1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Điều tra, đánh giá và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển kinh tế xã hội của đồng bào dân tộc pakô và vân kiều ở 3 xã cùng đệm thuộc khu bảo tồn thiên nhiên

75 190 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 693,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhóm cây có ích khác như cây cho chất nhuộm màu, cây lấysợi, cây sử dụng làm thực phẩm...gần như chưa được quan tâm, nghiên cứu.Vì vậy, việc "Điều tra, đánh giá và đề xuất giải pháp

Trang 1

-Trần quang phục

điều tra, đánh giá và đề xuất giảI pháp khai thác,

sử dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc pakô và vân kiều

ở 3 xã vùng đệm (tà long, húc nghì và a bung) thuộc khu bảo tồn thiên nhiên đakrông - tỉnh quảng trị

luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp

Hà Nội - 2008

Trang 2

-Trần quang phục

điều tra, đánh giá và đề xuất giảI pháp khai thác,

sử dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc pakô và vân kiều

ở 3 xã vùng đệm (tà long, húc nghì và a bung) thuộc khu bảo tồn thiên nhiên đakrông - tỉnh quảng trị

Chuyên ngành: Lâm học

Mã số: 60.62.60

luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp

Người hướng dẫn khoa học: TS Ninh Khắc Bản

Hà Nội - 2008

Trang 3

Mở ĐầU

Việt Nam có 54 dân tộc cùng chung sống, do tập quán, truyền thống và

điều kiện tự nhiên khác nhau nên ở mỗi vùng cư trú, mỗi dân tộc, mỗi cộng

đồng dân cư đã đúc kết và tích luỹ cho riêng mình những kinh nghiệm quýbáu về sử dụng thực vật để phục vụ các nhu cầu của cuộc sống Cho tới nay,hầu hết các kinh nghiệm chỉ được lưu truyền và ứng dụng trong nội bộ mỗicộng đồng Nhiều tri thức, kinh nghiệm có thể ứng dụng để sản xuất các sảnphẩm mới góp phần phát triển kinh tế xã hội và nâng cao hiệu quả sử dụng tàinguyên nói chung, tài nguyên thực vật nói riêng Tuy nhiên, do bị tác độngcủa nhiều yếu tố, những tri thức và kinh nghiệm sử dụng thực vật của cácnhóm dân tộc thiểu số hiện đang có nguy cơ mất dần và bị quên lãng

Đakrông là một huyện miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Quảng Trị, códiện tích rừng khoảng 68.499 ha, chiếm 39,9% tổng diện tích rừng của cả tỉnh.Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông là nơi có hệ thực vật phong phú và hệ sinhthái điển hình của vùng đồi núi Trung trường Sơn, có ý nghĩa quan trọng vềkinh tế, khoa học và văn hoá Khu bảo tồn thiên nhiên Đakông là vùng rừngphòng hộ đầu nguồn, cung cấp và điều tiết nước cho sông Đakrông và sôngThạch Hãn, điều hoà nguồn nước vùng hạ lưu Dân cư sinh sống xung quanhkhu bảo tồn thiên nhiên Đakrông gồm nhiều cộng đồng dân tộc khác nhau,trong đó, dân tộc Vân Kiều và Pa Kô là hai dân tộc chiếm số lượng lớn (80%)

Tà Long, Húc Nghì và A Bung là 3 xã nằm trong vùng đệm của Khu bảo tồnthiên nhiên Đakrông gồm 4 dân tộc Vân Kiều, Pa Hy, Pa Kô và Kinh cùngsinh sống Đây là khu vực vẫn còn độ che phủ rừng khá cao, hệ động, thực vậttương đối phong phú đa dạng cả về thành phần loài và nơi sống Canh tácnông nghiệp là phương thức sinh sống chủ yếu của đồng bào các dân tộc trongvùng, bên cạnh đó khai thác lâm sản đóng vai trò đáng kể trong thu nhập củacác hộ nghèo trong cộng đồng Nền sản xuất còn lạc hậu, trình độ văn hoá vànhận thức về tự nhiên chưa cao dẫn đến khai thác và sử dụng tài nguyên rừng

Trang 4

không có tổ chức Tuy nhiên, những hiểu biết và kinh nghiệm sử dụng thực vậtcủa cộng đồng người Vân Kiều và Pa Kô mang nhiều nét độc đáo và sắc tháiriêng Cho tới nay, mới chỉ có một số nghiên cứu sơ bộ về sử dụng thực vậtlàm thuốc Các nhóm cây có ích khác như cây cho chất nhuộm màu, cây lấysợi, cây sử dụng làm thực phẩm gần như chưa được quan tâm, nghiên cứu.Vì vậy, việc "Điều tra, đánh giá và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của

đồng bào dân tộc Pa Kô và Vân Kiều ở 3 xã vùng đệm (Tà Long, Húc Nghì và ABung) thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông - Tỉnh Quảng Trị", tham gia xoá đói giảm nghèo, duy trì, bảo tồn đa dạng sinh học, tri thức

bản địa và bản sắc văn hoá dân tộc

Trang 5

CHƯƠNG I TổNG QUAN TàI LIệU 1.1 Lịch sử nghiên cứu về thực vật dân tộc học

Thuật ngữ Thực vật dân tộc học (Ethnobotany) được sử dụng lần đầu tiênvào năm 1895 trong bài giảng của TS John Harshberger ở Philadenphia Ôngcho rằng thực vật học dân tộc là nghiên cứu “Các cây được sử dụng bởi ngườinguyên thuỷ và các thổ dân” Một năm sau đó (1896), trong bài thuyết trình

đầu tiên của mình về Thực vật dân tộc học, Harshberger đã chỉ ra rằng, đây làlĩnh vực nghiên cứu làm sáng tỏ “Vị thế văn hoá của các bộ lạc đã sử dụngthực vật để làm thực phẩm, nơi cư trú và quần áo” Như vậy, đến lúc này, cácnhà thực vật dân tộc học mới chỉ xem xét tới ba nhóm cây có giá trị quantrọng là cây ăn được (làm lương thực - thực phẩm); cây làm nhà, lều trại vàcác cây có sợi Ngoài ra, đối tượng của các nghiên cứu được xác định là “bộlạc”, “thổ dân” và “người nguyên thuỷ” [9]

Sau đó, thuật ngữ “Thực vật dân tộc” được thừa nhận và sử dụng rộng rãitrong nhiều công trình nghiên cứu Tuy nhiên, vào những năm đầu thế kỷ 20,các công trình nghiên cứu đã tập trung vào việc điều tra, ghi chép về thànhphần cây có ích và cách sử dụng của chúng Đến năm 1916, các nhà nghiêncứu Thực vật dân tộc học đã nhận thức được sự cần thiết phải bổ sung lýthuyết và phương pháp luận cho lĩnh vực nhiên cứu mới này Khi đó, Thực vậtdân tộc học không chỉ là sự thu thập nhiều hơn nữa các tri thức mà còn phải

đánh giá về giá trị khoa học của các phương pháp sử dụng trong điều tra vàtính xác thực của kết quả

Năm 1941, Thực vật dân tộc học đã có một bước tiến mới về nhận thức vàmục tiêu nghiên cứu Lúc này, nó không chỉ bao gồm các nghiên cứu liênquan tới kinh nghiệm sử dụng thực vật của các nhóm người nguyên thuỷ màcòn nghiên cứu mối liên quan giữa người nguyên thuỷ và giới thực vật Các

Trang 6

nhà nghiên cứu đã mô tả sự phụ thuộc của đời sống vật chất, tinh thần của cáccộng đồng dân cư vào giới thực vật địa phương, đã đưa ra các luận chứng khoahọc về bảo tồn, truyền thống văn hoá của các cộng đồng trên cơ sở cùng tồntại hài hoà với giới thực vật [9].

Năm 1978 là thời kỳ có sự thay đổi lớn nhất về nghiên cứu Thực vật dântộc học, Rechard Ford đưa ra quan niệm “Sự tổng hợp mới của Thực vật dântộc học” [47] Theo quan niệm này, các nhà thực vật dân tộc học cần phải cónăng lực để nhận biết các loài cây có ý nghĩa gì làm cơ sở cho sự phân chiachúng trên cơ sở các nền văn hoá khác nhau Xác định được dân cư của cácnền văn hoá đã nhận thức chúng, sử dụng chúng và phụ thuộc vào chúng nhưthế nào Để thực hiện được các nội dung của mình, Thực vật dân tộc học đãthực sự trở thành một bộ môn khoa học đa ngành, vì thế nó cũng chấp nhậnnhiều lý thuyết và phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học khác cóliên quan như thực vật học, dược học, hóa học, khảo cổ học

1.2 Tình hình nghiên cứu cây có ích trên Thế giới và Việt Nam.

1.2.1 Tình hình nghiên cứu về cây có ích trên thế giới

1.2.1.1 Cây có ích trong đời sống nhân loại.

Lịch sử phát triển, tiến hoá của loài người gắn liền với quá trình sử dụngtài nguyên thiên nhiên trên trái đất, trong đó, cây cỏ luôn là đối tượng đượccon người sử dụng đầu tiên và nhiều nhất Ban đầu chỉ là để đáp ứng các nhucầu về cái ăn và nơi cư trú Nhưng dần dần trong quá trình tiến hoá, con ngườilại biết gieo trồng, chăm sóc, thu hái, cất giữ và chế biến những loại cây manglại nhiều lợi ích cho đời sống của mình Để thích nghi và tồn tại, con ngườiphải chống chịu với thiên nhiên lúc này xuất hiện nhu cầu về thuốc chữa bệnh

và chất độc để săn bắt Vì vậy, vai trò của cây cỏ gần như bao trùm toàn bộ

đời sống con người (lương thực - thực phẩm, nơi cư trú, thuốc, may mặc, sănbắt và cả các nghi lễ tôn giáo)

Trang 7

Xã hội loài người phát triển hơn thì các nhu cầu xã hội khác cũng hìnhthành theo, lúc này họ không chỉ đòi hỏi được ăn đầy đủ mà phải được ănngon, họ không còn để cơ thể mình một cách tự nhiên nữa mà phải có cái chethân, rồi mặc đẹp do vậy, cây cỏ không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh học của conngười mà còn là nguồn nguyên liệu cho các mục đích khác Tất cả quá trình

đó cứ xảy ra dần dần, qua đó người dân tích luỹ lại các kinh nghiệm thực tế.Những kinh nghiệm này được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông quaviệc học hỏi lẫn nhau giữa những người cùng một thế hệ và kinh nghiệm tựtích luỹ được của mỗi cá nhân qua quá trình lao động [50]

