1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp sát trùng và bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng gà

84 193 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 3,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung chính: - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sát trùng bằng cách phun dung dịch Oxy già 2%; xông formol + thuốc tím và phun dung dịch Tetracycline 0,1% đến sự tỷ lệ chết phôi và kết q

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ

ĐỀ TÀI NGUYÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ

MÃ SỐ: B 2009 – TN03 – 06

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP SÁT TRÙNG

VÀ KÍCH THÍCH TRỨNG TRONG THỜI GIAN BẢO QUẢN

ĐẾN KẾT QUẢ ẤP NỞ CỦA TRỨNG GÀ

Thời gian thực hiện : 2009 – 2011

Địa điểm nghiên cứu : Tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên - 2011

Trang 2

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ

Tên đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp sát trùng và bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng gà”

Mã số: B 2009 - TN03 – 06

Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Thị Thanh Bình

Cơ quan phối hợp:

- Trung tâm nghiên cứu Gia cầm Thuỵ Phương Hà Nội

- Trại gà Đán - Công ty giống vật nuôi tỉnh Thái Nguyên

- Các trang trại, gia trại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc

Cá nhân phối hợp:

- PGS TS Nguyễn Duy Hoan – Trung tâm học liệu, Đại học Thái Nguyên;

- PGS.TS Trần Thanh Vân – Ban Sau đại học, Đại học Thái Nguyên;

- Ths Nguyễn Đức Trường – Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

- Ths Đặng Tố Nga – Phòng KH&QHQT, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Trang 3

2 Nội dung chính:

- Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sát trùng bằng cách phun dung dịch Oxy già 2%; xông formol + thuốc tím và phun dung dịch Tetracycline 0,1% đến sự tỷ lệ chết phôi và kết quả ấp nở của trứng gà;

- Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp sưởi ấm trứng, bảo quản trong môi trường giàu CO2 trong vụ đông; biện pháp bảo quản trứng trong điều kiện lạnh cách quãng ở 160C và bảo quản thủ công trong thùng đá khô lạnh;

- Nghiên cứu ảnh hưởng của kích thích trứng bằng vitamin B1, B2, B6; vitamin B12 + glucoza trong thời gian bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng

- Sát trùng đã có tác dụng nâng cao tỷ lệ ấp nở/phôi của trứng thí nghiệm

- Các phương pháp sát trùng đã có tác dụng làm giảm tỷ lệ trứng thối nổ, tỷ

- Tỷ lệ chết phôi và sát tắc tăng theo thời gian bảo quản;

- Tỷ lệ nở/phôi giảm xuống theo thời gian bảo quản;

Trang 4

- Phương pháp sưởi ấm và bảo quản trong môi trường giàu CO2 ở vụ đông cho kết quả ấp nở thấp hơn so với bảo quản trong điều kiện tự nhiên

- Phương pháp bảo quản lạnh cách quãng ở và bảo quản lạnh ở vụ hè cho tỷ

lệ nở/phôi cao hơn 1,25 – 1,5% so với bảo quản thông thường

- Các phương pháp bảo quản trứng không ảnh hưởng đến thời gian ấp, năng lực nở của trứng thí nghiệm

3.3 Nội dung 3: Đã xác định được ảnh hưởng của việc kích thích trứng trước khi bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng gà

- Tỷ lệ chết phôi giảm khi kích thích trứng bằng vitamin B12+glucoza,

vitamin B1, B2, B6 trước khi bảo quản

- Tỷ lệ nở/phôi của các lô trứng được kích thích cao hơn so với lô đối chứng

- Việc kích thích trứng trước khi bảo quản không ảnh hưởng đến thời gian, năng lực ấp nở;

- Việc kích thích trứng không ảnh hưởng đến chất lượng gà con nở ra

3.4 Nội dung 4: Đã ứng dụng kết quả thí nghiệm vào thực tế sản xuất tại 2

cơ sở ấp trứng gà tập trung và 1 gia trại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên cho kết quả tốt

Trang 5

SUMMARY

Research title: The effects of disinfection, storage and stimulating methods

on incubation rate of chicken eggs

- Assoc Prof Dr Nguyen Duy Hoan;

- Assoc Prof Dr Tran Thanh Van;

- M.Sc Nguyen Duc Truong;

Trang 6

2 Main contents:

- To research on the influences of disinfection methods on incubation

rate of chicken eggs

- To study on the influences of storing methods on incubation rates of chicken eggs in different seasons

- To study on the effects of stimulating egg during storage period affected to hatching rate

- Inhalation of formalin with potassium permanganate (20 ml HCHO

38% + 10 grams KMnO 4 per 1m3 chamber in 20 minutes) was the most effective antiseptic way

- The mortality rate of embryo was in direct proportion to the egg storing time

3.2 Content 2: Having identified the influences of storing methods on incubation rates of chicken eggs in summer season and winter season

- In winter season, the incubation rates were not different in 3 ways of egg storing: the storing eggs in natural conditions, the storage eggs after heating and the storing eggs in environment with rich CO2

- In summer season, the storing eggs in interval cool condition and the storing eggs on dry ice were positive effect on the mortality of embryos and hatching rate of eggs compared with the storage in natural conditions

- In both summer and winter seasons, the mortality of embryos was direct proportion to the egg storing time but incubation rate was in inverse proportion to the storing time of eggs

Trang 7

- The hatching time and chick quality were not affected by egg storing methods before incubating The hatching time increased as the length of time storing eggs before incubating

3.3 Content 3: Having determined the effects of egg stimulating methods before storing 3, 5, 7 and 9 days on incubation rate of eggs

- The stimulation by vitamin B12 + glucose, vitamin B1, B2 and B6 before storing reduced the mortality of embryos and embryonic mortality rate was direct proportion to the storing time

- The stimulation by vitamin B12 + glucose; vitamin B1, B2,B6 before storing increased the incubation rate Using vitamin B12 + glucose to stimulate eggs was more effective than using vitamin B1, B2, B6

- The egg stimulating before storing did not affect on hatching time, hatching ability and quality of chicks

- The incubating and hatching time increased as the length of time storing eggs

3.4 Content 4: The result of this study was applied in the field in Thai Nguyen province with two professional incubators and one farmstead has well

Trang 8

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Phần 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 13

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 13

1.1.1 Sự hình thành trứng trong đường sinh dục gia cầm mái 13

1.1.2 Cấu tạo trứng gia cầm 15

1.1.3 Quá trình bảo quản trứng ấp 16

1.1.4 Vệ sinh sát trùng đối với công tác ấp trứng gia cầm 20

1.1.5 Sự phát triển của phôi thai gà trong thời gian ấp 21

1.1.6 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi và tỷ lệ ấp nở 24

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 32

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 32

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 33

Phần 2: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 36

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 36

2.1.2 Thời gian nghiên cứu 36

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 36

2.2 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU 36

2.2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 36

2.2.2 Các chỉ tiêu theo dõi 40

2.2.3 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 40

2.3 Phương pháp xử lý số liệu 42

Phần 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43

3.1 Kết quả của thí nghiệm 1 Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương pháp sát trùng đến kết quả ấp nở của trứng gà 43

3.1.1 Ảnh hưởng của các phương pháp sát trùng đến tỷ lệ chết phôi của trứng thí nghiệm 43

3.1.2 Ảnh hưởng của các phương pháp sát trùng đến tỷ lệ thối nổ của trứng thí nghiệm 45

3.1.3 Ảnh hưởng của các phương pháp sát trùng đến kết quả ấp nở của trứng thí nghiệm 46

3.1.4 Ảnh hưởng của các phương pháp sát trùng đến tỷ lệ sát tắc 47

3.1.5 Ảnh hưởng của việc sát trùng trứng đến khối lượng gà con 48

Trang 9

3.1.6 Ảnh hưởng của các phương pháp sát trùng trứng đến thời gian ấp nở 49

3.1.7 Ảnh hưởng của các phương pháp sát trùng trứng đến chất lượng gà con nở ra 51

3.2 Thí nghiệm 2 Ảnh hưởng của một số biện pháp bảo quản trứng đến kết quả ấp nở 52

3.2.1 Ảnh hưởng của một số biện pháp bảo quản trứng đến tỷ lệ chết phôi của trứng thí nghiệm 52

3.2.2 Ảnh hưởng của các phương pháp bảo quản trứng đến tỷ lệ thối nổ 55

3.2.3 Ảnh hưởng của các phương pháp bảo quản trứng đến tỷ lệ nở của trứng thí nghiệm 56

3.2.4 Ảnh hưởng của các phương pháp bảo quản trứng đến tỷ lệ sát tắc của trứng thí nghiệm 58

3.2.5 Ảnh hưởng của các phương pháp bảo trứng đến tỷ lệ khối lượng gà con 59

3.2.6 Ảnh hưởng của các phương pháp bảo quản trứng đến thời gian ấp nở 61

3.2.7.Ảnh hưởng của các phương pháp bảo quản trứng đến chất lượng gà con 63

3.3 Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của kích thích trứng trong thời gian bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng gà3.3.1.Ảnh hưởng của các biện pháp kích thích đến tỷ lệ chết phôi 3.3.2 Ảnh hưởng của các biện pháp kích thích đến tỷ lệ thối nổ 67

3.3.3 Ảnh hưởng của các biện pháp kích thích đến tỷ lệ ấp nở của trứng thí nghiệm (%) 68

3.3.4 Ảnh hưởng của các biện pháp kích thích đến tỷ lệ sát tắc của trứng thí nghiệm 70

3.3.5 Ảnh hưởng của kích thích đến tỷ lệ khối lượng gà con nở ra/khối lượng trứng vào ấp (%) 71

3.3.6 Ảnh hưởng của các biện pháp kích thích đến năng lực nở của trứng thí nghiệm 72 3.3.7 Ảnh hưởng của kích thích đến chất lượng gà con nở ra 74

Phần 4 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 77

4.1.Kết luận 77

4.2.Tồn tại 78

4.3 Đề nghị 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Ảnh hưởng của các phương pháp sát trùng đến tỷ lệ chết phôi (%) 44

Bảng 3.2 Ảnh hưởng của thuốc sát trùng đến tỷ lệ thối nổ trứng thí nghiệm (%) 46 Bảng 3.3.Ảnh hưởng các phương pháp sát trùng đến tỷ lệ nở của trứng thí nghiệm (%) 47

Bảng 3.4 Ảnh hưởng các phương pháp sát trùng đến tỷ lệ sát tắc của trứng thí nghiệm (%) 48

Bảng 3.5 Tỷ lệ giữa khối lượng gà con nở ra/ khối lượng trứng vào ấp (%) 49

Bảng 3.6 Năng lực nở của trứng thí nghiệm (giờ) 50

Bảng 3.7 Ảnh hưởng của các phương pháp sát trùng đến tỷ lệ 51

gà loại 1 (%) 51

Bảng 3.8 Ảnh hưởng của các phương pháp bảo quản trứng trong vụ đông 53

Bảng 3.9 Ảnh hưởng của các phương pháp bảo quản trứng trong vụ hè 54

ảng 3.10 Ảnh hưởng của các phương pháp bảo quản đến tỷ lệ trứng thối nổ trong thời gian ấp (%) 56

Bảng 3 11 Ảnh hưởng các phương pháp bảo quản trứng đến tỷ lệ nở của trứng thí nghiệm (%) 57

Bảng 3.12 Ảnh hưởng của các phương pháp bảo quản đến tỷ lệ sát tắc/phôi của trứng thí nghiệm (%) 59

Bảng 3.13 Tỷ lệ giữa khối lượng gà con nở ra/ khối lượng trứng vào ấp (%) 60

Bảng 3.14 Ảnh hưởng của các phương pháp bảo quản trong vụ đông đến năng lực nở của trứng thí nghiệm (giờ) 61

Bảng 3.15 Ảnh hưởng của các phương pháp bảo quản trong vụ hè đến năng lực nở của trứng thí nghiệm (giờ) 61

Bảng 3.16 Ảnh hưởng của các phương pháp bảo quản đến tỷ lệ gà loại 1 (%) 63

Bảng 3.17 Ảnh hưởng của các biện pháp kích thích đến tỷ lệ chết phôi của trứng thí nghiệm (%) 66

