Tác giả: Đào Thế Tuấn
Năm: 2003
19. Đào Thế Tuấn (2003), Nghiên cứu khái niệm, nội dung nông nghiệp đô thị, Báo cáo chuyên đề nghiên cứu khoa học, Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khái niệm, nội dung nông nghiệp đô thị
Tác giả: Đào Thế Tuấn
Năm: 2003
20. Đào Thế Tuấn (2003), Kinh nghiệm nước ngoài về phát triển nông nghiệp đô thị, Báo cáo chuyên đề nghiên cứu khoa học, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm nước ngoài về phát triển nông nghiệp đô thị
Tác giả: Đào Thế Tuấn
Năm: 2003
21. Đào Thế Tuấn (2004), “Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp Trung Quốc”, Tạp chí Phát triển nông thôn, 5, (1), tr.6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp Trung Quốc”
Tác giả: Đào Thế Tuấn
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w