Tín ngưỡng dân gian trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (LV thạc sĩ)Tín ngưỡng dân gian trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (LV thạc sĩ)Tín ngưỡng dân gian trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (LV thạc sĩ)Tín ngưỡng dân gian trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (LV thạc sĩ)Tín ngưỡng dân gian trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (LV thạc sĩ)Tín ngưỡng dân gian trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (LV thạc sĩ)Tín ngưỡng dân gian trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (LV thạc sĩ)Tín ngưỡng dân gian trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (LV thạc sĩ)Tín ngưỡng dân gian trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (LV thạc sĩ)Tín ngưỡng dân gian trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (LV thạc sĩ)Tín ngưỡng dân gian trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (LV thạc sĩ)Tín ngưỡng dân gian trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (LV thạc sĩ)Tín ngưỡng dân gian trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (LV thạc sĩ)Tín ngưỡng dân gian trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (LV thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
QUÁCH THỊ DIỆU
TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN TRONG
TRUYỀN KỲ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thái Nguyên - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
QUÁCH THỊ DIỆU
TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN TRONG
TRUYỀN KỲ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Thị Phương Thái
Thái Nguyên – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Quách Thị Diệu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Văn – Xã hội, Trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp
đỡ trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn PGS.TS Phạm Thị Phương Thái đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đã giúp
đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Quách Thị Diệu
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 12
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 12
5 Phương pháp nghiên cứu 13
6 Bố cục 14
NỘI DUNG 15
Chương 1: KHÁI LƯỢC VỀ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN VIỆT NAM 15
1.1 Khái niệm tín ngưỡng và tín ngưỡng dân gian 15
1.1.1 Tín ngưỡng 15
1.1.2 Tín ngưỡng dân gian 16
1.1.3 Phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng 17
1.1.4 Phân loại tín ngưỡng và tín ngưỡng dân gian 18
1.2 Đặc trưng tín ngưỡng dân gian Việt Nam 20
1.2.1 Cơ sở hình thành đặc trưng tín ngưỡng dân gian Việt Nam 20
1.2.2 Phân loại tín ngưỡng dân gian Việt Nam 22
1.3 Dấu ấn của tín ngưỡng dân gian trong các tác phẩm văn học 28
1.4 Về thể loại truyền kì 32
1.4.1 Khái niệm truyền kì 32
1.4.2 Truyện truyền kì trung đại Việt Nam 32
1.5 Nguyễn Dữ và Truyền kỳ mạn lục 33
1.5.1 Tác giả Nguyễn Dữ 33
1.5.2 Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục 34
1.6 Tiểu kết Chương 1 38
Trang 6Chương 2:DẤU ẤN TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN TRONG TRUYỀN KỲ MẠN
LỤC 39
2.1 Những hiện tượng mang yếu tố tín ngưỡng dân gian 39
2.1.1 Hiện tượng báo mộng 39
2.1.2 Hiện tượng thác hóa 45
2.1.3 Những hiện tượng tín ngưỡng khác 49
2.2 Dấu ấn của các loại hình tín ngưỡng 51
2.2.1 Tín ngưỡng phồn thực 51
2.2.2 Tín ngưỡng sùng bái vạn vật hữu linh 55
2.2.3 Tín ngưỡng sùng bái con người 59
2.3 Một số hình thái sinh hoạt tín ngưỡng dân gian 62
2.3.1 Những sinh hoạt tín ngưỡng phổ biến 63
2.3.2 Một số sinh hoạt tín ngưỡng khác 73
2.4 Tiểu kết Chương 2 76
Chương 3: GIÁ TRỊ CỦA YẾU TỐ TÍN NGƯỠNG DÂN GIANTRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC 78
3.1 Những quan niệm về thế giới từ góc nhìn tín ngưỡng dân gian 78
3.1.1 Quan niệm về các tầng thế giới 78
3.1.2 Quan niệm sinh tử 83
3.1.3 Quan niệm nhân quả, thiên mệnh 90
3.2 Ý nghĩa của yếu tố tín ngưỡng dân gian trong Truyền kỳ mạn lục 92
3.3 Một số phương diện nghệ thuật góp phần tạo ra không gian tín ngưỡng trong Truyền kỳ mạn lục 99
3.3.1 Bút pháp kỳ ảo trong nghệ thuật xây dựng nhân vật 99
3.3.2 Bút pháp kỳ ảo trong không gian, thời gian nghệ thuật 105
3.4 Tiểu kết Chương 3 110
KẾT LUẬN 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
PHỤ LỤC 121
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hình thành từ thuở sơ khai, tín ngưỡng, tôn giáo là niềm tin và sự ngưỡng vọng của loài người vào những cái "siêu nhiên", "cái thiêng", đối lập với “cái trần tục” Tín ngưỡng ra đời không chỉ đáp ứng nhu cầu giải thích thế giới theo
tư duy của loài người ở những trình độ nhất định mà còn để an ủi bản thân, gửi gắm những ước vọng mà họ chưa thực hiện được, từ đó giúp con người sống nhân văn hơn Trải qua hàng triệu năm, tín ngưỡng đã tồn tại, phát triển cùng với loài người và chính là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh đa dạng, phức tạp…Tùy theo hoàn cảnh, trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi dân tộc, địa phương, quốc gia mà niềm tin vào "cái thiêng" thể hiện ra các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng cụ thể khác nhau Chẳng hạn: niềm tin vào Đức Chúa Trời của Kitô giáo, niềm tin vào Đức Phật của Phật giáo, niềm tin vào Thánh, Thần,
ma quỷ của tín ngưỡng dân gian Hình thức tôn giáo, tín ngưỡng này dù có nội hàm rộng hẹp khác nhau, phổ quát toàn thế giới hay là đặc thù cho mỗi dân tộc thì đều là một thực thể biểu hiện niềm tin vào “cái thiêng” chung của con người Nếu như tôn giáo là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên theo những nguyên tắc thực hành nhất định với giáo lý, giáo hội, giáo đường lớp lang thì tín ngưỡng dân gian lại phản ánh những ước nguyện tâm linh của cộng động một cách tự nhiên, tự phát, thông qua những phong tục, tập quán truyền thống
Là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng, đời sống tâm linh của người Việt mang tính hỗn dung nhưng chúng ta không tiếp nhận các tôn giáo ngoại lai một cách thụ động mà luôn có sự cải biến cho gần gũi với tư tưởng, tôn giáo bản địa
Vì vậy, ở nước ta, trong khi các tôn giáo vẫn phát triển thì các tín ngưỡng dân gian với nhiều biểu hiện đa dạng vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân
Trang 8Văn học là tấm gương phản ánh cuộc sống một cách chân thực và vô cùng sống động qua lăng kính của các nhà văn Vì thế, qua tác phẩm văn học chúng ta
có thể tìm thấy các mặt của đời sống con người (trong đó có dấu ấn của tín ngưỡng dân gian) qua các giai đoạn lịch sử Đặc biệt, trong nghiên cứu văn học những năm gần đây, xu hướng tiếp cận các tác phẩm dưới góc nhìn văn hóa ngày càng trở nên phổ biến đã mở ra cho chúng ta cái nhìn toàn diện về con người, về thời đại, về đời sống tinh thần của quốc gia, dân tộc Đời sống tín ngưỡng dân gian Việt Nam, ít nhiều cũng được khúc xạ trong văn học Tiếp cận tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa tín ngưỡng dân gian là cơ hội làm dầy thêm những phát hiện mới mẻ, thú vị về giá trị của tác phẩm Đồng thời hiểu thêm đời sống văn hóa tín ngưỡng vừa đặc trưng vừa lấp lánh sắc màu của dân tộc
Truyền kì mạn lục (ghi chép tản mạn những điều kì lạ) được đánh giá là
một đỉnh cao của nền văn xuôi dân tộc không chỉ vì chứa đựng trong đó những
tư tưởng sâu xa của thời đại mà còn bởi nó đã đánh dấu sự trưởng thành của truyện ngắn Việt Nam trung đại, chuyển biến từ văn học mang tính chức năng sang văn xuôi nghệ thuật Thành công của tác giả trước hết là ở chỗ dựa trên một vài yếu tố có sẵn trong dân gian, Nguyễn Dữ đã sáng tạo, trau chuốt để tạo
ra “áng văn hay của bậc đại gia” Ngoài giá trị về phương diện tư tưởng nghệ
thuật, Truyền kì mạn lục còn chứa đựng giá trị nhiều mặt về phương diện lịch
sử, văn hóa, đạo đức, xã hội… Đặc biệt, từ góc nhìn văn hóa, chúng tôi nhận thấy màu sắc của các tín ngưỡng dân gian được phản ánh rất đậm đặc trong tác phẩm nhưng dường như chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống Vì vậy,
lựa chọn vấn đề Tín ngưỡng dân gian trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ
làm luận văn nghiên cứu, chúng tôi mong muốn sẽ góp thêm một khám phá mới
mẻ về giá trị của tác phẩm từ phương diện liên cứu liên ngành cụ thể là làm rõ hơn những sáng tạo của Nguyễn Dữ - “bậc thầy sáng tạo kỳ diệu của đất Hải Dương” dựa trên niềm tin dân gian, tín ngưỡng dân gian của người Việt Nam
Trang 92 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Về nghiên cứu tín ngưỡng dân gian trong văn học Việt Nam