Bảng 3.18 Ảnh hưởng của kích thích đến tỷ lệ thối nổ (%) 67

Bảng 3.19 Ảnh hưởng của kích thích đến tỷ lệ nở/phôi (%) 68

Bảng 3.20 Ảnh hưởng của kích thích đến tỷ lệ sát tắc (%) 70

Bảng 3.21 Ảnh hưởng của các biện pháp kích thích đến tỷ lệ khối lượng gà con nở ra/khối lượng trứng vào ấp (%) 71

Bảng 3.22 Ảnh hưởng của các biện pháp kích thích đến năng lực nở 73

Bảng 3.23 Ảnh hưởng của kích thích đến tỷ lệ gà loại 1(%) 74

Trang 12

do vỏ trứng ở trạng thái xốp và có nhiều lỗ khí nên khả năng bốc hơi nước là rất cao, vi sinh vật gây hại dễ dàng xâm nhập vào trong trứng và sự tác động của nhiệt độ môi trường dẫn đến chất lượng trứng bị giảm, giảm sự phát triển của phôi, gây chết phôi trong quá trình ấp Sự bay hơi nước làm lòng trắng trở nên đặc dần, chỉ số lòng trắng giảm, tỷ lệ lòng đỏ tăng lên do sự thẩm thấu nước từ lòng đỏ sang lòng trắng, màng lòng đỏ giảm dần tính đàn hồi, chỉ số lòng đỏ giảm xuống, đơn vị Haugh cũng giảm xuống theo thời gian bảo quản, ảnh hưởng tới chất lượng trứng và khả năng phát triển của phôi, ảnh hưởng đến kết quả ấp nở Còn sự xâm nhập của vi sinh vật gây hại cùng với nhiệt độ của môi trường không thích hợp sẽ làm biến đổi các thành phần hóa học bên trong của trứng gây thối nổ hưởng đến chất lượng trứng và kết quả ấp nở Để hạn chế sự tổn thất sau thu hoạch của trứng gia cầm nói chung và trứng gà nói riêng đồng thời tìm ra các biện pháp sát trùng, kích thích trứng trong thời gian bảo quản để tăng tỷ lệ ấp nở là vấn đề thiết cấp bách đặt

ra hiện nay nhằm giúp người chăn nuôi bảo quản và giữ được chất lượng trứng, tạo ra con giống có chất lượng và nâng cao hiệu quả kinh tế Xuất phát từ vấn đề đó chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp sát trùng và kích

thích trong thời gian bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng gà”

Trang 13

Phần 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

Ấp trứng nhân tạo bằng máy ấp công nghiệp là việc tạo ra môi trường tối

ưu để cho tế bào trứng có thể phát triển tốt nhất như: nhiệt độ, độ ẩm, độ thông thoáng vì trong tế bào trứng đã có đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho

sự phát triển của phôi thai trong thời gian ấp

1.1.1 Sự hình thành trứng trong đường sinh dục gia cầm mái

Tế bào trứng tách khỏi buồng trứng có dạng hình cầu màu vàng, chuyển vào túi lòng đỏ hoặc trực tiếp vào loa kèn Nhờ sự co bóp của cơ bụng hoặc cơ thắt lưng, loa kèn bao lấy tế bào trứng (lòng đỏ) Lòng đỏ dừng lại ở loa kèn khoảng 20 phút Khi lòng đỏ đi dần xuống phần dưới của loa kèn thì trên bề mặt

có gắn dây chằng lòng đỏ nhưng chưa hoàn chỉnh Dây chằng lòng đỏ được hoàn chỉnh dần, đến tận tử cung mới kết thúc

Sau đó lòng đỏ chuyển tiếp tới phần tiết lòng trắng Thời gian ở đây chừng 2,5 – 3 giờ Tốc độ chuyển khoảng 2 – 2,3 mm/phút Do chuyển động của lòng đỏ theo chiều quay xoắn trong ống dẫn trứng cho nên dây chằng lòng

đỏ có dạng xoắn rất lạ Đồng thời hình thành mạng lưới như khoang mạng nhện bằng các sợi dây rất mảnh, nhỏ, dịch lòng trắng được chứa đầy giữa các khung dây đó Như vậy, phía ngoài lòng đỏ được bao phủ bởi một lớp lòng trắng đặc (gọi là lớp trong lòng trắng đặc) có tác dụng cố định hình dạng của lòng đỏ Phần tiết lòng trắng của ống dẫn trứng tham gia bắt đầu hình thành lớp lòng trắng loãng Lớp này đến phần eo thì hoàn chỉnh cơ bản Lớp ngoài lòng trắng loãng cũng bắt đầu hình thành từ phần tiết lòng trắng của ống dẫn trứng Nhưng đến phần eo mới đầy đủ

Trứng chuyển từ phần tiết lòng trắng xuống phần eo với tốc độ quay chuyển chậm hơn (1,4mm/phút) Ở phần eo tiết ra dịch dạng keo có tác dụng tạo thành những sợi keo rất nhỏ gắn chặt các phần với nhau Trứng di chuyển qua phần tiết lòng trắng chỉ có 40 – 60% lòng trắng được hình thành

Trang 14

Trong quá trình vận chuyển quay các sợi keo xoắn lại dần tạo thành dây chằng lòng đỏ Ở phần eo tiết ra lòng trắng dạng hạt kiểu keratin, các hạt này thấm nước, phồng lên, loãng ra và tham gia trên bề mặt của lòng trắng để tạo thành màng trong dưới vỏ cứng gồm các sợi rất nhỏ Sau đó trứng dừng lại ở phần eo, tích tụ các chất tiết để tạo thành màng ngoài dưới vỏ cứng Khi trứng lại bắt đầu chuyển động thì các tuyến hoà loãng dịch tiết và tạo thành màng ngoài dưới vỏ cứng Màng ngoài dưới vỏ cứng khác với màng trong dưới vỏ cứng là nó gồm các sợi lòng trắng to hơn Trong khi hình thành màng dưới vỏ cứng, thì ở phần eo này cũng xảy ra đồng thời quá trình tích luỹ lớp ngoài lòng trắng loãng Lớp ngoài lòng trắng loãng bắt đầu tích luỹ từ phần tiết lòng trắng của ống dẫn trứng Trứng qua phần eo mất chừng 70 phút

Ở phần tử cung, các tuyến tiết ra dịch tiết chứa nhiều nước và chất khoáng Nhờ độ thẩm thấu cao của màng dưới vỏ cứng nên nước và muối khoáng ngấm vào trong trứng làm cho lòng trắng loãng ra Các màng dãn căng

ra Phía ngoài màng dưới vỏ cứng bắt đầu tích luỹ vỏ cứng Mới đầu chỉ là sự lắng đọng của những hạt rất nhỏ trên bề mặt của màng dưới vỏ cứng, sau đó tăng lên trong quá trình hấp thu muối canxi Muối canxi lắng đọng được hoà lẫn với số ít lòng trắng tạo nên những núm gai rất vững Những núm gai vỏ này gắn chặt với nhau nhưng giữa chúng có khoảng trống là các lỗ, đó là các lỗ khí của

vỏ trứng, có tác dụng trong quá trình trao đổi khí

Trên bề mặt lớp vỏ cứng có chứa protein dạng keo tiết ra từ tuyến ở phần đầu tử cung, giữa các sợi keo hình thành cũng chứa muối canxi Như vậy, lớp thứ hai của vỏ cứng được hình thành Lớp này chiếm 2/3 bề dày của vỏ cứng Nhờ sợi khung của lớp thứ 2 nên các khe lỗ khí vẫn được thông ra Mật độ lỗ khí phân bố không đều, ở đầu to nhiều hơn đầu nhỏ Trứng qua tử cung mất 19

- 20 giờ Ở phần này, mỗi vỏ trứng hình thành phải mất 5gr cacbonat canxi (CaCO3) Các mô tử cung không chứa canxi dự trữ, vì vậy toàn bộ canxi huy động từ máu, nên trong máu gà đẻ lượng canxi nhiều hơn gà không đẻ tới 2 - 3 lần Trong quá trình hình thành vỏ cứng, sự tích máu ở tử cung tăng lên Canxi trong máu ở dạng ion dễ hoà tan (bicacbonat canxi) Có nhiều men ảnh hưởng tới sự tích tụ canxi ở vỏ cứng

Trang 15

Sau khi hình thành vỏ cứng, các sắc tố có dạng vân vòng ngấm vào vỏ tạo thành màu xác định theo giống, loài Màu vỏ trứng rất khác nhau, nói chung vỏ trứng gia cầm có màu trắng hồng, nâu phớt (nhạt), xám…Chủ yếu các sắc tố được cung cấp từ máu tới tuyến ở tử cung và hoà lẫn cùng với dịch tiết của tuyến

Ở tử cung còn tiến hành tạo thành một lớp màng ngoài vỏ cứng là do các

tế bào ở biểu mô tử cung tiết ra Thành phần hoá học của nó gần giống với màng dưới vỏ cứng Màng ngoài vỏ cứng của gà không màu, rất mỏng và sáng ánh Trứng qua âm đạo rất nhanh và ra ngoài

Quá trình hình thành trứng trong toàn bộ các phần của ống dẫn trứng mất 23,4 – 24 giờ

1.1.2 Cấu tạo trứng gia cầm

Trứng gia cầm là một tế bào sinh dục phức tạp và được biệt hoá rất cao nó bao gồm: Lòng đỏ, lòng trắng, vỏ cứng và các màng, mỗi phần của quả trứng đều có các chức năng riêng biệt Tỷ lệ tương đối và tuyệt đối giữa các phần tuỳ thuộc vào gia cầm

1.1.2.1 Vỏ trứng

Trong tử cung tiết ra dịch nhờn và trắng Dịch này tạo ra từ cacbonatcaxi

và cacbonat protein, chất này nhanh chóng đông lại và tạo thành vỏ cứng (vỏ trứng) Vỏ trứng không những có tác dụng bảo vệ mà còn có tác dụng cung cấp canxi cho nhu cầu phát triển của phôi thai

Bên trong vỏ trứng có một lớp keo rất mỏng có vai trò ngăn bớt sự bốc hơi nước từ trứng và ngăn ngừa vi khuẩn xâm nhập vào bên trong trứng

Trên vỏ trứng có nhiều lỗ nhỏ li ti gọi là lỗ khí Trung bình có khoảng 75.500 lỗ khí Trứng vịt có nhiều lỗ khí hơn trứng gà và mật độ lỗ khí trên vỏ

Trang 16

cứng và thời gian bảo quản trứng Do vậy, ta có thể căn cứ vào độ lớn của

buồng khí để đánh giá quả trứng bảo quản thời gian dài hay ngắn

1.1.2.3 Lòng trắng trứng

Lòng trắng cũng như vỏ cứng đều là sản phẩm của ống dẫn trứng Lòng trắng chứa nhiều chất dinh dưỡng, nước cung cấp cho quá trình phát triển của phôi thai Chất dinh dưỡng chủ yếu của lòng trắng là đường và vitamin B2 Nếu thiếu vitamin B2 thì phôi sẽ chết vào tuần ấp thứ 2

Trứng mới đẻ ra thì lòng đỏ có tính đàn hồi rất lớn, tính đàn hồi sẽ giảm dần theo thời gian bảo quản Trứng để lâu ngày tới một thời điểm nào đó tính đàn hồi trong lòng đỏ mất đi, khi đó lòng đỏ và lòng trắng sẽ lẫn lộn

Chất dinh dưỡng lòng đỏ bao gồm: nước, protein, lipit, vitamin Thành phần các chất này còn phụ thuộc vào từng loại gia cầm

Sau khi được thụ tinh, đĩa phôi sẽ phát triển thành phôi Đĩa phôi có thể nhìn thấy bằng mắt thường trông như một chấm trắng Kích thước của đĩa phôi thì phụ thuộc vào tuổi của gia cầm mái, mùa vụ trong năm và chất lượng giống gia cầm

1.1.3 Quá trình bảo quản trứng ấp

1.1.3.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của trứng trong thời gian bảo quản