Những tài liệu ghi lại việc sử dụng thực vật của người phương Tây là vàokhoảng 1770 năm trước công nguyên của người Neanderthal và khoảng 1550năm trước Công nguyên của người Ai cập cổ đại Người Ai Cập cổ tin tưởngvào giá trị của cây cỏ không chỉ cho người sống mà nó còn có tác động mạnh

mẽ tới các vị vua Ai Cập cổ (Pharaohs) đã chết Trong các ngôi mộ cổ Ai Cập,các xác chết được ngâm tẩm bởi nhiều loại dầu, hương liệu thực vật và đượcquấn bằng vải cây lanh Điều đó chứng tỏ, người Ai Cập chắc chắn biết cấttinh dầu và dệt vải

Cũng trong thời gian này lịch sử nền y học Trung Quốc, ấn Độ đều ghinhận về việc sử dụng các cây cỏ làm thuốc cách đây khoảng 3000- 5000 năm

Từ 3000 năm trước đây, Kinh Vê Đa, ấn Độ đã nói về hương hoa để cúng bái.Trung Quốc là một trong những nước phát hiện và sử dụng nhiều dược thảosớm nhất thế giới Theo truyền thuyết của Vua Thần Nông tức Viêm Đế (3320– 3080 trước công nguyên) thì Thần Nông đã nếm hàng trăm loại cây cỏ, phânloại dược tính của thảo mộc và soạn ra sách “Thần Nông bản thảo” Cuốn

“Thần Nông bản thảo” đã thống kê được 365 vị thuốc có giá trị [43]

Từ thời Tam quốc (222-265 CN), danh y Hoa Đà đã sử dụng Đàn hương,

Tử đinh huơng để chế hương nang (túi thơm), sử dụng hương thơm của chúng

để chống lại bệnh lao phổi và bệnh lỵ Ông còn dùng hoa Cúc, Kim ngân phơi

Trang 8

khô cho vào chiếc gối để gối đầu (Hương chẩm) để điều trị đau đầu, mất ngủ,cao huyết áp.

ở châu Âu, vào những năm 1960 cũng đã phát triển phương pháp dùnghương thơm chữa bệnh (Phương hương tễ liệu pháp - Aromathérapie) là một

bộ phận của Hoa trị liệu pháp Thời kỳ đầu của giai đoạn này, giới Y học Phápvô tình phát hiện một hiện tượng đặc biệt: Các nữ công nhân trong xưởngnước hoa không ai bị bệnh phổi Xưởng chế tạo đó sau này trở thành xưởngsản xuất hoá học về chất thơm từ thực vật và chế tạo nước hoa [11]

Ngoài tác dụng chữa bệnh, hoa còn là một nhân tố quan trọng trong vănhóa ẩm thực đồng thời đề bồi bổ sức khoẻ Dùng hoa làm thức ăn (Hoathực) là một môn nghệ thuật với các cách chế biến khác nhau thành cácmón ăn vừa có màu sắc- mùi vị hấp dẫn, tăng hứng thú vị giác, thị giác vàkhứu giác Y học hiện đại đã chứng minh màu sắc của hoa có tác dụng nhất

định đối với điều tiết chức năng chuyển hoá trong cơ thể Hoa Kim cúc cótác dụng giải độc

Màu sắc của thức ăn nói chung và của hoa nói riêng có tác dụng làm chongon miệng (thực dục) và còn có tác động đến tâm sinh lý: màu đỏ làmtăng hưng phấn thần kinh trong bữa ăn; màu vàng làm cho thích ăn, vui vẻ;trên bàn ăn có hoa màu trắng làm cho người ăn có cảm giác thong thả, thưgiãn; màu xanh lục làm cho hô hấp và mạch đập ổn định, hạ huyết áp mộtcách tương đối

Sử dụng thực vật gắn liền với lịch sử phát triển của loài người Trải quahàng nghìn năm, một số lượng lớn các loài thực vật bậc cao đã và đang đượccon người sử dụng làm thuốc chữa bệnh Theo thống kê của UNESCO năm

1992, ở các vùng nông thôn của các nước đang phát triển, các sản phẩm làmlương thực- thực phẩm có nguồn gốc thực vật chiếm tỷ lệ 90- 93%; các sảnphẩm làm thuốc có tỷ lệ là 70- 80% Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới(WHO) thì đến năm 1985 đã có gần 20.000 loài thực vật (trong tổng số

Trang 9

250.000 loài đã biết) được sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất đểchế biến thuốc Trong đó ở ấn Độ có khoảng 6.000 loài, Trung Quốc 5.000loài, Vùng nhiệt đới châu Mỹ hơn 1.900 loài, mức độ sử dụng thuốc ngàycàng cao Trung Quốc tiêu thụ hằng năm khoảng 700.000 tấn dược liệu trongtổng số khoảng 1.600.000 tấn trên thế giới [53], [54] Sản phẩm thuốc Y họcdân tộc đạt giá trị hơn 1,7 tỉ USD năm 1986 Tổng giá trị thuốc có nguồn gốcthực vật trên thị trường Âu- Mỹ và Nhật Bản năm 1985 là trên 43 tỉ USD.Riêng ở Nhật Bản, lượng dược liệu nhập khẩu năm 1979 là 21.000 tấn, đếnnăm 1980 lên đến 22.640 tấn, tương đương 50 triệu USD [54].

Tuy vậy, những con số liên quan tới y học chưa thống kê được còn lớnhơn nhiều Một số lượng lớn các loài thực vật được thầy lang chữa bệnh theo

vi lượng đồng căn hoặc các nhà nghiên cứu thảo mộc dùng để sản xuất

“Thuốc thực vật” hoặc “Thuốc thảo mộc” Những sản phẩm này được bánnhiều trong các cửa hàng “Thực phẩm thức ăn”, các siêu thị và các cơ sở dượcphẩm ở nhiều nước trên thế giới (Lewington,1993) Một con số rất lớn câythuốc được sử dụng để sản xuất “Chè thảo mộc”, “Chè thuốc” Ngoài rangười ta còn quan tâm tới giá trị sử dụng của các dịch chiết từ thực vật vàcây thuốc sản xuất thực phẩm chức năng, làm gia vị và sử dụng trong ngànhcông nghiệp mỹ phẩm

1.2.1.2 Thành tựu và xu hướng nghiên cứu cây có ích của các dân tộc.

Trong quá trình khai thác tự nhiên phục vụ cho các nhu cầu của cuộcsống, các cộng đồng dân tộc đã tích luỹ riêng cho mình những tri thức, kinhnghiệm sử dụng thực vật Nhìn chung, các tri thức về thực vật, kinh nghiệm sửdụng và các tập đoàn cây có ích truyền thống chỉ lưu truyền trong nhữngphạm vi hẹp Việc phát triển và nghiên cứu ứng dụng rộng rãi các thành tựunày sẽ mang lại lợi ích vô cùng to lớn [9]

Các sản phẩm mới từ thực vật hoặc bắt nguồn từ thực vật được sản xuấttrên cơ sở nghiên cứu tri thức thực vật dân tộc học đang mở ra triển vọng to

Trang 10

lớn cho nhiều ngành và đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng lên của nhân loại.Sản xuất sản phẩm mới trên cơ sở ứng dụng thực vật dân tộc có nhiều lợi thế.

Đối với thực phẩm, đó là các loại sản phẩm ăn được của các cộng đồng trảiqua nhiều thế hệ nên có độ an toàn cao; đối với các nghiên cứu sàng lọc và sảnxuất các loại thuốc chữa bệnh mới trên cơ sở tri thức dược học dân tộc sẽ chohiệu suất cao Hiệu xuất nghiên cứu sản xuất thuốc mới từ cây thuốc dân tộc

là 1/125, trong khi đó hiệu xuất sản xuất thuốc mới theo phương pháp tổnghợp hóa học ngẫu nhiên là 1/10.000 (Farnsworth, in Chadwick and Marsh,1994) Đối với các sàng lọc các loài cây thuốc kháng HIV thì hiệu quả từ kinhnghiệm dược học dân tộc là 1/5 trong khi sàng lọc ngẫu nhiên là 1/18 (BalickMichael J , 1990) [9], [52]

Trên cơ sở các nghiên cứu về tri thức và kinh nghiệm sử dụng của cácdân tộc trên thế giới, nhiều sản phẩm có giá trị đã được sản xuất phục vụ nhucầu của con người Từ kinh nghiệm sử dụng vỏ cây mận châu Phi (Pygeum africanum) của thổ dân Đông Phi, các nhà khoa học Mỹ đã sản xuất thuốc

Pygeum điều trị bệnh phì đại tuyến tiền liệt [9] Trên cơ sở kinh nghiệm sửdụng cây Nhàu (Quả Noni - Morinda citrifolia) làm thuốc và dùng trong các

bữa ăn kiêng của cư dân bản địa ở đảo Tahiti, các nhà khoa học Mỹ đã tìm racác giá trị chữa bệnh và dinh dưỡng của cây này Tập đoàn Tahition NoniInternational (TNI) đã ứng dụng các kết quả nghiên cứu để sản xuất các loạinước ép trái cây, mặt hàng này đã giúp cho TNI trở thành tập đoàn hàng đầuthế giới về nước ép trái cây Từ kinh nghiệm sử dụng cây Butea superba của

các dân tộc ở Thái Lan, các nhà dược học Thái đã nghiên cứu và sản xuấtthành công loại thuốc tăng lực cho nam giới [51] Hiện nay, trên thị trường thếgiới xuất hiện nhiều sản phẩm mới được sản xuất trên cơ sở các nghiên cứuThực vật dân tộc học Thuốc điều trị tiểu đường từ cây Bằng lăng nước, thuốc

điều trị yếu sinh dục nam từ cây Bách bệnh, cây Gai chông, thuốc nhuộm tóc

an toàn sản xuất từ cây Lá móng, cây Chàm,

Trang 11

Như vậy, các nghiên cứu Thực vật dân tộc học đang mở ra cho nhânloại nhiều triển vọng mới trong việc sử dụng cây cỏ phục vụ các nhu cầucủa đời sống.