Do tính đặc thù, tín ngưỡng không chỉ là một bộ phận của đời sống tinh thần mà còn là bộ phận hữu cơ gắn bó mật thiết với sinh hoạt văn hóa của cộng đồng Vì thế, các nhà nghiên cứu văn hóa, nhất là văn hóa dân gian đã và đang rất quan tâm đến xu hướng nghiên cứu văn hóa dân tộc từ góc độ đời sống tâm linh, tôn giáo tín ngưỡng để có cái nhìn cách sâu sắc, mới mẻ hơn Có thể điểm qua các công trình tiêu biểu sưu tầm, nghiên cứu về tín ngưỡng Việt Nam nói chung và tín ngưỡng dân gian Việt Nam nói riêng như sau:
Trong Việt Nam phong tục [5], Phan Kế Bính đã giới thiệu các phong tục
trong gia tộc, phong tục xóm làng (hương đảng) đến các phong tục ngoài xã hội Đây là một bộ biên khảo tương đối đầy đủ về các phong tục tập quán cũ của nước Việt Là một nhà nho uyên bác mang tư tưởng tân tiến, tác giả không chỉ
mô tả từng tập tục, mà còn về gốc tích, nguyên thủy cái tục ấy, nhìn nhận, đánh giá để xem nó hay hay dở, từ đó "xét điều gì quá tệ mà bỏ bớt đi, rồi lâu lâu mới đem cái tục hay mà bỏ hết cho cái tục dở Đến nay, tập sách gần một trăm năm tuổi này vẫn là một trong những công trình khảo cứu có giá trị bậc nhất về các phong tục tập quán trên đất nước ta và nhiều vấn đề được Phan Kế Bính nhắc tới vẫn nóng hổi tính thời đại
Trong cuốn Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay [83], tác giả Đặng
Nghiêm Vạn (chủ biên) đã đề cập tới tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên với ba cấp độ: quốc gia: thờ Vua Hùng; làng: thờ Thành Hoàng; dòng họ, gia đình: thờ tổ tiên Ông khẳng định thờ cúng tổ tiên là một bộ phận văn hóa dân tộc, là tâm linh của cộng đồng Việt Nam Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu Lê Trung Vũ đề cập tới các phong tục trong vòng đời người Việt truyền thống như các lễ tết trong năm (Tết Nguyên đán, tết Thượng nguyên, tết mùng 3 tháng 3…), các nghi lễ nông nghiệp, các lễ thức đời thường (sinh con, hôn lễ, lễ tang…)
Trang 10Cuốn sách Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian Việt Nam [38] của
Nguyễn Đức Lữ đề cập đến các loại hình tín ngưỡng dân gian Việt Nam như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc, tín ngưỡng Thành Hoàng, tín ngưỡng thờ Mẫu và tín ngưỡng Phồn thực Tác giả cuốn sách chỉ rõ các loại hình tín ngưỡng dân gian trên phản ánh rõ nét đặc trưng của văn hóa dân tộc, thể hiện rõ tinh thần uống nước nhớ nguồn nhưng bản thân nó cũng chứa đựng khả năng dấn đến hiện tượng phản giá trị, biểu hiện mê tín dị đoan cần phải bị phê phán, tẩy trừ
Trong công trình Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam [78] do
Ngô Đức Thịnh (chủ biên), ngoài một số quan điểm lý luận và phương pháp liên quan tới tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng, các tác giả đã đi vào nghiên cứu một số tín ngưỡng dân gian cụ thể, như: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của các gia tộc, dòng họ và trên bình diện quốc gia là thờ cúng Quốc tổ Hùng Vương; tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng và hội đình, điển hình cho sự gắn kết cộng đồng láng giềng làng xã, từ đây hình thành và phát triển văn hóa làng, một trong các dạng thức cơ bản của văn hóa Việt Nam; tín ngưỡng thờ Thần, kết quả của quá trình tiếp biến văn hóa giữa các tín ngưỡng bản địa và những ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Hoa, như các dòng đạo Nội, thờ Mẫu, Đức Thánh Trần và các anh hùng dân tộc khác; các nghi lễ, phong tục liên quan đến các hoạt động sản suất nông nghiệp, ngư nghiệp, tổ các nghề và làng nghề thủ công truyền thống Đây là một cuốn sách có giá trị về nghiên cứu tín ngưỡng và các loại hình tín ngưỡng truyền thống của Việt Nam
Vũ Ngọc Khánh đã có những khám phá về các loại hình tín ngưỡng ở nông thôn Việt Nam và đi sâu tìm hiểu một hình thức tín ngưỡng phổ biến đó là
tín ngưỡng thờ thành hoàng làng trong hai cuốn sách Tín ngưỡng làng xã và Thành hoàng làng Việt Nam [34]
Trang 11Nguyễn Minh San trong Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam [61] đã có
những nhận xét rất tinh tế về tín ngưỡng dân gian Việt Nam và gợi mở những hướng tiếp cận vấn đề này từ góc nhìn khoa học Theo tác giả, tín ngưỡng dân
dã Việt Nam là sản phẩm văn hóa của người Việt Nam trong mối quan hệ với tự nhiên, với xã hội Trải qua trường kỳ lịch sử, bao nhiêu biến thiên của xã hội, bao lần tiếp xúc và giao lưu văn hóa cùng dâu bể cuộc đời, các tín ngưỡng của người Việt nói chung cũng luôn vận động, bám sát cuộc sống, phát triển cùng cuộc sống Nhiều lớp văn hóa khác nhau đã tích hợp hoặc chồng /lấp lên nhau trong một loại tín ngưỡng Vì vậy, nhận diện các loại hình tín ngưỡng, tìm ra các hạt nhân hợp lý khiến nó tồn tại và là nhu cầu của bộ phận không nhỏ nhân dân, chỉ ra các yếu tố dị đoan mê muội (không phải mê tín) cần loại bỏ, đồng thời tìm phương cách hợp lý để thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân là thái độ ứng
xử với tín ngưỡng cũng như tôn giáo một cách đúng mực nhất Đảng và Nhà nước ta đã đề ra chính sách "tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân" Song, thiết nghĩ chỉ có thái độ trân trọng, tìm hiểu, nghiên cứu một cách khoa học
những di sản văn hóa của các bậc tiền nhân, chúng ta mới mong Tiếp cận các tín ngưỡng dân dã Việt Nam "
Toan Ánh trong cuốn Phong tục thờ cúng trong gia đình Việt Nam [3]
cũng đã giới thiệu khá chi tiết những phong tục thờ cúng trong gia đình Việt Nam, đó là: phong tục thờ cúng tổ tiên, thờ cúng các vị thần thờ tại gia và thờ phụng trong ngày Tết
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam [76], tác giả Trần Ngọc
Thêm đã miêu tả khái quát các loại hình tín ngưỡng Việt Nam như: tín ngưỡng phồn thực (thờ sinh thực khí và thờ hành vi giao phối), tín ngưỡng sùng bái tự nhiên (thờ Bà Trời, Bà Đất, Bà Nước; thờ động vật và thưc vật), tín ngưỡng sùng bái con người (thờ Thổ Công, thờ Thành Hoàng, Tứ bất tử) Tác giả chỉ rõ các loại hình tín ngưỡng trên cũng như những bộ phận khác của văn hóa, là tấm
Trang 12gương phản ánh trung thành những đặc trưng nông nghiệp lúa nước, biểu hiện
sự tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên, nguyên lý âm dương, khuynh hướng đề cao nữ tính, tính đa thần…
Nguyễn Đăng Duy đã dành nhiều sự quan tâm tới các tín ngưỡng truyền thống Việt Nam như: tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thần, tín
ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng ở các dân tộc ít người trong cuốn Các hình thái tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam [14] Theo tác giả, tín ngưỡng không phải là một
bộ phận của tôn giáo mà tồn tại với tư cách một hình thái ý thức xã hội bên cạnh tôn giáo, không phải tồn tại với ý nghĩa niềm tin nhằm cứu cánh cho cái chết như tôn giáo mà là niềm tin cầu mong cho hiện thực sống
Tiếp theo phải kể đến công trình Về văn hóa và tín ngưỡng truyền thống người Việt của Léopold Cadiere (1997, Bản dịch) Ông là một linh mục người
Pháp làm việc tại Việt Nam Cuốn sách này đã trình bày những tư tưởng, cách nhìn nhận và sự hiểu biết của ông về văn hoá, tín ngưỡng truyền thống của người Việt một cách rất sâu sắc Léopold Cadiere được xem là một trong những người đi đầu trong việc nghiên cứu dân tộc học ở Việt Nam và nghiên cứu về tín ngưỡng Việt Nam Ngoài công trình trên, Léopold Michle Cadìere còn cho xuất
bản bộ sách Văn hóa, tín ngưỡng và thực hành tôn giáo người Việt Trong bộ
sách này, ông đã tiến hành nghiên cứu tín ngưỡng, các thực hành lễ nghi tôn giáo, phong tục tập quán với cái nhìn bao dung, khách quan và đã phải thừa nhận rằng người Việt rất sâu sắc về tôn giáo, tín ngưỡng và tự đáy lòng người Việt đang lưu giữ một tia sáng tôn giáo tự nhiên mà tạo hóa vốn ấn dấu vào tâm
khảm của nhân sinh Với việc dày công nghiên cứu văn hóa, tín ngưỡng, tôn
giáo Việt, Léopold Cadière đã có một tâm thức rất đặc biệt về dân tộc Việt như
ông thừa nhận: “Phải thừa nhận rằng người Việt nói cho đúng sống trong thế giới siêu nhiên Đại thể thì người Âu châu khó mà hiểu được trạng thái tâm hồn này, vì nơi họ, khi tôn giáo chỉ còn là một số thực hành hay tậm chí một vài tin
Trang 13tưởng, thì thường đóng khung trong một vài giới hạn thời gian hoặc không gian
và được họ dành cho một vài phút trong ngày của cuộc sống, một phần nhỏ trong hoạt động của họ Người Âu Châu dẫu sùng đạo, thường vẫn không sống hết toàn bộ thời gian với Thượng Đế của mình Người Việt, ngược lại, cho dù giai cấp nào, đều cảm thấy mình trực tiếp thường xuyên với các thần thánh trong thiên nhiên.”