Trứng gia cầm đẻ ra nếu đưa ngay vào ấp thì rất tốt Nhưng thông thường, không thể đủ số lượng để làm ngay như vậy, cho nên trứng phải bảo quản (gom lại) vài ba ngày mới cho vào ấp Để đảm bảo trứng ấp có đủ tiêu chuẩn, trong thời gian bảo quản có hai yếu tố chính phải ngăn ngừa càng nhiều càng tốt là: sự phát triển của phôi và bốc hơi nước từ trứng Bằng cách như vậy thì cũng đảm bảo

Trang 17

được chất lượng bên trong của trứng như đơn vị Haugh (HU), chỉ số lòng đỏ Chất lượng của trứng trong quá trình bảo quản phụ thuộc vào các yếu tố sau:

* Nhiệt độ

Sau khi trứng đẻ ra, nhiệt độ giảm dần từ 410C (t0 gia cầm mái) tới nhiệt độ chuồng nuôi, khi nhiệt độ lớn hơn 270C thì phôi vẫn tiếp tục phát triển Phôi có khả năng sống cao nhất trong giai đoạn bảo quản, nếu sau 5 - 6 giờ đẻ ra trứng

thậm chí 2 - 3 tuần, nó cần nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ môi trường bên ngoài Điều quan trọng cần biết là: khi bảo quản trứng ở nhiệt độ thấp nếu ngay lập tức ta chuyển trứng từ kho lạnh ra ngoài phòng có nhiệt độ cao hơn sẽ có hiện tượng trứng có “mồ hôi”, điều nàu sẽ bất lợi vì tạo điều kiện ẩm ướt cho vi khuẩn bám vào bề mặt vỏ trứng xuyên qua lỗ khí đi vào trong Vì vậy, trước khi chuyển trứng đi (hay mang đi ấp) nửa ngày, cần tăng nhiệt độ ở kho bảo quản, hoặc tăng dần nhiệt độ cho trứng bảo quản

Theo tác giả Bạch Thị Thanh Dân và cs, 1997 [2] đã nghiên cứu xây dựng quy trình ấp nở trứng gà Sao, kết quả cho thấy:

Bảo quản trứng đến 10 ngày ở điều kiện nhiệt độ 200C - 250C và đến 7 ngày với nhiệt độ 300C - 350C, ẩm độ 70 - 80%, đã cho hiệu quả nở/trứng có phôi đạt 90,42% và 90,34% Sau thời gian trên kết quả đều giảm

* Ẩm độ

Trong quá trình bảo quản trứng ấp, ngoài chế độ nhiệt thì ẩm độ cũng rất quan trọng Vì ẩm độ không khí có ảnh hưởng đến khối lượng trứng: độ ẩm không khí nơi bảo quản càng cao thì trứng càng mất ít nước, do đó sự hao hụt khối lượng trứng càng giảm trong thời gian bảo quản

Trong quá trình bảo quản, ẩm độ tương đối đến 60% sau 5 ngày bảo quản

tỷ lệ hao hụt khối lượng trứng là 1,27% và 2,23% sau 10 ngày bảo quản

Ở ẩm độ 68% sau 5 ngày tỷ lệ hao hụt khối lượng trứng là 0,81% và 1,48% sau 10 ngày bảo quản

Còn ở ẩm độ 86% sau 5 bảo quản ngày tỷ lệ hao hụt khối lượng trứng là 0,31% và 0,7% sau 10 ngày bảo quản

Trang 18

Như vậy, điều kiện bảo quản trứng không phù hợp khi đưa trứng vào ấp sẽ ảnh hưởng rõ rệt đến khối lượng trứng Vì vậy, tốt nhất là bảo quản trứng không quá 5 ngày ở nhiệt độ bảo quản từ 16 - 200C, ẩm độ tương đối là 70 - 80 %

1.1.3.2 Ảnh hưởng của thuốc sát trùng đến chất lượng trứng trong quá trình bảo quản

Tiêu độc hoá học là phương pháp được dùng phổ biến trong công tác ấp trứng gia cầm Các chất hoá học dùng để tiêu độc, sát trùng thường có tác dụng làm tiêu biến protein hoặc làm kết tủa protein của vi sinh vật hoặc tác dụng kết hợp với các chất cần thiết đối với đời sống của vi sinh vật này thành các sản phẩm độc hại, khi vi sinh vật ăn phải sẽ có tác dụng tiêu diệt ngay chính bản thân vi sinh vật đó

Hiệu lực tác dụng của các chất hoá học phụ thuộc vào tác dụng đặc hiệu của chất đó và sức đề kháng của từng loại mầm bệnh đối với chất đó

Hiệu lực tác dụng còn phụ thuộc vào nồng độ, nhiệt độ của dung dịch đang dùng cũng như nhiệt độ được sát trùng, thời gian tác dụng trên đối tượng đó và tính chất vật lý hoá học của đối tượng tiêu độc Chẳng hạn cho Clo ở dạng khí khi tiếp xúc với vi khuẩn nó sẽ tác dụng với protein của vi khuẩn và tạo thành protenat, do vậy có tác dụng tiêu diệt vi khuẩn nhưng trong môi trường ẩm ướt khí Cl2 có tác dụng diệt trùng cao hơn vì tạo thành axit hypoclorit (HClO) và axit clohidrric (HCl), các chất này có tác dụng ôxy hoá mạnh, phân hủy các chất hữu cơ của vi sinh vật

Trang 19

người, vật nuôi và môi trường; dùng sát trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, nước, không khí khi có vật nuôi; diệt trùng nhanh, hiệu lực ổn định ngay cả trong nước mặn, nước cứng và trong môi trường có tạp chất hữu cơ Có thể sử dụng cho tất cả các hình thức chăn nuôi, nhà ấp trứng, xưởng chế biến thức ăn gia súc

* Formalin:

Thuốc có tác dụng hầu hết với các loại vi khuẩn gr (+), gr (-), virus, nấm (trừ

ký sinh trùng) Khi xông khí formalin cùng formol lỏng phải kết hợp với thuốc tím Khử trùng trứng phải được tiến hành trong buồng rộng, sạch đảm bảo các yêu cầu: Buồng xông phải kín và nhẵn bóng, không bị nứt, hở Trong thời gian xông khí phải đảm bảo quạt đảo khí phải hoạt động để cho khí xông tiếp xúc với tất cả bề mặt vỏ trứng

Khi xông phải khử mùi trứng bằng KMnO4 và formol ta có thể dùng với liều lượng sau: 10g KMnO4, + 20 ml formol/ 1m3 thể tích buồng xông

Thời gian xông khí phải kéo dài từ 20 - 25 phút, sau đó mở cửa buồng xông cho khí lưu thông, nếu cần có thể dùng amoniac 40% để trung hoà (40 ml/m3)

* Han Iodine 10%:

Thành phần có chứa P.V.P Iodine và glycerin Iodine có tác dụng đối với cả vi khuẩn gr (+), gr (-), nha bào, nấm và phần lớn các virus Iodine có tác dụng diệt mầm bệnh bằng cách khuyếch tán vào trong tế bào làm rối loạn tổng hợp protein và cấu trúc của axit nucleic

Iodine là loại thuốc dễ sử dụng không gây độc cho người, môi trường và động vật (thuốc do công ty cổ phần dược và vật tư thú y Hanvet sản xuất)

1.1.3.3 Ảnh hưởng của một số chất kích thích đến chất lượng trứng trong quá trình bảo quản

Vitamin còn được gọi là sinh tố, những hợp chất hữu cơ có khối lượng phân tử nhỏ, cấu tạo hóa học rất khác nhau và đều có hoạt tính sinh học nhằm đảm bảo cho quá trình sinh hoá và sinh lý trong cơ thể tiến hành được bình thường Do đó ảnh hưởng rất lớn đến quá trình trao đổi chất Đây là yếu tố dinh dưỡng không thể thiếu được của mọi cơ thể sinh vật sống Gia cầm rất nhạy cảm với sự thiếu vitamin, trong khẩu phần dù thiếu một lượng nhỏ vitamin cũng làm

Trang 20

ảnh hưởng đến sức sản xuất của chúng, đặc biệt sẽ làm giảm chất lượng sinh học của trứng và từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển phôi trong quá trình ấp nở dẫn đến giảm tỷ lệ nở, chất lượng gà con kém, (Nguyễn Mạnh Hùng và cs, 1994) [5]

Theo Bùi Đức Lũng, Nguyễn Xuân Sơn (2002) [10], khi trong trứng thiếu vitamin B1, gà con nở ra có hiện tượng viêm đa thần kinh (polineurist)

Gà đi không vững, một số con bị liệt, bị atcxia Vì vậy cần bổ sung vitamin B1 trong thức ăn cho gà sinh sản Khi thiếu vitamin B2 làm phôi chậm phát triển, phôi chết nhiều vào nửa cuối thời kỳ ấp, biểu hiện là chân ngắn, ngón cong, mỏ trên ngắn Thiếu vitamin H trong thức ăn gà đẻ gây chết phôi, biểu hiện bệnh: phôi biến dạng, đầu to, mỏ dưới ngắn, mỏ trên quặp xuống, các xương đùi, bàn chân ngắn lại, gà con ngửa đầu vào lưng và quay tròn, biểu hiện bệnh thần kinh Thiếu vitamin B12 thì tỷ lệ chết phôi tăng lên ở giai đoạn 16 - 18 ngày ấp, chân khô, phôi bị xuất huyết toàn thân Thiếu vitamin A, phôi ngừng phát triển, tỷ lệ chết phôi tăng, thận sưng to, một số con nở ra mù mắt Thiếu vitamin D3, chất lượng trứng giảm, trứng bị dị hình nhiều, vỏ mỏng, khả năng sử dụng canxi, photpho của phôi kém gây tỷ lệ chết cao trong giai đoạn cuối của thời kỳ ấp Thiếu vitamin E, tỷ lệ trứng không phôi cao, phôi phát triển chậm, hệ tuần hoàn

bị phá hủy, phôi chết có vòng màu và tập trung nhiều vào ngày ấp 3 và 4

Như vậy, ảnh hưởng của dinh dưỡng vitamin đối với gà sinh sản là rất lớn, nếu thiếu chúng thì sự phát triển phôi kém, tỷ lệ phôi chết cao, tỷ lệ nở thấp, chất lượng gà con nở ra yếu Vì vậy, cần bổ sung đủ vitamin vào thức ăn cho gà sinh sản

Ngoài ra trong quá trình bảo quản trứng ấp, quá trình trao đổi chất của trứng vẫn tiếp tục xảy ra Vì vậy, có thể bổ sung các vitamin trong quá trình bảo quản trứng ấp

1.1.4 Vệ sinh sát trùng đối với công tác ấp trứng gia cầm

Với điều kiện khí hậu nóng ẩm của nước ta là điều kiện thuận lợi cho các loại virus, vi khuẩn, nấm phát triển Hơn thế nữa hầu hết các trại ấp trứng gia cầm ở nước ta vẫn chưa được xây dựng với quy mô và tiêu chuẩn khép kín như: Chưa có hệ thống hút ẩm, tạo áp lực âm cho phòng máy nở cho nên sự tác động của môi trường sinh thái bên ngoài còn nhiều bất lợi về mặt dịch tễ

Trang 21

Trong thực tế, trứng ngay từ sau khi đẻ ra khỏi cơ thể mẹ đã phải tiếp xúc với các loại bụi bẩn, phân, không khí có mang các loại vi sinh vật gây bệnh Vỏ cứng của quả trứng là nơi đầu tiên trực tiếp bị ảnh hưởng của nhân tố trên Bình thường trứng có khả năng chống lại các vi sinh vật gây bệnh rất tốt Các lớp màng ngăn cản vi sinh vật là: Màng vỏ trứng, vỏ trứng, màng lòng trắng và cuối cùng là lòng trắng Trong lòng trắng chứa nhiều men lizozim Khi trứng bị ẩm ướt, đệm lót bẩn, trứng đẻ ra trên nền chuồng, trứng dính phân lên bề mặt Điều này có nguy cơ nhiễm bệnh rất cao, hơn nữa ở bên trong thì có thành phần của các tế bào trứng có dinh dưỡng rất cao là một môi trường tốt cho vi sinh vật gây bệnh phát triển gây hại cho phôi