1.2.2 Những xuất bản và nghiên cứu về cây có ích ở Việt Nam

1.2.2.1 Các xuất bản liên quan tới cây có ích.

Từ xa xưa người Việt đã quan tâm đến việc nghiên cứu các cây có íchnhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống, trong đó chủ yếu tập trung vào các câydùng làm thuốc Ban đầu sử dụng dược liệu chủ yếu dựa trên kinh nghiệmtruyền thống, trải qua hàng nghìn năm lịch sử kết hợp với sự truyền bá củadược học Trung Quốc vào nước ta trong suốt gần một nghìn năm xâm chiếm,

sử dụng thực vật làm thuốc của người Việt ngày càng phong phú Sau đó, một

số thầy thuốc không muốn phụ thuộc nhiều vào dược học Trung Quốc nên đã

có những nghiên cứu, cải biến để sử dụng nguồn thuốc nước nhà (Thuốc nam).Tài liệu sớm nhất về cây thuốc Việt Nam là “Nam Dược Thần Hiệu” và “Hồngnghĩa giác tư y thư” của Tuệ Tĩnh vào khoảng thế kỷ 17 hoặc thế kỷ 14 [24] Trong tài liệu này Tuệ Tĩnh đã mô tả hơn 630 vị thuốc, 13 đơn thuốc chữa tạpbệnh và 37 đơn thuốc chữa bệnh thương hàn Tới thế kỷ 18 Hải Thượng Lãn

Ông Lê Hữu Trác mới xuất bản được bộ sách lớn thứ hai “Y tông Tâm lĩnh”cho nước ta Bộ sách gồm 28 tập, 66 quyển đã mô tả khá chi tiết về thực vật,các đặc tính chữa bệnh [24]

Thời kỳ Việt Nam là thuộc địa của thực dân Pháp (1884 - 1945) giai

đoạn có sự tác động mạnh mẽ của dược học phương Tây Người phương Tâykhông chỉ mang đến các phương thức chữa bệnh mới mà qua quá trình khaithác thuộc địa, họ đã gián tiếp thúc đẩy quá trình nghiên cứu thực vật của ViệtNam nói chung và của cây thuốc nói riêng Một số tài liệu về thực vật và dượcliệu đã được xuất bản, đặc biệt trong đó là bộ “Thực vật chí đại cương ĐôngDương” của Lecomte xuất bản từ cuối thế kỷ 18 tới đầu thế kỷ 19, bộ sách này

đã thống kê được hơn 7000 loài thực vật, bộ sách “Danh mục các sản phẩm ở

Trang 12

Đông Dương” của Ch Crévost và A Pételot năm 1935, Bộ sách này chỉ thống

kê khoảng 1340 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc dùng trong y học ở ba nước

Đông Dương [26]

Năm 1952 A Pételot tái bản có bổ sung và đặt tên mới là “Những câythuốc của Campuchia, Lào và Việt Nam” (Les Plantes Medicinales duCambodge, du Laos et du Vietnam) gồm 4 tập, 1050 trang Đây là một bộsách đồ sộ về dược liệu vào thời kỳ đó, liệt kê 1480 loài thực vật tuy nhiên vềmô tả, phân bố, thành phần hoá học và đặc tính dược lý thì chưa được hoànthiện đầy đủ [24]

Năm 1960, Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Văn Dương cho xuất bản bộ

“Cây cỏ Việt Nam”, trong đó có nêu công dụng làm thuốc của nhiều loài thựcvật Năm 1965, Đỗ Tất Lợi cho xuất bản bộ sách “Những cây thuốc và vịthuốc Việt Nam” Bộ sách này ngày càng được hoàn thiện và thể hiện đượcgiá trị của nó Đến nay đã tái bản có bổ sung tới lần thứ 9 (năm 2000) vớikhoảng 800 cây và vị thuốc [24]

Tác giả Trần Khắc Bảo năm 1991 thống kê các nhóm cây có ích của ViệtNam: Cây tinh dầu: 500 loài, trong đó có đến 160 loài có giá trị kinh tế cao;nhóm cây có tanin khoảng 600 loài, cây thuốc khoảng 1850 loài Tác giả nêutầm quan trọng của việc bảo tồn nguồn gen thực vật nói chung và nguồn gencây thuốc nói riêng

Võ Văn Chi (1991) đã biên soạn “Từ điển cây thuốc Việt Nam” gồm3.200 loài cây thuốc, trong đó thực vật có hoa là 2.500 loài thuộc 1050 chi,

được xếp vào 230 họ thực vật theo hệ thống của A.L Takhtajan Tác giả đãgiới thiệu sơ bộ về nhận dạng, bộ phận sử dụng, nơi sống, cách thu hái, thànhphần hoá học, tính vị và công dụng…của tổng loài thực vật [12]

Đến năm 1999, Viện Dược liệu lại đưa ra một con số thống kê khác gồm

749 loài cho gỗ và củi, 40 loài tre nứa, 40 cho rattan, 600 loài chứa tanin, 260loài cho dầu béo, 160 loài cho tinh dầu, 70 loài cho nhựa và nhiều nhất là cây

Trang 13

làm thuốc với khoảng 2000 loài [48] Từ năm 1999 đến năm 2002, các tácgiả Võ Văn Chi, Trần Hợp bắt đầu cho ra mắt bộ sách “Cây cỏ có ích ở ViệtNam”, đây là bộ sách chuyên khảo lớn gồm 4 tập, giới thiệu khoảng 6000loài thực vật bậc cao có mạch với các đặc điểm về hình thái, phân bố sinh thái

và công dụng [14], [15]

Nhóm các tác giả của Viện dược liệu (2003) đã tiến hành biên soạn bộsách “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” với hơn 1.000 loài, trong

đó 920 cây thuốc và 80 loài động vật được sử dụng làm thuốc

Lã Đình Mỡi và cộng sự (2005) đã giới thiệu công trình “Những cây chứacác hợp chất có hoạt tính sinh học” Đây là tài liệu đầu tiên trình bày có hệthống và tương đối hoàn chỉnh về nguồn tài nguyên thực vật có chứa các chất

có hoạt tính sinh học được sử dụng làm thuốc ở nước ta [25] Bên cạnh đó cómột số tác giả người nước ngoài cùng với các nhà nghiên cứu trong nước cũngcông bố một số sách chuyên khảo như: Sun Jin Koo, Yong Woong Kwon,Dương Văn Chín, Hoàng Anh Cung với ấn phẩm “Cỏ dại phổ biến tại ViệtNam” Tài liệu giới thiệu 201 loài cỏ dại thường gặp ở Việt Nam Trong số đó,nhiều cây có tác dụng làm thuốc, làm rau ăn Trần Công Khánh, 1984 cũng

đã giới thiệu gần một trăm cây có chất độc ở Việt Nam, đến năm 2004 cho táibản có bổ sung tài liệu này và đưa ra giới thiệu 97 cây độc nguy hiểm, 10 loạinấm độc dễ ăn phải và 11 cây giải độc dễ tìm, dễ sử dụng [19]

Qua nhiều năm nghiên cứu trong lĩnh vực tài nguyên thực vật, các nhàkhoa học thuộc viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật gần đây đã xuất bản một

số tài liệu chuyên khảo về các nhóm cây như Nhóm cây có tinh dầu, nhóm cây

có hoạt tính sinh học.[27], [28], [29]

Việc phân nhóm các cây có ích ở Việt Nam cũng có nhiều quan

điểm khác nhau, hầu hết là tiếp thu các hệ thống của Liên Xô (cũ) như hệthống Tasken, 1935 (hệ thống được đề xuất tại hội nghị tài nguyên thựcvật ở Tasken năm 1935), hệ thống của Pavlopski năm 1942 hay hệ thống

Trang 14

của M M Ilin năm 1948 Các hệ thống này đều dựa vào mục đích sửdụng chính như dùng trong công nghiệp, nông nghiệp, sử dụng tự nhiên,nhưng giữa các hệ thống không có sự đồng nhất Năm 1969, Phan KếLộc đã đưa ra hai sơ đồ phân loại cây tài nguyên ở miền Bắc Việt Nam.Một sơ đồ tác giả dựa vào chất có ích, bộ phận trong cơ thể thực vật được

sử dụng làm căn cứ, sơ đồ còn lại tác giả lại căn cứ vào mục đích sử dụng

để phân chia [26]

Gần đây, các nhà thực vật trong quá trình biên soạn bộ “Tài nguyên thựcvật Đông Nam á” đã đi tới thống nhất phân chia các loài cây có ích theo giátrị sử dụng và các sản phẩm mà thực vật cung cấp Đây là cách phân chia thểhiện được tính khách quan, tính thực tiễn và tránh được nhiều nhược điểm màcác tác giả trước mắc phải [26]

1 2.2.2 Tình hình nghiên cứu các nhóm cây có ích ở Việt Nam.

Nghiên cứu thực vật dân tộc ở Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọngbởi nước ta có tới 54 dân tộc anh em sinh sống ở khắp các vùng trong cả nước.Mỗi dân tộc sinh sống ở mỗi khu vực khác nhau có nguồn tài nguyên khácnhau nên tri thức về sử dụng thực vật cũng khác nhau Mặt dù vậy cho tới nay,chúng ta chưa có điều kiện để điều tra, tư liệu hoá hệ thống tri thức về sử dụngthực vật quý giá của mình Đã có những nghiên cứu nhưng còn nhỏ lẻ và chủyếu tập trung vào nhóm cây thuốc dân tộc, còn các nhóm cây khác gần nhưchưa được đầu tư [9]

Để khai thác một cách hợp lý và hiệu quả nguồn tài nguyên cây thuốcViệt Nam, trong vòng 10 năm qua các ngành Y tế, Lâm nghiệp và Sinh học đã

có nhiều đợt khảo sát điều tra cơ bản Đáng chú ý là công trình nghiên cứucây thuốc của Viện Dược liệu - Bộ Y tế, đã được tiến hành một cách tương đối

có hệ thống ở tất cả các địa phương trên phạm vi toàn quốc, đã ghi nhận được

ở nước ta có 3.948 loài cây thuốc, thuộc 307 họ của 9 ngành thực vật bậc caocũng như bậc thấp

Trang 15

Tuy nhiên, phần lớn số loài được ghi nhận đều xuất phát từ kinh nghiệm

sử dụng của cộng đồng các dân tộc ở các địa phương

Bên cạnh đó còn có các công trình nghiên cứu về cây thuốc dân tộc trongthời gian gần đây như: Đề tài “Góp phần nghiên cứu bảo tồn cây thuốc ở vườnquốc gia Ba Vì của Trần Văn Ơn”, công trình đã đưa ra danh lục các câythuốc được dân tộc Dao ở Ba Vì, Hà Tây khai thác cùng với các phương thức

sử dụng chúng Ngoài ra tác giả còn phân tích những nguyên nhân tác độngtới nguồn tài nguyên cây thuốc, đề xuất một số biện pháp bảo tồn nguồn gencây thuốc ở đây [31]