Có thể thấy, hệ thống tài liệu nghiên cứu tín ngưỡng truyền thống Việt Nam khá phong phú Đây là những căn cứ, hệ quy chiếu giá trị để nghiên cứu tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa tín ngưỡng Gần đây, hướng nghiên cứu này được quan tâm, triển khai Tuy vậy, thực tế, số lượng công trình đi sâu nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian trong tác phẩm văn học lại không nhiều Trong sự bao quát, có thể chưa đầy đủ, chúng tôi xin điểm lược một số công
trình, bài viết nghiên cứu, luận văn như Yếu tố Phật giáo và tín ngưỡng dân gian trong truyện thơ Nôm có nguồn gốc bản địa Việt Nam; Văn hóa dân gian trong văn xuôi đương đại Việt Nam [20] của Vũ Thị Mỹ Hạnh; Một số biểu hiện của văn hóa trong tác phẩm văn học dân gian trong trường phổ thông, Đạo trời
và tín ngưỡng dân gian qua ca dao của Nguyễn Thị Kim Ngân [48]…;Văn hóa tâm linh người Việt trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh [22] của Trương Thị Hòa; Văn hóa tâm linh trong Truyện Kiều và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du [81] của Hoàng Thị Thanh Xuân; Văn hóa tâm linh trong văn xuôi trung đại của Hoàng Thị Minh Phương [59] Đặc biệt là bài viết Sức
ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn [1] của
Trần Thị An Trong bài viết này, tác giả đã đặt không gian của cuốn tiểu thuyết trong bối cảnh văn hóa dân gian Việt Nam ở nhiều thời điểm để chỉ ra sự tác
động của tín ngưỡng dân gian lên không gian nghệ thuật của tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn, qua đó, bước đầu nhìn nhận quan điểm của nhà văn về tín ngưỡng dân gian của người Việt Hay bài viết Tín ngưỡng và giải mã tín ngưỡng
Trang 14trong văn học dân gian người Việt [18] của Nguyễn Thị Bích Hà Tác giả Bích
Hà đã đưa ra cách hiểu về khái niệm tín ngưỡng, mã tín ngưỡng, đặc điểm tín ngưỡng dân gian Việt Nam từ đó làm rõ mối quan hệ giữa tín ngưỡng dân gian
và văn học dân gian đồng thời chỉ ra các dấu hiệu của tín ngưỡng dân gian trong văn học dân gian Việt Nam thông qua các ví dụ và phân tích cụ thể Bài viết này cùng các công trình nghiên cứu trên là những gợi dẫn quý báu cho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
2.2 Nghiên cứu vấn đề tín ngưỡng dân gian trong Truyền kì mạn lục
Nguyễn Dữ được biết đến với tư cách một nhà nho ẩn dật gần như suốt cả
cuộc đời trong thời trung đại với tác phẩm bất hủ Truyền kì mạn lục Từ khi tác
phẩm ra đời tới nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu bàn về những giá trị nhiều mặt cùng vị trí văn học sử của nó đối với sự phát triển của thể loại truyện ngắn truyền kì trung đại Từ các bậc túc nho thời xưa cho đến các nhà nghiên cứu văn học thời hiện đại đều đánh giá cao và coi tác phẩm là một biểu hiện vinh dự cho nền văn học nước nhà Đặc biệt ở thế kỷ XVIII, một thế kỷ rực rỡ nhất của văn học trung đại, các học giả nổi tiếng như Vũ Khâm Lân, Lê Quý Đôn, Phan
Huy Chú đã từng ca ngợi Truyền kỳ mạn lục là một “thiên cổ kỳ bút”, áng văn
hay của bậc đại gia với lời lẽ thanh tao tốt đẹp Nghiên cứu về Nguyễn Dữ và tác phẩm truyền kỳ nổi tiếng này có thể kể đến các khuynh hướng với các công trình tiêu biểu như:
Thứ nhất là các nghiên cứu về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm Vũ
Thanh là một nhà nghiên cứu dành rất nhiều tâm huyết với tác phẩm Truyền kỳ mạn lục Trong bài viết Những biến đổi của yếu tố kì và thực trong truyện ngắn truyền kỳ Việt Nam, tác giả đã chỉ ra bút pháp đặc trưng của thể truyền kỳ Theo tác giả, sử dụng yếu tố “kỳ” không phải chỉ với chức năng vỏ bọc che dấu dụng
ý của nhà văn mà còn với tư cách là bút pháp nghệ thuật mang tính đặc trưng
của thể loại Cũng liên quan đến vấn đề này, trong bài viết Thể loại truyện kỳ ảo
Trang 15Việt Nam trung đại - Quá trình nảy sinh và phát triển đến đỉnh điểm [74], tác giả
Vũ Thanh còn chỉ ra một cách thuyết phục các vai trò của yếu tố kỳ ảo trong Truyền kỳ mạn lục trong việc thể hiện các giá trị nội dung và phong cách tác giả
Nguyễn Dữ
Khi xem xét Truyền kỳ mạn lục dưới góc độ thi pháp học, Trần Nho Thìn
trong bài viết Thi pháp truyện ngắn trung đại Việt Nam đã cho rằng: “Xét về thi pháp, phải nghĩ đến vai trò của kỳ ảo như là một biện pháp đối phó với sự cấm kị” và tác giả cũng cho rằng “Nếu không đặt các nhân vật nữ vào vị trí hồn ma, người của cõi âm, thì vị tất tác giả đã dám kể lại những ý nghĩ và hành động vốn
tự nhiên, phàm tục của các nhân vật, cả nam lẫn nữ Rõ ràng việc sử dụng yếu
tố ma quái, kì ảo ở đây có ý nghĩa của bức bình phong che chắn búa rìu dư luận của xã hội Nho giáo vốn được đinh hướng theo lý tưởng quả dục, tiết dục” [77]
Bài viết Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn
Dữ [25], Nguyễn Phạm Hùng cũng đã đi sâu khai thác các khuynh hướng sáng
tác của Nguyễn Dữ trong tác phẩm Ngoài ra có thể kể đến một số bài viết, công trình khác nghiên cứu về các phương diện cụ thể khác của tác phẩm này như:
Người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục nhìn từ quan điểm giới; Không gian và thời gian trong Truyền kỳ mạn lục của Trần Thị Đoan Trang; Hệ thống nhân vật
nữ trong Truyền kỳ mạn lục [72] của Nông Phương Thanh; Hình tượng nho sĩ hành đạo trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ của Đặng Thị Thu Hương; Tìm hiểu thơ và từ trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ; Vấn đề tiếp nhận ảnh hưởng truyện dân gian Việt Nam trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ; Tìm hiểu sắc thái dục tính trong Truyền kỳ mạn lục của Lê Thị Hoài Thu…
Thứ hai, nghiên cứu theo hướng so sánh tác phẩm Truyền kỳ mạn lục với
những sáng tác trong và ngoài nước So sánh Truyền kỳ mạn lục với các tác phẩm trong nước có thể kể đến các công trình, bài viết như: Nhân vật kỳ ảo trong Truyền kỳ mạn lục và truyện cổ tích Việt Nam của Đặng Thị Thoan; So
Trang 16sánh nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ và Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm của Hà Thu Hiền; Mô tip duyên kỳ ngộ qua một số thiên truyện trong Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Văn Hải; Nhân vật ma quái trong Thánh Tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục của Đặng Thị
Thanh Ngân… So sánh tác phẩm trên phương diện bản dịch có thể kể đến công
trình Phiên dịch học lịch sử - văn hóa: trường hợp Truyền kỳ mạn lục của tác giả
Nguyễn Nam Với mỗi bản dịch, nhà nghiên cứu Nguyễn Nam đều có phân tích, đánh giá quan niệm văn bản, dịch thuật, nhu cầu xã hội về tác phẩm, phương thức in ấn, truyền bá, tâm lý tiếp nhận của độc giả, đặc điểm nghệ thuật truyền đạt ngôn từ, mức độ thành công và những hạn chế So sánh các bình diện của
Truyền kỳ mạn lục với các tác phẩm khác trong khu vực và trên thế giới có thể
kế đến các luận văn và bài viết sau: Về mối quan hệ giữa Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục [10] của Phạm Tú Châu; Đối sánh cái “kỳ” trong Truyền kỳ mạn lục và trong Tiễn đăng tân thoại của Nguyễn Thị Hương; So sánh chuyện tình giữa người và hồn ma trong Truyền kỳ mạn lục và Tiến đăng tân thoại [32] của Đinh Thị Khang… Hay bài viết Thử so sánh Truyền kỳ mạn lục và Tiễn đăng tân thoại [49] của tác giả Trần Nghĩa Đặc biệt, tác giả Trần Ích Nguyên đã
có hẳn công trình nghiên cứu khá đồ sộ về Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại với Truyền kỳ mạn lục [51] trên nhiều phương diện từ nguồn gốc ảnh
hưởng đến nội dung, nghệ thuật của cả hai tác phẩm trong đó có đề cập đến yếu
tố kỳ ảo trong hai tác phẩm này Hay so sánh Truyền kỳ mạn lục với Kim Ngao tân thoại có thể kế đến các bài viết và công trình của Lê Đình Chinh và đặc biệt
là Jeon Hye Kyung (Toàn Huệ Khanh) Trong bài viết Vài nét tương đồng và khác biệt của hai tác phẩm Kim ngao tân thoại (Hàn Quốc) và Truyền kỳ mạn lục (Việt Nam), Lê Đình Chinh đã giới thiệu vài nét về sự tương đồng và khác
biệt về cuộc đời của hai tác giả và hai tác phẩm dưới góc nhìn lịch sử văn hóa, đồng thời cũng là nhằm góp phần giúp cho người đọc hiểu thêm về mối quan hệ,
sự giao lưu văn hóa thân thiện của hai dân tộc Việt - Hàn trong lịch sử quan hệ
Trang 17bang giao giữa hai nước Hay Jeon Hye Kyung đã nghiên cứu khá toàn toàn
diện, công phu về hai tác phẩm trên qua công trình Nghiên cứu so sánh một số tiểu thuyết truyền kỳ của Hàn Quốc, Trung Quốc và Việt Nam … Giáo sư Xuyên
Bản (Kawanmoto Kurunie), Đại học Tổng hợp Keio trong bài tham luận với tựa