Một số loại vi sinh vật có khả năng gây bệnh cho trứng gia cầm như sau: Salmonella pullorum, Mycoplasma, E.coli là mối đe doạ nghiêm trọng tới tỷ

lệ ấp nở cũng như chất lượng con giống

Vì thế, để góp phần nào đó vào việc tạo ra những con giống khoẻ mạnh, sạch bệnh thì tốt nhất là sau khi thu nhặt trứng song chúng ta tiến hành vệ sinh

và sát trùng càng nhanh càng tốt Để tiêu diệt ngay những mầm bệnh có bên ngoài vỏ trứng, không cho chúng xâm nhập vào bên trong vỏ trứng

1.1.5 Sự phát triển của phôi thai gà trong thời gian ấp

Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [5] cho thấy nước có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất của phôi Trứng không hấp phụ hơi nước từ môi trường bên ngoài vào mà chỉ bốc hơi từ trong ra Trong trứng nước tự do chiếm khoảng 74 %, phần lớn được hình thành do quá trình oxy hoá các chất hữu cơ Nước tham gia vào các thành phần tổ chức của phôi, nước là dung môi hoà tan các chất dinh dưỡng và là môi trường để xảy ra các phản ứng hoá học Nguồn nước tự do trong trứng chủ yếu là ở lòng trắng Nước của trứng ở tuần đầu giảm rõ rệt, một phần chuyển vào lòng đỏ, một phần thoát ra ngoài Ở sáu ngày ấp đầu, trứng có quá trình bay hơi nước vật lý, do vậy nước mất đi ở giai đoạn này không có lợi, vì nó làm giảm khả năng dịch chuyển của các chất dinh dưỡng hoà tan từ lòng trắng vào lòng đỏ Từ ngày ấp thứ 7 đến ngày ấp thứ 17 sảy ra quá trình bay hơi nước vật lý

Trang 22

Sau khi trứng được đẻ ra, nếu nhiệt độ thấp hơn 270C thì sự phát triển của phôi dừng lại, nhưng khi nhiệt độ này tăng lên trên 270C thì phôi tiếp tục phát triển Sự hình thành thêm 4 màng phôi để cung cấp oxy, chất dinh dưỡng, nước

và bảo vệ chống sự mất nước, chống sóc được tạo nên ngay từ giai đoạn đầu của quá trình ấp

+ Màng ối có tác dụng chống sóc và mất nước;

+ Màng đệm có chức năng hô hấp và hấp thụ canxi;

+ Túi lòng đỏ cung cấp chất dinh dưỡng và định vị phôi

+ Màng niệu là túi chứa chất thải (axit uric)

Thời gian ấp trứng gà là 21 ngày từ khi đưa trứng vào đến khi nở ra gà con Sự phát triển của phôi như sau:

- Ở ngày ấp thứ nhất ba lá phôi được hình thành Đầu tiên là lá phôi trong

và lá phôi ngoài, giữa lá phôi trong và lá phôi ngoài tạo thành lá phôi giữa, 3 lá phôi sau này hình thành nên các cơ quan cơ bản của gia cầm như:

+ Lá phôi ngoài hình thành nên da, lông vũ, não, mỏ, mô thần kinh;

+ Lá phôi trong hình thành nên ruột, các tuyến tiêu hoá, các cơ quan hô hấp và các tuyến nội tiết;

+ Lá phôi giữa hình thành nên xương, cơ máu và các cơ quan còn lại

- Ở ngày ấp thứ hai phôi tiếp tục phát triển tạo thành hệ thống mạch máu bên ngoài bào thai Bắt đầu xuất hiện mầm tim Mạch máu bao quanh lòng đỏ (noãn hoàn) Chất dinh dưỡng của lòng đỏ cung cấp cho phôi

- Ngày ấp thứ ba bắt đầu hình thành đầu, cổ, ngực của phôi Nếp đuôi và nếp cánh lớn lên hợp với nếp thân sau của phôi Từ đó màng ối, màng nhung phân chia thành hai màng túi, màng ở ngoài là màng nhung, màng trong là màng ối Hai màng này dính liền với nhau Qua ngày thứ ba gan và phổi được hình thành

- Ngày ấp thứ tư phôi có dạng như bào thai của động vật bậc cao, độ dài của phôi 8mm Qua đèn soi ta có thể nhìn thấy hệ thống mao quản, có thể đánh giá sự phát triển của qua kích thước và số lượng mạch máu Màng ối có chứa một ít nước và bao phủ lấy phôi, lúc này lòng đỏ đã có sự hoà tan không còn nguyên dạng hình tròn nữa

Trang 23

- Ngày ấp thứ năm phôi phát triển dần đạt chiều dài 12 mm Nhìn bề ngoài,

có hình dáng của loài chim Diều và cơ quan sinh dục hình thành, tính biệt có thể xác định bằng kính hiển vi

- Ngày ấp thứ sáu kích thước của phôi đạt 16 mm Mạch máu bao phủ quanh phôi trông như màng nhện Lúc này hình thành lông vũ, mỏ, phần đầu cứng của mỏ phôi có sự chuyển động

- Ngày ấp thứ bảy Trong màng ối hình thành huyết quản Thành màng ối xuất hiện cơ trơn để màng có thể co bóp được Phôi phát dục trong môi trường nước của màng ối Nước ối vừa chứa dinh dưỡng vừa chứa cả amoniac và axít uric của phôi thải ra Phôi đã hình thành ống dẫn ruột và dạ dày Chất dinh dưỡng đi qua đó

- Ngày ấp thứ tám và thứ chín phôi trở nên nặng và chìm xuống dưới, phôi

đã bắt đầu nhìn thấy giống hình con gà con, mỏ mở có thể nhìn thấy

- Ngày ấp thứ 10: phôi trao đổi chất mạnh mẽ, sinh nhiệt, lông vũ có thể nhìn thấy bằng mắt thường Từ ngày ấp thứ 10 phôi đã thay đổi căn bản về hô hấp và dinh dưỡng Mỏ há ra để cho chất dinh dưỡng từ màng ối đi vào ống tiêu hoá, cuối ngày thứ mười hệ thống mang niệu bao bọc hết đầu nhọn của quả trứng

- Ngày ấp thứ mười một và mười hai ngón chân phát triển, lông tơ được hình thành

- Ngày thứ mười ba và mười bốn, đầu phôi quay về phía đầu to của quả trứng

- Ngày thứ mười năm và mười sáu, phần cuối của ruột non được hình thành, kích thước của túi niệu nang tăng lên tương ứng với kích thước của phôi Lòng trắng hầu như tiêu biến hết, lòng đỏ là nguồn cung cấp dinh dưỡng chủ yếu, móng và mỏ đã cứng Sự hô hấp vẫn nhờ mạch máu

- Ngày thứ mười bảy và mười tám, mỏ hướng về phía buồng khí, dịch màng niệu giảm Sự phát triển của phôi hầu như hoàn chỉnh

- Ngày thứ mười chín, túi lòng đỏ lộn dần vào xoang bụng, phôi chiếm hoàn toàn bộ trứng (trừ buồng khí) và nằm dọc theo trứng: đầu dấu dưới cánh phải, chân ép vào bụng, màng ối ép sát phôi do đã sử dụng hết dịch ối

Trang 24

- Ngày ấp thứ hai mươi, túi lòng đỏ lộn vào trong xoang bụng hoàn toàn,

mổ vỏ trong (chọc thủng lớp màng ngăn với buồng khí), bắt đầu hô hấp bằng phổi Màng niệu - đệm dừng hẳn chức năng và khô (máu được phôi thai hấp thu lại), gà con mổ vỏ trứng (mổ vỏ ngoài)

- Ngày ấp thứ 21: Gà con bắt đầu chui ra khỏi vỏ trứng, gà nở rộ, ngày đầu

lỗ rốn bắt đầu thu hẹp lại, tạo sẹo và kết thúc quá trình ấp

1.1.6 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi và tỷ lệ ấp nở

1.1.6.1 Ảnh hưởng của chế độ bảo quản trứng đến sự phát triển của phôi

Sau khi trứng được đẻ ra, do nhiệt độ môi trường thấp hơn nhiệt độ cơ thể gia cầm mẹ Nhiệt độ của trứng sẽ giảm xuống tới nhiệt độ của chuồng nuôi Nếu nhiệt độ môi trường thấp hơn 270C thì phôi tạm ngừng phát triển, khi nhiệt

độ cao hơn 270C thì phôi lại tiếp tục phát triển Quá trình phát triển của phôi ở giai đoạn này diễn ra không bình thường, không theo quy luật, nó có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi trong thời gian ấp Vì vậy, trứng được đưa vào

ấp càng sớm càng tốt nhưng trong thực tế, thường phải bảo quản trứng một thời gian mới cho vào ấp vì phải gom cho đủ số lượng Để đảm bảo trứng ấp có đủ tiêu chuẩn, trong thời gian bảo quản chúng ta phải ngăn chặn tối đa sự phát triển của

phôi và bốc hơi nước từ trứng bằng cách điều khiển nhiệt độ, độ ẩm thích hợp

Để tạo cho phôi ở trạng thái cân bằng thì nên bảo quản trứng ở nhiệt độ 16

gây ảnh hưởng xấu đến phôi Khi nhiệt độ dưới 00C trứng sẽ bị đóng băng Khi nhiệt độ lớn hơn 270C phôi sẽ phát triển ngay trong thời gian bảo quản, do vậy khi đưa trứng vào ấp có thể gây chết phôi Nếu thời gian bảo quản kéo dài thì sự phát triển của phôi sẽ bị rối loạn, thời gian nở kéo dài, nở rải rác, tỷ lệ nở kém Theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998) [6] thời gian bảo quản trứng kéo dài sẽ có thời gian ấp nở dài Quá hai ngày, trung bình thời gian ấp nở kéo dài 1 giờ/ ngày bảo quản Thời gian bảo quản dài sẽ làm giảm tỷ lệ ấp nở Quá 7 ngày bảo quản, tỷ lệ ấp nở sẽ giảm 0,5 - 1%

Theo Võ Bá Thọ (1990) [18] cho thấy trứng gà công nghiệp bảo quản 7 ngày là phù hợp, sau 7 – 10 ngày tỷ lệ nở sẽ giảm 1%

Trang 25

Abdou và cs (1990) [21] đã chỉ rõ: sau thời gian bảo quản 5 - 6 ngày, thì cứ thêm 1 ngày bảo quản tỷ lệ nở sẽ giảm từ 1 - 3%

Thời gian và nhiệt độ cao thì thời gian bảo quản ngắn và ngược lại Trong điều kiện mùa đông thì thời gian bảo quản trứng được dài hơn so với mùa hè Theo Lê Xuân Đồng và cs (1981) [3] cho biết: Thời gian bảo quản trứng từ

1 - 3 ngày ở nhiệt độ 200C thì tỷ lệ ấp nở không sai khác, nhưng bảo quản trứng

ở nhiệt độ 150C tỷ lệ ấp thấp hơn ở nhiệt độ 200C là 2,9 %

Nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố đến sự phát triển của phôi, nhiều tác giả trong nước đã xác nhận rằng sự phát triển của phôi chịu ảnh hưởng của khối lượng và hình dạng trứng Điều này ngoài yếu tố di truyền còn chịu chi phối bởi chế độ chăm sóc nuôi dưỡng đàn gà bố mẹ và yếu tố mùa vụ trong năm Nguyễn Duy Nhị, Nguyễn Thị San (1982) [13] nghiên cứu xác định khối lượng trứng thích hợp để có tỷ lệ ấp nở cao đã kết luận trứng gà Plymouth Rock

có khối lượng trung bình ở độ tuổi 26 - 33 tuần là 50 - 54g cho tỷ lệ nở cao nhất (72,6%) Bùi Đức Lũng, và cs (1993) [9] nghiên cứu ảnh hưởng của khối lượng trứng gà giống Hybro đến kết quả ấp nở và sức sống của gà con cho biết tỷ lệ

gà loại 1 đạt cao nhất ở lô trứng có khối lượng trung bình 52 - 64g (80-85%), thấp nhất ở lô trứng có khối lượng nhỏ 45- 49 g (60,9%)