Các tác giả khác như Nguyễn Nghĩa Thìn, Tạ Quang Thiệp cũng tiếnhành nghiên cứu cây thuốc dân tộc tại các khu vực dân tộc Thái ở Con Cuông,Nghệ An; dân tộc Sán Dìu ở Tam Đảo, Vĩnh Phúc [41]

Ty Thị Hoàn nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của người CaoLan ở Tuyên Quang Trần Thị Dung nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng câythuốc của đồng bào Bru- Vân Kiều tỉnh Quảng Trị Lưu Đàm Cư và cộng sựnghiên cứu cây thuốc dân tộc Dao tại Bản Khoang, cây thuốc dân tộc Hmôngtại Sa Pả (Sa Pa, Lào Cai), cây thuốc dân tộc Tày tại Vị Xuyên (Hà Giang).Nguyễn Thị Phương Thảo và cộng sự nghiên cứu cây thuốc của dân tộc Hoatại Yên Tử (Quảng Ninh), cây thuốc dân tộc Mường tại Chiềng Yên (MộcChâu Sơn La)

Cùng với việc nghiên cứu, điều tra kinh nghiệm sử dụng cây thuốc truyềnthống theo các khu vực, một số tác giả lại định hướng nghiên cứu vào mục

đích chữa bệnh cụ thể như Nguyễn Thị Kim Thanh, 2005 Đã tiến hành điềutra, sàng lọc các cây thuốc dân tộc có khả năng chữa bệnh ung thư [40], từkinh nghiệm chữa bệnh truyền thống của dân tộc Tày

Trần Huy Thái và cộng sự (2007) đã nghiên cứu tách chiết và thử hoạttính chống ung thư từ cây Mộc hoa trắng (Holarrhema pubescens) Các tác

Trang 16

giả đã phân lập và xác định được 8 hợp chất hoá học và thử hoạt tính phòngchống khối u ở chuột [36].

Ninh Khắc Bản và cộng sự (2007) đã nghiên cứu tạo sản phẩm thiên hoaphấn có hàm lượng protein bất hoạt Ri bô xôm (RIP) cao từ một số loài trongchi Qua lâu Các tác giả đã phân lập được 3 chất TK1, TK2 và TK3 từ loàiQua lâu (Trichchossanthes kirilowii và Trichchossanthes rosthornii ) Các chế

phẩm tạo được có hoạt tính kháng các dòng tế bào ung thư gan, ung thư màng

tử cung và ung thư màng tim Sản phẩm thiên hoa phấn của đề tài có tác dụngchống virut cường độc gumboro [1]

Các nhà khoa học của trường Đại học Dược Hà Nội đã sản xuất thànhcông thuốc chữa bệnh đau dạ dày từ cây chè dây (Ampenopsis cantonensis),

viện Hoá học các hợp chất Thiên nhiên sản xuất được thuốc chữa viêm loét dạdày từ củ nghệ (Curcuma longa).

Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật cũng đã có những thành công bước

đầu trong việc nghiên cứu thuốc chữa ung thư tuyến tiền liệt từ bài thuốctruyền thống của người Tày ở Cao Bằng,

Viện Y học Cổ truyền Trung ương cũng đang có nhiều nghiên cứu về cácbài thuốc dân tộc như: bài thuốc chữa sỏi thận, chữa viêm gan [9]

Một số nhóm cây có ích khác được nghiên cứu đến nhưng với quy mônhỏ, chưa đầy đủ như nhóm cây có chất màu - trong đó có chất nhuộm màuthực phẩm; nhóm cây có chất độc, cây lấy sợi, có thể kể đến một số đề tài đã

và đang được thực hiện trong các hướng này như: “Điều tra phân bố chất màutrong hệ thực vật Việt Nam và nghiên cứu ứng dụng trong công nghiệp thựcphẩm và đời sống”, “Nghiên cứu chiết tách chất màu thực phẩm từ kinhnghiệm sử dụng thực vật của các dân tộc thiểu số” do PGS TS Lưu Đàm Cưchủ trì Các đề tài này tiến hành nghiên cứu tri thức dân tộc về cây nhuộmmàu ở các địa phương, sàng lọc và chọn ra các cây có khả năng khai thác, sảnxuất với quy mô lớn để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn [10]; đề tài “Nghiên cứu

Trang 17

khả năng ứng dụng của một số loài thuộc chi Acacia để diệt cá tạp trong các

đầm nuôi tôm” do TS Nguyễn Thị Phương Thảo chủ trì cũng xuất phát từkinh nhiệm sử dụng cây độc làm duốc cá của các dân tộc, lựa chọn các loàithuộc chi Acacia để nghiên cứu ứng dụng [39] Gần đây, hướng nghiên cứu

cây có ích của các dân tộc thiểu số làm cơ sở để phát triển kinh tế xã hội vàbảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc đã được triển khai và bước đầu có triển vọngthực tế (Lưu Đàm Cư, Cây có ích của dân tộc Hmông và khả năng ứng dụngtrong phát triển kinh tế, Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sựsống Nxb KHKT, 2004, 769-772); Nghiên cứu tri thức bản địa góp phần sửdụng bền vững đa dạng sinh học và phát triển kinh tế - xã hội, Kỷ yếu Hộinghị KH kỷ niệm thành lập Viện KHCNVN, 2005; Nguyễn Thị Phương Thảo,Triển vọng sản xuất chất màu thực phẩm từ cây Mật mông hoa., TC Nôngnghiệp và PT NT, 2003, 3(27), 223-224 Nguyễn Thị Phương Thảo, NinhKhắc Bản, Jacinto Regalado, Bùi Văn Thanh Đã tiến hành điều tra kinhnghiệm sử dụng thực vật của dân tộc Cơ - Tu ở Nam Đông, Thừa Thiên Huế(Hội nghị khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh học lần thứ 2, 2007) NinhKhắc Bản, Nguyễn Tiến Hiệp và Jacinto Regalado đã nghiên cứu, đánh giá và

đưa ra giải pháp phát triển tài nguyên lâm sản ngoài gỗ tại Húc Nghì, Tà Rụt

và A Bung ở Đakrông Quảng Trị (Hội nghị khoa học về Sinh thái và Tàinguyên sinh học lần thứ 2, 2007) [2]

Trang 18

Hình 1.1: Bản đồ Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông

Trang 19

1.3 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu.

1.3.1 Xã A Bung

A Bung là một xã biên giới, nằm phía cực nam của huyện miềm núi

Đakrông tỉnh Quảng Trị

Phía Đông giáp: Xã Húc Nghì

Phía Tây giáp: Nước CHDCND Lào

Phía Nam giáp: Huyện A Lưới tỉnh Thừa Thiên Huế

Phía Bắc giáp: Xã A Ngo

Với lợi thế nằm trên trục đường Hồ Chí Minh, lại có tuyến biên giớichung với nước bạn Lào, nên có nhiều thuận lợi trong nền kinh tế thương mại

Địa hình của xã bị chia cắt phức tạp gồm những dãy núi cao, phía bắc bịchắn bởi dãy động Kakava cao 672 m và động APông cao 1017 m Phía đông

bị chắn bởi động Ka Pút cao 1405 m Phía nam là những dãy núi nhỏ hẹp chạydọc theo sông Đakrông thành những bản làng quần cư

A Bung chịu ảnh hưởng của khí hậu tây Trường Sơn, nhiệt độ quanh nămkhá cao, nhiệt độ trung bình năm khoảng 260C Nhiệt độ cao thời tiết khô hạndẫn đến thiếu nước sinh hoạt và thiếu nước để canh tác nông nghiệp

Diện tích đất tự nhiên của toàn xã là 14.647.07 ha, bao gồm những nhóm

đất chính sau: Đất đỏ vàng trên đá sét (Fs), đất nâu tím trên đá sét (Fe), đất đỏvàng trên đá biến chất (Fj)

Toàn xã có 432 hộ với 2251 khẩu Tổng số lao động 1337 người Lao

động tập trung chủ yếu ở khối sản xuất nông nghiệp (chiếm 93%), đây lànguồn lao động dồi dào có thể huy động vào việc sản xuất lâm nghiệp, xâydựng khu bảo tồn và phát triển lâm nghiệp xã hội

Thành phần dân tộc gồm Pa Kô 369 hộ chiếm 85,4%, Vân Kiều 37 hộchiếm 8,6% còn lại là dân tộc Kinh 26 hộ chiếm 6,0% Hầu hết đồng bào dân

Trang 20

tộc vẫn sống dựa vào rừng là chính, diện tích đất canh tác nông nghiệp rất ít,

đời sống của đồng bào các dân tộc nhìn chung còn khá nghèo nàn và lạc hậu.Diện tích Lúa nước 27 ha, Diện tích Ngô 41 ha, diện tích Sắn 37 ha, diệntích Rau quả, hoa màu khác 7 ha

Toàn xã có 24 con trâu giảm 3 con so với năm trước; Bò 346 con tăng 30con so với năm trước; Dê 238 con; Lợn 115 con, tổng đàn gia cầm 2088 con.Thu nhập từ trồng trọt và chăn nuôi thấp nên người dân thường vào rừng

để khai thác gỗ và thu hái lâm sản ngoài gỗ dẫn đến nguồn tài nguyên rừngngày một cạn kiệt

Hiện nay trên địa bàn xã có 2 công trình nước sinh hoạt 1 công trìnhnước sinh hoạt khe Ty Nê phục vụ cho 5 thôn

Toàn xã hiện có 3 công trình thủy lợi trong đó công trình thủy lợi thôn ABung, La Hót hoạt động tốt, có 92 % số hộ đã dùng điện lưới Quốc gia, có 01trạm y tế với 3 cán bộ nhân viên

1.3.2 Xã Tà Long

Phía Bắc giáp: Xã Triệu Nguyên, xã Ba Lòng

Phía Nam giáp: Xã A Vao, xã Húc Nghì

Phía Đông giáp: Xã Hải Phúc

Phía Tây giáp: Xã Ba Nang và nước CHDCND Lào

Nằm trên trục đường Hồ Chí Minh nên có nhiều điều kiện thuận lợi đểgiao lưu phát triển kinh tế - xã hội với các vùng phụ cận

Địa hình núi cao có độ cao phổ biến từ 500 - 800m so với mực nước biển,dạng địa hình này thích hợp cho khoanh nuôi bảo vệ rừng Địa hình núi thấp

có độ cao từ 200 - 400m so với mực nước biển, thích hợp cho phát triển nôngnghiệp và trồng rừng theo mô hình nông lâm kết hợp

Xã Tà Long chịu ảnh hưởng của khí hậu Tây trường sơn, thể hiện rõ tínhchất nhiệt đới nóng ẩm với nền nhiệt cao hầu như quanh năm Nhiệt độ trungbình hàng năm 25 - 300C, vào tháng 4, 5, 6 nhiệt độ lên đến 37- 380C, tháng

Trang 21

12, 1, 2 nhiệt độ xuống còn 17 - 180C Lượng mưa trung bình năm 2260mmnhưng phân bố không đồng đều, tháng 8 có lượng mưa lớn nhất khoảng320mm, tháng 3, 4 có lượng mưa thấp nhất.