đề “Những vấn đề khác nhau liên quan đến “Truyền kỳ mạn lục” (Lịch sử sáng tác, xuất bản và sự nghiên cứu tập truyện theo cách nhìn của văn học so sánh) ngoài việc đi sâu nghiên cứu tác giả và văn bản Truyền kỳ mạn lục, tác giả cũng
so sánh phương pháp cải biên của Truyền kỳ mạn lục với Ca tỳ tử và đưa ra
những nhận xét về sự khác biệt trong quan điểm của tác giả thuộc hai quốc gia
với hai nền văn hóa khác nhau Ngoài ra, có thể kể đến bài viết So sánh “Vũ nguyệt vật ngữ” của Ueda Akinari và Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ [17]
của tác giả Đoàn Lê Giang hay một số bài viết theo hướng đối sánh của nhà
nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn như: So sánh kiểu truyện “người lạc cõi tiên” trong văn học Việt Nam với tiểu thuyết Cửu Vân mộng (Hàn Quốc); Tác phẩm Kim Ngao tân thoại của Hàn Quốc và quá trình tiếp nhận, nghiên cứu tại Việt Nam; Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục – từ điểm nhìn văn học so sánh, bàn về mối quan hệ giữa truyền thống và giáo lưu, hội nhập văn hóa; Tương đồng mô hình cốt truyện dân gian và những sáng tạo trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ… [62], [63], [64], [65]
Như vậy, qua thời gian dài tiếp cận Truyền kỳ mạn lục, nhiều vấn đề học thuật
đã được đặt ra, mở rộng và nâng cao, ngày càng toàn diện, hệ thống và chuyên sâu
hơn Từ việc chỉ khảo sát, giới thiệu riêng tác phẩm Truyền kỳ mạn lục các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã tiến tới nghiên cứu so sánh tập truyện thiên cổ kỳ bút này với các tác phẩm cùng trong vùng Đông Á như Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu (Trung Quốc), Kim Ngao tân thoại của Kim Thời Tập (Hàn Quốc), Ca tỳ tử của
Nhật Bản nhằm cho thấy những ảnh hưởng và vay mượn, tiếp nhận và sáng tạo, tiếp nối và phát triển giữa Nguyễn Dữ với Cù Hựu Theo nhiều mức độ khác nhau, do
Trang 18trình độ nghiên cứu ngày một nâng cao, ngày càng tiếp nhận được những phương pháp mới và kinh nghiệm từ các nhà nghiên cứu nước ngoài tác động mạnh mẽ đến
giới nghiên cứu Truyền kỳ mạn lục trong nước
Kế thừa những công trình nghiên cứu của các thế hệ đi trước, luận văn của chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu một vấn đề nhỏ nhưng cũng rất thú vị đó là
Tín ngưỡng dân gian trong Truyền kỳ mạn lục với mong muốn khảo sát, chỉ ra
các biểu hiện của tín ngưỡng dân gian được thể hiện trong tác phẩm này từ đó tiến hành so sánh, lý giải nó dưới góc nhìn văn hóa – lịch sử nhằm góp phần khẳng định thêm giá trị của tác phẩm cũng như tài năng của Nguyễn Dữ trong nền văn học trung đại Việt Nam
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tín ngưỡng dân gian thể hiện trong 20 câu chuyện trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Những biểu hiện của tín ngưỡng dân gian trong Truyền kỳ mạn lục của
Nguyễn Dữ
+ Giải mã các tín ngưỡng dân gian với tư cách là các chất liệu văn hóa,
lịch sử tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm Truyền kỳ mạn lục
Trang 19- Làm rõ những biểu hiện, giá trị của tín ngưỡng dân gian trong tác phẩm
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ;
- Giải mã các tín ngưỡng ấy dưới góc độ văn hóa, lịch sử Trên cơ sở đó, góp phần khẳng định sự sáng tạo cũng như đóng góp của Nguyễn Dữ đối với thể
loại truyền kỳ và giá trị của tác phẩm Truyền kỳ mạn lục trong dòng chảy văn
học dân tộc
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Tổng hợp tài liệu; khảo sát các ngữ liệu thể hiện các tín ngưỡng dân
gian trong Truyền kỳ mạn lục
+ Phân tích, làm rõ ý nghĩa, giá trị của các tín ngưỡng dân gian ấy trong
tác phẩm Truyền kỳ mạn lục từ đó biện giải dưới góc độ văn hóa và lịch sử
+ So sánh tín ngưỡng dân gian trong Truyền kỳ mạn lục với một số tác
phẩm cùng thể loại
+ Khẳng định vai trò, đóng góp của Nguyễn Dữ đối với thể loại truyền kỳ
và giá trị của tác phẩm Truyền kỳ mạn lục
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp khảo sát, thống kê
Luận văn tiến hành khảo sát, thống kê các tín ngưỡng dân gian được thể hiện trong 20 câu chuyện trong tác phẩm Từ đó, tiến hành phân loại các tín ngưỡng ấy từ góc độ văn hóa Đây là cơ sở khoa học được dùng làm minh chứng cho những luận điểm mà chúng tôi sẽ trình bày trong luận văn
5.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Luận văn vận dụng phương pháp này để phân tích cụ thể các cứ liệu đã thống kê, từ đó tổng hợp để đưa ra nhận xét liên quan đến tín ngưỡng dân gian
Trang 20được thể hiện trong tác phẩm Kết quả thu được từ sự phân tích này sẽ là những luận cứ khảo chứng cho các luận điểm mà chúng tôi đề xuất trong đề tài
5.3 Phương pháp so sánh
Bên cạnh việc thống kê, phân loại, phân tích, chúng tôi còn tiến hành so
sánh các tín ngưỡng dân gian được thể hiện Truyền kỳ mạn lục với một số tác
phẩm khác nhằm làm nổi bật những giá trị và đóng góp của tác phẩm này
6 Bố cục
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái lược về tín ngưỡng dân gian Việt Nam
Chương 2: Dấu ấn tín ngưỡng dân gian trong Truyền kì mạn lục
Chương 3: Giá trị của yếu tố tín ngưỡng dân gian trong Truyền kì mạn lục
Trang 21NỘI DUNG Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN VIỆT NAM
1.1 Khái niệm tín ngưỡng và tín ngưỡng dân gian
(croyance) Trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng thường được hiểu theo nghĩa
chung nhất đó là niềm tin của con người vào lực lượng siêu nhiên, thần thánh Theo cách hiểu này, khái niệm tín ngưỡng bao gồm việc tin theo các tôn giáo và các hình thức tín ngưỡng khác Trong đó, niềm tin, sự ngưỡng vọng vào lực lượng siêu nhiên là dấu hiệu cơ bản Khi tín ngưỡng được hiểu là niềm tin tôn giáo thì cốt lõi của niềm tin đó chính là tư tưởng của mỗi tôn giáo, từ đó mà hình thành thiết chế tôn giáo, con người tôn giáo Đối với người có tín ngưỡng, lực lượng siêu nhiên được xem là có thật, họ tin, tôn thờ và sùng bái lực lượng siêu nhiên ấy [78, tr21]
Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học quan niệm: “Tín ngưỡng là niềm tin
và sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng một lực lượng siêu nhiên, tôn sùng vào một điều gì đó pha chút thần bí, hư ảo, vô hình, tác động mạnh mẽ đến tâm linh con người, trong đó bao hàm cả niềm tin tôn giáo” Theo cách hiểu
này, tín ngưỡng là khái niệm rộng hơn tôn giáo, tín ngưỡng bao hàm cả tôn giáo
Nguyễn Đăng Duy cũng có một khái niệm rất cụ thể, rõ ràng về tín ngưỡng:
“Tín ngưỡng là một cách từ thực tế cuộc sống, cộng đồng, con người ý thức về một dạng thần linh nào đó, rồi cộng đồng con người ấy tin theo, tôn thờ lễ bái, cầu
Trang 22mong cho hiện thực cuộc sống, gây thành một nếp sống xã hội theo niềm tin thiêng liêng ấy” [13, tr73] Theo cách hiểu này, tín ngưỡng là một hiện tượng lịch sử- xã
hội, thuộc về đời sống tâm linh của cá nhân nhưng lại mang tính cộng đồng, tồn tại theo xu hướng chung, theo nếp nghĩ chung của cộng đồng
Tác giả Ngô Đức Thịnh trong cuốn Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở
Việt Nam có quan niệm: “Tín ngưỡng là một hình thức thể hiện niềm tin vào cái thiêng liêng của con người, của một cộng đồng người nào đó ở một trình độ phát triển xã hội cụ thể.” [78, tr191] Tác giả quan niệm đặc trưng tín ngưỡng
gắn với các trình độ phát triển xã hội cụ thể Ở các thời kì khác nhau, hình thức tín ngưỡng cũng khác nhau
Như vậy, từ các quan điểm trên có thể đưa ra một cách hiểu chung về tín ngưỡng đó là: Tín ngưỡng là sự tin tưởng, ngưỡng mộ và sùng bái những thần thánh, vật thiêng hoặc linh hồn người chết do con người tưởng tượng ra hoặc do con người suy tôn, gán cho những phẩm chất siêu phàm Tín ngưỡng là một thành tố của văn hóa tổ chức cộng đồng, thuộc phạm vi đời sống cá nhân, được hình thành tự phát nhưng có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người
1.1.2 Tín ngưỡng dân gian
Tín ngưỡng không chỉ giới hạn ở lòng ngưỡng mộ và niềm tin tôn giáo
mà tín ngưỡng còn thể hiện ở phạm vi khá rộng trong đời sống tinh thần của con người Bởi trong thực tế, nhiều người không theo tôn giáo nào cả nhưng họ vẫn
có niềm tin vào đấng thiêng liêng, cao cả, những đấng linh thiêng, thần bí Trên
cơ sở tín ngưỡng từ quan niệm sùng bái tự nhiên và sùng bái con người, người Việt có những tín ngưỡng dân gian rất phong phú ngoài tín ngưỡng tôn giáo Nói đến tín ngưỡng dân gian tất nhiên có nhiều điều mâu thuẫn và huyền hoặc Khoa học hiện đại cho rằng: những dạng thức sinh hoạt tâm linh, tuy có nội dung tôn giáo song chưa đạt tới trình độ của một tôn giáo – Người ta thường gọi