1.1.6.2 Một số yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của phôi và tỷ lệ ấp nở

* Ảnh hưởng của nhiệt độ tới sự phát triển của phôi

Nhiệt độ môi trường có ý nghĩa quan trọng đến sự phát triển của phôi, vì

sự phát triển của phôi gia cầm diễn ra ngoài cơ thể mẹ Các nhà nghiên cứu cho rằng nhiệt độ là yếu tố quan trọng, đảm bảo cho sự thành công của quá trình ấp Bởi vì nó ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của phôi Nhiệt độ tốt nhất là giới hạn nhiệt độ phôi có thể chịu đựng được để sinh trưởng phát triển bình thường

Theo Nguyễn Duy Hoan và Trần Thanh Vân (1998) [6] cho biết: bình thường nhiệt độ máy ấp dao động trong khoảng 370C - 380C Khi nhiệt độ tăng cao (trong mức giới hạn) thì sức lớn của phôi cũng tăng, phôi phát triển mạnh Ngược lại trong thời gian này nhiệt độ thấp hơn mức quy định sẽ làm cho phôi phát triển chậm lại Ở nửa sau của quá trình ấp (sau khi màng niệu khép kín ở

Trang 26

phía trong của đầu nhọn) Sự phát triển của phôi phụ thuộc vào sự phát triển của phôi trong thời gian đầu Tức là nó phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ, nếu nửa đầu của quá trình ấp phôi thai phát triển chậm do ảnh hưởng của nhiệt độ thấp thì nửa sau của quá trình ấp ta tăng nhiệt độ (tăng trong mức cho phép) sẽ có lợi cho sự phát triển của phôi thai Nếu nhiệt độ cao trong giai đoạn ấp sẽ làm cho gia cầm nở sớm, gia cầm nhỏ, rốn có cục, mắt nhắm, chân cong, đặc biệt gây chết phôi cao khi nhiệt độ quá giới hạn (>380C) Nếu nhiệt độ quá thấp trong giai đoạn ấp sẽ dẫn tới gia cầm nở muộn và kéo dài, gia cầm nở ra yếu, hở rốn

* Ảnh hưởng của ẩm độ đến sự phát triển của phôi

Ẩm độ cũng là một trong những yếu tố quan trọng của quá trình ấp và phát triển của phôi Độ ẩm không khí có ý nghĩa cơ bản về nhiều mặt cho sự phát triển của phôi, ảnh hưởng đến sự bay hơi nước từ trong trứng, cung cấp và trao đổi nhiệt Trong máy ấp thì ẩm độ điều hoà sự bay hơi nước của trứng và độ toả nhiệt của trứng Phần lớn trong quá trình ấp, độ bay hơi nước của trứng phụ thuộc trực tiếp vào độ ẩm tương đối trong máy ấp Nếu độ ẩm trong máy ấp cao thì sự bay hơi nước của trứng sẽ giảm, độ ẩm trong máy ấp thấp thì sự bay hơi nước của trứng sẽ cao Khi màng niệu khép kín phía trong quả trứng, thì sự bốc hơi nước của trứng giảm dần và phụ thuộc vào cường độ trao đổi chất của phôi, phôi càng hấp phụ được nhiều chất dinh dưỡng thì sự bốc hơi nước của trứng càng nhiều

Sự bay hơi nước từ trứng còn làm mất nhiệt Trong những ngày đầu quá trình ấp lượng nhiệt mất đi trong quá trình bay hơi nước lớn hơn nhiệt lượng cung cấp cho trứng Vì vậy phải tăng độ ẩm không khí để giảm sự bốc hơi nước cũng chính là để cung cấp nhiệt cho trứng Nửa sau của quá trình ấp chỉ có một phần nhỏ nhiệt tạo nên trong trứng bị mất đi trong lúc bay hơi nước Nhiệt độ của trứng lúc này cao hơn so với môi trường trong máy ấp và trứng truyền nhiệt

ra ngoài làm nóng không khí Nhưng không khí thì ít có khả năng sinh nhiệt ngược lại với hơi nước, do đó môi trường trong máy ấp càng chứa nhiều nước thì càng tăng khả năng sinh nhiệt của không khí và sự mất nhiệt của trứng Như vậy, ẩm độ còn có tác dụng điều hoà sự toả nhiệt của trứng

Trang 27

Ở cuối thời kỳ ấp, sự bay hơi nước từ trứng còn phụ thuộc vào cường độ trao đổi chất của phôi, do sự trao đổi chất của phôi ở cuối thời kỳ ấp tăng cao nên phôi thải nhiệt mạnh Do đó ẩm độ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc thải nhiệt của trứng ở thời kỳ cuối của quá trình ấp Ẩm độ cao (trong mức giới hạn) sẽ có lợi cho quá trình thải nhiệt của trứng và sẽ tốt cho sự phát triển của phôi

Các yếu tố như: nhiệt độ, độ ẩm, độ thông thoáng của máy ấp và sự phát triển của phôi đều có ảnh hưởng đến sự bốc hơi nước của trứng

Nếu ẩm độ ở mỗi thời kỳ ấp đều cao hoặc thấp hơn mức quy định đều làm giảm tỷ lệ nở và đều làm tăng tỷ lệ trứng sát tắc

Tác giả Nguyễn Văn Trọng (1998) [19] cho biết: nếu ẩm độ ở mỗi thời kỳ

ấp cao hoặc thấp hơn mức quy định sau (1 - 24 ngày ấp yêu cầu đạt 54 - 58%, ở ngày ấp thứ 25 yêu cầu đạt 52%, từ ngày ấp 26 - 28 yêu cầu đạt 68 - 72%) đều làm giảm tỷ lệ ấp nở và ảnh hưởng đến chất lượng vịt con 1 ngày tuổi Ẩm độ quá cao hoặc quá thấp sẽ làm tăng tỷ lệ trứng sát tắc 4 - 8 %, tỷ lệ chết phôi kỳ

1 và kỳ 2 tăng 2 - 5% Tỷ lệ nở giảm 1 - 2 %, tỷ lệ vịt loại 1 giảm 2 - 7 % Tóm lại, ẩm độ máy ấp cao kéo dài sẽ làm cho sự phát triển của phôi chậm lại, sự trao đổi chất của phôi kém, làm cho gia cầm nở chậm và nở rải rác không đồng loạt, ẩm độ cao còn là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn và nấm mốc ở

vỏ trứng phát triển gây hại cho trứng Trong 5 - 6 ngày đầu ẩm độ cao không gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của phôi nhưng sau 6 ngày sẽ hạn chế sự phát triển của túi niệu nang và khép chậm ở phía đầu nhọn Trong nửa sau của quá trình ấp ẩm độ quá thừa làm chậm sự sinh trưởng và phát triển của phôi, phôi sẽ hấp phụ lòng trắng không hết và tồn đọng lại ở phía đầu nhỏ Ẩm độ cao trong suốt quá trình ấp sẽ kéo dài thời gian nở, gà không nở hàng loạt, gây chết phôi Ngược lại, trong trường hợp ẩm độ quá thấp, ngay những ngày đầu

ấp gây mất nước, buồng khí tăng thể tích nhanh, màng niệu khép kín sớm, phôi phát triển nhanh, gà khó nở hoặc nở sớm, gia cầm khô lông trước khi ra khỏi vỏ trứng, khối lượng thấp tỷ lệ nở kém

* Ảnh hưởng của thông thoáng đến sự phát triển của phôi

Phôi gia cầm cũng như các động vật khác, phôi cũng cần có oxy để duy trì

sự sống, độ thông thoáng của máy ấp cần đảm bảo bất kỳ vùng nào trong máy

Trang 28

ấp cũng có nhiệt độ và độ ẩm như nhau và nó còn đảm bảo lưu thông không khí trong máy ấp

Theo Bùi Đức Lũng, Nguyễn Xuân Sơn (2002) [10] thì độ thông thoáng là tốc độ không khí sạch ở ngoài và tốc độ thải không khí bẩn ở trong (chứa CO2

và H2S) khí nóng ra ngoài Thông khí là đảm bảo cung cấp lượng oxy cần thiết cho phôi phát triển, đồng thời loại bỏ các khí có tác động xấu đến sự phát triển của phôi ra ngoài như: CO2 và H2S khi lượng oxy trong máy ấp dưới 15% sẽ gây chết phôi hàng loạt Khi lượng CO2 trong không khí khoảng 1% sẽ làm đình chệ sự phát triển của phôi và sẽ làm tăng cao tỷ lệ chết phôi Lượng CO2 có thể

có trong máy ấp là không lớn hơn 0,2% sẽ đảm bảo cho phôi phát triển tốt

Như vậy, hệ thống tạo khí trong máy ấp cũng như hệ thống tự báo nhiệt độ,

độ ẩm cần phải hoạt động tốt là yêu cầu hết sức nghiêm ngặt chỉ sơ xuất nhỏ cũng làm tăng nhiệt độ, độ ẩm hay ngừng không khí sẽ làm chết phôi hàng loạt

* Ảnh hưởng của đảo trứng, làm mát trứng tới sự phát triển của phôi

Trong quá trình ấp phôi thay đổi vị trí theo một trình tự nhất định, nếu trình tự này bị đảo lộn và trong một thời gian nào đó phôi nằm sai vị trí, thì lúc

nở vị trí của phôi cũng vẫn bình thường

Khi ấp trứng nhân tạo, trứng phải được đảo thường xuyên (ít nhất 2 lần/ngày) từ khi bắt đầu ấp đến ngày thứ 18 Vì trong những ngày ấp đầu tiên, nếu không đảo trứng phôi sẽ bị ép vào vỏ, sự phát triển của phôi sẽ bị dừng lại

và phôi sẽ chết Để tránh cho phôi không bị dính vào một bên vỏ trứng đồng thời làm cho nhiệt tiếp xúc đều tới tất cả các phần của quả trứng, đồng đều giữa các khay trong máy ấp ta phải đảo trứng và làm mát trứng

Nếu đảo trứng giữa quá trình ấp màng niệu sẽ bị dính vào túi lòng đỏ Do vậy phôi không thu được túi lòng đỏ vào trong xoang bụng hoặc làm rách túi lòng đỏ ở cuối giai đoạn ấp

Đối với trứng vịt, trứng ngan theo tác giả Nguyễn Đăng Lưu và cs (2001) [12] thì: ngoài việc đảo trứng trong máy ấp 1 lần /giờ thì ta còn phải tiến hành chuyển trứng ra ngoài máy đảo bằng tay từng quả một Khi đưa trứng vào ấp được xếp nghiêng, khi đảo bằng tay thì ta lật ngược lại từng quả, đồng thời kết

Trang 29

hợp phun nước làm mát (phun dưới dạng sương mù) làm mát trong khoảng 5 –

15 phút (tăng theo thời gian ấp)

Thực hiện việc đảo trứng và làm mát trứng ngoài máy ấp như sau:

- Từ ngày ấp thứ 11 – 15 đảo trứng bằng tay 1 lần/ngày

- Từ ngày ấp thứ 16 – 25 đảo trứng bằng tay 2 lần/ngày

Như vậy, yếu tố đảo trứng có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình ấp trứng Đảo trứng không chỉ đơn thuần giúp cho quả trứng tiếp xúc đều với với nhiệt độ mà còn nâng cao tỷ lệ ấp nở, giảm tỷ lệ trứng sát tắc và nâng cao chất lượng con giống

* Ảnh hưởng của vệ sinh sát trùng đến tỷ lệ ấp nở

Trong quá trình ấp trứng nhân tạo thì nhiệt độ và yếu tố ẩm độ là những yếu tố cần thiết cho sự phát triển của phôi thai Nhưng một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng không nhỏ tới tỷ lệ ấp nở, chất lượng con giống, đó là sự nhiễm vi rút, vi khuẩn, nấm vào trứng dẫn đến tỷ lệ ấp nở thấp

Sau khi gia cầm mái đẻ trứng, trứng tiếp xúc với rất nhiều vi khuẩn từ phân, đệm lót do vậy mà bề mặt của trứng rất nhiều vi khuẩn