Gió Tây khô nóng thịnh hành từ tháng 4 - 9, từ tháng 5 - 8 có gió Nam

Hệ thống sông suối trên địa bàn gồm Sông Đakrông, Suối Xi pa, Suối PaNgàn, Suối Làng An,… là nguồn cung cấp nước khá phong phú phục vụ sảnxuất và sinh hoạt của người dân trong xã

Diện tích đất lâm nghiệp cả xã là 10.664,5 ha Trong đó rừng tự nhiên10.390 ha, rừng trồng 274,5 ha Tỷ lệ che phủ của rừng 57,29%, rừng tự nhiênchủ yếu là rừng đặc dụng 5.237 ha chiếm (50,4%), rừng phòng hộ 1884 ha,còn lại là rừng sản xuất 3269 ha

Toàn xã có 422 hộ với 2569 khẩu, có tổng số lao động 1101 người Tiềmnăng lao động lớn nhưng chất lượng lao động nhìn chung thấp, đại bộ phận làlao động phổ thông, trình độ sản xuất lạc hậu

Dân tộc Vân Kiều chiếm 82.26%, Pa Hy chiếm 10,66%, Pa Kô chiếm0,71% còn lại là dân tộc kinh chiếm 2,37% Hầu hết đồng bào dân tộc vẫnsống dựa vào rừng là chính

Diện tích lúa nước: 104 ha, lúa rẫy: 260 ha, ngô: 116,5 ha, sắn: 85,4 ha,rau các loại: 13,6 ha, đậu các loại: 11,6 ha, lạc: 11ha, cây ăn quả (chuối, dứa):29,1 ha, cây công nghiệp dài ngày (cà phê, hồ tiêu): 31,75 ha

Toàn xã có 512 con trâu; Bò 326 con; Dê 270 con; Lợn 367 con, tổng đàngia cầm 2985 con

1.3.3 Xã Húc Nghì

Phía Bắc giáp: Xã Tà Long và một phần giáp tỉnh Thừa Thiên HuếPhía Nam giáp: Xã Tà Rụt và A Bung

Phía Đông giáp: Tỉnh Thừa Thiên Huế

Phía Tây giáp: Xã Tà Long

Húc Nghì có khoảng hơn 95% là đồi núi cao, độ cao trung bình so với

Trang 22

mặt nước biển là 850m, đỉnh cao nhất là 1384m, độ dốc trung bình 20 - 350hướng dốc nghiêng từ tây sang đông.

Trên địa bàn có các nhóm đất Feralit đỏ vàng trên đá sét (Fs) ở thôn HúcNghì và thôn 37, độ dốc từ 20 - 350, thích hợp cho phát triển trồng và khoanhnuôi rừng Đất phù sa được bồi hàng năm ở các khu vực ven sông Đakrông,thích hợp cho việc phát triển cây lương thực và hoa màu

Húc Nghì nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới giómùa Gió Tây Nam khô nóng về mùa hè, gió Đông Bắc ẩm lạnh về mùa đông.Nhiệt độ trung bình hàng năm 260C, nhiệt độ cao nhất 400C, thấp nhất là8,50C Lượng mưa bình quân năm 2325mm, tổng lượng mưa tập trung vào cáctháng 9, 10, 11 chiếm 70 - 80% lượng mưa cả năm Xã Húc Nghì có sông

Đakrông chảy bao quanh và một số khe, suối khác như khe Acho, khe BaLê,khe La Sam… nhưng nó phân bố không đều nên việc cung cấp nước tưới chonông nghiệp và nước sinh hoạt cho nhân dân gặp rất nhiều khó khăn

Theo số liệu thống kê tại xã hiện tại diện tích rừng của xã là 9552,4 ha, diệntích rừng tự nhiên là 9491,9 ha Trong đó diện tích rừng đặc dụng là 8173,8 ha,diện tích rừng phòng hộ là 811,3 ha, diện tích rừng sản xuất là 506,8 ha

Toàn xã có 211 hộ với 1178 khẩu, có tổng số lao động 505 người, trong

đó Vân Kiều chiếm 93,84%, Pa Kô chiếm 2,37% còn lại là dân tộc Kinhchiếm 3,79%

Diện tích trồng lúa: 188,08 ha, trong đó lúa rẫy: 176,28 ha chiếm93,73%, năng suất bình quân 19,12 tạ/ha/năm Ngô (36 ha), năng suất bìnhquân 9,3 tạ/ha/năm Sắn (21 ha), năng suất bình quân 89,5 tạ/ha/năm Lạc(5,5ha), năng suất bình quân 10 tạ/ha/năm Cây ăn quả (Chuối, dứa, camquýt, ) 19,1 ha Cây công nghiệp dài ngày gồm cà phê, hồ tiêu (17,6 ha)

Về lâm nghiệp, trong những năm qua, toàn xã đã triển khai trồng rừng

được là 11,9 ha, trong đó một phần là do dự án đầu tư và một phần là do ngườidân tự bỏ vốn để trồng

Trang 23

Trên địa bàn xã hiện có 1 tuyến đường quốc lộ đi qua, các tuyến đườngliên thôn, đường lâm nghiệp đa số là đường đất nên chỉ đi lại được trong mùakhô, còn mùa mưa thì việc đi lại rất khó khăn.

Toàn xã có 01 trường phổ thông cơ sở nằm ở thôn Húc Nghì và 03 trườngmầm non ở 3 thôn: Húc Nghì, Là Tó và thôn 37 Xã có 01 trạm y tế, trong đó

2 y sỹ và 1 nữ hộ sinh, cùng với sự giúp đỡ của cán bộ huyện

1.3.4 Nhận xét và đánh giá chung về khu vực nghiên cứu

đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ nguồn nước,chống xói mòn đất, đặc biệt là nơi sinh sống và phát triển của nhiều loài sinhvật trong khu vực

Trong khu vực có Lâm trường và Hạt kiểm lâm hoạt động tích cực đã hỗtrợ rất nhiều cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học

- Khó khăn

Dân cư sống trong vùng chủ yếu là đồng bào các dân tộc ít người, trình độdân trí thấp, đời sống còn gặp rất nhiều khó khăn, cuộc sống chủ yếu dựa vàorừng, vì vậy đã ảnh hưởng không nhỏ tới công tác bảo tồn tài nguyên trongvùng như canh tác nương rẫy, săn bắn, khai thác gỗ và các loài dược liệu.Lâm trường và Hạt kiểm lâm đã hoạt động tích cực, song chưa phát huy

được vai trò nòng cốt thúc đẩy nền kinh tế lâm nghiệp khu vực phát triển và

Trang 24

bảo vệ rừng Công tác chuyển giao kỹ thuật lâm nghiệp tiến hành vẫn cònchậm (việc giao rừng tự nhiên cho dân đang tiến hành với quy mô nhỏ).

Người dân trong vùng có trình độ dân trí thấp, thiếu kiến thức hiểu biết vềbảo tồn thiên nhiên Đồng bào ở đây ít được giáo dục tuyên truyền về bảo vệmôi trường và sử dụng bền vững tài nguyên

Cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn Đường giao thông vận tải ngoài tuyến

đường Hồ Chí Minh thì các đường liên thôn, liên xã còn ít, chất lượng đườngxấu, chỉ đi lại được trong mùa khô

Công tác định canh định cư đã được Đảng và Chính phủ quan tâm nhưngnguồn vốn quá ít và nhỏ giọt, hoặc còn mang tính chất rải đều nên hiệu quảchưa cao, ảnh hưởng không nhỏ tới công tác bảo tồn tài nguyên rừng

Trang 25

CHƯƠNG II Mục tiêu, Đối tượng, Phạm vi, Nội dung và phương pháp

nghiên cứu 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá được tiềm năng và hiện trạng sử dụng tài nguyên cây có íchcủa đồng bào dân tộc Pa Kô và Vân Kiều trong khu vực nghiên cứu

- Đề xuất giải pháp khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên cây có ích,nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn tri thức thực vật của dân tộc

Pa Kô và Vân Kiều ở các xã đã lựa chọn

2.2 Đối tượng nghiên cứu.

- Các loài cây có ích được đồng bào dân tộc Pa Kô và Vân Kiều huyện

Đakrông sử dụng

- Tri thức và kinh nghiện về sử dụng thực vật của đồng bào dân tộc Pa Kô

và Vân Kiều huyện Đakrông

2.3 Phạm vi nghiên cứu.

Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại 3 xã Tà Long, Húc Nghì và A Bungthuộc khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông - Quảng Trị

2.4 Nội dung nghiên cứu

 Đánh giá về thu nhập của các hộ gia đình trong khu vực nghiên cứu

 Điều tra về thành phần loài cây có ích được đồng bào dân tộc Pa Kô vàVân Kiều khai thác sử dụng

 Điều tra kinh nghiệm và tri thức truyền thống của dân tộc Pa Kô vàVân Kiều về sử dụng các loài cây có ích

 Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển một số loài cây có ích ở khuvực nghiên cứu

Trang 26

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp nghiên cứu thực vật của N.N.Thìn (2007)

Xây dựng tuyến điều tra: Dựa trên bản đồ hiện trạng của khu bảo tồn

thiên nhiên Đakrông chúng tôi xây dựng các tuyến điều tra và lập các OTC để

điều tra, thu thập mẩu phục vụ cho công tác định loài và lập danh lục

Thu mẫu: Các mẫu thực vật được thu thập phải đảm bảo có đầy đủ các

bộ phận cành, lá, hoa, quả (đối với cây lớn) hay cả cây (cây thảo nhỏ haydương xỉ) Các mẫu được thu thập phải có tỷ lệ tương đối phù hợp với kíchthước chuẩn của mẫu tiêu bản: 41 x 29 cm [7]