Trang 23là tín ngưỡng như thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ Mẫu, thờ các thần linh khác đang tồn tại ở Việt Nam
Như vậy, tín ngưỡng dân gian là các hình thức tín ngưỡng chưa đạt đến trình độ cấu thành các tôn giáo Tín ngưỡng dân gian tiêu biểu như thờ cúng ông
bà tổ tiên, thờ thánh - thần, thờ Thành hoàng, thờ Mẫu
Nếu như trong các yếu tố hợp thành cấu trúc tôn giáo thường chặt chẽ và thống nhất, xuyên thời gian, không gian thì cấu trúc của tín ngưỡng dân gian lại linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo để phù hợp với cuộc sống thực tế của mỗi người, mỗi gia đình, dân tộc Về cơ bản, tín ngưỡng dân gian do nhân dân lao động sáng tạo ra nên nó mang tính phổ cập, đại chúng chứ không có tính hệ thống, không mang tính triết lý nhân sinh hoàn chỉnh như tôn giáo
Tín ngưỡng dân gian cũng có những chức năng tương ứng như của tôn giáo đó là: Chức năng đền bù hư ảo; chức năng giáo dục, định hướng giá trị, đánh giá, xác định chuẩn mực ứng xử của con người; chức năng giao tiếp; chức năng tổ chức xã hội, điều chỉnh mối quan hệ cộng đồng trong phạm vi và trên lĩnh vực tương ứng
Với các chức năng này, tín ngưỡng dân gian có vai trò góp phần cải tạo
xã hội theo chiều hướng này hay chiều hướng kia Nó cũng là vũ khí đấu tranh với cái ác, có vai trò tích cực không thể phủ nhận Đối với mỗi người, vai trò của tín ngưỡng dân gian còn phụ thuộc ở sự từng trải và kinh nghiệm của bản thân Trong đời sống, nếu tín ngưỡng dân gian bị quá lạm dụng thì đều có thể chuyển thành tiêu cực mà rõ nét nhất là dẫn đến nhận thức và các hành vi mê tín
dị đoan
1.1.3 Phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng
Theo tác giả Nguyễn Thị Bích Hà trong bài viết Tín ngưỡng và giải mã tín ngưỡng trong văn học dân gian người Việt [18], khái niệm tín ngưỡng và tôn
Trang 24giáo có nhiều chỗ gần gũi với nhau vì nó cùng có nguồn gốc từ lòng tin tuyệt đối vào một đấng cao siêu huyền bí nào đó, nhưng chúng cũng có nhiều điểm khác nhau Tôn giáo với tư cách một giáo lí, giáo pháp chính là sự phát triển một tín ngưỡng, được cộng đồng thể chế, quy phạm hoá cao độ Mỗi tôn giáo cần có: Một
hệ thống giáo lí; Một vị giáo chủ đứng đầu (Chúa Trời, đức Phật Thích Ca, Lão Tử); Một hệ thống thể chế, nghi lễ thờ tự và nơi thờ tự; Một hệ thống tổ chức gồm giáo luật nghiêm chỉnh, giáo hội với các tín đồ Tôn giáo dân gian không hẳn là tôn giáo với những thể cách trên, nó chủ yếu mới là sự sùng tín, nó nằm trong tâm thức của con người trong sinh hoạt dân dã và được biểu hiện ra chủ yếu trong phong tục tập quán sinh hoạt chứ chưa được thể chế hóa hay trở thành giáo luật Các nhà nghiên cứu thường gọi chung đối tượng này là tín ngưỡng, tín ngưỡng dân gian hoặc đôi khi cũng dùng khái niệm tôn giáo dân gian Khái niệm tín ngưỡng vì vậy rộng rãi hơn và dân dã hơn khái niệm tôn giáo
Như vậy, tôn giáo và tín ngưỡng có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong đó, tín ngưỡng là phạm trù rộng hơn, bao hàm cả tôn giáo Tôn giáo là sự phát triển mức độ cao của tín ngưỡng Có những hình thái được xếp vào ranh giới giữa tôn giáo và tín ngưỡng
Tôn giáo (religion) và tín ngưỡng (bebief) thường hay đi kèm với nhau
khiến nhiều khi người ta hay đồng nhất hai khái niệm này mặc dù giữa chúng luôn tồn tại một ranh giới nhất định Cơ sở của mọi tôn giáo hay tín ngưỡng đều dựa trên niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên
hay nói một cách khác đó là niềm tin, sự ngưỡng vọng vào cái thiêng Cái thiêng
ở đây được hiểu là đối lập với cái trần tục, những thứ hiện hữu mà ta có thể nhìn thấy, có thể chạm vào Niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người,
nó ra đời và tồn tại cùng loài người
1.1.4 Phân loại tín ngưỡng và tín ngưỡng dân gian
Người ta đã từng đưa ra các cách phân loại khác nhau như phân loại tín
Trang 25ngưỡng theo các hình thức phát triển khác nhau của tiến trình lịch sử Một số khác lại từ bỏ nguyên tắc lịch sử mà đi vào đặc trưng địa lý và chủng tộc; theo các khu vực văn hóa; theo nội dung tín ngưỡng, tôn giáo và đối tượng sùng bái; theo hình thái học của tôn giáo, tín ngưỡng… Mỗi cách phân loại như vậy đều chứa đựng những hạt nhân hợp lý tuy nhiên cũng không tránh khỏi sự phiến diện
và nhiều lúc cực đoan
Việc phân loại tín ngưỡng được các nhà nghiên cứu dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, tùy thuộc vào tính chất vốn có của mỗi loại hình tín ngưỡng và nhu cầu, mục đích của chủ thể nghiên cứu
- Nếu dựa vào đối tượng tham gia tín ngưỡng và không gian thực hiện thì
có các loại hình tín ngưỡng sau: Tín ngưỡng cộng đồng, tín ngưỡng trong dòng
họ, tín ngưỡng trong gia đình, tín ngưỡng của cá nhân
- Dựa trên tiêu chí hình thái học gồm các hình thức tín ngưỡng sau: Thờ cúng tổ tiên; Tín ngưỡng cá nhân (vòng đời người); Tín ngưỡng nghề nghiệp; Tín ngưỡng thờ thần
- Dựa theo sức mạnh, vai trò các vị thần có thể chia thành: tín ngưỡng thờ cúng trong gia đình (thần bình dân); tín ngưỡng thờ cúng ngoài cộng đồng (thần quan trọng) Sự phân loại này có lẽ phải bàn thêm song nó đã bàn đến góc độ mối quan hệ giữa người và Thần – Thánh có các cấp độ khác nhau, từ tình cảm, lòng tin đến sự ngưỡng mộ
- Dựa vào đối tượng là các vị thần – thánh được thờ cúng thì có: Tín ngưỡng thần linh và tín ngưỡng thánh nhân
- Dựa vào chức năng, vai trò của tín ngưỡng với con người – xã hội: tín ngưỡng thánh nhân định hướng nhân cách, tâm lý cộng đồng; tín ngưỡng thần
linh thể hiện ước vọng, cầu mong và tâm lý cộng đồng
Trang 261.2 Đặc trưng tín ngưỡng dân gian Việt Nam
1.2.1 Cơ sở hình thành đặc trưng tín ngưỡng dân gian Việt Nam
Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, thiên nhiên phong phú Thời xưa, người Việt sống chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên nên việc thờ cúng các vị thần tự nhiên đã sớm gần gũi với họ Hơn nữa, Việt Nam lại nằm ở vị trí ngã ba đường, nơi giao lưu với nhiều nền văn minh nên dễ dàng dẫn đến hệ quả là đất nước ta đa tôn giáo, tín ngưỡng Điều đáng nói là tính đa thần không chỉ thể hiện ở số lượng lớn các vị thần mà các vị thần ấy cùng đồng hành trong tâm thức một người Việt Điều đó dẫn đến một đặc điểm trong đời sống tín ngưỡng tôn giáo là tính hỗn dung tôn giáo Trước sự du nhập của các tín ngưỡng ngoại lai, người Việt không tiếp nhận thụ động mà luôn có sự cải biển cho phù hợp với tín ngưỡng và tâm lí bản địa Vì thế ở nước ta, trong khi các tôn giáo vẫn phát triển thì các tín ngưỡng cũng vẫn giữ vai trò trong đời sống dân gian, trong tâm thức cộng đồng Đa số người Việt đều có niềm tin tôn giáo song phần lớn trong số họ lại không thật sự thành kính tuyệt đối một tôn giáo nào Một người vừa có thể đến chùa, vừa có thể đến phủ, vừa có thể đến nhà thờ… miễn sao điều đó có lợi cho họ, thực hiện được điều họ cầu xin hoặc giúp họ thanh thản trong tâm hồn Bên cạnh đó, tín ngưỡng Việt Nam mang tính thực tế cao Người ta tìm đến với các vị thần thánh bao giờ cũng đi kèm với một ước vọng
“hoán đổi nào đó” Nghĩa là, “con đến dâng hương niệm Phật, kính lạy Đức Phật chứng giám lòng thành, phù hộ cho con…” Về sau – về cầu xin và “ra điều kiện” bao giờ cũng hết sức dài dòng, chi tiết và thực dụng với những mong muốn trần tục: làm ăn thăng tiến, con cái thi đỗ…Nhiều nhà nghiên cứu thống
nhất quan điểm, tín ngưỡng Việt Nam có tính dụng, nghĩa là luôn đặt ra vấn đề
thỏa mãn mục đích của tín đồ
Tín ngưỡng của người Việt thể hiện ở các mặt: tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người Ra đời trên nền
Trang 27tảng xã hội nông nghiệp cổ truyền, tố chất nông dân mạnh về tư duy tổng hợp, thiếu tư duy phân tích nên tín ngưỡng của người Việt là tín ngưỡng dân dã đang
ở giai đoạn hình thành những mầm mống của tôn giáo sơ khai; nghĩa là tín ngưỡng Việt Nam chưa chuyển được thành tôn giáo
Cũng như các thành tố khác của văn hóa Việt Nam, tín ngưỡng Việt Nam phản ánh rất rõ những đặc trưng nông nghiệp lúa nước của nền văn hóa Việt Nam Đó là: Sự tôn trọng gắn bó mật thiết với thiên nhiên (tín ngưỡng sùng bái
tự nhiên), là sự phản ánh đậm nét nguyên lý Âm – Dương (từ đối tượng thờ cúng như Trời - Đất, Chim – Thú, Rừng – Nước, cơ quan sinh dục nam – nữ…cho đến cách thức giao lưu giữa con người và thần linh, trần gian và cõi linh thiêng; là khuynh hướng đề cao nữ tính với hàng loạt nữ thần được thờ cúng
ở mọi làng quê; là tính tổng hợp thể hiện tính đa thần, tính cộng đồng
Theo tác giả Nguyễn Thị Bích Hà, tín ngưỡng dân gian Việt Nam chủ yếu dựa trên lòng biết ơn và ngưỡng mộ của các thế hệ sau đối với tiền thần, tiền nhân Tín ngưỡng dân gian Việt Nam khá phong phú Nó là tâm thức tôn sùng các lực lượng siêu nhiên như:
- Tôn sùng tự nhiên (mặt trời, mặt trăng, nước, mưa, gió, sấm, chớp…), các loại cây trồng (bầu bí, lúa, ngô, đậu…), vật nuôi (trâu, bò, lợn…)
- Tôn sùng vật tổ (vật tổ chim, cá, cây, trâu…), tôn sùng tổ tiên (quốc tổ, thành hoàng, tổ tiên, ông bà)
- Tôn sùng sự sinh sản: sinh thực khí và các hoạt động tính giao
- Tôn sùng Mẫu: các nữ thần, tứ mẫu (thiên phủ, địa phủ, nhạc phủ (thượng ngàn), thủy phủ (mẫu thoải), Bà chúa xứ và Thiên Yana
- Tôn sùng các anh hùng dân tộc, anh hùng địa phương, người có công lớn với dân với nước: Thánh Gióng, Đức thánh Trần, Tản Viên Sơn Thánh, Bà Trưng, Lý Ông Trọng…
Trang 281.2.2 Phân loại tín ngưỡng dân gian Việt Nam
Chúng tôi đồng tình với quan điểm của tác giả Trần Ngọc Thêm vì theo chúng tôi đây là quan niệm khá đầy đủ và chính xác khi phân loại tín ngưỡng dân gian Việt Nam Trần Ngọc Thêm chia tín ngưỡng dân gian Việt Nam thành:
1.2.2.1 Tín ngưỡng phồn thực
Tín ngưỡng phồn thực xuất hiện từ thuở sơ khai của sử Việt Khởi phát từ
sự sinh sôi nẩy nở của hoa màu, con người thời bấy giờ có những lễ hội cúng hiến phẩm vật Về con người, con cháu đông đúc cũng là một quà tặng của tạo hóa, vì thế họ thờ Linga và Yoni (sinh thực khí) biểu tượng cho sự sung mãn phát triển Với sự quan trọng của ngành lúa nước, nuôi trồng, chăn nuôi, các tộc người Việt tôn thờ biểu tượng về âm – dương, sự dung hòa giữa trời và đất, và
sự nảy nở sinh sôi của vạn vật
Thờ sinh thực khí (sinh = đẻ, thực = nảy nở, khí = công cụ) là hình thái đơn giản của tín ngưỡng phồn thực Nó phổ biến ở hầu hết các nền văn hóa nông nghiệp trên thế giới Nhưng khác với hầu hết các nền văn hóa khác là chỉ thời sinh thực khí nam, tín ngưỡng phồn thực Việt Nam thờ sinh thực khí của nam lẫn nữ Việc thờ sinh thực khí được tìm thấy ở trên các cột đá có niên đại hàng ngàn năm trước Công nguyên
Tín ngưỡng phồn thực Việt Nam còn thờ hành vi giao phối- một hình thức thời cúng thể hiện việc chú trọng đến các mối quan hệ của văn hóa nông nghiệp
ở các quốc gia Đông Nam Á
Vai trò của tín ngưỡng phồn thực lớn tới mức ngay cả chiếc trống đồng, một biểu tượng sức mạnh của quyền lực, cũng là biểu tượng toàn diện của tín ngưỡng phồn thực: Hình dáng của trống đồng phát triển từ cối giã gạo, cách đánh trống theo lối cầm chày dài mà đâm lên mặt trống mô phỏng động tác giã gạo, tâm mặt trống là hình Mặt Trời biểu trưng cho sinh thực khí nam, xung
Trang 29quanh là hình lá có khe rãnh ở giữa biểu trưng cho sinh thực khí nữ, xung quanh mặt trống đồng có gắn tượng cóc, một biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực (xem thêm Con cóc là cậu ông trời)
1.2.2.2 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Là một đất nước nông nghiệp nên việc sùng bái tự nhiên là điều dễ hiểu Điều đặc biệt của tín ngưỡng Việt Nam là một tín ngưỡng đa thần và âm tính (trọng tình cảm, trọng nữ giới) Có giả thuyết cho rằng đó là do ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ thời xưa tại Việt Nam Các vị thần ở Việt Nam chủ yếu là nữ giới, do ảnh hưởng của tín ngưỡng phồn thực như đã nói ở trên nên các vị thần
đó không phải là các cô gái trẻ đẹp như trong một số tôn giáo, tín ngưỡng khác
mà là các bà mẹ, các Mẫu Thiên nhiên của người Việt chính là mẹ, là hình tượng vị nữ thần vạn năng đem lại no ấm, trù phú và bảo hộ cho từng con dân Điều này được tìm thấy rõ nét trong tín ngưỡng thờ Đạo Mẫu, được hình thành
từ ảnh hưởng của Đạo Giáo Trung Hoa, kết hợp với tập tục thời Nữ Thần từ thời tiền sử Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam được thờ phụng, là điều khá đặc biệt khi đặt vào bối cảnh đất nước chịu nhiều giáo điều, lễ nghi Nho giáo Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên với các tiểu dạng thức như:
+ Thờ Tứ phủ (bốn cõi vũ trụ: Trời, Đất, Nước, Rừng): Phủ là đền thờ bốn vị: Bà Trời (hay Mẫu Thượng Thiên), Bà Chúa Thượng (hay Mẫu Thượng Ngàn), Bà Nước (hay Mẫu Thoải) và Mẫu Địa Phủ Mẫu Thượng Thiện biểu tượng cho mẹ Trời, mẫu Thượng Ngàn biểu tượng mẹ cai quản núi rừng, mẫu Thoải biểu tượng mẹ cai quản sông nước Sau đó người dân thêm vào Mẫu Địa phủ cai quản đất đai trên cõi dương và dưới cõi âm Từ đó có Tứ phủ Loại tín ngưỡng này khởi xuất từ cuộc sống nông nghiệp của dân ta Về sau, khi tiếp biến văn hóa Trung Quốc, người dân thờ thêm Thổ công, Hà Bá và Ngọc Hoàng Thượng đế Ngoài ra, xã hội nhà nông còn tôn thờ Mây-mưa-sấm-chớp
Trang 30Đến khi tiếp nhận tín ngưỡng Đạo Phật, tín ngưỡng nhân gian đó được cải biến dưới dạng tứ pháp
+ Thờ Tứ pháp (các hiện tượng thiên nhiên như mây, mưa, sấm, chớp): Pháp Vân (thần mây) thờ ở chùa Bà Dâu, Pháp Vũ (thần mưa) thờ ở chùa Bà Đậu, Pháp Lôi (thần sấm) thờ ở chùa Bà Tướng, Pháp Điện (thần chớp) thờ ở chùa Bà Dàn Được cai quản chung bởi Phật Mẫu Man nương Đời nhà Lý đã biến tín ngưỡng Tứ pháp thành Tứ Khí thờ ở chùa Pháp Vân tại Hưng Yên Theo tục lệ dân làng, mỗi khi hạn hán, cần mưa cho vụ mùa, họ đón tượng Pháp Vân, ra khỏi chùa, cùng với tượng của các bà Pháp Lôi, Pháp Vũ ở các chùa gần đó đến chùa
Ôn Xá (được gọi là chùa Un) – nơi thờ bà Pháp Điện để làm lễ cầu mưa
+ Thờ Mẫu (các nữ thần là hiện thân của thiên nhiên): Trongtín ngưỡngcủa người Việtvà của một số dân tộc thiểu số khác ở trên lãnh thổ Việt Nam, việc tôn thờnữ thần, thờmẫu thần, thờ mẫu tam phủ,tứ phủlà hiện tượng khá phổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa Tuy tất cả đều là sự tôn sùng thần linhnữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, mẫu thần, mẫu tam phủ tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từđạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến Có các dạng thức thờ Mẫu như sau:
Thờ Mẫu ở Bắc Bộ: Bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ
thời tiền sử, tới thời phong kiến một số Nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để thành các Mẫu thần tương ứng thời kỷ từ thế kỷ XV trở về trước với việc phong thần của nhà nước phong kiến, hình thức thờ Mẫu thần với các danh xưng như Quốc Mẫu, Vương mẫu, Thánh Mẫu như hiện tượng thờ Âu Cơ, Ỷ Lan, Mẹ
Trang 31Thánh Gióng, Tứ vị Thánh nương, Từ khoảng thế kỷ XV trở đi, hình thức thờ mẫu Tam phủ, Tứ phủ được định hình và phát triển mạnh, đây cũng là thời kỳ xuất hiện các nhân vật như: Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Cô Đôi Thượng Ngàn, với các nghi thức ảnh hưởng từ Đạo giáo
Thờ Mẫu ở Trung Bộ: Dạng thức thờ Mẫu này chủ yếu ở khu vực nam
Trung bộ, đặc trưng cơ bản của dạng thức thờ Mẫu ở đây là tín ngưỡng thờ Mẫu không có sự hiện diện của mẫu Tam phủ, Tứ phủ mà chỉ có hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần Hình thức thờ Nữ thần như: thờ Tứ vị Thánh nương, Bà Ngũ Hành và hình thức thờ Thánh Mẫu như thờ Thiên Y A Na, Po Nagar
Thờ Mẫu ở Nam Bộ: So với ở Bắc Bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự
phân biệt nhất định với biểu hiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các
vị thần thì ở Nam Bộ sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng này được giải thích với nguyên nhân Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng
cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hoá mà còn cả trong tín ngưỡng Những Nữ thần được thờ phụng ở Nam Bộ như: Bà Ngũ Hành, Tứ vị Thánh nương, Bà Thuỷ Long, Bà Chúa Động, Bà Tổ Cô, và những Mẫu thần được thờ phụng như Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu,
+ Thờ động thực vật (lúa, cây, rồng, chim, cá, rùa…): Nếu một số nền văn hóa khác thờ các con vật có sức mạnh như hổ, sư tử, chim ưng, thì trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam lại thờ các con vật hiền lành hơn như: trâu, cóc, rắn, chuột, chó, mèo, voi, đây là các con vật gần gũi với cuộc sống của người dân trong xã hội nông nghiệp Người dân còn đẩy các con vật lên thành mức biểu trưng như: Tiên, Rồng Theo truyền thuyết thì tổ tiên người Việt thuộc "họ Hồng Bàng" (có nghĩa là một loài chim nước lớn), thuộc giống
"Rồng Tiên" Con rồng lần đầu tiên xuất hiện ở vùng Nam Á, sau đó mới được
Trang 32phổ biến ở Trung Quốc rồi đến các nước phương tây Con rồng có đầy đủ đặc tính của lối tư duy nông nghiệp: tổng hợp của cá sấu, rắn; sinh ra ở dưới nước nhưng lại có thể bay lên trời mà không cần cánh; có thể vừa phun nước vừa phun lửa Thực vật được tôn sùng nhất là cây lúa, có Thần Lúa, Hồn Lúa, Mẹ Lúa, đôi khi ta thấy còn thờ Thần Cây Đa, Cây Cau,
1.2.2.3 Tín ngưỡng sùng bái con người với các tiểu dạng thức