Do vậy trứng không được sát trùng thì những mầm vi rút, vi khuẩn, nấm

đó sẽ là cơ hội xâm nhập vào trứng, khi đem trứng vào ấp các điều kiện trong máy ấp như: nhiệt độ, độ ẩm, nước, dinh dưỡng rất thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, các vi khuẩn trên bề mặt trứng sẽ phát triển rất nhanh xâm nhập vào bên trong trứng làm tăng tỷ lệ chết phôi Một số chủng vi khuẩn sẽ làm thối nổ trứng và làm lây nhiễm mầm bệnh sang những quả trứng khác trong máy ấp Điều này không chỉ làm giảm tỷ lệ ấp vì tỷ lệ chết phôi cao mà còn ảnh hưởng tới chất lượng gia cầm nở ra Những con giống này dễ chết do nhiễm bệnh vào ngày tuổi đầu tiên Và đây cũng là một trong những nguyên nhân làm bùng nổ dịch bệnh ở những cơ sở chăn nuôi

Theo Nguyễn Quý Khiêm (2002) [8] nghiên cứu về việc khử trùng trứng trước khi ấp nở trứng gà Tam Hoàng cho thấy: Tỷ lệ trứng chết phôi và chết tắc thấp hơn hẳn so với trứng không được khử trùng

Trang 30

Thí nghiệm được bố trí 2 lô: Lô 1 được khử trùng hai lần sau khi nhặt và trước khi ấp bằng formol và thuốc tím đạt kết quả là tỷ lệ chết phôi 3,10 %, tỷ

lệ chết tắc 5,74 %, tỷ lệ trứng nổ/ tổng trứng ấp 85,97 % và tỷ lệ trứng nở/ phôi trứng 91,15 % Lô 2 không được khử trùng với kết quả: tỷ lệ chết phôi 4,72 %, tỷ

lệ chết tắc 6,97 %, tỷ lệ trứng nổ/ tổng trứng ấp là 83,42 %, tỷ lệ trứng nở/ phôi trứng là 88,58 % Sự sai khác giữa hai lô về tỷ lệ ấp nở là rõ rệt với P < 0,01

Chính vì thế, việc vệ sinh sát trùng sau khi đẻ và trước khi ấp là rất cần thiết, không những hạn chế được tỷ lệ trứng thối mà còn giảm được tỷ lệ chết phôi, nâng cao tỷ lệ nở và tỷ lệ gia cầm loại 1

* Ảnh hưởng của hình dạng trứng đến tỷ lệ ấp nở

Trứng gia cầm bình thường có hìng bầu dục hay hình elip, hình dạng của quả trứng liên quan đến từng cá thể Hình dạng trứng được đánh giá qua chỉ số hình dạng và có thể xác định bằng tỷ lệ phần trăm giữa chiều dài so với chiều rộng hoặc tỷ số chiều dài với chiều rộng

Hình thái của trứng không những có ý nghĩa trong bảo quản, vận chuyển tiêu thụ mà còn liên quan đến tỷ lệ ấp nở của gia cầm Đối với quả trứng dài thì buồng khí sẽ xa phôi và dẫn đến việc trao đổi khí của phôi kém, dẫn đến tỷ lệ

nở thấp Quả trứng tròn, thường thì buồng khí sẽ nhỏ (thể tích buồng khí bé) hàm lượng oxy không đủ cung cấp cho phôi phát triển Mặt khác khoảng cách giữa phôi và buồng khí quá nhỏ, quá trình trao đổi khí sẽ mạnh sản sinh nhiều nhiệt, sản phẩm gây độc hại đến sự phát triển của phôi Nói chung những quả trứng quá tròn hoặc quá dài đều làm cho tỷ lệ nở thấp

* Ảnh hưởng của nuôi dưỡng đàn gia cầm bố mẹ của đến tỷ lệ ấp nở

Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng đàn gia cầm bố mẹ không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng trứng mà còn ảnh hưởng giản tiếp đến tỷ lệ trứng ấp nở Trong khẩu phần thức ăn cho gia cầm, nếu thiếu một số khoáng chất và vitamin thì nó sẽ làm giảm chất lượng của trứng và có ảnh hưởng đến kết quả ấp nở

Lượng vitamin và khoáng trong khẩu phần cho gà không đầy đủ sẽ làm giảm thành phần trứng và sẽ có ảnh hưởng bất lợi đối với sự phát triển của phôi Trong đó phôi chết là phổ biến, phần lớn chết phôi thường sảy ra khi chuyển tiếp

Trang 31

đệm niệu nang Quá trình diễn ra từ ngày ấp thứ 3 đến ngày ấp thứ 4 và lúc hoàn chỉnh thai từ ngày ấp thứ 18 đến ngày ấp thứ 21 Trong chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm, chất khoáng đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển Các nguyên tố khoáng ngoài việc tham gia cấu tạo bộ xương, cấu tạo tế bào dưới dạng muối của chúng, nó còn là thành phần các enzym và vitamin, là những chất xúc tác sinh học trong cơ thể Trong dịch thể,

nó ở trạng thái hòa tan và ion đảm bảo cân bằng nội môi Chức năng của các chất khoáng cực kỳ đa dạng, từ việc tham gia cấu tạo ở một tế bào, cho đến hàng loạt các chức năng điều hòa ở tế bào khác Nhu cầu về khoáng trong khẩu phần ăn cho gia súc bị ảnh hưởng bởi giá trị sinh học của chất khoáng trong nguyên liệu dùng làm thức ăn

Phương thức nuôi là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng trứng của gia cầm sinh sản Kết quả của nhiều công trình nghiên cứu và trong thực tế sản xuất cho thấy; khi nuôi ga cầm sinh sản theo phương thức nhốt hoàn toàn sẽ giảm được tiêu tốn thức ăn cho 1 đơn vị sản phẩm, do khi nuôi nhốt, gia cầm hạn chế vận động và ngược lại tiêu tốn thức ăn cho một đơn vị sản phẩm sẽ tăng lên khi nuôi gia cầm sinh sản theo phương thức bán chăn thả hay chăn thả tự do Tuy nhiên khi nuôi gia cầm sinh sản theo phương thức bán chăn thả hay chăn thả tự do thì gia cầm sẽ khỏe hơn, ít bệnh tật hơn do vận động nhiều và từ đó nâng cao được năng suất sinh sản Ngoài ra khi nuôi gia cầm theo phương thức bán chăn thả và chăn thả tự do gia cầm còn

có thể tự kiếm một phần thức ăn trên bãi thả, làm giàu thêm nguồn vitamin từ

đó làm tăng màu sắc lòng đỏ dẫn đến tăng chất lượng trứng, hợp thị hiếu người tiêu dùng và tăng hiệu quả kinh tế Đối với gia cầm giống thì phương thức nuôi

có ảnh hưởng rất rõ đến kết quả ấp nở thông qua tỷ lệ cho phôi Với gà sinh sản nuôi theo phương thức bán chăn thả, do gà được vận động nhiều hơn (đặc biệt

là gà trống) nên chúng khỏe mạnh hơn, hạn chế các bệnh về chân, có điều kiện trống mái tập trung hơn nên tỷ lệ cho phôi thường cao hơn

Ngoài ra tỷ lệ ấp nở của trứng gia cầm còn phụ thuộc vào giống, tuổi, tình trạng sức khoẻ của đàn gia cầm, chất lượng con đực và tỷ lệ trống mái

Trang 32

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi và tỷ lệ ấp

nở đã được rất nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới quan tâm đến nhằm tìm ra một chế độ ấp nở thích hợp Hàng loạt các nghiên cứu chỉ ra rằng

tỷ lệ ấp nở phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: di truyền, chăm sóc, nuôi dưỡng, chế độ bảo quản, vệ sinh sát trùng trứng, chế độ ấp

Theo Lê Xuân Đồng và cs (1981) [3] ảnh hưởng của nhiệt độ bảo quản đến tỷ lệ ấp nở là rất rõ rệt Bảo quản ở nhiệt độ – 1,10C tỷ lệ nở / tổng là 0,2 % và

tỷ lệ nở/phôi là 2,2 % Bảo quản ở nhiệt độ 4,40C tỷ lệ nở / tổng là 66,1 % và tỷ lệ nở/phôi là 71,2 % Bảo quản ở nhiệt độ 100C tỷ lệ nở / tổng là 71,3 % và tỷ lệ nở/phôi là 78,7 % Bảo quản ở nhiệt độ 15,50 C tỷ lệ nở / tổng là 70,6 % và tỷ lệ nở / phôi là 76,5 % Bảo quản ở nhiệt độ 210 C tỷ lệ nở / tổng là 69,1 % và tỷ lệ nở / phôi

là 73,7 % Tác giả còn cho biết ảnh hưởng của thời gian bảo quản trứng đến tỷ lệ

ấp nở đối với trứng gà như sau: Trứng gà mới đẻ 87,3 %, trứng bảo quản 2 ngày 84,7 %, trứng bảo quản 6 ngày 80,4 %, trứng bảo quản 10 ngày 79,9 %, trứng bảo quản 14 ngày 70,1% và trứng bảo quản 18 ngày 41,3 %

Nguyễn Văn Trọng (1998) [19] nghiên cứu ảnh hưởng của việc xông khử trùng trứng vịt CV – Super M trước bảo quản 4 và 7 ngày bằng formol và thuốc tím kết quả cho thấy lô trứng được khử trùng cho tỷ lệ ấp nở/tổng là 84,79%, lô trứng không khử trùng cho tỷ lệ ấp nở /tổng là 82,64% Chênh lệch giữa hai lô là 2,15% với P < 0,05

Tác giả Bùi Đức Lũng và cs (1996) [11] đã nghiên cứu và xác định khối lượng trứng thích hợp đem ấp tuỳ thuộc vào từng giống Với trứng gà nói chung thì trứng giống đem ấp phải đảm bảo khối lượng 52 – 64 g, với trứng vịt Khakicampbell là 65 - 75 g sẽ cho hiệu quả cao nhất ở cả hai giai đoạn ấp nở và chăn nuôi Các tác giả đã thử nghiệm chiếu tia laze có bước sóng 628 λ lên trứng trong thời gian 4 giây và khoảng cách từ nơi chiếu đến phôi là 40 cm Kết quả đã làm tăng tỷ lệ nở, tăng tỷ lệ nở loại 1 lên 1%, đồng thời có tác dụng tốt đối với sự sinh trưởng và phát triển của gà con

Trang 33

Nguyễn Ân và cs (1975) [1] nghiên cứu đặc điểm hình thái, cấu tạo lý học

và hóa học của trứng gà Ri 11 tháng tuổi cho biết: thành phần cấu tạo, tỷ lệ đối với khối lượng trứng như sau: khối lượng trứng trung bình 43,95g thì tỷ lệ lòng

đỏ là 33,14%, tỷ lệ lòng trắng là 59,89%, tỷ lệ lòng trắng/lòng đỏ là 1,66 Các tác giả cho rằng chỉ số lòng trắng và chỉ số lòng đỏ cao sẽ cho kết quả ấp nở tốt Trần Phùng và cs (1995) [14] nghiên cứu quy trình ấp nở trứng vịt Khaki Campbell cho thấy nhiệt độ có ảnh hưởng khác nhau đến sự phát triển của phôi, thời gian và tỷ lệ nở của trứng vịt Thí nghiệm với 3 mức nhiệt độ: lô 1 (37,80C; 37,50C và 37,30C), lô 2 (37,50C; 37,30C và 370C), lô 3 (37,30C; 37,10C và 36,80C) kết quả cho thấy tỷ lệ giảm khối lượng trứng sau 24 ngày ấp ở lô 1 là 12,84%; lô 2 là 12,01%; lô 3 là 10,02% Tỷ lệ nở/tổng trứng có phôi là 73,7% ở

lô 1; 88,14 % ở lô 2 và 86,67% ở lô 3 Tỷ lệ nở vịt con loại 1 lô 1 là 91,54%; lô

2 là 96,49% và ở lô 3 là 96,1%

Tác giả Bạch Thị Thanh Dân và cs (1997) [2] đã nghiên cứu xây dựng quy trình ấp nở trứng gà Sao, kết quả cho thấy chế độ ấp trong máy đơn kỳ: giai đoạn ấp từ 1 - 6; 7 - 15; 16 - 23 ngày tương ứng với mức nhiệt độ 38,10C; 37,70C; 37,50C; mức ẩm độ 60 – 65%; 55 – 60%; 50 - 55% đạt 87,80% và 91,10% nở/trứng có phôi Giai đoạn nở: từ 24 - 24,5; 24,5 - 25; 25 - 26 ngày ứng với mức nhiệt độ 37,50C; 37,30C và 370C, mức ẩm độ 85 - 90% đạt 89,06% nở/trứng có phôi