Tuy nhiên, trong điều tra thực vật dân tộc học, các mẫu tiêu bản thu

được thường không đầy đủ các tiêu chuẩn trên Trong các trường hợp này,chúng tôi tiến hành thu thập các mẫu vật có thể (cành, lá, hoa, quả, hạt, rễ)các mẫu này không đủ cơ sở để xác định chính xác tên khoa học nhưng cóthể định hướng cho quá trình thu thập thông tin kèm theo và thu mẫu tiêu bản

bổ sung sau này [33]

Ghi chép thông tin: Các thông tin liên quan đến mỗi mẫu vật được ghi

chép như: Dạng sống, đặc điểm thân, cành, lá, hoa, quả, màu sắc hoa, quả khichín, màu của nhựa, dịch, mủ; mùi, vị của hoa quả Các thông tin về thời gian,

địa điểm thu mẫu, điều kiện tự nhiên, sinh thái nơi sống, mật độ, người thumẫu cũng nên được ghi nhận [7], [33]

Xử lý mẫu: Các mẫu được cắt tỉa cho phù hợp sau đó kẹp vào giữa hai tờ

báo (kích thước 45 x 30 cm) và được ngâm trong dung dịch cồn 400 - 450.Mẫu được lấy ra khỏi cồn và được đặt giữa hai tờ báo khô, xếp thành từng tập,kẹp bằng kẹp mắt cáo để mang đi phơi hoặc sấy khô

Định tên: Việc định tên được sử dụng theo phương pháp hình thái so

sánh, dựa vào các đặc điểm phân tích được từ mẫu vật, các thông tin ghi chépngoài thực địa

Trang 27

Lập danh lục: Từ các mẫu tiêu bản đã có tên, chúng tôi tiến hành lập

danh lục thực vật Tên khoa học của các loài được kiểm tra và chỉnh lý theo bộ

“Danh lục các loài thực vật Việt Nam”

2.5.2 Phương pháp sử dụng trong thu thập thông tin

Trong quá trình thu thập thông tin chúng tôi sử dụng các phương pháp

đánh giá nông thôn có người dân tham gia (PRA), phương pháp phân tích vàphát triển thị trường (MA&D) [30], [33]

* PRA (Đánh giá nông thôn có người dân tham gia):

- Phỏng vấn: Sử dụng một số câu hỏi cho những người được chọn Trong

khi phỏng vấn, yêu cầu người cung cấp thông tin đưa ra tên cây theo tiếng củadân tộc mình Quá trình phỏng vấn có thể diễn ra ở nhiều chỗ (nhà, vườn haytrong rừng) hoặc cán bộ nghiên cứu cùng với người cung cấp tin vừa đi vừaphỏng vấn

+ Phỏng vấn mở: Là dạng phỏng vấn tự do, chúng ta có thể hỏi về bất kỳcây nào với những câu hỏi tuỳ thuộc vào hoàn cảnh khi đó, thứ tự các nộidung cần hỏi có thể thay đổi tuỳ ý dựa trên câu trả lời của câu hỏi trước củangười cung cấp thông tin

+ Phỏng vấn bán cấu trúc: Một số câu hỏi được chuẩn bị trước và một sốcâu hỏi có thể thêm vào tuỳ theo các tình huống cụ thể

+ Phỏng vấn có cấu trúc (phỏng vấn sâu): Là phỏng vấn có sử dụngmột bộ câu hỏi nhất định đối với những người cung cấp thông tin có chọnlọc tham gia

+ Phỏng vấn tái diễn (Trình diễn tri thức): Là cuộc phỏng vấn trong đóchúng ta yêu cầu người dân địa phương diễn giải lại một quy trình xử lý haychế biến nào đó

+ Phỏng vấn chéo: Là cách phỏng vấn để kiểm tra thông tin của ngườikhác đã đưa ra trong các lần phỏng vấn trước

Trang 28

- Thảo luận nhóm: Sau khi có kết quả bước đầu về tri thức và kinh

nghiệm qua phỏng vấn, để kiểm tra độ chính xác cũng như để có thêm cácthông tin bổ sung, chúng tôi tiến hành thảo luận nhóm Trong khi thảo luận,chúng tôi lần lượt đưa các thông tin đã thu thập được ra để mọi người tranhluận, nhiều kinh nghiệm đã được chỉnh lý và bổ sung qua quá trình này

* MA&D

Trong quá trình thu thập thông tin, chúng tôi đã sử dụng một số công cụcủa phương pháp phân tích và phát triển thị trường nhằm tìm hiểu cấu trúc hệthống thị trường cây có ích trong khu vực điều tra Phỏng vấn và quan sát làhai công cụ được sử dụng nhiều trong quá trình nghiên cứu này Một bảng câuhỏi (Phụ lục) được chuẩn bị trước để phỏng vấn người khai thác, người thumua trung gian, các đại lý, người bán buôn, các cơ sở sản xuất Quá trìnhphỏng vấn được thực hiện nhờ 6 loại câu hỏi trợ giúp, ai?, cái gì?, vì sao?, khinào?, ở đâu?, làm thế nào? Trong quá trình thu thập thông tin ngoài hiệntrường, quan sát cũng là hình thức được sử dụng nhiều và hỗ trợ cho phỏngvấn trực tiếp hoặc cung cấp những thông tin về công nghệ chế biến, thời vụ,chất lượng sản phẩm, số lượng người bán

n: là số số hạng

 X X1 + X2 + + Xn

M = - =

Trang 29

Chương III kết quả nghiên cứu và thảo luận 3.1 Nhóm đối tượng và thu thập của các hộ gia đình trong nhóm

đối tượng

3.1.1 Nhóm đối tượng

Đề tài chủ yếu lựa chọn các nhóm đối tượng điều tra, phỏng vấn là các hộgia đình người dân tộc Pa Kô và Vân Kiều sinh sống tại 3 xã Tà Long, HúcNghì, A Bung, không phân biệt về địa vị xã hội và khả năng hiểu biết về rừng

3.1.2 Hoàn cảnh kinh tế của các hộ gia đình trong nhóm đối tượng

Kết quả điều tra cho thấy, đối với các hộ gia đình nghèo trong 3 xã lựachọn, để duy trì cuộc sống của mình, họ đã có nhiều hoạt động khác nhau.Tuỳ theo diện tích đất, điều kiện sinh thái, lực lượng lao động trong gia đình,khả năng hiểu biết về sản xuất mà họ tiến hành các hoạt động thu nhập từnông nghiệp, chăn nuôi gia súc, từ kinh tế vườn, thu hoạch lâm sản ngoài gỗ

và làm thuê Với thời gian có hạn nên chúng tôi không thể thu thập thông tin

từ tất cả các hộ gia đình trong các xã nghiên cứu mà chọn ra 20-25 hộ trongmỗi xã để thu thập thông tin Trên cơ sở đó có thể hiểu được sơ bộ về tầmquan trọng của mọi hoạt động thu nhập trong kinh tế hộ gia đình Các dữ liệuchúng tôi thu được có thể khẳng định rằng, qua 70 hộ gia đình lựa chọn đểphỏng vấn thì có 50 hộ gia đình mà trong hoạt động kiếm sống của họ có thunhập từ rừng (lâm sản ngoài gỗ) chiếm 69,39%, trong tổng số hộ được lựachọn để tìm hiểu và thu nhập từ rừng chiếm khoảng 32,08% đến 50% (xã ABung), 31,80% đến 51,40% (Tà Long), 25,75% đến 48,85% (Húc Nghì) trongtổng thu nhập của các hộ (Bảng 3.1)

Trang 30

Bảng 3.1: Trung bình thu nhập của hộ gia đình (%) Các hoạt

nuôi 30,5 20,100 6,60 32,01 15,50 12,65 45,90 18,50 16,40Rừng

(LSNG) 15,0 31,80 51,40 23,28 25,75 48,85 0 32,08 50,00Hoạt động

khác 16,0 15,10 2,40 34,71 21,25 8,50 3,40 12,60 2,00Các hộ gia đình khá giả ở các xã A Bung và Tà Long thường ít hoặckhông tham gia vào khai các sản phẩm từ rừng Thu nhập của những hộ nàychủ yếu từ các hoạt động làm vườn, chăn nuôi hoặc các nguồn khác Mặt khácnhững hộ gia đình trung bình và nghèo thì thu nhập của họ chủ yếu là từ rừng.Các hoạt động thu hái lâm sản từ rừng của người dân tộc Pa Kô và Vân Kiều ở

3 xã nghiên cứu chủ yếu là lấy cây thuốc, thu hái rau rừng và khai thác cácloài dùng làm hàng thủ công mỹ nghệ,…

Các hộ nghèo thường vào rừng nhiều hơn và họ thu hái tất cả các loạilâm sản mà họ có thể bán được Vào thời vụ thu hái lâm sản nhiều hộ nghèovào rừng từ 20 - 24 ngày, cá biệt có hộ vào rừng tới 28 ngày trong tháng.Giống như các cộng đồng dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam, các hộ gia

đình người Pa Kô và Vân Kiều ở 3 xã nghiên cứu sống quần tụ thành làngbản và cuộc sống của họ phụ thuộc nhiều vào rừng Khai thác lâm sản làmột công việc được coi là nghề kiếm ăn để duy trì cuộc sống của các thànhviên trong cộng đồng

Việc tìm hiểu những kinh nghiệm, tập quán và tri thức truyền thống trong

sử dụng thực vật nói chung, các loài cây có ích nói riêng của cộng đồng người

Pa Kô và Vân Kiều ở 3 xã Tà Long, Húc Nghì, A Bung nói riêng sẽ góp phần

Trang 31

quan trọng đối với sử dụng bền vững tài nguyên trong khu vực Khu bảo tồnthiên nhiên Đakrông.