Các câu nói trong dân gian như “sống khôn chết thiêng” giải thích về yếu
tố thờ nhân thần mạnh mẽ trong đời sống tâm linh Người Việt Người Việt Nam thờ tự cẩn trọng từ tổ tiên ông bà, Thành hoàng làng, tổ nghề, tứ bất tử, đến các danh nhân và anh hùng
+ Thờ cúng tổ tiên: Người Việt là một trong những dân tộc có tục thờ cúng tổ tiên sâu đậm và sớm nhất, nó gần như trở thành một tôn giáo: Thờ cúng
tổ tiên gia tộc, dòng họ là một tín ngưỡng cơ bản và phổ biến của người Việt ở mọi vùng văn hoá Không phải dân tộc nào cũng có tín ngưỡng thờ tổ tiên Mỗi dân tộc lại có sắc thái khác nhau trong tín ngưỡng này Nếu người phương tây coi trọng ngày sinh thì người Việt lại coi trọng ngày mất Họ cho rằng người đã mất đi về nơi chin suối Bàn thờ tổ tiên bao giờ cũng được đặt ở nơi trang trọng nhất Xưa kia, khi cúng lễ bao giờ cũng có nước (hoặc rượu) cùng với những đồ
tế lễ khác như vàng mã Sau khi cúng xong thì đem đốt vàng mã rồi đổ rượu hoặc nước lên đống tro tàn—khói bay lên trời, nước hòa với lửa thấm xuống đất—theo họ như thế tổ tiên mới nhận được Hành động đó được cho là sự hòa quyện Nước - Lửa (âm dương) và Trời - Đất - Nước (tam tài) mang tính triết lý sâu sắc
+ Thờ hồn, vía: Người Việt coi trọng sự sống chết, tin rằng bản thể con người gồm 2 phần: hồn và xác 3 hồn gồm có: Tinh (sự tinh anh trong nhận thức), Khí (năng lượng làm cho cơ thể hoạt động) và Thần (thần thái của sự sống)
Trang 33+ Thờ thành hoàng: Nếu trong phạm vi gia đình, người Việt thờ tổ tiên và Thổ Công thì ở ở phạm vi làng xã, người Việt thờ Thành hoàng Giống như Thổ công, Thành hoàng cai quản và quyết định họa phúc của một làng Không có làng nào ở Việt Nam mà không có Thành hoàng Những người được thờ thường
là những người có tên tuổi và địa vị, có công lao đối với làng đó Những bậc minh quân, chiến sĩ trận vong hy sinh cho đất nước cũng được tôn thờ như Thần Vua cũng được tôn thờ như vua Hùng được xem là vua tổ đầu tiên của người Việt Tuy nhiên một số làng còn thờ những người lý lịch không rõ ràng gì như trẻ con, ăn xin, ăn mày, trộm cắp nhưng họ chết vào "giờ thiêng" (Giờ xấu theo mê tín dị đoan)
+ Thờ Thánh nhân, tổ nghề: Ngoài ra, nghề nghiệp đều có Tổ, gọi là Tổ nghề Tổ nghề là người đầu tiên sáng lập một nghề, người đời sau nhớ ơn nên chọn ngày để cúng hàng năm Đàn ca hát xướng, may vá, đánh bắt, thợ mộc, thợ
nề, mọi nghiệp vụ đều có Tổ, tuy không trở thành một tín ngưỡng chuyên biệt rộng rãi, chỉ trong phạm vi nghề nghiệp chuyên môn, nhưng đó cũng là đức tin của kẻ hậu học Cũng có những vị được xem là Thánh đi vào tín sử của người Việt như: bốn vị thánh bất tử, đó là Tản Viên, Thánh Gióng, Chữ Đồng
Tử và Liễu Hạnh, gọi là “Tứ Bất Tử”
Cô hồn hoạnh tử cũng được người dân bái vọng cúng kính do tình thương đối với những vong linh không ai thờ cúng Người dân thường lập khánh thờ cô hồn ngoài vỉa hè, chốn hoang vu hay những nơi thường xảy ra tai nạn giao thông Ngoài ra, còn tùy thuộc ngành nghề phát sanh một số tín ngưỡng khác
như ngư dân thờ “Ông” Truyền tích từ thời vua Gia Long bị quân Tây Sơn truy
sát, chạy ra biển gặp sóng to gió lớn, bỗng cá ông xuất hiện đưa thuyền vào bờ
an toàn, sau đó Gia Long truy tặng cá ông là “Nam Hải đại tướng quân” Ngư dân trước khi xuất bến thường đến cúng vái "Ông" hoặc xin keo Hàng năm ngư
Trang 34dân thường cúng giỗ Ông vào ngày 20 tháng chạp âm lịch tại lăng thờ Ông ở làng Thanh Thủy
Tuy người Việt nói chung vẫn giữ những phong tục như thờ tự, lễ bái, xong hầu hết lại không theo một giáo lý, hay tôn giáo nào cụ thể Tín ngưỡng dân gian là khát vọng, là sự tôn kính một nhân vật liên hệ trực tiếp đến nhu cầu trần tục, nhân vật đó có thể là hiện thực, có thể là siêu nhiên đủ đáp ứng niềm an
ổn của sự mong cầu Tín ngưỡng dân gian không có tổ chức hệ thống chặt chẽ như tôn giáo, nhưng nó vẫn được lưu truyền lâu dài song hành với tôn giáo Tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng, có hệ thống giáo lý, có giới luật Có giáo hội, có cơ sở đào tạo giáo dục tu sĩ, cán bộ đạo sự Có sự liên hệ chặt chẽ giữa con người và đấng giáo chủ thông qua tín điều, giáo điều, đạo lý… còn tín ngưỡng dân gian là một huyền thoại, thần tích, truyền thuyết gắn liền với đời
sống trần tục
1.3 Dấu ấn của tín ngưỡng dân gian trong các tác phẩm văn học
Văn học là tấm gương phản ánh cuộc sống một cách chân thực và vô cùng sống động qua lăng kính của các nhà văn Vì thế, qua tác phẩm văn học chúng ta
có thể tìm thấy các mặt của đời sống con người (trong đó có dấu ấn của tín ngưỡng dân gian) qua các giai đoạn lịch sử Đặc biệt, trong nghiên cứu văn học những năm gần đây, xu hướng tiếp cận các tác phẩm dưới góc nhìn văn hóa ngày càng trở nên phổ biến đã mở ra cho chúng ta cái nhìn toàn diện về con người, về thời đại
Chẳng hạn, trong văn học (rõ nhất là văn học dân gian), chúng ta có thể tìm thấy dấu ấn của tín ngưỡng dân gian về tự nhiên Đó là tín ngưỡng sùng bái Trời, Đất và Nước - những yếu tố gắn bó mật thiết nhất với cuộc sống của người trồng lúa nước Hầu như dân tộc nào trên nước Việt cũng thờ Trời Với dân tộc Êđê, Trời là một vị thần cụ thể, có xứ sở riêng và con người có thể đến đây được, cho nên Đăm Săn có thể đòi lấy nữ thần Mặt Trời Tín ngưỡng thờ Trời ở
Trang 35dân tộc Kinh cũng phổ biến Khi Nho giáo thâm nhập nước ta, tín ngưỡng thờ Trời có ít nhiều thay đổi Vì quan niệm Trời biết tất cả mọi việc trên thế gian nên dân gian tin vào quyền năng, sức mạnh vô biên và sự công bằng của Trời
Sống tốt được Trời thưởng, ngược lại sẽ bị Trời phạt (Truyện Thạch Sanh, Truyện Thánh Gióng) Quan niệm này tồn tại trong dân gian ta như một niềm tin
mạnh mẽ cho đến ngày nay Họ cho rằng khổ đau hay hạnh phúc của con người, theo dân gian, là do quyền năng của Trời định cả Vì quan niệm như vậy nên người Việt Nam luôn cố gắng sống tốt bởi mọi hành vi của con người đều có
“Trời chứng giám” Tâm lý này phần nào giúp con người có lối sống hướng
thiện, hòa bình, tuy nhiên kết hợp với những tín điều Nho giáo về mệnh Trời đã làm cho người Việt có lối sống khá thụ động, dễ bằng lòng với hiện tại, buông xuôi Nếu không có gì thúc ép quá thì họ có thể nhẫn nhục chịu đựng mọi việc vì
cho đó là “số Trời đã định”
Ngoài Trời ra dân gian còn thờ cúng những vị thần Đôi khi, thần được đồng nhất với Tiên, một nhân vật phù trợ cũng rất hay xuất hiện trong truyện cổ tích Việt Nam Đất được nhiều gia đình thờ dưới dạng Thổ công Đất có khi được
hình tượng hóa thành nhân vật Sơn Tinh trong truyện Sơn Tinh - Thủy Tinh
Trong tiềm thức của dân gian, đất không chỉ quan trọng mà còn rất thiêng liêng Ở các dân tộc gốc du mục, sống ở nơi này không được người ta sẽ tìm nơi khác tốt hơn Dân ta vốn có gốc nông nghiệp, nghề chính là trồng trọt, đất gắn với cuộc
sống thân thiết của con người Thành ngữ có câu “tấc đấc, tấc vàng”, đất là nơi
“chôn nhau cắt rốn”, là “quê cha đất tổ” khó mà xa được
Yếu tố thứ ba của thiên nhiên được sùng bái là Nước Nước được hình tượng hóa thành một thế giới tồn tại song song với thế giới của con người Thế
giới ấy có tổ chức, trật tự như ở cõi trần Đó là nơi Lạc Long Quân sống (Con Rồng cháu Tiên), nơi có thể dung chứa An Dương Vương khi ông thất bại (An
Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy) Thế giới ấy có người đứng đầu là vua
Trang 36Thủy Tề, có thủy cung, có thái tử trong truyện (Thạch Sanh) Nước có khi lại được hình tượng hóa thành một nhân vật có sức mạnh và tài phép, đó là nhân vật Thủy Tinh trong truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh
Sau Trời, Đất, Nước phải kể đến các loài động, thực vật Là cư dân nông nghiệp nên dân gian sùng bái những loài vật gần gũi với đời sống của mình như chim, rắn, cá sấu Những loài vật này được hình tượng hóa thành những biểu trưng Chim được hình tượng hóa thành Tiên, rắn và cá sấu được cách điệu
thành Rồng Tiên và Rồng được xem là thần tổ của nước ta (truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên) Bên cạnh con rồng, rùa rất được dân gian coi trọng Trong các truyền thuyết, rùa được xem là sứ giả của Long Quân (truyền thuyết An Dương Vương và Mỵ Châu - Trọng Thủy, truyền thuyết Sự tích hồ Gươm) Đời sống