Chế độ ấp máy đa kỳ giai đoạn ấp từ 1 - 23 ngày với mức nhiệt độ 37,70C; ẩm

độ 55 - 60% đạt 85,09% và 89,36% nở/trứng có phôi Giai đoạn nở từ 24 - 26 ngày với mức nhiệt độ 37,50C - 37,00C; ẩm độ 85% - 90% đạt 87,42 % nở/trứng có phôi Thực hiện kỹ thuật kích nở bằng phương pháp điều chỉnh gián đoạn lượng không khí ra vào buồng nở đã làm tăng hiệu quả với 96,67% tỷ lệ trứng ra nở; 98,80% tỷ lệ trứng gà loại 1, 91,45%/trứng có phôi Khi gà được nuôi đến 7 ngày tuổi tỷ lệ nuôi sống đạt 99,57%

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Nghiên cứu về việc khử trùng trứng trước khi ấp, các nhà nghiên cứu đẫ sử dụng nhiều phương pháp khác nhau và đã đưa ra nhận định: Trứng được vệ sinh sát trùng trước khi ấp cho kết quả ấp nở tốt hơn trứng không được khử trùng

Trang 34

Nghiên cứu khử trùng bằng việc phun nước có chứa iôt trong quá trình ấp

nở ở trứng vịt Bắc Kinh, các tác giả Sharma và Pruthi (1989) [29] đã theo dõi

kết quả của 3 nhóm trứng: nhóm 1: không sử lý cho tỷ lệ nở 49 %, nhóm 2 phun

Polysan (có chứa iôt) từ 7 – 24 ngày ấp cho tỷ lệ nở 69%, nhóm 3 phun Polysan

từ 14– 24 ngày ấp cho tỷ lệ nở là 72, 25 % (với P < 0,05)

Ramos và cs (1989) [28] khi nghiên cứu việc rửa khử trùng trứng ngỗng

trước khi ấp và trứng không rửa sát trùng cho thấy kết quả như sau trứng được

rửa khử trùng cho tỷ lệ chết phôi là 7,51%, tỷ lệ sát tắc là 8,22%,

tỷ lệ chết phôi là 8,90%, tỷ lệ sát tắc 11,93%, tỷ lệ nở là 80,51%

Tác giả Narahari và cs (1981) [25] đã thử nghiệm xông 1,55g Chlo khí/

1m3 thể tích buồng xông để tiêu độc sát trùng trứng đã nâng cao được tỷ lệ ấp

nở và gà con loại 1

Sigh, (1981) [29] đã dùng iôt 0,2 % tiêu độc vỏ trứng với thời gian ngâm

từ 30 – 60 ngày đã làm tỷ lệ chết phôi ở các giai đoạn là 1,6%, làm tăng tỷ lệ ấp

nở lên 1,8 % với trứng không được tiêu độc

Tác giả Wilson (1991) [30] đã dùng tia tử ngoại chiếu lên trứng gà, kết quả

đã làm tăng tỷ lệ ấp nở lên 1,2%

Theo Narahari và cs (1981) [25] sự sống của phôi giảm dần khi thời gian

bảo quản trứng trước khi ấp tăng

Các tác giả Fasenko và cs (1991) [23] cho biết ảnh hưởng của phương thức

bảo quản với thời gian thu gom trứng sau khi đẻ đến sự phát triển của phôi, thí

nghiệm được theo dõi trên đàn gà 38 – 42 tuần tuổi, thí nghiệm 1 thực hiện việc

thu nhặt trứng trong vòng 1 giờ sau khi đẻ ra, thí nghiệm 2 thu nhặt trứng sau 6 - 7

giờ, tất cả hai lô cho bảo quản ở nhiệt độ 13,80C trong 4 ngày, kết quả cho thấy khi

mở 250 trứng ra kiểm tra sự phát triển của phôi của trứng được thu gom 6 - 7 giờ

sau khi đẻ ra cho phôi lớn hơn so với trứng thu trong vòng 1 giờ (P < 0,05)

Wilson (1991) [30] cho biết tỷ lệ nở của trứng có kích thước trung bình

cao hơn so với trứng quá to hoặc quá nhỏ Tỷ lệ nở, khối lượng gà sơ sinh, khả

năng sinh trưởng và tỷ lệ nuôi sống thấp ở những trứng đẻ đầu tiên Thời gian

ấp nở thường có tương quan thuận với khối lượng trứng Khối lượng gà sơ sinh

Trang 35

trước hết phụ thuộc vào khối lượng trứng đem ấp và tương quan giữa khối lượng trứng với khối lượng gà con giảm theo tuổi của gà mẹ Sigh (1981) [29]

đã chỉ ra rằng chất lượng trứng ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả ấp nở, trứng cỡ trung bình của giống có tỷ lệ nở 87%; trứng nhỏ hoặc quá nhỏ là 80%; trứng đặc biệt to là 71%, trứng vỏ mỏng, rạn nứt là 53%; trứng méo là 49% và trứng

có vỏ sần sùi là 47%

Nhiệt độ và ẩm độ là hai yếu tố có ảnh hưởng cơ bản đối với quá trình ấp nở trứng, nó tác động đến sự hoàn thiện từng cơ quan trong mỗi thời kỳ ấp Kết quả nghiên cứu của Barott (1978) [22] cho thấy: khi ấp trứng ở nhiệt độ 38,80C, ẩm độ 55% cho tỷ lệ nở 80% và ở nhiệt độ 37,70C, ẩm độ 60% thì tỷ lệ nở tăng lên 90%

Trang 36

Phần 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Trứng gà lấy từ đàn gà bố mẹ khoẻ mạnh trong giai đoạn từ tuần tuổi 30 – 40 nuôi tại Thái Nguyên

- Các loại thuốc sát trùng: KMnO4, formol 38%, H2O2 10%,

- Dụng cụ chuyên dụng: Máy ấp trứng công nghiệp đa kỳ, máy nở, kho lạnh, đá lạnh khô, cân điện tử

2.1.2 Thời gian nghiên cứu

- Từ tháng 3/2009 đến tháng 9/2010

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu

Xã Quyết Thắng – TP Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên

2.2 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU

2.2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm

Trứng đưa vào thí nghiệm được lấy từ đàn gà sinh sản khoẻ mạnh, không mắc bệnh truyền nhiễm, được chăm sóc nuôi dưỡng vệ sinh phòng bệnh tốt Trứng giống được thu nhặt 4 lần/ngày, vào cuối mỗi buổi chiều sau khi nhặt quả trứng lần cuối, trứng được chọn loại bỏ những quả trứng bị dập vỡ, không

đủ tiêu chuẩn ấp

Trứng được đánh số, cân từng quả, bằng cân điện tử để phân loại theo các mức khối lượng, đo các chiều bằng thước kẹp để tính các mức hình dạng trước khi đưa vào sát trùng

Thí nghiệm 1 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phương pháp sát trùng đến kết quả ấp nởcủa trứng gà

- Lô thí nghiệm 1 (KMnO4 + HCHO) Trứng thu trong ngày được sát trùng

formol/m3 buồng xông, thời gian xông 30 phút hàng ngày trước khi bảo quản 3, 5, 7

và 9 ngày

Trang 37

- Lô thí nghiệm 2 (H2O2 2%): Trứng thu trong ngày được sát trùng

đó để khô tự nhiên trước khi bảo quản 3, 5, 7 và 9 ngày

- Lô thí nghiệm 3 (Tetracycline 0,1%): Trứng thu trong ngày được sát trùng bằng cách ngâm ngập trong dung dịch tetracycline 0,1% trong 20 – 30 phút sau đó để khô tự nhiên trước khi bảo quản

- Lô thí nghiệm 4 (không sát trùng): Trứng thu được trong ngày, không sát trùng trước khi đưa đi bảo quản

Thí nghiệm 2 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp bảo quản trứng đến kết quả ấp nở của trứng gà

Bảo quản trong vụ đông

- Lô thí nghiệm 5 (bảo quản tự nhiên): Trứng được cân, ghi số từng quả, ngày

đẻ và bảo quản 3,5,7 và 9 ngày trong điều kiện thời tiết tự nhiên của mùa đông

- Lô thí nghiệm 6 (sưởi ấm trước khi bảo quản): Trứng thu hàng ngày, được cân, ghi số từng quả, đưa vào làm ấm trong máy ấp có nhiệt độ 37,50C trong thời gian 4 – 5 giờ rồi đem ra bảo quản 3, 5, 7, 9 ngày trong điều kiện thời tiết tự nhiên của mùa đông

- Lô thí nghiệm 7 (bảo quản trong môi trường giàu CO2): Trứng sau khi thu nhặt, ghi số, cân, phân loại xong đưa vào túi nilon ép hết khí và buộc chặt miệng trong 10 -12 giờ trước khi bảo quản Thời gian bảo quản 3, 5, 7 và 9 ngày

Bảo quản trong vụ hè

- Lô thí nghiệm 8 (bảo quản tự nhiên): Trứng được cân, ghi số từng quả, ngày đẻ và bảo quản 3, 5, 7 và 9 ngày trong điều kiện thời tiết tự nhiên của mùa hè

- Lô thí nghiệm 9 (bảo quản lạnh cách quãng ở 160C): Trứng được cân, ghi

số từng quả, ngày đẻ và bảo quản trong phòng lạnh 160C với thời gian bảo quản

3, 5, 7 và 9 ngày

- Lô thí nghiệm 10 (bảo quản bằng đá khô): Trứng được cân, ghi số từng quả, ngày đẻ sau đó được bảo quản lạnh trong các thùng xốp Cách làm: trải 1 lớp đá khô dưới cùng sau đó để 3 – 4 lớp trứng lên trên, tiếp tục làm như vậy

Trang 38

đến khi đầy thùng Trứng được giữ trong đó 4 – 5h, sau đó đưa ra bảo quản ở nhiệt độ thường, sau 4 – 5 ngày lại làm mát 1 lần như vậy trong thời gian bảo quản 3, 5, 7 và 9 ngày

Thí nghiệm 3 Nghiên cứu ảnh hưởng của kích thích trứng trong thời gian bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng gà

- Lô thí nghiệm 11 (không kích thích): Trứng được cân, ghi số từng quả, ngày đẻ và sát trùng bằng phương pháp xông hỗn hợp KMnO4 và formol theo

quản 3 ngày trong điều kiện thời tiết tự nhiên của mùa đông

- Lô thí nghiệm 12 (vitamin B12 + glucoza): Trứng được cân, ghi số từng quả, ngày đẻ và sát trùng bằng phương pháp xông hỗn hợp KMnO4 và formol theo công thức 17,5g KMnO4 + 35ml formol/m3 buồng xông sau đó sưởi

ấm trứng ở nhiệt độ 380C trong thời gian 60 phút rồi ngâm toàn bộ trứng vào trong dung dịch vitamin B12 0,003 % + glucoza 1%, đưa ra để khô tự nhiên trước khi bảo quản 3 ngày trong điều kiện thời tiết tự nhiên của mùa đông

- Lô thí nghiệm 13 (vitamin B1, B2, B6): Trứng được cân, ghi số từng quả,

nhiệt độ 38 0C trong thời gian 60 phút rồi ngâm toàn bộ trứng vào trong dung dịch vitamin B1, B2, B6 có nồng độ 50 mg/ lít nước đun sôi để nguội có nhiệt

độ 6 – 90C trong vòng 10 phút, đưa ra để khô tự nhiên trước khi bảo quản 3 ngày trong điều kiện thời tiết tự nhiên của mùa đông

Tất cả trứng thí nghiệm được ấp trong cùng một điều kiện ấp nở, mọi thao tác kỹ thuật đều giống nhau chỉ khác nhau yếu tố thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh theo sơ đồ sau:

Trang 40

2.2.2 Các chỉ tiêu theo dõi

- Tỷ lệ chết phôi qua các giai đoạn

- Tỷ lệ trứng thối nổ trong quá trình ấp

Chúng tôi quy định tính trứng chết phôi ở các giai đoạn như sau:

+ Chết phôi giai đoạn I: sau 6 ngày ấp

+ Chết phôi giai đoạn II: sau 11 ngày ấp

+ Chết phôi giai đoạn III: sau 18 ngày ấp

Trứng chết phôi có thể quan sát chính xác bằng mắt thường khi soi trứng tại 3 thời điểm soi

Để xác định chính xác trứng không phôi, sau khi lần soi 1 toàn bộ số trứng không phôi được giải phẫu để kiểm tra

Để xác định chính xác trứng chết phôi, soi toàn bộ số trứng ấp, toàn bộ trứng chết phôi được giải phẫu để kiểm tra

Tỷ lệ trứng chết phôi ở các giai đoạn I, II, III được tính theo công thức sau:

Ngày đăng: 10/10/2017, 13:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ân, Nguyễn Thị Hòa, Nguyễn Thị Mai (1977), “Nghiên cứu đặc tính hình thái cấu tạo lý học và hóa sinh học của trứng gà Ri 11 tháng tuổi”, Tạp chí KHKT Nông nghiệp, số 182, tr.136 - 142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc tính hình thái cấu tạo lý học và hóa sinh học của trứng gà Ri 11 tháng tuổi
Tác giả: Nguyễn Ân, Nguyễn Thị Hòa, Nguyễn Thị Mai
Nhà XB: Tạp chí KHKT Nông nghiệp
Năm: 1977
2. Bạch Thị Thanh Dân, Nguyễn Đăng Vang, Nguyễn Quý Khiêm (1997), “Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nở trứng ngan bằng phương pháp ấp nhân t ạo”, Báo cáo khoa học ch ăn nuôi - thú y 1996 - 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nở trứng ngan bằng phương pháp ấp nhân t ạo
Tác giả: Bạch Thị Thanh Dân, Nguyễn Đăng Vang, Nguyễn Quý Khiêm
Nhà XB: Báo cáo khoa học ch ăn nuôi - thú y
Năm: 1997
3. Lê Xuân Đồng, Bùi Quang Toàn, Nguyễn Xuân Sơn (1981), Ấp trứng gia cầm, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 98 - 103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấp trứng gia cầm
Tác giả: Lê Xuân Đồng, Bùi Quang Toàn, Nguyễn Xuân Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1981
5. Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Nguyễn Thị Mai, Bùi Hữu Đoàn (1994), Chăn nuôi gia cầm, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Nguyễn Thị Mai, Bùi Hữu Đoàn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1994
6. Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998), Giáo trình Chăn nuôi gia cầm, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1998
7. Jack M. H, Kaltofen R. S. (1974), “Nhiệt độ thích hợp để bảo quản trứng ấp trong thời gian ngắn 1 - 7 ngày”, Thông tin KHKT chăn nuôi, số 148 tháng 2/1974, tr. 37 - 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiệt độ thích hợp để bảo quản trứng ấp trong thời gian ngắn 1 - 7 ngày
Tác giả: Jack M. H, Kaltofen R. S
Nhà XB: Thông tin KHKT chăn nuôi
Năm: 1974
8. Nguyễn Quý Khiêm (2002), Nghiên cứu một số ảnh hưởng đến kết quả ấp nở trứng gà Tam Hoàng, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Viện chăn nuôi, tr.65 - 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số ảnh hưởng đến kết quả ấp nở trứng gà Tam Hoàng
Tác giả: Nguyễn Quý Khiêm
Nhà XB: Viện chăn nuôi
Năm: 2002
9. Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thị San, Trần Long (1993), “Ảnh hưởng của khối lượng trứng gà giống Hypro đến ấp nở và sức sống của gà con”, Tuyển tập công trình nghiên cứu KHKT gia cầm 1986 - 1996, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr.206 - 214 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của khối lượng trứng gà giống Hypro đến ấp nở và sức sống của gà con
Tác giả: Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thị San, Trần Long
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1993
10. Bùi Đức Lũng, Nguyễn Xuân Sơn (2002), Ấp trứng gia cầm bằng phương pháp thủ công và công nghiệp, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 54 - 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấp trứng gia cầm bằng phương pháp thủ công và công nghiệp
Tác giả: Bùi Đức Lũng, Nguyễn Xuân Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2002
11. Bùi Đức Lũng, Trịnh Thị Thơ (1996), “Ảnh hưởng của khối lượng trứng gia cầm đến tỷ lệ ấp nở”, Tuyển tập các công trình nghiên cứu về gia cầm, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr.162 - 176 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của khối lượng trứng gia cầm đến tỷ lệ ấp nở
Tác giả: Bùi Đức Lũng, Trịnh Thị Thơ
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1996
12. Nguyễn Đức Lưu, Lương Tất Nhợ, Hoàng Văn Tiệu, Nguyễn Hữu Vũ (2001), Nuôi ngan vịt và các bệnh quan trọng thường gặp, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr.26 - 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi ngan vịt và các bệnh quan trọng thường gặp
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Lương Tất Nhợ, Hoàng Văn Tiệu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2001
13. Nguyễn Duy Nhị, Nguyễn Thị San (1982), “Nghiên cứu xác định khối lượng trứng giống thích hợp để có tỷ lệ ấp nở cao”, Một số kết quả nghiên cứu KHKT về gia cầm, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 81 - 88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xác định khối lượng trứng giống thích hợp để có tỷ lệ ấp nở cao
Tác giả: Nguyễn Duy Nhị, Nguyễn Thị San
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1982
14. Trần Phùng, Trần Thanh Vân, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Đăng Vang, Hoàng Văn Tiệu (1995), “Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ nhiệt độ và chế độ làm mát đến tỷ lệ ấp nở của trứng vịt Khaki Campbell”, Báo cáo những kết quả nghiên cứu và áp dụng vào sản xuất của đề tài cấp nhà nước KN02 – 07 giai đoạn 1991 – 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ nhiệt độ và chế độ làm mát đến tỷ lệ ấp nở của trứng vịt Khaki Campbell
Tác giả: Trần Phùng, Trần Thanh Vân, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Đăng Vang, Hoàng Văn Tiệu
Nhà XB: Báo cáo những kết quả nghiên cứu và áp dụng vào sản xuất của đề tài cấp nhà nước KN02 – 07 giai đoạn 1991 – 1995
Năm: 1995
15. Sacki Yuichi; Akita Tomiji (1985). “Ảnh hưởng của trọng lượng trứng ấp đến giai đoạn sinh trưởng sớm của gà con”, Thông tin KHKT chăn nuôi, số 2/1985, tr.77 - 90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của trọng lượng trứng ấp đến giai đoạn sinh trưởng sớm của gà con
Tác giả: Sacki Yuichi, Akita Tomiji
Nhà XB: Thông tin KHKT chăn nuôi
Năm: 1985
16. Schuberth L.; Ruhland R. (1978), Cơ sở sinh học của nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm, (Nguyễn Chí Bảo dịch), Nxb Khoa học và Kỹ thuật Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 259 -261 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh học của nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm
Tác giả: Schuberth L.; Ruhland R
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật Nông nghiệp
Năm: 1978
17. Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Duy Hoan (2002), Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi, Giáo trình dùng cho cao học và nghiên cứu sinh, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Duy Hoan
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2002
18. Võ Bá Thọ (1990), Kỹ thuật nuôi gà công nghiệp, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi gà công nghiệp
Tác giả: Võ Bá Thọ
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1990
19. Nguyễn Văn Trọng (1998), ”Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ấp nở của trứng vịt CV - Super M dòng ông bà ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Viện chăn nuôi, tr.18 - 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ấp nở của trứng vịt CV - Super M dòng ông bà ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Trọng
Nhà XB: Viện chăn nuôi
Năm: 1998
20. Trần Thanh Vân (2005) “Ảnh hưởng của xông sát trùng trứng trước ấp trong điều kiện mùa đông bảo quản 2; 3; 4; 5 ngày không có phòng lạnh”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 10/2005, tr.74 - 78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của xông sát trùng trứng trước ấp trong điều kiện mùa đông bảo quản 2; 3; 4; 5 ngày không có phòng lạnh
Tác giả: Trần Thanh Vân
Nhà XB: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2005
21. Abdou F. H., Katule A. M., Sukuzi O. S. (1990), “Effect of the pre- incubation storage period of hatching eggs on the hatchability and post- hatching growth of local chickens under tropical conditions”, Beitrage zur Tropischen Landwirtscahft und Veterinarmedizin, 28, pp. 337 - 342 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of the pre- incubation storage period of hatching eggs on the hatchability and post- hatching growth of local chickens under tropical conditions
Tác giả: Abdou F. H., Katule A. M., Sukuzi O. S
Nhà XB: Beitrage zur Tropischen Landwirtscahft und Veterinarmedizin
Năm: 1990

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM 1 - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp sát trùng và bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng gà
1 (Trang 39)
SƠ ĐỒ BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM 2 - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp sát trùng và bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng gà
2 (Trang 39)
SƠ ĐỒ BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM 3 - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp sát trùng và bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng gà
3 (Trang 40)
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của thuốc sát trùng đến tỷ lệ thối nổ trứng thí nghiệm (%)  Thời gian bảo quản - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp sát trùng và bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng gà
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của thuốc sát trùng đến tỷ lệ thối nổ trứng thí nghiệm (%) Thời gian bảo quản (Trang 46)
Bảng 3.3. Ảnh hưởng các phương pháp sát trùng đến tỷ lệ nở của trứng thí  nghiệm (%) - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp sát trùng và bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng gà
Bảng 3.3. Ảnh hưởng các phương pháp sát trùng đến tỷ lệ nở của trứng thí nghiệm (%) (Trang 47)
Bảng 3.5. Tỷ lệ giữa khối lượng gà con nở ra/ khối lượng trứng vào ấp (%) - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp sát trùng và bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng gà
Bảng 3.5. Tỷ lệ giữa khối lượng gà con nở ra/ khối lượng trứng vào ấp (%) (Trang 49)
Bảng 3.6. Năng lực nở của trứng thí nghiệm (giờ) - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp sát trùng và bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng gà
Bảng 3.6. Năng lực nở của trứng thí nghiệm (giờ) (Trang 50)
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của các phương pháp sát trùng đến tỷ lệ - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp sát trùng và bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng gà
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của các phương pháp sát trùng đến tỷ lệ (Trang 51)
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của các phương pháp bảo quản đến tỷ lệ trứng thối - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp sát trùng và bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng gà
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của các phương pháp bảo quản đến tỷ lệ trứng thối (Trang 56)
Bảng  3.12.  Ảnh  hưởng  của  các  phương  pháp  bảo  quản  đến  tỷ  lệ  sát  tắc/phôi của trứng thí nghiệm (%) - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp sát trùng và bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng gà
ng 3.12. Ảnh hưởng của các phương pháp bảo quản đến tỷ lệ sát tắc/phôi của trứng thí nghiệm (%) (Trang 59)
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của các phương pháp bảo quả n trong vụ hè đến năng lực - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp sát trùng và bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng gà
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của các phương pháp bảo quả n trong vụ hè đến năng lực (Trang 62)
Bảng 3.18. Ảnh hưởng của  kích thích đến tỷ lệ thối nổ (%) - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp sát trùng và bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng gà
Bảng 3.18. Ảnh hưởng của kích thích đến tỷ lệ thối nổ (%) (Trang 67)
Bảng 3.21.  Ảnh hưởng của các biện pháp kích thích đến tỷ lệ khối lượng gà con - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp sát trùng và bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng gà
Bảng 3.21. Ảnh hưởng của các biện pháp kích thích đến tỷ lệ khối lượng gà con (Trang 71)
Bảng 3.22. Ảnh hưởng của các biện pháp kích thích đến năng lực nở của  trứng thí nghiệm (giờ) - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp sát trùng và bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng gà
Bảng 3.22. Ảnh hưởng của các biện pháp kích thích đến năng lực nở của trứng thí nghiệm (giờ) (Trang 73)
Bảng 3.24. Kết quả thực hiện áp dụng kết quả  đề tài B 2009 – TN03 – 06 - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp sát trùng và bảo quản đến kết quả ấp nở của trứng gà
Bảng 3.24. Kết quả thực hiện áp dụng kết quả đề tài B 2009 – TN03 – 06 (Trang 76)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w