3.2 Các loài thực vật đã và đang được khai thác sử dụng trong khu vực nghiên cứu.

3.2.1 Mức độ phong phú và đa dạng của tài nguyên cây có ích trong khu vực nghiên cứu.

Qua quá trình điều tra và giám định mẫu vật thu đựơc cho thấy, thànhphần loài thực vật được sử dụng ở khu vực này khá phong phú và đa dạng.Bước đầu chúng tôi xác định được 255 loài với 203 chi, 79 họ thuộc 3 ngànhthực vật bậc cao có mạnh được đồng bào dân tộc Pa Kô và Vân Kiều ở 3 xã TàLong, Húc Nghì, A Bung sử dụng vào các mục đích khác nhau Sự phân bốcác loài thực vật vào các ngành được thể hiện ở bảng sau:

Qua bảng 3.2 ta thấy, ngành Ngọc lan- Magnoliophyta có số lượng cácloài thực vật được sử dụng nhiều nhất với 248 loài (chiếm 97,2%), 197 chi(chiếm 97,0%) và 73 họ (chiếm 92,4%) Điều này khá hợp lý bởi trong hệthực vật Việt Nam, ngành Ngọc lan cũng là ngành chiếm ưu thế tuyệt đối

Bảng 3.2: Sự phân bố của họ, chi và loài cây có ích

Ngành

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Trang 32

Bảng 3.3: Các họ giàu loài cây có ích nhất

- 7 loài, họ Piperaceae - 5 loài

Tổng số loài trong các họ là 139 loài chiếm 54,5% Con số trên đây nóilên tính đặc trưng của các cây có ích được sử dụng ở khu vực nghiên cứu Các

họ này đều là họ có số lượng loài lớn ở Việt Nam và có sự phân bố rộng Tuynhiên họ có số loài lớn nhất đồng thời cũng là họ có giá trị thẩm mỹ cao nhất tạinước ta là họ Lan (Orchidaceae) thì trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ ghinhận có 2 loài được sử dụng Điều đó cho thấy, nhu cầu chơi cây cảnh tại các

địa phương còn thấp và hoàn toàn phù hợp với đời sống kinh tế chưa cao củangười dân tộc sống ở khu vực miền núi Bên cạnh việc đánh giá các họ giàu loàinhất, chúng tôi cũng đã liệt kê số chi giàu loài nhất, thể hiện trong (Bảng 3.4)

Trang 33

Bảng 3.4: Số chi giàu loài nhất

Qua bảng 3.4 ta thấy, Chi Calamus là chi có số lượng loài nhiều nhất với

7 loài (chiếm 35%) Tiếp đến là chi Ficus - 5 loài (25%), chi Allium - 4 loài

(chiếm 20%), chi Piper - 4 loài (chiếm 20%) Mặc dù chỉ có 4 chi đa dạng

nhất nhưng có tới 20 loài chiếm 7,8% tổng số loài cây có ích được khai thác

sử dụng trong khu vực

Từ số liệu phân tích ở bảng 3.2, 3.3 và 3.4 ta có thể khẳng định rằng sựphân bố không đồng đều giữa các taxon không chỉ thể hiện ở bậc ngành màcòn thể hiện ở các taxon dưới ngành (họ, chi và loài) Điều này cho thấy nhómcây có ích ở khu vực nghiên cứu rất phong phú và đa dạng

Để đánh giá mức độ đa dạng về nơi sống của các loài cây có ích trongkhu vực nghiên cứu chúng tôi đã thống kê ở bảng dưới đây:

Bảng 3.5: Phân bố về nơi sống của các loài cây có ích

Trang 34

Từ kết quả ở trên cho thấy, hầu hết các loài cây có ích phân bố trongrừng tự nhiên với 164 loài (64,3%), tiếp đến là hệ thống nông lâm kết hợp 36loài (14,4%), rừng trồng 30 loài (11,7%) và vườn nhà 25 loài (9,8%).

Trong số 255 loài thực vật đã xác định được thì có 185 loài là cây hoangdại và 70 loài là cây trồng Điều đó khẳng định rằng mức độ phụ thuộc của đờisống người dân vào tài nguyên thực vật ngoài tự nhiên là tương đối lớn Vì vậycần phải có chính sách quản lý phù hợp về việc khai thác sử dụng cây cỏ nhằm

đảm bảo tính đa dạng sinh học và môi trường trong khu vực

3.2.2 Các nhóm cây có ích và kinh nghiệm sử dụng của dân tộc Pa Kô

và Vân Kiều.

Đồng bào dân tộc Pa Kô và Vân Kiều ở 3 xã Tà Long, Húc Nghì, A Bung

sử dụng các loài thực vật vào nhiều mục đích khác nhau Trên cơ sở mục đích

sử dụng cũng như tầm quan trọng của các loài đối với cộng đồng, chúng tôixếp các loài cây có ích ở 3 xã điều tra thành 6 nhóm tài nguyên khác nhau

Bảng 3.6: Các nhóm cây có ích của đồng bào dân tộc Pa Kô và Vân Kiều

ở 3 xã Tà Long, Húc Nghì, A Bung

2 Cây ăn được (bao gồm cây lương thực, thực

phẩm, làm rau, gia vị, ăn quả, ) 61 18,4

Trang 35

64,5%) Khi đi nương rẫy hoặc vào rừng người Pa Kô cũng như người VânKiều thường có thói quen thu hái các loại rau, quả rừng về sử dụng trong gia

đình, do vậy nhóm cây ăn được (lương thực, thực phẩm, làm rau, gia vị, quả

ăn) chiếm một tỷ lệ đáng kể 61 loài (18,4%) Các nhóm cây còn lại như nhómcây độc (chiếm 4,2%), nhóm cây nhuộm màu (chiếm 1,8%), nhóm cây dùnglàm hàng thủ công mỹ nghệ (chiếm 5,1%) và nhóm cây có công dụng khác(6,0%) Điều này hoàn toàn phù hợp với cuộc sống của người dân tộc ở cácvùng nông thôn, miền núi Do cách xa các trung tâm đô thị nên việc tự cung,

tự cấp, giao lưu trong tiểu khu vực là rất cần thiết Hơn nữa, ở những khu vựckinh tế còn khó khăn thì nhu cầu hàng đầu của con người là lương thực, thựcphẩm và thuốc chữa bệnh Chính vì vậy nguồn tài nguyên được sử dụng vàomục đích cây làm thuốc và nhóm cây ăn được cũng chiếm phần lớn trongtổng số loài họ khai thác Các nhóm cây còn lại ít nhiều cũng được khai thác,

sử dụng nhưng với nhu cầu ít hơn hoặc chỉ tập trung vào một số cây nhất

định Kinh nghiệm và tri thức sử dụng các nhóm cây có ích được trình bàynhư dưới đây:

3.2.2.1 Nhóm cây sử dụng làm thuốc

Khai thác và sử dụng cây thuốc ngoài tự nhiên để chữa bệnh trong gia

đình và cho cộng đồng là tập quán lâu đời của đồng bào dân tộc ít người ởhuyện Đakrông Trong quá trình phát triển của cộng đồng, họ đã dần nhậnbiết các loài cây thuốc để chữa bệnh, qua quá trình tìm hiểu và thu thập thôngtin chúng tôi nhận thấy trong mỗi cộng đồng người Pa Kô và Vân Kiềuthường có 2-3 lang y trong bản, ngoài ra phần đông các hộ gia đình người PaKô và Vân Kiều đều có khả năng sử dụng cây thuốc để điều trị một số bệnhthông thường hoặc sử dụng cây cỏ làm thuốc phục vụ cho mục đích bồi bổ cơthể Kết quả điều tra đã ghi nhận được 214 loài cây thuốc thuộc 70 họ, đượcngười dân ở khu vực này sử dụng để điều trị cho 9 nhóm bệnh khác nhau.Trong đó các họ có nhiều loài được sử dụng làm thuốc là họ Đậu (Fabaceae) -

Trang 36

15 loài, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) - 14 loài, họ Cúc (Asteraceae) - 12 loài,

họ Cà phê (Rubiaceae) - 10 loài và họ Hoà thảo (Poaceae) - 9 loài

Kinh nghiệm, tri thức sử dụng cây thuốc để chữa bệnh và chăm sóc sứckhoẻ của dân tộc Pa Kô và Vân Kiều ở các xã nghiên cứu khá đa dạng vàphong phú Kết quả điều tra, phỏng vấn các hộ gia đình được thể hiện ởbảng 3.7

Bảng 3.7: Các nhóm bệnh được điều trị bằng cây thuốc nam của

3 Các bệnh ngoài da 35 Nổ quả trắng, Thầu dầu tía,

5 Các bệnh về thận, bài tiết 23 Tầm gửi, Ngấy hương, Cây tiết

dê, Cam thảo đất,

6 Các bệnh cho phụ nữ 18 Cối xay, Vông nem, Trinh nữ,

Mít, Sả, Chanh,

7 Các bệnh do động vật gây ra 12 Trầu không rừng, Mướp đắng,

Đại tướng quân, bồ cua vẽ

8 Các loại thuốc uống bổ mát 20 Thảo quyết minh, Thổ phục

Trang 37

nguyên nhân gây nên các bệnh liên quan tới hệ tiêu hóa, bệnh ngoài da.Bên cạnh đó các tuyến đường như đường liên thôn, đường lâm nghiệp chưaphát triển nên việc đi lại khó khăn, đặc biệt là người dân thường xuyên vàorừng khai thác tài nguyên nên dễ gặp tai nạn, ảnh hưởng đến xương, cơ bắp.Những thống kê của nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, số loài cây thuốc dùng đểchữa trị các bệnh về tiêu hóa (40 loài), bệnh ngoài da (35 loài) và các bệnhliên quan đến hệ vận động (33 loài) thường chiếm số lượng cao Ngoài ra,các cây thuốc được người dân thu hái trong tự nhiên để làm rượu tăng lực,bồi bổ sức khỏe cũng chiếm số lượng tương đối lớn điều này cũng dễ hiểubởi trong điều kiện về dinh dưỡng còn thiếu thốn lại phải lao động nặngnhọc nên người dân rất quan tâm tới việc phục hồi thể lực, duy trì sức khỏe

để đảm bảo lao động

Trong số các cây được đồng bào dân tộc Pa Kô và Vân Kiều dùng làmthuốc ở khu vực nghiên cứu, chúng tôi chưa phát hiện được cây thuốc nàomới Tuy nhiên một số loài có nhiều công dụng chữa bệnh cũng như phươngthức điều trị mới Bảng dưới đây giới thiệu một số loài cây thuốc có côngdụng chữa bệnh mới điển hình