nông nghiệp khiến dân ta sống gần gũi với tự nhiên Các loài vật trong tự nhiên đều có thể là bạn hay thù của con người Có những con, những cây hiền lành, sẵn sàng giúp đỡ con người như chim sẻ, cá bống, thị, xoan đào trong truyện cổ tích Tấm Cám, thì cũng có những cây, con là cơn ác mộng cho người dân Đó là Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh trong truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên; đó là chằn tinh và đại bàng tinh khổng lồ trong truyện Thạch Sanh Trong các loại cây thì cây đa gắn với đời sống nông thôn Việt Nam cả về tâm linh lẫn trong đời thường Cây đa gắn với đời sống nông thôn Việt Nam từ xưa Dân gian có câu:
“Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề” Cây đa thường được trồng ở ngay
đầu làng hay gần đình chùa, miếu mạo như để bảo vệ cho con người Về tâm linh thì như thế còn trong đời thường thì cây đa là loài cây tỏa bóng mát, là nơi dân làng ngồi nghỉ ngơi khi làm đồng về, nơi trẻ con nô đùa và là nơi hò hẹn của những đôi trai gái yêu nhau Chính vì thế mà cây đa đã trở thành một biểu tượng cho nông thôn và đi vào ca dao - dân ca một cách mượt mà, mộc mạc:
“Cây đa cũ, bến đò xưa
Bộ hành có nghĩa nắng mưa cũng chờ”
Trang 37“Trăm năm đành lỗi hẹn hò Cây đa bến cũ con đò khác đưa”
“Trèo lên quán dốc Ngồi gốc cây đa…”
Một loài cây khác không kém phần ý nghĩa là cây tre Cây tre với sức sống dẻo dài, kiên cường trở thành biểu tượng cho tính cách của người Việt Nam Tre liên kết lại với nhau thành lũy thì khó mà đột nhập vào làng được, kể cả thú
dữ và ngoại xâm Chính vì thế, tre gắn liền với cuộc sống chiến đấu bảo vệ đất nước của nhân dân ta Tre đi vào truyền thuyết về công cuộc chống ngoại xâm
của nhân dân ta (Thánh Gióng) trở thành biểu tượng cho phẩm chất khí phách của con người Việt Nam (Tre Việt Nam của Thép Mới) Tre vừa là vũ khí đánh giặc
vừa được sử dụng để làm thành nhiều vật dụng trong nhà
Nếu thờ thần linh là tín ngưỡng sùng bái thiên nhiên thì việc thờ tổ tiên chính là tín ngưỡng sùng bái con người Dấu ấn của tín ngưỡng này được phản ánh rõ nhất trong văn học trung đại và một số tác phẩm văn học hiện đại, chẳng
hạn như: Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Lâm tuyền kỳ ngộ, Bích Câu kỳ ngộ, Văn tế thập loại chúng sinh, Con gái Thủy thần của Nguyễn Huy Thiệp, Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường…
Người Việt tin rằng tuy chết nhưng ông bà tổ tiên vẫn thường xuyên đi về thăm nom, phù hộ cho con cháu Ở Việt Nam, thờ ông bà tổ tiên là điều hiển nhiên phải làm, bất cứ nhà nào cũng có bàn thờ tổ tiên đặt một cách trang trọng giữa nhà Cúng giỗ vào ngày mất được coi trọng Ngoài ra, khi trong nhà có những việc quan trọng như dựng vợ gả chồng, sinh con thì phải cúng báo tổ tiên Làm nhà, đi xa, thi cử thì cúng vái xin tổ tiên phù hộ Tục này có lẽ bắt nguồn từ rất lâu, cho nên vua Hùng chọn được người nối dõi thì làm lễ cúng
Tiên vương Còn trong truyện Tấm Cám thì “tuy sống sung sướng trong hoàng
Trang 38cung, Tấm vẫn không quên ngày giỗ cha Nàng xin phép vua trở về nhà để soạn
cỗ cúng giúp dì”
Như vậy, chúng ta có thể thấy dấu ấn của tín ngưỡng dân gian được thể hiện khá rõ nét trong nhiều tác phẩm văn học Việt Nam thuộc các thể loại và giai đoạn văn học khác nhau như một thứ chất liệu phong phú của cuộc sống
được khúc xạ qua lăng kính nhà văn
1.4 Về thể loại truyền kì
1.4.1 Khái niệm truyền kì
Khái niệm truyền kì có thể hiểu bằng nhiều cách: có khi được giải thích
theo tính chất câu chuyện; có khi lại dựa vào đặc điểm thể loại ở một thời kỳ nhất định, khi lại dựa vào lịch sử hoàn thành của truyện truyền kì, khi lại coi truyền kì là loại văn xuôi tự sự nhưng đã để mất yếu tố kì lạ, tất cả những điều
này đều được đề cập đến trong một số giáo trình, tài liệu Chẳng hạn, trong Từ điển thuật ngữ văn học: “Truyền kì là một thể loại tự sự ngắn cổ điển của văn
học Trung Quốc thịnh hành ở đời Đường” [19; tr447]; hoặc “truyện ngắn đời Đường”; hoặc ký khúc đời Minh Thanh, hoặc truyện thần kì” [19, tr141]
1.4.2 Truyện truyền kì trung đại Việt Nam
Truyện truyền kì trung đại Việt Nam ảnh hưởng nhiều từ truyện truyền kì Trung Quốc đời Đường Và theo các nhà nghiên cứu đây cũng là thời kỳ đánh dấu sự chín muồi của thể loại tự sự Theo đó, hai chữ “truyền kì” hàm chứa hai nghĩa chính là: có ý chuộng lạ và chứa đựng nhiều thể (có thể nhận thấy tài viết
sử, tài làm thơ, tài nghị luận trong tác phẩm truyền kì)
Truyện truyền kì trung đại Việt Nam ngay từ khi ra đời cho đến khi phát triển đến đỉnh điểm, đã trải qua một quá trình dài học tập để có thể tự hoàn thiện mình Từ những tác phẩm đầu tiên còn nhầm tưởng văn học dân gian thoát khỏi những ảnh hưởng thụ động của nó, thể loại này đã làm nên những thành công nhất định
Trang 391.5 Nguyễn Dữ và Truyền kỳ mạn lục
1.5.1 Tác giả Nguyễn Dữ
Theo phỏng đoán của nhiều nhà nghiên cứu, Nguyễn Dữ là tác giả văn học đầu thế kỷ XVI, tên tự, tên hiệu cũng như năm sinh năm mất của ông đều
không rõ Bài tựa Cựu biên Truyền kỳ mạn lục của Hà Thiện Hán viết năm 1547
là tài liệu cổ nhất có ghi về Nguyễn Dữ và tác phẩm của ông: “Tập lục này là trứ tác của Nguyễn Dữ, người Gia Phúc, Hồng Châu Ông là con trưởng vị tiến sĩ triều trước Nguyễn Tường Phiêu Lúc nhỏ rất chăm lối học cử nghiệp, đọc rộng nhớ nhiều, lập chí ở việc lấy văn chương truyền nghiệp nhà Sau khi đậu hương tiến, nhiều lần thi Hội đỗ trúng Tam trường, từng được bổ làm Tri huyện Thanh Tuyền Được một năm ông từ quan về nuôi mẹ cho tròn đạo hiếu Mấy năm không đặt chân tới chốn thị thành, thế rồi ông viết ra tập lục này, để ngụ ý…”
Một tài liệu khác có chép về Nguyễn Dữ là Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn
Trong cuốn sách này, Lê Quý Đôn giới thiệu về Nguyễn Dữ như sau: “Nguyễn
Dữ người xã Đỗ Tùng, huyện Gia Phúc Cha là Nguyễn Tường Phiêu, tiến sĩ khóa Bính Thìn đời Hồng Đức (1496), làm quan đến Thượng thư Bộ hộ Nguyễn Dữ từ nhỏ đã nổi tiếng học rộng nhớ nhiều, có thể lấy văn chương nối nghiệp nhà Đỗ Hương tiến, nhiều lần thi hội trúng tam trường, được bổ chức Tri huyện Thanh Tuyền, mới được một năm lấy cớ nơi làm việc xa xôi, xin về phụng dưỡng cha mẹ Sau vì ngụy Mạc thoán đạt, thề không đi làm quan nữa; ở
làng dạy học không đặt chân đến chốn thị thành, viết Truyền kỳ mạn lục bốn
quyển văn từ thanh lệ, người đương thời rất khen”
Những ghi chép trên đây cùng nhận định của các nhà nghiên cứu khác cho phép chúng ta đưa ra một số kết luận về thân thế Nguyễn Dữ: Ông là người huyện Gia Phúc, thuộc Hồng Châu, cha là tiến sĩ Nguyễn Tường Phiêu, đậu tiến
sĩ đời Hồng Đức năm 1496, làm quan đến chức Thượng thư Nguyễn Dữ vốn sinh ra trong dòng dõi khoa hoạn, từ nhỏ đã ham học, nhớ nhiều và có thể từng
Trang 40là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm, là bạn của Phùng Khắc Khoan, đã từng thi
đỗ, làm quan Tư tưởng của Nguyễn Dữ về cơ bản là tư tưởng của một nhà Nho
chính thống Tư tưởng này đã để lại dấu ấn trong Truyền kỳ mạn lục và thể hiện
khá rõ nét trong nghệ thuật kể, tả người phụ nữ của tập tác phẩm này
Nguyễn Dữ sống chủ yếu vào đầu thế kỷ XVI Đây là thời kỳ chế độ phong kiến tập quyền sau một thời gian đạt đến cực thịnh ở triều Lê Thánh Tông bắt đầu bộc lộ những hạn chế nhất định Hình ảnh quân minh thần lương của triều đại Lê Thánh Tông không còn mà thay vào đó là các ông vua bất tài ươn hèn, là bọn gian thần đua nhau tranh quyền đoạt vị Song đây lại là điều kiện để nhiều tư tưởng dân chủ, tư tưởng đề cao người phụ nữ vốn tiềm tàng trong dân gian được sống dậy Ở một chừng mực nhất định, xã hội Việt Nam thời kỳ này đã có dấu hiệu của xã hội thị dân, tư tưởng tự do phóng khoáng
trong tình yêu đã xuất hiện Viết Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ ít nhiều đã ảnh
hưởng từ hoàn cảnh lịch sử biến động này
1.5.2 Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục
Theo những tư liệu được biết cho đến nay, Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm
duy nhất của Nguyễn Dữ Sách gồm 20 truyện, chia làm 4 quyển, được viết theo thể loại truyền kỳ Cốt truyện chủ yếu lấy từ những câu chuyện lưu truyền trong dân gian, nhiều trường hợp xuất phát từ truyền thuyết về các vị thần mà đền thờ hiện vẫn còn (đền thờ Vũ Thị Thiết ở Hà Nam, đền thờ Nhị Khanh ở Hưng Yên
và đền thờ Văn Dĩ Thành ở làng Gối, Hà Nội) Truyện được viết bằng văn xuôi
Hán có xen những bài thơ, ca, từ, biền văn, cuối mỗi truyện (trừ truyện 19 Kim hoa thi thoại ký) đều có lời bình thể hiện rõ chính kiến của tác giả Hầu hết các
truyện đều lấy bối cảnh ở các thời Lý-Trần, Hồ, thuộc Minh, Lê sơ và trên địa bàn
từ Nghệ An trở ra Bắc Thông qua các nhân vật thần tiên, ma quái, tinh loài vật, cây cỏ , tác phẩm muốn gửi gắm ý tưởng phê phán nền chính sự rối loạn, không còn kỷ cương trật tự, vua chúa hôn ám, bề tôi thoán đoạt, bọn gian hiểm nịnh hót