Ngày đăng: 10/10/2017, 10:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ninh Khắc Bản (2007). Tạo sản phẩm thiên hoa phấn có hàm lượng RIP cao từ một số loài trong chi Qua lâu ở Việt Nam. Báo cáo kết quả thực hiện đề tài Viện KH và CNVN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo sản phẩm thiên hoa phấn có hàm lượng RIPcao từ một số loài trong chi Qua lâu ở Việt Nam
Tác giả: Ninh Khắc Bản
Năm: 2007
3. Nguyễn Tiến Bân (1997), Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 532 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: NguyÔn TiÕn B©n (1997), "Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vậthạt kín ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
4. Nguyễn Tiến Bân và cs. (2001), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập 1, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội, 1181 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập1
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân và cs
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2001
5. Nguyễn Tiến Bân và cs. (2003), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập 2, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội, 1203 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập2
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân và cs
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2003
6. Nguyễn Tiến Bân và cs. (2005), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập 3, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội, 1248 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập3
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân và cs
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2005
7. Nguyễn Tiến Bân, Nguyễn Như Khanh (1979), Phương pháp nghiên cứu thùc vËt, tËp 1. Nxb. Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội. (Tài liệu dịch dịch từ tiÕng Nga) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứuthùc vËt, tËp 1
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân, Nguyễn Như Khanh
Nhà XB: Nxb. Khoa học & Kỹ thuật
Năm: 1979
8. Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Sách đỏ Việt Nam- phần thực vật.Nxb. Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, 611 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam- phần thực vật
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Nhà XB: Nxb. Khoa học & Kỹ thuật
Năm: 2007
9. Lưu Đàm Cư (2005), Thực vật dân tộc học (bài giảng chuyên đề cao học- Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật. Hà Nội, tr 2 – 10.) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực vật dân tộc học
Tác giả: Lưu Đàm Cư
Năm: 2005
10.Lưu Đàm Cư, Nguyễn Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Thuỷ... (2003),“Nghiên cứu cây nhuộm màu thực phẩm ở Việt Nam”, Hội nghị khoa học toàn quốc, Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống, Huế, tr 47-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cây nhuộm màu thực phẩm ở Việt Nam
Tác giả: Lưu Đàm Cư, Nguyễn Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Thuỷ
Năm: 2003
11. Nguyễn Văn Đàn, Vũ Xuân Quang, Ngô Ngọc Khuyến (2005), Cây hoa chữa bệnh. Nxb Y học. Hà Nội, 227 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Đàn, Vũ Xuân Quang, Ngô Ngọc Khuyến (2005), "C©y hoachữa bệnh
Tác giả: Nguyễn Văn Đàn, Vũ Xuân Quang, Ngô Ngọc Khuyến
Nhà XB: Nxb Y học. Hà Nội
Năm: 2005
13.Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978), Phân loại học Thực vật- Thực vật bËc cao, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 549 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại học Thực vật- Thực vậtbËc cao
Tác giả: Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến
Nhà XB: Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1978
14.Võ Văn Chi, Trần Hợp (1999), Cây cỏ có ích ở Việt Nam, tập 1. Nxb.Giáo dục, Hồ Chí Minh, 817 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ có ích ở Việt Nam, tập 1
Tác giả: Võ Văn Chi, Trần Hợp
Nhà XB: Nxb.Giáo dục
Năm: 1999
15.Võ Văn Chi, Trần Hợp (2002), Cây cỏ có ích ở Việt Nam, tập 2. Nxb.Giáo dục, Hồ Chí Minh, 1215 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ có ích ở Việt Nam, tập 2
Tác giả: Võ Văn Chi, Trần Hợp
Nhà XB: Nxb.Giáo dục
Năm: 2002
16. Phạm Hoàng Hộ (1999), Cây cỏ Việt Nam, tập 1, Nxb. Trẻ, Hồ Chí Minh, 991 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam, tập 1
Tác giả: Phạm Hoàng Hộ
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 1999
17. Phạm Hoàng Hộ (2000), Cây cỏ Việt Nam, tập 2, Nxb. Trẻ, Hồ Chí Minh, 953 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam, tập 2
Tác giả: Phạm Hoàng Hộ
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 2000
18. Phạm Hoàng Hộ (2000), Cây cỏ Việt Nam, tập 3, Nxb. Trẻ, Hồ Chí Minh, 999 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam, tập 3
Tác giả: Phạm Hoàng Hộ
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 2000
19. Trần Công Khánh, Phạm Hải (2004), Cây độc ở Việt Nam , Nxb Y học, Hà Nội,283 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây độc ở Việt Nam
Tác giả: Trần Công Khánh, Phạm Hải
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2004
20.Lộ Vũ Ngọc Lộ (1977), Những cây tinh dầu quý, Nxb. Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cây tinh dầu quý
Tác giả: Lộ Vũ Ngọc Lộ
Nhà XB: Nxb. Khoa học & Kỹ thuật
Năm: 1977
21.Vũ Ngọc Lộ, Đỗ Chung Võ, Nguyễn Mạnh Pha, Lê Thuý Hạnh (1996), Những cây tinh dầu Việt Nam- khai thác, chế biến, ứng dụng, Nxb Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, 183 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cây tinh dầu Việt Nam- khai thác, chế biến, ứng dụng
Tác giả: Vũ Ngọc Lộ, Đỗ Chung Võ, Nguyễn Mạnh Pha, Lê Thuý Hạnh
Nhà XB: Nxb Khoahọc & Kỹ thuật
Năm: 1996
54. Utilization and conservation of medicinal plants in China, with special reference to Atractylodes lancea.http://www.fao.org/documents/show_cdr.asp?url_file=/docrep/W7261E/ Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Bản đồ Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông - Điều tra, đánh giá và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển kinh tế   xã hội của đồng bào dân tộc pakô và vân kiều ở 3 xã cùng đệm thuộc khu bảo tồn thiên nhiên
Hình 1.1 Bản đồ Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông (Trang 18)
Bảng 3.2:  Sự phân bố của họ, chi và loài cây có ích - Điều tra, đánh giá và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển kinh tế   xã hội của đồng bào dân tộc pakô và vân kiều ở 3 xã cùng đệm thuộc khu bảo tồn thiên nhiên
Bảng 3.2 Sự phân bố của họ, chi và loài cây có ích (Trang 31)
Bảng 3.3: Các họ giàu loài cây có ích nhất - Điều tra, đánh giá và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển kinh tế   xã hội của đồng bào dân tộc pakô và vân kiều ở 3 xã cùng đệm thuộc khu bảo tồn thiên nhiên
Bảng 3.3 Các họ giàu loài cây có ích nhất (Trang 32)
Bảng 3.4: Số chi giàu loài nhất - Điều tra, đánh giá và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển kinh tế   xã hội của đồng bào dân tộc pakô và vân kiều ở 3 xã cùng đệm thuộc khu bảo tồn thiên nhiên
Bảng 3.4 Số chi giàu loài nhất (Trang 33)
Bảng 3.5: Phân bố về nơi sống của các loài cây có ích - Điều tra, đánh giá và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển kinh tế   xã hội của đồng bào dân tộc pakô và vân kiều ở 3 xã cùng đệm thuộc khu bảo tồn thiên nhiên
Bảng 3.5 Phân bố về nơi sống của các loài cây có ích (Trang 33)
Bảng 3.6: Các nhóm cây có ích của đồng bào dân tộc Pa Kô và Vân Kiều - Điều tra, đánh giá và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển kinh tế   xã hội của đồng bào dân tộc pakô và vân kiều ở 3 xã cùng đệm thuộc khu bảo tồn thiên nhiên
Bảng 3.6 Các nhóm cây có ích của đồng bào dân tộc Pa Kô và Vân Kiều (Trang 34)
Bảng 3.7: Các nhóm bệnh được điều trị bằng cây thuốc nam của - Điều tra, đánh giá và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển kinh tế   xã hội của đồng bào dân tộc pakô và vân kiều ở 3 xã cùng đệm thuộc khu bảo tồn thiên nhiên
Bảng 3.7 Các nhóm bệnh được điều trị bằng cây thuốc nam của (Trang 36)
Bảng 3.9: Một số cây được sử dụng để chữa trị nhiều bệnh - Điều tra, đánh giá và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển kinh tế   xã hội của đồng bào dân tộc pakô và vân kiều ở 3 xã cùng đệm thuộc khu bảo tồn thiên nhiên
Bảng 3.9 Một số cây được sử dụng để chữa trị nhiều bệnh (Trang 39)
Bảng 3.10: Bộ phận được sử dụng làm thuốc - Điều tra, đánh giá và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển kinh tế   xã hội của đồng bào dân tộc pakô và vân kiều ở 3 xã cùng đệm thuộc khu bảo tồn thiên nhiên
Bảng 3.10 Bộ phận được sử dụng làm thuốc (Trang 40)
Bảng 3.11: Mục đích sử dụng cây ăn được - Điều tra, đánh giá và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển kinh tế   xã hội của đồng bào dân tộc pakô và vân kiều ở 3 xã cùng đệm thuộc khu bảo tồn thiên nhiên
Bảng 3.11 Mục đích sử dụng cây ăn được (Trang 44)
Bảng 3.14: Các cây độc được người dân tộc - Điều tra, đánh giá và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển kinh tế   xã hội của đồng bào dân tộc pakô và vân kiều ở 3 xã cùng đệm thuộc khu bảo tồn thiên nhiên
Bảng 3.14 Các cây độc được người dân tộc (Trang 48)
Bảng 3.15: Một số cây gỗ được đồng bào dân tộc Pa Kô và Vân Kiều - Điều tra, đánh giá và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển kinh tế   xã hội của đồng bào dân tộc pakô và vân kiều ở 3 xã cùng đệm thuộc khu bảo tồn thiên nhiên
Bảng 3.15 Một số cây gỗ được đồng bào dân tộc Pa Kô và Vân Kiều (Trang 49)
Sơ đồ 3.1: Cấu trúc thị trường của một số loài cây có ích - Điều tra, đánh giá và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển kinh tế   xã hội của đồng bào dân tộc pakô và vân kiều ở 3 xã cùng đệm thuộc khu bảo tồn thiên nhiên
Sơ đồ 3.1 Cấu trúc thị trường của một số loài cây có ích (Trang 54)
Bảng 3.20: Khối lượng hàng xuất khẩu của các tư thương (tấn/ năm) - Điều tra, đánh giá và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển kinh tế   xã hội của đồng bào dân tộc pakô và vân kiều ở 3 xã cùng đệm thuộc khu bảo tồn thiên nhiên
Bảng 3.20 Khối lượng hàng xuất khẩu của các tư thương (tấn/ năm) (Trang 60)
Bảng 3.22: Các loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam, Danh lục đỏ cây - Điều tra, đánh giá và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý cây có ích nhằm góp phần phát triển kinh tế   xã hội của đồng bào dân tộc pakô và vân kiều ở 3 xã cùng đệm thuộc khu bảo tồn thiên nhiên
Bảng 3.22 Các loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam, Danh lục đỏ cây (Trang 63)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w